Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng kinh doanh thương mại
Không thể phủ nhận rằng, pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại là chế định đã có bề dày lịch sử rất lâu đời trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng chế định này cho thấy, vẫn còn một số quy định thể hiện sự hạn chế, bất cập so với lý luận cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Điều đó đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu, chỉ ra các hạn chế, bất cập đó để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thời gian tới, nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho đời sống kinh tế – xã hội cũng như môi trường kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Những định hướng chung nhằm hoàn thiện pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại như sau:
Thứ nhất: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại đảm bảo phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, yêu cầu hội nhập kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung tồn tại ở nước ta trong thời gian dài đã từng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách kinh tế thời chiến. Nhưng khi đất nước hoàn toàn độc lập thì cơ chế này đã bộc lộ nhiều bất cập, kìm hãm sự phát triển của kinh tế đất nước. Chủ trương đổi mới và phát triển kinh tế hàng hoá định hướng xã hội chủ nghĩa đã thừa nhận và mở rộng quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước. Pháp luật về Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại cần đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, trong đó có quyền tự do hợp đồng và đảm bảo điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ kinh tế, tạo ra những đảm bảo cần thiết về mặt pháp lý để cho các chủ thể có thể thực hiện được quyền tự do kinh doanh của mình. Để đáp ứng yêu cầu này, việc hoàn thiện các quy định phải theo hướng chi tiết hoá các quy định hiện còn nhiều cách hiểu khác nhau, lược bỏ những quy định cứng nhắc nhằm hạn chế sự can thiệp không cần thiết của Nhà nước vào sự thoả thuận của các bên. Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Mặt khác, hoàn thiện các quy định của pháp luật về Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại cần theo hướng tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại được phát triển thuận lợi trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay. Đồng thời, hoàn thiện quy định pháp luật này cần phải đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, bởi xu thế hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới đang đặt ra yêu cầu cần phải xoá bỏ sự khác biệt không cần thiết trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế cũng như các tập quán thương mại quốc tế, nhất là trong lĩnh vực pháp luật về hợp đồng; các chuẩn mực chung của thương mại quốc tế đang cần được Việt Nam tiếp tục từng bước áp dụng. Tuy nhiên, để học hỏi kinh nghiệm của pháp luật các nước và pháp luật quốc tế một cách có chọn lọc và có hiệu quả, đòi hỏi chúng ta phải có những nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về từng hệ thống pháp luật, về bản chất, cấu trúc cũng như phương thức vận hành của nó, bên cạnh đó là những điều kiện kinh tế, xã hội mà nó được sinh ra và tồn tại.
Không chỉ có vậy, hệ thống quy định của pháp luật thương mại còn phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hướng đến mục tiêu tạo lập một môi trường kinh doanh lành mạnh: đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các loại chủ thể khác nhau cùng tham gia thị trường; Tôn trường quyền tự do kinh doanh của công dân; Bảo hộ mọi quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, đồng thời bảo vệ các lợi ích công cộng và trật tự pháp luật, trật tự – kinh tế.
Thứ hai: Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy phạm pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại theo hướng bảo đảm sự thống nhất các khái niệm pháp lý, quy định giữa Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự .
Hiện nay, nhiều quy định trong pháp luật thương mại và pháp luật dân sự nói chung, pháp luật liên quan đến Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại nói riêng còn dài về số lượng từ ngữ, lạm dụng các từ ngữ mô tả định tính, ví dụ như: tổn thất thực tế, trực tiếp; hoặc tổn thất thực tế, xác định được. Không chỉ dài và khó vận dụng, các khái niệm tương tự nhau (như tổn thất do hành vi vi phạm) còn được định nghĩa khác nhau trong các văn bản luật.
Không chỉ phức tạp hóa quy phạm pháp luật trong từng điều luật, Luật thương mại năm 2005 còn có nhiều phần trùng lặp với các bộ luật khác. Theo quan điểm của nhiều chuyên gia, học giả và luật sư, các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại mà Luật thương mại năm 2005 quy định đã được điều chỉnh trong Bộ luật dân sự năm 2015. Ngoài ra, chế định về hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật thương mại năm 2005 trùng tới 80% so với nội dung trong Bộ luật dân sự năm 2015. Hơn nữa, Bộ luật dân sự năm 2015 còn quy định chi tiết hơn cả Luật thương mại năm 2005 về nội dung trên. Đại diện các cơ quan xét xử như TAND tối cao, Viện Khoa học xét xử cũng cho rằng, Luật thương mại năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 có nhiều quy định trùng nhau như hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng đại diện cho thương nhân và hợp đồng ủy quyền, hợp đồng cho thuê hàng hóa và hợp đồng cho thuê tài sản… Do đó, việc hoàn thiện pháp luật thương mại cần được thực hiện trên tiêu chí “ngắn gọn, dễ vận dụng và thống nhất”. Tuy nhiên, phải đảm bảo thống nhất giữa Bộ luật dân sự và Luật thương mại. Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự là văn bản luật có phạm vi điều chỉnh rộng nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật tư. Vấn đề này đã được ghi nhận tại Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau: “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”. Quy định này cho thấy, Bộ luật dân sự có thể được áp dụng để điều chỉnh mọi quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng, bao gồm cả quan hệ trong lĩnh vực thương mại. Ngay trong một số quy định của Luật thương mại cũng thể hiện phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự đối với các hoạt động thương mại như: Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự. Do đó, định hướng bảo đảm sự thống nhất của các quy định trong Luật thương mại với quy định mang tính nguyên tắc trong Bộ luật dân sự là cần thiết.
Thứ ba: Hoàn thiện pháp luật trong về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại theo hướng tổng quát, tránh quy định quá chi tiết cho từng pháp lý; cần sát thực tế, có tính khả thi và dự liệu được các tình huống có thể diễn ra trong thực tế đời sống thương mại Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Một trong những nguyên nhân chính khiến hệ thống pháp luật Việt Nam thường xuyên phải cập nhật, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật (thậm chí có những luật, nghị định vừa ban hành không lâu đã phải sửa đổi), đó là việc xây dựng luật không manh tính tổng quát mà đi vào chi tiết, thiếu tính thực tế, không dự liệu được các tình huống có thể xảy ra trong thực tiễn, việc đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật tuy đã được thực hiện nhưng chỉ mang tính hình thức, dẫn đến tình trạng một số quy định pháp luật có nguy cơ xa rời thực tiễn, thiếu tính khả thi và khó thực hiện. Các quan hệ xã hội luôn luôn phát triển, thay đổi, do đó nếu dự liệu những tình huống pháp lý có thể xảy ra vào thời điểm dự thảo luật, thì dự luật đó sẽ chỉ phát huy tác dụng trong một thời gian ngắn trước khi quan hệ pháp luật lại thay đổi. Do vậy, các bộ luật/đạo luật, ví dụ như Luật thương mại năm 2005 chỉ nên đóng vai trò đưa ra các quy định mang tính nguyên tắc xử sự chung và các nguyên tắc này phải có khả năng tiên liệu được hầu hết các tình huống có thể xảy ra trong thực tiễn đời sống thương mại để đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện, đồng thời loại bỏ các quy phạm mang tính liệt kê các vấn đề pháp lý cụ thể.
Xem xét trên bình diện thế giới, năm 2004, thế giới kỷ niệm 200 năm Bộ luật Napoléon ra đời, Bộ luật này chỉ do một Ủy ban gồm bốn Luật gia nổi tiếng chủ trì soạn thảo. Cách thức bổ sung, sửa đổi, đưa vào bộ luật những nội dung mới nhưng không phá vỡ cấu trúc và không làm thay đổi trật tự các điều luật trong bộ luật là một điều kỳ diệu, làm cho Bộ luật dân sự Napoleon sau hơn 200 năm tồn tại vẫn còn nguyên 2.283 điều, ngôn ngữ xây dựng luật giản dị, trong sáng, dễ hiểu, câu văn khúc chiết, tư duy logic. Trước thực tế này, Việt Nam cần học tập điểm tiến bộ trong cách xây dựng pháp luật của các nước tiên tiến, cụ thể là xây dựng luật mang tính thực tiễn cao, có khả năng bao quát được các tình huống có thể xảy ra trong tương lai để không trở nên lạc hậu so với thực tiễn vốn dĩ luôn thay đổi. Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Thứ tư: Ban hành nhiều hơn các án lệ về trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại
Trong định hướng thứ hai về hoàn thiện pháp luật thương mại, tác giả cho rằng, các quy phạm pháp luật trong các bộ luật chỉ nên mang tính tổng quát, tránh đi sâu vào quy định cụ thể. Việc quy định cụ thể cách thức áp dụng pháp luật nên được thực hiện dưới dạng các tiền lệ xét xử (án lệ) để tránh nguy cơ phải sửa đổi luật liên tục. Không nên tiếp tục quy định các nội dung mang tính hướng dẫn luật trong các trường hợp cụ thể tại các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, bởi vì hiện tại hệ thống pháp luật Việt Nam đã có quá nhiều văn bản dưới luật. Việc ban hành thêm các văn bản hướng dẫn luật trong vấn đề Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thương mại còn làm tăng nguy cơ chồng chéo về nội dung. Do đó, việc định hướng ban hành thêm các tiền lệ xét xử là hợp lý hơn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
3.2. Một số giải pháp pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng kinh doanh thương mại
Từ định hướng hoàn thiện pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, tác giả khoá luận đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại như sau:
3.2.1. Nhóm giải pháp chung
Thứ nhất, cần sửa đổi quy định về các loại Bồi thường thiệt hại trong Luật thương mại năm 2005 một cách hợp lý và phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015
Quy định về các loại được bồi thường trong Luật thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành đạo luật này chưa đảm bảo sự phù hợp, tương thích với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Bởi vì, theo Điều 302 Luật thương mại năm 2005, các loại thiệt hại được bồi thường được xác định với hai thuộc tính là “thiệt hại thực tế” và “thiệt hại trực tiếp”. Với quy định này có thể thấy, định hướng của nhà lập pháp trong việc xác định thiệt hại là nhằm loại trừ những thiệt hại không có nguyên nhân từ hành vi vi phạm hoặc những thiệt hại không tồn tại khách quan, mà chỉ do bên bị vi phạm suy diễn. Tuy nhiên, việc quy định như trên đã vô tình chồng lấn về chức năng với quy định về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại ở chính khoản 1 của Điều luật này. Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Thứ hai, cần khắc phục một số điểm bất hợp lý liên quan đến nghĩa vụ hạn chế tổn thất trong Luật thương mại năm 2005
Quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất trong Luật thương mại 2005 có một số điểm bất hợp lý, bởi trong Bộ luật dân sự năm 2015, chi phí khắc phục, hạn chế tổn thất đã được quy định là một dạng thiệt hại vật chất tại khoản 1 Điều 361. Tuy nhiên, chi phí tương tự chưa được ghi nhận trực tiếp trong Luật thương mại năm 2005, trong khi đó, nghĩa vụ hạn chế tổn thất vẫn được quy định tại Điều 305 Luật thương mại. Bên bị vi phạm mặc dù đã phải gánh chịu hậu quả của hành vi vi phạm, đồng thời vẫn phải bỏ công sức tính toán thực hiện các biện pháp hạn chế thiệt hại, nhưng chi phí thực hiện các biện pháp này lại không được ghi nhận vào thiệt hại được bồi thường trong Luật thương mại năm 2005.
Do đó, để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên bị vi phạm, cần phải bổ sung quy định liên quan đến chi phí hạn chế tổn thất trong Luật thương mại năm 2005 và thay thế cách tính mức giảm tiền bồi thường trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ hạn chế tổn thất từ phương pháp định lượng sang phương pháp định tính.
Thứ ba, cần sửa đổi quy định về giá trị tổn thất được bồi thường trong Luật thương mại năm 2005 theo hướng bổ sung thêm các chi phí khắc phục thiệt hại và chi phí tố tụng là những chi phí nằm trong giá trị tổn thất được bồi thường
Hiện nay những thiệt hại gián tiếp không là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm hợp đồng khi được bên bị vi phạm yêu cầu cơ quan tài phán công nhận thì thường bị cơ quan tài phán bác bỏ.Trên thực tế, hành vi vi phạm hợp đồng không những gây ra những thiệt hại trực tiếp, mà còn gây ra những thiệt hại gián tiếp (chi phí đã bỏ ra không thu hồi lại được), như: chi phí đi lại đàm phán để giải quyết vi phạm hợp đồng, chi phí giám định hàng hóa, chi phí thuê Luật sư tư vấn và khởi kiện vv… Những thiệt hại này có thể tính toán được không phải do suy diễn mà có, các bên tham gia hợp đồng hoàn toàn có thể dự đoán được khi kí kết hợp đồng. Nếu pháp luật thương mại không ghi nhận những khoản thiệt hại nói trên sẽ không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm, cũng như không đáp ứng được mục đích của chế tài Bồi thường thiệt hại là khôi phục các lợi ích vật chất cho bên bị vi phạm như khi chưa có hành vi vi phạm hợp đồng. Song, khi thừa nhận các chi phí này là thiệt hại thực tế, thì cần phải có những quy định rõ ràng những thiệt hại gián tiếp phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định mới được bồi thường. Điều này nhằm loại trừ trường hợp xảy ra việc đòi các thiệt hại dây chuyền có tính chất suy đoán không hợp lý. Có sự khác biệt không hợp lý giữa cách quy định của Luật thương mại năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 và cùng một vấn đề. Đó là vấn đề cần sửa đổi để Luật thương mại năm 2005 tương thích với Bộ luật dân sự năm 2015. Ngoài ra các chi phí liên quan đến tố tụng như phí luật sư (nếu có), chi phí đi lại của bên bị vi phạm trong quá trình tham gia giải quyết tranh chấp (cả trong và ngoài Tòa án) cũng cần được quy định một cách hợp lý trong các văn bản pháp luật để đảm bảo quyền lợi của bên bị thiệt hại.
Thứ tư, cần sửa đổi quy định về mối quan hệ giữa chế tài bồi thường thiệt hại với phạt vi phạm hợp đồng trong Luật thương mại năm 2005 Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Quy định về việc kết hợp Trách nhiệm bồi thường thiệt hại với phạt vi phạm hợp đồng chưa có sự tương thích giữa Luật thương mại năm 2005 với Bộ luật dân sự năm 2015. Bởi vì, như đã phân tích ở Chương 2 của Khoá luận này, Luật thương mại năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 có nội dung khác nhau về vấn đề kết hợp Bồi thường thiệt hại với phạt vi phạm hợp đồng. Cụ thể, khoản 3 Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định rằng: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải Bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”, trong khi đó, khoản 2 Điều 307 Luật thương mại năm 2005 lại quy định rằng: “Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc Bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Đây là căn cứ cho phép bên có quyền kết hợp phạt vi phạm và Bồi thường thiệt hại chỉ với điều khoản phạt. Việc quy định như trên cho thấy, chủ thể của hợp đồng thương mại phải chịu nhiều trách nhiệm pháp lý bất lợi hơn so với chủ thể tham gia các hợp đồng dân sự.
Thứ năm, cần bãi bỏ quy định về “vi phạm cơ bản” trong Luật thương mại năm 2005 do có những điểm mơ hồ, khó xác định, gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp liên quan đến Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.
Về mặt hậu quả pháp lý, vi phạm cơ bản trong Luật thương mại năm 2005 có nhiều điểm giống với vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự năm 2015. Việc một bên có hành vi vi phạm cơ bản theo Luật thương mại năm 2005 hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng đều dẫn đến hậu quả chấm dứt hiệu lực của hợp đồng theo hình thức hủy bỏ hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng (khoản 4 Điều Luật thương mại năm 2005 và khoản 2 Điều 243 Bộ luật dân sự năm 2015). Mặc dù không hoàn toàn giống nhau về hậu quả pháp lý, nhưng vi phạm cơ bản và vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ đều được định nghĩa là những hành vi vi phạm khiến cho bên kia “không đạt được mục đích giao kết của hợp đồng” (khoản 13 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 và khoản 2 Điều 423 Bộ luật dân sự năm 2015). Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Quy định này về cơ bản, thiệt hại có nghĩa là mục đích mà bên bị vi phạm chờ đợi trên cơ sở hợp đồng đã không còn; mức độ thiệt hại được xem xét dựa trên sự tương quan giữa mục đích giao kết hợp đồng và thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra. Tuy nhiên, ngay cả khi thiệt hại thấp hơn mục đích thì cũng chưa thể kết luận rằng không có hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, mà còn tùy vào từng tranh chấp cụ thể. Có thể thấy, các quy định nêu trên là không hề phát huy tác dụng trên thực tế và cần phải bãi bỏ để đảm bảo tính minh bạch của chế định pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.
Thứ sáu, cần bổ sung quy định về tổn thất tinh thần, uy tín trong Luật thương mại năm 2005 nhằm đảm bảo tính toàn diện, khoa học và phù hợp với thực tế
Vấn đề tổn thất tinh thần, uy tín chưa được quy định trong Luật thương mại năm 2005, vì các loại thiệt hại được bồi thường đều là các tổn hại về vật chất, đã loại bỏ những giá trị vô hình bị thiệt hại có vai trò với các thương nhân nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung. Trên thực tế, có những hành vi vi phạm hợp đồng gây nên những thiệt hại phi vật chất, đã được nêu ví dụ trong Chương 1 và Chương 2 của Khoá luận này. Các thiệt hại phi vật chất này có thể kể đến như tổn hại tinh thần, mất uy tín trong kinh doanh. Việc ghi nhận thiệt hại phi vật chất trong các hợp đồng thương mại chưa được pháp luật Việt Nam công nhận. Thực tế, nhiều tranh chấp hợp đồng thương mại, đã được các bên đưa ra yêu cầu Bồi thường thiệt hại nhưng không được cơ quan tài phán chấp nhận. Mặc dù pháp luật hiện hành cũng đã gián tiếp thừa nhận các tài sản vô hình này cũng là một loại tài sản của doanh nghiệp. Ví dụ như quy định tại Điều 284 Luật thương mại năm 2005, thì những giá trị như tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền đều là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại (nhượng quyền thương mại là một trong những lĩnh vực của hoạt động thương mại). Và tại khoản 1 Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng đã thừa nhận danh dự, uy tín là một loại thiệt hại phải bồi thường: “Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, bao gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; Thiệt hại khác do luật quy định”. Theo đó, khi danh dự, uy tín… của một chủ thể bị xâm phạm thì việc xác định thiệt hại cũng tương tự như khi sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm. Mặc dù các thiệt hại này khó xác định cụ thể bằng các đơn vị đo lường, nhưng chủ thể bị thiệt hại không phải chứng minh cho yêu cầu của mình, bởi đây là thiệt hại đương nhiên khi danh dự, uy tín… bị xâm phạm. Mức Bồi thường thiệt hại này do các bên thỏa thuận hoặc Tòa án sẽ xác định một mức hợp lý hoặc theo luật định.
Thứ bảy, cần sửa đổi quy định tại Điều 361 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 302 Luật thương mại năm 2005 về loại thiệt hại được bồi thường Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Khoản 2 Điều 302 Luật thương mại năm 2005 lại đòi hỏi thiệt hại được bồi thường phải là thiệt hại “thực tế, trực tiếp” và khoản 2 Điều 361 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng lại có tiêu chí thiệt hại để được bồi thường là “tổn thất vật chất thực tế xác định được”. Mặc dù Bộ luật dân sự năm 2015 đã hợp lý hơn so với Điều 302 Luật thương mại năm 2005 khi không đòi hỏi thiệt hại phải là thiệt hại “trực tiếp”, nhưng quy định tại khoản 2 Điều 361 Bộ luật dân sự năm 2015 vẫn còn rất rườm rà, mang tính liệt kê. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 361 Bộ luật dân sự 2015 sử dụng tính từ “thực tế” để bổ nghĩa cho danh từ “thu nhập” nên cụm từ “thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút” được ghi nhận tại điều khoản này có thể dẫn đến việc hiểu thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút là thiệt hại trực tiếp, do đó chưa đủ sức bao quát các loại thiệt hại có thể được bồi thường là thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp. Để tránh việc quy định quá cụ thể mà vẫn không bao quát hết các tình huống xảy ra trên thực tế, nên lược bỏ toàn bộ phần quy định “bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút” và thay bằng “bao gồm tổn thất trực tiếp và gián tiếp do hành vi vi phạm nghĩa vụ gây nên”.
Thứ tám, cần sửa đổi quy định về mức Bồi thường thiệt hại theo thoả thuận
Về nguyên tắc, các bên giao kết hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại nói riêng có quyền thỏa thuận về mọi vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật. Thực tế cũng cho thấy, Luật thương mại năm 2005 không có quy định nào cấm các bên thỏa thuận về mức Bồi thường thiệt hại hại do vi phạm hợp đồng thương mại. Do đó, các bên hoàn toàn có quyền thỏa thuận trước về mức Bồi thường thiệt hại khi một trong các bên vi phạm hợp đồng thương mại. Khi đó, nghĩa vụ chứng minh tổn thất là không đặt ra, bên yêu cầu bồi thường chỉ cần chứng minh đã có sự vi phạm mà các bên thỏa thuận là căn cứ yêu cầu Bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, theo Điều 304 Luật thương mại năm 2005 lại quy định nghĩa vụ chứng minh tổn thất là nghĩa vụ bắt buộc của bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại. Rõ ràng, quy định này chưa thực sự phù hợp với bản chất của hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại nói riêng là sự thỏa thuận của các bên.
Thứ chín, cần sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất trong LTM năm 2005.
Về nghĩa vụ hạn chế tổn thất, Điều 305 Luật thương mại năm 2005 chỉ đề cập đến hai khía cạnh, đó là: Bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị Bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được. Theo vế thứ nhất của điều luật này, bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất mà không có trường hợp ngoại lệ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu bên yêu cầu Bồi thường thiệt hại chứng minh được mình không biết hoặc biết nhưng không có đủ điều kiện để áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất thì giải quyết như thế nào. Bên vi phạm hợp đồng có quyền giảm bớt giá trị Bồi thường thiệt hại hay không. Đây là những vấn đề đặt ra trong khi Luật thương mại năm 2005 chưa giải quyết và cần phải bổ sung, hoàn thiện. Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Thứ mười, cần sửa đổi quy định về mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm nghĩa vụ với chế tài Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự năm 2015.
Theo khoản 3 Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định rằng: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải Bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”, trong khi đó, khoản 2 Điều 307 Luật thương mại năm 2005 lại quy định rằng: “Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc Bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Đây là căn cứ cho phép bên có quyền kết hợp phạt vi phạm và Bồi thường thiệt hại chỉ với điều khoản phạt, phù hợp với thực tế, vì khi soạn thảo hợp đồng có nhiều trường hợp trong hợp đồng chỉ nêu điều khoản phạt chứ không có điều khoản về Bồi thường thiệt hại.
Quy định của Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015 đã làm mất đi tính thống nhất với Luật thương mại năm 2005 và mất đi quyền được yêu cầu bồi thường của bên bị vi phạm nghĩa vụ, do đó, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
“… Trường hợp các bên chỉ thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc Bồi thường thiệt hại thì vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải Bồi thường thiệt hại”.
Việc khoản 2 Điều 307 Luật thương mại năm 2005 quy định, các bên có thể thỏa thuận vừa áp dụng phạt vi phạm hợp đồng vừa yêu cầu Bồi thường thiệt hại là đi ngược lại với bản chất của quy định tại Điều 301. Bởi vì, Điều 301 Luật thương mại năm 2005 khống chế mức phạt vi phạm mà các bên được quyền thỏa thuận là không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Có thể nói, đây là quy định nhằm khống chế những thỏa thuận bất lợi cho bên yếu thế trong hợp đồng, đồng thời bảo đảm dung hòa lợi ích giữa các bên trong hợp đồng đó. Do đó, cần phải sửa đổi quy định này để bảo đảm sự phù hợp giữa các quy định cụ thể trong toàn bộ hệ thống quy định pháp luật thương mại và phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Thứ mười một, cần sửa đổi quy định liên quan đến “vi phạm cơ bản” trong Luật thương mại năm 2005 và “vi phạm nghiêm trọng” trong Bộ luật dân sự năm 2015.
Trên thực tế, những quy định về vi phạm cơ bản và vi phạm nghiêm trọng gần như không được vận dụng (như đã nêu tại phần trước của Khoá luận này). Ngoài ra, bản thân các điều luật về vấn đề này cũng có sự bất hợp lý. Trong Luật thương mại năm 2005, Điều 293 có quy định: “Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên bị vi phạm không được áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷ bỏ hợp đồng đối với vi phạm không cơ bản”. Việc quy định như vậy là thừa, vì các Điều 308, 310 và 312 Luật thương mại năm 2005 đã quy định: “Trừ trường hợp miễn trách nhiệm hoặc xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng, bên vi phạm chỉ được áp dụng các chế tài này khi bên kia vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”. Điều này có nghĩa là các chế tài tạm ngừng thực hiện, đình chỉ thực hiện và hủy bỏ hợp đồng sẽ không được áp dụng với những vi phạm không cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Ví dụ, trong một hợp đồng được ký kết, nếu hai bên có thỏa thuận về vi phạm cơ bản và hậu quả pháp lý, khi có vi phạm cơ bản xảy ra, hậu quả pháp lý sẽ cho phép một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng, nếu hai bên không có thỏa thuận gì thì việc áp dụng các quy định tại Điều 308, Điều 310, Điều 312 sẽ phát sinh hậu quả tương tự mà không cần phải dẫn chiếu Điều 293. Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Bản thân cách định nghĩa vi phạm cơ bản tại khoản 13 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 cũng có điểm chưa hợp lý, trong đó quy định rằng: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Như vậy, điều kiện để hành vi được coi là vi phạm cơ bản phải là: vi phạm hợp đồng và gây thiệt hại. Điều luật này tập trung chỉ ra một dạng hành vi vi phạm ở mức độ khác biệt so với các hành vi vi phạm khác nhưng lại đưa cả yếu tố thiệt hại vào là hoàn toàn không cần thiết, do đó, nên loại bỏ yếu tố gây thiệt hại ra khỏi quy định này.
Ngoài ra, hiện nay hệ thống pháp luật Việt Nam đang tồn tại song song hai thuật ngữ là “vi phạm cơ bản” và “vi phạm nghiêm trọng” nghĩa vụ. Hai thuật ngữ pháp lý này đều có chung một mục đích khi mô tả các hành vi vi phạm ở cả hai ngành luật là thương mại và dân sự. Do đó chỉ nên sử dụng thuật ngữ vi phạm cơ bản, bởi lẽ, thuật ngữ vi phạm cơ bản đang được sử dụng hiện nay có tồn tại và được sử dụng trong các văn bản pháp luật quốc tế như CISG, trong khi đó, thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng không hề được định nghĩa ở bất kỳ văn bản nào cả quốc tế lẫn quốc nội.
Từ những phân tích trên, đề xuất sửa đổi khoản 13 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 thành: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Đề xuất sửa đổi cụm từ “vi phạm nghiêm trọng” trong Bộ luật dân sự năm 2015 thành “vi phạm cơ bản” như trong Luật thương mại năm 2005.
Thứ mười hai, cần sửa đổi các quy định của một số luật có liên quan
Bên cạnh việc đưa ra các căn cứ để xác định mức Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng có đối tượng là tài sản trí tuệ, khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) còn quy định: “Ngoài khoản Bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư”. Quy định này cho thấy vị trí của khoản 3 Điều 205 trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) chưa thật sự thuyết phục, bởi điều khoản này được đặt dưới tên gọi “Căn cứ xác định mức Bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ” trong khi nội hàm của điều luật này lại chỉ đến một loại thiệt hại mà bên bị vi phạm hợp đồng phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm hợp đồng có đối tượng là tài sản trí tuệ (chi phí). Sẽ là hợp lý hơn nếu điều khoản này được thể hiện trong khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
(sửa đổi bổ sung năm 2009) và được quy định khái quát hơn bởi chi phí luật sư chỉ là một trong số rất nhiều chi phí phát sinh mà bên bị thiệt hại phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra, chẳng hạn như chi phí giám định thiệt hại đối với tài sản trí tuệ. Do đó, tác giả kiến nghị nội dung của khoản 3 Điều 205 nên được đưa vào khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) với nội dung tương tự nội dung của khoản 2 Điều 419 Bộ luật dân sự năm 2015: “Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức Bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại”.
3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Ngoài những giải pháp hoàn thiện pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, cần lưu ý áp dụng phối hợp một số giải pháp sau đây nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại liên quan đến Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại
Để bảo đảm các hợp đồng thương mại được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả, bên cạnh thỏa thuận các chế tài xử lý khi có vi phạm xảy ra, các chủ thể ký kết hợp đồng thường lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp như: thương lượng giữa các bên; hòa giải giữa các bên do một chủ thể được các bên thỏa thuận làm trung gian hòa giải; giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án. Các hình thức lựa chọn giải quyết tranh chấp này đã được Luật thương mại năm 2005 quy định tại Điều 317. Đây là các hình thức giải quyết tranh chấp hết sức quan trọng, không thể thiếu được vì nó giúp cho việc giải quyết tranh chấp Bồi thường thiệt hại nói riêng và các chế tài khác được thực hiện trên thực tế. Nếu không có các phương thức giải quyết tranh chấp đó thì việc giải quyết Bồi thường thiệt hại sẽ chỉ tồn tại “trên giấy” và nó sẽ gây cản trở, kìm hãm sự phát triển của hoạt động thương mại. Một trong những hình thức mà các chủ thể lựa chọn giải quyết tranh chấp là Trọng tài thương mại. Mặc dù hình thức giải quyết tranh chấp này có nhiều ưu điểm so với các hình thức khác, song không ít ý kiến cho rằng, việc phán quyết của Trọng tài hay bị Tòa án hủy.
Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về Trọng tài thương mại để tạo hành lang pháp lý thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại phát triển mạnh mẽ, có hiệu quả; hạn chế tình trạng áp dụng pháp luật tùy tiện, thiếu thống nhất để hủy phán quyết của Trọng tài thương mại; hạn chế các bên tranh chấp lợi dụng tính không minh bạch của căn cứ hủy phán quyết trọng tài để đưa ra yêu cầu hủy phán quyết đã được ban hành.
Thứ hai, nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp thương mại bằng Tòa án liên quan đến Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại.
Để nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp thương mại nói chung và tranh chấp liên quan đến Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại nói riêng, trước hết, cần nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán. Nghị quyết số 49- NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cơ bản đối với việc đổi mới tổ chức và hoạt động ngành Tòa án, đặc biệt đối với đội ngũ Thẩm phán. Đổi mới tổ chức TAND theo hướng tinh gọn với đội ngũ Thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, nhiều kinh nghiệm trong ngành. Bên cạnh đó, một số Tòa án huyện, tỉnh đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, gây qua tải ảnh hưởng tới xét xử. Vì vậy, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác hướng dẫn nhằm áp dụng thống nhất và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng, về các vụ việc liên quan tới chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại; cần đưa ra một số vụ án và cách giải quyết điển hình làm tài liệu học tập của các cán bộ tư pháp; cần bổ sung đủ cán bộ còn thiếu và nâng cao trình độ cán bộ tư pháp, Nhà nước cần trang bị các thiết bị hiện đại hơn, cùng với các chế độ đãi ngộ hợp lý để họ thực sự yên tâm công tác, tự học tập nâng cao trình độ bản thân.
Thứ ba, tăng cường hoạt động tổng kết thực tiễn xét xử và ban hành án lệ. Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Trong việc hoàn thiện quy định của pháp luật, nên hạn chế ban hành các quy phạm pháp luật mang tính cụ thể, liệt kê mà thay vào đó bằng những quy phạm mang tính khái quát, nguyên tắc và tổng quát. Những nội dung liên quan đến áp dụng, giải thích các tình huống pháp lý cụ thể trong các tranh chấp nên được đảm nhận bởi các án lệ. Việc làm này sẽ hạn chế được xung đột trong các quy phạm pháp luật và mâu thuẫn trong việc áp dụng pháp luật.
Những ưu điểm của việc ban hành án lệ và các tổng kết xét xử đã được nhắc đến trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định: “TAND Tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm…”. Không những thế, tại khoản 3 Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định việc áp dụng án lệ được thực hiện khi vụ việc dân sự có các tình tiết mà pháp luật không quy định thì Tòa án có thể áp dụng án lệ để xét xử. Chính vì vậy, trong thời gian tới, TAND Tối cao cần tiếp tục chỉ đạo công tác ban hành án lệ và tổng kết kinh nghiệm xét xử trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nhằm nâng cao hiệu quả xét xử cho các tòa án cấp dưới. Một trong các án lệ quan trọng về Bồi thường thiệt hại được công bố là: Án lệ số 21/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án TAND Tối cao.
Thứ tư, nâng cao nhận thức của các chủ thể kinh doanh nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng về pháp luật thương mại.
Mặc dù việc ban hành và áp dụng pháp luật không thuộc về trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp là chủ thể quan trọng tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật kinh doanh thương mại trên thực tế. Do đó, muốn hiệu quả thực thi pháp luật được nâng cao phải có phần đóng góp của các doanh nghiệp và doanh nhân.
Tuyên truyền và phổ biến pháp luật thương mại nói chung và chấm dứt thực hiện hợp đồng trong thương mại nói riêng là nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, cho các cơ quan quản lí nhà nước về thương mại và đặc biệt là cho các thương nhân để họ hiểu biết về pháp luật thương mại, về các trường hợp chấm dứt thực hiện hợp đồng thương mại. Nhà nước cần xây dựng các biện pháp để tuyên truyền pháp luật tới người dân, các thương nhân để họ nắm bắt được và sử dụng như một biện pháp tự vệ hay trừng phạt trong thương mại khi tham gia hoạt động thương mại của mình. Một nội dung hết sức quan trọng trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật trên các phương tiện đại chúng là thường xuyên, kịp thời phản ánh các tranh chấp và giải quyết của các cơ quan chức năng đối với hợp đồng nói chung, chấm dứt thực hiện hợp đồng nói riêng. Công tác tuyên truyền pháp luật cần lưu ý phải được truyền đạt một cách khách quan, trung thực, có cơ sở pháp lý chắc chắn nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
BTTH do vi phạm hợp đồng thương mại là biện pháp pháp lý quan trọng nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra.
Bồi thường thiệt hại là một biện pháp khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng nhằm bù đắp những tổn thất là hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng do bên vi phạm hợp đồng đã gây ra cho bên bị vi phạm. Đe áp dụng biện pháp Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nói riêng và trách nhiệm Bồi thường thiệt hại, về nguyên tắc Bộ luật dân sự năm 2015 đòi hỏi dựa trên ba căn cứ: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra. Có thể nhận thấy Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận nguyên tắc suy đoán lỗi trong trách nhiệm Bồi thường thiệt hại, theo đó bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết thì bị suy đoán là có lỗi (về nguyên tắc yếu tố lỗi đã được hợp nhất trong hành vi vi phạm hợp đồng) và phải chịu trách nhiệm Bồi thường thiệt hại. Việc vi phạm hợp đồng là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ hợp đồng. “Vi phạm hợp đồng” và “không thực hiện đúng hợp đồng” là hai thuật ngữ có cùng nội hàm và có thể thay thế cho nhau để chỉ đến mọi hành vi không thực hiện đúng hợp đồng, cho dù là không thực hiện một phần, không thực hiện toàn bộ, chậm thực hiện hay có khiếm khuyết trong việc thực hiện hợp đồng.
Hoàn thiện pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật về Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nói riêng là việc làm hết sức cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, Việt Nam không chỉ cần có giải pháp hoàn thiện đồng bộ pháp luật nói chung và pháp luật về Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại nói riêng mà còn cần có các giải pháp nhằm đảm bảo thực thi pháp luật như Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính Trị ngày 24 tháng 05 năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến 2020 chỉ ra :
“Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân,…” Khóa luận: Giải pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
