Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Điều kiện để xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Giới thiệu về Quảng Tây (Trung Quốc).
2.1.1. Vị trí địa lý, lịch sử- văn hóa Quảng Tây
Quảng Tây là giản xưng của “Quảng Nam Tây lộ” (广南西路) từ thời nhà Tống. “Quảng” 广 có nghĩa là “mở rộng“, và được đặt cho vùng này kể từ thời nhà Tây Tấn trở đi. “Quảng Tây” và tỉnh láng giềng Quảng Đông có tên gọi chung là “Lưỡng Quảng” (两广). Tên gọi tắt của khu tự trị này là “Quế” 桂, lấy theo tên Quế Lâm là một thành phố lớn trong khu tự trị.
2.1.1. 1. Vị trí địa lý
Nằm ở phía nam Trung Quốc, tọa độ Bắc là 20144′- 26023′, kinh độ Đông 104029′- 112013′. Quảng Tây giáp giới với Vân Nam phía Tây, Quý Châu phía Bắc, Hồ Nam phía Đông Bắc, và Quảng Đông phía Đông Nam. Quảng Tây có biên giới với Việt Nam phía Tây Nam và Vịnh Bắc Bộ phía Nam.
Diện tích đất liền là 237.600 km2 chiếm 2,5% diện tích đất liền của Trung Quốc, xếp ở vị trí số 9 trong tổng các tỉnh thành của Trung Quốc. Đây là vùng duyên hải duy nhất ở phía Tây của Trung Quốc.
Quảng Tây nằm ở rìa Đông Nam của cao nguyên Vân Nam, Quý Châu là khu vực có nhiều đồi núi, địa hình dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam, bốn bề được bao quanh là đồi núi, đồng bằng tập trung chủ yếu ở Trung bộ và Nam bộ của khu vực. Trong đó, diện tích của núi cao (độ cao trên 400m so với mực nước biển) chiếm 39.8%, núi đá vôi (cao 400m so với mực nước biển) chiếm 19.7%, vùng đồi núi nhấp nhô (200-400m, so với mực nước biển) chiếm 10.3%, vùng cao nguyên (dưới 200m so với mực nước biển) chiếm 6.3% , đồng bằng chiếm 20.6%, diện tích mặt nước chiếm 3.3%.
Hiện nay diện tích gieo trồng khoảng 4.000ha, chiếm 11% diện tích đất trồng, đất canh tác bình quân đầu người chiếm 0,82ha.
Quảng Tây thuộc khu vực đồi núi. Dãy Nam Lĩnh nằm ở ranh giới phía Đông Bắc với Việt Thành Lĩnh và Hải Dương Sơn là những nhánh ngắn của Nam Lĩnh. Gần vào giữa tỉnh hơn có các núi Đại Dao Sơn và Đại Minh Sơn. Về phía Bắc có các núi Đô Dương Sơn và Phượng Hoàng Sơn, còn ở vùng ranh giới Đông Nam có núi Vân Khai Đại Sơn. Đỉnh núi cao nhất Quảng Tây là Miêu Nhi Sơn thuộc dãy Việt Thành Lĩnh cao 2141 m. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Quảng Tây thuộc khu vực ven biển, diện tích vùng biển Vịnh Bắc Bộ chiếm 12.93 triệu km2. Đường bờ biển lục địa dài hơn 1500 km, có 697 đảo ven biển với tổng chiều dài hơn 600km đường bờ biển. Tổng diện tích hải đảo là 84km2. Trong đó đảo Vi Châu là hòn đảo ven biển lớn nhất của Quảng Tây với diện tích khoảng 28km2. Nhiều con sông cắt qua các dãy núi tạo thành các thung lũng. Hầu hết các sông này đều thuộc lưu vực sông Tây Giang trong số đó phải kể đến các con sông như sông Ly, sông Quế, sông Tầm, sông Úc, Sông Liễu, sông Ung, sông Hồng Thủy, Sông Hạ…
Quảng Tây có ưu thế về vị trí địa lý ven biển, ven sông và ven biên giới, nằm ở chỗ giao nhau giữa vùng kinh tế Hoa Nam, vùng kinh tế Tây Nam và vùng kinh tế ASEAN đây là con đường ra biển ngắn nhất cho vùng Tây Nam, thậm chí cả vùng Tây Bắc Trung Quốc, cũng là con đường trọng yếu liên kết Quảng Đông, Hồng Kông, Ma Cao với phía Tây. Đặc biệt là từ khi thành lập khu mậu dịch tự do Trung Quốc và ASEAN, Quảng Tây là đầu mối nối vùng Tây Nam, Hoa Nam, Trung Nam của Trung Quốc với thị trường ASEAN rộng lớn.
Quảng Tây có 21 cảng biển lớn nhỏ, trong đó có 5 cảng có năng lực cập bến từ một vạn tấn trở lên là Phòng Thành, Khâm Châu, Bắc Hải, Trân Châu và Thiết Sơn.
Những cảng biển Quảng Tây có những đặc điểm tự nhiên là nước sâu, tránh gió tốt, sóng nhỏ, gần các cảng biển khu vực Đông Nam Á, Hồng Kông và Ma Cao như cảng Bắc Hải cách cảng Hồng Kông 425 hải lý; cảng Khâm Châu cách cảng Singapore 1338 hải lý; cảng Phòng Thành cách cảng Hải Phòng 151 hải lý, cách Bangkok 1439 hải lý.
Quảng Tây cũng có ưu thế về biên giới với 8 huyện của Quảng Tây giáp với Việt Nam, hiện nay có 12 cửa khẩu biên giới, trong đó có 5 cửa khẩu cấp 1 quốc gia là Đông Hưng, Bằng Tường, Hữu Nghị Quan, Thủy Khẩu, Long Bang, ngoài ra còn có 25 điểm giao dịch giữa nhân dân vùng biên giới. Đường sắt Tương Quế (Hồ Nam – Quảng Tây) nối liền với hệ thống đường sắt của Việt Nam, theo đường liên vận nối từ Bắc Kinh đến Hà Nội.
Quảng Tây có 3 khu phong cảnh, 1 khu du lịch, 7 di tích lịch sử và 11 công viên cấp quốc gia. Nổi tiếng nhất có khu phong cảnh Ly Giang, đoạn từ Quế Lâm đến Dương Sóc, tập trung nhiều hang động đá vôi tuyệt đẹp, là một trong 4 danh thắng du lịch lớn nhất Trung Quốc. Ngoài ra, còn có các điểm du lịch nổi tiếng khác như: hố trời ở Bách Sắc, bãi biển Bắc Hải, rừng núi Đại Dao….
Ưu thế vị trí địa lý thuận lợi, làm nổi bật tác dụng giao thông của Quảng Tây. Hiện nay, hệ thống giao thông vận tải Quảng Tây hướng ra biển, hình thành việc lấy cảng biển làm đầu tàu, đường sắt Nam Ninh – Côn Minh làm nòng cốt, đường bộ, đường sông, đường hàng không và các công trình giao thông khác kết hợp với nhau một cách đồng bộ. Về đường sắt, Quảng Tây có 4 tuyến chính: Tương Quế (Hồ Nam – Quảng Tây), Nam Côn (Nam Ninh – Côn Minh), Kiềm Quế (Quý Châu – Quảng Tây), Tiêu Liễu (Tiêu Tác – Liễu Châu).
Về đường bộ, Quảng Tây có các tuyến quốc lộ cao tốc chính đi ngang như Trùng Khánh – Trạm Giang, Hoành Dương – Côn Minh, Nội Mông Cổ – Bắc Hải, Sán Vĩ – Thanh Thủy Hà…, cùng với các đường cao tốc khác ngang dọc trong phạm vi Quảng Tây như Nam Ninh – Quảng Châu, Nam Ninh – Hữu Nghị Quan, Quế Lâm – Ngô Châu …. Cảng đường sông có các cảng Nam Ninh, Quý Cảng, Ngô Châu. Đường hàng không có 5 cửa khẩu là Nam Ninh, Quế Lâm, Bắc Hải, Liễu Châu, Ngô Châu với hơn 100 tuyến bay nối các thành phố trong và ngoài nước. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Theo bước phát triển của hệ thống giao thông vận tải, Quảng Tây trở thành cầu nối giao lưu hợp tác giữa Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN, cũng như trở thành nơi đầu tư đầy hấp dẫn cho các doanh nghiệp.
2.1.1.2. Lịch sử Quảng Tây
Vùng đất này chính thức thuộc về Trung Quốc từ năm 214 trước công nguyên, khi quân đội nhà Tần xâm chiếm hầu hết miền Nam Trung Hoa ngày nay. Tên gọi “Quảng Tây” bắt nguồn từ thời nhà Tống, khi khu vực này được tổ chức thành một Lộ, gọi là Quảng Nam Tây Lộ. Vào cuối đời nhà Nguyên, vùng này được tổ chức thành một tỉnh với tên gọi được rút gọn thành “Quảng Tây”. Trong sáu thế kỷ tiếp theo, Quảng Tây vẫn là một tỉnh của Trung Quốc cho đến khi được chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chuyển thành một khu tự trị dành cho dân tộc thiểu số đông đảo ở đây.
Vào cuối đời nhà Thanh, ở huyện Quế Bình, miền Đông Quảng Tây, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Kim Điền vào ngày 11 tháng 1 năm 1851 khởi đầu của phong trào khởi nghĩa nông dân vĩ đại Thái Bình Thiên Quốc. Cửa ải Trấn Nam Quan (ngày nay là Hữu Nghị Quan) trên biên giới với Việt Nam cũng là nơi diễn ra trận đánh Trấn Nam Quan nổi tiếng vào ngày 23 tháng 3 năm 1885, trong chiến tranh Pháp-Thanh. Trong trận đánh này, mũi tấn công của quân Pháp đã bị lực lượng Trung Quốc của tướng Phùng Tử Tài đánh bại, một sự kiện lịch sử rất được những người yêu nước Trung Hoa ca tụng.
Sau ngày thành lập Trung Hoa Dân quốc, Quảng Tây trở thành căn cứ của một trong những tập đoàn quân phiệt hùng mạnh nhất của Trung Quốc. Tập đoàn Quảng Tây (Quế hệ) cũ do Lục Vinh Đình và những người khác lãnh đạo, tập đoàn này đã vươn ra kiểm soát cả các tỉnh Hồ Nam và Quảng Đông ở liền kề. Đầu thập niên 1920 Tập đoàn Quảng Tây cũ bị thất bại, và được thay thế bằng Tập đoàn Quảng Tây mới, do Lý Tông Nhân và Bạch Sùng Hi cầm đầu. Quảng Tây còn được nhắc đến bởi cuộc khởi nghĩa Bách Sắc, một cuộc khởi nghĩa cộng sản do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo vào năm 1929. Các căn cứ cộng sản đã được thiết lập mặc dù cuối cùng đều bị lực lượng Quốc dân Đảng tiêu diệt.
Vào năm 1944 gần kết thúc Thế Chiến II, Nhật Bản chiếm đóng Quảng Tây sau Chiến dịch Ichigo (hay còn gọi là Chiến dịch Dự Tương Quế trong một nỗ lực thâu tóm tuyến đường sắt Hồ Nam- Quảng Tây và thiết lập một vùng đất nối với Đông Dương Pháp thuộc. Người Nhật đã chiến thắng và một loạt các thành phố chính ở Quảng Tây trở thành thuộc địa của Nhật Bản.
Nằm ở xa phía Nam, lực lượng Cộng sản kiểm soát Quảng Tây muộn hơn. Chính quyền tỉnh thay đổi vào tháng 12 năm 1949, hai tháng sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân. Vào năm 1958, Quảng Tây được chuyển đổi thành khu tự trị Dân tộc Choang theo đề nghị của Thủ tướng Chu Ân Lai. Quyết định này được đưa ra do người Choang là một trong những dân tộc thiểu số lớn nhất ở Trung Hoa và tập trung nhiều ở Quảng Tây. Tuy nhiên người Choang vẫn chỉ chiếm thiểu số trong dân số Quảng Tây.
Suốt chiều dài lịch sử, Quảng Tây là vùng đất nội lục (không có biển). Năm 1952 một phần nhỏ của bờ biển Quảng Đông được chuyển giao cho Quảng Tây, từ đó vùng đất này được thông với biển. Năm 1955 chuyển giao lại và năm 1965 tiếp nhận lại.
Mặc dù có sự phát triển công nghiệp nặng diễn ra trong tỉnh trong suốt những năm 1960 và 1970, vẫn còn rất nhiều các danh lam thắng cảnh du lịch hấp dẫn mọi người trên khắp thế giới. Thậm chí mức tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc trong những năm 1999 dường như để Quảng Tây tụt lại phía sau. Tuy nhiên trong những năm gần đây đã có sự tăng trưởng mạnh về công nghiệp hóa và tập trung hóa cây trồng. GDP đầu người đã tăng nhanh chóng do các ngành công nghiệp ở Quảng Đông phải tìm kiếm các địa điểm sản xuất tại các khu vực có giá nhân công rẻ hơn. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
2.1.1.3. Các đơn vị hành chính của Quảng Tây
Quảng Tây được chia ra 14 thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị), dưới nữa là 56 huyện, 34 quận, 12 huyện tự trị và 7 thị xã (huyện cấp thị). Các thành phố (địa cấp thị) là Nam Ninh, Liễu Châu, Quế Lâm, Ngô Châu, Bắc Hải, Phòng Thành Cảng, Khâm Châu, Quý Cảng, Ngọc Lâm, Bách Sắc, Hạ Châu, Hà Trì, Lai Tân, Sùng Tả.
2.1.1.4. Dân cư
Quảng Tây là một trong 5 khu vực tự trị của dân tộc thiểu số ở Trung Quốc. Khu tự trị là nơi tập trung nhiều người Choang hơn 14 triệu- một trong những dân tộc thiểu số chính ở Trung Quốc. Hơn 90% người Choang ở Trung Quốc sống ở Quảng Tây, đặc biệt là ở khu vực trung tâm và phía Tây. Cũng có một số lượng khá người dân tộc thiểu số Người Đồng và Người Miêu. Dân tộc thiểu số khác gồm: Người Dao, Người Hồi, Người Di (Lô Lô), Người Thủy và Người Kinh (người Việt).Tổng cộng có 12 dân tộc chủ yếu ngoài ra có hơn 25 dân tộc thiểu số.Trong đó:
Người Hán: 30,27 triệu (61,46%); Người Choang:16,05 triệu; Người Dao:1,47 triệu; Người Miêu: 46 vạn; Người Đồng: 30 vạn; Người Ngật lão:17 vạn; Người Mao-Nam: 7,4 vạn; Người Hồi: 3,3 vạn; Người Bố Y: 2,1 vạn; Người Kinh/Người Việt: 2 vạn; Người Thủy: 1,5 vạn; Người Tạng: 9.712 người; Người Mãn: 9.576 người.
2.1.1.5. Khí hậu
Quảng Tây thuộc khu vực có khí hậu gió mùa cận nhiệt đới. Mùa hè có thời gian tương đối dài, nhiệt độ cao, lượng mưa tương đối lớn, mùa đông ở đây ngắn, ấm áp và khô ráo hơn so với phương Bắc Trung Quốc. Nhiệt độ trung bình hằng năm dao động khoảng 21.10C. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7, nhiệt độ trung bình trong tháng đạt từ 23-290C, lạnh nhất là tháng 1 với nền nhiệt độ trung bình là từ 6-140C. Nhiệt độ mặt trời trong năm là 1396 giờ.
Lượng mưa trung bình năm đạt 1835mm, lượng mưa tập trung chủ yếu ở các thành phố như: phía Nam- Phòng Thành, Trung Kim Tú- Chiêu Bình, Đông Bắc- Quế Lâm, Tây Bắc- Dung An. Lượng mưa trung bình hằng năm đạt trên 1900mm.
2.1.1.6. Văn hóa
- Phong tục tập quán
Quảng Tây là một trong năm khu tự trị dân tộc của Trung Quốc. Có 12 dân tộc chính gồm Choang, Hán, Dao, Miêu, Đồng, Mao Nam, Hồi, Kinh, Di, Thuỷ, ngoài ra còn có 25 dân tộc thiểu số khác. Dân tộc Choang là dân tộc thiểu số đông dân nhất của Quảng Tây và cũng là dân tộc thiểu số đông dân nhất toàn Trung Quốc.
Dân tộc Dao – dân tộc di cư nhiều nhất trong lịch sử Trung Quốc. Dân tộc Miêu – một trong những dân tộc thiểu số có lịch sử lâu đời nhất. Tên dân tộc Miêu, lần đầu tiên xuất hiện là trong sách sử trước đời Tần Hán, có ba tên gọi là “Tam Miêu”, “Hữu Miêu”, “Miêu Dân”. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Phụ nữ dân tộc Choang Quảng Tây đều có cách ăn mặc để thể hiện tình trạng hôn nhân của mình. Ví dụ: phụ nữ dân tộc Choang ở vùng Long Châu nếu tóc bờm tự nhiên rủ xuống phía trước cho biết người ấy chưa có người yêu, nếu tóc bờm chải sang bên phải, dùng kẹp kẹp vào, bên trái và phía sau đều có tóc bờm thì người đó đã có người yêu hoặc đã kết hôn rồi, nhưng chưa có con; nếu không để tóc bờm mà chải tóc ra đằng sau kết thành một búi tóc lớn, thể hiện người đó đã kết hôn và đã có con. Phụ nữ dân tộc Choang vùng Đô An khi tham gia các ngày hội ca hát hoặc lúc đi chợ, đi thăm họ hàng thân thích, mỗi người trên đầu đều quấn một chiếc khăn mới. Nếu chiếc khăn được gấp chồng lên nhau 3,4 lớp giống chiếc khăn tay, phủ ở trên đầu thể hiện người đó chưa lấy chồng, nếu khăn bao quanh đầu thể hiện người đó đã kết hôn.
- Ngày lễ lớn ở Quảng Tây
Ngày lễ ca hát 03/03- ngày lễ truyền thống của dân tộc Choang Vũ Minh.
Quảng Tây là nơi khởi nguồn của các sự kiện lịch sử trọng đại thời cận hiện đại Trung Quốc như khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc, khởi nghĩa của quân cờ Đen chống Pháp, chiến dịch Trấn Nam Quan…, xuất hiện hàng loạt những nhân vật lịch sử như Hồng Tú Toàn, Lưu Vĩnh Phúc, Phùng Tử Tài…Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã lãnh đạo khởi nghĩa Bách Sắc ở phía tây Quảng Tây, sáng lập Hồng quân thứ 7 và căn cứ địa cách mạng Hữu Giang.
Quảng Tây có một nền văn hóa dân tộc phong phú và nhiều màu sắc. Quảng Tây có nhiều lễ hội ca hát quanh năm của các dân tộc như: lễ ca hát “3 tháng 3” của dân tộc Choang, vào buổi sáng sớm của ngày này trong vùng chu vi mười dặm, hàng ngàn hàng vạn nam thanh nữ tú của dân tộc Choang mặc lễ phục, tụ hội tại huyện Minh Vũ tham gia các hoạt động hát đối, thi hát. Có người trong cuộc thi hát đối còn có thể tìm cho mình được người bạn đời. Đây là một trong số phong tục đặc sắc của dân tộc Choang còn lưu giữ tới ngày nay.
Tết Bàn Vương và tết Đạt Nỗ – ngày tết trọng đại nhất của dân tộc Dao
Tết Bàn Vương là cái tết trọng đại nhất của người dân tộc Dao sống tại huyện tự trị dân tộc Dao Kim Tú. Tết Bàn Vương thường được tổ chức vào tháng mười âm lịch, chủ yếu là để tưởng nhớ Bàn Vương, ngoài ra còn có ý nghĩa là mừng mùa bội thu. Khi đón tết, người ta tổ chức các hoạt động như tế Bàn Vương, nhảy điệu Trường Cổ, hội “Ca Đường”.
Ngoài ra, dân tộc Dao còn có ngày Tết Đạt Nỗ được tổ chức vào ngày 29 tháng 05 âm lịch. Vào ngày này, người ta ngoài nhảy múa với trống đồng ra, còn đốt pháo, hát Sơn Ca, thổi kèn, biểu diễn võ thuật, thi bắn cung, chọi chim, chương trình phong phú đa dạng, vô cùng náo nhiệt. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Đón Miêu niên – ngày tết trọng đại nhất của dân tộc Miêu
Miêu niên là ngày tết trọng đại nhất trong năm của người dân tộc Miêu. Thời gian đón tết Miêu niên của các địa phương không giống nhau, thường là tổ chức vào ngày Mão (ngày con thỏ), ngày Sửu (ngày con trâu) hoặc ngày Hợi (ngày con lợn) đầu tiên của tháng mười âm lịch. Trong thời gian đón tết, người Miêu đến thăm nhau, thăm họ hàng làng xóm, tham gia hoạt động “nhảy khèn”. Ngoài ra hoạt động ngày tết còn có rước trống, thổi kèn, chọi ngựa, chọi trâu, “du ngôn”, hát đối, leo cột.
Tết hoa pháo – hoạt động trọng đại nhất của dân tộc Đồng
Tết pháo là ngày tết truyền thống của người dân tộc Đồng, đến nay đã có lịch sử hàng trăm năm. Hoạt động chính của tết hoa pháo là cướp hoa pháo, thi khèn, nhảy “Duoye” tập thể.
Tết Y Phan – hoạt động trọng đại nhất của dân tộc Mulao
Tết Y Phan là ngày tết long trọng nhất của người dân tộc Mulao. Ba năm tổ chức một lần, mỗi lần từ 3 đến 5 ngày, các thôn chọn ngày tổ chức vào tháng 10 âm lịch.
Tết Fenlong – ngày tết trọng đại nhất của dân tộc Mao Nam
Ngày tết truyền thống trọng đại nhất của dân tộc Mao Nam là tết Fenlong (còn gọi là tết Miếu). Khi đón tết, già trẻ gái trai đều mặc quần áo đẹp, dùng “Faduo” (một loại lá cây to như chiếc quạt nan) để bọc cơm ngũ sắc và bột hấp thịt, đi thăm người thân bạn bè, chúc tết. Tết Fenlong cũng là ngày tết hẹn hò của các chàng trai và cô gái trẻ dân tộc Mao Nam.
Tháng 11 hàng năm, tại thủ phủ Nam Ninh, chính quyền Quảng Tây tổ chức lễ hội dân ca quốc tế, thu hút đông đảo người yêu thích nghệ thuật trong và ngoài nước. Các hình thức nghệ thuật ở địa phương có Quế kịch, Choang kịch, Thái điệu, Việt kịch, trống da cá Quảng Tây, âm nhạc trống đồng…
Đặc sản nổi tiếng ở Quảng Tây
Các sản phẩm nổi tiếng ở Quảng Tây chủ yếu có: gấm Choang, hàng thêu Dao, đồ khảm trai, chậu cảnh, gốm sứ mỹ thuật, tác phẩm điêu khắc bằng tre Quế Lâm, lược bí Quế Lâm, nghiên mực Liễu Châu, mành trúc, rược thuốc Ngô Châu, rượu Tam Hoa Quế Lâm, quả La Hán Quế Lâm, long nhãn…..
Ẩm thực nơi đây phải kể đến các món ăn mang hương vị địa phương như : Phở Quế Lâm, bánh sủi cảo gạo Liễu Châu, bánh tét thịt Nam Ninh, ốc nhồi Nam Ninh, cơm bát bảo thơm dẻo…..
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.2. Tình hình chính trị – xã hội Quảng Tây trong những nãm 1939-1945, 1945-1949 và từ 1949 đến nay Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
2.1.2.1. Giai đoạn 1939-1945
Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng: ngày 1/09/ 1939, phát xít Đức tiến công Ba Lan. Hai ngày sau, Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Tháng 6/1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, chính phủ phản động Pê tanh lên cầm quyền. Tháng 6/1941, Đức tấn công Liên Xô, tính chất chiến tranh thay đổi. Ở Châu Á – Thái Bình Dương, Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc, tiến sát biên giới Việt – Trung. Tháng 9/1940, Nhật vào Đông Dương.
Ở Đông Dương, thế lực phản động thuộc địa ngóc đầu dậy, thủ tiêu các quyền tự do, dân chủ; thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy”. Khi Nhật vào Đông Dương, Pháp đầu hàng Nhật và cấu kết với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Đông Dương, làm cho nhân dân Đông Dương phải chịu hai tầng áp bức.
Trong khi đó ở Trung Quốc đêm ngày 07/07/1937, quân Nhật đã gây hấn ở Lư Câu Kiều (Bắc Kinh) tấn công quân đội Trung Quốc, mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra phạm vi toàn lãnh thổ Trung Quốc. Cuộc kháng chiến chống Nhật cứu nước của nhân dân các dân tộc Trung Quốc bắt đầu.
Ngày 08/07, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ra lời kêu gọi: “Đồng bào, chính phủ, quân đội trong cả nước đoàn kết lại xây dựng bức tường thành kiên cố của Mặt trận thống nhất dân tộc, chặn đứng cuộc xâm lược của giặc Nhật”. Mao Trạch Đông gửi điện cho Tưởng Giới Thạch cam kết: “Tướng sĩ Hồng quân tình nguyện dưới sự lãnh đạo của Ủy viên trưởng, quyết chiến đấu hi sinh để diệt giặc cứu nước, bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc”. Ngày 13-07 phái đoàn đại biểu của Đảng cộng sản gồm Chu Ân Lai, Tần Bang Hiến, Lâm Bá Cừ đàm phán với Quốc dân Đảng nhưng hai bên chưa đạt được thỏa thuận. Ngày 23-08 Tưởng Giới Thạch chính thức thừa nhận địa vị hợp pháp của Đảng cộng sản Trung Quốc. Sự kiện đó đánh dấu sự hình thành chính thức Mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở hợp tác Quốc- Cộng. Căn cứ vào kết quả đàm phán, Hồng quân được cải biên thành Bát Lộ Quân của Quân cách mạng Quốc dân do Chu Đức làm tư lệnh.
Tháng 8-1937, quân Nhật mở rộng cuộc tấn công xâm lược theo hướng Thượng Hải và vùng Hoa Bắc. Các vị trí của quân đội Trung Quốc lần lượt rơi vào tay quân Nhật. Trong khi quân đội Trung Quốc bị đẩy lùi trên những mặt trận chính diện thì chiến tranh du kích được triển khai trong các vùng địch hậu. Ngày 22-8-1938, Ðảng cộng sản Trung Quốc đã họp Bộ chính trị mở rộng tại Thiểm Bắc, ra “Cương lĩnh 10 điểm chống Nhật cứu nước”, quyết định phát động cuộc chiến tranh du kích trong vùng địch hậu. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Trong năm 1938-1939, tình hình Châu Âu ngày càng căng thẳng, nguy cơ chiến tranh thế giới đang tới gần. Các chính phủ Anh, Pháp, Mỹ hi vọng có thể chuyển hướng tấn công của nước Ðức phát xít về hướng Liên Xô nên đã ký Hiệp ước Munich, nhượng bộ Hitle trong vấn đề Tiệp Khắc. Cùng thời gian đó các chính phủ Anh, Mỹ cũng có ý định sẵn sàng nhượng bộ Nhật Bản trong vấn đề Trung Quốc với hi vọng có thể chuyển mũi nhọn tấn công của nước Nhật quân phiệt về phía Liên Xô. Trung ương Ðảng cộng sản Trung Quốc đã có “Chỉ thị về việc chống âm mưu Munich Phương Ðông”. Về sau do mâu thuẫn Nhật- Mỹ ở phương Ðông quá gay gắt, không thể giải quyết nên “Âm mưu Munich Phương Ðông” đã không được thực hiện.
Cuối năm 1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ. Quân phiệt Nhật hi vọng biến lãnh thổ Trung Quốc thành căn cứ để tiến hành cuộc chiến tranh quy mô lớn trên toàn vùng Châu Á- Thái Bình Dương.
Trận đại thắng của Hồng quân Liên Xô tại Xtalingrat tháng 2-1943 và những chiến thắng tiếp theo của lực lượng Đồng minh trong năm 1943 đã tạo nên những bước ngoặt căn bản của Chiến tranh thế giới thứ hai. Trên chiến trường Thái Bình Dương, Anh, Mỹ đã tổ chức các cuộc phản công đẩy hải quân Nhật vào thế tuyệt vọng. Để cứu vãn tình thế, đầu năm 1944, Bộ chỉ huy Nhật đã huy động một lực lượng mạnh với khoảng 56.000 quân, mở cuộc tấn công quy mô lớn, tiêu diệt 20 vạn Quốc dân Đảng tại tỉnh Hà Nam, sau đó đánh xuống Hồ Nam, Quảng Tây, khai thông con đường xuống Đông Nam Á.
Đầu năm 1944, Đảng cộng sản Trung Quốc tiến hành những hoạt động nhằm đoàn kết mọi lực lượng dân chủ, tiến tới thành lập một chính phủ liên hiệp dân chủ. Được sự ủng hộ của Mỹ, Tưởng Giới Thạch đã từ chối đề nghị của Đảng cộng sản về việc thành lập chính phủ liên hiệp dân chủ. Ngày mồng 5- 5- 1945, Quốc dân Đảng họp đại hội VI tại Trùng Khánh, chủ trương triệu tập Quốc dân đại hội thông qua Hiến pháp Trung Hoa dân quốc. Trước đó ngày 23-4-1945, Đảng cộng sản đã họp Đại hội VII tại Diên An. Tại đại hội, Mao Trạch Đông đã đọc báo cáo chính trị, với tiêu đề “Bàn về chính phủ liên hợp”. Đại hội đã đưa ra đường lối chính trị trong giai đoạn mới là “phát động quần chúng, tăng cường sức mạnh của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đánh bại bọn xâm lược Nhật Bản, giải phóng nhân dân cả nước, xây dựng một nước Trung Hoa theo chủ nghĩa dân chủ mới”. Đại hội đã bầu Bộ chính trị gồm 13 người, bầu Ban thư ký gồm 5 người: Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Nhiệm Bật Thời. Mao Trạch Đông được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương, Chủ tịch bộ chính trị, Chủ tịch Ban thư ký Trung ương.
Ngày 15-8, Nhật hoàng tuyên bố chính thức đầu hàng không điều kiện các nước Đồng minh. Ngày 2-9, lễ ký văn kiện Nhật Bản đầu hàng không điều kiện các nước đồng minh đã được tiến hành trên chiến hạm Mỹ Mitxuri trong vịnh Tôkiô. Theo quy định của Bộ chỉ huy tối cao quân đội Đồng minh, trong chiến khu Trung Quốc trừ 3 tỉnh Đông Bắc do Liên Xô tiếp nhận quân Nhật đầu hàng, sẽ chia thành 15 khu vực tiếp nhận đầu hàng (bao gồm cả miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra).
Cuộc kháng chiến chống Nhật cứu nước của nhân dân Trung Quốc kéo dài tới 8 năm (1937-1945) với biết bao hy sinh, tổn thất đã kết thúc thắng lợi. Cuộc kháng chiến chống Nhật cứu nước anh dũng của nhân dân Trung Quốc do những người cộng sản đứng trên tuyến đầu đã góp phần xứng đáng vào chiến thắng chung của nhân loại tiến bộ trong cuộc chiến đấu lịch sử chống thảm họa phát xít, tạo tiền đề đưa cách mạng Trung Quốc phát triển sang một trang mới.
2.1.2.2. Giai đoạn 1945-1949
Sau khi chiến tranh chống Nhật kết thúc không lâu, Trung Quốc lại phải trải qua cuộc nội chiến thứ ba (1946-1949) trong lịch sử gọi là cuộc “Chiến tranh giải phóng”. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Vào năm 1944 gần kết thúc Thế chiến II, Nhật Bản chiếm đóng Quảng Tây sau chiến dịch Ichigo (hay còn gọi là chiến dịch Dự Tương Quế) trong một nỗ lực thu tóm tuyến đường sắt Hồ Nam- Quảng Tây và thiết lập một vùng đất nối với Đông Dương Pháp thuộc. Trong giai đoạn này, người Nhật đã chiến thắng và một loạt các thành phố chính ở Quảng Tây đã trở thành thuộc địa của Nhật Bản.
Chiến dịch Ichi-go được chia làm 2 phần. Phần đầu gọi là chiến dịch KoGo hay còn gọi là chiến dịch Kinh Hán (Kinh chỉ Bắc Kinh, Hán chỉ Vũ Hán). Tên này phản ánh mục tiêu bình định các khu vực dọc theo tuyến đường sắt từ Bắc Kinh tới Vũ Hán. Phần sau gọi là Chiến dịch To-Go hay còn gọi là Chiến dịch Tương Quế.
Những trận đánh lớn nhất trong chiến dịch Ichi-go là trận tấn công Lạc Dương từ 17/4 đến 25/5/ 1944, trận Hồ Nam từ cuối tháng 5 đến tháng 8 năm 1944, trận Hành Dương từ 22/6 đến 11/8/1944, trận Quế Lâm- Liễu Châu từ 16/8 đến 24/11/ 1944.
Nằm ở xa phía Nam, lực lượng Cộng sản kiểm soát Quảng Tây muộn hơn. Chính quyền tỉnh thay đổi vào tháng 12/1949, hai tháng sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân.
2.1.2.3. Giai đoạn 1949 đến nay
Ngày 11 tháng 12 năm 1949, toàn Quảng Tây được giải phóng. Trong thời gian đầu sau giải phóng, Quảng Tây được gọi là tỉnh với thủ phủ là Nam Ninh. Ngày 5 tháng 3 năm 1958, khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây được thành lập. Về sau, sự phân chia hành chính trong Quảng Tây thường xuyên thay đổi, tuy nhiên đơn vị hành chính cấp 1 là khu thì vẫn được giữ nguyên.
2.2. Giới thiệu sơ lược về Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và sự giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến Người ngay từ thời niên thiếu.
Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, sự nhạy bén về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Tháng 6 năm 1911, Người đi ra nước ngoài, suốt 30 năm hoạt động, Người đã đi đến nước Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình với những phong trào của công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, hoạt động cách mạng và nghiên cứu các học thuyết cách mạng. Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đây, Người đã nhận rõ đó là con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội Những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi tới Hội nghị Versailles (Pháp) Bản yêu sách của nhân dân An Nam, yêu cầu Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam .
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại thành phố Tours, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1921, tại Pháp, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, nhằm tuyên truyền cách mạng trong nhân dân các nước thuộc địa. Người viết nhiều bài đăng trên các báo “Người cùng khổ”, “Đời sống thợ thuyền”, … Đặc biệt, Người viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” lên án mạnh mẽ chế độ thực dân, thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân các nước thuộc địa. Tất cả các bài viết của Người đều được bí mật chuyển về nước và lưu truyền trong mọi tầng lớp nhân dân.
Ngày 30/6/1923, Người đến Liên Xô và bắt đầu một thời kỳ hoạt động, học tập và nghiên cứu về chủ nghĩa Mác – Lênin, về chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trên đất nước Lênin vĩ đại. Tại Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân (10/1923), Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được cử làm cán bộ Ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đồng thời là Ủy viên Đoàn chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc được giao theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng ở một số nước Châu Á .
Năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông, sáng lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về trong nước, đồng thời mở lớp đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam.
Ngày 3/2/1930, tại Cửu Long (Hồng Kông), Người triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1930 đến năm 1940, Người tham gia công tác của Quốc tế Cộng sản ở nước ngoài, đồng thời theo dõi sát phong trào cách mạng trong nước và có những chỉ đạo đúng đắn cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta.
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941 Người về nước, triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận Việt Minh, gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng quần chúng, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Thực hiện chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, tại khu rừng Sam Cao, thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy.
Tháng 8 năm 1945, Người cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và chủ trì Đại hội Quốc dân ở Tân Trào. Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt Minh, cử Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân tộc Việt Nam đã nhất tề đứng lên Tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân lao động. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người tuyên bố trước nhân dân cả nước và nhân dân thế giới quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. Tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp câu kết với đế quốc Mỹ, Anh và lực lượng phản động Quốc dân Đảng (Trung Quốc) trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Quân đội Pháp mở rộng đánh chiếm miền Nam và lấn dần từng bước kéo quân đánh chiếm miền Bắc, âm mưu tiến tới xóa bỏ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 9/1/1946, cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lần đầu tiên trong cả nước. Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người tiếp tục cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Tháng 7 năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Géneva được ký kết. Miền Bắc được giải phóng. Miền Nam bị đế quốc Mỹ xâm lược biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân ta vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ngày 2/9/1969, mặc dù đã được các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng do tuổi cao sức yếu Người đã từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.
Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc, cho nhân dân, vì lý tưởng cộng sản, vì độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức, vì hòa bình và công lý trên thế giới.
Năm 1987, tại kỳ họp lần thứ 24, Tổ chức Giáo dục – Văn hóa – Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và nhà văn hóa kiệt xuất” .
2.3. Hoạt động cách mạng và những năm tháng tù đày của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây những năm 1939-1945
2.3.1. Từ năm 1939 đến năm 1940: Hoạt động và tìm đường về nước trực tiếp chỉ đạo Cách mạng Việt Nam
Tháng 06-1939, Nguyễn Ái Quốc rời Quế Lâm đến công tác tại trường huấn luyện cán bộ du kích khóa I Khu Tây Nam, tại Hành Sơn thuộc tỉnh Hồ Nam. Đây là trường huấn luyện do Quốc Dân Đảng và Đảng cộng sản Trung Quốc cùng hợp tác tổ chức. Trường do đồng chí Diệp Kiếm Anh làm Phó hiệu trưởng. Tháng 9-1939, trường bế mạc, Nguyễn Ái Quốc lại trở về Quế Lâm.
Hai tháng sau, tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, đã cử người sang Long Châu đón Nguyễn Ái Quốc. Văn phòng Bát Lộ Quân ở Quế Lâm đã cử một đồng chí giao thông liên lạc cùng đi với Nguyễn Ái Quốc đến Long Châu.
Nhưng lần đón đó không thành, Nguyễn Ái Quốc lại trở về Quế Lâm.
Trong thời gian từ cuối tháng 10- 1939 đến khoảng tháng 9- 1940, với bí danh là Hồ Quang khi Người làm việc tại văn phong Bát Lộ Quân của Quế Lâm, Nguyễn Ái Quốc đã đi nhiều nơi ở Trung Quốc để bắt liên lạc với trong nước chuẩn bị về nước. Người đã gặp và được sự giúp đỡ rất tích cực của các đồng chí lãnh đạo Đảng cống sản Trung Quốc như các đồng chí Chu Ân Lai, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình….. Người đã tới Văn phòng Bát Lộ Quân tại Quý Dương thuộc tỉnh Quý Châu, Văn phòng Bát Lộ Quân ở Trùng Khánh thuộc tỉnh Tứ Xuyên, rồi về thành phố Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam.
Tháng 6-1940, Pháp đầu hàng Đức, Pari thất thủ, trước tình hình đó Nguyễn Ái Quốc yêu cầu đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí Võ Nguyên Giáp và một số đồng chí về Quế Lâm. Sau khi đi Trùng Khánh hội đàm với Chu Ân Lai, Nguyễn Ái Quốc về Côn Minh và từ Côn Minh Người trở lại Quế Lâm vào tháng 9-1940.
Như vậy trong thời gian từ cuối năm 1938 đến cuối năm 1940. Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần đến Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây. Cuối năm 1940, Nguyễn Ái Quốc rời Quế Lâm, qua Điền Đông rồi Nam Ninh- thủ phủ tỉnh Quảng Tây đến huyện biên giới giáp Việt Nam là huyện Tĩnh Tây để về nước. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Sau khi trở về Việt Nam Hồ Chí Minh đã chọn Pác Pó làm nơi đặt cơ quan đầu não của Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành căn cứ địa của cách mạng Việt Nam. Tại đây vào ngày 19 tháng 05 năm 1941 dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh “Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh” (gọi tắt là Việt Minh) đã ra đời. Sau hội nghị Trung ương 8 không lâu, Hồ Chí Minh lại từ Pác Pó đi Tĩnh Tây.
2.3.2. Từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943: Bị bắt và dẫn giải qua nhiều nhà tù của chế độ Trung Hoa dân quốc.
Trung tuần tháng 8 năm 1942, từ Lam Sơn căn cứ mới của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Hồ Chí Minh theo con đường mòn quen thuộc đi Tĩnh Tây. Người dự định từ Tĩnh Tây đi Trùng Khánh để gặp Tưởng Giới Thạch nhằm phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và cũng là một nước trong khối đồng minh chống phát xít đồng thời thăm người bạn cũ Chu Ân Lai đang ở Trùng Khánh. Tuy nhiên trên đường đi tới thị trấn Túc Vinh thuộc huyện Thiên Bảo cùng với người bạn đồng hành là Dương Đào, Hồ Chí Minh bị đội bảo an của Quốc dân Đảng kiểm tra giấy tờ, bị bắt và bị giải tới giải lui qua các nhà tù ở Quảng Tây.
Sau một thời gian bị giam giữ ở nhà tù huyện Tĩnh Tây, sở chuyên viên Tĩnh Tây không có cách nào xác định được lai lịch của Hồ Chí Minh bèn quyết định giải Người về Quế Lâm để Văn phòng Ủy ban quân sự đóng ở Quế Lâm lúc bấy giờ thẩm tra.Tuy nhiên sau một thời gian ở Quế Lâm, nhà đương cục Quốc dân Đảng cũng không xác định được lai lịch của Hồ Chí Minh nên quyết định giải Người về Liễu Châu, giao cho bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu giam giữ và xét hỏi.
Những mốc thời gian Hồ Chí Minh bị giải qua các thành phố là:
- Ngày 28 tháng 08 năm 1942, Hồ Chí Minh bị giải lên huyện Thiên Bảo.
- Cuối tháng 10 năm 1942 giải tới Nam Ninh.
- Ngày 9 tháng 12 năm 1942 giải tới Liễu Châu.
- Cuối tháng 12 năm 1942 bị giải tới Quế Lâm.
- Thượng tuần tháng 02 năm 1943 lại giải tới Liễu Châu.
- Ngày 10 tháng 09 năm 1943 được trả tự do tại Liễu Châu.
Trong suốt những năm tháng tù đày, Hồ Chí Minh đã làm các bài thơ chữ Hán, ghi lại những chặng đường, những điều tai nghe mắt thấy và những cảm xúc của mình trong suốt quá trình bị giải đi qua các nhà tù của chế độ Trung Hoa Dân Quốc ở Quảng Tây. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Tháng 9 năm 1943, Cục chính trị Đệ tứ chiến khu quyết định trả tự do cho Hồ Chí Minh vì những lý do sau đây :
Một là, tổ chức Đảng của Việt Nam nhiều lần kêu gọi nhà đương cục Trung Quốc thả Hồ Chí Minh.
Hai là, văn phòng cơ quan đại diện Đảng cộng sản Trung Quốc lúc này đang đóng ở Trùng Khánh sau khi được tin Hồ Chí Minh bị bắt cũng tích cực tìm cách bàn bạc với Chính phủ Quốc dân Đảng. Ngoài ra, đích thân đồng chí Chu Ân Lai tìm tướng Phùng Ngọc Tường- một nhà yêu nước trong hàng ngũ Quốc dân đảng, đề nghị ông đứng ra cứu Hồ Chí Minh.
Ba là, về phía Bộ tư lệnh Đệ tứ chiến khu đóng ở Liễu Châu thì viên tư lệnh
Trương Phát Khuê từ đầu năm 1943 cũng đã biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc là người lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, đồng thời là người lãnh đạo Mặt trận Việt Minh vừa thành lập, một người vừa có uy tín lại được trọng vọng trong nước. Đệ tứ chiến khu được Quốc dân Đảng giao phụ trách công việc tại Việt Nam. Để có thể lợi dụng được một số đoàn thể trên đất Việt Nam khi Quốc dân Đảng vào Việt Nam tước vũ khí quân Nhật, tư lệnh Trương Phát Khuê có ý định muốn trả lại tự do cho Hồ Chí Minh. Đến đầu tháng 9 năm 1943, ông Hầu Chí Minh, chủ nhiệm Cục chính trị của Đệ tứ chiến khu đi họp ở Trùng Khánh, ông đã báo cáo ý kiến đó của Trương Phát Khuê lên nhà đương cục tối cao. Lúc này, Tưởng Giới Thạch chịu nhiều áp lực cũng có ý muốn thả Hồ Chí Minh, trước ý kiến của Hầu Chí Minh đưa ra, Tưởng Giới Thạch đành hạ lệnh cho Đệ tứ chiến khu thả tự do cho Hồ Chí Minh.
Sau khi ra tù, công việc đầu tiên của Hồ Chí Minh khi ở Liễu Châu là chắp nối liên lạc với tổ chức Đảng ở trong nước. Cũng trong thời gian này, Người cố gắng khôi phục lại sức khỏe bị sa sút trong thời ở tù bằng cách rèn luyện sức khỏe qua những cuộc dã ngoại, leo núi, đi bộ, bơi lội….
Trong thời gian ở lại Liễu Châu, Người tham gia một số công tác của tổ chức “Việt Nam Cách mạng đồng minh hội” theo lời của Tư lệnh trưởng Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê.
2.3.3. Từ tháng 9 năm 1943 đến tháng 8 năm 1944: Hoạt động tại Liễu Châu, dưới sự bảo trợ của chính quyền Trung hoa dân quốc. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Trong giai đoạn này sau khi được thả tự do, Hồ Chí Minh đã tham gia một số công tác của tổ chức “Việt Nam cách mạng đồng minh hội”. Tại đây, dưới sự bảo trợ của chính quyền Trung hoa dân quốc mà cụ thể là Tư lệnh trưởng Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh được mời tham gia cải tổ “Việt Nam cách mạng đồng minh hội”. Trước khi chính thức cải tổ tổ chức này, Trương Phát Khuê đã chỉ định Hồ Chí Minh là ủy viên ban chấp hành, cùng cộng tác với Nguyễn Hải Thần và những người khác. Hồ Chí Minh một mặt muốn đi sâu vào đoàn thể này để hạn chế những mặt xấu của nó, đồng thời cũng tranh thủ nhiều người hơn nữa đứng về phía cách mạng nên đã đồng ý với Trương Phát Khuê.
Vào nửa cuối năm 1943, ở lớp huấn luyện cán bộ của Đệ tứ chiến khu tổ chức ở gần cầu lớn của Liễu Châu có mấy chục thanh niên Việt Nam dự lớp huấn luyện. Những thanh niên đó trước đây không lâu là những đội viên Phục quốc quân Việt Nam đã từng nổi dậy khởi nghĩa chống Pháp. Tuy nhiên cuộc khởi nghĩa bị thất bại nên họ phải trốn qua Bằng Tường, Quảng Tây. Tại đây Hồ Chí Minh đã có dịp đến nói chuyện hai lần (tháng 11/1942 và đầu năm 1944) với lớp huấn luyện thanh niên này và gieo vào trong lòng những thanh niên trẻ yêu nước này lòng cách mạng, ý chí đoàn kết chiến đấu dưới ngọn cờ “Mặt trận Việt Minh”.
Khoảng tháng 5 năm 1944, tại Liễu Châu, Hồ Chí Minh đã viết cuốn sách nhỏ “Chiến thuật du kích”. Cuốn sách ghi lại những điều Hồ Chí Minh đã học được trong kháng chiến chống Nhật ở Trung Quốc do Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Cuốn sách này đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương.
Tháng 6 năm 1944 tổ chức Đảng ở trong nước cử người sang Liễu Châu, báo cáo với Hồ Chí Minh về tình hình trong nước, đồng thời đề nghị Hồ Chí Minh sau khi đã cải tổ Ban chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội xong thì nên chọn lựa thời cơ thuận lợi công khai trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hồ Chí Minh đã nghĩ đến bản đề xuất với Đệ tứ chiến khu trong hội nghị đại biểu các đoàn thể hải ngoại của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, Người cho rằng đây là cơ hội duy nhất cho Người được trở về nước hoạt động cách mạng một cách “đường đường chính chính”.
Tháng 7 năm 1944, Hồ Chí Minh gửi tới Đệ tứ chiến khu “Kế hoạch về Việt Nam công tác” với những mục đích sau: Một là, truyền đạt quyết tâm của Chính phủ Trung Quốc ủng hộ nhân dân Việt Nam giải phóng dân tộc. Hai là, phát triển tổ chức Việt Nam Cách mạng đồng minh hội. Ba là, chuẩn bị để đón quân đội Trung Quốc và quân đồng minh vào Việt Nam. Bốn là, giành độc lập hoàn toàn cho Việt Nam.
Bản kế hoạch này của Người đưa ra hoàn toàn phù hợp với ý đồ của Đệ tứ chiến khu muốn giúp cho Việt Nam cách mạng đồng minh hội, do đó Trương Phát Khuê không còn cách nào khách buộc phải chấp nhận.
Ngày 9 tháng 8 năm 1944, Hồ Chí Minh đã chọn 18 thanh niên đã học qua lớp học luấn luyện đặc biệt cùng Người rời Liễu Châu về nước. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
2.3.4. Tháng 01 năm 1945: Tiếp xúc với người Mỹ nhằm tranh thủ sự giúp đỡ đối với cách mạng Việt Nam
Cuối năm 1944, khi Hồ Chí Minh qua lại hoạt động ở vùng Pác Pó thì xảy ra sự kiện một viên phi công của Mỹ do máy bay bị trục trặc đã nhảy dù xuống địa phận tỉnh Cao Bằng, viên trung úy phi công này thuộc đội máy bay Mỹ viện trợ cho Trung Quốc. Do Mặt trận Việt Minh đã từng chỉ thị cho các tổ chức cơ sở phải hết lòng giúp đỡ quân đội Đồng minh nên viên phi công Mỹ đã được quần chúng bảo vệ. Do bất đồng về ngôn ngữ bà con trong thôn đành phải để viên phi công trực tiếp gặp Hồ Chí Minh, Người đã dùng tiếng Anh để nói chuyện với viên phi công Mỹ. Viên phi công yêu cầu Hồ Chí Minh đưa anh ta về Bộ tư lệnh không quân Mỹ đóng ở Côn Minh. Người đã vui vẻ nhận lời và tỏ ý sẽ đi cùng với anh ta. Việc làm này của Người vừa giúp được viên phi công Mỹ, vừa làm tròn nghĩa vụ của nhân dân Việt Nam đối với quân đồng minh, mặt khác đây cũng là dịp thuận lợi để Người trực tiếp gặp gỡ chỉ huy không quân Mỹ đóng trên đất Trung Quốc để tranh thủ sự giúp đỡ của các nước đồng minh đối với cách mạng Việt Nam, sẵn sàng chớp thời cơ để phát động khởi nghĩa trong nước. Người chọn một người dẫn đường và đưa trung úy phi công Mỹ lên đường. Ba người xuất phát từ Pác Pó qua biên giới đi vào huyện Nà Pha- Quảng Tây. Đồng thời thông qua chuyến đi này Người cũng tìm hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động bí mật ven theo tuyết đường sắt Vân Nam- Việt Nam của tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam đang hoạt động.
2.4. Các chuyến thăm Trung Quốc và để lại dấu ấn trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) của Hồ Chí Minh. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Trung tuần tháng 1 năm 1950
Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang thăm Trung Quốc đề nghị Trung Quốc viện trợ. Người từ căn cứ địa Việt Bắc đi qua cửa Thủy Khẩu (thuộc Long Châu) sau đó đi Nam Ninh rồi đi Bắc Kinh. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền quân đội tỉnh Quảng Tây đã tổ chức tiệc chiêu đãi Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 20/1/1950 tại khách sạn Đại Kim Sơn. Sau đó Hồ Chí Minh đi ôtô tới Lai Tân, rồi từ Lai Tân đáp xe lửa đi Bắc Kinh.
Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1950
Trong thời gian đồng chí Trần Canh được Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc cử sang giúp Việt Nam mở chiến dịch Biên giới, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm và bàn công việc với đồng chí Trần Canh tại Bó Cục Quan trên đất Quảng Tây, nơi đóng sở chỉ huy của Trần Canh.
Ngày 19 tháng 10
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trần Canh đến Thùy Khẩu, Long Châu thăm bệnh viên dã chiến của quân đội Nhân dân Việt Nam đặt tại đây, Người đã thăm thương binh bệnh binh Việt Nam, thăm hỏi các bác sỹ và y tá Trung Quốc làm việc tại bệnh viện.
Đầu tháng 2 năm 1952
Nhân dịp Tết Nguyên đán cổ truyền của Trung Quốc, từ chiến khu Việt Bắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi Nam Ninh, chúc tết sớm các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền, quân đội và nhân dân tỉnh Quảng Tây, cảm ơn tỉnh Quảng Tây đã ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp.
Ngày 2 tháng 9 năm 1953
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội đến nơi ở của đoàn cố vấn Trung Quốc, gắn Huân chương Hồ Chí Minh.
Từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 7 năm 1954
Chủ tịch Hồ Chí Minh hội đàm với Thủ tướng Chu Ân Lai tại biệt thự số 1, Khách sạn Liễu Châu, thành phố Liễu Châu về một số vấn đề liên quan đến Hội nghị Giơnenơ. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Hạ tuần tháng 6 năm 1955
Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam thăm chính thức Trung Quốc. Người đã đến Bằng Tường, từ Bằng Tường Người đi xe lửa đi Nam Ninh. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền và quân đội tỉnh Quảng Tây và thành phố Nam Ninh cùng một vạn quần chúng tổ chức Lễ đón Người tại Quảng trường ga xe lửa. Sau đó Người ra sân bay Nam Ninh đáp máy bay đi Vũ Hán (trên đường đi Bắc Kinh).
Từ ngày 17 đến 20 tháng 5 năm 1960
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đi có Đại sứ Trung Quốc Hà Vỹ đi nghỉ ở Nam Ninh, Quảng Tây trong dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh. Trong những ngày nghỉ ở Nam Ninh, Người đã ngồi thuyền du ngoạn sông Ung Giang…. Đúng vào ngày sinh 19-5 của Người đồng chí Vi Quốc Thanh đã trao cho Người điện chúc thọ của các đồng chí Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai.
Ngày 9 tháng 4 năm 1961
Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Phạm Văn Đồng đến Bằng Tường, Quảng Tây, tham gia các cuộc hội đàm giữa các nhà lãnh đạo hai nước.Về phía Trung Quốc có các đồng chí Chu Ân Lai, Vi Quốc Thanh và Hà Vỹ.
Từ ngày 14-16 tháng 5 năm 1961
Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng đi có Đại sứ Hà Vỹ, đi nghỉ ở Trung Quốc trong dịp kỉ niệm 71 năm ngày sinh của Người. Người đã ở Quế Lâm-Quảng Tây hai ngày, thăm Điệp Thái Sơn, Công viên Thất Tinh, động Quần Nham, đi thuyền trên sông Ly, thăm Dương Sóc và xem biểu diễn văn nghệ.
Từ ngày 17 đến 20 tháng 5 năm 1962
Chủ tịch Hồ Chí Minh đi nghỉ ở Nam Ninh trong dịp kỷ niệm 72 năm ngày sinh của Người.Trong đợt nghỉ này, Người đã đi thuyền trên sông Ung, thăm công viên Nhân Dân, pháp đài Trấn Ninh, Thanh Tú Sơn, Bảo tàng Quảng Tây, xem biểu diễn văn nghệ. Sáng ngày 19-5, đúng ngày sinh nhật của Người đồng chí Vi Quốc Thanh đã trao cho Người bức điện chúc thọ của các đồng chí Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức và Chu Ân Lai. Cũng trong tối hôm đó, gia đình đồng chí Vi Quốc Thanh đã mở tiệc chiêu đãi Người.
Cuối tháng 6 năm 1965
Sau khi đi nghỉ ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Chủ tịch Hồ Chí Minh được sự tháp tùng của đồng chí Giang Hoa- Bí thư tỉnh ủy Chiết Giang đã từ Hàng Châu về đến Nam Ninh. Các đồng chí Vi Quốc Thanh và Giang Hoa đã nói chuyện thân mật với Chủ tịch Hồ Chí Minh và đưa Người du ngoạn sông Ung. Đây cũng là chuyến đi Nam Ninh lần cuối cùng của Người.
2.5. Hệ thống các di tích lịch sử có liên quan tới Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây, Trung Quốc Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
2.5.1. Tại Quế Lâm
Trong lần thứ hai trở lại Trung Quốc vào cuối tháng 10 năm 1938, Nguyễn Ái Quốc đã tới Diên An thuộc phía Bắc tỉnh Thiểm Tây. Sau một thời gian ngắn ở đây,Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã sắp xếp để Nguyễn Ái Quốc về phía Nam. Cùng đi với Người có đồng chí Diệp Kiếm Anh.Với một thân phận mới là quân dân Trung Quốc dưới tên gọi là Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hoạt động trong Đảng cộng sản Trung Quốc tại văn phòng Bát Lộ Quân ở Quế Lâm. Lúc ấy trụ sở công khai đối ngoại của Văn phòng Bát Lộ Quân đặt ở đường Trung Sơn Bắc trong thành phố Quế Lâm, nhưng các phòng ban chủ yếu thuộc nội bộ cơ quan thì đặt tại thôn Lộ Mạc thuộc huyện Linh Xuyên ở phía Bắc thành phố, cách trung tâm thành phố 10km. Hồ Chí Minh được bố trí công tác tại phòng Cứu vong- một phòng có chức năng như câu lạc bộ. Hồ Chí Minh làm phó chủ nhiệm Phòng cứu vong kiêm ủy viên phụ trách sức khỏe và báo tường. Hồi đó Người cùng sinh hoạt Đảng với các đồng chí trong Chi bộ Đảng cộng sản Trung Quốc. Chỉ có đồng chí Lý Khắc Nông- phụ trách văn phòng Bát Lộ Quân là người biết rõ về thân thế của Hồ Chí Minh còn lại rất ít người biết về thân phận của Người
Tại đây, Người làm việc trong tòa soạn “Cứu vong Nhật báo”, nơi đây Người đã viết một loạt các bản thảo, bài báo và tự mình mang tới tòa soạn. Hồ Chí Minh đã lấy bút danh Bình Sơn đăng 11 bài viết trong “Cứu vong Nhật báo” của Quế Lâm. Hiện nay trụ sở của Văn phòng Bát Lộ quân tại số 96 đường Trung Sơn Bắc, thành phố Quế Lâm cùng một số cơ sở của Văn phòng ở thôn Lộ Mạc, huyện Linh Xuyên, ngoại ô Quế Lâm đều trở thành những di tích cách mạng quan trọng của Trung Quốc. Văn phòng Bát Lộ quân đã được xếp hạng và công nhận là Di tích quốc gia
Ngoài ra còn phải kể tới di tích thôn Lộ Mạc, phía Bắc ngoại thành Quế Lâm. Đây là trụ sở cơ quan văn phòng Bát Lộ Quân Quế Lâm- nơi Hồ Chí Minh làm việc tại phòng Cứu vong.
2.5.2. Tại Tĩnh Tây Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Cuối năm 1940, Nguyễn Ái Quốc rời Quế Lâm, qua Điền Đông, rồi Nam Ninh- thủ phủ tỉnh Quảng Tây đến huyện biên giới giáp Việt Nam là huyện Tĩnh Tây để về nước. Những địa danh như bản Nậm Quang, thôn Linh Quang, xã Thiện Bàn, bản Ngàn Tấy, làng Tân Khư, làng Long Lâm, thôn Vinh Lao, xóm Pà Mông, phố Đông Môn, Phố Tân Hoa hang Thông Phong trên núi Phong Nham ở xóm Pà Mông….. những tên gọi rất thân quen của huyện Tĩnh Tây đều in dấu chân Người.
Huyện Tĩnh Tây thuộc tỉnh Quảng Tây giáp giới huyện Hà Quảng thuộc tỉnh Cao Bằng. Từ những năm 1930 của thế kỷ trước đã có một số nhà cách mạng Việt Nam như Lê Quảng Ba, Trần Sơn Hồng, Hoàng Quốc Vân hoạt động cách mạng chống Pháp ở vùng biên giới Việt- Trung. Họ thường vượt qua biên giới, vào đất Tĩnh Tây, kết bạn, làm quen với nhiều nông dân người dân tộc Choang ở Tĩnh Tây, xây dựng nên tình hữu nghị và tình bạn sâu sắc, đặt cơ sở tốt cho Hồ Chí Minh và các thành viên Ban chỉ huy ở ngoài về Tĩnh Tây hoạt động cách mạng. Do sự phát triển của tình hình và nhu cầu của cuộc đấu tranh, Hồ Chí Minh và ban chỉ huy ở ngoài của Đảng đã quyết định chuyển về Tĩnh Tây hoạt động. Tại đây lưu giữ 6 di chỉ quan trọng trong hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.
Địa điểm cũ biện sự xứ Việt Minh, nằm ở số 302 phố Tân Sinh huyện Tịnh Tây. Tháng 12/1940 và tháng 4/1941, các nhân sĩ của Đảng phái Việt Nam có hoạt động ở huyện Tịnh Tây, đã thành lập hai đoàn thể là ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam và Việt Nam Dân tộc Giải phóng đồng minh hội. Chính tại nơi đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài hịch chiến đấu quan trọng là thư kính cáo đồng bào để quán triệt tinh thần Hội nghị lần VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng, kêu gọi nhân dân toàn quốc vươn lên chống chủ nghĩa đế quốc Nhật, Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc.
Hang Hồ Chí Minh tại Ba Mông nằm trên hòn núi Mông Sơn phía đông phố Ba Mông thị trấn Cừ Dương. Nơi đây Hồ Chí Minh đã tiến hành hoạt động tại vùng biên giới Việt- Trung dưới sự giúp đỡ của Từ Vĩ Tam- người dân làng nơi đây.Hang Hồ Chí Minh Long Lâm nằm đối diện núi Tam Đài cách phái tây nam phố Long Lâm huyện Tịnh Tây 2km, là nơi ẩn thân của người anh em kết nghĩa với Hồ Chí Minh – Trương Đình Vi. Nửa đầu năm 1941, Hồ Chí Minh thường xuyên đi lại giữa Pác Pó Việt Nam và Tịnh Tây, Trương Đình Vi đã đưa Người và các chiến hữu chiến đấu tạm ở trong hang động này.
Ngôi nhà cũ xóm Niệm Quang có liên quan đến Hồ Chí Minh nằm ở số 15 xóm Niệm Quang. Tháng 01/ 1941 khi mở lớp huấn luyện cán bộ tại xóm Niệm Quang, Hồ Chí Minh đã từng ngủ trọ ở nơi đây.
Hang Hồ Chí Minh tại Mống Má nằm trên hòn núi Lộng Pha Văn Mống Má. Hang động này một phần nằm ở Mống Má Trung Quốc, phần khác thì nằm ở Pác Bó Việt Nam. Đây là nơi nghỉ ngơi của Bác và các chiến hữu trong những năm đầu 40 của thế kỷ XX.
Cột mốc số 108 Việt- Trung nằm ở Lộng Pha Văn Mạnh Ma.Tháng 06/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm nước cứu và sau 30 năm, Người từ Quế Lâm chuyển về Tịnh Tây để tiến hành những hoạt động cách mạng. Ngày 18/11/1941, Người từ chỗ cột mốc số 108 ở biên giới Tịnh Tây trở về Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Cột mốc 108 đã trở thành di chỉ quan trọng và là nơi kỷ những hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
2.5.3. Tại Liễu Châu Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Bên cạnh Quế Lâm, Liễu Châu là một địa chỉ thứ hai hiện đang lưu giữ được nhiều hiện vật rất có giá trị về hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, một trong những địa chỉ ghi dấu ấn trong “Nhật ký trong tù” – nổi tiếng của Người với những địa danh như Thiên Bảo- Tĩnh Tây- Điền Đông- Bình Quả – Long An – Phù Tuy- Ung Minh- Nam Ninh- Vũ Minh- Tân Dương- Lai Tân- Liễu Châu- Quế Lâm. Ở Liễu Châu chúng ta không thể không nhắc tới ngọn núi Tây Phong Lĩnh hay hang núi Phan Long, nơi Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Gới Thạch giam cầm trong những ngày cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm 1943. Ngoài ra, ở Liễu Châu còn có ngôi nhà hai tầng số 2 trên đường Ngư Phong, là nơi Người đã ở từ tháng 12/1943 đến tháng 8/1944. Ngôi nhà này đã được xếp hạng khu di tích lưu niệm quan trọng cấp khu tự trị Choang, Quảng Tây. Đây có thể coi là một điểm nhấn quan trọng trong tuyến hành trình du lịch theo dấu chân Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây.
Ngoài ra còn phải kể đến một địa điểm di tích đáng chú ý trong hành trình này đó là trụ sở của Việt Nam cách mạng đồng minh hội tại đường Phong Ngư. Trụ sở là một ngôi nhà hai tầng xây gạch, khung gỗ, có hai phần giáp đường hồi đó là thư viện Nam Dương, phía sau là nơi ở của hội viên người Việt Nam. Căn phòng Bác ở nơi đây cũng thật đơn giản, chỉ có một chiếc giường nhỏ, một bàn làm việc và một máy in rô- nê- ô thủ công.
2.5.4. Tại Long Châu
Một trong những địa danh gắn bó rất nhiều kỷ niệm với Hồ Chí Minh đó là Long Châu- một huyện biên giới giáp với Cao Bằng và Lạng Sơn của Việt Nam.
Long Châu là một trong những địa danh của Quảng Tây có ngôi nhà số 99 phố Nam, được làm nơi trưng bày lưu niệm lớn nhất tại Trung Quốc hiện nay, trong đó đang lưu giữ khá nhiều hiện vật rất có giá trị về những năm tháng hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Đây là địa bàn hoạt động quan trọng của cách mạng Việt Nam ở bên ngoài khi xưa, thuận tiện cho việc thiết lập mối quan hệ quốc tế, nhất là với Trung Quốc.
Địa điểm này trước kia là nơi các nhà cách mạng Việt Nam đã thuê mở cửa hàng vừa để giữ bí mật, vừa để lấy tiền hoạt động trong những năm 19401944 và cũng là nơi Nguyễn Ái Quốc nhiều lần đến ở và hoạt động trong thời gian trên. Trong những năm vừa qua, nơi đây đã trở thành địa chỉ rất thân thiết của thế hệ trẻ Việt – Trung nhân các cuộc gặp gỡ hàng năm của thế hệ trẻ hai nước. Nước Bạn cũng mong muốn hai bên sẽ tổ chức các tuyến du lịch theo dấu chân chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng, Lạng Sơn- Long Châu- Nam Ninh- Liễu Châu- Quế Lâm, góp phần tích cực vào giao lưu kinh tế và văn hóa giữa hai nước Trung- Việt.
Đặc biệt, hành trình thăm quan các di tích Hồ Chí Minh này còn kết hợp thăm quan những danh thắng của Quảng Tây như núi Vòi Vòi – biểu tượng của thành phố Quế Lâm, du thuyền trên sông Ly ngắm quần thể thác nước nhân tạo lớn nhất Trung Quốc. Sự kết hợp này tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho các chuyến tham quan di tích Hồ Chí Minh ở Quảng Tây.
2.6. Nghiên cứu thị trường cung. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
2.6.1. Tiềm năng du lịch và định hướng phát triển không gian du ịch của Quảng Tây, Trung Quốc.
Quảng Tây có ưu thế về vị trí địa lý ven biển, ven sông và ven biên giới, nằm ở chỗ giao nhau giữa vùng kinh tế Hoa Nam, vùng kinh tế Tây Nam và vùng kinh tế ASEAN, là con đường ra biển ngắn nhất cho vùng Tây Nam, thậm chí cả vùng Tây Bắc Trung Quốc, cũng là con đường trọng yếu liên kết Quảng Đông, Hồng Kông, Ma Cao với phía Tây. Đặc biệt là từ khi thành lập khu mậu dịch tự do Trung Quốc và ASEAN, Quảng Tây là đầu mối nối vùng Tây Nam, Hoa Nam, Trung Nam của Trung Quốc với thị trường ASEAN rộng lớn.
Ngoài ra phải kể các ưu thế sau của Quảng Tây:
Ưu thế ven biển: Quảng Tây có 21 cảng biển lớn nhỏ, trong đó có 5 cảng có năng lực cập bến từ một vạn tấn trở lên là Phòng Thành, Khâm Châu, Bắc Hải, Trân Châu và Thiết Sơn. Những cảng biển Quảng Tây có những đặc điểm tự nhiên là nước sâu, tránh gió tốt, sóng nhỏ, gần các cảng biển khu vực Đông Nam Á, Hồng Kông và Ma Cao: cảng Bắc Hải cách cảng Hồng Kông 425 hải lý; cảng Khâm Châu cách cảng Singapore 1.338 hải lý; cảng Phòng Thành cách cảng Hải Phòng 151 hải lý, cách Bangkok 1.439 hải lý.
Ưu thế ven biên giới: 8 huyện của Quảng Tây giáp với Việt Nam, hiện nay có 12 cửa khẩu biên giới, trong đó có 5 cửa khẩu cấp 1 quốc gia là Đông Hưng, Bằng Tường, Hữu Nghị Quan, Thủy Khẩu, Long Bang, ngoài ra còn có 25 điểm giao dịch giữa nhân dân vùng biên giới. Đường sắt Tương Quế (Hồ Nam – Quảng Tây) nối liền với hệ thống đường sắt của Việt Nam, theo đường liên vận nối từ Bắc Kinh đến Hà Nội.
Quảng Tây có 3 khu phong cảnh, 1 khu du lịch, 7 di tích lịch sử và 11 công viên cấp quốc gia. Nổi tiếng nhất có khu phong cảnh Ly Giang, đoạn từ Quế Lâm đến Dương Sóc, tập trung nhiều hang động đá vôi tuyệt đẹp, là một trong 4 danh thắng du lịch lớn nhất Trung Quốc. Ngoài ra, còn có các điểm du lịch nổi tiếng khác như: hố trời ở Bách Sắc, bãi biển Bắc Hải, rừng núi Đại Dao. Tiềm năng du lịch của Quảng Tây rất phong phú, đa dạng về mặt tự nhiên, giàu bản sắc dân tộc và văn hóa lịch sử. Với những điều kiện thuận lợi đó đủ để du lịch Quảng Tây phát triển với tất cả các loại hình du lịch khách nhau trong tương lai. Trong các tài nguyên nhân văn, các di tích lịch sử văn hóa gắn liền với lịch sử văn hóa bản địa có sức hấp đẫn và lôi cuốn du khách.
Trung Quốc thực hiện chiến lược “Đại khai phát miền Tây”, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) và thành lập khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN, đã đem lại cho Quảng Tây những cơ hội tốt để phát triển hơn nữa. Quảng Tây hiện đang đẩy mạnh tăng cường hợp tác kinh tế với vùng Quảng Đông, Hồng Kông, Ma Cao, chủ động hội nhập vào vùng kinh tế ven biển, vùng kinh tế tam giác Chu Giang, đồng thời, tăng cường hợp tác giao lưu toàn diện với các nước Đông Nam Á, phát huy đầy đủ tác dụng vai trò cầu nối giữa Trung Quốc với khối ASEAN, đưa sự phát triển phồn vinh và mở cửa hội nhập quốc tế của Quảng Tây lên tầm cao mới. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Hơn nữa, Trung Quốc là nước láng giềng, có vị trí địa lý thuận lợi trong việc thu hút khách Việt Nam bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không (với các đường bay ngắn, tần suất lớn nối nhiều thành phố của Trung Quốc với Việt Nam), khách du lịch Việt Nam sang Trung Quốc có thể sử dụng hộ chiếu (đường hàng không và đường bộ); giấy thông hành (theo đường bộ, đường biển). Không những thế Trung Quốc và Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao trên 60 năm. Quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực kinh tế, thương mại, văn hóa. Trung Quốc là đối tác lớn của Việt Nam trên nhiều
2.6.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
2.6.2.1. Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển du lịch. Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch chủ yếu bao gồm hệ thống giao thông vận tải; mạng lưới thông tin liên lạc; khả năng cung cấp điện nước. Trong thời gian gần đây, kết cấu hạ tầng của Quảng Tây đã được đầu tư từng bước và ngày càng có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực.
Hệ thống giao thông vận tải
Đường sắt cao tốc Quảng Tây khai thông, giữa các thành phố Quế Lâm, Liễu Châu, Nam Ninh, Khâm Châu, Bắc Hải, Phòng Thành Cảng đã thực hiện nối liền đường sắt cao tốc, hình thành “Vành đai giao thông 1 tiếng đồng hồ” giữa Nam Ninh với thành phố Vịnh Bắc Bộ, “Vành đai giao thông 2 tiếng đồng hồ” giữa các thành phố chủ yếu trong Khu tự trị Quảng Tây, “Vành đai giao thông 3 tiếng đồng hồ” đến những tỉnh lân cận, làm cho sự phân phối tài nguyên giữa các loại thị trường trở lên càng ưu hóa.
Quảng Tây đang hoàn thiện xây dựng mạng lưới đường sắt, cố gắng thực hiện mở rộng phạm vi kinh tế khu vực giữa các thành phố. Hiện nay, đoạn đường sắt cao tốc trong khu tự trị thuộc tuyến đường sắt cao tốc Nam Ninh-Quảng Châu đang tiến hành điều chỉnh, khai thông vận hành vào tháng 4 năm nay, cuối năm sẽ khai thông toàn tuyến đường sắt cao tốc này, đến lúc ấy từ Nam Ninh đến Quảng Châu chỉ mất 3 giờ đồng hồ. Tiếp tục xây dựng hoàn thiện đường sắt 5 hướng như Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam, Quảng Đông và ASEAN, hình thành bố cục mạng lưới đường sắt thông phía Bắc, đến phía Nam, tiến phía Đông, liền phía Tây, cung cấp vận tải nâng đỡ gây dựng điểm tựa chiến lược mới cho vùng Tây Nam và vùng Trung Nam mở cửa phát triển. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Hệ thống giao thông đường bộ
Mạng lưới giao thông trong thành phố Nam Ninh ngày càng được xây dựng hoàn chỉnh, hiện nay thành phố có 4 vòng đai giao thông đó là vòng đai 1, vòng đai 2, vòng đai cao tốc và vòng đai cao tốc ngoài thành phố. Hiện toàn thành phố có tất cả 36 bến xe khách, khai thông 754 tuyến xe khách trong và ngoài thành phố, cũng đã khai thông 56 tuyến đường chẵn lẻ. Thành phố hiện có 9 công ty taxi, số lượng taxi khoảng 3450 cái. Có 4 công ty xe buýt, và hiện có 1981 chiếc xe buýt đang lưu thông. Ở Nam Ninh có hai bến xe lớn:
Nhà ga xe buýt Langdong (埌东) trên đại lộ Dân Tộc (民族 大道; Minzu Dadao)
Yunde (云德; Yúndé) xe khách từ Hà Nội đến Bến xe Langdong. Xe buýt rời khỏi Langdong tại 08:40, 09:00 và 10:00. Cuộc hành trình mất 7 giờ. Ngoài ra còn có xe buýt trực tiếp tới Nam Ninh từ Hải Phòng và Vịnh Hạ Long. Bến xe Giang Nam là trên Xingguang Dadao cách phía Nam trung tâm thành phố. Xe buýt từ phía Nam, Bằng Tường ở gần biên giới Việt Nam (lượt khoảng 2,5 giờ, ¥ 60), và Yangshuo (thông qua Quế Lâm) hoạt động từ Giang Nam. Xe buýt 41 (¥ 3, 20phút/hành trình) kết nối Giang Nam đến đường Triều Dương trong trung tâm thành phố. Đón các xe này từ quảng trường phía trước bến xe.
Hệ thống giao thông đường thủy
Nam Ninh có đường sông, đường biển (cách cảng Phòng Thành 172km, cảng Bắc Hải 204km, cảng Khâm Châu 104km) và đường biên giới (đường biên giới với cửa khẩu Hữu Nghị 175km) địa phận thuận tiện, có đường hàng không phát triển, đường sắt, đường bộ, đường thủy thiết lập thành mạng lưới giao thông vận tải.
Đường tàu hỏa
Được khởi hành từ ga Gia Lâm- Hà Nội và kết thúc tại ga Nam ninh- Quảng Tây. Đoàn tàu du lịch sẽ dừng đón và trả khách ở 6 ga, tại Việt Nam là 3 ga Gia Lâm, Bắc Giang và Đồng Đăng (Lạng Sơn). Chuyến tàu đi từ Gia Lâm lúc 19h và đến Nam Ninh lúc 8h sáng hôm sau. Chuyến về từ Nam Ninh lúc 17h chiều và đến Gia Lâm lúc 6h sáng hôm sau. Tại cửa khẩu, tàu phải dừng 3 tiếng để làm thủ tục xuất nhập cảnh.
Đường hàng không
Ở Quảng Tây có 5 sân bay lớn là:
- Sân bay Phúc Thành- Bắc Hải
- Sân bay quốc tế Lưỡng Giang- Quế Lâm
- Sân bay Bạch Liên – Liễu Châu
- Sân bay quốc tế Ngô Vu – Nam Ninh
- Sân bay Trường Châu Đảo- Ngô Châu
Sân bay quốc tế Ngô Vu Nam Ninh phục vụ cả chuyến bay nội địa và một số tuyến bay quốc tế. Do thành phố Nam Ninh là cửa ngõ của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á, chính quyền địa phương được đặt rất nhiều sự nhấn mạnh về kết nối Nam Ninh đến các thủ đô của các nước Đông Nam Á. Từ sân bay này có các tuyến bay thẳng với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
2.6.2.2. Phương án vận chuyển
Theo Nghị định thư giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc thực hiện hiệp định vận tải đường bộ đã mở ra 10 tuyến vận tải hành khách qua các cửa khẩu bao gồm:
- Cảng Phòng Thành (Quảng Tây) qua cặp cửa khẩu Đông Hưng (Trung Quốc) và cửa khẩu Móng cái (Việt Nam) dến huyện Tiên Yên (Quảng Ninh) và ngược lại.
- Thành phố Nam Ninh (Quảng Tây) qua cặp cửa khẩu Đông Hưng (Trung Quốc) và cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam) đến thành phố Hạ Long và ngược lại.
- Thành phố Bắc Hải (Trung Quốc) qua cặp cửa khẩu Đông Hưng (Trung Quốc) và cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam) đến thành phố Hạ Long và ngược lại.
- Thành phố Bằng Tường (Quảng Tây) qua cặp cửa khẩu Hữu Nghị Quan (Trung Quốc) và cửa khẩu Hữu Nghị (Việt Nam) đến thành phố Lạng Sơn và ngược lại.
- Huyện Long Châu (Quảng Tây) qua cặp cửa khẩu Thủy Khẩu (Trung Quốc) và cửa khẩu Tà Lùng (Việt Nam) đến thị xã Cao Bằng và ngược lại.
- Thành phố Cá Cựu (Vân Nam) qua cặp cửa khẩu Hà Khẩu (Trung Quốc) và cửa khẩu Lào Cai (Việt Nam) đến huyện Bảo Yên, Văn Bàn (Lào Cai) và ngược lại.
- Huyện Mông Tự (Vân Nam) qua cặp cửa khẩu Hà Khẩu (Trung Quốc) và cửa khẩu Lào Cai ( Việt Nam) đến huyện Bảo Yên, Văn Bàn (Lào Cai) và ngược lại.
- Thành phố Cá Cựu (Vân Nam) qua cặp cửa khẩu Hà Khẩu (Trung Quốc) và cửa khẩu Lào Cai (Việt Nam) đến Sapa ( Lào Cai) và ngược lại.
Với điểm xuất phát từ Hà Nội đến Lạng sơn khoảng cách 154km, từ Hà Nội đến Móng Cái-Quảng Ninh là 327km, Hà Nội đến cửa khẩu Lào Cai là 338km thì phương án vận chuyển có thể lựa chọn là:
- Đường bộ
Lấy điểm xuất phát của các chương trình du lịch là từ Hà Nội thì ta có thể khai thác từ tính thuận lợi của các tuyến đường giao thông sau: Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Quốc lộ 1A: Hà Nội- Bắc Ninh- Hải Dương- Hưng yên- Bắc Giang- Lạng Sơn
- Quốc lộ 3: Hà Nội- Thái Nguyên- Bắc Kạn- Cao Bằng- Quảng Yên- Tà Lùng
- Quốc lộ 18: Hà Nội- Bắc Ninh- Hải Dương- Quảng Ninh- Móng Cái – Đông Hưng- Phòng Thành- Nam Ninh
Các tuyến du lịch dành cho khách du lịch sẽ được căn cứ trên đặc thù của giao thông và sự thuận tiện của ăn uống, lưu trú… Phương án vận chuyển đường bộ cho khách du lịch đi theo nhóm nhỏ, đi đơn lẻ hoặc tự tổ chức theo dạng ba lô. Ta có thể sử dụng dịch vụ vận chuyển các tuyến xe liên vận từ Hà Nội- Lạng Sơn, xe Vận Đức đi từ Trần Khát Chân- Lạng Sơn- Hữu Nghị Quan hoặc khởi hành từ bến xe nước ngầm đi Lạng Sơn cho chặng hành trình du lịch đến Quảng Tây của du khách.
Hiện nay, vận chuyển liên vận Việt- Trung rất phổ biến với chất lượng phương tiện khá tốt, chủ yếu là do các doanh nghiệp, các chủ xe của Việt Nam đầu tư phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa cũng như việc đi lại của du khách. Các phương tiện vận chuyển chủ yếu hiện nay là các dòng xe 45 chỗ của Hàn Quốc Huyndai Space. Hơn nữa, ngày nay do nhu cầu của người Việt sinh sống và buôn bán tại Quảng Tây, Quảng Châu Trung Quốc ngày càng gia tăng nên việc vận chuyển hàng hóa, hành khách mỗi ngày một nhiều, có khoảng từ 8-10 chuyến mỗi ngày, chủ yếu xuất phát từ bến xe nước ngầm, Trần Khát Chân và các dịch vụ xe đưa đón tận nhà…đi theo quốc lộ 1A, qua cửa khẩu Hữu Nghị Quan. Một số nhà xe đi Hữu Nghị Quan như Nhà xe Hoa Thêm, Nhà xe Việt Trung, Nhà xe Sơn Đức…
Giá của việc vận chuyển khá rẻ cho hành trình từ Hà Nội- Nam Ninh (khoảng 289km) giá vé khoảng 450.000- 500.000d/ hành trình.
Thời gian vận chuyển cho hành trình này là 11h, du khách khởi hành từ Hà Nội vào 8h sáng đến 6h chiều sẽ có mặt tại Nam Ninh và có thể nghỉ tại Nam Ninh một đêm, hôm sau có thể khởi động các chương trình du lịch từ Nam Ninh đi Liễu Châu, Quế Lâm, Túc Vinh, Long Châu….
Theo đường quốc lộ số 18 khởi hành từ Hà Nội, du khách có thể sử dụng các xe Ka Long, Đại Phát… Với khoảng cách Hà Nội – Hạ Long : 180-200km; Hạ Long- Móng Cái: 160km gần 360km. Từ Hà Nội du khách có thể đi theo cầu Thanh Trì hoặc Vĩnh Tuy ra đường 5 Hà Nội- Hải Phòng. Từ đây có thể rẽ lên đường 1A Hà Nội- Lạng Sơn tới quốc lộ 18 thì rẽ đi Hạ Long- Móng Cái . Tại bến xe Lương Yên và bến xe Mỹ Đình hàng ngày có rất nhiều xe đi thẳng tới Móng Cái, thuận tiện cho du khách muốn tới Quảng Tây du lịch.
- Đường sắt
Đi tuyến tàu liên vận Hà Nội- Nam Ninh qua cửa khẩu Đồng Đăng- Bằng Tường- Sùng Tả- Nam Ninh Kể từ ngày 01/01/2018 Đường sắt Việt Nam đã tổ chức chạy hàng ngày tàu khách Quốc tế Hà Nội- Nam Ninh giữa Nam Ninh (Trung Quốc) và Gia Lâm ( Việt Nam).
- Từ Nam Ninh đi Gia Lâm: Tàu mang mác hiệu MR2
- Từ Gia Lâm đi Nam Ninh : Tàu mang mác hiệu MR1
Các ga dừng đón tiễn khách: Gia Lâm, Bắc Giang, Đồng Đăng (Việt Nam) ; Bằng Tường, Sủng Tả, Nam Ninh (Trung Quốc). Khi đến ga Đồng Đăng du khách sẽ xuống tàu làm thủ tục xuất cảnh, thời gian khoảng 1-2h làm thủ tục và làm thủ tục nhập cảnh ở Bằng Tường (Trung Quốc) . Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Thời gian khởi hành từ ga Gia Lâm là 21h40 và đến Nam Ninh vào 9h12 sáng ngày hôm sau.
Giá vé cho cả chặng được chia thành 2 loại:
- Đối với giá vé dành cho toa xe nằm cứng (6 người một khoang): 20,29 Fanc Thụy Sỹ
- Đối với giá vé dành cho toa xe nằm mềm (4 người một khoang) : 31,53 Fance Thụy Sỹ.
Tỷ giá quy đổi giữa tiền Frane Thụy Sỹ với tiền Việt Nam đồng căn cứ vào tỷ giá thị trường do Viện nghiên cứu thị trường- giá cả (Bộ tài chính) phát hành vào ngày bán vé.
Hiện nay tuyến đường sắt liên vận này chưa tổ chức bán vé khứ hồi và vé chiều về, chưa nhận chuyên chở hành lý bao gửi. Vì thế hành khách chỉ có thể đăng ký giữ chỗ lượt về tại ga đi và mua vé lượt về tại ga đến trước giờ tàu chạy 3 ngày.
2.6.2.3. Cơ sở lưu trú.
Trong quá trình xây dựng chương trình du lịch đi Quảng Tây, đối với các chương trình du lịch khởi hành từ Hà Nội, thông qua khảo sát thực địa tác giả đã trực tiếp thị sát và đề xuất một số phương án trong tổ chức lưu trú cho du khách khi đi đến tham quan đất nước bạn.
Chương trình khởi hành qua tuyến quốc lộ 1A: Từ Hà Nội- Hữu Nghị Quan –Bằng Tường- Nam Ninh – Liễu Châu -Quế Lâm và tỏa đi các điểm du lịch khác . Các điểm lưu trú tại các điểm dừng chân trong chương trình:
Tại Nam Ninh
- Hai run yun tian Hotel (海东云天国东酒店)
- Địa chỉ : 西东塘区安吉路 1 号
- Điện thoại : 0771-2530988.
Wanxing Hotel – Beining Street
- Địa chỉ: No.42-1 Beining Street, Xingning District, 530012 Nam Ninh, Trung Quốc
- Điện thoại: (+86) 771-238-1000
Jinjiang Inn – Nanning International Exhibition Center
- Địa chỉ: Building A, Oriental Mansion, Zhongdingwanxiang, No.141
- Minzu Avenue, 530000 Nam Ninh, Trung Quốc
- Điện thoại: (+86) 400-820-9999
Nanning Zelin Hotel
- Địa chỉ: No.29 Taoyuan Road , 530021 Nam Ninh, Trung Quốc
- Điện thoại : (+86) 400-6886-687
Tại Quế Lâm
Guilin Wisteria Hotel
- Địa chỉ: 100m south from Qintan Coach Station, Heishan Road, Xiufeng
- District, 541004 Quế Lâm, Trung Quốc
- Điện thoại: 400-960-3800
Mansion 1940
- Địa chỉ: No.20,North of Huanchengyi Road,Diecai District, 541000 Quế
- Lâm, Trung Quốc
Tại Liễu Châu
Jinjiang Inn Liuzhou Bubugao Square North Station
- Địa chỉ: No.114 North Station Road, 545021 Liễu Châu, Trung Quốc City Comfort Inn Liuzhou Liushi Road
- Địa chỉ: Near Longjing Community,No 378-1,Liushi Road,Yufeng
- District, 545000 Liễu Châu, Trung Quốc
Liuzhou Hotel
Địa chỉ: No. 1, Youyi Road, 545001 Liễu Châu, Trung Quốc
- Chương trình khởi hành theo tuyến quốc lộ 3: Hà Nội – Thái Nguyên- Bắc Kạn- Cao Bằng- Quảng Yên- Tà Lùng –Thủy khẩu- Long Châu. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Chương trình khởi hành qua tuyến Quốc lội 18: Hà Nội- Bắc Ninh- Hải Dương- Quảng Ninh- Móng Cái – Đông Hưng- Phòng Thành- Nam Ninh- Quế Lâm- Liễu Châu
Các điểm lưu trú tại các điểm dừng chân trong chương trình
Tại Đông Hưng- Phòng Thành Cảng
- Dongxing Dequan Hotel
- Địa chỉ: No.19, the Fourth Lane, North Nachao Road, 538100 Phòng Thành Cảng, Trung Quốc
7Days Inn Fangchenggang Tao Hua Wan Plaza
- Địa chỉ: No.13-14, Kang Chen Xiao Qu, Yong Jun Road, Gang Kou District, 538000 Phòng Thành Cảng, Trung Quốc.
2.6.2.4. Cơ sở ăn uống
Khi đi du lịch Quảng Tây, Trung Quốc du khách nên chuẩn bị một ít thức ăn khô như muối vừng, ruốc, mì gói… đề phòng không quen ăn xì dầu, đồ ăn nhiều mỡ. Thông thường các món ăn ở Trung Quốc sẽ không hợp khẩu vị du khách Việt Nam bởi độ cay, dầu mỡ… Trung Quốc không có thói quen dùng nước mắm, ớt tương như người Việt Nam.
Hơn nữa, tại các điểm du lịch của Quảng Tây các dịch vụ ăn uống vẫn mang tính nhỏ lẻ, quy mô nhà hàng chưa lớn và đặc biệt chưa phản ảnh được về văn hóa ẩm thực của vùng bản địa.
Theo các tuyến tour du lịch Hà Nội- Nam Ninh hiện nay thì đa số các công ty lữ hành sẽ cho khách du lịch dừng chân nghỉ tại thị trấn Mẹt để ăn sáng (chi phí tự túc) sau đó ăn trưa tại nhà hàng bên Bằng Tường- Trung Quốc sau khi làm xong thủ tục xuất nhập cảnh. Do vậy mà dịch vụ ăn uống phục vụ cho du khách còn thiếu thốn, các nhà hàng chuyên nghiệp chỉ có ở trung tâm thủ phủ Nam Ninh và ở Quế Lâm là chủ yếu.
Chính vì vậy, cần có công tác chuẩn bị kỹ càng và chuẩn mực về các điểm đến phục vụ ăn uống trong chương trình, đặc biệt là các chương trình khởi hành bằng đường bộ có các điểm dừng chân ở dọc đường, nhằm đảm bảo về thời gian cũng như chất lượng của hành trình du lịch Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
2.7. Nghiên cứu thị trường cầu du lịch
2.7.1. Nghiên cứu dòng khách Việt Nam đi du lịch ở Quảng Tây, Trung Quốc
Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc được củng cố và hoàn thiện đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch của hai nước phát triển. Bên cạnh đó, sự quan tâm hợp tác về du lịch với những chính sách và hiệp định ký kết giữa hai bên đã tạo sự thông thoáng, dễ dàng hơn trong thủ tục xuất- nhập cảnh cũng tạo điều kiện cho du lịch phát triển. Do vậy làm tăng nhu cầu đi du lịch Trung Quốc của người Việt Nam hơn.
Theo báo cáo thống kê của tổng cục du lịch Trung Quốc thì khách du lịch Việt Nam xếp thứ 5 trong tổng số nguồn khách chủ yếu của thị trường khách du lịch Trung Quốc.
Bảng 2.1. Số liệu thống kê tình hình nguồn khách chủ yếu của Trung Quốc giai đoạn 2023-2024
| STT | Tên quốc gia | Số lượng nhập cảnh (vạn lượt người) | Tăng trưởng (%) | |
| 1 | Hàn Quốc | 29.45 | -6.5 | |
| 2 | Nhật Bản | 22.77 | -12.9 | |
| 3 | Mỹ | 18.09 | -7.7 | |
| 4 | Nga | 17.55 | -17.7 | |
| 5 | Việt Nam | 13.90 | 11.8 | |
(Nguồn: Tổng cục du lịch Trung Quốc) Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Ngày nay, quan hệ du lịch giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng trở nên chính thống hơn với nghị định thư về thanh toán giữa hai nước tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp từ phía Việt Nam, do vậy cũng làm tăng nhu cầu du lịch Trung Quốc. Sự quan tâm phát triển du lịch của hai nước đã tạo điều kiện khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành của hai bên có quan hệ hợp tác với nhau để trao đổi khách. Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp lữ hành ở Việt Nam tổ chức các tour du lịch sang Trung Quốc giúp cho người Việt Nam có thể dễ dàng tìm kiếm và lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu hơn. Tiêu biểu có thể kể đến một số điểm, tuyến điểm du lịch của dòng khách Việt Nam đi du lịch ở Quảng Tây như :
- Hà Nội- Nam Ninh
- Hà Nội- Nam Ninh- Bắc Hải
- Hà Nội- Nam Ninh- Côn Minh
- Hà Nội- Nam Ninh- Quế Lâm
- Hà Nội- Nam Ninh- Quế Lâm- Dương Sóc
- Hà Nội- Nam Ninh- Dương Sóc- Ngân Tử Nham
- Các khu vực khách du lịch Việt Nam đến Quảng Tây- Trung Quốc du lịch
Theo một cuộc điều tra của Cục du lịch Quảng Tây thì nguồn khách du lịch Việt Nam được đánh giá như sau.
- Số phiếu đưa ra: 270
- Số phiểu thu về: 270
Bảng 2.2. Các khu vực khách du lịch Việt Nam đến Quảng Tây du lịch giai đoạn 2023-2024
|
Các khu vực |
Số lượng ( người) | Chiếm tỷ lệ ( %) |
| Khu vực phía Bắc ( bao gồm : Hà Nội, Thanh Hóa, Hải Phòng, Lạng Sơn, Hòa Bình, Tuyên Quang) | 155 | 57.4 |
| Khu Vực Trung Bộ ( Đà Nằng, Nghệ An, Quảng Nam) | 65 | 24.1 |
| Khu vực Nam Bộ ( Gồm : Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Đồng Tháp) | 50 | 18.5 |
(Nguồn: Cục du lịch Quảng Tây- Trung Quốc) Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Cũng trong cuộc điều tra này, trong 270 khách du lịch Việt Nam tiếp nhận cuộc điều tra thì có 252 khách là khách du lịch đến từ đoàn du lịch chiếm 93.3%, khách lẻ chiếm 18 người chiếm 6.7%
- Mục dích đi du lịch của dòng khách Việt Nam đi du lịch Quảng Tây- Trung Quốc
Bảng 2.3. Mục đích tới Quảng Tây của các du khách Việt Nam giai đoạn 2023-2024
| Mục đích đi du lịch | Tham quan, nghỉ dưỡng | Hội nghị | Trao đổi khoa học, công nghệ | Thăm người thân, bạn bè | Hoạt động thương vụ | Mục đích khác |
| Số lượng (người) | 254 | 10 | 8 | 4 | 4 | 6 |
| Tỷ trọng ( %) | 88.8 | 3.5 | 2.8 | 1.4 | 1.4 | 2.1 |
( Nguồn: Cục du lịch Quảng Tây- Trung Quốc)
Trong dó, có 237 khách du lịch là đến Quảng Tây du lịch lần đầu chiếm 85.5%, khách du lịch đến Quảng Tây nghỉ đêm lần đầu chiếm 100% đều là khách du lịch đi theo đoàn, số lượt khách du lịch Việt Nam đến Quảng Tây du lịch lần 2-3 chiếm 74.4%, 4 lần trở lên chiếm 25.6%.
Dựa trên những số liệu trên, cục du lịch Quảng Tây đã đưa ra đánh giá phân tích khả năng chi trả của du khách Việt Nam khi đến đây du lịch như sau: Đối với những du khách nghỉ qua đêm thì phí tiêu dùng bình quân mỗi ngày là 163.83 USD.
Đối với khách du lịch nghỉ qua 1 đêm thì phí tiêu dùng được điều tra như sau: theo 113 khách du lịch tham gia điều tra thì phí tiêu dùng trong dưới 100 USD có 65 người chiếm 57.5%, phí tiêu dùng từ 100-250 USD có 6 người chiếm 5.3% ; phí tiêu dùng từ 500-1000 USD có 3 người chiếm 2.7%.
Từ những số liệu nêu trên, có thể thấy rằng, dòng khách Việt đi du lịch Trung Quốc cụ thể là ở Quảng Tây tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc Việt Nam, nơi có vị trí địa lý thuận lợi, tiết kiệm chi phí đi lại cho khách du lịch. Ngoài ra, có thể thấy khả năng chi trả của du khách Việt Nam tương đối cao, điều này chứng tỏ du khách Việt cũng rất chịu chi trong những chuyến đi du lịch ra nước ngoài.
2.7.2. Hoạt động nối tour của các công ty lữ hành Việt Nam sang Quảng Tây, Trung Quốc. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
Thị trường du lịch Trung Quốc ngày càng hấp dẫn đối với các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam. Hiện nay, tất cả các công ty lữ hành quốc tế lớn tại Việt Nam đều tổ chức cho người Việt Nam đi du lịch Trung Quốc.
Bên cạnh đó các công ty du lịch vừa và nhỏ cũng thường là đại lý hoặc gửi khách qua các công ty lớn. Mỗi công ty có những lợi thế khác nhau về địa lý (gần nguồn khách), giá cả, chất lượng sản phẩm… Do vậy khách hàng có điều kiện tìm hiểu và cân nhắc để lựa chọn sản phẩm cho phù hợp với khả năng tài chính và sở thích của mình. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để thu hút người Việt Nam đi du lịch ở Trung Quốc, đặc biệt là sang Quảng Tây du lịch- nơi có vị trí địa lý nằm sát biên giới phía Bắc nước ta.
Những tour du lịch tổ chức sang Quảng Tây (Trung Quốc) có thể kể đến các nhà cung cấp tour nổi tiếng như Vietravel với tour một ngày từ Hà Nội- Hữu nghị quan- Nam Ninh, 02 ngày với tour Nam Ninh- Quế Lâm, 03 ngày với tour Quế Lâm- Dương Sóc…..với giá cả hợp lý.
Hơn nữa, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển với tốc độ khá cao và theo xu hướng khu vực toàn cầu hóa thì việc tìm kiếm đầu tư vào thị trường nước ngoài và liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài đã trở nên phổ biến. Chính điều này đã tạo điều kiện cho hoạt động du lịch outbound phát triển vì các doanh nhân thường kết hợp đi du lịch trong các chuyến công vụ (du lịch công vụ). Chính vì thế mà Việt Nam và Trung Quốc đã và đang hình thành nên nhiều mối quan hệ hợp tác kinh tế trên phương diện giữa hai chính phủ nói chung và giữa các doanh nghiệp của hai nước nói riêng.
Do đó, mà có rất nhiều các chuyến đi thăm quan, khảo sát thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam trên đất nước Bạn và những chuyến đi này thường được tổ chức dưới dạng du lịch công vụ. Bởi lẽ Trung Quốc là thị trường rộng lớn và có tốc độ phát triển cao luôn có sức hấp dẫn đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi mà rất nhiều các công ty, đoàn thể, cơ quan lựa chọn Trung Quốc để du lịch công vụ cũng như kết hợp nghỉ dưỡng. Chính nhờ những điều kiện trên đã góp phần tạo thúc đẩy những hoạt động outbound của các công ty lữ hành đến nước láng giềng- Trung Quốc ngày một nhiều.
Hoạt động tổ chức nối tour du lịch của các công ty lữ hành Việt Nam sang Quảng Tây, Trung Quốc được tổ chức dưới hai hình thức :
Khách đoàn của các cơ quan, đoàn thể – Khách lẻ ghép đoàn.
Đối tượng khách đoàn thường là do các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, đoàn thể… tổ chức cho cán bộ đi tham quan, khảo sát thị trường nước ngoài hoặc tổ chức các kỳ nghỉ cho cán bộ, nhân viên. Cơ quan sẽ đứng ra tổ chức chuyến đi, thực hiện ký kết hợp đồng với công ty du lịch và chi trả toàn bộ chi phí. Hình thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản ngân hàng.
2.7.3. Hoạt động du lịch quốc tế tại các địa phương có cửa khẩu chính sang Quảng Tây, Trung Quốc. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
- Tại Lạng Sơn qua cửa khẩu Hữu Nghị Quan
Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị là cửa khẩu quốc tế của Việt Nam nằm trên biên giới Việt Nam – Trung Quốc, đây là điểm nối tuyến đường cao tốc Nam Ninh – Hà Nội, là cầu nối quan trọng trong phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, Việt Nam đã cắm cột mốc 1116 và phía Trung Quốc cắm cột mốc 1117.
Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị là điểm bắt đầu của Quốc lộ 1A, nơi đặt cột mốc số 0, nằm cách thành phố Lạng Sơn 17km về phía Bắc, cách Hà Nội 171km về phía Đông Bắc. Cửa khẩu thuộc địa phận thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Còn bên kia cột mốc chủ quyền là thị trấn Hữu Nghị, thành phố Bằng Tường, thành phố Sùng Tả, khu tự trị dân tộc Choang.
Thời gian làm việc phía Việt Nam là 7h00 – 19h00 giờ Hà Nội (hàng hóa xuất – nhập khẩu trước 16h30). Thời gian làm việc phía Trung Quốc là 8h00 – 20h00 giờ Bắc Kinh (hàng hóa xuất – nhập khẩu trước 17h30).
- Tại Quảng Ninh qua cửa khẩu Móng Cái- Đông Hưng
Thời gian qua, thành phố Móng Cái đã nỗ lực với nhiều giải pháp tích cực để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó có việc tạo lập môi trường kinh doanh du lịch văn minh thông qua xây dựng thương hiệu gắn với “3T” đó là: Thân thiện -Tin cậy – Tiện lợi”; phát huy hiệu quả các sản phẩm du lịch đã thu hút được lượng lớn du khách tới tham quan. Mới đây, Móng Cái thí điểm tạm thời đón khách du lịch Trung Quốc sử dụng giấy thông hành tham quan tại thành phố; đưa 3 tuyến và 12 điểm du lịch đi vào hoạt động.
Móng Cái cũng đã hoàn tất thủ tục tham mưu đề xuất xin ý kiến và tổ chức ký kết “Bản thỏa thuận về thiết lập quan hệ thành phố hữu nghị với thành phố Đông Hưng (Trung Quốc)”; ký kết “Thỏa thuận hợp tác du lịch giữa Khu du lịch Trà Cổ (Móng Cái) và Khu du lịch Bạch Lãng Than (Trung Quốc)” để không ngừng thu hút khách du lịch nước ngoài
- Tại Lào Cai qua cửa khẩu Hà Khẩu
Huyện tự trị người Dao Hà Khẩu là huyện cửa khẩu của Trung Quốc, thuộc Châu tự trị dân tộc Cáp Nê, Di Hồng Hà, phía nam của tỉnh Vân Nam, giáp biên giới với tỉnh Lào Cai, Việt Nam. Huyện có diện tích 1.313 km² và có 80.000 dân (thống kê năm 2011), được biết đến nhiều nhất như là huyện có đường xe lửa từ Côn Minh đến Hà Nội. Huyện lị là thị trấn Hà Khẩu (Hà Khẩu trấn), nhìn sang thành phố Lào Cai của Việt Nam. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
2.8. Các điều kiện khác
Đây là một chương trình chưa có thực hiện ở Việt Nam. Do đó việc xây dựng hành trình cũng như tuyến du lịch cho chương trình này còn gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, hiện nay tình hình chính trị giữa Việt Nam với Trung Quốc còn gặp nhiều vấn đề bất cập, nhất là vấn đề tranh chấp trên biển Đông.Do đó để có thể xây dựng một chương trình theo dấu chân Hồ Chí Minh thì cần rất nhiều sự quan tâm của chính phủ hai nước. Nhất là các chính sách xuất nhập cảnh, chính sách xúc tiến và chính sách giả cả.
Tiểu kết chương 2
Thông qua các hệ thống di tích lịch sử có liên quan đến nhà yêu nước Hồ Chí Minh tại Quảng Tây (Trung Quốc), có thể thấy rằng các hệ thống di tích này đang được nước bạn bảo tồn và giữ gìn rất tốt về mặt hiện vật cũng như về ý nghĩa lịch sử.
Điều này có thể thấy rằng, những dấu chân của Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với nhân dân Việt Nam mà đối với nước bạn đây cũng có thể coi là những hiện vật quý báu mà nước bạn trân trọng và nâng niu hơn nửa thế kỷ nay. Những di tích và địa điểm có liên quan đến hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Quảng Tây (Trung Quốc) là tài sản văn hóa chung của hai dân tộc. Đó là di sản vô giá về mối tình hữu nghị rất đặc biệt mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng và suốt đời vun đắp.
Do đó, sự kết nối các di tích và địa điểm có liên quan đến hoạt động của Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây (Trung Quốc) sẽ tạo nên một chương mới lạ và ý nghĩa. Mới lạ, ở chỗ đây là chương trình du lịch có sự kết hợp giữa các dấu tích lịch sử của Hồ Chí Minh trên đất Quảng Tây- Trung Quốc với các điểm du lịch cũng khác trên địa bàn Quảng Tây (Trung Quốc), kết hợp vừa tìm hiểu về hành trình tìm đường cứu nước của Người thông qua các hệ thống di tích lại vừa có thể kết hợp tham quan các điểm du lịch nổi tiếng cũng như nền văn hóa đa dạng tại đây.
Để xây dựng được một chương trình du lịch lịch sử- văn hóa này thì điều quan trọng nhất là phải nắm rõ các địa điểm, hệ thống di tích cùng với ý nghĩa gắn với từng di tích, địa điểm đó, như vậy mới có thể truyền tải được cho khách du lịch ý nghĩa của các điểm đến trong hành trình du lịch. Luận văn: Xây dựng chương trình du lịch theo dấu chân HCM.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp chương trình du lịch theo dấu chân HCM

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
