Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Cơ sở lựa chọn đề tài

Hiện nay, phụ nữ ngày càng thể hiện, khẳng định rõ được vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quy định về bình đẳng giới ở Việt Nam được coi là một chế định quan trọng và là nguyên tắc Hiến định trong hệ thống pháp luật, là cơ sở để thể chế hóa các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước trong các văn bản quy phạm pháp luật. Nhà nước ta đã và đang có những chính sách nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng giới từ yêu cầu khách quan của thực tiễn xã hội đồng thời là chủ trương, đường lối củ Đảng, Nhà nước, nhu cầu của phụ nữ, của nhân dân và của xã hội hiện nay.

Hoạt động bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước. Đây là chủ trương của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh tế, xã hội. Việc ngày càng phát triển của đất nước đặt ra yêu cầu to lớn phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để một mặt có đầy đủ khung pháp lý để điều chỉnh các hoạt động của xã hội, mặt khác tạo điều kiện cho phụ nữ được bình đẳng phát triển, cống hiến nhằm thực hiên đầy đủ quyền con người, đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế. Hệ thống pháp luật về bình đẳng giới ra đời là một nhu cầu tất yếu khách quan của Nhà nước ta. Đây là quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế. Do chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao nên người phụ nữ ngày càng nhận thức được vai trò của mình trong xã hội, đòi hỏi quyền lợi của mình cao hơn về quyền lợi cũng như việc tham gia vào các lĩnh vực trong đời sống xã hội một cách bình đẳng và ngang bằng với nam giới.

Vấn đề pháp luật về bình đẳng giới được điều chỉnh trong Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 29 tháng 11 năm 2006 đồng thời đươc quy định trong các văn bản chuyên ngành có liên quan và những văn bản hướng dẫn có giá trị pháp lý thấp hơn. Hệ thống pháp luật này đã đạt được nhiều hiệu quả trong việc duy trì sự bình đẳng về mọi mặt của nam và nữ, bảo vệ quyền lợi của mọi công dân trên tinh thần Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện hoạt động bình đẳng giới có những vấn đề cần được quan tâm và giải quyết, tại một số địa phương vẫn có những tình trang bất bình đẳng, không coi trọng người phụ nữ do những định kiến xã hội, những quan niệm trọng nam khinh nữ. Đây là một trong những thực tế cần được quan tâm và chấn chỉnh nhằm tạo điều kiện cho người phụ nữ được thực hiện những quyền và nghĩa vụ như nam giới, cùng tạo môi trường quốc tế chuyên nghiệp phát triển kinh tế – xã hội.

Tìm hiểu pháp luật về bình đẳng giới đồng thời thấy được những thực tiễn áp dụng của nó vào đời sống kinh tế, xã hội là một vấn đề bức thiết và có hiệu quả trong việc tạo môi trường cho người phụ nữ được thực hiện vai trò của mình trong xã hội. Từ các quy định của pháp luật, việc thực hiện bình đẳng giới của một số địa phương cũng khác nhau do điều kiện địa lý, phong tục tập quán và những vấn đề liên quan đến nhận thức, phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy, để pháp luật bình đẳng giới đi vào thực tiễn của địa phương được hiệu quả cần phải có những chính sách, chiến lược phù hợp đang là yêu cầu cấp thiết.

Chính vì những lí do trên nên tôi chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”, đây là điều kiện để rà soát lại các quy định của pháp luật về bình đẳng giới để chỉ ra những điểm vướng mắc trong pháp luật và trong quá trình thực hiện để tìm ra giải pháp hoàn thiện.

2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Với tình hình hiện nay, khi mà vấn đề bình đẳng giới là xu thế tất yếu, đang ngày càng nhận được nhiều hơn sự quan tâm của cộng đồng thế giới nói chung và người dân Việt Nam nói riêng thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về bình đẳng giới cũng ngày càng trở nên bức thiết hơn. Việc nghiên cứu vấn đề trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện và cụ thể hơn về pháp luật hiện hành của nước ta.

  • GS Lê Thi (1998) “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi men ở Việt Nam”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, là một trong những công trình nghiên cứu chỉ rõ thực trạng đời sống lao động nữ trong giai đoạn đổi mới của đất nước và những vấn đề cần quan tâm giải quyết.
  • GS Lê Thi (1999): “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam”, “ Việc làm, đời song phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã làm rõ sự cần thiết phải tạo các điều kiện, cơ hội đề người phụ nữ nông thôn được vươn lên, phát huy vai trò của mình trong công cuộc đổi mới hiện nay.
  • Trung tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ (1998-2000) “Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai tr của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Đề tài này chỉ ra sự biến đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia đình như quan hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái. Qua đó phân tích, làm rõ quan hệ bình đẳng giới trong gia đình cũng có sự chuyển biến theo một cách rõ rệt. Nếu trước đây người mang lại thu nhập chính cho gia đình đồng thời cũng là người có uy quyền tối cao khi đưa ra các quyết định lớn trong gia đình là người đàn ông trong gia đình, thì ngày nay vị thế của người phụ nữ được khẳng định hơn đối với các vấn đề này.
  • TS Trần Thị Thu (2003) Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (phân tích tình hình tại Hà Nội), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. Cuốn sách đã chỉ ra, trong thời kỳ đổi mới đất nước đã và đang tạo cơ hội tìm kiếm việc làm cho lao động nữ trong các khu vực kinh tế với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú, nhưng cũng đặt ra những khó khăn tìm kiếm việc làm, mà người chịu thiệt thòi là lao động nữ.
  • Vũ Tuấn Huy (2004) “Xu hướng gia đình ngày nay” (một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Hải Dương). Công trình nghiên cứu này đã phân tích về sự biến đổi gia đình ngày nay, cuốn sách cũng nhấn mạnh “Sự biến đổi cơ cấu kinh tế – xã hội, các yếu tố thị trường, thay đổi công nghệ, di cư, sự biến đổi của định hướng giá trị đã tác động đến sự hình thành hôn nhân, quan hệ giữa các thế hệ, phân công lao động trong gia đình, số con và khoảng cách sinh con..
  • PGS,TS Phan Thanh Khôi, PGS,TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2007) “Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Công trình nghiên cứu này đã đi sâu phân tích về vấn đề giới trong tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, làm rõ địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội ở các xã hội có tình trạng đối kháng giai cấp, áp bức, bất công. Các tác giả còn đi sâu phân tích quan điểm giới, bình đẳng giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước… Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.
  • GS,TS Trịnh Quốc Tuấn, PGS, TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2008) Khoa học giới những vẩn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị – Hành chính, Hà Nội. Công trình nghiên cứu này ngoài việc nêu bật quan điểm về giới và bình đẳng giới của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh còn đề cập đến vấn đề giới trong lĩnh vực lãnh đạo quản lý, văn hóa, giáo dục đào tạo, giới trong chiến lược giảm nghèo, trong gia đình và chiến lược dân số, giới trong lĩnh vực kinh tế – lao động.

Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong luật tổ chức Chính phủ được quan tâm qua bài viết của hai tác giả Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Thị Kỳ trong bài “Báo cáo kết quả nghiên cứu về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật Tổ chức Chính phủ”; tác giả Nguyễn Thị Hoàng Giang đã có bài nghiên cứu năm 2014 về vấn đề “Bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân – gia đình Việt Nam”, trong nghiên cứu của mình tác giả đã có những phân tích sâu sắc về bình đẳng giới theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời có những giải pháp nhằm thực thi pháp luật về hôn nhân gia đình nhằm cải thiện tình hình bất bình đẳng giới trong nước hiện nay. Bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều khía cạnh, lĩnh vực xã hội khác nhau, Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường đã có bài nghiên cứu trong lĩnh vực tuyển dụng người lao động cụ thể với đề tài nghiên cứu “Bình đẳng giới trong các quảng cáo tuyển dụng trên báo in”, bài viết đã có những nghiên cứu số liệu thực tiễn về việc có phân biệt hay không phân biệt giữa nam và nữ trong quá trình tuyển dụng lao động. Ngoài ra, việc nghiên cứu pháp luật về bình đẳng giới tại một địa bàn cụ thể được quan tâm và nghiên cứu, cụ thể tác giả Lê Thị Thu Hường có bài nghiên cứu về “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thưc tiễn thành phố Đà Nẵng”. Ngoài ra còn có nhiều bài viết trên các báo, tạp chí bàn về việc thực hiện bình đẳng giới trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong luật tổ chức Chính phủ được quan tâm qua bài viết của hai tác giả Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Thị Kỳ trong bài “Báo cáo kết quả nghiên cứu về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật Tổ chức Chính phủ”; tác giả Nguyễn Thị Hoàng Giang đã có bài nghiên cứu năm 2014 về vấn đề “Bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân -gia đình Việt Nam”, trong nghiên cứu của mình tác giả đã có những phân tích sâu sắc về bình đẳng giới theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời có những giải pháp nhằm thực thi pháp luật về hôn nhân gia đình nhằm cải thiện tình hình bất bình đẳng giới trong nước hiện nay. Bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều khía cạnh, lĩnh vực xã hội khác nhau, Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường đã có bài nghiên cứu trong lĩnh vực tuyển dụng người lao động cụ thể với đề tài nghiên cứu “Bình đẳng giới trong các quảng cáo tuyển dụng trên báo in”, bài viết đã có những nghiên cứu số liệu thực tiễn về việc có phân biệt hay không phân biệt giữa nam và nữ trong quá trình tuyển dụng lao động. Ngoài ra, việc nghiên cứu pháp luật về bình đẳng giới tại một địa bàn cụ thể được quan tâm và nghiên cứu, cụ thể tác giả Lê Thị Thu Hường có bài nghiên cứu về “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới từ thưc tiễn thành phố Đà Nẵng”. Ngoài ra còn có nhiều bài viết trên các báo, tạp chí bàn về việc thực hiện bình đẳng giới trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Trên bình diện khoa học, pháp luật về bình đẳng giới có rất nhiều bài viết, “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới – từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là đề tài từ những quy đinh cụ thể của pháp luật áp dụng vào thực tiễn thi hành tại địa phương Quảng Ngãi. Nó là vấn đề phức tạp, cũ mà luôn mới. Nói đây là vấn đề cũ vì đã có không ít các bài viết, công trình khoa học nghiên cứu, còn xét đây là một vấn đề mới ở chỗ các bài viết và công trình nghiên cứu khoa học đó nghiên cứu vấn đề theo những cách nhìn, cách đánh giá khác nhau và các địa phương các nhau cũng có những hiệu quả nghiên cứu khác nhau. Chính vì thế, nghiên cứu pháp luật về bình đẳng giới một cách toàn diện vẫn là một vấn đề có vai trò quan trọng.

3. Mục tiêu nhiệm vụ

3.1. Mục tiêu

  • Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cuả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.
  • Tập hợp và phân tích hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.
  • Đánh giá công tác thực hiện, quản lý và những bất cập tồn tại tại tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện.

3.2 Nhiệm vụ

  • Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bình đằng giới. Trên cơ sở đó, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện pháp luật bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi
  • Đưa ra quan điểm và đề xuất những giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào việc thực hiện pháp luật của chính quyền địa phương, các cơ quan nhà nước có liên quan và các chủ thể khác…

4.2. Phạm vi nghiên cứu:

  • Về lý luận: luận văn tập trung đánh giá hoạt động thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại địa bàn Quảng Ngãi .
  • Về thực tiễn: các số liệu, thông tin làm cơ sở đánh giá được thu thập trong khoảng thời gian 5 năm (từ năm 2013 đến 2017)

5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước về thực hiện quyền con người, bình đẳng giữa nam và nữ. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp sau:

  • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về bình đẳng giới.
  • Phương pháp thống kê để thấy được số lượng, hiện trạng thực hiện bình đẳng giới tại Quảng Ngãi.

Các phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu đề tài được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu về bình đẳng giới.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Trong thời gian qua, đã có một số đề tài, luận văn nghiên cứu về pháp luật bình đẳng giới, tuy nhiên những đề tài này chỉ đề cập đến một số khía cạnh này hay khía cạnh khác của bình đẳng giới, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu pháp luật một cách tương đối toàn diện về thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Quảng Ngãi.

Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện có hiệu quả pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới.

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề liên quan đến quyền của phụ nữ, công tác cán bộ nữ.

7. Kết cấu của khóa luận

Đề tài với tiêu đề: “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” được chia làm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó phần nội dung gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
  • Chương 2: Thực trạng áp dụng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi
  • Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

1.1. Khái quát thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

1.1.1. Khái niệm pháp luật về bình đẳng giới và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

  • Pháp luật về bình đẳng giới Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Giới tính là một quá trình kết hợp và pha trộn những đặc điểm di truyền học của sinh vật thường dẫn đến kết quả là sự chuyên môn hóa thành giống đực và giống cái. Sự tách biệt giới tính là một tất yếu của tự nhiên và xảy ra một cách khách quan trong tự nhiên và việc điều chỉnh về sự phát triển đó là trách nhiệm và định hướng của xã hội.

Trên phương diện pháp lý, theo quy định của pháp luật tại Khoản 5 Điều 1 Luật Bình đẳng giới 2006 định nghĩa “giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” và “giới tính chỉ đặc tính sinh học của nam và nữ”. Đặc tính sinh học nó mang tính khách quan của tự nhiên. Mỗi một cá nhân sinh ra đã được xác định giới tính để thiết lập các quan hệ. Đồng thời vấn đề xác định giới tính sẽ gắn bó với cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết để xác định thực hiện nhiều quan hệ, vấn đề về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm liên quan. Vấn đề bình đẳng giới là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm và dần dần được điều chỉnh một cách rõ ràng, cụ thể thông qua các văn bản có giá trị pháp lý của Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước và các biện pháp cưỡng chế của nhà nước.

Từ thời xa xưa, người dân có những quan niệm khác nhau về nam và nữ, họ có những phân biệt giữa quyền lợi giữa nam và nữ, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” xuất hiện và có những ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử cho đến thời điểm hiện nay. Quy định về bình đẳng giới được quy định nhằm tạo môi trường bình đẳng cho cả nam và nữ trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ của mình. Theo đó, pháp luật quy định “bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thị hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. Như vậy, pháp luật đã có quy định về việc bình đẳng giữa nam và nữ, đặt vị trí của hai đối tượng ngang nhau tạp điều kiện cho việc phát triển hiệu quả về năng lực và tố chất của mỗi cá nhân không phân biệt nam hay nữ. Nếu việc bình đẳng giới được thực hiện hiệu quả thì có rất nhiều thuận lợi trong việc phát triển chế độ chính sách và quy định của pháp luật liên quan về giới được thực hiện hiệu quả, nắm rõ về quyền và nghĩa vụ của các bên tạo điều kiện thực hiện đầy đủ quyền công dân cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng yếu thế trong xã hội.

Pháp luật về bình đẳng giới là tổng thể các quy tắc xử sự chung, quy định điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong việc điều chỉnh giới tính, mang tính bắt buộc và cưỡng chế thi hành. Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan đến bình đẳng giới đã được quan tâm từ rất sớm, cho đến nay, pháp luật về bình đẳng giới có vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện hiệu quả công tác bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân.

  • Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới cũng có nghĩa là thực hiện những quy định của pháp luật trao nghĩa vụ bắt buộc thực hiện một cách tích cực bằng việc các chủ thể tuân thủ các quy định của pháp luật về bình đẳng giới một cách tích cực và hiệu quả. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được thể hiện qua việc tuân thủ pháp luật về bình đẳng giới, thi hành pháp luật về bình đẳng giới, áp dụng pháp luật về bình đẳng giới. Pháp luật về bình đẳng giới ra đời là cơ sở cho việc hình thành nên những cơ sở pháp lý mà các bên phải tuân theo và thực hiện hiệu quả. Nhà nước đảm bảo thực hiện pháp luật bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành một cách hiệu quả. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới hiện nay được Nhà nước ta rất quan tâm. Việc quy định của pháp luật về bình đẳng giới muốn hiệu quả phải có những chiến lược cụ thể nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được hiểu là quá trình hoạt động có mục đính mà các chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định pháp luật về bình đẳng giới trong thực tế đời sống. Thực hiện pháp luật được thể hiện bằng các hình thức bao gồm: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và áp dụng pháp luật.Như vậy, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho việc phân biệt giới tính hiện nay được hạn chế, tạo môi trường thông thoáng cho hoạt động bình đẳng giới được hiệu quả trong xã hội.

Việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới của một số địa phương có những nét đặc thù riêng bởi mỗi địa phương có những đặc điểm khác nhau về vị trí địa lý điều kiện kinh tế xã hội khác nhau tạo điều kiện cho việc ảnh hưởng, phát triển hiệu quả hệ thống pháp luật về bình đẳng giới.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không chỉ không ngừng xây dựng, hoàn thiện pháp luật mà còn có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật, kịp thời phát hiện, đấu tranh phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm để pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất. Các quy phạm pháp luật muốn đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả điều chỉnh thì phải gắn với các quan hệ xã hội, với chủ thể, được thực hiện qua hoạt động có mục đích của chủ thể. Hơn nữa, đó còn là một yếu tố, giai đoạn không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Sau khi được ban hành, để phát huy vai trò, pháp luật phải được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng và tự giác thực hiện. Vì thế, thực hiện pháp luật là quá trình các chủ thể khi gặp phải tình huống, sự kiện mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, từ nhận thức, chuyển hóa sáng tạo chúng vào tình huống cụ thể đó bằng hành vi thực tế, hợp pháp của mình. Ngoài ra, thực hiện pháp luật còn là nghĩa vụ của tất cả cơ quan, tổ chức, cá nhân và được tiến hành bằng nhiều hình thức với quy trình khác nhau.

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới bao gồm nhiều biện pháp tác động trong một quá trình nên có tính liên tục, thường xuyên. Việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được xem là bộ phận quan trọng trong tổng thể các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên các lĩnh vực gắn với bảo đảm công bằng xã hội, hướng đến phát triển bền vững. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới giúp chủ thể (nam – nữ) này tiếp cận pháp luật, nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của họ trong xã hội; thúc đẩy tiến trình bình đẳng giới sớm đạt mục tiêu mong đợi. Do thuộc tính điều chỉnh và bắt buộc chung của pháp luật, nên thực hiện pháp luật về bình đẳng giới đối với nước ta là nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó trước hết và chủ yếu thuộc về Nhà nước mà đại diện là cơ quan, đội ngũ cán bộ, công chức – người làm công tác tham mưu, hoạch định chính sách cán bộ nữ. Các chủ thể này phải là tấm gương sáng trong tuân thủ, chấp hành và áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, sáng tạo. Nhà nước có trách nhiệm thiết lập các thể chế, thiết chế hỗ trợ nam giới và phụ nữ thực hiện pháp luật; giúp họ tiếp cận pháp luật, sử dụng các thiết chế hỗ trợ trong thực hiện các chính sách bình đẳng giới. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Như vậy, có thể hiểu thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật bình đẳng giới đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Hay nói cách khác, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là hạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được tiến hành theo những hình thức pháp lý nhất định, có mói liên hệ và quy định lẫn nhau trong một cơ chế phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn lịch sử, nhằm hiện thực hóa các yêu cầu, nội dung của quy phạm pháp luật về bình đẳng giới, bảo đảm cho bình đẳng giới được thiết lập và duy trì trong đời sống xã hội và gia đình.

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới cũng có nghĩa là thực hiện những quy định của pháp luật trao nghĩa vụ bắt buộc thực hiện một cách tích cực bằng việc các chủ thể tuân thủ các quy định của pháp luật về bình đẳng giới một cách tích cực và hiệu quả. Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền quản lý về lĩnh vực bình đẳng giới để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến bình đẳng giới, căn cứ vào các quy định của pháp luật làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt quan hệ pháp luật liên quan đến bình đẳng giới.

  • Đặc điểm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Pháp luật về bình đẳng giới thể hiện qua những vấn đề mang tính đặc thù của việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới. Thực hiện pháp luật bình đẳng giới mang tính liên kết với các nội dung khác nhau trong hệ thống pháp luật Việt Nam và thể hiện ở việc bình đẳng giới được thực hiện đồng bộ, phát triển cùng các chính sách khác của Nhà nước.

Pháp luật về bình đẳng giới thể hiện cụ thể ở những đặc điểm gồm:

  • Thứ nhất, thực hiện pháp luật bình đẳng giới là thực hiện quyền con ngưởi.

Từ khi ra đời, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực hiện hiệu quả về quy định của pháp luật về quyền con người, cụ thể: “tất cả các công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá” và “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Quyền công dân là Khả năng tự do lựa chọn hành vi của công dân mà nhà nước phải bảo đảm khi công dân yêu cầu. Quyền công dân được quy định trong Hiến pháp, điều chỉnh những quan hệ đặc biệt quan trọng giữa công dân và nhà nước, là cơ sở tồn tại của cá nhân và hoạt động bình thường của xã hội. Thực hiện quyền bình đẳng giới là một phần giúp chúng ta đảm bảo quyền công dân được thực thi hiệu quả. Vấn đề quyền con người của phụ nữ chính là sự bình đẳng về vị thế, cơ hội và các quyền của phụ nữ với nam giới tron xã hội hiên nay. Chính vì vậy, ở góc độ chung nhất, đấu tranh cho bình đẳng giới cũng chính là đấu tranh cho các quyền con người của phụ nữ và ngược lại. Mối liên hệ giữa hai vấn đề bình đẳng giới và quyền con người của phụ nữ khăng khít đến mức đôi khi chúng được sử dụng thay thế cho nhau, mặc dù trên thực tế, việc thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ, thúc đẩy các quyền con người của phụ nữ có những khác biệt nhất định về tính chất, hướng tiếp cận và biện pháp sử dụng.

  • Thứ hai, thực hiện pháp luật bình đẳng giới thể hiện ở nhiều lĩnh vực bao gồm: lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Trong lĩnh vực chính trị, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới bao gồm việc Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Đồng thời, bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

Trong lĩnh vực kinh tế, pháp luật quy định doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật. Đồng thời, trong lao động sản xuất, lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trong lĩnh vực lao động bao gồm việc Nhà nước quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động. Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ. Pháp luật cũng quy định người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại. Môi trường lao động nữ làm việc có những công việc không được sử dụng lao động nữ nhằm không ảnh hưởng đến các chức năng của người phụ nữ. Bộ luật lao động 2012 đã có một chương riêng về lao động nữ, những chế độ ưu tiên và chính sách phát triển cho lao động nữ tạo môi trường làm việc hiệu quả đồng thời có những chế độ phù hợp khi nghỉ sinh và các vấn đề sức khỏe khác.

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm các quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo; Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật. Pháp luật về giáo dục có những chính sách giúp cho việc bình đẳng trong tham gia các chương trình đào tạo, khuyến khích những đối tượng vùng sâu vùng xa, chưa đủ nhận thức quan trọng về việc học và các vấn đề liên quan đến hiệu quả bình đẳng giới.

  • Thứ ba, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ảnh hưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật.

Theo khoản 7 Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006, việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Nội dung lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, gồm: Xác định nội dung liên quan đến vấn đề bình đẳng giới hoặc vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới; Quy định các biện pháp cần thiết để thực hiện bình đẳng giới hoặc để giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới; dự báo tác động của các quy định đó đối với nam và nữ sau khi được ban hành sử dụng; Xác định nguồn nhân lực, tài chính cần thiết để triển khai các biện pháp thực hiện bình đẳng giới hoặc để giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới.

1.1.2. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 được phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước và các mục tiêu cụ thể của quốc gia đã đề ra.

Mỗi một chế định pháp luật có những nguyên tắc để thưc hiện khác nhau, thể hiện trong quá trình thực hiện hiệu quả của pháp luật về bình đẳng giới. Luật Bình đẳng giới 2016 có quy định cụ thể về các nguyên tắc trong bình đẳng giới, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới là việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc của bình đẳng giới, bao gồm:

  • Thứ nhất, thực hiện nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình có nghĩa là nam giới và nữ giới cùng có vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau. Phụ nữ và nam giới bình đẳng về điều kiện, cơ hội phát huy năng lực, khẳng định vị thế của mình và hưởng thành quả trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Tất cả lĩnh vực trong xã hội cần đặt nguyên tắc bình đẳng lên hàng đầu. Ví dụ: trẻ em gái cũng được đi học giống như trẻ em trai, không quan niệm con gái học thế, học nữa cũng chẳng để làm gì. Trường hợp một người cho rằng việc đi chợ, nấu cơm, giặt giũ, chăm sóc con cái là việc của phụ nữ, nam giới chỉ lo kiếm tiền và giải quyết những công to, việc lớn,… nên đã không làm việc nhà cùng vợ là vi phạm nguyên tắc nam, nữ bình đẳng trong gia đình. Nam giới cũng phải làm các việc như đi chợ, nấu cơm, giặt giũ, chăm sóc con cái như phụ nữ bởi không thể coi đó là việc đương nhiên của phụ nữ. Đồng thời, cũng giống như nam giới, phụ nữ cũng bình đẳng về điều kiện tham gia công tác xã hội, bình đẳng về cơ hội thăng quan, tiến chức, chứ không chỉ nam giới mới có khả năng và cơ hội làm lãnh đạo.

  • Thứ hai, thực hiện chủ trương nguyên tắc nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.

Phân biệt đối xử đó là việc “hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”. Hiện nay, vấn đề phân biệt đối xử với người phụ nữ theo cách này hay cách khác đều vần còn tồn tại, ví dụ như: Nạo phá thai nếu biết bào thai là con gái; phải lập gia đình sớm; không được đi học hoặc không được tạo điều kiện để đi học… Nguyên tắc thực hiện pháp luật bình đẳng giới là việc đảm bảo thực hiện hiệu quả vấn đề kiểm soát nam nữ bình quyền, không tồn tại những định kiến từ thời gian trước vào chế độ chính sách của nhà nước. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

  • Thứ ba. biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Bình đẳng giới 2006 thì biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này.

Ví dụ: pháp luật về lao động của Nhà nước ta quy định ở những nơi sử dụng nhiều lao động nữ, người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo môi trường, thời gian làm việc hiệu quả trong thời gian được đảm bảo.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là những biện pháp đặc biệt tạm thời theo tinh thần của Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Đây thực chất là dành quyền ưu tiên cho một giới (thường là giới nữ). Tuy nhiên, do trên thực tế còn có khoảng cách khá xa giữa các giới trong việc có các điều kiện, cơ hội phát triển cũng như thụ hưởng các thành quả nên cần đặt ra biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng giữa các giới. Vì vậy, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là bất bình đẳng giới, chỉ được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

  • Thứ tư, chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

Chính sách này xuất phát từ các đặc điểm giới tính, sinh lý, thiên chức của phụ nữ và nó có thể tồn tại mãi mãi. Chính sách này tạo điều kiện cho người phụ nữ được thực hiện thiên chức của người mẹ. Chính sách này không bị coi là sự phân biệt đối xử về giới bởi vì:

Chính sách này được ghi nhận ở các văn bản pháp lý quan trọng. Xu thế phạm vị quyền con người ngày càng mở rộng phạm vi các quyền bình đẳng của phụ nữ. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ là nhằm xóa bỏ định kiến giới và khỏang cách giới. Người phụ nư họ không được đánh giá cao về sức khỏe và chất lượng cuộc sống hơn người lao động nam.

  • Thứ năm, bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.

Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới được xem là biện pháp chiến lược để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ. Ngày 13/8/2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 17/2014/TT-BTP quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2014. Đây là một biện pháp để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ. Theo quy định của Thông tư số 17/2014/TT-BTP, cơ quan đề xuất xây dựng văn bản, cơ quan lập đề nghị Chương trình xây dựng văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản thực hiện việc xem xét, phân tích để phát hiện trong lĩnh vực, quan hệ xã hội mà văn bản sẽ điều chỉnh có khả năng dẫn đến bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới. Cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện việc rà soát, tổng kết thực tiễn thi hành các chính sách, quy định hiện hành về bình đẳng giới và các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực, quan hệ xã hội do văn bản điều chỉnh phù hợp với chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở kết quả rà soát, tổng kết thực tiễn thi hành, xem xét, đánh giá nguyên nhân của vấn đề giới, phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới và đề xuất các phương án giải quyết.

  • Thứ sáu, thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.

Bộ máy cơ quan Nhà nước tạo điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về bình đẳng giới về các lĩnh vực khác nhau. Hầu hết, pháp luật về bình đẳng giới có thực hiện hiệu quả các quy định hay không phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước thực thi pháp luật. Đồng thời, việc này là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới bao gồm: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Bộ Tư pháp; Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông; Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy ban nhân dân các cấp; Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội; Người làm công tác thông tin, giáo dục, truyền thông; công dân Việt Nam…

1.1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Mỗi một môi trường có những vấn đề áp dụng pháp luật khác nhau và hiệu quả áp dụng pháp luật bình đẳng giới khác nhau. Để pháp luật về bình đẳng giới được thực hiện hiệu quả trong thực tiễn đặc biệt là một số địa phương các nhau, những yếu tố khác nhau ảnh hưởng rất khác biệt đối với mọi hoạt động của công tác thực hiện bình đẳng giới. Để đảm bảo hoạt động bình đẳng giới được thực hiện thì cần quan tâm đến những yếu tố gồm:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật hoàn thiện về bình đẳng giới, đây là cơ sở để đảm bảo quá trình hoạt động của việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Bởi vì hoạt động bình đẳng giới trên thực tế có thực thi hiệu quả thì cũng phải đáp ứng các điều kiện của Việt Nam, phù hợp với các quy định khác của pháp luật. Pháp luật điều chỉnh quan hệ bình đẳng giới nếu hoàn thiện và quy định cụ thể về bình đẳng giới sẽ là cơ sở để đưa những quy định đó vào việc áp dụng thực tiễn được hiệu quả. Là tiền đề để đưa những chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực thi trong thực tiễn được hiệu quả.

  • Thứ hai: nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới trong cuộc sống.

Từ xa xưa, người dân Việt Nam ở hầu hết trong xã hồi đã có những tư tưởng “trọng nam khi nữ”, phân biệt đối xử với phụ nữ. Tư tưởng đó hiện nay ở một số địa điểm cũng như các cá nhân vẫn còn tồn tại, ăn sâu trong hệ tư tưởng nhận thức và điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới hiện nay. Để pháp luật về bình đẳng giới được thực thi hiệu quả phải đảm bảo được chủ trương, chính sách được thông thoáng, gợi mở dễ hiểu Nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết của người dân về bình đẳng giới trước khi thực hiện pháp luật về bình đẳng giới sẽ mang hiệu quả tích cực, phát huy được tính cộng đồng về bình đẳng giới.

Thứ ba, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước mang tính rõ ràng và thực thi hiệu quả các quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước được xem là bộ phận trung gian đảm bảo cho quá trình thực hiện bình đẳng giới được thực hiện hiệu quả. Điều này đòi hỏi sự đảm bảo thống nhất cao từ Trung ương đến địa phương với sự kết hợp chặt chẽ, đan xen cả một hệ thống cơ quan quản lý nhà nước một cách nhất quán trong chỉ đạo và thực hiện.

1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

1.2.1. Chỉ đạo triển khai thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được thực hiện triển khai hiệu quả dựa trên chủ trương chính sách của Đảng cũng như các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam. Sau gần 10 năm Luật Bình đẳng giới có hiệu lực thi hành, việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bài bản hơn. Năm 2016, nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác bình đẳng giới đã được Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành hoặc trình ban hành theo thẩm quyền đảm bảo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới. Để triển khai thực hiện Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Ngay sau khi Nghị định được ban hành, hầu hết các Bộ, ngành đã tiến hành triển khai, hướng dẫn việc thực hiện Luật trong đơn vị mình, trong đó lưu ý các vấn đề mới liên quan đến nội dung lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dụng văn bản quy phạm pháp luật. Một số Bộ như Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trưòng, Bộ Giao thông vận tải đã chủ động ban hành Thông tư quy định về việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực do Bộ quản lý, trong đó nội dung Thông tư đã bám sát các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Bình đẳng giới về việc lồng ghép vấn đề bình đắng giói.việc xây dựng, ban hành và triển khai các quy định của Luật Bình đẳng giới đã tùng bước được tổ chức thực hiện hiệu quả. về cơ bản, các nguyên tắc bình đẳng giới, trình tự lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đã được áp dụng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo lĩnh vực quản lý. Một số đơn vị đã chủ động xây dựng các chính sách riêng nhằm hỗ trợ phụ nữ như:.

Bộ Giao thông vận tải: Tại một số đơn vị đã tạo điều kiện cho cán bộ nữ được cử đi đào tạo nghiên cứu sinh, ngoài việc tạo diều kiện về thời gian, còn được trả 100% lương và hỗ trợ kinh phí khi hoàn thành chương trinh; có đơn vị thường từ 15 triệu đồng đến 50 triệu đồng sau khi hoàn thành chương trình thạc sỹ. tiến sỹ. Giải quyết các kiến nghị có liên quan trực liếp đến quyền lợi lao động nữ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. pháp luật lao động,…: trên 70% sổ Thỏa ước lao động tập thể có các thỏa thuận về chính sách đối với lao động nữ có lợi hơn so với quy định của pháp luật.

Bộ Xây dựng: thực hiện các chính sách về nhà ờ, chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp tập trung. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện hiệu quả các quy định về bình đẳng giới góp phần tăng cường vị trí, vai trò của người phụ nữ so với trước. Vai trò của phụ nữ ngày càng được đề cao và phát huy, hiện nay nhiều người lãnh đạo là những phụ nữ và họ đóng một vai trò rất quan trọng.

1.2.2. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhất là trong lĩnh vực bình đẳng giới, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định vai trò và chức năng của hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Nhiệm vụ đầu tiên là phải ban hành pháp luật, tiếp đến là tổ chức thực hiện pháp luật, trong đó, nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được xem là cầu nối giữa đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân. Mục đích của nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật là nhằm xây dựng ý thức pháp luật, làm cho nhân dân, cán bộ, công chức có lòng tin vào pháp luật, có thói quen, động cơ tích cực trong thực hiện pháp luật. Điều đó có nghĩa là, hoạt động tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục, thực hiện càng nhiều nội dung, phong phú về hình thức, không chỉ bằng lời nói mà bằng hình ảnh minh họa, thực hiện càng nhiều càng tốt, khi nào hoạt động tuyên truyền đến với đối tượng được tuyên truyền biến thành hành động trong thực tế thì hoạt động tuyên truyền và phổ biến giáo dục mới thực sự có hiệu quả. Sinh thời, V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Tuyên truyền là cần thiết và chúng ta không nên sợ phải lặp đi lặp lại… Và nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã quá chú ý nhiều đến việc tuyên truyền, thì cần nói rằng chúng ta còn phải làm việc đó nhiều hơn gấp trăm lần nữa”.

1.2.3. Kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Bộ máy Nhà nước là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội đồng thời là phương thức đảm bảo hệ thống pháp luật được thực thi hiệu quả đối với chư trương bình đẳng giới. Hiện nay, hệ thống cơ quan nhà nước và cán bộ biên chế của nhà nước về lĩnh vực bình đẳng giới bao gồm:

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức khác mang tính chất chuyên ngành, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của mình, thực hiện thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức về giới, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới trong ngành, lĩnh vực hoặc địa phương phụ trách.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ chịu trách nhiệm xây dựng bộ tài liệu nguồn về giới và bình đẳng giới; xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ tuyên truyền viên về giới và bình đẳng giới. Đồng thời, Bộ phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức thành viên khác của Mặt trận tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện bình đẳng giới, Luật Bình đẳng giới 2006 và các văn bản pháp luật có liên quan.

Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm bồi dưỡng báo cáo viên pháp luật cấp trung ương kiến thức về giới và chính sách, pháp luật về bình đẳng giới. Chịu trách nhiệm trong phạm vi chuyên môn của mình về lĩnh vực bình đẳng giới.

Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm bồi dưỡng kiến thức, pháp luật về giới và bình đẳng giới cho những người làm công tác thông tin, truyền thông. Bộ thông tin chịu trách nhiệm về những lĩnh vực chuyên môn mà mình chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp. Đồng thời, điều kiện thông tin truyền thông hiện nay là phương tiện phổ biến và hiệu quả nhất để tuyên truyền pháp luật về bình đẳng giới nói chung và các hệ thống pháp luật khác nói riêng.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành khác có liên quan rà soát chương trình, tài liệu giảng dạy để loại bỏ những kiến thức, thông tin, hình ảnh thể hiện định kiến giới; định kỳ tổ chức tập huấn kiến thức về giới, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới cho đội ngũ giáo viên thuộc hệ thống cơ sở đào tạo của từng ngành. Các Bộ ban ngành có những chức năng khác nhau ở lĩnh vực của mình tạo điều kiện cho việc phát triển toàn diện về bình đẳng giới. Đặc biệt, hình thức tuyên truyền thông qua phương thức giáo dục được thực hiện hiệu quả nhất trong thời kỳ hiện nay, giáo dục trên nhà trường và xã hội cần được quan tâm và chú trọng đầu tư.

Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam: ngoài những vai trò, trách nhiệm của một tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam còn có các trách nhiệm gồm: tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; phụ nữ đủ tiêu chuẩn tham gia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị; thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái theo quy định của pháp luật; thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới.

Ủy ban nhân dân các cấp có vai trò trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức về giới, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới cho cán bộ, nhân dân địa phương, chỉ đạo các cơ quan thông tin, tuyên truyền ở địa phương dành thời lượng thích hợp cho việc thông tin, tuyên truyền về giới và bình đẳng giới trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân chỉ đạo cơ quan tư pháp địa phương chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan bồi dưỡng những kiến thức về giới và chính sách, pháp luật về bình đẳng giới cho báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện và tuyên truyền viên pháp luật cấp cơ sở. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Hệ thống nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân có vai trò chủ đạo trong công tác thực hiện hiệu quả bình đẳng giới. Nhà trường có trách nhiệm thực hiện chương trình giáo dục lồng ghép kiến thức về giới và bình đẳng giới; nghiên cứu, đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các chương trình giáo dục về giới hoặc lồng ghép kiến thức về giới và bình đẳng giới phù hợp với yêu cầu của từng cấp học, trình độ đào tạo và nhu cầu của người học nhằm tạo hiệu quả trong công tác giáo dục, tuyên truyền.

Bên cạnh đó,các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm dành thời lượng tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới, xây dựng chuyên trang, chuyên mục, tin, bài về bình đẳng giới, giới thiệu mô hình, điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt trong việc thực hiện bình đẳng giới, thực hiện phê phán các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

Ngoài ra, mỗi công dân Việt Nam có trách nhiệm học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới, thực hiện tham gia tuyên truyền, giáo dục, vận động thành viên gia đình thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới.

1.2.4. Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới

Từ những cơ quan nhà nước về thực hiện bình đẳng giới, Nhà nước ta có một đội ngũ cán bộ quản lý về bình đẳng giới ở mọi mặt. Thực hiện quy định về cơ cấu tổ chức của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, hầu hết các địa phương đã giao việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới cho Phòng Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới đảm nhiệm. Riêng Sở Lao động – Thương binh và Xã hội của một số tỉnh thành vẫn giữ Phòng Bình đẳng giới tiếp tục giao cho Văn phòng Sở thực hiện công tác này. Nâng cao nhận thức, chuyên môn về bình đẳng giới là trách nhiệm và nghĩa vụ của cán bộ quản lý để có những kiến thức nền tảng để tuyên truyền sâu rộng. Các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác bình đẳng giới, lồng ghép vấn đê bình đắng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật và xây dựng, phát triển các tài liệu, góp phần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho các cán bộ pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương cũng được chú trọng thông qua các lớp tập huấn và các hoạt động triển khai Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

1.2.5. Bảo đảm điều kiện thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

Có nhiều yêu tố để đảm bảo thực hiện hiệu quả trong công tác thực thi pháp luật về bình đẳng giới. Ngoài nhận thức của người dân, những điều kiện về trình độ nhận thức thì việc bảo đảm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được thực thi hiệu quả nếu nguồn tài chính được đảm báo hiệu quả.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật bình đẳng giới 2006 quy định cụ thể: Nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới bao gồm: Ngân sách nhà nước; Đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân; Các nguồn thu hợp pháp khác.

Xác định đúng nguồn lực về tài chính để thực thi chính sách và pháp luật là vấn đề then chốt nhằm đạt được các mục tiêu bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chúng ta đều biết khó có đủ nguồn tài chính để thực hiện một chính sách hoặc một chương trình, dự án, vì vậy không nên đánh giá thấp hoặc quá cao những nhu cầu về nguồn lực và cố gắng thực hiện được nhiều hoạt động hơn với nguồn lực tài chính ít hơn. Nguồn tài chính là yếu tố quan tâm thường xuyên của các đơn vị trong việc thực thi pháp luật của các cơ qua nhà nước nhất là những cơ quan địa phương trong việc phát triển hiệu quả công tác tuyên truyền pháp luật thực tiễn.

1.2.6. Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Vai trò giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động giáo dục thực hiện pháp luật về bình đẳng giới có vai trò rất quan trọng. Theo căn cứ Điều 36 Luật Bình đẳng giới 2016 quy định Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân chúng ta, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước Việt Nam, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, cơ quan giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước về đối nội và đối ngoại, về nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Đối với lĩnh vực bình đẳng giới, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội với chức năng giám sát của mình đảm bảo thúc đẩy và thực hiện chính sách và pháp luật về bình đẳng giới ngày càng tốt hơn nhằm đạt mục tiêu định hướng của Đảng và Nhà nước.

Ủy ban thường vụ Quốc hội có chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Để thực hiện trách nhiệm giám sát của mình, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra quyết định và tổ chức thực hiện chương trình giám sát hàng quý và hàng năm. Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể giao cho Hội đồng Dân tộc và Ủy ban hữu quan của Quốc hội thực hiện một số nhiệm vụ thuộc chương trình giám sát của mình. Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng xem xét, thảo luận các báo cáo và kiến nghị trong hoạt động giám sát, yêu cầu các cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện những kiến nghị mà Ủy ban thường vụ Quốc hội xét thấy cần thiết.

Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới thông qua các hoạt động gồm thu thập thông tin từ tổ chức các hoạt động nghe báo cáo của các Bộ, ngành, của các địa phương cơ sở cho tới tổ chức các đoàn giám sát, khảo sát ở địa phương, cơ sở; nghiên cứu, nghe ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý, tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của cử tri; phân tích, đánh giá và nêu các kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền, các cơ quan bị giám sát.

Trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới của Uỷ ban về các vấn đề xã hội cũng được phát huy hiệu quả: Ủy ban chủ động và phối hợp với Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban khác giám sát thi hành các quy định về bình đẳng giới. Hoạt động giám sát và phối hợp giám sát của Ủy ban về các vấn đề xã hội được tiến hành dưới rất nhiều hình thức để thu thập thông tin, tổng hợp, phân tích thông tin và đưa ra các đánh giá trong việc thực hiện bình đẳng giới.

Ngoài ra, còn có một số cơ quan có chức năng giám sát gồm Đại biểu Quốc hội: Các đại biểu Quốc hội có thể chất vấn về những vấn đề tồn tại trong việc thực hiện bình đẳng giới với các cơ quan, tổ chức đang được giám sát, cũng như đánh giá việc tổ chức việc thực hiện và đưa ra các kiến nghị của mình với Đoàn giám sát. Luật Bình đẳng giới cũng quy định trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp cũng như trách nhiệm tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tại Điều 36 và Điều 29 của Luật Bình đẳng giới 2006. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Như vậy, chức năng giám sát thực thi hoạt động thực hiện bình đẳng giới được pháp luật quy định khá cụ thể ở nhiều cơ quan khác nhau. Các cơ quan có chức năng phối hợp với nhau nhằm thực hiện hiệu quả về các vấn đề thực hiện pháp luật. Từ việc giám sát đó, pháp luật cũng quy định về trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc thực thi pháp luật về bình đẳng giới.

1.3. Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về bình đẳng giới

1.3.1. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở một số nước

Để xác định tiến bộ của thế giới trong vấn đề bình đẳng giới, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã thiết lập Chỉ số Bình đẳng giới Toàn cầu (Global Gender Gap Index).

Theo trang Business Insider, trong báo cáo gần đây nhất ra tháng 11/2017, Chỉ số Bình đẳng giới Toàn cầu phân tích 4 yếu tố chính, gồm sự tham gia vào các hoạt động kinh tế và cơ hội kinh tế; cơ hội học tập; cơ hội được chăm sóc sức khỏe và bảo toàn sinh mạng; và đại diện chính trị. Sau khi đánh giá 144 quốc gia và vùng lãnh thổ, WEF kết luận rằng mức độ bất bình đẳng giới trung bình trên toàn cầu là 32%, so với mức 31,7% trong năm 2016. Trong đó, mức độ bất bình đẳng lớn nhất được ghi nhận giữa phụ nữ và nam giới nằm ở cơ hội kinh tế và đại diện chính trị.

Tại Na Uy, Chính phủ Na Uy rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới và coi đó là một trong bốn vấn đề trọng tâm phát triển của đất nước. Na Uy đã có những chính sách tiến bộ từ rất sớm, là quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép phụ nữ được tham gia bầu cử vào năm 1913 và có quyền ứng cử Quốc hội từ năm 1930, Na Uy cũng có Luật Bình đẳng giới ban hành từ năm 1979 với các điều khoản bảo đảm cho cả phụ nữ và nam giới được bình đẳng trong phát triển. Ví dụ, trong giáo dục, Luật Bình đẳng giới đề ra phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ mà không phân biệt tuổi tác.

Tuy nhiên, Luật Bình đẳng giới đã thực hiện ở Na Uy trong một thời gian dài, tuy nhiên đến nay, trong lĩnh vực quản lý nhà nước, nam giới vẫn chiếm 86% và trong chính quyền địa phương, tỷ lệ lãnh đạo là nam vẫn trên 70%; bạo hành vẫn xảy ra; mại dâm tuy được phép hoạt động nhưng vẫn còn tình trạng xâm hại tình dục,… Tất cả những hạn chế ấy đang là thử thách đối với đất nước này. Bên cạnh đó, luật bình đẳng giới được Na uy sử dụng đã có những bước tiến nhất định.

Ở Thụy Điển, Quốc Hội đã không ngừng thúc đẩy quyền bình đẳng nam nữ bằng chính công cụ làm luật và giám sát của mình. Kể từ khi phụ nữ có quyền bầu cử năm 1921, những nỗ lực xây dựng bình đẳng giới đã tiến bộ hơn so với bất kỳ nước nào khác. Không chỉ có truyền thống văn hóa về tôn trọng và bảo vệ phụ nữ, mà Thụy Điển còn sớm ghi nhận quyền của phụ nữ trong hệ thống pháp luật của mình. Đạo luật về bình đẳng được thông qua năm 1979 nhằm bảo vệ tốt hơn quyền phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới, năm 2008, Quốc hội Thụy Điển đã thông qua một dự luật mới đó là Đạo luật về phân biệt đối xử. Đạo luật này thay thế cho các đạo luật trước đó bao gồm Đạo luật về các cơ hội bình đẳng và 6 Luật có liên quan khác về chống phân biệt đối xử. Đạo luật này nhằm đấu tranh chống lại sự phân biệt đồng thời thúc đẩy các quyền và cơ hội bình đằng của mọi cá nhân không dựa trên sự phân biệt đối xử nào về giới tính. Đạo luật này cũng xác định những hình thức bị coi là phân biệt đối xử bao gồm sự phân biệt đối xử một cách trực tiếp hay gián tiếp và hành vi quấy rối tình dục cũng được xem là sự xâm phạm nghiêm trọng đối với phẩm giá con người. Đạo luật cũng xác lập hàng loạt các nguyên tắc và chuẩn mực theo đó nghiêm cấm sự phân biệt đối xử dưới tất cả các hình thức, bao gồm dựa trên giới tính, và bảo vệ việc thụ hưởng và tiếp cận đối với cơ hội và các quyền bình đẳng của phụ nữ và trẻ em gái trong lĩnh vực giáo dục, hệ thống dịch vụ và phúc lợi xã hội, việc làm, hưởng lương… Luật này còn quy định xác lập cơ chế giám sát việc thực thi, theo đó nhấn mạnh đến nghĩa vụ của Thanh tra Quốc hội về bình đẳng. Hệ thống pháp luật của Thụy Điển có những quy định rất chặt chẽ nhằm bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái trước nạn buôn người. Luật pháp Thụy Điển cũng nghiêm cấm hành vi mại dâm và coi đó là một sự bạo hành của nam giới đối với nữ giới. Phụ nữ và trẻ em thường là nạn nhân trực tiếp của nạn mại dâm và buôn bán người do đó sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở Thụy Điển. Thụy Điển, giống như nhiều nước Bắc âu khác, đã thực thi những chính sách xã hội dựa trên nguyên tắc bình đẳng giới. Cụ thể, các chính sách đề cao nguyên tắc quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong công việc và gia đình, bao gồm kể cả việc chăm sóc và nuôi dạy con cái, bắt buộc nam giới phải dành thời gian tương thích như nữ giới ở nhà để chăm sóc, nuôi dưỡng con thời kỳ đầu. Người cha hoặc người mẹ được ở nhà tới 360 ngày (1 năm) để nuôi con sau sinh, với 80% bồi thường cho mất thu nhập. Hơn nữa, cha mẹ đều có quyền nghỉ việc để chăm trẻ tổng số 60 ngày mỗi năm (cho một trẻ) đến khi trẻ 12 tuổi và hưởng 80% số lương. Thụy Điển còn có những quy định liên quan đến cơ chế về khiếu kiện và bồi thường đối với những sự vi phạm đối với quyền bình đẳng, trong đó có quy định về bình đẳng giới. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Nhờ những chính sách như vậy, Thụy Điển đã có những kết quả đáng kể trong việc thực hiện bình đẳng giới giữa nam và nữ. Thụy Điển có phần trăm phụ nữ tham gia thị trường lao động rất cao 76% so với 80% của nam giới, trong các cơ quan nhà nước, phụ nữ ở Thụy Điển đóng một vai trò quan trọng, nỗ lực bình đẳng giới có những bước tiến hiệu quả.

Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là những ưu tiên ở Australia và trong các chính sách đối ngoại của nước này. Australia nói không với tệ bạo hành với phụ nữ, cả ở Australia và trên thế giới. Australia là một thành viên tích cực trong Nhóm Làm Việc liên quan đến các chính sách về giới gồm các Đại sứ và Trưởng đại diện các cơ quan Quốc tế, đây là một một diễn đàn cấp cao không chính thức nhằm thảo luận với các đối tác Việt Nam những vấn đề quan ngại nhất liên quan tới bình đẳng giới và trao quyền cho nữ giới. Sự tham gia của Nữ giới vào các hoạt động của chính phủ, kinh doanh, giáo dục và các hoạt động cộng đồng đã góp phần đưa nước Úc trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới về phát triển kinh tế và xã hội.

Ðể duy trì một cộng đồng ổn định, hòa bình và phồn vinh, điều mong đợi là tất cả mọi người Australia có nguồn gốc khác nhau cùng tôn trọng những nguyên tắc và giá trị chung, là nền tảng cho xã hội Australia. Một trong những giá trị tạo nên nền tảng cho xã hôị tự do và dân chủ Úc là tôn trọng sự bình đẳng, nhân phẩm và tự do cá nhân. Tất cả mọi người dân Úc đều có quyền được hưởng một số các quyền tự do căn bản trong phạm vị được pháp luật cho phép bao gồm quyền được tự do và công khai phát biểu, quyền tham gia hội đoàn, quyền tổ chức hội họp, quyền thờ phượng một tôn giáo mình lựa chọn và quyền đi lại trên khắp nước Úc mà không bị giới hạn. Luật pháp Liên bang cấm sự kỳ thị vì lý do chủng tộc, giới tính, khuyết tật và tuổi tác trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội chiểu theo Luật Kỳ thị Giới tính 1984 (Sex Discrimination Act 1984) và Luật Kỳ thị Tuổi tác 2004 (Age Discrimination Act 2004)… Ủy ban Nhân quyền và Cơ hội bình đẳng (Human Rights and Equal Opportunity Commission) là cơ quan có chức năng giải quyết các khiếu nại về những vụ vi phạm các luật kể trên.

Như vậy, ở mỗi tình hình kinh tế khác nhau đã có những chính sách rất hiệu quả của các nước trên thế giới. Tùy theo tình hình xã hội của đất nước mình mà Nhà nước có những quy định về pháp luật phù hợp nhằm điều chỉnh những hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Australia đã có những chiến lược liên kết và hợp tác với Việt Nam nhằm đảm bảo những hiệu quả bình đẳng giới.

1.3.2. Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại một số địa phương Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Ở Việt Nam, mỗi địa phương có những thành tựu khác nhau trong công cuộc thực hiện bình đẳng giới. Mỗi địa phương có những điều kiện kinh tế xã hội, địa lý cũng như những đặc điểm về tự nhiên khác nhau. Đặc biệt, trình độ dân trí được thể hiện được những ảnh hưởng rất lớn đến việc thực thi bình đẳng giới ở một số địa phương khác nhau.

Tại Bình Phước, từ đầu 2017 đến nay được lãnh đạo tỉnh quan tâm chỉ đạo và được các cấp, ngành, địa phương trong tỉnh tổ chức triển khai hiệu quả, công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ ở Bình Phước đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Thời gian qua, các hoạt động tuyên truyền bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ được các cấp, ngành, địa phương trong tỉnh triển khai thực hiện trên địa bàn cơ sở, góp phần nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được quan tâm sâu sắc, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy, tham gia đại biểu Quốc hội, đại biểu của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 tăng so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ nữ lãnh đạo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có 1/4 người, đạt tỷ lệ 25%, số lượng cán bộ, công chức nữ là lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh có 6/70 người, đạt tỷ lệ 8,57%. Số lượng nữ lãnh đạo chính quyền cấp huyện có 3/34 người, đạt tỷ lệ 8,82%. Số lượng nữ lãnh đạo chính quyền cấp xã có 59/317 người, đạt tỷ lệ 18,61%. Số lượng cán bộ, công chức nữ là cán bộ lãnh đạo các phòng, ban, đơn vị trực thuộc sở, ban, ngành tỉnh có 95/358 người, đạt tỷ lệ 26,53%. Số lượng cán bộ, công chức nữ là cán bộ lãnh đạo các phòng, ban, đơn vị trực thuộc các huyện, thị xã có 114/482 người, đạt tỷ lệ 23,65%. Số lượng nữ đại biểu Quốc hội khoá 13 có 2/6 người, đạt tỷ lệ 33,3%.

Về việc nâng cao năng lực quản lý bình đẳng giới, Ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ được Bình Phước quan tâm, tỉnh đã bố trí cán bộ làm công tác bình đẳng giới và Vì sự tiến bộ của phụ nữ tham gia lớp bồi dưỡng, tập huấn do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức. Hiện toàn tỉnh có 11/11 huyện, thị xã và 111/111 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đều đã thành lập Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ; công tác củng cố, kiện toàn tổ chức của Ban này được thực hiện thường xuyên từ cấp tỉnh đến cơ sở.

Tại Nam Định, trong năm 2016, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh đã tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho gần 500 cán bộ làm công tác bình đẳng giới cấp huyện, xã; tập huấn nâng cao năng lực cho 217 thành viên Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ cấp tỉnh, cấp huyện. Phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tỉnh tổ chức hội thảo về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị với sự tham dự của 210 đại biểu là lãnh đạo nữ cấp phòng trở lên thuộc các sở, ban, ngành, đoàn thể; bồi dưỡng nâng cao kỹ năng cho nữ ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Nam Định đã tổ chức các hoạt động hưởng ứng tháng hành động về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới với chủ đề “chung tay xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái”. Phát hành 12.500 tờ gấp tuyên truyền về phòng chống bạo lực gia đình trên cơ sở về giới tới đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới, cộng tác viên cơ sở để tuyên truyền tới nhân dân. Các cấp ủy Đảng, chính quyền ở các địa phương, đơn vị đã triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án về bình đẳng giới, thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ; tạo điều kiện cho chị em nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức chuyên môn; đồng thời quan tâm tạo nguồn, quy hoạch, bồi dưỡng, giới thiệu cán bộ nữ có trình độ, năng lực vào vị trí chủ chốt.

Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, vị thế của phụ nữ ngày càng được khẳng định, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò phụ nữ đối với phát triển kinh tế -xã hội địa phương. Số cán bộ công chức, viên chức là nữ ở các cơ quan cấp tỉnh hiện nay là 5.319 người, chiếm 56% tổng số cán bộ; cấp huyện là 15.668 cán bộ nữ, chiếm 76,7%. Số cán bộ nữ tham gia cấp ủy Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020, cấp tỉnh có 8 người, chiếm 14,55%; cấp huyện có 65 người, chiếm 11,94%, cấp cơ sở có 1.697 người, chiếm 27,2%. Số cán bộ nữ là đại biểu Quốc hội là 2/8 người, chiếm 25%. Tham gia HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2020, cấp tỉnh có 13 đại biểu nữ, chiếm 19,4%; cấp huyện có 96 đại biểu nữ, chiếm 24,3%; cấp xã là 1.323 đại biểu nữ, chiếm 22,2%. Hiện nay, tại 29 sở, ngành của tỉnh có 203 cán bộ nữ là lãnh đạo từ cấp phó phòng và tương đương trở lên. Riêng cán bộ nữ giữ chức vụ trưởng, phó các sở, ban ngành, đoàn thể là 37 người, chiếm 18,2%. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Như vậy tại Nam Định, thực hiện Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới của Thủ tướng Chính phủ, ngày 27-6-2016 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 56/KH-UBND về thực hiện Chương trình quốc gia bình đẳng giới tỉnh Nam Định giai đoạn 2016-2020, chỉ đạo Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh, các sở, ban, ngành, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các cấp triển khai các hoạt động theo lĩnh vực ngành, địa phương phụ trách. Đẩy mạnh việc lồng ghép công tác bình đẳng giới vào nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và chương trình phát triển kinh tế – xã hội của mỗi địa phương. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật, bồi dưỡng kiến thức về bình đẳng giới và Vì sự tiến bộ của phụ nữ cho cán bộ, nhân dân bằng nhiều hình thức như tuyên truyền lưu động, qua hệ thống phương tiện thông tin đại chúng hoặc các buổi tuyên truyền trực tiếp qua các cuộc họp của các đoàn thể, các buổi sinh hoạt thôn, khối phố. Hằng năm, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức giới, kỹ năng lồng ghép giới và nghiệp vụ cho cán bộ, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và các huyện, thành phố, đồng thời phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới.

Việc thực hiện hiệu quả công tác bình đẳng giới của các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội tương tự với Quảng Ngãi giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn trong công tác bảo đảm quyền lợi của người phụ nữ, quyền bình đẳng giới có cơ hội thực thi hiệu quả. Những chính sách và kết quả của các địa phương liên quan giúp Quảng Ngãi có những nhìn nhận nhằm học hỏi và có những kinh nghiệm tỏng công tác quản lý và phát triển bình đẳng giới ở đây.

1.3.3. Kinh nghiệm đúc kết cho công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi

Qua nghiên cứu những đặc điểm của việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới của các nước cho ta thấy được những đặc điểm về thực hiện bình đẳng giới có thể học hỏi và có kinh nghiệm trong việc thực hiện bình đẳng giới gồm:

Thứ nhất, hệ thống chính trị và chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là vô cùng quan trọng trong công tác thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Chủ trương của Đảng được Nhà nước cụ thể hóa bằng những quy định, chính sách để người dân thực hiện và nó có một cơ chế cưỡng chế thi hành. Các nước có hoạt động bình đẳng giới phát triển là những nước có những chính sách và chế độ đối với nam và nữ bình quyền trong hệ thống pháp luật.

Thứ hai, để thực hiện tốt công cuộc bình đẳng giới của Quảng Ngãi, Ủy ban nhân dân cần có những chiến lược ngắn hạn, dài hạn cụ thể cho đặc điểm của tỉnh nhà sẽ giúp chúng ta thực hiện hiệu quả. Từ những chủ trương chính sách của Việt Nam, các cơ quan địa phương thực hiện hiệu quả việc cụ thể hóa quy hoạch năm năm hoặc mười năm cho kế hoạch của tỉnh mình.

Thứ ba, việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho người dân ở địa phương là rất quan trọng. Việc này ảnh hưởng đến việc nhận thức quyền và nghĩa vụ của nam và nữ, việc thực hiện các quy định về bình đẳng giới được hiệu quả. Một trong những nguyên nhân làm bất bình đẳng giữa nam và nữ là do sự ảnh hưởng rất lâu từ chế độ và tư tưởng cũ, như vậy bình đẳng giới thực hiện mãi chưa hiệu quả. Vậy nên, thực hiện bình đẳng giới phải đi đôi với việc giáo dục, tuyên truyền, trước hết là đội ngũ cán bộ của địa phương. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

Tiểu kết Chương 1

Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được hiểu là tổng thể các hoạt động có mục đích của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về bình đẳng giới thành các hành vi thực tế, hợp pháp nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

  • Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới bao gồm 3 nội dung sau đây:

Một là, Nhà nước nói chung và các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền nói riêng triển khai các hoạt động tổ chức thực hiện và đưa chính sách pháp luật về bình đẳng giới vào cuộc sống.

Hai là, các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền tổ chức thực hiện các hoạt động áp dụng pháp luật bình đẳng giới và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình các chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ hoặc xử lý các tranh chấp, vướng mắc, vi phạm pháp luật hoặc các sự kiện pháp lý khác phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện; khen thưởng, tôn vinh các hành vi tích cực.

Ba là, tổ chức và hỗ trợ để các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật bình đẳng giới trên thực tế được thuận lợi. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tỉnh Quảng Ngãi.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật bình đẳng giới ở tỉnh Quảng Ngãi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464