Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nghiên cứu phát triển chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhà cách mạng, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Người là hình tượng sống mãi trong lòng người dân Việt Nam và cộng đồng những người yêu chuộng hòa bình.Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, với cương vị là lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc, là Chủ tịch nước, Người đã từng sống, hoạt động, làm việc và đến thăm 56 quốc gia trên thế giới. Dấu ấn của Người để lại đối với đất nước, người dân những nơi Người đi qua là vô cùng sâu sắc. Trong số những quốc gia đó có lẽ những dấu chân trên đất Quảng Tây, Trung Quốc là những dấu ấn lịch sử có giá trị đặc biệt quan trọng trong hành trình tìm đường cứu nước của Người.
Những dấu chân đó đã được ghi lại trên mảnh đất này bằng những di tích lịch sử, những hiện vật mà nước bạn vẫn ngày gìn giữ và bảo tồn từ hơn nửa thế kỷ nay. Những hiện vật đó còn là chứng cứ cho sự ngoan cường không lùi bước trong hành trình tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc, là minh chứng hào hùng cho sự đấu tranh không mệt mỏi vì nền độc lập nước nhà. Nơi đây Người đã gieo những hạt giống đầu tiên của tình hữu nghị Việt –Trung, đánh dấu sự phát triển của mối quan hệ thắm thiết tình anh em, tình hữu nghị láng giềng“sông liền sông- núi liền núi”.
Mảnh đất này đã chứng kiến những bước dài trong hành trình đi tìm độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh. Do vậy tìm về ngọn nguồn trên hành trình cứu nước cũng như tìm về nơi khởi nguồn cho mối quan hệ Việt- Trung chính là lý do để người viết muốn xây dựng lên chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây -Trung Quốc. Việc xây dựng chương trình du lịch này không chỉ giúp các thế hệ thanh thiếu niên tiếp tục trân trọng, gìn giữ và kế thừa phát huy tình hữu nghị giữa hai nước Việt – Trung, mà đây còn là chương trình du lịch có ý nghĩa đưa chúng ta trải nghiệm về thời kỳ đi tìm con đường giải phóng dân tộc của Người trên đất Quảng Tây (Trung Quốc), giúp chúng ta có cái nhìn nhận đúng đắn và khách quan hơn nữa về người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn “Nghiên cứu phát triển chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc” có những ý nghĩa và giá trị thực tiễn sau: Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Lần đầu tiên xây dựng một chương trình du lịch outbound có định hướng liên quan đến một nhân vật lịch sử lớn, nhằm kết hợp giữa mục tiêu kinh tế du lịch và mục tiêu giáo dục lịch sử.
- Đây là ý tưởng nghiên cứu và phát triển chương trình du lịch mới chưa được triển khai trong các chương trình du lịch trước đó ở nước ta. Tuy nhiên có những điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, phát triển du lịch outbound theo hướng này khi chúng ta đã nhận thức được không chỉ ở Quảng Tây, Trung Quốc mà ở nhiều nơi trên thế giới đặc biệt là các nước láng giềng giống như Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan đều có các di tích lịch sử có liên quan đến Hồ Chí Minh, đến Việt Nam.
- Đề tài luận văn có tác dụng củng cố, gắn kết hơn nữa mối quan hệ hữu nghị, hòa bình, hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc Việt Nam- Trung Quốc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Để xây dựng được chương trình du lịch này, tác giả tập trung vào 3 nhóm đối tượng nghiên cứu chủ yếu:
- Nghiên cứu hệ thống các di tích có liên quan đến Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) từ năm 1939-1945, nghiên cứu chủ yếu tại 4 địa điểm chính là Quế Lâm- nơi Nguyễn Ái Quốc làm việc trong văn phòng Bát Lộ Quân; Tĩnh Tây- Nơi Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền của Trung Hoa Dân Quốc bắt và giam giữ; Nam Ninh- nơi hoạt động cách mạng chủ yếu khi người ra tù; Liễu Châu- nơi Người được chính quyền Tưởng Giới Thạch thả tự do sau hơn một năm bị giam giữ.
- Thực tế các hoạt động du lịch đang diễn ra tại khu vực biên giới của hai nước Việt- Trung và thực tế các chương trình du lịch outbound từ Việt Nam sang Trung Quốc.
- Thực tế hoạt động khai thác du lịch tại các điểm tham quan có di tích Hồ Chí Minh ở Quảng Tây (Trung Quốc).
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Hệ thống các di tích có liên quan đến Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) từ năm 1939 đến trước khi Người mất (1969).
- Phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu từ năm 2019 đến nay (2024).
4. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu tìm hiểu dấu chân Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) nhằm nắm bắt, hệ thống hóa các giá trị lịch sử văn hóa gắn với Hồ Chí Minh và mảnh đất Quảng Tây, phát huy truyền thống yêu nước, trân trọng những giá trị mà ông cha ta đã để lại đồng thời phát huy mối quan hệ hữu nghị Việt- Trung được xây dựng từ ngàn đời, từ đó xây dựng lên chương trình du lịch tìm về cội nguồn của mối quan hệ Việt- Trung. Bởi lẽ mỗi dấu chân của Người trên đất Trung Quốc đều gắn liền với những sự kiện quan trọng của cách mạng Việt Nam và ghi dấu ấn quan trọng trong mối quan hệ hữu nghị Việt- Trung. Việc xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây sẽ giúp thế hệ thanh thiếu niên trân trọng, kế thừa và không ngừng phát huy tình hữu nghị Việt- Trung- tài sản quý giá của nhân dân hai nước.
4.2 Nội dung nghiên cứu Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Luận văn“Nghiên cứu phát triển chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc” tập trung vào bốn nội dung nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu rõ về thực trạng du lịch ở hai nước Việt Nam- Trung Quốc qua đó phân tích đánh giá, tổng hợp thông tin để xây dựng bản đồ chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh.
- Tiếp đến phân tích đánh giá thị trường cung cũng như nhu cầu du lịch của dòng khách Việt Nam khi đi du lịch ở Quảng Tây (Trung Quốc) đặc biệt là hoạt động du lịch quốc tế tại các địa phương có cửa khẩu chính sang Quảng Tây (Trung Quốc) như Hữu Nghị Quan, Đông Hưng, Hà Khẩu…
- Làm rõ chính sách của chính phủ Trung Quốc nhằm thu hút nguồn khách du lịch Việt Nam đặc biệt là những chính sách về xuất nhập cảnh, chính sách xúc tiến và chính sách giá cả. Đó là những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng chương trình du lịch này.
- Thực trạng di tích và hoạt động khai thác du lịch tại các di tích có liên quan đến Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây. Đồng thời, xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) cho khách du lịch outbound.
5. Lịch sử nghiên cứu
Con đường giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng của Người có ảnh hưởng sâu đậm trong nền văn hóa nước nhà. Việc nghiên cứu về con đường tìm đường cứu nước cũng như hoạt động cách mạng của Người trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) đã trở thành chủ đề của nhiều chuyên luận, bài nghiên cứu của không chỉ các học giả trong nước mà còn thu hút được sự chú ý đối với các học giả nước ngoài. Đặc biệt là các học giả Trung Quốc.
Tiêu biểu phải kể đến như : Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Tác phẩm “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” của Hoàng Tranh nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây (Trung Quốc), cùng với cuốn “Hồ Chí Minh với Quảng Tây” là hai tác phẩm tâm huyết nhất của Hoàng Tranh khi nghiên cứu về cuộc đời của Người trên đất Quảng Tây nói riêng và Trung Quốc nói chung, cuốn sách đã cho chúng ta có cách nhìn nhận nhiều chiều và những góc khuất ẩn sâu trong cuộc đời của Người trong thời gian hoạt động cách mạng tại Trung Quốc.
Trong tác phẩm“Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Dân Tiên. Một cuốn sách kể về cuộc đời cách mạng của Người, cuốn sách này đã được nhiều nhà nghiên cứu tham khảo là một nguồn tư liệu quý giá về cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.
Không chỉ các tác giả trong nước, có rất nhiều học giả nước ngoài đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu và nghiên cứu về cuộc đời của Hồ Chí Minh. Tiêu biểu phải kể đến một nữ học giả người Mỹ Sophie Quinn- Judge đã dành 10 năm để nghiên cứu về những tháng ngày buôn ba, hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, cuốn sách mang tên Hồ Chí Minh- The Missing Years ( tạm dịch là Hồ Chí Minh- Những năm tháng chưa được biết đến) và cuốn sách “ Hồ Chí Minh: Một cuộc đời” của Wiliam J.Duiker
Tất cả những tác phẩm kể trên, mỗi tác phẩm lại mang đến cho chúng ta một cái nhìn khác về cuộc đời của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy “Nghiên cứu về chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc” là một vấn đề còn tương đối mới và hiện nay chưa có công trình nào được công bố một cách rộng rãi. Do đó, không có mấy tác phẩm hay bài nghiên cứu nào nói về các chương trình du lịch- lịch sử gắn liền với các di tích hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh tại Quảng Tây , Trung Quốc.
Chính vì vậy, thông qua bài viết “Dấu tích hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Trung Quốc” của Nguyễn Thị Tình đăng trên tạp chí của Bảo tàng Hồ Chí Minh số 29 tháng 12 năm 2019 đã cho chúng ta cái nhìn khái quát nhất trên quãng đường bôn ba tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt hơn 10 năm sống và hoạt động tại Trung Quốc.
Đây được coi là bài viết có tính chuyên sâu và được nghiên cứu trong một thời gian tương đối dài bao gồm cả khảo sát thực tiễn và nghiên cứu trao đổi giữa hai nước. Qua bài viết này, phần nào đã cho thấy những di tích này còn là minh chứng và tài sản vô giá về mối tình hữu nghị của hai dân tộc. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Hay bài viết của Nguyễn Đình Dĩnh đăng trên tạp chí của Bảo tàng Hồ Chí Minh số 40- 2022“Các công trình tôn vinh chủ tịch Hồ Chí Minh ở huyện Tĩnh Tây- Quảng Tây (Trung Quốc)” cũng là một trong những bài viết đề cập đến các di tích lịch sử cũng như việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích của Hồ Chí Minh ở Tĩnh Tây- Quảng Tây (Trung Quốc).
Một nguồn tài liệu nữa mà tác giả được tiếp cận đó là bản tập hợp các bài luận án của hội thảo nghiên cứu học thuật “Hồ Chí Minh với Tĩnh Tây” ngày 21 tháng 05 năm 2022 của thư viện Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bộ sưu tập này là một biên soạn tổng hợp bởi tổ công tác chuẩn bị hồ sơ cho nghiên cứu đối với các tài liệu luận văn do các học giả Việt Nam- Trung Quốc và các cơ quan ban ngành liên quan cung cấp, do đó đây có thể coi là một trong những nguồn tài liệu quan trọng để tác giả có thể bước đầu tiếp cận và triển khai đề tài luận văn.
Tác giả cũng hy vọng rằng đề tài nghiên cứu này của mình sẽ góp một tiếng nói trong hành trình khám phá các di tích lịch sử của Hồ Chí Minh không chỉ trên đất Trung Quốc mà còn vươn xa ra các nước láng giềng như Thái Lan, Campuchia, Lào…. Từ đó góp phần thúc đẩy và vun đắp mối quan hệ hữu nghị giữa các nước láng giềng với Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu
Đây là phương pháp chính được sử dụng trong đề tài. Trên cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn khác nhau có liên quan tới đề tài nghiên cứu. Người viết sẽ xử lý, chọn lọc để có những tư liệu cần thiết phục vụ nghiên cứu
Trong bài luận văn nghiên cứu của mình tác giả đã tiến hành thu thập và kế thừa tài liệu, các công trình đã được công bố, tạp chí, sách, mạng internet, báo cáo về nguồn khách đi du lịch Trung Quốc cũng như các báo cáo giao lưu hợp tác hoạt động du lịch giữa hai quốc gia.
- Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp này sử dụng nhằm điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của đối tượng nghiên cứu nhằm chỉnh sửa và cập nhật những thông tin mới nhất để bổ sung cho các vấn đề lý luận hoàn chỉnh hơn.
Phương pháp nghiên cứu này giúp tác giả có cái nhìn đánh giá sâu sắc hơn về các điểm đến du lịch qua đó có thể xây dựng chương trình du lịch này. Đó cũng là cơ sở thực tế giúp tác giả có thể đề xuất một số giải pháp nhằm đưa chương trình du lịch này ứng dụng vào thực tế. Từ những đánh giá đó người viết sẽ dễ dàng tạo dựng lên bản đồ cho điểm đến của chương trình du lịch này. Khảo sát thực địa của đề tài được tiến hành làm 2 đợt theo lộ trình bao quát phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đợt 1 tiến hành vào tháng 10 năm 2024 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, đợt hai tiến hành vào tháng 06 năm 2025 tại Quảng Tây (Trung Quốc).
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu và áp dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học như lịch sử, logic, nghiên cứu văn hóa, bảo tàng học… để giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn. Điều này giúp cho đề tài đạt được những mục tiêu chung trong nhận thức đối tượng nghiên cứu.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì bố cục của luận văn chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Điều kiện để xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc.
- Chương 3: Giải pháp để xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Lịch sử và Di tích lịch sử
1.1.1.1. Lịch sử
Theo giải thích đơn giản, Lịch sử là những gì thuộc về quá khứ và gắn liền với xã hội loài người. Với ý nghĩa này, lịch sử bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong xã hội, đa diện và khó định nghĩa chính xác đầy đủ.
Theo Sue. Peabody thì: “Lịch sử là một câu chuyện chúng ta nói chúng ta là ai?
Nhà bác học người La Mã Cicéron (106-45TCN) đưa ra quan điểm “Historia magistra vitae” (Tạm dịch: “Lịch sử chính yếu của cuộc sống” với yêu cầu đạt tới “Lux veritatis” (Ánh sáng của sự thật).
Theo Hà Văn Tấn có viết: “Lịch sử là khách quan. Sự kiện lịch sử là những sự thật được tồn tại độc lập ngoài ý thức chúng ta. Nhưng sự nhận thức lịch sử lại là chủ quan. Và người ta chép sử vì những mục đích khác nhau”. Do vậy, Lịch sử có thể được hiểu là: Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Việc diễn ra trong quá khứ: Những sự kiện (biến cố) diễn ra trong quá khứ cho đến thời điểm hiện tại; không thể thay đổi được, cố định trong không gian và thời gian, mang tính chất tuyệt đối và khách quan.
- Ghi lại những việc diễn ra trong quá khứ: Con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt theo sự kiện theo từ ngữ và giải thích ý nghĩa của sự kiện, mang tính chất tương đối và chủ quan của người ghi lại bằng những câu chuyện kể. – Làm thành tài liệu của việc diễn ra trong quá khứ: Cách làm hoặc quá trình tập hợp những sự việc diễn ra trong quá khứ thành tài liệu cũng chính là câu chuyện kể đối với hiện tại.
1.1.1.2. Di tích lịch sử
Theo từ điển Hán Việt: “Di” có nghĩa là để lại, “Tích” là dấu vết.“Di tích là dấu vết của quá khứ còn để lại có ý nghĩa lịch sử và văn hóa”.
Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử. Song, nơi có di tích trong lòng đất hoặc tại các hang động là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ. Thế nên, khái niệm di tích thường để gọi các dấu vết trên mặt đất, như các kiến trúc cổ, các địa danh hay hiện tượng tự nhiên có gắn với các sự kiện hoặc diễn biến lịch sử.
Di tích lịch sử còn là nơi ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương. Đây là nơi ghi dấu những kỷ niệm, ghi dấu chiến công chống xâm lược, ghi dấu tội ác của phóng kiến và đế quốc.
Từ những năm 1970, việc định nghĩa và nhận dạng di tích, đặc biệt là ở phạm vi đô thị đã được xem xét bằng những tiêu chí mở rộng hơn. Giá trị di tích không còn đóng khung trong những chuẩn mực lịch sử và nghệ thuật chính thống mang tính hàn lâm. Khái niệm di tích bắt đầu được nhìn nhận trên một góc độ nhận thức toàn diện, vượt ra khỏi giới hạn của những sản phẩm mỹ thuật hay lịch sử đơn lẻ để tích tụ thêm hàng loạt các yếu tố mới, vốn “được nhận dạng từ những hình thái và chức năng mà đô thị được thừa hưởng từ quá khứ, đóng vai trò làm chỗ dựa cho cuộc sống hàng ngày và toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội của một đô thị đương đại”.
Đại hội Quốc tế lần thứ hai các Kiến trúc sư và các Kỹ thuật gia chuyên về các di tích lịch sử, họp tại Venice từ ngày 25-31/5/1964 đã thông qua Hiến chương Venice. Theo đó Di tích “không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một sự tiến hóa có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử”.
Theo Giáo trình Bảo tồn Di tích Lịch sử- Văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ra một khái niệm khoa học về Di tích như sau:“Là không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc các nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại”. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Như vậy, Di tích lịch sử có thể hiểu là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra. Ở một mức độ hẹp hơn có thể thấy rằng Di tích lịch sử là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá trình lịch sử còn sót lại. Tuy nhiên, Di tích lịch sử- văn hóa thì hoàn toàn khác. Theo Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, Di tích lịch sử- văn hóa được công bố ngày 4/4/1984 có quy định: “Di tích lịch sử- văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa- xã hội.”.
Do vậy, có thể thấy Di tích lịch sử- văn hóa đã ghép cả di tích lịch sử và di tích văn hóa. Một số di tích lịch sử có giá trị văn hóa, trong khi một số di tích không có hoặc có rất ít giá trị lịch sử. Ngược lại hầu hết các di tích văn hóa đều mang giá trị lịch sử. Bởi thế, khái niệm di tích lịch sử- văn hóa là khái niệm kép, giúp chúng ta xử lý được mối quan hệ vừa chặt chẽ vừa có điểm rất “mong manh” của hai nội dung “ Lịch sử và Văn hóa”.
Mỗi quốc gia đều có những quan niệm về những di tích lịch sử. Để các quan niệm được thống nhất với nhau thì cần có những quy định chung như sau:
- Di tích lịch sử là những nơi ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hóa khảo cổ.
- Những địa điểm khung cảnh ghi dấu về dân tộc học.
- Những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sử đất nước, lịch sử địa phương phát triển.
- Những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược, áp bức.
- Những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên bài trí sẵn và có bàn tay con người tạo dựng thêm vào, được xếp là một trong các loại hình di tích lịch sử- văn hóa.
1.1.1.3. Phân loại các di tích lịch sử.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử liên tục chống giặc ngoại xâm và giặc thiên nhiên. Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhớ ơn tổ tiên, nên nhiều di tích lịch sử ghi dấu những chiến công oanh liệt chống giặc ngoại xâm, gắn liền với các sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước cũng như cuộc đời và sự nghiệp của các danh nhân, các vị anh hùng dân tộc đã được nhiều thế hệ người Việt Nam xây dựng, giữ gìn tới ngày nay.
Tính đến năm 2023, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam. Trong số di tích quốc gia có 62 di tích quốc gia đặc biệt và trong số đó có 8 di sản thế giới.
Theo Luật Di sản Văn hóa, Di tích được phân loại như sau:
Thứ nhất, nếu căn cứ vào giá trị tiêu biểu nhất mà di tích chứa đựng thì Di tích được phân loại thành 4 loại :
- Loại hình di tích lịch sử- văn hóa: Di tích lịch sử – văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.
- Loại hình di tích kiến trúc, nghệ thuật: Là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
- Loại hình di tích khảo cổ học: Là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người Xưa, thánh địa Mỹ Sơn Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Loại hình di tích danh lam thắng cảnh: Là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học
- Di tích cách mạng – kháng chiến: Là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sử – văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt.
Thứ hai, theo đầu mối quản lý và giá trị của Di tích, danh thắng thì Di tích danh thắng được chia thành 3 loại:
- Di tích quốc gia đặc biệt.
- Di tích quốc gia.
- Di tích cấp tỉnh.
Thứ ba, dựa vào hình thức quản lý, Di tích được chia làm 3 loại:
- Di tích do nhà nước trực tiếp quản lý.
- Di tích do cộng đồng dân cư (dưới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý.
- Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý.
Thứ tư, theo điều kiện khai thác của di tích thì di tích được phân thành 2 loại:
- Di tích có khả năng khai thác.
- Di tích chưa có khả năng khai thác.
Ngoài ra còn phải kể đến các Di tích khác như:
- Di tích ghi dấu về dân tộc học.
- Di tích ghi dấu ấn sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu, có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương.
- Di tích ghi chiến công xếp loại.
- Di tích ghi dấu những kỷ niệm.
- Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động.
- Di tích ghi dấu tội ác và phong kiến.
Do vậy, thông qua các khái niệm đã trình bày ở trên, có thể thấy di tích lịch sử nói riêng và di tích lịch sử văn hóa nói chung là những tài nguyên quan trọng trong việc phát triển du lịch cũng như góp phần phát triển kinh tế địa phương. Qua đó phần nào có thể khẳng định rằng những dấu ấn của Hồ Chí Minh để lại trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) chính là những di tích lịch sử – văn hóa. Do đó, các di tích lịch sử – văn hóa này cần phải được khai thác, phát huy các giá trị và được khách du lịch Việt Nam biết đến.
1.1.2. Di sản văn hóa Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Trên thế giới có nhiều học giả đã nghiên cứu khái niệm Di sản văn hóa. Abraham Moles (Mỹ) quan niệm Di sản văn hóa như một “mã di truyền xã hội”, một thứ “ký ức tập thể”. Feredico Mayor (Mỹ) hình dung Di sản văn hóa như một “hệ thống các giá trị”, những nhân tố hình thành nên bản sắc văn hóa dân tộc.
Người Nhật quan niệm giá trị văn hóa như một thứ tài sản- “tài sản Văn hóa” và họ chia Di sản văn hóa thành hai loại: tài sản văn hóa “hữu hình” và tài sản văn hóa “vô hình”. Các thuật ngữ vật thể, phi vật thể, vô hình, hữu hình giờ đây được sử dụng rộng rãi trên thế giới khi nói về Di sản văn hóa.
Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại”. Di sản văn hóa theo nghĩa Hán Việt là “Những tài sản Văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai”. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên.
Khái niệm di sản văn hóa trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một quá trình hình thành khá lâu dài. Điểm mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789. Quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát và phá hoại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia. Di sản lúc đó được hiểu như “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai đó, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia”.
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước, giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai”. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Như vậy, di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Nó có thể là các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học…
Luật Di sản Văn hóa của nước ta quy định:“Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, vận động thay đổi theo thời gian. Ngày nay khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ nữa. Bởi lẽ không phải bất cứ cái gì của quá khứ cũng được coi là di sản. Di sản là sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ đã được lựa chọn theo nhu cầu của xã hội hiện đại. Do đó, sự ra đời của Luật Di sản Văn hóa năm 2010 cùng với các văn bản hướng dẫn đi kèm đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm tăng cường nhận thức và hành động cho toàn xã hội, tăng cường sự hiểu biết về di sản và quá trình bảo vệ, phát huy kho tàng di sản văn hóa của dân tộc.
1.1.3. Du lịch danh nhân văn hóa
Hiện nay, chưa có văn bản chính thức nào nêu rõ định nghĩa hay khái niệm về danh nhân văn hóa cũng như những tiêu chí để xác định tôn vinh là danh nhân văn hóa. Theo từ điển Tiếng Việt thì “danh nhân” là những người nổi tiếng, có nhiều cống hiến và được mọi người thừa nhận. Còn “Văn hóa” là lĩnh vực, phạm vi biểu trưng. Do đó, theo cách hiểu của chúng tôi có thể đưa ra khái niệm danh nhân văn hóa: “Là những con người, những nhân vật kiệt xuất có tiếng tăm, có cống hiến lớn lao cho nền văn hóa dân tộc, được lịch sử, dân tộc biết đến, ghi nhận và đánh giá cao; đại diện, biểu trưng cho một nền văn hóa”.
Theo Hồ Sỹ Vịnh cho rằng: “Danh nhân văn hóa là nhân vật có phẩm chất đạo đức trong sáng, chiều sâu về trí tuệ, chiều rộng về danh tiếng và uy tín để lại tấm gương cho hậu thế. Danh nhân văn hóa thường có 3 cấp độ: anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tiêu biểu và danh nhân văn hóa”.
Theo Bách khoa tri thức thì: “Danh nhân văn hóa là những con người, những nhân vật kiệt xuất có tiếng tăm có cống hiến lớn lao cho nền văn hóa dân tộc, được lịch sử, dân tộc, người dân biết đến, ghi nhận và đánh giá cao, đại diện, tiêu biểu, biểu trưng cho một nền văn hóa”.
Cũng theo Bách khoa tri thức thì: “Danh nhân văn hóa thế giới là những danh nhân văn hóa có tiếng tăm trên thế giới, những nhân vật có đóng góp xuất sắc không chỉ cho sự phát triển văn hóa dân tộc mà còn cho sự phát triển văn hóa chung của nhân loại, là đại diện, biểu trưng cho một nền văn hóa thế giới đa bản sắc, vừa thấm đẫm văn hóa dân tộc, vừa thắm đượm tinh hoa văn hóa nhân loại”.
Mỗi một dân tộc, một nền văn hóa dân tộc có nhiều danh nhân văn hóa, song có rất ít người đạt tới tầm cỡ danh nhân văn hóa thế giới. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Sự công nhận danh nhân văn hóa thế giới này được thông qua Ủy ban Khoa học Giáo dục Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), là sự đánh giá cao nhất đối với con người như một biểu trưng văn hóa, con người văn hóa, nhân cách văn hóa…. ở tầm quốc tế.
Ở nước ta có 3 người được công nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Đó là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh.
Do đó, khái niệm Du lịch danh nhân văn hóa là một khái niệm còn khá mới mẻ, chưa thực sự được đề cập. Theo cách hiểu của chúng tôi, du lịch danh nhân văn hóa là loại hình du lịch tìm về cội nguồn cũng như dấu chân hoạt động của một danh nhân tiêu biểu nào đó.
Nổi bật trong loại hình du lịch này phải kể đến tỉnh Vĩnh Long- vùng đất “địa linh nhân kiệt”, quê hương của nhiều danh nhân danh tướng nổi tiếng, Vĩnh Long có nhiều tiềm năng phát triển du lịch gắn với tìm hiểu các di tích danh nhân trên địa bàn. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long, 6 tháng đầu năm 2024, trên 238.000 lượt khách tham quan các di tích và phòng truyền thống trên địa bàn tỉnh, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu tưởng niệm cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng đón 35.400 lượt, khu lưu niệm Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đón 45.000 lượt và khu lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đón hơn 1.000 lượt khách. Những con số này được dự báo là sẽ còn tăng trong thời gian tới, khi ngày càng nhiều công ty du lịch quan tâm, mở nhiều tour du lịch tại các điểm di tích này, như tour du lịch tham quan, học tập ngoại khóa tại khu tưởng niệm Phạm Hùng – khu du lịch Vinh Sang; hành trình về nguồn và tham quan du lịch sinh thái Đồng bằng sông Cửu Long với chủ đề “Vĩnh Long – khu tưởng niệm Phạm Hùng – khu du lịch Vinh Sang”; chương trình du lịch sinh thái sông nước miệt vườn và tham quan khu tưởng niệm, nhà thân sinh cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng…
1.1.4. Du lịch văn hóa- lịch sử
Có thể hiểu du lịch văn hóa-lịch sử bao gồm tất cả những chuyến du lịch thăm lại những khu di tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà của các anh hùng lịch sử dân tộc, tham quan nơi làm việc của các vĩ nhân… Theo thống kê năm 2013 chỉ tính riêng về các di tích, trong số khoảng 40.000 di tích là các đình chùa, lăng, miếu trong đó có 2741 di tích, thắng cảnh được xếp hạng quốc gia, gồm có 1322 di tích lịch sử, 1263 di tích kiến trúc nghệ thuật, 54 di tích khảo cổ và 102 di tích thắng cảnh. [3] Du khách còn có thể thăm viếng 117 bảo tàng lịch sử văn hóa, trong đó có những bảo tàng quan trọng như: Bảo tàng Dân tộc học, bảo tàng Lịch sử Việt Nam, bảo tàng Văn hóa Chăm ở Đà Nẵng… Mỗi di tích có một lý do riêng với biết bao câu chuyện liên quan cùng các nhân chứng, kỷ vật. Tất cả những cái đó nếu được khai thác tốt sẽ trở thành sản phẩm du lịch đáng kể.
1.1.5. Tuyến du lịch
1.1.5.1. Khái niệm Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Theo Luật Du lịch Việt Nam điều 4 và điều 25, tuyến du lịch là:“Lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”.
Do vậy có thể hiểu tuyến du lịch là sự tập hợp các điểm thu hút, các hệ thống cơ sở cung ứng dịch vụ trên tuyến hành trình tạo nên các chương trình du lịch phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước.
Các tuyến du lịch được xem là sản phẩm du lịch đặc biệt dựa vào các điểm hút, các cửa khẩu kinh tế quan trọng; hệ thống đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy; hệ thống đô thị; các cơ sở lưu trú cũng như giá trị đặc biệt của các điểm du lịch để hình thành nên các chương trình du lịch theo tuyến du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong vùng, trong nước và quốc tế. Do vậy, có thể xem tuyến du lịch là đơn vị tổ chức không gian du lịch được tạo bởi nhiều điểm du lịch khác nhau về quy mô, chức năng, sự đa dạng của các đối tượng du lịch khác nhau trên một lãnh thổ.
Cơ sở tiền đề cho tuyến du lịch là điểm du lịch và hệ thống giao thông bao gồm tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hàng không.
Về mặt lãnh thổ trong một số quốc gia, tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng hoặc tuyến liên vùng. Trong một tỉnh có tuyến du lịch nội tỉnh và tuyến du lịch ngoại tỉnh.
1.1.5.2. Điều kiện để công nhận là tuyến du lịch
Tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch quốc gia:
- Nối các khu du lịch, điểm du lịch, trong đó có khu du lịch, điểm du lịch quốc gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế;
- Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến.
Tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch địa phương:
- Nối các khu du lịch, điểm du lịch trong phạm vi địa phương.
- Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến.
1.1.6. Chương trình du lịch Outbound Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
1.1.6.1. Khái niệm
Chương trình du lịch là sản phẩm chủ yếu của các doanh nghiệp lữ hành, đồng thời đây cũng là sản phẩm cạnh tranh với các đối thủ kinh doanh. Mỗi một chương trình du lịch là một sản phẩm độc đáo và có những đặc thù của riêng nó. Tuy nhiên đến nay trong các nghiên cứu về du lịch thì chưa có định nghĩa thống nhất về chương trình du lịch.
Theo David Wright định nghĩa trong cuốn tư vấn về nghề nghiệp lữ hành:“Chương trình du lịch là các dịch vụ trong lộ trình du lịch thông thường bao gồm giao thông vận tải, nơi ăn ở, sự di chuyển và tham quan ở một hoặc nhiều hơn các quốc gia, vùng, lãnh thổ hay thành phố. Sự phục vụ này phải được đăng ký đầy đủ hoặc hợp đồng trước với một doanh nghiệp lữ hành. Khách du lịch phải thanh toán đầy đủ trước khi các dịch vụ được thực hiện.”
Theo quy định về du lịch lữ hành trọn gói của các nước liên minh Châu Âu (EU) và hội lữ hành của Vương quốc Anh thì cho rằng: “Chương trình du lịch là sự kết hợp được sắp xếp từ trước của ít nhất hai trong số các dịch vụ nơi ăn ở, các dịch vụ lữ hành khác sinh ra từ dịch vụ giao thông, nơi ăn ở và nó được bán với mức giá gộp. Thời gian của chương trình nhiều hơn 24 giờ”.
Theo Gagnon và Ociepka trong cuốn phát triển nghề lữ hành tái bản lần thứ VI lại cho rằng: “Chương trình du lịch là một sản phẩm lữ hành được xác định mức giá trước, khách có thể mua lẻ hoặc mua theo nhóm và có thể tiêu dùng riêng lẻ hoặc tiêu dùng chung với nhau. Một chương trình du lịch có thể bao gồm và theo các mức độ chất lượng khác nhau của bất kỳ hoặc tất cả các dịch vụ vận chuyển như: hàng không, đường thủy, đường sắt, nơi ăn ở, tham quan và vui chơi giải trí”.
Theo Luật Du lịch (điều 4) định nghĩa:“Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi”.
Do vậy, chương trình du lịch có thể hiểu là những nguyên mẫu, để căn cứ vào đó người ta tổ chức các chuyến du lịch với mức giá đã được xác định trước, nội dung của chương trình thể hiện lịch trình chi tiết các hoạt động từ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, tham quan… Mức giá của chương trình bao gồm hầu hết các dịch vụ hàng hóa phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình.
Chương trình du lịch Outbound là hoạt động du lịch bao gồm du lịch quốc tế và du lịch nội địa. Trong đó du lịch quốc tế bao gồm du lịch đón khách quốc tế (Du lịch inbound) và du lịch gửi khách quốc tế (Du lịch outbound).
Trong dó, du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Ở hình thức này khách phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Bản thân du lịch quốc tế được phân thành: Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Du lịch quốc tế chủ động: Là hình thức du lịch của những người từ nước ngoài đến một quốc gia nào dó và tiêu ngoại tệ ở đó.
- Du lịch quốc tế thụ động: Là hình thức du lịch của công dân một quốc gia nào đó và của những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó di ra nước khác du lịch và trong chuyến đi ấy họ đã tiêu tiền kiếm ra tại đất nước cư trú.
Trong cuốn nhập môn khoa học du lịch của tác giả Trần Đức Thanh có định nghĩa về du lịch outbound như sau:“Du lịch outbound (hay còn gọi là du lịch gửi khách) là loại hình du lịch quốc tế phục vụ và tổ chức đưa khách từ trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch ở nước ngoài”.
Trong một số tài liệu Tiếng Việt có liên quan đến du lịch trước đây, du lịch gửi khách còn được gọi là du lịch bị động.
Có thể thấy có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về chương trình du lịch. Tuy nhiên, có một điểm chung thống nhất giữa các chương trình du lịch chính là nội dung của các chương trình du lịch, còn điểm tạo nên sự khác biệt xuất phát từ giới hạn, những đặc điểm và phương thức tổ chức các chương trình du lịch.
Chương trình du lịch là sự kết hợp nhiều thành phần và là yếu tố cần thiết đối với sự hoạt động có hiệu quả của công nghệ du lịch trên toàn thế giới.
Chương trình du lịch cũng đóng góp đáng kể đối với nền kinh tế của một đất nước, một vùng nơi mà chương trình đó được thực hiện. Ngoài ra, các chương trình du lịch còn là nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho một quốc gia.
Chuyến Du lịch (tour): Theo quy định của Tổng cục Du lịch chuyến du lịch là chuyến đi được chuẩn bị trước bao gồm tham quan một hay nhiều điểm du lịch và quay trở về nơi khởi hành. Chuyến du lịch thông thường có các dịch vụ về vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan và các dịch vụ bổ sung khác.
Có sự khác biệt giữa một chuyến du lịch và một chương trình du lịch. Đó là một chuyến du lịch phải có chương trình du lịch, nhưng một chương trình du lịch không chỉ tổ chức một lần, một chuyến. Nội dung cơ bản của chương trình phải thể hiện được lịch trình hoạt động chi tiết của các buổi, các ngày có trong chương trình, mức giá là mức giá trọn gói của hầu hết các dịch vụ. [31,tr26] Chương trình du lịch là lịch trình của chuyến du lịch (lịch trình từng buổi, từng ngày), các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi.
Nhìn chung, chương trình du lịch gồm các dịch vụ trong lịch trình của khách đã được lên kế hoạch đặt trước và được khách du lịch thanh toán đầy đủ. Chương trình du lịch được chia làm 2 loại cơ bản là: Tour trọn gói và Tour địa phương.
Tour trọn gói (Package tour): Là các dịch vụ được cung cấp trong lịch trình của khách du lịch thường bao gồm việc vận chuyển, lưu trú, đi lại và tham quan ở một hay nhiều nước, không giới hạn đối với khu vực địa lý hay các thành phần và thường kéo dài từ hai ngày trở lên. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Tour địa phương (Local tour): Là một chương trình được cung cấp cho khách du lịch thường bao gồm: Dịch vụ vận chuyển, vé vào cửa và thuyết minh hướng dẫn tại điểm đến. Tham quan thường không kéo dài hơn 1 ngày, bị giới hạn về mặt địa lý thường là tại một điểm du lịch, một thành phần và vùng lân cận.
Từ những định nghĩa và nhận xét nêu trên ta có thể rút ra một vài đặc trưng tiêu biểu của chương trình du lịch:
- Chương trình du lịch như là văn bản hướng dẫn việc thực hiện các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu khi đi du lịch của con người theo một không gian, thời gian xác định trước.
- Mỗi chương trình du lịch phải có ít nhất một dịch vụ đặc trưng và được sắp xếp theo trình tự nhất định theo thời gian, không gian và làm tăng giá trị của chúng.
- Giá cả đưa ra phải là giá tổng hợp các dịch vụ chính có trong chương trình và phải ghi rõ giá đó đã bao gồm những dịch vụ nào.
- Chương trình du lịch phải được bán trước và khách du lịch phải thanh toán trước khi chuyến du lịch được thực hiện.
Một chương trình du lịch có thể sử dụng để tổ chức nhiều chuyến du lịch vào các thời điểm kế tiếp nhau. Nhưng cũng có chương trình du lịch chỉ sử dụng một hoặc vài ba chuyến với khoảng thời gian xa nhau. Do đó, cần có sự phân biệt giữa chuyến du lịch và chương trình du lịch. Một chương trình du lịch này có thể có nhiều chuyến du lịch được thực hiện với số khách tham gia đông. Nhưng một chương trình du lịch khác chỉ thực hiện được một vài chuyến với một số lượng khách tham gia ít. Vì vậy có rất nhiều loại chương trình du lịch khác nhau, cần phải phân biệt chúng để đảm bảo tính hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp lữ hành. Nếu so sánh chương trình du lịch như một vở kịch thì chuyến du lịch như là xuất diễn của vở kịch đó.
Ngoài ra nếu ta dựa trên cơ sở lý thuyết về bậc thang nhu cầu của Maslow, có thể chia động cơ du lịch thành 4 nhóm:
- Động cơ đáp ứng nhu cầu tự nhiên: Như nghỉ ngơi, thể thao và các nhu cầu có liên quan đến sức khỏe của con người. Động cơ này khá phổ biến
- Động cơ văn hóa: Được thể hiện qua nguyện vọng của du khách muốn được tìm hiểu, học hỏi về đất nước đến du lịch, về nghệ thuật, tôn giáo, văn hóa,…
- Động cơ giao tiếp: Trong đó có nhu cầu làm quen với đời sống dân cư địa phương, trốn tránh môi trường thường nhật.
- Động cơ phô bày vị thế: Thể hiện thông qua nhu cầu muốn được mọi người xung quanh đề cao, quan tâm, thể hiện quyền lực…
Qua đây có thể nhận thấy ba trong bốn nhóm động cơ đi du lịch của con người có liên quan đến việc thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, càng khẳng định tầm quan trọng của các chương trình du lịch văn hóa.
1.1.6.2. Phân loại các chương trình du lịch.
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Chương trình du lịch chủ động: Là loại chương trình do các công ty lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng các chương trình, ấn định ngày thực hiện, sau đó mới tổ chức bán và thực hiện chương trình. Loại chương trình này thường thích hợp với các công ty lữ hành lớn, có thị trường khách tương đối ổn định.
Chương trình du lịch bị động: Là chương trình du lịch do khách tự đến với công ty lữ hành và đưa ra các yêu cầu của họ. Trên cơ sở đó công ty lữ hành thực hiện việc xây dựng các chương trình. Chương trình được thực hiện khi có sự thỏa thuận và nhất trí của cả hai bên. Đối với các chương trình này thường ít tính mạo hiểm nhưng công ty lữ hành thường bị thụ động.
Chương trình du lịch kết hợp: Là sự kết hợp của hai loại trên. Các công ty lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng các chương trình du lịch nhưng không ấn định ngày thực hiện trước. Thông qua các hoạt động quảng bá mà khách du lịch hoặc công ty gửi khách sẽ tìm đến công ty trên cơ sở các chương trình sẵn có, công ty và khách sẽ tiến hành thỏa thuận và sau đó thực hiện chương trình. Loại chương trình này tương đối phù hợp với các công ty lữ hành du lịch có thị trường khách không ổn định và dung lượng thị trường không lớn. Đa phần các công ty lữ hành du lịch ở Việt Nam đều sử dụng chương trình du lịch này.
Căn cứ vào mức giá
- Giá trọn gói: Bao gồm hầu hết giá phát sinh trong quá trình du lịch. Đây là hình thức chủ yếu cho các chương trình du lịch do các công ty lữ hành tổ chức.
- Giá bao gồm các dịch vụ cơ bản: Bao gồm các dịch vụ chủ yếu trong chuyến đi
- Giá tự chọn: Khách du lịch có thể tự chọn giá ở các cấp độ chất lượng khác nhau, phạm vi khác nhau phụ thuộc vào giá của khách sạn, của các phương tiện vận chuyển, chất lượng của các hàng hóa cụ thể. Nó ít được sử dụng vì phức tạp trong công tác tổ chức đối với một chương trình du lịch.
- Căn cứ vào nội dung và mục đích chuyến đi: Gồm các chương trình du lịch nghỉ ngơi giải trí, chữa bệnh, chuyên đề, thể thao, mạo hiểm…
- Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi: Cá nhân hoặc theo đoàn, ngắn ngày ( ≤7 ngày) hoặc dài ngày, Weekend tour, City tour.
- Căn cứ vào phương tiện vận chuyển: Du lịch ôtô, du lịch tàu thủy, du lịch tàu hỏa, du lịch xe đạp…
1.1.6.3. Đặc điểm của chương trình du lịch.
Tính vô hình: Được biểu hiện ở chỗ không thể cân đong đo đếm, sờ, nếm và không thể kiểm tra lựa chọn để đánh giá chất lượng trước khi tiêu dùng sản phẩm, phải tiêu dùng sản phẩm chương trình du lịch mới đánh giá được chất lượng của nó, sau khi tiêu dùng có được sự trải nghiệm chứ không phải sở hữu nó. Bản thân chương trình du lịch không tồn tại dưới dạng một sự vật mang tính hữu hình mà thường được thể hiện dưới dạng văn bản và các hành động, dịch vụ kèm theo. Chương trình du lịch cũng là một sản phẩm của hoạt động kinh doanh lữ hành, do đó mà sản phẩm này cũng mang đặc trưng chung của hàng hóa dịch vụ như tính không lưu kho, không nhận biết được sản phẩm trước khi tiêu dùng và không chuyển quyền sở hữu…
Tính không đồng nhất: Các chương trình du lịch không giống nhau và không lặp lại về chất lượng ở những chuyến du lịch thực hiện khác nhau và cho các đối tượng khác nhau thậm chí cho cùng một đối tượng khách, vì chương trình du lịch một mặt phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố mà bản thân các doanh nghiệp lữ hành không kiểm soát được đó là các nhà cung ứng, các yếu tố trong môi trường vĩ mô, đặc điểm tâm lý cá nhân và xã hội của khách, phụ thuộc vào trình độ quản lý chất lượng của đội ngũ nhân viên, đặc biệt là hướng dẫn viên, do đó khi đánh giá chất lượng chương trình du lịch gặp phải rất nhiều khó khăn.
Tính phụ thuộc vào uy tín: Thực hiện một chương trình du lịch là thực hiện việc tiêu dùng các dịch vụ của các nhà cung cấp, chất lượng chương trình du lịch phụ thuộc rất nhiều vào các nhà cung cấp, một chương trình du lịch hội tụ nhiều nhà cung cấp nổi tiếng và có uy tín thì chương trình du lịch đó sẽ có sức hấp dẫn khá cao, còn nếu không có các nhà cung cấp có uy tín thì sự hấp dẫn du khách là rất ít. Mặt khác, chất lượng của chương trình du lịch không có sự bảo hành về thời gian, không thể trả lại dịch vụ vì tính vô hình của chúng. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Tính dễ bị sao chép và bắt chước: Vì kinh doanh chương trình du lịch ít đòi hỏi kỹ thuật tinh vi, hiện đại, dung lượng vốn ban đầu thấp. Do đó việc sao chép rất dễ thực hiện, dẫn đến một thực tế chung hiện nay là các doanh nghiệp thường sao chép sản phẩm của nhau khiến các sản phẩm của doanh nghiệp không có sự khác biệt. Đặc biệt ở Việt Nam các chương trình du lịch chưa được bảo vệ bản quyền tác giả.
Tính thời vụ: Chương trình du lịch có tính thời vụ cao và luôn luôn bị biến dạng bởi quá trình sản xuất, tiêu dùng và rất nhạy cảm đối với các yếu tố trong môi trường kinh doanh. Tính thời vụ của chương trình du lịch còn thể hiện ở chỗ, cùng một chương trình du lịch nhưng thực hiện vào những thời điểm khác nhau, sẽ cho những kết quả khác nhau, hiệu quả thực hiện cũng khác nhau. Mỗi loại chương trình du lịch cũng có thời vụ khai thác khác nhau. Các chương trình du lịch rất nhạy cảm với những thay đổi của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, ví dụ như các yếu tố khí hậu, “mốt” đi du lịch của người dân hay tài nguyên du lịch tự nhiên tại điểm đến.
Tính khó bán: Tính khó bán của chương trình du lịch là sự kết hợp của các đặc tính trên. Do tính thực hiện mất nhiều thời gian, chi phí và cảm giác rủi ro cho khách hàng như rủi ro về chức năng của sản phẩm, rủi ro về tài chính, rủi ro về tâm lý, rủi ro về thân thể, về thời gian và xã hội…. Chính vì vậy doanh nghiệp lữ hành gặp rất nhiều khó khăn khi giới thiệu và tổ chức bán chương trình du lịch.
- Chương trình du lịch cũng chính là phương tiện chính nối du khách với điểm du lịch.
1.1.6.4. Vai trò của chương trình du lịch
Chương trình du lịch đóng vai trò quan trọng đối với địa điểm du lịch, khách du lịch và doanh nghiệp lữ hành.
Đối với địa điểm du lịch
- Tạo ra những cơ hội việc làm cho lao động chuyên và không chuyên trong ngành du lịch tức là nguồn lao động trực tiếp và gián tiếp của ngành du lịch.
- Mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia.
- Khuyến khích việc bảo tồn di sản và truyền thống văn hóa ở điểm đến. Khi các di sản và truyền thống văn hóa tại điểm đến có sức hút đối với khách du lịch thì lượng khách du lịch đổ về đây tham quan, nghiên cứu mô hình chung tạo ra thu nhập cho điểm đến và cũng đem đến một nguồn vốn dồn dào để duy trì, tôn tạo và xây dựng các di sản cũng như truyền thống văn hóa địa phương tại điểm đến.
- Tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước và địa phương.
Đối với du khách Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Mang đến cho du khách những sự lựa chọn thông qua sự kết hợp giữa các tour du lịch địa phương và tour du lịch trọn gói.
- Tạo cơ hội tiếp xúc, học hỏi về văn hóa, di sản lịch sử, các di tích, thắng cảnh….
- Tạo cơ hội giao lưu, tiếp xúc với những người dân địa phương, mở rộng sự hiểu biết, tăng cường tinh thần đoàn kết, thân ái giữa con người với con người. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh du lịch, các trang web về du lịch cũng như hoạt động kinh doanh du lịch trực tuyến (e-tourism) được ứng dụng ngày càng sôi động đã và đang rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian giữa các vùng miền trong một quốc gia với nhau, việc khám phá và tìm hiểu các giá trị đặc trưng, tiêu biểu của một quốc gia, lãnh thồ ngày càng trở nên dễ dàng và thuận tiện.
Đối với doanh nghiệp lữ hành
Chương trình du lịch là sản phẩm chủ yếu và đặc trưng của doanh nghiệp lữ hành, nó góp phần khẳng định thương hiệu của doanh nghiệp. Đồng thời với một chương trình doanh nghiệp lữ hành có thể tổ chức nhiều lần trong những khoảng thời gian khác nhau, lợi nhuận từ một chương trình du lịch có tỉ lệ tương đối cao. Nếu khách đi theo đoàn lớn thì lợi nhuận đạt được cho chuyến đi là rất lớn.
1.1.7. Điểm đến du lịch
Điểm đến du lịch là một khái niệm rất rộng trong hoạt động kinh doanh du lịch, nó không chỉ bao gồm các tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn mà bên cạnh đó nó còn có các hoạt động kinh doanh du lịch đem lại hiệu quả kinh tế cho cư dân địa phương và quốc gia. Không những thế điểm đến du lịch còn là nơi thực hiện “xuất khẩu tại chỗ” các dịch vụ, hàng hóa của địa phương với mục đích lợi nhuận và tạo công ăn việc làm cho cư dân bản địa.
Theo Trần Đức Thanh thì:“Điểm đến du lịch là một nơi, một vùng hay một đất nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với cư dân ngoài địa phương và có những thay đổi nhất định trong kinh tế do hoạt động du lịch gây nên”.
Ngoài ra cũng cần phải phân biệt rõ điểm hấp dẫn du lịch (Atractive site) và điểm đến du lịch (Destination). Theo Trần Thị Minh Hòa thì:“Điểm hấp dẫn du lịch ( Atractive site) là những điểm có tài nguyên du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách”. Tuy nhiên cũng theo tác giả Trần Thị Minh Hòa thì điểm khác biệt lớn nhất giữa điểm hấp dẫn du lịch và điểm đến du lịch đó là ngoài những yếu tố đã nêu ở điểm hấp dẫn du lịch thì điểm đến còn cần phải có các“hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững”.
Trên phương diện địa lý có thể thấy, điểm đến du lịch còn được hiểu là phạm vi không gian lãnh thổ của một quốc gia, một vùng, một địa phương mà du khách thực hiện hành trình du lịch của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu mục đích chuyến đi. Điểm đến du lịch có thể phân biệt thành hai loại như sau :
Điểm đến trung gian hoặc là điểm thăm quan là địa điểm mà du khách dành thời gian ngắn để nghỉ ngơi qua đêm hoặc viếng thăm một điểm hấp dẫn.
Điểm đến cuối cùng: Thường là điểm xa nhất tính từ nơi cư trú thường xuyên của du khách đến điểm cuối cùng trong chuyến đi du lịch của mình. Đây cũng là điểm mà du khách dự định tiêu dùng phần lớn thời gian của mình trong chuyến đi du lịch.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc đã được Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam ( VUFO) phối hợp với hội hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc tổ chức dưới tên gọi “Du lịch đỏ- Theo dấu chân Bác Hồ”. Đây là một hoạt động thiết thực được tổ chức từ ngày 17 đến 22/5/2024 tại Quảng Tây, Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm 125 ngày sinh
Chủ tịch Hồ Chí Minh và 65 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam- Trung Quốc. Chương trình này đã góp phần tuyên truyền giáo dục và tăng cường tình hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước VIệt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay, nhất là nhân dân các tỉnh hai bên biên giới. Trong chương trình này, đoàn đại biểu phía Việt Nam đã được đến những nơi Bác Hồ đã từng đi qua và có nhiều kỷ niệm về Bác thuộc các thành phố như Phòng Thành Cảng, Quế Lâm, Bách Sắc, Sùng Tả và Khu tự trị dân tộc Choang, tỉnh Quảng Tây.
Thông qua các hoạt động này sẽ giúp các đại biểu hiểu biết sâu sắc hơn về quá trình hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất nước Trung Quốc, góp phần củng cố và tăng cường mối quan hệ hữu nghị heieur biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt nam với nhân dân Trung Quốc.
Với hoạt động “Du lịch đỏ- Theo dấu chân Bác Hồ” được Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam phối hợp với Hội Hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc đã phần nào cho chúng ta cái nhìn khái quát về một chương trình du lịch lịch sử- văn hóa có sự kết hợp giữa các di tích lịch sử gắn liền với Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây, Trung Quốc với các điểm tham quan thắng cảnh tại điểm đến. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp tác giả bước đầu hình thành và xây dựng các điểm đến trong “chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc”.
Ngoài ra, ở trong nước nhiều chương trình du lịch gắn liền với các di tích danh nhân lịch sử như Vĩnh Long với khu tưởng niệm cố Thủ tướng Văn Kiệt, khu lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa…
Ở Hà Nội, Saigontourist đang cho xây dựng tour du lịch về danh nhân văn hóa.
Qua đó, có thể thấy rằng chương trình du lịch gắn liền với danh nhân văn hóa là một chương trình hay và độc đáo. Tuy nhiên để xây dựng được chương trình này vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng điểm đến và đối tượng khách.
1.3. Nguyên tắc xây dựng một chương trình du lịch mới
1.3.1. Nguyên tắc quy mô môi trường
Khi xây dựng, thiết kế tuyến du lịch, chương trình du lịch mới sẽ tuân theo 6 nguyên tắc cơ bản sau:
- Phân tích quy mô môi trường (môi trường kinh tế- văn hóa- xã hội, chính trị, công nghệ, sinh thái).
- Phân tích thị trường.
- Phân tích tình hình cạnh tranh.
- Phân tích nguồn lực (nhận dạng những cơ hội).
- Khuyến khích các chiến lược phát triển (tư vấn các định hướng chính).
- Nguyên tắc định giá. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Phân tích quy môi trường bao gồm việc nghiên cứu môi trường hiện tại và môi trường có thể thấy được trong tương lai gần, các xu hướng liên quan cũng như ảnh hưởng của chúng đến ngành du lịch. Phân tích quy mô môi trường bao gồm: phân tích môi trường kinh tế; những yếu tố kinh tế có thể ảnh hưởng tới quyết định đi du lịch là; tỷ giá hối đoái; tình trạng lạm phát; thuế; sự tăng trưởng và phát triển kinh tế; hệ nằm ngoài sự kiểm soát của công ty du lịch. Tuy nhiên những thông tin về tình hình ổn định chính trị, chiến tranh, khủng bố, nội chiến, thủ tục cấp phát visa… tại địa điểm du lịch là rất quan trọng trong chiến lược phân tích môi trường của nhà thiết kế tour và việc ra quyết định đi du lịch của du khách.
Phân tích môi trường công nghệ: Một nhà thiết kế chương trình du lịch phải biết nắm bắt và tận dụng những thành tựu khoa học công nghệ trong việc thu hút sự chú ý của khách du lịch và bán sản phẩm tour.
Phân tích môi trường sinh thái: Sự gia tăng nhận thức về vấn đề môi trường toàn cầu dẫn đến việc tăng áp lực lên các nhà phát triển du lịch để làm sao du lịch phải có trách nhiệm và phát triển bền vững. Ngày nay bảo vệ môi trường là một nhân tố quan trọng trong việc lựa chọn đi du lịch và các hoạt động trong chuyến du lịch.
1.3.2. Phân tích thị trường
Phân tích thị trường bao gồm phân tích thị trường hiện tại, phân tích thị trường tiềm năng và lập kế hoạch cho sản phẩm. Theo các chuyên gia trong ngành du lịch thì phân tích thị trường bao gồm 3 nhiệm vụ chính:
- Đo lường và dự báo thị trường: Là xác định số lượng du khách hiện tại và trong tương lai cho một sản phẩm tour.
- Xác định khúc đoạn thị trường: Là xác định những khúc đoạn chính tạo nên sản phẩm của thị trường tour nhằm lựa chọn được thị trường trọng điểm tốt nhất.
- Phân tích khách hàng: Là xác định đặc điểm của du khách, những nhu cầu, thị hiếu, sự cảm nhận, hành vi của họ nhằm thay đổi sản phẩm tour cho phù hợp.
1.3.3. Phân tích tình hình cạnh tranh
Phân tích tình hình cạnh tranh phải đạt được các mục tiêu sau:
- Xác định được nhóm khách có khả năng sinh lời mà được phục vụ bởi các đối thủ cạnh tranh chứ không phải bởi doanh nghiệp.
- Xác định được những lợi thế cạnh tranh độc quyền của doanh nghiệp mà các đối thủ cạnh tranh không có.
- Những yếu điểm trong chiến lược marketing của đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể khai thác được.
- Những phân tích về môi trường vĩ mô, thị trường, tình hình cạnh tranh sẽ giúp cho nhà thiết kế tour xác định được xu hướng và những thay đổi của ngành du lịch hiện tại cũng như trong việc ra quyết định đi du lịch của khách. Từ đó tìm ra những cơ hội tốt và định hướng được những hiểm họa trong kinh doanh.
1.3.4. Phân tích nguồn lực. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Mục tiêu của phân tích nguồn lực là nhằm đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của chính doanh nghiệp cũng như của địa điểm du lịch. Từ những kết quả của sự phân tích, nhà điều hành tour phải tận dụng và phát huy được những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu của doanh nghiệp song song với việc khai thác các điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh.
1.3.5. Nguyên tắc định giá.
Một sản phẩm tour du lịch có thể được định giá theo 4 nguyên tắc:
- Định giá theo chi phí.
- Định giá theo cạnh tranh.
- Định giá theo nhu cầu.
- Định giá cho sản phẩm mới: định giá cao và định giá thấp.
1.3.6. Khuyến cáo các chiến lược phát triển và tư vấn phát triển.
Một chương trình du lịch có thể được xác định và thiết lập các chiến lược phát triển cụ thể phụ thuộc vào thời điểm tung ra thị trường cũng như tùy thuộc vào địa điểm thực hiện chương trình. Các ý kiến tư vấn phát triển được xác định là giai đoạn điều chỉnh của một chương trình du lịch sau khi đã bán cho khách và nhận các thông tin phản hồi.
Các cơ quan nghiên cứu, các cá nhân doanh nghiệp trong quá trình tìm hiểu, kinh doanh cần đưa ra các khuyến cáo với các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp hay cộng đồng dân cư về chiến lược phát triển du lịch của địa phương hay tư vấn chiến lược phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp để khai thác và phát huy tối ưu tiềm năng của các địa phương, các doanh nghiệp.
1.3.7. Một số điểm cần chú ý khi xây dựng chương trình du lịch
Những nguyên tắc chủ yếu khi xây dựng chương trình du lịch là:
- Chương trình phải có tốc độ thực hiện hợp lý, không nên quá nhiều gây mệt mỏi. Trừ những trường hợp bắt buộc, việc di chuyển phải phù hợp với khả năng chịu đựng về tâm lý, sinh lý của từng loại du khách, cần có thời gian nghỉ ngơi thích hợp. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Đa dạng hóa các loại hình hoạt động, tăng cường các trải nghiệm trong tiêu dùng dịch vụ tránh sự đơn điệu tạo cảm giác nhàm chán cho du khách.
- Chú ý các hoạt động đón tiếp đầu tiên và các hoạt động tiễn khách khi chương trình kết thúc.
- Chú ý các hoạt động vào buổi tối trong chương trình. Trong những điều kiện cho phép có thể đưa ra các chương trình tự chọn cho du khách. Trong một khoảng thời gian (một ngày, một buổi) nào đó của chương trình, khách có thể tự chọn một trong các chương trình được tổ chức. Nói chung, chương trình tự chọn thường được tính vào trong mức giá trọn gói của cả chương trình. Tuy nhiên, cũng có những chương trình tự chọn ( thường kéo dài trong một ngày) tách rời khỏi nội dung của chương trình đã mua trước Khách du lịch khi mua các chương trình tự chọn này mặc nhiên là họ đã kéo dài thời gian du lịch.
- Phải có sự cân đối giữa khả năng về thời gian, tài chính,… của khách với nội dung và chất lượng của chương trình du lịch, đảm bảo sự hài hòa giữa mục đích kinh doanh của công ty với yêu cầu du lịch của du khách.
Tóm lại, một tuyến hành trình hoàn chỉnh là khi đọc lên du khách đã có thể cảm nhận được sự lôi cuốn, hấp dẫn và yên tâm khi mọi chi tiết dù là nhỏ nhất cũng đã được cân nhắc để đảm bảo cho sự thành công của chuyến đi.
Sơ đồ 1.1. Hành vi mua chương trình của khách du lịch được thể hiện theo
1.4. Quy trình thiết kế một chương trình du lịch lịch sử- văn hóa trọn gói
1.4.1. Những điểm lưu ý khi xây dựng chương trình du lịch
Phù hợp với đặc điểm tiêu dùng.
- Chương trình du lịch phải có tốc độ hoạt động hợp lý.
- Chương trình du lịch phải có tính hấp dẫn.
- Chương trình phải có tính khả thi.
- Chương trình phải đúng mục đích lữ hành.
- Đa dạng hóa các loại hình hoạt động, tránh sự nhàm chán.
1.4.2. Quy trình xây dựng một chương trình du lịch lịch sử- văn hóa trọn gói.
Tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch trọn gói là các hoạt động đặc trưng và cơ bản của các doanh nghiệp lữ hành. Các chương trình có nội dung độc đáo, hấp dẫn, có mức giá hợp lý và tính khả thi cao đem lại lợi nhuận và uy tín cho các doanh nghiệp lữ hành. Chính vì lẽ đó, thị trường kinh doanh du lịch trọn gói bao giờ cũng sôi động và khốc liệt. Vì vậy khi xây dựng chương trình du lịch cần phải tuân theo các bước trong quy trình thiết kế chương trình du lịch sau đây:
- Nghiên cứu nhu cầu của thị trường ( khách du lịch).
- Nghiên cứu khả năng đáp ứng.
- Xác định khả năng và vị trí của doanh nghiệp lữ hành.
- Xây dựng mục đích, ý tưởng của chương trình du lịch.
- Quỹ giới hạn thời gian và mức giá tối đa.
- Xây dựng tuyến hành trình cơ bản, bao gồm những điểm du lịch chủ yếu, bắt buộc của chương trình.
- Xây dựng phương án vận chuyển.
- Xây dựng phương án lưu trú, ăn uống. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Những điều chỉnh nhỏ, bổ sung tuyến hành trình. Chi tiết hóa chương trình với những hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, giải trí.
- Xác định giá thành và giá bán của chương trình.
- Xây dựng những quy định của chương trình du lịch.
Tuy nhiên không phải bất cứ khi nào xây dựng một chương trình du lịch trọn gói phải lần lượt trải qua tất cả các bước nói trên. Những nhà xây dựng chương trình giàu kinh nghiệm là những người dựa trên những kiến thức về cung cầu du lịch, am hiểu tường tận nhu cầu, sở thích, thị hiếu của khách du lịch, có khả năng phát kiến ra những hình thức du lịch mới nội dung độc đáo dựa trên những hiểu biết về tài nguyên và các cơ sở kinh doanh du lịch.
1.4.3. Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhu cầu của khách du lịch với nội dung của chương trình du lịch (nhằm đảm bảo thỏa mãn mong đợi của khách)
Trong các ấn phẩm khoa học về du lịch người ta thừa nhận rằng, nếu xét trên tổng thể các nhu cầu của con người, về thực chất nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Do vậy, để có thể hiểu một cách tổng quát, đầy đủ nhu cầu du lịch trước hết chúng ta cần tìm hiểu xem thế nào là “nhu cầu” nói chung của con người.
Theo các chuyên gia tâm lý học, nhu cầu là cái tất yếu, tự nhiên, nó là thuộc tính tâm lý của con người là sự đòi hỏi tất yếu của con người để tồn tại và phát triển. Nếu được thỏa mãn sẽ gây cho con người những cảm xúc dương tính, trong trường hợp ngược lại sẽ gây nên những ấm ức, khó chịu ( xúc cảm âm tính). Từ trước tới nay, trong lĩnh vực tâm lý học có rất nhiều lý thuyết khác nhau nghiên cứu về nhu cầu của con người. Một trong số đó phải kể tới đó là lý thuyết Maslow. Theo “Lý thuyết về động lực của con người” nhà bác học nổi tiếng người Anh này đã đưa ra nhu cầu của người theo 5 thứ bậc như sau:
- Nhu cầu sinh lý ( Physiological needs): nhu cầu về thức ăn, nước uống, ngủ, nghỉ ngơi;
- Nhu cầu về an toàn, an ninh cho tính mạng ( safety, securtiy, freedom from fear and anxiety);
- Nhu cầu về hòa nhập và tình yêu ( Belongging and love-affcetion, giving and receiving love);
- Nhu cầu tự tôn trọng và được tôn trọng ( Self-esteeem and esteem from others);
- Nhu cầu hoàn thiện ( Self- actualization- personal growth, selffulfillment).
Sau đó, do sự phát triển không ngừng của xã hội nhu cầu của con người ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn và thang cấp bậc nhu cầu của con người cũng được bổ sung thêm 2 thang bậc cho phù hợp đó là nhu cầu về thẩm mỹ, cảm nhận cái đẹp (Aesthetics, appreciation of beauty) và nhu cầu hiểu biết (Knowledge and understanding).
Từ đó, có thể trên nền tảng của của bậc thang Maslow xây dựng khi những nhu cầu cơ bản của con người được đáp ứng họ sẽ có những nhu cầu cao hơn, không chỉ là “ăn ngon mặc đẹp”, mà họ còn muốn hướng tới sự hiểu biết về thế giới bên ngoài, là sự cảm nhận và hưởng thụ về cái đẹp bên ngoài cuộc sống. Những nhu cầu đó của con người cũng chính là động lực chủ yếu để các nhà xây dựng chương trình du lịch đưa ra các chương trình du lịch phù hợp với cuộc sống hiện tại của con người ngày nay.
Để nắm bắt được nhu cầu của khách du lịch các nhà xây dựng chương trình du lịch thường phải phân đoạn thị trường, lựa chọn các thị trường mục tiêu và tiến hành các hoạt động điều tra khảo sát và nghiên cứu thị trường. Thông thường các công ty lữ hành thường xác định mong muốn tiêu dùng của thị trường khách du lịch mục tiêu bằng cách:
- Nghiên cứu tài liệu: Tìm hiểu về thị trường thông qua các công trình nghiên cứu, ý kiến chuyên gia, sách báo, tạp chí, niên giám thống kê…. Đây là phương pháp ít tốn kém song đôi khi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và xử lý thông tin, mức độ tin cậy, phù hợp thường không cao. Đây được coi là nguồn dữ liệu thứ cấp.
- Thông qua các doanh nghiệp lữ hành gửi khách và các chuyến du lịch làm quen: Hai doanh nghiệp lữ hành (gửi khách và nhận khách) sẽ trao đổi các đoàn chuyên gia, đại biểu để tìm hiểu thị trường và xác định khả năng của mỗi bên cũng như triển vọng hợp tác. Điển hình là các chuyến du lịch giới thiệu hoặc làm quen, doanh nghiệp lữ hành sẽ có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch, hiểu rõ hơn nhu cầu sở thích của họ. Mặt khác sự trao đổi giữa hai bên sẽ làm cho các ý kiến đưa ra có sức thuyết phục hơn. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Các hình thức như khảo sát trực tiếp bằng cách phỏng vấn, phiếu trưng cầu ý kiến, thuê các công ty marketing.
Ngoài ra khi xây dựng một chương trình du lịch cũng cần phải chú ý tới nội dung tiêu dùng du lịch khá phong phú và đa dạng:
- Động cơ, mục đích chuyến đi của khách.
- Khả năng thanh toán nói chung và khả năng chi tiêu trong du lịch của khách.
- Thói quen sử dụng, thị hiếu thẩm mỹ và yêu cầu về chất lượng của các dịch vụ vận chuyển, lưu trú. Điều này phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội, lối sống và tập quán tiêu dùng của du khách ở mỗi thị trường mục tiêu.
- Các chỉ tiêu về thời gian dành cho du lịch, những thời điểm mà khách có thể đi du lịch. Có những điểm khác biệt lớn về quỹ thời gian giữa khách du lịch công vụ thường xuyên bận rộn, còn khách du lịch thuần túy quỹ thời gian chủ yếu để nghỉ ngơi, thư giãn và hưởng thụ.
- Các nội dung khác như tần số đi du lịch, thời gian trung bình cho một chuyến du lịch, các tuyến điểm du lịch ưa thích…
1.4.4. Nghiên cứu khả năng đáp ứng
Mối quan hệ này nhằm đảm bảo tính khả thi của chương trình du lịch. Khả năng đáp ứng thường thể hiện ở hai lĩnh vực cơ bản là giá trị tài nguyên và khả năng sẵn sàng đón tiếp phục vụ khách du lịch.
Để lựa chọn các giá trị của tài nguyên du lịch đưa vào khai thác, sử dụng trong các chương trình, người ta thường căn cứ vào những yếu tố sau đây:
- Giá trị đích thực của tài nguyên du lịch, uy tín của các tài nguyên, sự nổi tiếng của nó là những căn cứ ban đầu. Vấn đề cốt lõi là giá trị của tài nguyên du lịch phải thỏa mãn các nhu cầu nhận thức, thẩm mỹ, sức khỏe…. cho khách du lịch. Giá trị của tài nguyên du lịch chính là sự công nhận của xã hội. Bao gồm công nhận của UNESCO, của quốc gia, của địa phương và truyền miệng.
- Sự phù hợp của giá trị tài nguyên du lịch đối với mục đích của chương trình du lịch. Những giá trị mà tài nguyên du lịch đem lại phải đáp ứng những trông đợi của du khách và khoảng cách cũng như các yếu tố khác cần tương ứng với những giới hạn ràng buộc của khách du lịch.
- Điều kiện phục vụ đi lại, an ninh trật tự và môi trường tự nhiên xã hội của khu vực có tài nguyên du lịch.
Yếu tố cuối cùng trong khả năng cung ứng là cần dựa vào mối quan hệ của công ty lữ hành với các nhà cung ứng dịch vụ. Khi chương trình sử dụng dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, mua sắm… có thể lựa chọn những nhà cung ứng nào để có dịch vụ tốt nhất cho khách hàng và hưởng giá thành cạnh tranh nhất. Muốn như vậy, mối quan hệ của công ty lữ hành với các nhà cung cấp dịch vụ phải là mối quan hệ uy tín và hợp tác vì lợi ích của hai bên.
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa nội dung của chương trình du lịch với nhu cầu của khách
- Quan hệ (1): Các tuyến điểm có trong chương trình phải phục vụ cho mục đích đi du lịch của khách.
- Quan hệ (2): Độ dài của chương trình, về mặt lý thuyết không nên vượt quá khoảng thời gian rỗi trung bình dành cho du lịch của thị trường khách hàng mục tiêu. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Quan hệ (3): Thời điểm bắt đầu nghỉ ngơi của khách sẽ có ảnh hưởng đến quyết định tổ chức chuyến đi vào thời gian nào của nhà thiết kế và quyết định này có thể sau hoặc trước thời điểm nhưng không quá lâu.
- Quan hệ (4): Mức giá của chương trình phải làm sao phù hợp với thu nhập và khả năng chi tiêu cho các nhu cầu vui chơi, giải trí, đi du lịch…. của đa số khách.
- Quan hệ (5): Cơ cấu, số lượng, chủng loại các dịch vụ lưu trú, vận chuyển, ăn uống…. được lựa chọn với đặc điểm tập quán tiêu dùng của từng loại khách.
Tóm lại, phải cân nhắc các tác động dưới góc độ cụ thể và tổng hợp đối với việc xây dựng các chương trình du lịch trên cơ sở nhu cầu của khách du lịch vừa phải tạo ra những chương trình mà họ cần, vừa phải tạo ra những cái mới nhằm kích thích và tạo ra trí tò mò cho khách du lịch.
Tiểu kết chương 1.
Chương 1 của luận văn đã tổng quan được các vấn đề lý luận và cơ sở thực tiễn về du lịch lịch sử, chương trình du lịch và du lịch outbound. Ngoài ra đánh giá được các điều kiện cho việc xây dựng một chương trình du lịch outbound đến Quảng Tây (Trung Quốc). Đây cũng là những lý luận cơ bản làm tiền đề để triển khai các chương tiếp theo.
Hơn nữa, chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) là một chương trình du lịch lịch sử- văn hóa. Đây cũng là chương trình du lịch outbound có định hướng xây dựng dựa trên các điểm và hệ thống di tích lịch sử có liên quan đến Hồ Chí Minh tại Quảng Tây- Trung Quốc, chương trình này nhằm kết hợp giữa mục đích kinh tế và mục tiêu giáo dục lịch sử đồng thời có tác dụng củng cố hòa bình với nước láng giềng.
Đây còn là một chương trình du lịch được xây dựng trên một ý tưởng, nghiên cứu và phát triển mới chưa được hình thành ở các chương trình du lịch outbound truyền thống của nước ta khi sang Quảng Tây (Trung Quốc) du lịch. Điều này cũng tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, phát triển du lịch outbound. Tuy nhiên, để xây dựng được chương trình du lịch mới này yêu cầu chúng ta phải nhận thức được ý nghĩa và vai trò của các điểm đến trong hành trình du lịch này.
Ngoài ra, nếu chương trình này được áp dụng vào thực tiễn thì đây sẽ là một trong những chương trình du lịch góp phần rất lớn trong mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt- Trung trong giai đoạn hiện nay đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển du lịch của hai nước. Luận văn: Phát triển chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp chương trình du lịch theo dấu chân HCM