Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn thành phố Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
Nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta đòi hỏi phải tiếp tục cải cách, đổi mới mạnh mẽ bộ máy nhà nước, trong đó có chính quyền địa phương. Trong những năm qua, Đảng ta xây dựng và ban hành Nghị quyết quan trọng trong lĩnh vực cải cách bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn cải cách bộ máy nhà nước cho thấy hệ thống chính quyền địa phương chưa được quan tâm cải cách đúng mức đặc biệt là cấp chính quyền cơ sở. Một số giải pháp đổi mới về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương không thật sự tạo ra những đổi mới có tính đột phá, có rất nhiều vấn đề đang đặt ra cần phải đi sâu nghiên cứu và tìm giải pháp khắc phục. Chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. Chính quyền địa phương ở Việt Nam gồm 3 cấp đó là: tỉnh, huyện và xã. Trong đó, cấp xã có ảnh hưởng lớn tới tính hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có ý nghĩa vô cùng to lớn với việc củng cố sự phát triển bền vững của xã hội, đảm bảo dân chủ và nâng cao đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Chính vì vậy, chính quyền cấp xã mà trung tâm là Ủy ban nhân dân cấp xã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã đã có những mặt tiến bộ rõ nét, có sự chuyển biến rõ rệt, nhất là sự chuyển biến cả về tổ chức và hoạt động về nhận thức, tư duy, phong cách lãnh đạo quản lý không còn thụ động hành chính như trước. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã còn chưa được chuyên sâu, thiếu ổn định về nhân sự; tình trạng lãng phí, hình thức trong hoạt động quản lý vẫn phổ biến. Bên cạnh đó, trình độ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn nhiều hạn chế, luôn rơi vào trạng thái lúng túng, ngỡ ngàng trước sự thay đổi và xu thế phát triển chung của thời đại, dẫn đến hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Khẳng định tầm quan trọng của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong hệ thống chính trị ở nước ta. Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX đã đề ra phương hướng “đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở xã, thị trấn”. Nghị quyết chỉ đạo: “Cần nâng cao hiệu lực của cơ quan hành chính theo hướng đề cao trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan hành chính cấp xã”. Gần đây, tại hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X đã ban hành Nghị quyết số 17- NQ/TW ngày 01/08/2007 về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước trong đó có Ủy ban nhân dân cấp xã. Hiến pháp năm 2013 ra đời tiếp tục khẳng định: “ Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định”, tiếp theo đó ngày 19 tháng 6 năm 2015 tại kỳ họp thứ 9 – Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã “ Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung tại các khoản 1,2 và 4 Điều 33 của Luật này và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã”. Đó là những cơ sở quan trọng để chúng ta tiếp tục xây dựng chiến lược cải cách, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong hệ thống chính trị ở nước ta, góp phần thực hiện mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh”. Vì vậy, em đã chọn đề tài “ Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn thành phố Hải Phòng” để làm khóa luận tốt nghiệp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
1.1 Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Khóa luận tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý về tổ chức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng.
Khóa luận chủ yếu phân tích, đánh giá các quy định về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản hướng dẫn; đồng thời so sánh, đánh giá những điểm mới của Luật tổ chức CQĐP năm 2015 với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Những số liệu, vụ việc thực tiễn được tác giả tập trung khai thác, phân tích, xử lý trong quá trình thực hiện luận văn được giới hạn chủ yếu trong 5 năm trở lại đây liên quan đến tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở Thành phố Hải Phòng .
Phạm vi không gian: việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã được giới hạn nghiên cứu thực tiễn tại địa phương là Thành phố Hải Phòng .
1.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận dựa trên cơ sở lý luận về khoa học tổ chức nhân sự, khoa học quản lý với các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê… để làm sáng tỏ những luận điểm được đưa ra.
1.3 Bố cục khóa luận
Khóa luận gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận, tài liệu tham khảo.
- Chương 1: Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn tổ chức và hoạt động tại thành phố Hải Phòng.
CHƯƠNG I: PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1 Lược sử phát triển, vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã ở Việt Nam
1.1.1 Lược sử phát triển của Ủy ban nhân dân cấp xã
Trong hệ thống bộ máy nhà nước ở nước ta, cấp xã là cấp chính quyền cơ sở có vị trí, vai trò rất quan trọng. xã là điểm cuối cùng của hệ thống chính quyền nhà nước, là nơi hàng ngày chính quyền gắn bó, tiếp xúc mật thiết với nhân dân, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều bắt nguồn từ đây và cũng chính từ đây các chủ trương, chính sách đó đi vào cuộc sống. Sự hình thành và phát triển của Chính quyền địa phương qua các thời kỳ lịch sử của đất nước có thể phân thành 5 giai đoạn, mỗi giai đoạn như sau: Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Giai đoạn thứ nhất: Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1960. Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình xây dựng chính quyền sau khi nước ta giành độc lập. Giai đoạn này Hiến pháp năm 1946 được ban hành và quy định chính quyền địa phương ở Việt Nam gồm có: Hội đồng nhân và Ủy ban hành chính. Hội đồng nhân dân, một thiết chế của chính quyền địa phương được tổ chức ở cấp xã, cấp tỉnh; cấp bộ và cấp huyện không có thiết chế Hội đồng nhân dân. Ủy ban hành chính được tổ chức ở các cấp chính quyền địa phương.
Trong giai đoạn này, đã có sự phân biệt tương đối rạch ròi giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị; cấp huyện là cấp trung gian, không có Hội đồng nhân dân; vai trò của Ủy ban hành chính được đề cao; cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Chính quyền lúc bấy giờ gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính, trong đó Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực do dân cử ra, bầu ra Uỷ ban hành chính và Uỷ ban hành chính chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân; các cơ quan chuyên môn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Uỷ ban hành chính.
Giai đoạn thứ hai: Từ 1960 đến 1980, là giai đoạn có khá nhiều nét đặc biệt trong tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương để bảo đảm song song hai nhiệm vụ: vừa xây dựng kinh tế, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tổ chức và hoạt động của chính quyền thể hiện rõ nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa; pháp luật đề cao vai trò của Hội đồng nhân dân; cơ cấu tổ chức có xu hướng tăng mạnh so với trước đây; không có sự phân biệt chính quyền đô thị và nông thôn, nhưng ở các khu vực miền núi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống được thành lập các khu tự trị. Cụ thể Hiến pháp năm 1959 quy định: Chính quyền địa phương được tổ chức tại cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và bổ sung quy định thành lập khu tự trị. Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính được tổ chức ở các cấp chính quyền địa phương và khu tự trị.
Tuy nhiên cùng với nó là chế độ bao cấp và sản xuất theo kế hoạch từ trên xuống, dẫn đến nạn quan liêu, tham nhũng trong bộ máy quản lý cấp dưới, quyền làm chủ của nhân dân bị xâm phạm.
Giai đoạn thứ ba: Từ năm 1980 đến 1992, là giai đoạn tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa trong cả nước. Hiến pháp năm 1980 quy định số cấp chính quyền địa phương vẫn giữ nguyên 03 cấp; nhưng bỏ quy định thành lập khu tự trị và đổi tên Ủy ban hành chính thành Ủy ban nhân dân. Đặc trưng của giai đoạn này là việc tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương theo mô hình của Liên-Xô (cũ); chỉ các cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra mới được thừa nhận là cơ quan quyền lực nhà nước; triệt để tuân thủ nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa; tổ chức chính quyền ở các cấp cơ bản giống nhau… Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên Chính quyền địa phương giai đoạn này không được phát huy, dân chủ trở nên hình thức. Tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương đều rập khuôn theo chính quyền Trung ương. Tình hình đó dẫn đến chính quyền cấp xã rơi vào tình trạng lúng túng về phương thức hoạt động. Để khắc phục những khiếm khuyết đó, Nhà nước đã có những văn bản quy định nhiệm vụ, chức năng của các cấp chính quyền địa phương. Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Giai đoạn thứ tư: Từ 1992 đến 2013. Với sự nhận thức mới về bộ máy nhà nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên các cấp Chính quyền địa phương đã chủ động, sáng tạo hơn, phát huy dân chủ nhiều hơn trong tổ chức và hoạt động. Hiến pháp năm 1992 quy định về tổ chức chính quyền địa phương có 03 cấp: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đã cụ thể hóa “Hiến pháp 92” về quy định các cấp chính quyền địa phương khác nhau về phạm vi, mức độ cụ thể về các nhiệm vụ, quyền hạn; Hội đồng nhân dân các cấp có chức năng quyết định, giám sát; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước tại các địa phương trên địa bàn quản lý. Điểm khác biệt của các cấp chính quyền địa phương thể hiện rõ nét tại cấp huyện là cấp trung gian và cấp xã (xã, thị trấn) có sự lồng ghép một số lĩnh vực quản lý nhà nước gần nhau.
Giai đoạn thứ năm: Từ năm 2013 đến nay với Hiến pháp mới 2013 và sự ra đời của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 (sau đây gọi chung là Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Chính quyền địa phương đã có nhiều đổi mới cả về tổ chức và hoạt động. Việc phân cấp, phân quyền và ủy quyền tuy vẫn còn nhiều lúng túng và có nhiều vấn đề cần rút kinh nghiệm, chỉnh sửa, bổ sung, song đã cơ bản bảo đảm thiết lập các nguyên tắc về tính chất, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương. Các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương tương đối ổn định, phù hợp với tính chất có hiệu lực lâu dài của Hiến pháp. Khắc phục những vướng mắc, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong thời gian qua và là cơ sở Hiến định để cụ thể hóa trong Luật tổ chức chính quyền địa phương đồng thời đã phần nào “cởi trói” cho chính quyền địa phương, nhất là đối với cấp xã nói riêng và cấp xã nói chung. Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Ở Việt Nam, Uỷ ban nhân dân là khái niệm được dùng từ khi có Hiến pháp năm 1980 đến nay, còn theo Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1946 cơ quan này được gọi là Uỷ ban hành chính. Theo pháp luật hiện hành Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và uỷ viên. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là đại biểu hội đồng nhân dân, các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân không nhất thiết phải là đại biểu hội đồng nhân dân. Kết quả bầu thành viên của Uỷ ban nhân dân phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn, kết quả bầu các thành viên Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng chính phủ phê chuẩn.
Như vậy, qua các giai đoạn phát triển, mô hình tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân ở nước ta mang những đặc trưng riêng. Thực tiễn cũng đã chỉ ra được những điểm hợp lý, những bài học kinh nghiệm rất có giá trị cho quá trình nghiên cứu, xây dựng một mô hình tổ chức ủy ban nhân dân hoạt động có hiệu lực, hiệu quả trong thời gian tới.
1.1.2 Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã
Chính quyền địa phương cấp xã ở Việt Nam có vai trò hai mặt. Một mặt với tư cách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chính quyền cấp xã thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên địa bàn lãnh thổ của xã đó. Mặt khác, Chính quyền địa phương ở xã do nhân dân xã đó bầu ra để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân xã trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Vai trò này thể hiện trên nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước. Trong đó, tập trung thống nhất là yếu tố có tính chủ đạo. Tư tưởng cơ bản trong tổ chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc đó vừa đảm bảo sự tập trung thống nhất, vừa phát huy vai trò chủ động, tích cực của cấp xã .
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định. (Điều 111). Theo đó, chính quyền cấp xã bao gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã . Đây là cấp chính quyền có số lượng lớn nhất và có đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội đa dạng nhất trong các loại hình đơn vị hành chính ở nước ta hiện nay. Chính quyền cấp xã là cầu nối giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân trong xã , đại diện cho nhà nước, để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước ở xã .
Như đã đề cập, theo mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam về địa vị pháp lý của Ủy ban nhân dân, chúng ta có thể đề cập đến với hai tư cách: là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Với tư cách là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở. Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Có thể thấy rằng, cũng như các cơ quan Nhà nước khác, trong mọi hoạt động của mình, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã phải chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng và chịu sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở ở xã mà thường xuyên và trực tiếp là Ban Chấp hành Đảng bộ cấp xã. Ban Chấp hành Đảng bộ xã thực hiện vai trò lãnh đạo đối với Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã bằng chủ trương, nghị quyết và các biện pháp lớn, bằng việc thực hiện quyền kiểm tra việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Sự lãnh đạo của cấp uỷ ở xã còn được thực hiện thông qua những đảng viên phụ trách và các đồng chí đảng viên đảm nhiệm các chức vụ cũng như tham gia các vị trí công tác trong Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Căn cứ vào Nghị quyết của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách hàng năm báo cáo Ban Chấp hành Đảng bộ xem xét, cho ý kiến trước khi trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã định kỳ báo cáo với Ban Chấp hành Đảng bộ về tình hình, kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và kết quả tổ chức thực hiện các chủ trương lớn mà Đảng bộ đề ra.
Nhận thức được vai trò quan trọng của chính quyền trong quản lý, điều hành các quá trình kinh tế – xã hội và an ninh, trật tự, trong đó có quản lý phát triển xã hội trên địa bàn, Đảng và Nhà nước ta luôn có sự quan tâm đặc biệt đến công tác kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở nói chung và chính quyền xã nói riêng. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã từng bước đạt được những kết quả nhất định, đời sống người dân ngày càng được nâng lên, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được cải thiện, các vấn đề xã hội ở xã đang dần được giải quyết.
1.1.3 Mối quan hệ của Ủy ban nhân dân cấp xã với hệ thống chính trị ở cơ sở
- Quan hệ với Hội đồng nhân dân cấp xã
Quan hệ giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Hội đồng nhân dân cấp xã là mối quan hệ đặc biệt, thể hiện sự thống nhất chính trị trong tổ chức bộ máy ở chính quyền địa phương của nước ta. Mối quan hệ này một mặt thể hiện yếu tố tập trung quyền của cơ quan quyền lực Nhà nước trong việc thành lập, thay đổi, bãi nhiệm các thành viên của Ủy ban nhân dân, trong việc chỉ đạo, giám sát hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp xã. Mặt khác thể hiện yếu tố dân chủ trong việc cơ quan quyền lực Nhà nước trao quyền chủ động, sáng tạo cho cơ quan hành chính Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng điều hành, quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã thể hiện ở ba yếu tố: mối quan hệ về mặt tổ chức; mối quan hệ về thẩm quyền và mối quan hệ về chế độ trách nhiệm.
Thứ nhất, xét trong mối quan hệ về mặt tổ chức: giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Hội đồng nhân dân cấp xã thì Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có quyền thành lập ra Ủy ban nhân dân cấp xã thông qua con đường bầu cử, cụ thể theo Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 thì Hội đồng nhân dân cấp xã có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã, hay nói theo cách khác việc thiết lập nên các chức danh của Ủy ban nhân dân cấp xã là do HĐND cùng cấp quyết định. Tuy đây là hai cơ quan khác biệt nhưng giữa Hội đồng nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp xã là một cơ cấu thống nhất trong hệ thống chính quyền địa phương nhưng có chức năng khác nhau, cụ thể là Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành ra Nghị quyết và giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã, trong khi đó Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện hiện chức năng của một cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, nhưng cả hai cơ quan đều đặt dưới sự lãnh đạo và thống nhất của Đảng, sự giám sát chặt chẽ của nhân dân. Vì vậy cả hai cơ quan này đều thuộc cơ cấu chính quyền địa phương thống nhất, cùng có chức năng quản lý địa phương theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân cấp xã vẫn mang tính độc lập tương đối với Hội đồng nhân dân cùng cấp vì Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan trực thuộc hai chiều: vừa trực thuộc Hội đồng nhân dân cùng cấp vừa trực thuộc cơ quan hành chính nhà nước cấp trên nên Ủy ban nhân dân có tính độc lập tương đối, không lệ thuộc hoàn toàn vào Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Thứ hai, xét trong mối quan hệ về thẩm quyền: Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp nên quan hệ giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Hội đồng nhân dân cấp xã là quan hệ phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước với cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành ra các nghị quyết và Ủy ban nhân dân cùng cấp là cơ quan triển khai thực hiện các Nghị quyết đó thông qua việc áp dụng các hình thức quản lý tác động các cá nhân, cơ quan và tổ chức trong phạm vi địa phương do mình quản lý. Trong quá trình thực thi các nghị quyết này thì Ủy ban nhân dân cấp xã chịu sự kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp và đồng thời Hội đồng nhân dân sẽ có những yêu cầu, đề nghị để Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đúng theo các nội dung mà nghị quyết đã đề ra.
Thứ ba, về hoạt động và trách nhiệm: chính vì mối quan hệ đặc biệt của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã trong cách thức thành lập nên hoạt động của hai cơ quan này cũng có mối quan hệ mật thiết với nhau, thể hiện như sau:
HĐND có quyền giám sát đối với hoạt động của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp. Ủy ban nhân dân còn có trách nhiệm cung cấp các tài liệu liên quan đến hoạt động giám sát khi Hội đồng nhân dân có yêu cầu. Ủy ban nhân dân còn phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp chuẩn bị nội dung các kỳ họp HĐND, xây dựng đề án trình Hội đồng nhân dân xem xét quyết định. Hội đồng nhân dân có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các thành viên trong Ủy ban nhân dân. Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết và giám sát việc thực hiện nghị quyết đó. Trong phạm vi, quyền hạn do pháp luật quy định, Ủy ban nhân dân ra quyết định và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Các văn bản của Ủy ban nhân dân ban hành không được trái với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Các quyết định của Ủy ban nhân dân ban hành mà trái nghị quyết, không đúng quy định của pháp luật thì Hội đồng nhân dân có quyền bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật. Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Trong hoạt động của mình, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Nhiệm kỳ hoạt động của Ủy ban nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
- Quan hệ với Ủy ban nhân dân cấp trên:
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định Ủy ban nhân dân cấp trên chỉ đạo hoạt động của UBND cấp dưới trực tiếp. Vì vậy, Ủy ban nhân dân cấp xã có mối quan hệ trực tiếp với Ủy ban nhân dân cấp huyện. Đây là mối quan hệ trực tiếp giữa cơ quan nhà nước cấp trên và cơ quan nhà nước cấp dưới là quan hệ phục tùng và mệnh lệnh. Là cấp dưới, Ủy ban nhân dân cấp xã phải chấp hành các chỉ thị, quyết định và các văn bản khác của Ủy ban nhân dân cấp huyện và của các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành trong quá trình điều hành hoạt động của mình, truyền đạt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tới nhân dân trong xã, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với Ủy ban nhân dân cấp huyện, xin ý kiến Ủy ban nhân dân cấp huyện trong những vấn đề quan trọng đột xuất. Là cấp trên, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm phê chuẩn nhân sự của
UBND cấp xã, thực hiện sự chỉ đạo toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã. Mối quan hệ về công tác chuyên môn nghiệp vụ là mối quan hệ dựa trên nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước. Các bộ phận chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp xã chịu sự chỉ đạo trực tiếp của các phòng ban chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
- Quan hệ với các tổ chức chính trị xã hội khác: Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Trong hoạt động của mình, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Nhiệm kỳ hoạt động của Ủy ban nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn xã để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thi đua phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, xây dựng, cũng cố chính quyền nhân dân. Để đạt được các mục đích này thì theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, trong các phiên họp của Ủy ban nhân dân có đại diện của các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn xã tham dự như: Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh nhờ vậy mà các quyết định của Ủy ban nhân dân đưa ra đều có sự đóng góp ý kiến và đồng thuận cao trong nhân dân. Những quy định này phản ánh xu hướng mở rộng dân chủ, phát huy tính chủ động sáng tạo của chính quyền địa phương, đồng thời, nhằm huy động rộng rãi sự tham gia của nhiều tầng lớp dân cư tham gia vào hoạt động chính quyền, quản lý nhà nước, quản lý xã hội [11, tr. 86]. Bên cạnh đó, giám sát của xã hội do Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam và các công dân thực hiện để thực hiện tinh thần chủ quyền nhân dân đã được Hiến pháp 2013 ghi nhận và đề cao.
Bên cạnh đó, thông qua các tổ chức chính trị- xã hội, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận được những kiến nghị, khiếu nại, thắc mắc của nhân dân trong quá trình điều hành hoạt động quản lý của mình, trên cơ sở đó Ủy ban nhân dân cấp xã có sự giải đáp, tuyên truyền, điều chỉnh, rút kinh nghiệm cho hoạt động của mình. Các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn xã là chỗ dựa đáng tin cậy của Ủy ban nhân dân trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở hiện nay.
1.2 Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật Việt Nam Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của Ủy ban nhân dân xã
- Khái niệm Ủy ban nhân dân cấp xã:
Theo Điều 8 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định.
Từ quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương, có thể thấy rằng, Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cấp xã và cơ quan nhà nước cấp trên về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có thẩm quyền chung, hoạt động với tư cách:
- Cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
- Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Với tư cách là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cấp xã: Ủy ban nhân dân cấp xã chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã, chịu trách nhiệm và báo cáo các hoạt động của mình trước Hội đồng nhân dân cấp xã.
Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: Ủy ban nhân dân cấp xã có nhiệm vụ triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội và dân cư trên địa bàn.
UBND cấp xã chính là đầu mối giải quyết các công việc thường ngày của nhân dân và có quan hệ trực tiếp và gắn bó mật thiết với nhân dân, là cầu nối để chuyển tải mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Vì vậy hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã có ảnh hưởng rất lớn tới sự thành công của các chủ trương, chính sách được hoạch định từ cấp trên và quyền, lợi ích của nhân dân trên địa bàn quản lý.
Nước ta đã chuyển sang cơ chế quản lý mới trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng đòi hỏi vai trò, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã phải được chú trọng.
- Các đặc trưng cơ bản của Ủy ban nhân dân cấp xã: Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Một là, Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do Hội đồng nhân dân xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp trên về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Hai là, Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có thẩm quyền chung, hoạt động với tư cách: Cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp; Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và với tính chất là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân xã, chịu trách nhiệm và báo cáo các hoạt động của mình trước Hội đồng nhân dân xã.
Ba là, Ủy ban nhân dân cấp xã có nhiệm vụ triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội và dân cư trên địa bàn.
Bốn là, Ủy ban nhân dân cấp xã chính là đầu mối giải quyết các công việc thường ngày của nhân dân và có quan hệ trực tiếp và gắn bó mật thiết với nhân dân, là cầu nối để chuyển tải mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Vì vậy mà chất lượng hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã có ảnh hưởng rất lớn tới sự thành công các chủ trương, chính sách được hoạch định từ cấp trên và quyền, lợi ích của nhân dân trên địa bàn.
Năm là, hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã là mối tương quan giữa kết quả thu được (đầu ra) sao cho tối đa so với chi phí thực hiện kết quả đó (đầu vào) sao cho tối thiểu. Đổi mới phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã là việc nghiên cứu thực trạng hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã cùng với các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động như điều kiện tự nhiên, cơ chế hoạt động, đội ngũ cán bộ, công chức, văn hóa,… để tìm ra các nguyên nhân từ đó có những giải pháp phù hợp.
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp xã Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Theo Điều 34 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân xã Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định.
Theo đó:
- Ủy ban nhân dân xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an.
- Ủy ban nhân dân xã loại I, loại II có không quá hai Phó Chủ tịch; xã loại III có một Phó Chủ tịch.
Số lượng thành viên trong Ủy ban nhân dân được quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và khoản 2 Điều 3 Nghị định số 08/2016/NĐ-CP ngày 25/1/2016 và Nghị định 69/2020/NĐ-CP ngày 24/6/2020 của Chính phủ về việc quy định số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên Ủy ban nhân dân. Theo đó, ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã gồm có Ủy viên phụ trách quân sự và Ủy viên phụ trách công an.
Luật Tổ chức Chính quyền địa phương quy định Hội đồng nhân dân bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Ủy ban nhân dân được bầu tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân theo thể thức bỏ phiếu kín, phải được quá bán tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân có mặt biểu quyết tán thành. Thông thường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã đồng thời là Phó Bí thư Đảng ủy xã, nhưng không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân.
HĐND bầu Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân theo giới thiệu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, ủy viên Ủy ban nhân dân không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân. Kết quả bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân phải được chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
UBND cấp xã không có các cơ cấu trực thuộc mà chỉ có các chức danh chuyên trách các mảng công việc thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã bao gồm các nảng công việc với các chức danh chuyên trách tương ứng : Tư pháp – Hộ tịch; Địa chính – Xây dựng – Đô thị – Môi trường; Tài chính – Kế toán; Văn phòng – Thống kê; Văn hóa – Xã hội; Quân sự; Công an.
1.2.3 Nhiệm kỳ Ủy ban nhân dân xã
Theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương: Nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân là 5 năm, theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Ủy ban nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới bầu ra Ủy ban nhân dân khóa mới. Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
1.2.4 Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã
Chức năng: Chức năng chính của Ủy ban nhân dân cấp xã đó là quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn xã trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng theo các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà. Với tính chất là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân Huyện, Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ tương đối toàn diện, thực hiện sự quản lý trên mọi mặt của đời sống nhân dân trong xã: kinh tế; xây dựng, giao thông vận tải; giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá và thể dục thể thao; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phương; chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật.
- Các chức năng cụ thể bao gồm.
Tổ chức và hướng dẫn cho nhân dân, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội trên địa bàn thực hiện tốt các chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Tạo điều kiện cho nhân dân làm ăn và phát triển kinh tế địa phương, nắm bắt rõ các tâm tư, nguyện vọng của người dân để nhanh chóng giải quyết hoặc phản ánh lên cấp trên.
Kiểm tra và giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước tại các cơ quan, tổ chức ở Địa phương
Tổ chức thực hiện tốt các kế hoạch về kinh tế xã hội và kế hoạch ngân sách xã được Ủy ban nhân dân cấp huyện giao hằng năm. Xây dựng dự toán ngân sách năm sau trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt.
- Nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Theo Điều 63 Luật tổ chức chính quyền địa phương nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã được quy định như sau:
- Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định một số nội dung thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã như:
Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã.
Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã.
Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm của xã trước khi trình Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt. Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã. Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của xã trong phạm vi được phân quyền.
- Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã.
- Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương trên cơ sở số ngân sách đã được phê duyệt.
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã
Như vậy, với chức năng và nhiệm vụ của mình, Ủy ban nhân dân xã là cơ quan có vai trò quan trọng trong bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương. Đây là cầu nối đảm bảo tính thống nhất cũng như toàn diện trong công tác quản lý hành chính nhà nước từ Trung ương tới địa phương. Qua đó, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền và nghĩa vụ công dân, góp phần xây dựng đời sống vật chất và tinh thần trong sáng, vững mạnh cho người dân.
1.2.5 Nội dung phương pháp hoạt động Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Về phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã được quy định tại Khoản 2 Điều 3 Quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân cấp xã Ban hành kèm theo Quyết định số 77/2006/QĐ-TTg ngày 13 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ) như sau:
Ủy ban nhân dân cấp xã họp, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề quy định trên tại phiên họp Ủy ban nhân dân;
Đối với các vấn đề cần giải quyết gấp nhưng không tổ chức họp Ủy ban nhân dân được, theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, chuyên viên Văn phòng Ủy ban nhân dân xã gửi toàn bộ hồ sơ của vấn đề cần xử lý đến các thành viên Ủy ban nhân dân để lấy ý kiến. Nếu quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân nhất trí thì Văn phòng Ủy ban nhân dân tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã tại phiên họp gần nhất.
Hoạt động tập thể của Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện thông qua phiên họp gồm toàn thể các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp xã. Theo quy định tại Điều 113 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ họp thường kỳ mỗi tháng một lần. Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân họp bất thường trong các trường hợp sau đây: do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định; theo yêu cầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; theo yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số thành viên Ủy ban nhân dân. Bên cạnh đó, theo Điều 116 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, để bảo đảm tính khách quan, đúng đắn và chính xác trong việc giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã thì trong phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp xã đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã được mời tham dự phiên họp Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương, đại diện các Ban của Hội đồng nhân dân được mời tham dự phiên họp Ủy ban nhân dân cùng cấp khi bàn về các vấn đề có liên quan. Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ bàn bạc, thảo luận và quyết định theo đa số để giải quyết các vấn đề như: xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn quyết định các nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cùng cấp gồm: ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn; quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã, phường, thị trấn trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã, phường, thị trấn; quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của xã, phường, thị trấn trong phạm vi được phân quyền; tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã, phường và thị trấn… Ngoài ra, với địa vị pháp lý là một trong hai cơ quan chính quyền địa phương ở xã, Ủy ban nhân dân cấp xã còn có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn xã; quyết định những vấn đề của xã trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền; chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp huyện về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở xã; quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn xã. Khóa luận: Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng tổ chức của ủy ban nhân dân cấp xã

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
