Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Qui định pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp và Khu chế xuất dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VIỆC THÀNH LẬP, QUẢN LÝ, CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT
Việc thành lập, quản lý, chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và nước ngoài.
2.1.1. Thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp và khu chế xuất
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trước hết là một loại hình doanh nghiệp nên trước hết chịu sự điều chỉnh chung của Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Quy định pháp luật hiện hành về việc thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp và Khu chế xuất nhìn chung không có nhiều khác biệt về thủ tục so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nằm ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Cụ thể, khi thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, nhà đầu tư nước ngoài vẫn phải thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định tại Luật Đầu tư. Trong trường hợp này, Giấy chứng nhận đầu tư cũng đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sự khác biệt trong việc thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất được thể hiện ở những điểm sau:
- Thứ nhất, về thẩm quyền cấp phép đầu tư.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất được giao cho đầu mối chung là Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 81 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất “thực hiện việc đăng ký đầu tư; thẩm tra và cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền” [16]. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 37 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP cũng quy định “Ban Quản lý thực hiện theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn hoặc ủy quyền của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh các nhiệm vụ… đăng ký đầu tư; thẩm tra và cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền” [18]. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Như vậy, đối với hoạt động đầu tư tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất, nhà đầu tư đăng ký mới hoặc điều chỉnh Giấy phép/Giấy chứng nhận đầu tư đã cấp sẽ chỉ phải liên hệ với Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, kể cả đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ mà không thông qua Sở Kế hoạch và đầu tư tại địa phương để trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép. Đây là một thuận lợi và giúp giảm đáng kể thời gian xin cấp phép tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất do không bị chậm chễ do sự quá tải của cơ quan nhà nước. Ngoài ra, hầu hết Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Việt Nam đều thực hiện theo cơ chế “một cửa, tại chỗ” hoặc “một cửa, liên thông” nhằm giải quyết kịp thời, nhanh gọn các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính đối với các doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất kể cả các lĩnh vực khác như cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, thẩm định thiết kế kỹ thuật nhà máy, phê duyệt tổng mặt bằng 1/500… Đồng thời, việc phân cấp như trên cũng thể hiện quan điểm của Chính phủ coi Khu công nghiệp, Khu chế xuất là các khu vực đầu tư đặc thù nên phải được quản lý bởi một cơ quan chuyên trách. Theo các quy định hiện hành, Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất về cơ bản được thành lập theo địa giới hành chính. Mỗi tỉnh / thành phố trực thuộc Trung ương sẽ có một Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất trực tiếp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Quy định của pháp luật Trung Quốc, có nhiều điểm tương đồng so với quy định pháp luật Việt Nam. Trung Quốc được mệnh danh là công xưởng sản xuất của thế giới, đã thu hút hầu hết hoạt động sản xuất vào triển khai trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Để quản lý tốt hoạt động đầu tư sản xuất trong khu vực đầu tư đặc thù này, Luật doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Laws of the People’s Republic of China on Foreign-Capital Enterprise) đã phân cấp thẩm quyền quản lý các dự án đầu tư rất triệt để cho các Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Thậm chí, theo văn bản này, Chính phủ Trung Quốc còn cho phép thành lập các Ban quản lý riêng cho những Khu công nghiệp, Khu chế xuất có diện tích lớn, nơi tập trung nhiều dự án đầu tư quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI tại Trung Quốc bởi qui mô Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Trung Quốc lớn hơn Việt Nam rất nhiều lần về diện tích, một ví dụ mang tính hình tượng là khi tham qua một nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô trong Khu công nghiệp Đông Woan, Quảng Tây, Trung Quốc (rộng 3.000 ha) nếu chúng ta không đi bằng ô tô thì 3 ngày chúng ta cũng không tham quan xong một nhà máy và vấn đề môi trường luôn được Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm, vào Khu công nghiệp này chúng ta có cảm giác như vào một công viên sạch, đẹp của Việt Nam, hệ thống cây xanh, đường giao thông thoáng đẹp, đường không có bụi bẩn, mặc dù đi trong Khu công nghiệp nhưng không hề có tiếng ồn, rác thải công nghiệp… và phần lớn công nhân, lao động ở đây là “công nhân cổ cồn” [1]. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo pháp luật Singapore: mặc dù Singgapore là đất nước có diện tích hết sức nhỏ trên thế giới nên không có nhiều lợi thế về thu hút đầu tư cũng như phát triển các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, tuy nhiên, trong những thập kỷ vừa qua, Singapore cũng đã phát triển được nhiều khu công nghiệp tập trung với quy mô diện tích tuy nhỏ nhưng hoạt động hết sức có hiệu quả trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ sinh học, y tế, Singapore ưu tiên phát triển công nghệ sạch, hiện đại, sử dụng vật liệu mới, các Khu công nghiệp của Singapore là các tòa nhà trọc trời, sản phẩm chứa đựng hàm lượng chất xám cao… Khác với quy trình quản lý như ở Việt Nam và Trung Quốc như kể trên, theo các quy định của pháp luật Singapore, việc quản lý đăng ký kinh doanh và quản lý hoạt động đầu tư đối với các dự án đầu tư nói chung và các dự án đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng được tách riêng. Theo đó, nhà đầu tư trước khi triển khai dự án đầu tư sẽ tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh để thành lập doanh nghiệp. Theo Luật Công ty Singapore, người đăng ký kinh doanh có thể được phép thành lập công ty dưới hai hình thức là công ty tư nhân (chịu trách nhiệm vô hạn) và công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân (chịu trách hữu hạn) với thủ tục đăng ký hết sức đơn giản. Các nhà quản lý của Singapore thực hiện theo cơ chế “hậu kiểm”, kiểm soát sau cấp phép, việc này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền của Singapore phải có trình độ quản lý cao nếu không sẽ dẫn đến trình trạng doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp “chết” mà không khai tử… Thông thường thì khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài không cần phải đáp ứng bất kỳ điều kiện cơ bản gì ngoài yêu cầu phải có ít nhất một giám đốc là người Singapore. Sau khi công ty được thành lập, công ty nếu triển khai các dự án đầu tư, cụ thể là các dự án đầu tư trong các khu công nghiệp thì sẽ phải lập dự án và dự án này sẽ do một ủy ban quản lý đầu tư đặc biệt do Chính phủ thành lập phê duyệt. Xuất phát từ nhu cầu quản lý đất đai và môi trường, việc thẩm tra các dự án đầu tư tại Singapore được thực hiện rất nghiêm ngặt dựa trên cơ sở các tiêu chí thẩm tra được công bố hết sức rõ ràng và công khai.
- Thứ hai, về thủ tục cấp phép đầu tư
Theo quy định pháp luật Việt Nam, thủ tục thành lập doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nói chung cũng phải đảm bảo các điều kiện giống với việc thành lập doanh nghiệp ở bên ngoài theo quy định của Luật Đầu tư. Tuy nhiên, do đặc thù của Khu công nghiệp, Khu chế xuất chi phối mà thủ tục cấp phép có sự khác biệt nhất định, cụ thể như sau:
- Về số bộ hồ sơ phải nộp: Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Nếu dự án đầu tư thuộc diện thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư, theo quy định tại Điều 49 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, nhà đầu tư nước ngoài phải “nộp cho Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất 4 bộ hồ sơ dự án đầu tư, trong đó có 1 bộ hồ sơ gốc đối với dự án do Ban Quản lý cấp Giấy chứng nhận đầu tư” [16]. Đối với dự án ngoài hàng rào Khu công nghiệp, Khu chế xuất thuộc diện thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư do ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì nhà đầu tư nộp hồ sơ cho Sơ Kế hoạch và Đầu tư (cơ quan tham mưu cho ủy ban nhân dân cấp Tỉnh) số bộ hồ sơ phải nộp là 8 bộ.
- Về thời hạn cấp phép:
Theo Điều 49 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, về lý thuyết, thời hạn cấp phép theo thủ tục thẩm tra đối với dự án đầu tư trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất là 20 ngày làm việc ngắn gần một nửa so với thời gian 38 ngày đối với dự án đầu tư ngoài các khu vực này.
- Về thủ tục thuê đất, cơ sở hạ tầng trước khi xin cấp phép:
Để đầu tư tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất, bước đầu tiên, nhà đầu tư nước ngoài dự định thành lập doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất sẽ gặp Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất (HIZA) để tìm hiểu môi trường đầu tư, quĩ đất sạch, hướng dẫn thục tục pháp lý… sau đó, làm việc với doanh nghiệp phát triển cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất để ký thỏa thuận nguyên tắc về việc thuê đất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Sau khi đã ký thỏa thuận này, nhà đầu tư làm hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư gửi đến Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong đó có kèm theo thỏa thuận nguyên tắc trên. Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư được quy định rõ trong Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp và Nghị định 108/2008/NĐ-CP gồm: đơn xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư do nhà đầu tư ký, văn bản chứng minh tư cách pháp nhân, dự án đầu tư giới thiệu về qui mô, vốn, công nghệ, mục tiêu dự án, ngành nghề sản xuất kinh doanh, bản sao hội chiếu người đại diện theo pháp luật… Khi đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, nhà đầu tư tiến hành ký hợp đồng thuê đất đã giải phóng mặt bằng (đất sạch) với doanh nghiệp phát triển cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Như vậy, quy trình trên có sự khác biệt nhất định với doanh nghiệp thành lập ở bên ngoài. Thông thường, khi muốn thành lập doanh nghiệp bên ngoài, nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thuê văn phòng, địa điểm trước. Đối với những dự án cần thuê đất, nhà đầu tư phải liên hệ với ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xin thỏa thuận giới thiệu địa điểm. ủy ban nhân dân tiến hành xem xét, nếu địa điểm phù hợp với quy hoạch và ngành nghề sản xuất kinh doanh sẽ thực hiện thủ tục giao đất cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư có thể tự giải phóng mặt bằng hoặc do cơ quan nhà nước giải phóng mặt bằng chứ không được bàn giao địa điểm đã giải phóng sẵn, phân theo từng lô, diện tích rõ ràng như trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, một dự án đầu tư nước ngoài muốn được triển khai thực hiện các đặc khu Kinh tế, Khu công nghiệp, Khu chế xuất trước hết phải được sự phê chuẩn của chính quyền Trung Quốc. Sau đó, chủ đầu tư cần đăng ký với cơ quan quản lý công thương nghiệp để lấy giấy phép đăng ký kinh doanh. Theo pháp luật hiện hành, cấp chính quyền của đặc khu được phép phê chuẩn và cấp phép cho dự án đầu tư dưới 30 triệu Đô-la Mỹ đối với các ngành công nghiệp nhẹ và không quá 50 triệu Đô-la Mỹ cho các dự án về công nghiệp nặng. Chính quyền đặc khu cũng có thể giao thẩm quyền phê chuẩn dự án đầu tư cho các khu trong đặc khu. “Đặc biệt khu Thâm Quyến được phép xét duyệt đối với dự án không quá 10 triệu Đô-la Mỹ trong khi tại các khu khác, cơ quan tương tự chỉ được cấp phép đến 1 triệu Đô-la Mỹ” [1]. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Liên quan đến vấn đề này, theo pháp luật Ma-rốc, Chính phủ nước này đã thành lập một cơ quan hành chính đặc biệt dành riêng cho việc xúc tiến đầu tư được thành lập và hoạt động với sự hỗ trợ của các nhà đầu tư. Trong các trường hợp thông thường, thời gian phê chuẩn các giấy phép hành chính cần thiết và cấp giấy phép là sau 60 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ.
Theo Luật Khu vực Chế xuất của Braxin, Chính phủ nước này thậm chí còn miễn giảm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp đầu tư trong Khu chế xuất, doanh nghiệp được ưu tiên giải quyết thủ tục nhanh và miễn một số loại giấy phép, giấy chứng nhận về xuất nhập khẩu, trừ các chứng từ về kiểm tra an toàn vệ sinh, an ninh quốc gia, quy định bảo vệ môi trường.
Như vậy, Việt Nam mặc dù đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa, tại chỗ” đối với doanh nghiệp các Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhưng trong tương quan so sánh với pháp luật một số nước nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy về thủ tục hải quan, thuế, thời gian cấp phép xây dựng, giấy chứng nhận đầu tư của Việt Nam vẫn bị coi là chậm và chưa thông thoáng, các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào Việt Nam phản ánh về thủ tục còn chậm chễ và đâu đó còn tồn tại hiện tượng “hành” doanh nghiệp về những giấy tờ không cần thiết như thủ tục hợp thức hóa lãnh sự của người đại diện theo pháp luật, giấy ủy quyền, chữ ký, con dấu…. Tại cuộc gặp gỡ giữa Tổng cục Hải quan, cơ quan thuế mà đại diện là Bộ Tài chính và các doanh nghiệp dịp 6 tháng đầu năm 2011 diễn ra tại Hà Nội, các doanh nghiệp FDI tiếp tục đề nghị cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa và thực hiện triệt để việc khai hải quan điện tử. Cá biệt tại diễn đàn này, Công ty Ishigaki Rubber phản ánh doanh nghiệp đã phải làm đi làm lại thủ tục khai hải quan 5 lần đối với hồ sơ nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất kinh doanh, đến khi doanh nghiệp phải có bồi dưỡng nhân viên hải quan thì hàng hóa mới được thông quan, doanh nghiệp Embara Diamond hoạt động trong khu công nghiệp Quế Võ, Bắc Ninh phản ánh, nhân viên phụ trách xuất nhập khẩu của công ty Công ty phải chi tiền “bôi trơn” cho cán bộ hải quan thì hàng hóa mới được thông quan nhanh…
2.1.2. Quản lý hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp và khu chế xuất Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
2.1.2.1. Phạm vi quản lý của Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất
- Quy định chung
Theo pháp luật Việt Nam, sau khi hoàn thành thủ tục thành lập doanh nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục được quản lý theo một đầu mối chung là Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Theo quy định hiện nay, Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã được giao thêm nhiều quyền hạn hơn so với trước đây, cụ thể là theo Điều 37 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, quyền hạn của Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong việc quản lý hoạt động của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất được quy định như sau:
- Quản lý, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính việc thực hiện quy định, quy hoạch, kế hoạch có liên quan đến Khu công nghiệp;
- Đăng ký đầu tư, thẩm tra, cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư;
Cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung và gia hạn Giấy phép thành lập văn phòng đại diện thương mại của tổ chức và thương nhân nước ngoài đặt trụ sở tại Khu công nghiệp; cấp Giấy phép kinh doanh đối với hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Khu công nghiệp sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ Công thương;
Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đã được phê duyệt của Khu công nghiệp, nhưng không làm thay đổi chức năng sử dụng khu đất và cơ cấu quy hoạch; thẩm định thiết kế cơ sở đối với các dự án nhóm B, C hoặc cấp, gia hạn Giấy phép xây dựng công trình đối với công trình xây dựng phải có Giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đối với công trình xây dựng trong Khu công nghiệp;
- Thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến lao động như: cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép lao động của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài làm việc trong Khu công nghiệp…
- Tổ chức thực hiện đăng ký nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy an toàn vệ sinh, nội quy an toàn lao động, hệ thống thang lương, bảng lương, định mức lao động, kế hoạch đưa người lao động đi thực tập ở nước ngoài dưới 90 ngày cho doanh nghiệp; nhận báo cáo về tình hình ký kết, sử dụng, chấm dứt hợp đồng lao động của doanh nghiệp.
- Cấp các loại giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa sản xuất trong Khu công nghiệp và các loại giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận khác có liên quan trong Khu công nghiệp; Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Xác nhận hợp đồng, văn bản về bất động sản trong Khu công nghiệp;
- Tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện mục tiêu đầu tư quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư, tiến độ góp vốn và triển khai dự án đầu tư; chủ trì, phối hợp kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các điều khoản cam kết đối với những dự án được hưởng ưu đãi đầu tư và việc chấp hành pháp luật về xây dựng, lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội, phòng chống cháy nổ, an ninh – trật tự, bảo vệ môi trường sinh thái đối với các dự án tại Khu công nghiệp; quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định đối với các trường hợp vi phạm về các lĩnh vực thuộc thẩm quyền và đề nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm đối với các trường hợp vi phạm về các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền;
Giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư tại Khu công nghiệp và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành có liên quan và ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền; Nhận báo cáo thống kê, báo cáo tài chính của doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp…
- Quy định chi tiết
Theo pháp luật Việt Nam, quy định chi tiết về phạm vi quản lý chuyên ngành của Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã được các Bộ ủy quyền thực hiện theo phân cấp, cụ thể như sau:
Về lĩnh vực lao động, Bộ Lao động, thương binh và xã hội đã ban hành Thông tư số 13/2009/TT-BLĐTBXH ngày 06/5/2009 hướng dẫn chi tiết về nội dung quản lý về lao động của Ban Quản lý. Theo Điều 4 của Thông tư này, quyền hạn và phạm vi quản lý về lao động không phải đương nhiên áp dụng cho Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất của từng địa phương mà căn cứ tình hình thực tế của từng địa phương và bộ máy mà Ban Quản lý sẽ được ủy quyền bằng văn bản để thực hiện toàn bộ hoặc một số các nội dung công việc sau đây trong phạm vi địa bàn quản lý:
- Cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động cho người nước ngoài;
- Cấp sổ lao động cho người lao động Việt Nam;
- Đăng ký nội quy lao động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp;
- Đăng ký thỏa ước lao động tập thể của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp;
- Đăng ký hệ thống thang lương, bảng lương của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp;
- Đăng ký kế hoạch đưa người lao động đi thực tập ở nước ngoài dưới 90 ngày cho doanh nghiệp trong khu công nghiệp và hướng dẫn một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Nhận báo cáo về tình hình ký kết, sử dụng, chấm dứt hợp đồng lao động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp; nội dung công việc này được thực hiện theo hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật sau:
- Phối hợp với Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện để giải quyết các tranh chấp lao động tập thể về quyền.
- Về lĩnh vực môi trường, theo Điều 10,12 và 28 Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT ngày 15/7/2009 của Bộ Tài nguyên và môi trường, Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất có trách nhiệm như sau:
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường đã được phê duyệt, xác nhận trong giai đoạn thi công xây dựng các dự án. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Chỉ xem xét tiếp nhận các dự án đầu tư thuộc ngành nghề trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật KKT, Khu công nghiệpC, Khu công nghiệp và CCN đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và không tiếp nhận các dự án có công nghệ, thiết bị lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu thấp, phát sinh nhiều chất thải, có nguy cơ gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường của các dự án đầu tư vào Khu công nghiệp theo ủy quyền.
Chủ trì hoặc phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan chức năng liên quan kiểm tra, xác nhận kết quả chạy thử nghiệm các công trình xử lý chất thải của dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp và các công trình xử lý chất thải của các dự án đầu tư xây dựng trong Khu công nghiệp trước khi đi vào hoạt động chính thức.
Phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện việc giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường đối với các hoạt động của chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp và các cơ quan sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong Khu công nghiệp.
Tiếp nhận và giải quyết các tranh chấp, kiến nghị về môi trường giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong Khu công nghiệp; chủ trì và phối hợp với cơ quan chức năng giải quyết các tranh chấp, kiến nghị về môi trường giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong Khu công nghiệp với bên ngoài; tiếp nhận và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tối cáo về môi trường trong Khu công nghiệp. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Về lĩnh vực xây dựng, theo Điều 2, 3 và 7 Thông tư số 19/2009/TT-BXD ngày 30/6/2009 của Bộ Xây dựng, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất có nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Cung cấp các thông tin về quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt;
- Cấp chứng chỉ quy hoạch xây dựng;
- Chấp thuận bằng văn bản về vị trí, quy mô xây dựng đối với các dự án nhóm B, C đầu tư trong Khu công nghiệp chưa có trong quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Quản lý việc xây dựng các công trình trong khu công nghiệp và khu kinh tế theo quy hoạch xây dựng đã được duyệt.
- Xem xét chấp thuận việc đấu nối hạ tầng kỹ thuật của các dự án đầu tư xây dựng trong khu công nghiệp.
- Tiếp nhận hồ sơ dự án đầu tư xây dựng; trực tiếp có ý kiến về thiết kế cơ sở đối với các dự án đầu tư xây dựng nhóm B, C và gửi hồ sơ dự án tới các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành để có ý kiến về thiết kế cơ sở đối với các dự án đầu tư xây dựng nhóm A đầu tư vào Khu công nghiệp.
- Xem xét, lấy ý kiến các Sở, Ngành liên quan về tổng mức đầu tư đối với các dự án có chuyển giao cho Nhà nước hoặc các dự án được hưởng ưu đãi của Nhà nước trong Khu công nghiệp.
Về lĩnh vực đầu tư, Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất được Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân cấp, ủy quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư, điều chỉnh, bổ sung Giấy chứng nhận đầu tư không giới hạn quy mô vốn mà chỉ quy định hình thức đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra cấp phép.
Mặc dù phạm vi hoạt động khá rộng nhưng Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất vẫn bị giới hạn quyền hạn trong khuôn khổ pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành và không thể kịp thời đưa ra các quyết sách phù hợp để thu hút đầu tư nước ngoài, cụ thể một vấn đề khó khăn của doanh nghiệp, Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất thường phải xin ý kiến của nhiều Bộ, ngành có liên quan là cơ quan hướng dẫn về chuyên môn và ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản theo ngành dọc, thời gian chờ ý kiến trả lời khá lâu dẫn đến cơ hội đầu tư của doanh nghiệp FDI có thể bị bỏ lỡ. Đối với việc phân định thẩm quyền của cơ quan này, có thể tham khảo mô hình của Trung Quốc như sau:
Theo pháp luật Trung Quốc, các quan chức ở những tỉnh, huyện có Đặc khu kinh tế (SEZ – có nhiều điểm tương đồng với Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Việt Nam) được quyền vận dụng linh hoạt những chính sách của chính phủ. Hệ thống quản lý hành chính trong các SEZ ở Trung Quốc được đánh giá là hiệu quả, chuyên nghiệp và quan trọng hơn cả, có quyền tự đưa ra những thay đổi phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tiễn. SEZ không được chính phủ cấp ngân sách mà thực hiện theo cơ chế lấy thu bù chi, hạch toán độc lập nên buộc phải thu hút càng nhiều vốn đầu tư càng tốt và làm việc trên tinh thần SEZ là chỗ dựa tin cậy, vững chắc cho doanh nghiệp. Trên thực tế, các SEZ đã áp dụng rất nhiều biện pháp để mời gọi đầu tư, từ việc cung cấp các dịch vụ giải đáp về thủ tục, chính sách tới việc công bố rộng rãi các ưu đãi tới các nhà đầu tư, mặt bằng sản xuất kinh doanh… SEZ sẵn sàng đứng ra thực hiện dịch vụ công cho các nhà đầu tư (tư vấn đầu tư, chuẩn bị hồ sơ, dự án, trình thẩm định, phê duyệt, hỗ trợ thủ tục hành chính liên quan đến thuế, hải quan…). Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Ví dụ như Khu công nghiệp Tô Châu, ở đây SEZ được thành lập từ 1994 và là một trong những SEZ có tốc độ phát triển nhanh nhất và có tính cạnh tranh nhất không chỉ ở Trung Quốc mà còn trên cả thế giới. Nhiều người gọi Tô Châu là “một trong 9 thành phố công nghệ cao mới của thế giới” và “thung lũng Silicon mới”. Tô Châu được quyền tự chủ rất cao trong việc phê chuẩn dự án đầu tư. Lãnh đạo khu công nghiệp có quyền phê chuẩn tất cả dự án đầu tư nước ngoài, miễn là chúng nằm trong khuôn khổ chính sách của đất nước. Cơ chế quản lý hành chính rất linh hoạt và hiệu quả. Các cơ quan công quyền có thể giúp đỡ nhà đầu tư nước ngoài lấy hộ chiếu vào Trung Quốc. Thủ tục đăng ký đầu tư được hoàn tất trong 3 ngày.
Khu công nghiệp này được xây dựng đồng bộ một hệ thống khu phụ trợ phục vụ hậu cần hiện đại và toàn diện với khu vực hải quan, ngân hàng độc lập và trung tâm hậu cần được gắn kết với nhau rất khoa học, các dịch vụ vui chơi giải trí, thể dục thể thao, dịch vụ ăn uống, trung tâm thương mại ở đây thật hoàn hảo, sau thời gian làm việc căng thẳng, công nhân, người lao động có thể dạo bộ quanh công viên, tham gia chơi thể thảo (hoạt động thể lực), hoạt động tinh thần như xem phim, đọc báo, internet phổi cập, mua sắm… nhằm tái tạo sức lao động. Tô Châu cũng là nơi đi tiên phong trong việc xây dựng hệ thống thông quan điện tử và sở hữu một trong 15 khu chế xuất đầu tiên ở Trung Quốc. Như vậy, đây cũng là một điểm quan trọng mà Việt Nam phải học hỏi Trung Quốc. Mặc dù, Việt Nam đã thực hiện khai hải quan điện tử theo luồng xanh, luồng đỏ nhằm tránh tiêu cực, nhũng nhiễu của cán bộ hải quan và tiết kiệm thời gian, công sức của doanh nghiệp nhưng trên thực tế vấn đề này chưa thực sự đi vào thực tiễn mà mới mang tính hình thức nhiều hơn, ngoài ra vấn đề nữa còn phải kể đến là việc xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất mặc dù chúng ta có chính sách xây dựng đồng bộ, hiện đại nhưng đến nay chỉ có Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh có khu nhà ở cho công nhân thuê ngoài ra các khu phụ trợ Khu công nghiệp như khu vui chơi, giải trí, thể thao, khu phục vụ hoạt động tinh thần như nhà văn hóa, rạp chiếu phim quanh Khu công nghiệp, Khu chế xuất hiện vẫn là con số không, người lao động trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam vẫn phải sống trong điều kiện không báo chí, không ti vi, không internet, hầu hết người lao động thuê nhà dân xung quanh các Khu công nghiệp, Khu chế xuất với điều kiện sống tồi tàn, chật hẹp, 2 – 3 người/12 m2.
2.1.2.2. Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong khu công nghiệp, khu chế xuất
Theo pháp luật Việt Nam, phù hợp với nội dung quản lý của Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có phạm vi hoạt động như sau: Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Về hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp như bồi thường, giải phóng mặt bằng, xây dựng các công trình giao thông, thông tin liên lạc, công trình thoát nước, xử lý chất thải, pháp luật không có sự giới hạn về loại hình doanh nghiệp được phép đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong Khu công nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể có cơ hội tham gia hoạt động này và được hưởng chính sách khuyến khích, ưu đãi của Nhà nước trong lĩnh vực này. Trên thực tế, các Khu công nghiệp, Khu chế xuất do doanh nghiệp FDI làm chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì chất lượng công trình, hạ tầng được đầu tư khang trang hơn, quy củ hơn, đảm bảo cảnh quan, môi trường, thể hiện việc quy hoạch đồng bộ, hiện đại, có tầm nhìn xa hơn so với các Khu công nghiệp, Khu chế xuất do doanh nghiệp trong nước hay nhà nước đứng ra làm chủ đầu tư. Có thể so sánh giữa Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Đông Anh, Hà Nội do tập đoàn Mitshubishi Nhật Bản đầu tư xây dựng, bên Việt Nam góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật được xây dựng đồng bộ, hiện đại và luôn được duy tu, bảo dưỡng trong khi Khu công nghiệp Sài Đồng B, Gia Lâm, Hà Nội do nhà nước đứng ra làm chủ đầu tư hạ tầng cơ sở được xây dựng manh mún, đến nay các hạng mục như đường giao thông, cây xanh, hàng rào Khu công nghiệp đã xuống cấp nghiêm trọng do không được bảo dưỡng, duy tu thường xuyên.
Tiếp đó, đối với phạm vi sử dụng đất và hạ tầng trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, một trong những yếu tố tiền đề để sớm triển khai hoạt động sản xuất, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép thuê lại cơ sở hạ tầng, nhà xưởng của doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng. Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất sẽ xem xét địa điểm phù hợp với quy hoạch và việc sản xuất của dự án mà nhà đầu tư dự định thành lập, nhà đầu tư phối hợp với Công ty kinh doanh hạ tầng để ký hợp đồng thuê đất. Theo quy trình này, nhà đầu tư sẽ gần như được thuê đất sạch và không phải bận tâm về vấn đề giải phóng mặt bằng hay xây dựng hạ tầng, không phải lo vấn đề đấu nối điện nước, nước thải…
Sau yếu tố hạ tầng là vấn đề lao động. Trên thực tế, đây cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư vào Việt Nam. Chính vì tầm quan trọng đó, Nhà nước Việt Nam đã đặc biệt chú trọng đến việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lao động nói chung và lao động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nói riêng. Để tạo điều kiện thuận lợi và cơ sở pháp lý chặt chẽ cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nhà nước đã ghi nhận quyền “thuê lao động trong nước, thuê lao động nước ngoài làm công việc quản lý, lao động kỹ thuật, chuyên gia theo nhu cầu sản xuất kinh doanh”. Đây là một điểm tiến bộ so với quy định trước đây vì doanh nghiệp sẽ không bị ràng buộc về tỷ lệ lao động nước ngoài được phép sử dụng tại Việt Nam là 3% hoặc bất kỳ tỷ lệ nào khác. Quy định chi tiết về quản lý và sử dụng lao động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất hiện vẫn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ phải thực hiện nhiều quy định về quản lý lao động như tuyển dụng, đăng ký thang lương, bảng lương, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể, đăng ký giấy phép lao động cho người nước ngoài… như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Về chế độ ngoại hối đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, theo Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất bắt buộc phải mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản đồng tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam. Trong trường hợp đặc biệt, đối với những dự án có nhu cầu cần thiết, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở tài khoản ở nước ngoài sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận. Doanh nghiệp có trách nhiệm báo cáo cho Ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tình hình sử dụng tài khoản ở nước ngoài.
Chính phủ cũng có quy định cụ thể về việc đảm bảo quyền mua và sử dụng ngoại tệ từ các tổ chức tín dụng cho các doanh nghiệp và ghi nhận tại Điều 16 Luật Đầu tư. Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 160/2008/NĐ-CP ngày 28/12/2008 quy định: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được sử dụng các nguồn thu bằng đồng Việt Nam từ hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam để mua ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép và chuyển ra nước ngoài trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày mua được ngoại tệ.
Cùng với quy định về đảm bảo ngoại tệ, quy định về chuyển lợi nhuận ra nước ngoài của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã đảm bảo được quyền lợi chính đáng cho các doanh nghiệp. Cụ thể là Điều 9 và Điều 16 Luật Đầu tư đã ghi nhận quyền của nhà đầu tư nước ngoài và người lao động nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản thu nhập hợp pháp trong quá trình sản xuất kinh doanh tại Việt Nam sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 13 Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ cũng ghi nhận quyền của nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài vốn điều lệ, vốn thực hiện đầu tư trực tiếp, vốn vay, lãi, chi phí vay nước ngoài và các nguồn thu hợp pháp có liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ. Riêng đối với Khu chế xuất, Chính phủ còn cho phép cán bộ, công nhân viên làm việc trong Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất khi mang ngoại hối từ nội địa Việt Nam vào Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất và ngược lại không phải khai báo hải quan (tại khoản 6 Điều 21 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP). Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngoài các quy định trên, khi tiến hành hoạt động tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn phải tuân thủ triệt để các quy định liên quan đến việc bảo vệ môi trường, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về môi trường. Xuất phát từ thực tế Khu công nghiệp, Khu chế xuất là nơi tập trung của rất nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm công nghiệp do đó mức độ tác động đến môi trường của Khu công nghiệp, Khu chế xuất cũng lớn hơn gấp nhiều lần so với những khu vực khác nên ngay từ khâu quy hoạch xây dựng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Nhà nước đã có yêu cầu về công tác bảo vệ môi trường. Theo đó, doanh nghiệp đầu tư kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất phải thực hiện lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và phải thực hiện đúng các nội dung trong Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 và Điều 13 Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT, Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất sẽ chỉ “xem xét tiếp nhận các dự án đầu tư thuộc ngành nghề trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng” [8] và các dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất chỉ được hoạt động sau khi đã hoàn thành hệ thống xử lý chất thải rắn, nước thải. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp còn phải đảm bảo các quy định về bảo vệ không khí, nước, chống tiếng ồn và được khuyến khích áp dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Chính vì vấn đề này, quy định pháp luật bắt buộc đối với các Khu công nghiệp, Khu chế xuất có tỷ lệ lấp đầy của doanh nghiệp trên 70% phải xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung, các doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất phải mua phí xử lý nước thải của nhà máy, xả thải qua nhà máy xử lý nước thải, sau khi nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn cho phép nhà máy mới xả thải vào hệ thống nước thải chung của toàn Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Quy định này nhằm đảm bảo môi trường cho doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất và dân cư sinh sống quanh Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhằm hạn chế trường hợp doanh nghiệp xả thải trực tiếp ra hệ thống nước thải chung của Khu công nghiệp hoặc khu dân cư như trường hợp của Công ty Vedan báo chí đã nêu thời gian vừa qua.
Với đặc thù là nơi tập trung cho việc sản xuất, trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất không được có dân cư sinh sống. Riêng Khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất, việc ra vào khu vực này còn bị kiểm tra nghiêm ngặt hơn và chỉ những nhà đầu tư, người làm việc trong Khu chế xuất và những người có quan hệ cộng tác với đơn vị, doanh nghiệp trong Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất mới được ra vào các khu vực này. Việc lưu trú trong Khu chế xuất chỉ được thực hiện nếu được phép của Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Theo quy định hiện hành, chuyên gia nước ngoài có thể tạm trú tại doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong trường hợp cần thiết và theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Về quan hệ xuất nhập khẩu, Khu chế xuất có những quy định riêng về trao đổi hàng hóa với bên ngoài hàng rào Khu chế xuất. Theo đó, quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất với các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khu phi thuế quan, là quan hệ xuất, nhập khẩu, các hàng hóa ra vào đều phải làm thủ tục khai báo hải quan. Tuy nhiên, theo khoản 3, khoản 4 Điều 21 Nghị định 29/2008/NĐ-CP, doanh nghiệp chế xuất được mua văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam để phục vụ cho điều hành bộ máy văn phòng và sinh hoạt của cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp chế xuất được lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu và hải quan đối với những loại hàng hóa này. Tuy nhiên, các doanh mục hàng hóa này phải được Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất duyệt theo kế hoạch vào dịp đầu năm. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong quan hệ với thị trường nội địa, doanh nghiệp chế xuất được mua hàng hoá từ thị trường nội địa để sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu hoặc để xuất khẩu, trừ hàng hoá thuộc diện cấm xuất khẩu. Bên cạnh đó, doanh nghiệp chế xuất được bán vào thị trường nội địa các loại hàng hóa sau:
- Sản phẩm do doanh nghiệp chế xuất sản xuất và không thuộc diện cấm nhập khẩu;
- Sản phẩm do doanh nghiệp chế xuất sản xuất mà thị trường nội địa có nhu cầu;
- Phế liệu, phế phẩm thu được trong quá trình sản xuất không thuộc diện cấm nhập khẩu hoặc thuộc diện được phép nhập khẩu.
Về phạm vi xuất khẩu, nhập khẩu, giống như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác, doanh nghiệp đầu tư trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có quyền kinh doanh xuất khẩu, quyền kinh doanh nhập khẩu và phân phối với nhiều loại hàng hóa thuộc diện không bị cấm nhập khẩu, cấm kinh doanh sau khi được cấp phép. Đối với hàng hóa tự sản xuất, doanh nghiệp được trực tiếp nhập khẩu hoặc ủy thác nhập khẩu thiết bị, máy móc, vật tư, nguyên liệu hàng hóa cho hoạt động đầu tư; trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm.
Để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ cũng có những quy định thông thoáng về chính sách thuế xuất nhập khẩu đối với các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Theo đó, hàng hóa từ khu chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài, hàng hóa từ nước ngoài vào khu chế xuất, chỉ sử dụng trong khu chế xuất và hàng hóa đưa từ khu chế xuất này sang khu chế xuất khác không phải nộp thuế nhập khẩu, xuất khẩu và không cần làm thủ tục hải quan, chỉ cần báo cáo với cơ quan hải quan.
Về lĩnh vực hải quan, Chính phủ cho phép thành lập kho ngoại quan trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Đây là khu vực kho, bãi được ngăn cách với khu vực xung quanh để tạm lưu giữ, bảo quản hoặc thực hiện các dịch vụ đối với hàng hoá từ nước ngoài hoặc từ trong nước đưa vào kho, thực hiện theo hình thức thông quan tạm nhập tái xuất. Ngoài ra, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu còn được phép lập kho bảo thuế. Đây là loại kho được thành lập chỉ để lưu giữ nguyên liệu nhập khẩu nhưng chưa nộp thuế để sản xuất hàng xuất khẩu của chính doanh nghiệp. Ngoài ra, so với các doanh nghiệp đầu tư ở bên ngoài, hàng hóa của doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất còn được chuyển địa điểm kiểm tra hải quan đến chân công trình hoặc kho. Đây thực sự đã trở thành những chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp Khu chế xuất nhằm tạo điều kiện thúc đẩy loại hình doanh nghiệp này hoạt động, phát triển.
Nhìn chung, quy định về xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam so với pháp luật Singapore, Trung Quốc đã khá thông thoáng, phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO và thông lệ quốc tế. Đây là điều kiện quan trọng thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nói chung và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư tại khu vực này nói riêng.
2.1.3. Chấm dứt hoạt động và thanh lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp và khu chế xuất Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Sau thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế phát sinh việc một số doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, thị trường…doanh nghiệp lâm vào khủng hoảng và có nhu cầu chấm dứt hoạt động. Theo quy định pháp luật, việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhìn chung không có nhiều khác biệt với các doanh nghiệp khác bên ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Cụ thể, theo Điều 65 Luật Đầu tư đã quy định bốn trường hợp bị chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư:
- Hết thời hạn hoạt động ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư;
- Theo các điều kiện chấm dứt hoạt động được quy định trong hợp đồng, điều lệ hoặc thỏa thuận, cam kết của nhà đầu tư về tiến độ thực hiện dự án;
- Nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án;
- Chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan nhà nước quản lý đầu tư hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài do vi phạm pháp luật.
Trừ trường hợp chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan nhà nước đầu tư hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài do vi phạm pháp luật, trong các trường hợp chấm dứt pháp luật khác, doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư, làm thủ tục thanh lý dự án đầu tư và nộp lại Giấy chứng nhận đầu tư, con dấu, mã số thuế cho cơ quan có thẩm quyền. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Thủ tục thanh lý dự án đầu tư được chia thành hai trường hợp. Nếu thanh lý dự án đầu tư không gắn với việc giải thể tổ chức kinh tế thì việc thanh lý sẽ thực hiện theo quy định pháp luật về thanh lý tài sản, thanh lý hợp đồng. Trong trường hợp thanh lý gắn với việc giải thể tổ chức kinh tế thì nhà đầu tư sẽ thực hiện thủ tục giải thể tổ chức kinh tế theo quy định của Luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Hiện nay, doanh nghiệp bị giải thể trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 157 của Luật doanh nghiệp, bị thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư quy định tại Điều 68 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP hoặc bị Tòa án tuyên bố giải thể. Trình tự, thủ tục giải thể, thanh lý tài sản doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại các khoản 1 đến khoản 4 Điều 158 của Luật doanh nghiệp và Điều 40 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP. Trong trường hợp hoạt động này được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành, doanh nghiệp sẽ phải tuân thủ quy định riêng này.
Thời hạn thanh lý dự án đầu tư được quy định là không quá 06 tháng kể từ ngày quyết định chấm dứt hoạt động dự án đầu tư. Trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì thời hạn thanh lý dự án đầu tư được kéo dài nhưng tối đa thì thời hạn này không cũng không được quá 12 tháng. Đây là quy định nhằm hạn chế việc chậm trễ trong việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp nhằm tẩu tán tài sản. Thêm vào đó, quy định này còn nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi của những bên liên quan trong trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Để đảm bảo doanh nghiệp không lợi dụng Giấy chứng nhận đầu tư đã hết hiệu lực ký kết những hợp đồng nhằm chiếm đoạt tài sản của doanh nghiệp khác. Sau khi kết thúc việc thanh lý, nhà đầu tư phải thông báo cho cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư và nộp lại Giấy chứng nhận đầu tư đã cấp.
Trong trường hợp các nhà đầu tư trong tổ chức kinh tế có tranh chấp dẫn tới không thực hiện được việc thanh lý dự án đầu tư trong thời hạn được quy định nói trên thì tranh chấp sẽ được đưa ra giải quyết tại tòa án, trọng tài theo quy định của pháp luật.
Thủ tục phá sản doanh nghiệp sẽ được thực hiện nếu trong quá trình thanh lý dự án đầu tư, tổ chức kinh tế không có khả năng thanh toán các khoản nợ. Trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ chấm dứt thủ tục thanh lý để chuyển sang thủ tục phá sản doanh nghiệp. Thủ tục phá sản doanh nghiệp hiện nay được thực hiện chung theo quy định của Luật Phá sản và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Trên cơ sở thủ tục thanh lý, nhà đầu tư sẽ kết thúc sự tồn tại cho doanh nghiệp của mình. Thực hiện việc chấm dứt đầu tư là một tiền đề quan trọng để doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện các hoạt động chuyển lợi nhuận (nếu có) và những tài sản còn lại của doanh nghiệp về nước. Đối với nhà nước, đây là thủ tục cần thiết để quản lý tình hình hoạt động của những doanh nghiệp này, tránh việc các doanh nghiệp này lợi dụng pháp nhân không còn tồn tại để lừa đảo hoặc gây ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp khác. Thực tế tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam có một số doanh nghiệp tiến hành thủ tục thanh lý, giải thể doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động không hiệu quả hoặc do tác động của các nguyên nhân khách quan như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 vừa qua. Các tập đoàn kinh tế lớn cũng lâm vào hoàn cảnh khó khăn, họ phải tiến hành thu hẹp sản xuất kinh doanh, thu hồi vốn đối với một số dự án Đầu tư nước ngoài hoạt động không hiệu quả đơn của như trường hợp Công ty TNHH Medicos Franch trong Khu công nghiệp Sài Đồng B, Gia Lâm, Hà Nội. Sau khi tiến hành thủ tục nộp con dấu, mã số thuế cho cơ quan thế, đăng báo 03 số liên tiếp về việc giải thể doanh nghiệp. Doanh nghiệp đã lập phương án thanh lý, giải thể doanh nghiệp, hoàn thành nghĩa vụ thuế, tài chính đối với nhà nước Việt Nam, giải quyết chế độ cho người lao động…đã nộp đơn kèm theo hồ sơ lên Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Hà Nội (HIZA) xin giải thể công ty và nộp lại Giấy chứng nhận đầu tư. Sau khi thành lập đoàn kiểm tra liên ngành, xác nhận công ty đã hoàn thành tất cả nghĩa vụ tài chính, không có vi phạm pháp luật, khiếu nại…Ban quản lý ban hành quyết định chấm dứt dự án đầu tư và giải thể công ty theo quy định của pháp luật.
2.1.4. Đăng ký lại và tổ chức lại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp và khu chế xuất
- Tổ chức lại doanh nghiệp
Tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi doanh nghiệp. Trong số các phương thức trên, sáp nhập là mang tính phổ biến nhất. Đây được coi là giải pháp tương đối hữu hiệu để giải quyết vấn đề khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và cũng là cơ hội mở rộng, tạo lợi thế mới cho những doanh nghiệp lớn hơn.
Thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP và Nghị định số 102/2010/NĐ-CP. Đây là những hướng dẫn được áp dụng cho cho mọi loại hình doanh nghiệp và không phân biệt khu vực đầu tư, cụ thể như sau:
- Chia, tách doanh nghiệp được áp dụng với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần khi có nhu cầu chia/tách thành các công ty cùng loại. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Việc hợp nhất, sáp nhập chỉ được áp dụng với những công ty cùng loại.
- Việc chuyển đổi doanh nghiệp được thực hiện cho trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển đổi thành công ty cổ phần và ngược lại.
- Đăng ký lại doanh nghiệp
Đây là thủ tục đặc thù đối với doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước đây. Để được hoạt động hoàn toàn theo Luật Đầu tư và Luật doanh nghiệp 2005, các doanh nghiệp nêu trên cần phải thực hiện việc đăng ký lại. Trước đây, thời hạn doanh nghiệp buộc phải đăng ký lại bị giới hạn là 2 năm kể từ ngày 1/7/2006 – ngày Luật doanh nghiệp có hiệu lực. Tuy nhiên sau đó, thời hạn này được kéo dài thành 5 năm tính từ thời điểm nêu trên (theo Điều 3 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản) và dự kiến thời hạn này sẽ bị bãi bỏ theo Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02/6/2010 của Chính phủ về đơn giản hóa 258 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ ngành.
Trong trường hợp không đăng ký lại, việc tổ chức quản lý nội bộ và hoạt động của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Điều lệ doanh nghiệp; trường hợp Điều lệ không quy định thì áp dụng theo các quy định tương ứng của Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, doanh nghiệp sẽ chỉ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư và pháp luật khác liên quan trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề đã ghi trong Giấy phép đầu tư mà không được điều chỉnh bổ sung mục tiêu và áp dụng các ưu đãi về thuế theo quy định mới.
Nhìn chung, thủ tục đăng ký lại khá đơn giản và đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như khả năng điều chỉnh, mở rộng phạm vi ngành nghề kinh doanh, không bị hạn chế thời hạn hoạt động của doanh nghiệp và kéo dài thời hạn của dự án đồng thời tăng cường quản trị doanh nghiệp… nhưng nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp liên doanh e ngại thực hiện thủ tục này do đang áp dụng nhiều quy định có lợi hơn cho một bên như việc bắt buộc áp dụng nguyên tắc nhất trí khi quyết định các vấn đề quan trọng.
2.2. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
2.2.1. Sử dụng đất và hạ tầng trong khu công nghiệp và khu chế xuất
Đối với bất kể một nhà đầu tư nào chuẩn bị tiến hành đầu tư thì công việc đầu tiên và quan trọng nhất tiến hành song song với lập dự án xin cấp giấy chứng nhạn đầu tư là việc tìm kiếm mặt bằng thích hợp để thuê đất và xây dựng hạ tầng kỹ thuật: nhà xưởng, nhà điều hành, văn phòng…
Về vấn đề này, theo pháp luật Việt Nam tương đối dễ dàng và thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất khi hầu hết diện tích đất trong Khu công nghiệp đã được giải phóng mặt bằng và đã có một số cơ sở hạ tầng nhất định như nhà máy xử lý nước thải, trạm điện, đường giao thông, nhà máy cấp nước, hệ thống đường giao thông, cây xanh… Đây là một lợi thế đáng kể khi đầu tư vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất vì tại Việt Nam, việc giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư là một quy trình phức tạp, mất thời gian và tốn kém cũng như nhiều rủi ro. Có trường hợp doanh nghiệp hoạt động bên ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã được các cấp có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, được bàn giao địa điểm, mốc giới đất nhưng sau 3 năm vẫn không đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh được do một phần diện tích đất không giải phóng được mặt bằng.
Bên cạnh đó, khi lựa chọn đầu tư vào các khu vực này, nhà đầu tư thường sẽ được cấp phép với thời hạn hoạt động tương đối dài phù hợp với thời gian hoạt động còn lại của khu công nghiệp. Tại Việt Nam, hiện nay thời hạn này thường không dưới 30 năm và tối đa có thể là đạt tới 49 hoặc 50 năm nếu lựa chọn các khu công nghiệp mới được thành lập, ngoài ra sau khi hết thời hạn nêu trên doanh nghiệp có nhu cầu sẽ đề nghị Ban quản lý các Khu công nghiệp, KCX gia hạn thời gian đầu tư. Trong khi, nếu đầu tư ở bên ngoài, rất ít trường hợp dự án được cấp phép đến 50 năm.
Trong thời gian thuê đất, bên cạnh các quyền lợi và nghĩa vụ chung như các doanh nghiệp khác theo quy định tại Điều 105, Điều 107 của Luật Đất đai, doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất còn được hưởng nhiều quyền lợi đặc thù như: Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Bán, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê, đất thuê lại đối với trường hợp trả tiền thuê đất hàng năm;
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuê, đất thuê lại và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất; thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất thuê, đất thuê lại và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam; góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê, đất thuê lại và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác liên doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất đối với trường hợp đã trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, thời gian thuê lại.
- Có quyền lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc trả tiền một lần cho cả thời gian thuê.
Nhìn chung, quá trình sử dụng đất và hạ tầng trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là tương đối thông thoáng và thuận lợi. Bởi trên cơ sở diện tích đất đã được giải phóng mặt bằng và một số cơ sở hạ tầng cần thiết đã được xây dựng sẵn, nhà đầu tư có thể dễ dàng tiến hành thủ tục thuê đất và cơ sở hạ tầng, dễ dàng tiến hành thủ tục đầu tư xây dựng nhà máy theo thẩm định thiết kế cơ sở và bản vẽ tỷ lệ 1/500 được Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất phê duyệt, không giống như các doanh nghiệp bên ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhiều đầu mối, nhiều Sở, ngành giải quyết như việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư doanh nghiệp phải qua bên Sở Kế hoạch và Đầu tư, liên quan đến xây dựng doanh nghiệp phải qua Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch kiến trúc, liên quan đến lao động nước ngoài, doanh nghiệp phải qua Sở Lao động, Thương binh và Xã hội …
Tuy nhiên, nếu so với pháp luật Trung Quốc, chế độ sử dụng đất tại Việt Nam chưa thực sự hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Trung Quốc chủ trương trao cho các xí nghiệp liên doanh quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của các chính quyền nhân dân địa phương. Thủ tục trao đất thuộc phía đối tác Trung Quốc và sự đánh giá đất bằng tiền là sự đóng góp cổ phần của phía đối tác Trung Quốc. Ngoài việc giao quyền sử dụng đất để xây dựng các xí nghiệp liên doanh trong những năm gần đây, quốc gia này mới dè dặt trong việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất để khai thác tổng hợp thông qua hình thức đấu thầu sử dụng đất hoặc mua bán đấu giá. Đây là một chủ trương đã được thực hiện khá tốt nhằm đảm bảo ưu thế của doanh nghiệp Trung Quốc trong quá trình hợp tác. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, quyền sử dụng đất tại Trung Quốc có thể được đem bán, cho thuê, thế chấp hoặc các dạng chuyển nhượng khác để lấy tiền như các loại tài sản phi vật chất khác. Bên cạnh số tiền bỏ ra để mua quyền sử dụng đất, doanh nghiệp đầu tư tại đặc khu còn phải trả một khoản lệ phí sử dụng đất hàng năm theo quy định riêng của từng đặc khu.
Hiện nay, Trung Quốc đang áp dụng chính sách về đất đai như sau: Thương mại hóa quyền sử dụng đất; Cho phép các công ty nước ngoài tham gia vào hoạt động bất động sản với mục đích thương mại.
Các ưu đãi về việc sử dụng đất đai đối với các đặc khu kinh tế của Trung Quốc có thời hạn áp dụng rất dài. Ban đầu được ưu đãi khoảng 10 – 15 năm, sau đó có thể tăng lên 30 – 50 và thậm chí là 70 năm. Đây là thuận lợi lớn cho dự án đầu tư cần có diện tích lớn. Đặc biệt, tại Trung Quốc, người nước ngoài được mua quyền sử dụng đất và cho phép chủ sở hữu quyền sử dụng đất được đầu tư phát triển đất theo bất kỳ mục đích nào như sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, cung cấp dịch vụ, làm nhà ở hoặc phát triển và cho thuê lại.
Theo pháp luật nước Lào, theo Điều 42 Luật Khuyến khích và bảo hộ đầu tư, thời hạn đầu tư trong phát triển đặc khu kinh tế (bao gồm cả khu công nghiệp) căn cứ vào loại hình, quy mô, điều kiện của từng đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng, tối đa không quá 99 năm và có thể gia hạn tuỳ từng trường hợp với sự đồng ý của Chính phủ, nhất là trong trường hợp nhà đầu tư thực hiện dự án đem lại lợi ích lớn nhất, tối đa cho đất nước, thực hiện hợp đồng có hiệu quả và góp phần trong việc phát triển địa phương. Thời hạn này cũng dài hơn so với quy định tại Việt Nam.
2.2.2. Đầu tư xây dựng trong khu công nghiệp, khu chế xuất
- Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng
Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật của Khu công nghiệp, Khu chế xuất là yếu tố then chốt, quyết định sự thành công của mỗi dự án phát triển Khu công nghiệp. Do đó, doanh nghiệp thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong Khu công nghiệp có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển các Khu công nghiệp.
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp bao gồm hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào Khu công nghiệp với những công việc cụ thể như: bồi thường, giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, xây dựng công trình cấp điện, nước, các công trình giao thông, thông tin liên lạc, công trình thoát nước, xử lý nước thải, chất thải công nghiệp, hệ thống giao thông nội bộ, cây xanh, chiếu sáng…. Để thực hiện các công việc nói trên đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư xây dựng phải tiền lực tài chính lớn mạnh, có kinh nghiệm xây dựng hạ tầng nhưng thời gian thu hồi vốn lâu, nhiều rủi ro nên rất cần sự hỗ trợ từ phía nhà nước. Vì vậy, ngay từ khi ban hành Nghị định 36/CP về Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất cho đến thời điểm hiện nay, Chính phủ vẫn luôn giữ vững quan điểm khuyến khích và tạo thuận lợi cho các công ty xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp thông qua hỗ trợ nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương.
Pháp luật Việt Nam hiện nay không có sự giới hạn thành phần kinh tế được phép đầu tư kết cấu hạ tầng trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Do đó, nhà đầu tư nước ngoài có khả năng được tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất với tư cách liên doanh hoặc độc lập. Nhìn chung, pháp luật không có sự phân biệt đối xử đối với các thành phần kinh tế trong lĩnh vực này. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính vì vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khai dự án nêu trên sẽ có đầy đủ các quyền của một doanh nghiệp thông thường theo Luật doanh nghiệp, cũng như các quyền của nhà đầu tư theo Luật Đầu tư và Chương III “Quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư” tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP. Ngoài ra, đối với lĩnh vực này, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn có thêm các quyền đặc thù như sau:
- Được xây dựng nhà xưởng, văn phòng, kho bãi trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế để bán hoặc cho thuê;
- Được định giá cho thuê đất, giá cho thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật; định mức phí sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các công trình dịch vụ khác trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế; định giá cho thuê, giá bán nhà xưởng, văn phòng, kho bãi và định mức phí dịch vụ;
- Được thu phí sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ và tiện ích công cộng trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế theo quy định của Bộ Tài chính;
- Được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất và cho thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về kinh doanh bất động sản…
Tuy nhiên, gắn liền với quyền lợi được hưởng là nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện khi tiến hành đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp. Cụ thể:
- Xây dựng các công trình, kết cấu theo đúng kế hoạch, chi tiết, thiết kế và tiến độ đã được các cơ quan nhà nước có thêm quyền phê duyệt.
- Có trách nhiệm duy tu, bảo dưỡng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong Khu công nghiệp, đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh Khu công nghiệp trong thời hạn kinh doanh cơ sở hạ tầng.
- Có nghĩa vụ cung cấp tài liệu liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài liệu phục vụ xây dựng cho các doanh nghiệp thứ cấp trong Khu công nghiệp…
Tuy nhiên, so sánh pháp luật Trung Quốc, vấn đề du tu bảo dưỡng hạ tầng kỹ thuật các Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Trung Quốc rất tốt, Ban quản lý hay Công ty kinh doanh hạ tầng của Trung Quốc được trích lại 3% tổng kin phí từ việc thu phí hạ tầng để thực hiện việc duy tu, bảo dưỡng các công trình trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong khi cơ chế này Việt Nam chưa có, chính vì vậy hạ tầng kỹ thuật các Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Việt Nam sau khi được đầu tư nhanh chóng xuống cấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, trong khi hàng tháng, hàng năm họ vẫn phải đóng tiền thuê đất, phí hạ tầng… Về vấn đề này tác giả luận văn đề xuất Chính phủ nên nghiên cứu và xây dựng cơ chế chính sách cho việc trích lại phí hạ tầng để phục vụ công tác duy tu bảo dưỡng. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào đầu tư tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Các doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư tiến hành lập hồ sơ xây dựng để trình Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất thẩm định thiết kế kỹ thuật, phê duyệt tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500. Sau đó doanh nghiệp tiến hành xây dựng nhà máy. Doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có đặc điểm khác với doanh nghiệp ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất là không phải xin giấy phép xây dựng và thủ tục xây dựng cũng đơn giản và nhanh hơn rất nhiều.
Trong hoạt động xây dựng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư dự án tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất phải tuân thủ thiết kế cơ sở đã được phê duyệt và quy hoạch chung tổng thể của toàn bộ Khu công nghiệp, Khu chế xuất, công năng của khu đất, đồng thời đảm bảo đấu nối với hệ thống kết cấu hạ tầng chung của Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
2.2.3. Chính sách ưu đãi trong khu công nghiệp, khu chế xuất
Nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất, kinh doanh tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách ưu đãi. Tuy nhiên, tại thời điểm hiện nay, mức độ ưu đãi đã giảm sút đáng kể so với trước đây do đầu tư vào khu vực này không còn được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp từ năm 2009. Hiện nay, doanh nghiệp chỉ còn được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất, ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu… Cụ thể:
- Ưu đãi về tiền thuê đất.
Theo Điều 90 Luật Đất đai năm 2003 của Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài có quyền chọn lựa thanh toán tiền thuê đất hàng năm hoặc trả một lần cho cả thời gian thuê đất. Do đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có thể trả tiền thuê đất theo một trong các hình thức nêu trên đối với diện tích sử dụng riêng mà không phải trả tiền thuê đất cho diện tích xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung trong Khu công nghiệp như đường giao thông nội khu, trạm điện, nhà máy nước, nhà máy xử lý nước thải… Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, hoạt động đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng và đầu tư xây dựng chung cư cho công nhân làm việc tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư. Dự án sản xuất trong Khu công nghiệp cũng thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư (theo Phụ lục I Nghị định số 108/2006/NĐ-CP). Ngoài ra, Khu công nghiệp cũng là địa bàn được ưu đãi đầu tư, được coi là địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn (theo Phụ lục II Nghị định số 108/2006/NĐ-CP). Căn cứ vào các tiêu chí nêu trên và Điều 14 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất và dự án xây dựng nhà chung cư cho công nhân được miễn toàn bộ tiền thuê đất. Không tính đến các tiêu chí khác, các dự án sản xuất trong Khu công nghiệp được miễn tiền thuê đất theo hai tiêu chí là lĩnh vực hoạt động và địa bàn đầu tư nên được miễn tiền thuê đất 11 năm kể từ ngày xây dựng hoàn thành đưa dự án vào hoạt động. Các dự án khác trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có thể được miễn tiền thuê đất 3 năm hoặc 7 năm. Ngoài ra, các dự án còn được miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng.
So với Luật Khuyến khích và bảo hộ đầu tư của Lào, quy định của Việt Nam có phần thuận lợi hơn. Tại quốc gia này, việc miễn phí thuê đất hoặc tô nhượng đất chỉ được áp dụng đối với các dự án xây dựng trung tâm nghiên cứu- phân tích, một số dự án dân sinh và công cộng. Thời hạn miễn được xác định theo các khu vực với các mốc là 3, 10 và 14 năm. Tuy nhiên, quốc gia này lại cho phép nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư với số vốn đăng ký từ 500.000 Đôla Mỹ trở lên có quyền mua quyền sử dụng đất của nhà nước đã trong quy hoạch theo quy định của thời gian đầu tư dự án để xây dựng nhà ở hoặc cơ sở kinh doanh, nhưng cần được sự đồng ý của tổ chức quản lý đất đai địa phương.
Pháp luật Trung Quốc, các đặc khu kinh tế khác nhau có mức ưu đãi khác nhau trong việc trả tiền sử dụng đất. Chẳng hạn, ở Thâm Quyến, các xí nghiệp có công nghệ cao được miễn khoản tiền nay trong 5 năm đầu và giảm 50% trong 5 năm tiếp theo. Ở Chu Hải, các xí nghiệp liên doanh đang áp dụng công nghệ cao hoặc các xí nghiệp lợi nhuận thấp được miễn trả khoảng tiền này. Ở Hà Môn, tiền trả cho việc sử dụng đất được giảm 50% trong thời gian xây dựng theo dự toán, còn đối với những người Trung Quốc ở nước ngoài thì được giảm 50% trong toàn bộ thời gian xây dựng, các nhà đầu tư từ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan coi được hưởng các ưu đãi bổ sung. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Theo pháp luật Việt Nam: trước đây, một trong những ưu đãi hấp dẫn đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất trong Khu công nghiệp chính là việc được ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, vừa qua danh mục về lĩnh vực ưu đãi về thuế nhập khẩu đã bị thay đổi. Theo Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/08/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất không còn thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và dự án sản xuất trong Khu công nghiệp không thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư. Đồng thời, địa bàn được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu được xác định theo Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 124/2008/NĐ-CP. Như vậy, trong trường hợp Khu công nghiệp, Khu chế xuất không thuộc các địa bàn được ưu đãi đầu tư theo quy định trên thì về cơ bản hoạt động đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất không còn được ưu đãi thuế này.
Theo Điều 12 Nghị định số 87/2010/NĐ-CP, chỉ các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất tự đầu tư nhà ở cho công nhân có thể được miễn thuế lần đầu đối với một số loại trang thiết bị nhập khẩu như:
- Hệ thống cung cấp nước các loại;
- Hệ thống điều hòa và thông gió;
- Hệ thống phòng cháy và chữa cháy;
- Hệ thống xử lý rác và nước thải;
- Hệ thống vận chuyển (thang máy);
- Hệ thống giặt là;
- Hệ thống thiết bị bảo vệ.
- Ưu đãi và hỗ trợ về sử dụng lao động
Với đặc trưng chung là sử dụng nhiều lao động, doanh nghiệp đầu tư tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất có thể được áp dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ do sử dụng nhiều lao động như sau:
- Về hỗ trợ đào tạo:
Hiện nay, chi phí đào tạo của doanh nghiệp được tính vào chi phí hợp lý làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ hỗ trợ từ nguồn ngân sách cho việc đào tạo lao động trong các doanh nghiệp thông qua các chương trình trợ giúp đào tạo.
- Ưu đãi do sử dụng nhiều lao động nữ: Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo Điều 5 Nghị định số 23/CP ngày 18/4/1996 của Chính phủ, doanh nghiệp có đủ một trong hai điều kiện sau đây là doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ:
- Sử dụng thường xuyên từ 10 đến 100 lao động nữ và có số lao động nữ từ 50% trở lên so với tổng số lao động có mặt thường xuyên của doanh nghiệp.
- Sử dụng thường xuyên trên 100 lao động nữ và có số lao động nữ từ 30% trở lên so với tổng số lao động có mặt thường xuyên của doanh nghiệp.
Theo Điều 6 Nghị định số 23/CP, các doanh nghiệp loại này được hưởng các chính sách ưu đãi dưới đây:
- Trường hợp gặp khó khăn đặc biệt, có quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì được vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ quốc gia về việc làm;
- Trường hợp có khó khăn về tài chính, không tự giải quyết việc điều chuyển lao động nữ đang làm các công việc thuộc danh mục công việc cấm sử dụng lao động nữ sang làm công việc khác thích hợp thì doanh nghiệp được lập dự án xin kinh phí hỗ trợ một lần từ quỹ quốc gia về việc làm;
- Được ưu tiên sử dụng, một phần trong tổng số vốn đầu tư hàng năm của doanh nghiệp để chi cho việc cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nữ.
Được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp bằng số chi thêm cho lao động nữ theo Điều 17 Nghị định số 124/2008/NĐ-CP, cụ thể như sau:
- Chi đào tạo lại nghề; Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Chi phí tiền lương và phụ cấp (nếu có) cho cô giáo dạy ở nhà trẻ, mẫu giáo do doanh nghiệp tổ chức và quản lý;
- Chi khám sức khoẻ thêm trong năm;
- Chi bồi dưỡng cho lao động nữ sau khi sinh con;
- Lương, phụ cấp trả cho thời gian lao động nữ được nghỉ sau khi sinh con, nghỉ cho con bú theo chế độ nhưng vẫn làm việc.
Trong trường hợp sản xuất không có lãi thì các khoản chi phí tăng thêm do sử dụng nhiều lao động nữ được coi là một khoản chi hợp lệ theo Điều 7 Nghị định số 23/CP.
- Về xây dựng nhà ở cho công nhân:
Theo khoản 2 Điều 5 Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế chính sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các Khu công nghiệp, chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở công nhân Khu công nghiệp được hưởng các ưu đãi sau:
- Được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong phạm vi dự án;
- Được áp dụng thuế suất ưu đãi thuế giá trị gia tăng ở mức cao nhất (thuế suất 0%);
- Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 9 năm tiếp theo và được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời gian hoạt động;
Các doanh nghiệp tự xây dựng nhà ở công nhân (không thu tiền thuê hoặc có thu tiền thuê nhưng giá cho thuê không vượt quá mức giá cho thuê nhà ở xã hội theo quy định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và các doanh nghiệp thuê nhà cho công nhân ở thì được tính chi phí nhà ở là chi phí hợp lý (tính vào giá thành sản xuất) khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp;
Được hỗ trợ tín dụng đầu tư từ các nguồn:
- Vay vốn tín dụng ưu đãi hoặc bù lãi suất theo quy định;
- Vay từ Quỹ phát triển nhà ở của địa phương và các nguồn vốn vay ưu đãi khác (nếu có);
Được ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi vay (tùy theo khả năng ngân sách của từng địa phương); Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Được cung cấp miễn phí các thiết kế mẫu, thiết kế điển hình về nhà ở cũng như các tiến bộ khoa học kỹ thuật về thi công, xây lắp nhằm giảm giá thành xây dựng công trình; được áp dụng hình thức tự thực hiện nếu có đủ năng lực theo quy định của pháp luật hoặc chỉ định thầu đối với các hợp đồng tư vấn, thi công xây lắp và mua sắm thiết bị;
Được Nhà nước hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào dự án (giao thông, cấp điện, cấp thoát nước).
Về lĩnh vực này, pháp luật Trung Quốc có quan điểm hơi khác. Để tăng cường thu hút vốn nước ngoài và tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn này, Chính phủ Trung Quốc chủ trương bảo đảm một cách ổn định và điều kiện thuận lợi cho dòng vốn đầu tư nước ngoài. Ví dụ, từ 1/1/1998, Trung Quốc đã bãi bỏ thuế nhập khẩu và thuế trị giá gia tăng khi cung ứng thiết bị máy móc cho các công trình được xây dựng có vốn nước ngoài; sử dụng rộng rãi hơn vốn nước ngoài vào việc xây dựng các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu và tiếp tục mở cửa thị trường các dịch vụ cho các nhà đầu tư nước ngoài, kể cả về tài chính, bảo hiểm, viễn thông, du lịch và ngoại thương.
Trong các đặc khu kinh tế, mức thuế đánh vào lợi nhuận doanh nghiệp là 15%, trong khi con số đó là 24% ở những vùng duyên hải và các thành phố trực thuộc tỉnh. Các công ty nước ngoài có thể được miễn thuế trong 2 năm đầu kể từ khi bắt đầu có lợi nhuận và sau đó được giảm một nửa trong 3 – 5 năm tiếp theo. Trong cùng khu vực đầu tư này, các công ty công nghệ cao được miễn thuế trong 2 năm đầu kể từ khi làm ăn có lãi và được giảm một nửa trong 6 năm tiếp theo [10].
Dưới đây là bảng so sánh thuế trong và ngoài đặc khu kinh tế của Trung Quốc:
- Bảng 2.1: So sánh thuế trong và ngoài đặc khu kinh tế của Trung Quốc
Căn cứ vào bảng số liệu nêu trên, có thể dễ dàng nhận thấy việc đầu tư vào các đặc khu kinh tế, Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Trung Quốc được nhiều ưu đãi hơn hẳn so với đầu tư ở bên ngoài. Đây là động lực lớn để thu hút phát triển công nghiệp trong các đặc khu. Ngoài ra, việc duy trì thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài lại là động lực lớn để thu hút đầu tư vào các đặc khu do nhà đầu tư nước ngoài nhìn thấy ngay việc không bị mất thêm thuế khi đầu tư vào các khu vực này. Liên hệ chéo với Việt Nam, có thể thấy rằng việc sớm loại bỏ hoàn toàn loại thuế này cũng chưa hẳn đã tăng tính hấp dẫn hơn cho môi trường đầu tư tại Việt Nam mà nhiều khi việc áp dụng hợp lý sẽ có thể có hiệu quả hơn hẳn.
Ngoài việc được giảm một nửa thuế thu nhập nếu kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm hơn 70% tổng doanh số bán hàng, những doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động trong các đặc khu của Trung Quốc còn được hưởng thêm nhiều ưu đãi khác nếu họ mua những thiết bị được sản xuất trong nước. Các công ty nước ngoài được miễn thuế hoàn toàn nếu họ chuyển giao công nghệ vào Trung Quốc. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, các doanh nghiệp liên doanh trong các Đặc khu kinh tế chỉ phải trả các khoản thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu, thuế vận tải, thuế sử dụng bất động sản, thuế ra vào đặc khu. Thuế ra vào đặc khu thống nhất ở mức 15% (thuế đối với các liên doanh ở các vùng nội địa Trung Quốc -33%). Liên doanh trong Đặc khu kinh tế được miễn thuế trong 2 năm đầu kể từ khi bắt đầu có lợi nhuận (đối với các liên doanh khác -1 năm). Trong thời gian từ năm thứ 3 đến hết năm thứ 5, các doanh nghiệp này được hưởng mức thuế bằng nửa mức cơ sở. Đây cũng là một chính sách khá hợp lý để thu hút đầu tư nước ngoài triển khai dưới hình thức liên doanh.
Ngoài ra, các nhà đầu tư nước ngoài tái đầu tư lợi nhuận vào Trung Quốc trong thời hạn không dưới 5 năm sẽ được hoàn 40% số thuế ra vào Đặc khu kinh tế. Các liên doanh hiện hoạt động ở những lĩnh vực có lợi nhuận thấp (như nông nghiệp) hoặc ở những vùng xa xôi, vùng núi có thể được hưởng các ưu đãi 15-30% thuế ra vào đặc khu trong vòng 10 năm; sau 5 năm được miễn thuế hoàn toàn hoặc miễn thuế 1 phần. Các doanh nghiệp đầu tư hơn 5 triệu Đô-la Mỹ hoặc cung cấp công nghệ đặc biệt có thể được hưởng các ưu đãi thuế bổ sung.
Về thuế giá trị gia tăng, tại các đặc khu, Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Trung Quốc, loại thuế này cũng không áp dụng đối với thiết bị sản xuất mà bên nước ngoài nhập vào với tư cách là vốn đầu tư; nguyên liệu, bán thành phẩm thiết bị đồng bộ, nguyên liệu đóng gói được nhập khẩu để sản xuất các sản phẩm phục vụ tái xuất; tất cả các mặt hàng xuất khẩu ngoại trừ dầu mỏ và các sản phẩm dầu mỏ.
Về miễn thuế sử dụng đất, các Đặc khu kinh tế, Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Trung Quốc có quy định khác nhau về việc miễn, giảm loại thuế này. Ví dụ, tại Thâm Quyến, các doanh nghiệp sản xuất có hàm lượng khoa học cao được miễn thuế sử dụng đất trong 5 năm đầu. Tại Hải Nam, các nhà đầu tư nước ngoài được giảm thuế khi thuê đất đồi, đất hoang, khi thực hiện các dự án có hàm lượng khoa học cao, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các doanh nghiệp khai thác than, các trạm điện, các hồ chứa nước, các cơ sở giáo dục và văn hoá. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, Trung Quốc còn miễn thuế nhập khẩu và thuế công thương nghiệp đối với hàng nhập khẩu cho nhu cầu tiêu dùng tại đặc khu, Khu công nghiệp, Khu chế xuất máy móc, thiết bị, nguyên liệu linh kiện dùng cho sản xuất. Có một số hàng bị hạn chế nhập khẩu như ô tô, máy quay video, máy in, máy ảnh nhập khẩu nguyên chiếc… bị đánh thuế cao hơn. Thuốc lá và rượu phải nhập theo hạn ngạch và chịu thuế tăng 50% so với biểu thuế xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, sản phẩm được sản xuất trong các đặc khu sẽ được miễn thuế khi xuất khẩu ra nước ngoài. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu vào nội địa phải được phép của chính quyền. Hạn chế hơn pháp luật Việt Nam vào thời điểm hiện nay, ngoài việc yêu cầu nộp thuế nhập khẩu cho phần nguyên liệu nhập khẩu, hàng của đặc khu, Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Trung Quốc được tiêu thụ tại nội địa còn phải nộp thuế cho phần giá trị tăng thêm sau khi chế biến, sản xuất tại đặc khu, Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Hàng hóa sản xuất từ nguyên liệu trong nước cũng phải nộp thuế cho phần giá trị tăng thêm.
Khác với Trung Quốc, tại Ấn Độ, các đặc khu kinh tế (SEZ) có đặc điểm khá tương đồng với Khu chế xuất của Việt Nam. Đây là khu vực được tổ chức với thủ tục hành chính hợp lý, các biện pháp miễn giảm thuế và cơ sở hạ tầng tốt nhằm thu hút các nhà đầu tư trong các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu. Mức ưu đãi đầu tư vào các khu vực này khá lớn với thời hạn miễn thuế lợi tức là 5 năm và còn được miễn thuế nhập khẩu, thuế đánh vào các mặt hàng sản xuất cho thị trường nội địa và một số yêu cầu về chuyển nhượng bản quyền.
Tìm hiểu pháp luật của Lào, được biết, theo các điều khoản từ 50, 51 và 52 Luật Khuyến khích và bảo hộ đầu tư, chế độ ưu đãi không áp dụng riêng cho Khu công nghiệp, Khu chế xuất mà chia thành 3 khu vực theo tình hình cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội:
- Khu vực 1: Khu vực có hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư, phần lớn là các khu vực xa xôi hẻo lánh. Các khu vực này được khuyến khích đầu tư ở mức độ cao nhất. Tại đây, tùy điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp được miễn thuế lợi tức 4 – 10 năm. Thời gian được miễn thuế lợi tức được tính từ ngày tiến hành sản xuất kinh doanh. Riêng các dự án sản xuất hàng hoá mới, dự án nghiên cứu và công nghệ, được miễn thuế lợi tức tính từ khi có lợi nhuận.
- Khu vực 2: Khu vực có hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội đáp ứng phần nào cho việc đầu tư sẽ được khuyến khích đầu tư ở mức độ trung bình. Tùy điều kiện cụ thể mà mà doanh nghiệp được miễn thuế lợi tức 2 – 6 năm.
- Khu vực 3: Khu vực có hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội thuận lợi cho việc đầu tư, sẽ được khuyến khích đầu tư ở mức độ thấp. Tùy điều kiện cụ thể mà mà doanh nghiệp được miễn thuế lợi tức 1 – 4 năm.
Riêng việc đầu tư vào trung tâm nghiên cứu-phân tích sẽ được miễn thuế lợi tức thêm 5 năm so với các mức nêu trên.
Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài còn được hưởng các ưu đãi khác như sau:
- Được ưu đãi miễn thuế lợi tức trong năm tiếp theo đối với việc sử dụng tiền lợi nhuận thu được từ kinh doanh tái đầu tư để phát triển dự án. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Được ưu đãi miễn các loại thuế nhập khẩu vật liệu, máy móc, phương tiện trực tiếp phục vụ sản xuất trừ xăng dầu.
- Được ưu đãi miễn thuế xuất khẩu đối với sản phẩm xuất khẩu trừ xuất khẩu tài nguyên, sản phẩm từ tài nguyên.
Cũng liên quan đến việc ưu đãi vào Khu chế xuất, theo Luật về Khu vực Chế Xuất (ZPE) của Braxin, các doanh nghiệp hoạt động ở Khu chế xuất được hưởng các ưu tiên chính như được miễn các loại thuế trực tiếp và lệ phí, đóng góp khác theo quy định của Liên bang như Thuế nhập khẩu, Thuế mang tên IPI, PIS, COFINS, PIS- Nhập khẩu và COFINS- Nhập khẩu, Thuế về Vận tải để đổi mới đội tàu vận tải biển (AFREMM).
Tại Ma-rốc lại có đặc điểm khác, việc khuyến khích đầu tư được tập trung vào 5 ngành chính là ngân hàng, tài chính-tín dụng, công nghiệp, thương mại và bất động sản. Quốc gia này dành nhiều ưu đãi đặc biệt để thu hút các nhà đầu tư vào những ngành này không phân biệt trong ngoài Khu công nghiệp. Mức ưu đãi được phân biệt rõ giai đoạn xây dựng ban đầu và giai đoạn vận hành của dự án, cụ thể như sau:
Đối với giai đoạn xây dựng ban đầu, nhà đầu tư được:
- Miễn trừ các thủ tục mua đất
- Áp dụng Phí cho đơn xin đăng ký làm thủ tục xin mua đất là 2,5%;
- Áp dụng phí đăng ký xin tăng vốn hoặc thủ tục đầu tư thêm vốn vào công ty là 0,5%;
- Giảm phí xin nhập khẩu (khoảng từ 2,5% đến tối đa 10% theo giá hàng);
- Miễn giảm thuế nhập khẩu (PFI);
- Thuế phát minh sáng chế: tịch thu thuế chuyển đổi và miễn giảm thuế trong 5 năm đầu hoạt động;
- Miễn giảm thuế đô thị cho 5 năm đầu sau khi hoàn thành công trình mới;
- Miễn giảm khoản hoàn thuế GTGT cho các thiết bị, nguyên vật liệu và công cụ cần thiết phải nhập khẩu.
Đối với giai đoạn vận hành, nhà đầu tư được hưởng: Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Chỉ phải trả một phần thuế thu nhập đối với lợi nhuận ở mức 25% của thuế thu nhập thông thường;
- Miễn trừ thuế doanh nghiệp cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong 05 năm;
- Giảm 50% thuế doanh nghiệp hoặc thuế thu nhập trong suốt năm năm đầu sau đó;
- Các doanh nghiệp được phép tạo ra khoản dự trữ đầu tư hàng năm;
- Miễn trừ thuế lợi nhuận từ bất động sản khi các chi tiết ghi tài sản chuyển nhượng được sử dụng để làm nhà ở.
Ngoài ra, quốc gia này còn có các ưu đãi đặc biệt dành để khuyến khích các công ty tuân theo luật bảo vệ môi trường hoặc lắp đặt các thiết bị nhằm bảo vệ môi trường.
- Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định pháp luật Việt Nam, đối với doanh nghiệp đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất giai đoạn 1991-2008 sẽ được hưởng ưu đãi về thuế Thu nhập doanh nghiệp cao hơn so với mức thuế Thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh bên ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Cụ thể: đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp giai đoạn 1991-1993 áp dụng 30-50%, giai đoạn 1994-1998 áp dụng 25-45%, giai đoạn 1999-đến nay áp dụng 25% so với 10-20% đối với doanh nghiệp có dự án hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất không kể ưu đãi về thời gian miễn, giảm thuế Thu nhập doanh nghiệp. Có thể nhận thấy rằng, mức ưu đãi tài chính dành cho các doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất cao hơn so với các doanh nghiệp hoạt động bên ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Từ năm 2009, danh mục địa bàn ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp không còn nội dung ưu đãi cho Khu công nghiệp, Khu chế xuất nên doanh nghiệp mới thành lập từ dự án đầu tư hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất sẽ không được hưởng ưu đãi về thuế Thu nhập doanh nghiệp như các giai đoạn trước đây. Ngoài ra Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 đã không còn đề cập đến những ưu đãi cho doanh nghiệp mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, sản xuất sạch hơn và tại Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài Chính đã bãi bỏ các ưu đãi trước đó từ năm 2009. Hơn nữa, Nghị định 124 cũng nêu “Cơ sở kinh doanh đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư trước ngày Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO (11/1/2007) mà có thu nhập từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa (trừ xuất khẩu hàng dệt may) và đang trong thời gian được hưởng ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp thì được tiếp tục hưởng ưu đãi thuế theo quy định đến hết năm 2011”, như vậy từ năm 2012, những doanh nghiệp thuộc đối tượng này sẽ không được hưởng những ưu đãi liên quan đến tỷ lệ xuất khẩu nữa. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo quy định của pháp luật Malaysia, mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp bình quân là 25%, khi áp dụng cho doanh nghiệp công nghệ cao, trong thời gian 5 năm đầu kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ phải nộp 30% thuế Thu nhập doanh nghiệp, 70% thuế Thu nhập doanh nghiệp còn lại được miễn. Ngoài ra, các doanh nghiệp công nghệ cao khi có sản phẩm có chất lượng đạt trình độ thế giới (do Bộ Khoa học Công nghệ Malaysia cấp chứng nhận) thì được miễn 100% thuế Thu nhập doanh nghiệp trong 5-10 năm. Bên cạnh đó, Malaysia cũng đưa ra các quy định cho doanh nghiệp công nghệ cao và những quy định ưu đãi để tiếp tục được miễn giảm thuế Thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp.
Theo quy định của Luật thuế doanh nghiệp Singapore, thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp bình quân 17% và được miễn khoản thu nhập ban đầu trị giá 300.000 đô Singapore trong những năm đầu thành lập.
Còn theo quy định pháp luật Trung Quốc, chính sách thuế được áp dụng khá linh hoạt với mức 15% cho doanh nghiệp công nghệ cao, 20% cho doanh nghiệp nhỏ và 25% cho doanh nghiệp còn lại.
- Bảng 2.2: So sánh thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo số liệu thống kê, mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp 25% đang áp dụng chung ở Việt Nam đứng thứ 7/12 nước trong bảng so sánh, đây là mức thuế suất tương đối cao với các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực ASEAN và Châu á như Trung Quốc (đại lục), Trung Quốc (Đài Loan), Hàn Quốc… Thực tế này chỉ ra một điều nếu không có các chính sách tài chính linh hoạt và phù hợp thì khả năng thu hút đầu tư trong thời gian tới sẽ gặp nhiều khó khăn.
Như vậy có thể nói mức ưu đãi về đầu tư đối với doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Việt Nam tương đối cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Đồng thời cơ chế chính sách của Việt Nam chưa minh bạch và mang tính ổn định cao, từ năm 2005 đến nay, Việt Nam đã 4 lần thay đổi mức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thể hiện bằng việc thay thế các Nghị định từ Nghị định 164/2005/NĐ-CP đến Nghị định 124/2007/NĐ-CP, Nghị định 24/2007/NĐ-CP và đến nay là Nghị định 87/2010/NĐ-CP, mặt khác các điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực… đã tác động làm cho các nhà đầu tư nước ngoài chưa yên tâm bỏ vốn, công nghệ vào Việt Nam, chưa xác định làm ăn lâu dài tại Việt Nam. Chính vì vậy, chúng ta phải học hỏi Trung Quốc, Hàn Quốc trong vấn đề xây dựng cơ chế chính sách, phải có tầm nhìn dài, ổn định lường trước được những tình huống pháp lý có thể xảy ra trong tương lai đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, củng cố đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…
2.2.4. Quy chế đặc thù về cư trú, đi lại và trao đổi hàng hóa Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Cư trú, đi lại trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất
Với vai trò quan trọng của Khu công nghiệp, Khu chế xuất và quy định khu vực riêng, chuyên biệt phục vụ sản xuất hàng công nghiệp nên Nhà nước Việt Nam cũng có các quy định tương đối khắt khe trong vấn đề cư trú, đi lại trong khu vực này. Các quy định pháp luật về Khu công nghiệp, Khu chế xuất từ trước đến nay luôn thống nhất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có hàng rào riêng, không có dân cư sinh sống. Chỉ những nhà đầu tư, người làm việc trong Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất và những người có quan hệ công tác với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất được ra vào Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất. Các đối tượng nêu trên không được lưu trú trong Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất trừ trường hợp được sự cho phép của Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, chuyên gia nước ngoài được phép tạm trú tại doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất theo quy định của ủy ban nhân dân cấp Tỉnh. Việc tạm trú của chuyên gia nước ngoài phải đáp ứng điều kiện sau:
- Để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
- Không kèm theo gia đình và người thân;
Đồng thời, doanh nghiệp phải tuân thủ thực hiện các thủ tục đăng ký và khai báo tạm trú theo quy định hiện hành về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
Doanh nghiệp phải tổ chức nơi ở riêng biệt và phải cam kết việc tạm trú của chuyên gia nước ngoài đảm bảo an ninh, trật tự và không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh bình thương của Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Để đảm bảo điều kiện ăn ở cho nhà đầu tư và người lao động, Chính phủ cũng đẩy mạnh đầu tư các khu đô thị mới liền kề các Khu công nghiệp, Khu chế xuất và khuyến khích doanh nghiệp tự đầu tư khu nhà ở cho công nhân. Việc tự đầu tư nhà ở cho công nhân được hưởng nhiều ưu đãi và đang thuộc diện đặc biệt ưu đãi đầu tư. Hiện nay, chính sách phát triển và việc quản lý loại nhà ở này được thực hiện theo Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 20/4/2009 của Chính phủ, Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 10/2009/TT-BXD ngày 15/6/2009, Thông tư số 13/2009/TT-BXD ngày 30/6/2009 của Bộ Xây dựng. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo pháp luật Trung Quốc, người Trung Quốc ra vào đặc khu phải có giấy phép riêng. Người lao động được tuyển vào đặc khu phải đăng ký tại cơ quan quản lý lao động để nhận thẻ lao động và giấy phép ra vào đặc khu. Người nước ngoài tới đặc khu phải xin visa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp và tại một số đặc khu như Chu Hải, Thâm Quyến, Hạ Môn, việc xin cấp visa có thể được cấp trực tiếp mà không phải thông qua cơ quan đại diện ngoại giao của Trung Quốc tại nước ngoài. Mặc dù vậy, người nước ngoài đã nhập cảnh vào các địa phương khác của Trung Quốc thì không phải xin visa khi vào các đặc khu nữa. Như vậy, có thể nhận thất trong tương quan so sánh với pháp luật Trung Quốc công tác quản lý cư trú, đi lại trong đặc Khu kinh tế chặt chẽ hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam.
- Trao đổi hàng hóa trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất
Theo pháp luật Việt Nam, trao đổi hàng hóa trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có sự khác nhau rất rõ rệt. Nhìn chung, vấn đề trao đổi hàng hóa của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp không có sự khác biệt lớn so với các doanh nghiệp bên ngoài. Hàng hóa được sản xuất trong Khu công nghiệp vừa có thể xuất khẩu, vừa có thể tiêu thụ tại thị trường nội địa mà không phải nộp thuế xuất khẩu.
Ngược lại, Khu chế xuất là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp xuất khẩu 100% sản phẩm, đặc thù của Khu chế xuất là khu phi thuế quan do đó hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu của doanh nghiệp đặt trong Khu chế xuất (bao gồm nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng hóa) không phải là đối tượng chịu thuế. Mặt khác, Khu chế xuất lại có hàng rào riêng và có cơ quan hải quan tại chỗ nên mọi hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu đều có sự giám sát chặt chẽ của cơ quan hải quan, không giống như các doanh nghiệp Khu công nghiệp hay doanh nghiệp gia công xuất khẩu nằm ngoài hàng rào. Với vai trò và ý nghĩa đặc biệt của mình có quy chế đặc thù riêng trong vấn đề trao đổi hàng hóa:
- Trao đổi hàng hóa giữa doanh nghiệp trong Khu chế xuất với thị trường nước ngoài:
Mục đích của nhà nước ta khi thành lập các Khu chế xuất là nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu trong nước phát triển theo định hướng ngành nghề, lĩnh vực. Chính vì vậy mà quan hệ xuất nhập khẩu trong Khu chế xuất cũng có nhiều điểm đặc thù. Đa phần hàng hóa sản xuất trong Khu chế xuất phải xuất khẩu 100%. Trong trường hợp này, doanh nghiệp chế xuất sẽ không thuộc đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Có thể nói đây là một lợi thế cho các doanh nghiệp có nhu cầu chỉ sản xuất hàng xuất khẩu. Doanh nghiệp có thể giảm thiểu được rất nhiều chi phí và thu nhập thông qua việc được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Trao đổi hàng hóa giữa doanh nghiệp chế xuất và thị trường nội địa:
Thông thường, hàng hóa được sản xuất trong Khu chế xuất phải xuất khẩu 100%. Nếu muốn tiêu thụ tại thị trường nội địa thì doanh nghiệp phải làm các thủ tục hải quan, đóng thuế như các hàng hóa xuất nhập khẩu cùng loại khác. Điều này được thể hiện rõ tại Khoản 5 Điều 21 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP. Theo đó, quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất với các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khu phi thuế quan, là quan hệ xuất, nhập khẩu. Vì vậy, hàng hóa đưa từ thị trường trong nước vào Khu chế xuất phải chịu thuế xuất khẩu và ngược lại từ Khu chế xuất vào nội địa phải nộp thuế nhập khẩu và phải khai báo làm thủ tục hải quan.
Về thủ tục, trong trường hợp này, doanh nghiệp nội địa phải mở tờ khai nhập khẩu. Doanh nghiệp chế xuất không phải mở tờ khai xuất khẩu mà dựa vào bản sao tờ khai nhập khẩu của doanh nghiệp nội địa mở (có xác nhận của doanh nghiệp nội địa) để làm báo cáo thanh khoản.
Mới đây, theo Nghị định số 87/2010/NĐ-CP để kích thích việc xuất khẩu hàng trong khu chế xuất vào thị trường nội địa, Chính phủ mới quyết định miễn thuế nhập khẩu cho hàng hóa sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp tại khu chế xuất không sử dụng nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài. Trong trường hợp có sử dụng nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu thì hàng hóa nêu trên cũng chỉ phải nộp thuế nhập khẩu trên phần nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu cấu thành trong hàng hóa đó.
Ngoài việc bán hàng hóa tự sản xuất vào nội địa, doanh nghiệp chế xuất được phép bán phế liệu, phế phẩm còn giá trị thương mại thuộc loại được phép bán vào thị trường nội địa thu được trong quá trình sản xuất.
Ngoài ra, các tài sản thanh lý của doanh nghiệp chế xuất cũng được phép xuất khẩu vào nội địa nếu thuộc các trường hợp không bị cấm và hạn chế. Tuy nhiên, trong vấn đề này nảy sinh khá nhiều bất cập liên quan đến thời hạn sử dụng của thiết bị. Theo quy định chung, Việt Nam không cho phép nhập khẩu ô tô có thời hạn đã qua sử dụng quá 5 năm và một số thiết bị công nghệ thông tin đã qua sử dụng. Do đó, khi quyết định thay đổi công nghệ, đầu tư mở rộng về công nghệ hoặc đơn giản là không còn nhu cầu sử dụng, doanh nghiệp chế xuất không được phép bán vào nội địa các sản phẩm vẫn còn giá trị thương mại và giá trị sử dụng tốt mà phải tiến hành tiêu hủy. Đây là một bất cập gây lãng phí cho nền kinh tế và thiệt thòi về vật chất cho doanh nghiệp chế xuất. Theo tôi, Việt Nam nên thành lập một cơ quan chuyên môn thẩm định chất lượng sản phẩm đối với lĩnh vực này, nếu các sản phẩm, thiết bị, dụng cụ còn giá trị sử dụng, giá trị thương mại thì dán tem quy định thời hạn sử dụng, chuyển qua cơ quan tái chế phục vụ mục đích từ thiện hoặc cộng đồng. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh hoạt động bán hàng vào nội địa, doanh nghiệp chế xuất thường xuyên mua hàng hóa, nguyên liệu, vật tư, năng lượng và các dịch vụ khác từ thị trường nội địa. Đối với những hàng hóa này, doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp chế xuất thực hiện theo thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.
Tuy nhiên, đối với việc mua văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam để phục vụ cho điều hành bộ máy văn phòng và sinh hoạt của cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp, doanh nghiệp chế xuất được lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu và hải quan đối với những loại hàng hóa này. Trường hợp không thực hiện thủ tục hải quan thì doanh nghiệp phải được Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất phê duyệt danh mục hàng hóa mua sắm.
- Trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp chế xuất với nhau:
Đối với hàng hóa gia công giữa hai doanh nghiệp chế xuất, chỉ doanh nghiệp nhận gia công có trách nhiệm thực hiện đăng ký hợp đồng gia công và làm thủ tục hải quan tại Chi cục Hải quan quản lý doanh nghiệp chế xuất nhận gia công.
Tuy nhiên, đối với giao dịch thương mại giữa các doanh nghiệp trong cùng một Khu chế xuất thì các doanh nghiệp sẽ không phải mở tờ khai hải quan mà chỉ nộp giấy phép và hợp đồng nếu được sự cho phép của Ban quản lý Khu chế xuất.
Đây được coi là một quy định mang tính thông thoáng tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp. Được biết, trước đây, việc mua bán hàng hóa trong cùng một Khu chế xuất hoặc giữa doanh nghiệp chế xuất với doanh nghiệp trong cùng một Khu chế xuất phải được phép của Ban quản lý các Khu công nghiệp cấp tỉnh và sự giám sát của cơ quan hải quan nên đã gây nên nhiều ách tắc.
Về vấn đề này, pháp luật Trung Quốc có phần chặt chẽ hơn khi yêu cầu tất cả các hàng hóa ra vào đặc khu kinh tế, Khu chế xuất đều phải chịu sự quản lý giám sát của hải quan. Người mang hàng hóa bắt buộc phải khai báo hải quan, phải có giấy phép nhập khẩu vào đặc khu, Khu chế xuất. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
2.2.5. Sử dụng và quản lý lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất
Hiện nay, tại Việt Nam, việc thu hút nhân công làm việc trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất là vấn đề nan giải của Việt Nam. Hàng năm, nước ta có thêm từ 1,3 đến 1,5 triệu người lao động cần việc làm. Tuy nhiên, do làm việc trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất tập trung không mấy hấp dẫn nên nhu cầu lao động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất vẫn rất khó đáp ứng đủ dù Việt Nam có tỷ lệ thất nghiệp khá cao.
Xét ở khía cạnh tích cực, việc phát triển các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã góp phần không nhỏ vào việc giải quyết việc làm cho người lao động. Người lao động làm việc trong các khu vực này, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có điều kiện tiếp cận với công nghệ sản xuất hiện đại, phương thức quản trị kinh doanh tiên tiến, cách thức làm việc chuyên nghiệp. Tuy nhiên, ở khía cạnh tiêu cực, người lao động Việt Nam vẫn chưa quen với tác phong làm việc công nghiệp và có xu hướng thích công việc nông nhàn hoặc kinh doanh nhỏ lẻ hơn làm việc trong các khu công nghiệp tập trung bởi vì nhìn chung các quyền lợi và chế độ tiền lương của người lao động trong các khu vực này vẫn bị đánh giá là chưa thỏa đáng. Ngoài ra, yêu cầu của doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất thường là lao động qua đào tạo, có trình độ kỹ năng nghề nhất định trong khi phần lớn lao động phổ thông Việt Nam chỉ tốt nghiệp cấp 3, trong tay không có chứng chỉ nghề nào. Vừa qua tại Hội nghị tổng kết 9 tháng đầu năm 2010 của Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ LĐTBXH tổ chức tại Hải Phòng đã quyết tâm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề giai đoạn 2010-2015 đạt 40-50%. Đồng thời tập trung đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cho các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế trọng điểm. Đây là một tín hiệu đáng mừng bởi vì, thực tế nhu cầu tuyển dụng lao động của Khu công nghiệp, Khu chế xuất, KKT rất lớn nhưng số lượng, chất lượng lao động phổ thông Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng mới dừng lại ở con số khiêm tốn. Doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng đặc biệt là doanh nghiệp FDI mất rất nhiều thời gian, kinh phí để đào tạo và đào tạo lại.
Pháp luật Việt Nam, hiện không có cơ chế đặc thù để quản lý lao động trong các khu vực này. Việc quản lý lao động nhìn chung vẫn được thực hiện thống nhất theo Bộ luật Lao động 1994 đã được sửa đổi bổ sung qua các năm 2002, 2006 và 2007 và các văn bản hướng dẫn thi hành về các vấn đề như: chế độ tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, vệ sinh an toàn lao động, giải quyết tranh chấp lao động… Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất phải thực hiện đăng ký Nội quy lao động, Thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động… với Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Ở đây, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của địa phương, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất được ủy quyền thực hiện hầu hết các nhiệm vụ của Sở Lao động, thương binh và xã hội đối với khu vực này. Điều này tạo thuận lợi hơn trong công tác quản lý lao động tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất cũng như hoạt động của các doanh nghiệp trong khu vực này thông qua cơ chế một cửa.
Với đặc thù của Khu công nghiệp, Khu chế xuất là khu vực thường xa khu dân cư và doanh nghiệp thường đưa đón người lao động bằng xe ô tô nên nhiều quy định về thời giờ làm việc, chế độ đối với lao động đặc thù của Bộ luật Lao động có nhiều khó khăn khi áp dụng và gây ảnh hưởng đến quyền lợi thiết thực của người lao động. Do đó, trên thực tế, doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất buộc phải khai thác thêm nguồn hướng dẫn pháp luật lao động là công văn của Bộ Lao động, thương binh và xã hội. Giá trị pháp lý của nguồn này không cao và việc khai thác và áp dụng cũng không dễ dàng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê số lượng văn bản quy phạm pháp luật dưới luật trong lĩnh vực lao động là nhiều nhất bởi có nhiều quy định chưa cụ thể, rõ ràng vì vậy các doanh nghiệp trong quá trình áp dụng còn vướng mắc cần cơ quan có thẩm quyền giải thích, hướng dẫn. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong lĩnh vực lao động, vấn đề quan trọng bậc nhất để thu hút người lao động là chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ nói chung. Tuy nhiên, theo đánh giá hiện nay mức lương tối thiểu vùng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa thỏa đáng và không tạo được sức hút đối với người lao động. Hiện tại, theo Nghị định số 98/2009/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên ở mức cao nhất là 1.340.000 đồng/tháng áp dụng đối với khu vực I (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh) và thấp nhất là 1.000.000 đồng/tháng đối với khu vực IV (các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa). Mặc dù vừa mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010 thay thế Nghị định số 98/2009/NĐ-CP nâng mức lương tối thiểu vùng. Văn bản trên có hiệu lực từ 01/5/2011 và quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao nhất là 1.550.000 đồng/tháng đối với khu vực I và thấp nhất là 1.100.000 đồng/tháng đối với khu vực IV. Đây là mức tối thiểu đối với lao động giản đơn chưa qua đào tạo. Đối với những người đã qua học nghề, mức lương tối thiểu vùng thực tế phải tăng thêm 7% so với các mức nêu trên.
Theo đánh giá của một số chuyên gia và nguyện vọng chung của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người lao động khu vực này, tại một số Khu công nghiệp thuộc thành phố Hồ Chí minh và Long An, mức lương trên dường như vẫn chưa thỏa đáng. Trên thực tế, tại các Khu công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh, để giữ chân người lao động, mức lương trung bình doanh nghiệp phải trả đã lên tới trên 2 triệu đồng/tháng so với mức 1,34 triệu theo quy định chung. Lý do để các doanh nghiệp không đồng tình với mức lương tối thiểu thấp xuất phát từ thực tế là hiện nay các công ty mẹ không chấp nhận trả lương cho công nhân ở Việt Nam cao trong khi mức lương tối thiểu được quy định theo quy định của pháp luật Việt Nam quá thấp. Điều này gây trở ngại cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc tuyển dụng lao động vì mức lương không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Ngoài ra, vấn đề này còn ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm vì doanh nghiệp không thể thương lượng được với khách hàng để bán hàng với mức giá cao, do khách hàng dựa vào mức lương quy định chung của nhà nước để tính ra đơn giá. Dưới đây là bảng so sánh về mức lương tối thiểu vùng đã được điều chỉnh sẽ áp dụng vào năm 2011.
- Bảng 2.3: So sánh về mức lương tối thiểu vùng đã được điều chỉnh áp dụng năm 2011
Liên quan đến vấn đề này, tại các đặc khu của Trung Quốc, chế độ tuyển dụng lao động không được quản lý chặt chẽ và dường như quyền lợi của người lao động làm việc tại đây còn không được đảm bảo bằng quy định của Việt Nam. Với chính sách mở, tại các khu vực này, Trung Quốc cho phép doanh nghiệp được thuê nhân viên theo các tiêu chuẩn của công ty và sa thải khi không đạt yêu cầu. Hầu hết, công nhân có trình độ tay nghề trung bình đều được thuê theo hợp đồng ngắn hạn từ 2 – 3 năm. Tuy nhiên, ở khía cạnh tích cực, người lao động được tự do chuyển doanh nghiệp khi kết thúc hợp đồng hoặc trong thời hạn hợp đồng nếu được chấp thuận của doanh nghiệp đang sử dụng. Luật pháp Trung Quốc đề cao tính tự chủ cá nhân, tôn trọng sự thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động, chỉ khi thỏa thuận này trái quy định pháp luật, người lao động bị ép, không thỏa đáng thì cơ quan có thẩm quyền sẽ can thiệp.
Pháp luật Nhật Bản, Luật Lao động Nhật Bản quy định rất rõ mức lương tối thiểu cho từng vùng, miền, từng lĩnh vực, ngành nghề, mức lương này khá cao được điều chỉnh kịp thời đảm bảo người lao động có tích lũy và tái tạo sức lao động. Ví dụ, người lao động phổ thông làm việc tại Khu công nghiệp Yamako, thành phố ChiBa mức lương trung bình là 1.250 JPY, mức lương này chưa kể thưởng đã đảm bản cho người lao động có khả năng sống ở mức trung bình và có thể nuôi thêm được 01 người con.
Như vậy, mặc dù nhà nước ta thời gian qua đã có nhiều chính sách nhằm cải thiện đời sống cho người lao động, tuy nhiên thực tế do trượt giá, sự leo thang giá cả hàng hóa tiêu dùng đã làm cho mức lượng của người lao động chưa thực sự thỏa đáng, người lao động đi làm chưa đủ tích lũy và tái tạo lại sức lao động trên bình diện vật chất và tinh thần.
2.2.6. Điều kiện về môi trường trong khu công nghiệp, khu chế xuất Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất thường thải ra một lượng lớn chất thải công nghiệp, chất thải rắn, lỏng kể cả các hóa chất độc hại… Chính vì vậy, vấn đề môi trường luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu khi triển khai xây dựng các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Nếu Khu công nghiệp, Khu chế xuất không đáp ứng được các tiêu chuẩn chung về hệ thống xử lý chất thải sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là ảnh hưởng đến chất lượng sinh hoạt của khu dân cư gần đó về nguồn nước, không khí, tiếng ồn, khói, bụi. Hiện nay, Nhà nước ta rất khuyến khích phát triển các KCN có chung hệ thống kết cấu bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng cũng như các doanh nghiệp sản xuất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có trách nhiệm xây dựng mạng lưới thu gom, thoát nước, trạm xử lý nước thải đồng bộ trước khi đi vào hoạt động. Hiện nay chúng ta đã thành lập cơ quan cảnh sát môi trường thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi Trường và qua thực tiễn hoạt động có chứng minh được hiệu quả của mình, cơ quan này đã phanh phui nhiều các sai phạm về môi trường của các doanh nghiệp như trường hợp: Công ty Vedan xả thải ra sông Thụy Vải, vừa qua là một loạt Công ty ở Phú Thọ, Lào Cai cũng bị xử phạt về vi phạm môi trường.
Tại Việt Nam, theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường và Phụ lục 1 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Báo cáo này phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án. Doanh nghiệp có thể tự mình hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh và chịu trách nhiệm về các số liệu, kết quả nêu trong báo cáo. Không những vậy, trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng còn được ghi nhận cụ thể trong mỗi giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thi công và hoạt động và đối với từng yếu tố ảnh hưởng môi trường như chất thải rắn, nước thải, khí thải, tiếng ồn… quy định cụ thể tại Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT.
Theo Điều 13 Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT, điều kiện để các dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đầu tư vào Khu công nghiệp được đưa vào hoạt động bao gồm: Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đã hoàn thành việc bố trí địa điểm tạm lưu giữ và trung chuyển chất thải rắn và xác định rõ cơ sở tiếp nhận, xử lý chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại.
- Đầu ra nước thải của dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã đấu nối trực tiếp vào nhà máy xử lý nước thải tập trung.
Dự án sản xuất đã lắp đặt đầy đủ và đã kiểm tra chạy thử các thiết bị xử lý nước thải, xử lý khí thải, xử lý tiếng ồn và áp dụng biện pháp bảo vệ môi trường khác như đã cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về cảnh quan môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và người lao động; có hệ thống quan trắc môi trường; có bộ phận chuyên môn đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường; có biện pháp giảm thiểu và xử lý bụi, khí thải đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường; bảo đảm không để rò rỉ, phát tán khí thải, hơi, khí độc hại ra môi trường; hạn chế tiếng ồn, phát sáng, phát nhiệt gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao động; bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, đặc biệt là đối với cơ sở sản xuất có sử dụng hóa chất, chất phóng xạ, chất dễ gây cháy, nổ, người lao động làm việc phải được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động theo quy định đối với từng ngành nghề, lĩnh vực.
Thực tế hiện nay, cả nước có 257 Khu công nghiệp, Khu chế xuất với khoảng 167 Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, trong đó có 102 Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên, số lượng các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đảm bảo yêu cầu về xử lý chất thải rắn, tiếng ồn, hóa chất, xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung nhằm bảo vệ môi trường đạt tỷ lệ rất thấp. Việc thu gom và vận chuyển rác thải chỉ thực hiện trong phạm vi nhà máy và việc xử lý chủ yếu bằng các lò đốt đơn giản nên rác thải khi ra khỏi nhà máy chưa đạt yêu cầu, trong đó có cả rác thải nguy hại. Nhiều doanh nghiệp như doanh nghiệp cơ khí, luyện kim, công nghiệp hóa chất, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến khoáng sản trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nồng độ bụi và khí độc hại trong không khí xung quanh vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2 – 5 lần [11]. Điều này cho thấy lượng nước thải và khí thải từ các Khu công nghiệp, Khu chế xuất thải ra môi trường chưa qua xử lý với một khối lượng rất lớn, không chỉ làm ô nhiễm mạch nước ngầm, nước sinh hoạt mà còn gây ô nhiễm đến môi trường sống xung quanh.
Trong khi đó, trong một thời gian dài, mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực này còn quá nhẹ, không mang tính răn đe đáng kể đối với doanh nghiệp. Chình vì vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 tăng mức phạt tối đa sẽ lên đến 500.000.000 triệu đồng gấp hơn 7 lần so với quy định cũ. Thực tiến đã chứng minh, vấn đề phát triển công nghiệp nóng đồng nghĩa với vấn đề môi trường bị hủy hoại. Do đó thời gian qua, đồng thời với việc xây dựng cơ chế chính sách, Nhà nước cũng củng cố bộ máy cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm về môi trường nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đây có thể coi là hướng đi đúng đắn.
2.2.7. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp FDI về tài chính, ngoại hối
- Chế độ tài chính Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhìn chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất vẫn áp dụng những quy định quản lý tài chính chung đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được ghi nhận trong pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về thuế, pháp luật về kế toán… Cụ thể, tùy theo lĩnh vực và loại hình hoạt động, các doanh nghiệp sẽ phải đáp ứng các yêu cầu về vốn pháp định, thời hạn góp vốn, tỷ lệ vốn góp trong tổng vốn đầu tư của dự án… theo Luật doanh nghiệp và pháp luật chuyên ngành.
Trong lĩnh vực kế toán, doanh nghiệp phải tuân thủ Luật Kế toán, Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ hướng dẫn Luật Kế toán áp dụng trong hoạt động kinh doanh, Thông tư số 122/2004/TT-BTC ngày 22/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán, kiểm toán đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Chế độ kế toán doanh nghiệp và các chuẩn mực kế toán… Ngoài ra, đối với hoạt động trích lập các quỹ dự phòng, doanh nghiệp phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 của Bộ Tài chính. Doanh nghiệp được quản lý và trích khấu hao tài sản cố định theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009. Hàng năm, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất cũng phải nộp báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Việc xác định chi phí hợp lý, thời gian chuyển lỗ sẽ được thực hiện theo Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp. Thời gian cho phép chuyển lỗ của Việt Nam là 5 năm tiếp theo năm phát sinh lỗ.
Liên quan đến vấn đề này, theo Luật Khuyến khích và bảo hộ đầu tư của Lào kém thuận lợi hơn. Quốc gia này chỉ cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển lỗ trong 3 năm đầu khi có xác nhận của cơ quan thuế.
Về hóa đơn, chứng từ, tại Việt Nam, doanh nghiệp cũng được quản lý và sử dụng hóa đơn mua sẵn hoặc tự in theo Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 và các Thông tư hướng dẫn số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002, số 99/2003/TT-BTC ngày 23/10/2003, số 16/2010/TT-BTC ngày 01/2/2010 của Bộ Tài chính, Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT-BTC-BTM-BTCA ngày 28/02/2007 hướng dẫn chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên đường và các hướng dẫn về hóa đơn giá trị gia tăng trong Luật Thuế Giá trị gia tăng và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, doanh nghiệp chế xuất sử dụng hóa đơn bán hàng hoặc hóa đơn tự in. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Từ năm 2011, doanh nghiệp phải thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ và Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Theo quy định mới, doanh nghiệp chế xuất sẽ sử dụng mẫu hóa đơn bán hàng riêng ghi rõ “Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan). Hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài hoặc xuất hàng vào khu chế xuất cũng được sử dụng hóa đơn xuất khẩu theo mẫu riêng. Giống như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất cũng được phép tự in hóa đơn, sử dụng hóa đơn điện tử khi đáp ứng các điều kiện liên quan.
Về nghĩa vụ thuế, phí và lệ phí của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư trong Khu công nghiệp về cơ bản tương tự như doanh nghiệp nội địa. Về thủ tục, doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất thực hiện theo Luật Quản lý Thuế và các luật thuế chuyên ngành. Riêng doanh nghiệp chế xuất không phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ mua bán với nước ngoài và giữa doanh nghiệp chế xuất. Bên cạnh đó, hầu hết hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp nội địa bán cho doanh nghiệp chế xuất sẽ được áp dụng thuế GTGT 0% trừ một số trường hợp như:
- Xăng, dầu bán cho xe ôtô của doanh nghiệp trong Khu chế xuất mua tại nội địa;
- Xe ôtô bán cho tổ chức, cá nhân trong Khu chế xuất.
Các dịch vụ do cơ sở kinh doanh nội địa cung cấp cho doanh nghiệp, cá nhân ở trong khu phi thuế quan nhưng địa điểm cung cấp và tiêu dùng dịch vụ ở ngoài Khu chế xuất như: cho thuê nhà, hội trường, văn phòng, khách sạn, kho bãi; dịch vụ vận chuyển, đưa đón người lao động.
- Chế độ ngoại hối Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Quy định bắt buộc đối với các doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp trong đó có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là phải mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản đồng tại Ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam bao gồm cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam. Trong trường hợp đặc biệt, đối với dự án có nhu cầu cần thiết, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở tài khoản ở nước ngoài sau khi được Ngân hàng nhà nước Việt Nam chấp thuận. Theo đó, các doanh nghiệp này có trách nhiệm báo cáo cho Ngân hàng nhà nước Việt Nam về tình hình sử dụng tài khoản tại nước ngoài. Việc mở, sử dụng và đóng tài khoản được thực hiện theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Việc quy định mở tài khoản đối với các doanh nghiệp một mặt tạo điều kiện để các doanh nghiệp thuận lợi trong các giao dịch kinh doanh, mặt khác, giúp nhà nước nắm được tình hình tài chính và thực hiện tài chính của các doanh nghiệp này.
Để tạo tâm lý yên tâm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi đầu tư và Việt Nam, Chính phủ cũng đã có quy định về đảm bảo ngoại tệ của Nhà nước Việt Nam cho các doanh nghiệp: “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bên hợp danh nước ngoài được mua ngoại tệ ngân hàng thương mại được phép kinh doanh ngoại tệ để đáp ứng cho các giao dịch vãng lai và các giao dịch được phép khác theo quy định pháp luật về quản lý ngoại hối”; “Chính phủ Việt Nam bảo đảm hỗ trợ cân bằng ngoại tệ cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên hợp danh trong các trường hợp các ngân hàng thương mại không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ”. Có thể nói, sự đảm bảo của Nhà nước về ngoại tệ cho hoạt động của các dự án là hết sức cần thiết đối với nhà đầu tư nước ngoài. Đây được coi là một trong những cơ sở để hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài vào các Khu công nghiệp.
Cùng với đảm bảo ngoại tệ, những quy định về chuyển các khoản thu nhập hợp pháp ra nước ngoài của nhà đầu tư nước ngoài thực sự là những quy định thông thoáng và cần thiết đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư 2005 quy định rõ: Các nhà đầu tư nước ngoài, sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về thuế theo quy định của pháp luật hiện hành được chuyển ra nước ngoài những khoản sau:
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh, các khoản được chia;
- Tiền thu nhập do cung ứng dịch vụ và chuyển giao công nghệ;
- Tiền gốc và lãi của các khoản vay nước ngoài;
- Vốn đầu tư;
- Các khoản tiền, tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.
Khi chấm dứt hoạt động và giải thể doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài tài sản thuộc sở hữu hợp pháp. Trong trường hợp số tiền chuyển ra nước ngoài cao hơn vốn ban đầu và vốn tái đầu tư thì số tiền chênh lệch đó chỉ được chuyển ra nước ngoài sau khi được cơ quan cấp giấy phép chuẩn y.
Về tỷ giá chuyển đổi ngoại tệ sang tiền Việt Nam và tiền Việt Nam sang ngoại tệ trong quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam tại thời điểm chuyển đổi. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhìn chung, các quy định về chế độ ngoại hối của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp tương đối rõ ràng phù hợp với luật pháp quốc tế. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút nhiều nhà đầu tư vào các Khu công nghiệp của Việt Nam hơn nữa.
Tuy nhiên, so với một số quốc gia trong khu vực, chính sách tài chính và ngoại hối của Việt Nam vẫn chưa được coi là hấp dẫn. Hiện nay, Trung Quốc đã cho phép công ty nước ngoài vay vốn từ các tổ chức tài chính bên trong và bên ngoài Trung Quốc. Họ cũng được phép giữ lại lợi nhuận bằng ngoại tệ.
Theo quy định của Braxin, Nhà nước đảm bảo ổn định môi trường pháp lý ưu đãi về đầu tư, chuyển đổi hối đoái, thuế quan, quản lý hành chính cho Khu chế xuất trong thời hạn 20 năm, sau đó được gia hạn tiếp thời hạn tương tự. Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu được phép quản lý, sử dụng giữ lại ở ngân hàng nước ngoài số ngoại tệ thu đươc qua xuất khẩu hàng hoá.
2.2.8. Quyền và nghĩa vụ khác của doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất
Ngoài những quyền và nghĩa vụ nêu trên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất còn có những quyền và nghĩa vụ khác cũng rất quan trọng.
- Quyền và nghĩa vụ trong hoạt động chuyển giao công nghệ
Chính phủ khuyến khích việc chuyển giao vào Việt Nam công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn và các công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, nâng cao năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, tài nguyên thiên nhiên; khuyến khích hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ quản lý và sử dụng công nghệ. Đồng thời, nhà nước ta cũng tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chuyển giao công nghệ, bao gồm cả việc góp vốn bằng công nghệ để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật về chuyển giao công nghệ.
Giá trị của công nghệ được dùng để góp vốn hoặc giá trị của công nghệ chuyển giao do các bên thỏa thuận và được quy định trong hợp đồng chuyển giao công nghệ. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo Khoản 7 Điều 44 Luật Chuyển giao công nghệ 2006 thì doanh nghiệp nước ngoài bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất thực hiện chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên vào vùng nông thôn, miền núi, địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn được giảm 50% thuế thu nhập đối với thu nhập từ việc chuyển giao công nghệ.
- Quyền thành lập Kho bảo thuế trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất
Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất được lập Kho bảo thuế để phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu. Theo đó, hàng hóa đưa vào kho bảo thuế thuộc diện chưa phải nộp thuế nhập khẩu và không được bán tại thị trường Việt Nam. Trường hợp hàng hóa đó không thuộc diện cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, nếu bán tại thị trường Việt Nam thì nhà đầu tư phải làm thủ tục nhập khẩu tại cơ quan hải quan, nộp thuế nhập khẩu và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Hàng hóa đưa vào kho bảo thuế nếu bị hư hỏng, giảm phẩm chất không đáp ứng yêu cầu sản xuất thì doanh nghiệp có nghĩa vụ phải tái xuất khẩu hoặc tiêu hủy. Việc tiêu hủy phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về hải quan, pháp luật về thuế và pháp luật về môi trường. Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
