Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐẤT ĐAI

Ở Việt Nam hiện nay, Giải quyết khiếu nại về đất đai chưa được quy định trong một văn bản riêng biệt mà nằm trong hệ thống các quy định về Giải quyết khiếu nại nói chung, Giải quyết khiếu nại hành chính nói riêng. Vì vậy, thực trạng pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai được phản ánh thông qua thực trạng pháp luật về khiếu nại và Giải quyết khiếu nại.

2.1.1. Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai trước khi có Luật Khiếu nại năm 2011

Pháp luật ở nước ta cũng có lịch sử phát triển qua những bước tiệm tiến của nó. Ban đầu là những nguyên tắc mang tính hiến định được thể hiện trong Hiến pháp, bắt đầu là Hiến pháp năm 1946 và các bản Hiến pháp sau đó đã đặt nền tảng quan trọng cho việc từng bước hình thành chế định pháp lý này, bắt đầu từ nhận thức đến xây dựng, hoàn thiện pháp luật và triển khai trong thực tiễn.

Mặc dù Nhà nước sơ khai mới ra đời còn trăm công nghìn việc và phải lo chống thù trong giặc ngoài, nhưng do thấm nhuần quan điểm về quyền con người, quyền dân chủ, quyền hạnh phúc của người dân, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quan tâm sâu sắc đến vấn đề xem xét và Giải quyết khiếu nại của công dân. Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt. Việc nhận đơn thư khiếu tố được Người đặt ở tầm cao ngang với việc đi giám sát công việc thực tế ở các cấp chính quyền. Nếu Điều 1 ghi là: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả công việc và nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”, thì Điều 2 qui định: “Nhận đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra hỏi chứng, xem xét các giấy tờ của Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát”.

Trong Sắc lệnh số 138b-SL ngày 18/12/1949 cũng vậy, cùng với nhiệm vụ: “Xem xét thi hành chủ trương của Chính phủ” là nhiệm vụ: “thanh tra sự khiếu nại của nhân dân”.

Những qui định nói trên nói lên sự quan tâm của Hồ Chủ tịch và Chính phủ đối với việc Giải quyết khiếu nại của công dân.

Ngoài ra, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản nhằm tạo ra cơ chế đảm bảo quyền khiếu nại của công dân và tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết tốt các khiếu nại của công dân. Trong Thông tư số 203 NV/VP ngày 25/5/1946 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về khiếu tố nói rõ: “Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ thiết lập trên nền tảng dân chủ, có bổn phận đảm bảo công lý và vì thế rất để ý đến nguyện vọng của dân chúng và sẵn lòng xem xét những nỗi oan khuất trong dân gian”. Thông tư này hướng dẫn cho công dân thủ tục gửi đơn, giới thiệu thẩm quyền của các cơ quan, thời hạn để giải quyết khiếu tố.

Thông tư số 436/TTg ngày 13/9/1958 của Thủ tướng Chính phủ qui định trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của cơ quan chính quyền trong việc giải quyết các loại đơn thư khiếu nại (gọi tắt là khiếu tố) của nhân dân. Thông tư xác định: “Nghiên cứu và giải quyết các việc khiếu nại và tố giác của nhân dân là một trách nhiệm quan trọng của tất cả các cơ quan nhà nước trước nhân dân”. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Thông tư nêu những nguyên tắc về quyền hạn và nghĩa vụ của nhân dân trong việc khiếu tố; những nguyên tắc về trách nhiệm và tổ chức của các cơ quan hành chính và cơ quan chuyên môn các cấp, các ngành trong việc nghiên cứu và giải quyết các loại đơn thư khiếu nại của nhân dân.

Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ chí Minh đã ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp mới của Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hiến pháp đã dành riêng một điều qui định về quyền khiếu nại của công dân và trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải xem xét giải quyết kịp thời, nhanh chóng các khiếu nại, bảo vệ quyền lợi cho người dân.

  • Điều 29 Hiến pháp năm 1959 qui định:

Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền khiếu nại bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước. Những khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường [30].

Tiếp đó, Chính phủ đã có nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, bảo đảm cho công dân thực hiện được quyền khiếu nại mà Hiến pháp đã ghi nhận, đồng thời qui định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của công dân.

Nghị quyết số 164/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ về việc tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ quan Thanh tra của Nhà nước.

Nghị định số 165/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ qui định nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thanh tra của Chính phủ.

Thông tư số 60/UBTT ngày 22/5/1971 của Ủy ban Thanh tra của Chính phủ hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải quyết đơn thư khiếu nại của nhân dân.

Những qui định trên đây của Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, nhân viên nhà nước, tổ chức xã hội trong việc thi hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời qui định trách nhiệm của mỗi cấp mỗi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giải quyết đúng đắn, kịp thời đơn thư khiếu nại của công dân.

Sau khi nước nhà được thống nhất, chúng ta đã ban hành Hiến pháp mới, Hiến pháp năm 1980. Một lần nữa, quyền khiếu nại của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1980 và so với Điều 29 của Hiến pháp năm 1959 thì qui định về quyền khiếu nại của công dân tại Điều 73 Hiến pháp năm 1980 cụ thể hơn, chi tiết hơn.

Công dân có quyền khiếu nại với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó.

  • Các điều khiếu nại phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng.

Mọi hành động xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại [31, Điều 73].

Sau khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh qui định việc xét, Giải quyết khiếu nại của công dân. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên qui định một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết về việc tiếp nhận và Giải quyết khiếu nại của công dân. Pháp lệnh năm 1981 gồm những qui định chung về quyền khiếu nại và thẩm quyền Giải quyết khiếu nại (Chương I); việc tiếp nhận các khiếu nại (Chương II); thẩm quyền và thời hạn xét, Giải quyết khiếu nại (Chương III); việc quản lý kiểm tra công tác xét, Giải quyết khiếu nại (Chương IV); việc xử lý vi phạm (Chương V) và Điều khoản cuối cùng (Chương VI). Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Nghị định số 58/HĐBT ngày 29/3/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành Pháp lệnh đã qui định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của công dân trong việc khiếu nại.

Có thể thấy, cơ chế giải quyết theo Pháp lệnh năm 1981 là cơ chế cấp trên – cấp dưới theo hệ thống thứ bậc, người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại phải là thủ trưởng của người bị khiếu nại; người bị khiếu nại dù là thủ trưởng cơ quan nhà nước không có thẩm quyền tự Giải quyết khiếu nại đối với việc làm của chính mình. Điều 12 Nghị định số 58 qui định:

Các khiếu nại do cơ quan, tổ chức cấp dưới đã xem xét, giải quyết nhưng đương sự còn khiếu nại thì thủ trưởng cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm thẩm tra lại, nếu thấy việc giải quyết của cấp dưới là đúng thì ra văn bản chuẩn y và thông báo cho đương sự biết; nếu phát hiện có sai lầm thì ra quyết định giải quyết lại và thông báo kết quả cho đương sự biết [19].

Pháp lệnh 1981 và Nghị định 58 không qui định cấp nào là cấp giải quyết cuối cùng đối với một vụ việc khiếu nại tức là chưa tạo ra điểm dừng cho việc khiếu nại.

Nhìn chung, Pháp lệnh qui định việc xét, Giải quyết khiếu nại của công dân năm 1981 thể hiện tư tưởng dân chủ và đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của công dân với một trình tự, thủ tục còn tương đối đơn giản và theo xu hướng tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện được quyền khiếu nại của mình. Chẳng hạn, qui định công dân có thể khiếu nại với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước; qui định về việc chuyển đơn nhận được không đúng thẩm quyền… Những qui định này phù hợp với trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân và sự phát triển pháp luật của Nhà nước ta thời kỳ đó.

Tiếp đó là những văn bản được ban hành nhằm thực hiện tốt những qui định của Pháp lệnh năm 1981 và Nghị định 58. Đó là Thông tư 02/TTr ngày 4/5/1982 của Ủy ban Thanh tra của Chính phủ; Nghị quyết số 26-HĐBT ngày 12/5/1984 của Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường tổ chức và nâng cao hiệu lực của hoạt động thanh tra; Chỉ thị số 17-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 3/7/1989 về kiểm điểm việc thực hiện Pháp lệnh năm 1981.

Qua thực tiễn hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh qui định về việc xét, Giải quyết khiếu nại của công dân, Nhà nước ta quyết định ban hành Pháp lệnh khiếu nại của công dân năm 1991 thay thế cho Pháp lệnh năm 1981.

Đây có thể nói là cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu và xây dựng một cơ chế giải quyết riêng đối với khiếu nại sau này khi chúng ta xuất hiện ý tưởng thiết lập cơ chế tài phán hành chính để giải quyết các khiếu kiện hành chính của dân trước Tòa án.

Có thể nói, những qui định của Pháp lệnh năm 1991 có nhiều điểm thể hiện sự đổi mới về mặt nhận thức quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân cũng như công tác Giải quyết khiếu nại nhưng cũng phải thừa nhận rằng, sự đổi mới đó còn rất ít cơ sở thực tế để phát huy hiệu lực và hiệu quả. Những qui định về trình tự, thủ tục cũng tỏ ra không thực tế và quá trình thực hiện có nhiều vi phạm kể cả người khiếu nại cũng như cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết.

Chính vì những vấn đề nêu trên cho nên hiệu lực và hiệu quả của công tác Giải quyết khiếu nại kể từ sau khi Pháp lệnh 1991 ban hành không có những sự biến đổi tích cực và gần như đồng thời với việc ban hành Pháp lệnh năm 1991, Nhà nước ta đã có chủ trương nghiên cứu và thiết lập cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính bằng con đường tài phán để khắc phục những nhược điểm của phương thức giải quyết khiếu kiện hành chính từ trước đến nay.

Tháng 12 năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật khiếu nại thay thế cho Pháp lệnh khiếu nại tố cáo của công dân năm 1991. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2004 năm 2005 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khiếu nại, các cơ quan nhà nước có cơ sở pháp lý để Giải quyết khiếu nại hành chính. Đảm bảo cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Các cấp, các ngành đã nhận thức đầy đủ hơn trách nhiệm của mình trong Giải quyết khiếu nại. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Căn cứ vào các văn bản này, hàng năm, các cấp, các ngành đã giải quyết hàng trăm nghìn vụ việc khiếu nại phát sinh trong các lĩnh vực. Thông qua Giải quyết khiếu nại đã bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; đồng thời phát hiện nhiều sơ hở trong công tác quản lý, từ đó có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Qua GQKN, nhiều hành vi vi phạm pháp luật cũng được phát hiện kịp thời, các cơ quan nhà nước đã xử lý nhiều tổ chức, cá nhân có sai phạm, góp phần bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, ổn định trật tự và an toàn xã hội.

Để tiếp tục phát huy những kết quả tích cực từ việc Giải quyết khiếu nại cho công dân và hạn chế những tồn tại cần phải xây dựng cơ chế Giải quyết khiếu nại thích hợp hơn. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị quan trọng về Giải quyết khiếu nại như: Nghị quyết số 30/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Quốc hội về công tác Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; Nghị quyết số 755/2008/NQ-UBTVQH ngày 02 tháng 04 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo Xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991; Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 04 năm 2005 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại ngày 02 tháng 12 năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại ngày 15 tháng 06 năm 2004; Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về việc thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 12/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ về hoạt động đo đạc và bản đồ; Nghị định số 30/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đo đạc và bản đồ; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện Quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Giải quyết khiếu nại về đất đai; Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác Giải quyết khiếu nại; Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về trình tự thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Thông tư số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03 tháng 01 năm 2002 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính hướng dẫn về thẩm quyền của tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến Quyền sử dụng đất.

2.1.2. Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai từ khi có Luật Khiếu nại năm 2011 đến nay Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Sau một thời gian thi hành, Luật khiếu nại năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005) đã bộc lộ những hạn chế nhất định, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác Giải quyết khiếu nại là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong cải cách hành chính nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Nghị quyết số 48/NQ-TW, ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng năm 2020 đã nêu:

Hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại, bảo đảm mọi quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật đều được phát hiện và có thể bị khởi kiện trước tòa án; đổi mới thủ tục giải quyết khiếu nại và thủ tục giải quyết các vụ án hành chính theo hướng công khai, đơn giản, thuận lợi cho dân, đồng thời đảm bảo tính thông suốt, hiệu quả của quản lý hành chính [10].

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Khắc phục tình trạng chồng chéo, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, gây khó khăn, chậm trễ trong công việc và giải quyết khiếu kiện của dân” [9]; Thông báo Kết luận số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị về tình hình, kết quả Giải quyết khiếu nại từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới đã xác định: “Đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất là pháp luật về đất đai và khiếu nại… Khẩn trương xây dựng và ban hành Luật khiếu nại và giải quyết khiếu nại, Luật Tố cáo và giải quyết tố cáo” [11].

Ngày 11 tháng 11 năm 2011, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Khiếu nại. Luật Khiếu nại gồm 8 Chương 70 Điều, có hiệu lực từ ngày 01/7/2012. Sự ra đời của Luật này đã đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử lập pháp của pháp luật khiếu nại, lần đầu tiên quyền khiếu nại được quy định trong một văn bản riêng biệt với quyền tố cáo.

Luật Khiếu nại 2011 ra đời trên cơ sở quán triệt và cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác Giải quyết khiếu nại, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính nhà nước và cải cách công tác tư pháp hiện nay.Luật khiếu nại được xây dựng phải tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại, đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc Giải quyết khiếu nại, góp phần nâng cao hiệu quả công tác Giải quyết khiếu nại và hiệu lực công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội. Luật được ra đời trên cơ sở tổng kết thực tiễn tình hình khiếu nại và Giải quyết khiếu nại; kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật khiếu nại; thiết lập được trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại đơn giản, nhanh chóng, công khai, minh bạch và có hiệu quả; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Hướng tới mục tiêu bảo đảm tính hợp hiến, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và khả năng thi hành Luật khiếu nại; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài về Giải quyết khiếu nại, các quy định của Luật khiếu nại không cản trở việc thực hiện Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Để đưa Luật Khiếu nại 2011 vào thực tiễn ngày 03/10/2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2012/NĐ-CP định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả tiếp công dân, Giải quyết khiếu nại.

Khác với Giải quyết khiếu nại thông thường, việc Giải quyết khiếu nại về đất đai một mặt căn cứ trên cơ sở các quy định pháp luật về khiếu nại, mặt khác còn phải dựa trên các quy định của pháp luật về quản lý đất đai.

Ngày 29/11/2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014, đã mở rộng hơn nữa quyền của công dân trong việc yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai, khi các bên Sử dụng đất mâu thuẫn, không thống nhất với nhau trong quá trình Sử dụng đất.

Để tăng cường trách nhiệm trong công tác hòa giải các tranh chấp về đất đai, Luật mới đã quy định rõ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình. Thời hạn hòa giải được nâng lên thành 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”. Hòa giải trong trường hợp này là tự nguyện. Trong trường hợp “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải” (Khoản 2 Điều 202) và đây là thủ tục hòa giải bắt buộc.

Theo đó, tại Khoản 3, 4, 5 Điều 202 thì hòa giải theo thủ tục này được quy định như sau: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai; việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp… Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Đặc biệt, Luật Đất đai 2013 bổ sung thêm thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân đối với trường hợp tranh chấp đất đai mà các đương sự không có giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Một điểm mới khác là quy định tại Khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai 2013, theo đó trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước cấp trên hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định theo hướng tăng cường hơn sự theo dõi, giám sát, đánh giá của Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và nhân dân về việc quản lý và Sử dụng đất, giám sát, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

Điều 199 quy định về giám sát của công dân đối với việc quản lý, Sử dụng đất. Công dân có quyền tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện phản ánh các sai phạm trong quản lý, Sử dụng đất đến các cơ quan có thẩm quyền. Luật cũng đã quy định cụ thể về nội dung, hình thức giám sát của công dân, trách nhiệm của các tổ chức đại diện của công dân, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được ý kiến của công dân và các tổ chức đại diện.

Luật cũng quy định về hệ thống theo dõi, đánh giá đối với quản lý và Sử dụng đất để đánh giá việc thi hành pháp luật đất đai, hiệu quả quản lý và Sử dụng đất, sự tác động của chính sách, pháp luật đất đai đến kinh tế, xã hội và môi trường trên phạm vi cả nước và các địa phương (Điều 200).

Luật đã bổ sung quy định về trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý và Sử dụng đất (Điều 208); quy định xử lý trách nhiệm của người thực thi công vụ vi phạm pháp luật đất đai và người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra vi phạm pháp luật đất đai (Điều 207).

Quy trình thực hiện thanh tra cũng đã được Luật Đất đai 2013 quy định thống nhất theo pháp luật về thanh tra, thời hạn hòa giải tranh chấp đất đai được tăng lên là 45 ngày (tăng 15 ngày so với Luật cũ).

Để nâng cao hiệu quả việc Giải quyết khiếu nại của cơ quan, tổ chức và công dân, những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật đề cập tới công tác Giải quyết khiếu nại, đồng thời coi việc giải quyết hiệu quả các khiếu nại là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan hành chính nhà nước, góp phần phát huy quyền dân chủ của nhân dân và thực hiện cải cách hành chính nhà nước.

2.1.3. Đánh giá chung pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai

2.1.3.1. Những ưu điểm Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Qua quá trình hình thành và phát triển, đến nay, pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai đến nay đã đáp ứng được phần nào yêu cầu đặt ra của thực tiễn, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền khiếu nại của người Sử dụng đất; là căn cứ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại về đất đai. Hơn nữa, pháp luật Giải quyết khiếu nại hiện nay đã thể hiện những ưu điểm trong khắc phục được những hạn chế của pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai trong giai đoạn trước, đó là:

Thứ nhất, khắc phục những hạn chế, bất cập liên quan đến trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại. Theo quy định của Luật khiếu nại thì trình tự Giải quyết khiếu nại gồm hai giai đoạn: Giải quyết khiếu nại lần đầu (do người có quyết định hành chính, hành vi hành chính xem xét lại quyết định, hành vi hành chính của mình bị khiếu nại) và Giải quyết khiếu nại lần hai (do cấp trên của người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại xem xét lại việc Giải quyết khiếu nại lần đầu). Như vậy, ở giai đoạn GQKN lần đầu thì người có quyết định hành chính, hành vi hành chính là người có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu và cũng là người hiểu rất rõ về nội dung vụ việc khiếu nại.

Tuy nhiên, Luật khiếu nại lại quy định về thủ tục Giải quyết khiếu nại lần đầu phức tạp song chưa đầy đủ, chưa đảm bảo nhanh chóng, kịp thời. Ví dụ, Luật quy định về việc gửi quyết định Giải quyết khiếu nại lần đầu cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan nhưng không quy định cụ thể trong thời hạn bao lâu kể từ ngày có quyết định Giải quyết khiếu nại thì người Giải quyết khiếu nại lần đầu phải gửi quyết định. Điểm hạn chế khác của các quy định về trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại là việc giải quyết của các cơ quan hành chính có tính chất khép kín, chưa đảm bảo công khai, vì vậy nhiều trường hợp việc giải quyết còn tình trạng nể nang, né tránh, thiếu khách quan. Điều này làm cho người dân không tin vào việc Giải quyết khiếu nại của các cơ quan nhà nước, tiếp tục khiếu nại vượt cấp, gây mất nhiều thời gian mà không mang lại hiệu quả. Nhiều vụ việc khiếu nại còn bị kéo dài, không dứt điểm, làm cho các cơ quan hành chính mất nhiều thời gian công sức vào Giải quyết khiếu nại, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước. Việc quy định quy trình Giải quyết khiếu nại lần đầu với các thủ tục như: thẩm tra, xác minh, đối thoại, ban hành quyết định Giải quyết khiếu nại hành chính khá dài, trong khi đó hành vi hành chính lại tác động ngay đến công dân và quyết định hành chính được ban hành có hiệu lực ngay.

Thứ hai, khắc phục hạn chế, bất cập trong quy định về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, sự tham gia của luật sư trong quá trình Giải quyết khiếu nại, việc tổ chức đối thoại trong Giải quyết khiếu nại. Luật khiếu nại đã quy định quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, song các quy định này chưa đầy đủ, chưa thực sự bình đẳng. Luật quy định quá trình Giải quyết khiếu nại, người Giải quyết khiếu nại phải gặp gỡ đối thoại với người khiếu nại nhưng trên thực tế người Giải quyết khiếu nại tiến hành thẩm tra, xác minh và ra quyết định giải quyết mà hầu như người khiếu nại không có cơ hội tiếp cận với các thông tin, tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết, không được tham gia vào quá trình giải quyết, không được yêu cầu các cơ quan cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan phục vụ việc khiếu nại.

Quy định về quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại chưa có sự phân định rành mạch về một số quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại với tư cách là người bị khiếu nại với quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại khiếu nại với tư cách là người Giải quyết khiếu nại lần đầu. Quyền của người khiếu nại trong việc nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để Giải quyết khiếu nại; biết thông tin, tài liệu của việc Giải quyết khiếu nại; nhận quyết định Giải quyết khiếu nại được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 17 của Luật khiếu nại, song trên thực tế, việc nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để Giải quyết khiếu nại; biết thông tin, tài liệu của việc Giải quyết khiếu nại; nhận quyết định Giải quyết khiếu nại đã không được thực thi. Thực tế cũng cho thấy, nhiều trường hợp, cơ quan có thẩm quyền Giải quyết khiếu nại lần đầu thường né tránh việc Giải quyết khiếu nại hoặc ra văn bản Giải quyết khiếu nại; tình trạng trạng chuyển đơn khiếu nại vòng vo, vi phạm thời hạn giải quyết cũng diễn ra rất nhiều ở một số nơi.

Thứ ba, khắc phục bất cập, hạn chế liên quan đến việc tổ chức, thi hành các quyết định Giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Trong thực tế, việc tổ chức thi hành các quyết định Giải quyết khiếu nại có hiệu lực nhiều trường hợp còn chậm và không nghiêm túc. Số vụ việc tồn đọng khá lớn, nhiều quyết định đã có hiệu lực pháp luật, thậm chí đã có ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ, nhưng sau nhiều năm vẫn chưa được thi hành. Nghị định 136/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại có quy định trách nhiệm của người ra quyết định Giải quyết khiếu nại, của người đã ra quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại cũng như trách nhiệm của những người đứng đầu cơ quan nhà nước có liên quan trong việc thi hành quyết định Giải quyết khiếu nại nhưng trên thực tế những quy định này vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh.

2.1.3.2. Những hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Bên cạnh những ưu điểm kể trên, pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai hiện nay ở nước ta còn bộc lộ một số hạn chế sau:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật quy định Giải quyết khiếu nại về đất đai thiếu đồng bộ. Luật Khiếu nại và Luật Đất đai có các quy định không thống nhất trong việc Giải quyết khiếu nại của công dân. Cho đến nay, vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về mối quan hệ trong Giải quyết khiếu nại, tranh chấp giữa cơ quan hành chính và Tòa án nhân dân, giữa Bộ quản lý chuyên ngành và Thanh tra Chính phủ. Thẩm quyền giải quyết giữa cơ quan hành chính và cơ quan tòa án chưa cụ thể, rõ ràng nên nhiều trường hợp người dân phải đi lại nhiều lần giữa Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân nhưng vẫn không được tiếp nhận để giải quyết.

Thứ hai, công tác Giải quyết khiếu nại về đất đai chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, còn nhiều điểm có xung đột trong toàn hệ thống pháp luật nước ta. Riêng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai cũng có nhiều điểm khác nhau giữa pháp luật về đất đai và pháp luật Giải quyết khiếu nại. Về việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, có sự khác nhau giữa Luật Xây dựng và Luật Đất đai. Về tính hợp luật của các loại hợp đồng, giấy tờ chuyển Quyền sử dụng đất trước ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, có sự khác nhau giữa pháp luật về đất đai và pháp luật về dân sự. Tình trạng pháp luật như vậy đã dẫn đến cách hiểu khác nhau trong áp dụng pháp luật của các cơ quan hành chính cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Thứ ba, cơ chế chuyển phần lớn việc Giải quyết khiếu nại về địa phương có ưu điểm là tăng cường trách nhiệm giải quyết của cấp có thẩm quyền quản lý đất đai nhưng lại có nhược điểm là không đáp ứng được nguyện vọng của người có đơn khiếu nại là muốn được cấp có thẩm quyền ở Trung ương ra quyết định cuối cùng để bảo đảm tính khách quan. Đây cũng chính là nguyên nhân gây nên tình trạng khiếu kiện vượt cấp lên Trung ương ngày càng tăng.

Thứ tư, cơ chế chuyển toàn bộ vụ việc tranh chấp đất đai có giấy tờ sang Tòa án nhân dân, khuyến khích chuyển khiếu nại về quyết định hành chính, hành vi hành chính sang khởi kiện lên tòa án hành chính có ưu điểm là nâng cao hiệu lực của Nhà nước pháp quyền nhưng lại bất cập ngay với thực tế giải quyết của tòa án nhân dân do trình độ chưa cao, thiếu nhân lực và tòa án nhân dân chưa thực sự độc lập với cơ quan hành chính cùng cấp.

Thứ năm, Luật Khiếu nại là luật chung và quy định trình tự, thủ tục Giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính và hành vi hành chính cho tất cả các lĩnh vực thuộc quản lý hành chính. Tuy nhiên, theo Luật Đất đai năm 2013, các khiếu nại về quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai được giải quyết theo một cơ chế riêng, không theo trình tự được quy định trong Luật Khiếu nại. Điều này có vẻ như nghịch lý, song đây là một thực tế bất cập hiện nay.

Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

  • Nguyên nhân do chính sách, pháp luật về đất đai trong thời gian dài không được hoàn thiện đồng bộ, thiếu cụ thể và nhất quán.

Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp, khiếu nại liên quan đến đất đai chưa đủ rõ dẫn đến công tác xét xử, giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai còn nhiều hạn chế; chế tài xử lý chưa đủ mạnh để ngăn ngừa các hành vi vi phạm. Chính sách, pháp luật về đất đai trong thời gian dài không được hoàn thiện đồng bộ, thiếu cụ thể và thiếu nhất quán dẫn tới việc thực hiện chính sách trong nhiều trường hợp tùy tiện, không quan tâm đầy đủ đến lợi ích chính đáng của người Sử dụng đất. Việc chính sách, pháp luật về đất đai thường xuyên thay đổi trong từng giai đoạn lịch sử, thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn với pháp luật về dân sự, pháp luật về khiếu nại, tố cáo tạo ra bất cập, nhất là trong chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, dẫn đến tình trạng khó phân định thẩm quyền giải quyết; một số địa phương chất lượng giải quyết các vụ, việc chưa cao dẫn đến tình trạng khiếu nại không có điểm dừng, không rõ trách nhiệm cuối cùng thuộc về cơ quan nào.

Nguyên nhân do chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người Sử dụng đất đã được pháp luật công nhận, dẫn tới nhấn mạnh quyền thu hồi đất của Nhà nước, tạo vốn từ quỹ đất mà chưa quan tâm đầy đủ lợi ích chính đáng của người Sử dụng đất, đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thu hồi với giá đất tái định cư (thu hồi giá quá thấp, giao lại giá cao). Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích của xã hội với lợi ích của những người có đất bị thu hồi, thường chỉ nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc giải phóng mặt bằng để có được dự án; chưa chú ý những vấn đề xã hội nảy sinh sau khi thu hồi đất, dẫn tới không bảo đảm điều kiện tái định cư, không có phương án tích cực về giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi ở cũ. Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng Quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ứng gay gắt của người có đất bị thu hồi.

  • Nguyên nhân do bất cập trong công tác Giải quyết khiếu nại về đất đai

Nhìn chung, tổ chức và cơ chế giải quyết khiếu nại về đất đai thiếu ổn định và bất cập so với yêu cầu thực tế. Giải quyết một vụ khiếu nại đòi hỏi phải có các bước điều tra, nghiên cứu, kết luận và thi hành kết luận, do đó cần một đội ngũ những người am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ chuyên sâu và làm việc chuyên trách. Nhưng hiện nay, hầu hết cán bộ làm công tác Giải quyết khiếu nại chủ yếu là kiêm nhiệm; khiếu nại về đất đai chủ yếu nảy sinh ở cấp huyện, xã nhưng cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết ở cấp này lại không tương ứng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp là người chủ trì, chịu trách nhiệm chính về quyết định Giải quyết khiếu nại nhưng lại phải giải quyết rất nhiều công việc khác nhau của địa phương nên khó có điều kiện chuyên tâm về việc này. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng Giải quyết khiếu nại chậm, thiếu dứt điểm, chất lượng thấp, dẫn đến tình trạng khiếu kiện lại hoặc khiếu kiện vượt cấp. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Trong tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại lĩnh vực đất đai, nhiều địa phương chưa làm tốt việc tiếp dân, nhận đơn, hướng dẫn cụ thể theo pháp luật về việc nộp đơn dẫn đến tình trạng người đi khiếu kiện lúng túng, mất nhiều thời gian, công sức khi phải đi hết nơi này đến nơi khác. Khi phát sinh khiếu kiện, cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời, còn né tránh, đùn đẩy. Nhiều vụ việc đã có quyết định giải quyết cuối cùng nhưng việc tổ chức thi hành quyết định không nghiêm; cơ quan ra quyết định thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời để giải quyết dứt điểm; một số vụ việc không có tính khả thi trong tổ chức thi hành dẫn tới phát sinh những khiếu kiện mới phức tạp hơn.

Công tác hòa giải ở cấp cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, nhiều địa phương chưa bố trí cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, kinh nghiệm đảm nhiệm công việc này nên việc hòa giải đạt hiệu quả chưa cao. Nhiều vụ việc giải quyết không triệt để dẫn đến khiếu kiện đông người, có trường hợp dẫn đến xảy ra vụ án hình sự. Một số địa phương chưa làm tốt trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn như vi phạm trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, bồi thường, tái định cư, cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.

Công tác thanh tra chưa được thực hiện thường xuyên, còn thiếu tính chủ động, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc xử lý sau thanh tra của các cấp, các ngành chưa kiên quyết, triệt để, kịp thời làm hạn chế hiệu quả hoạt động thanh tra, cụ thể: Tình trạng lấn chiếm đất công, chuyển đổi mục đích Sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng sai mục đích, để đất hoang hóa diễn ra thường xuyên và dưới nhiều hình thức gây bức xúc trong dư luận nhân dân và xã hội nhưng chưa có chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa các hành vi vi phạm; chế tài quy định xử lý, xử phạt vi phạm pháp luật đất đai còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại tranh chấp đất đai còn mang tính chủ quan, nể nang, nặng về mệnh lệnh hành chính; nhiều quyết định giải quyết chưa thấu tình, đạt lý. Việc tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật còn thiếu kiên quyết, dẫn đến vụ việc không được giải quyết dứt điểm, khiếu kiện kéo dài. Hình thức văn bản giải quyết một số vụ việc chưa bảo đảm theo quy định của pháp luật như việc ban hành công văn, thông báo… để thay thế quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai.

2.2 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI Ở TỈNH VĨNH PHÚC Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

2.2.1. Giới thiệu chung về tỉnh Vĩnh Phúc

Tỉnh Vĩnh Phúc thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng Thủ đô Hà Nội. Vĩnh Phúc có nhiều tuyến giao thông quan trọng: đường bộ, đường sắt, đường sông, gần sân bay quốc tế Nội Bài. Vĩnh Phúc là vùng đất có bề dày lịch sử – văn hóa lâu đời, với hàng trăm di tích lịch sử – văn hóa gắn với các địa danh nổi tiếng. Người dân Vĩnh Phúc có truyền thống lao động cần cù, hiếu học, thông minh, năng động và sáng tạo.

Tỉnh Phúc là cái nôi của người Việt cổ, với di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu nổi tiếng. Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập vào năm 1950, do sự kết hợp của hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên. Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập vào năm 1997.

Tính đến năm 2015 Vĩnh Phúc có diện tích 1.235,13 km2 với dân số khoảng 1.054.492 người, mật độ dân số khoảng 854 người/km2. Dân số trung bình năm 2015 khoảng 1.054.492 người, trong đó dân số nam khoảng 518.559 người chiếm 49,18%, dân số nữ 535.933 người chiếm 50,82%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 13,6%. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm 60%, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm 63%, tỷ lệ dân số làm việc trong khu vực nhà nước chiếm 10,6%, làm việc ngoài nhà nước chiếm 78,6%, làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 10,8%.

Thực hiện chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, đặc biệt sau 15 năm tái lập, 4 nhiệm kỳ Đại hội (XII, XIII, XIV, XV), dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và đáng tự hào.

Từ một địa phương thuần nông trở thành tỉnh có giá trị sản xuất công nghiệp lớn, là trung tâm sản xuất ô-tô, xe máy hàng đầu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật được đầu tư, nâng cấp theo hướng hiện đại. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin có nhiều chuyển biến; an ninh quốc phòng được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 17,24%/năm; thu ngân sách tăng nhanh, từ 100 tỷ đồng năm 1997 lên trên 24.000 tỷ đồng năm 2015. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Trong phát triển công nghiệp, tỉnh đã đưa ra những giải pháp phát triển mang tính đột phá, từ một tỉnh chỉ có 1 khu công nghiệp đến nay đã hình thành được 20 khu công nghiệp với quy mô 6.000 ha, trong đó có nhiều tập đoàn lớn đã đến đầu tư tại tỉnh. Nguồn lao động của Vĩnh Phúc khá dồi dào, chiếm khoảng trên 60% tổng dân số, trong đó chủ yếu là lao động trẻ, có kiến thức văn hóa và tinh thần sáng tạo để tiếp thu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong những năm qua, đặc biệt là công nghiệp, đã trở thành môi trường nâng cao tay nghề cho người lao động.

Công tác quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và nông thôn mới được quan tâm đẩy mạnh. Đến nay, Vĩnh Phúc đã hoàn thành và phê duyệt hầu hết các quy hoạch, là cơ sở cho việc xây dựng hạ tầng, triển khai các dự án một cách đồng bộ và quản lý chặt chẽ. Đến hết năm 2015, Vĩnh Phúc là tỉnh đứng thứ ba toàn quốc trong xây dựng nông thôn mới với 68 xã đạt chuẩn, chiếm gần 61% số xã trong toàn tỉnh.

Lĩnh vực giáo dục đào tạo, dân số, việc làm và giảm nghèo, y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, các hoạt động văn hóa xã hội khác cũng đều đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc phát triển bền vững, nâng cao từng bước đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tính đến hết năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 2,5%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 66%;

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 10%; Số bác sĩ/ 1 vạn dân đạt 8,5 bác sĩ; bình quân, mỗi năm giải quyết việc làm cho gần 22 nghìn lao động.

Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn. Người dân Vĩnh Phúc luôn mang trong mình niềm tự hào về truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước và một nền văn hóa rực rỡ. Cho đến nay, đất Vĩnh Phúc vẫn mang đậm dấu ấn của văn hóa Hùng Vương và Kinh Bắc, Thăng Long, của nền văn hóa dân gian đặc sắc, của khoa bảng, với lối sống xã hội và chuẩn mực đạo đức luôn được giữ gìn và phát huy. Tại đây có một quần thể danh lam, thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng: rừng quốc gia Tam Đảo, thác Bản Long, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà… Nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như danh thắng Tây Thiên, Tháp Bình Sơn, đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ Trần Nguyên Hãn, di chỉ Đồng Đậu…

Với nhiều thế mạnh và tiềm năng phát triển, Vĩnh Phúc phấn đấu đến năm 2020 là tỉnh công nghiệp, trở thành một trong những trung tâm dịch vụ, du lịch của vùng và cả nước, có những khu nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn quốc tế và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ này. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

2.2.2. Tình hình khiếu nại đất đai ở tỉnh Vĩnh Phúc

Thực tiễn cho thấy, tình hình khiếu nại đất đai ở Vĩnh Phúc thời gian qua có những chuyển biến phức tạp. Giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015 và 6 tháng đầu năm năm 2016, số lượt người trực tiếp đến cơ quan hành chính nhà nước ở 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) để khiếu nại, tố cáo và kiến nghị, phản ánh tăng 5% so với giai đoạn 2008 – 2011; số lượt đơn thư khiếu nại, kiến nghị, phản ánh tăng 6% so với cùng kỳ giai đoạn (2008 – 2011) nguyên nhân là do đơn thư được gửi nhiều lần, đến nhiều cấp, nhiều ngành; tình hình an ninh nông thôn trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. Tính chất, mức độ phức tạp của các vụ việc mặc dù có giảm, không gay gắt và phát sinh điểm nóng; nhưng tình hình khiếu nại còn diễn biến phức tạp tại một số nơi thời gian qua khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, việc tranh chấp đất đai, đòi lại đất cũ và liên quan đến cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; một số địa bàn còn có những vụ việc đông người, phức tạp, như: thị trấn Thanh Lãng, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên; xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường… Một số vụ việc khiếu nại diễn biến phức tạp liên quan đến giá bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, khiếu nại liên quan đến việc triển khai các dự án như: Vụ việc làng nghề tại thị trấn Thanh Lãng – huyện Bình Xuyên từ năm 2000 đến nay; các vụ việc liên quan đến các dự án khu công nghiệp Bình Xuyên; các vụ việc liên quan đến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai: bao gồm liên quan đến thị xã Phúc Yên, huyện Tam Dương, huyện Lập Thạch, huyện Sông Lô; các vụ việc liên quan đến đền bù, giải phóng mặt bằng, đất dịch vụ ở thành phố Vĩnh Yên; các vụ việc ở huyện Yên Lạc, huyện Vĩnh Thường; các vụ việc liên quan đến đất đai, cát sỏi tại huyện Sông Lô… Nội dung khiếu nại và kiến nghị, phản ánh chủ yếu liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất dịch vụ; tranh chấp đất đai, đòi lại đất nông nghiệp.

Khiếu nại về đất đai chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số đơn khiếu nại mà cơ quan có thẩm quyền nhận được ở tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung khiếu nại, kiến nghị chủ yếu liên quan đến đất đai chiếm tỷ lệ 75%; nội dung khiếu nại, kiến nghị về thực hiện chính sách xã hội chiếm tỷ lệ 10%; khiếu nại, kiến nghị nội dung khác chiếm tỷ lệ 15%.

Toàn tỉnh nhận trong giai đoạn 2012 – 2015 nhận trên 10.840 lượt đơn thư trong đó: Khiếu nại 1.496 lượt đơn, tỷ lệ 13,8%; tố cáo 1.056 lượt đơn, tỷ lệ 9,7%; loại khác (Kiến nghị, đề nghị, phản ánh) 8.288 lượt đơn, tỷ lệ 76,5%:

  • Cấp tỉnh nhận 832 lượt đơn, tỷ lệ 35,4%;
  • Cấp huyện nhận 2.968 lượt đơn, tỷ lệ 27,4%;
  • Cấp xã nhận 040 lượt đơn, tỷ lệ 37,2%;

Trong tổng số 10.840 lượt đơn thư đã nhận, có 2.560 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trong đó: cấp tỉnh 856, cấp huyện 352, cấp xã 1.352 vụ việc; còn lại 8.280 lượt đơn thư trùng lặp và thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tư pháp, tổ chức chính trị xã hội.

  • Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ khiếu nại ở Vĩnh Phúc Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Tình hình khiếu nại, tố cáo nêu trên đã ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội tại một số địa phương trong một số thời điểm; có nơi đã xuất hiện những mâu thuẫn phát sinh giữa người dân với chính quyền, giữa người dân với nhà đầu tư; một số dự án đầu tư xây dựng, do tác động từ các vụ việc khiếu nại, tố cáo đã làm tiến độ dự án bị chậm triển khai hoặc phải tạm dừng thực hiện kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế- xã hội và môi trường thu hút đầu tư chung của tỉnh. Các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đông người phức tạp, tồn đọng, kéo dài đã được Ủy ban nhân dân tỉnh tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành kiểm tra, xác minh, rà soát; tổ chức đối thoại để giải quyết kịp thời, tình hình đã có chuyển biến tích cực trong thời gian qua.

  • Việc khiếu nại về đất đai ở Vĩnh Phúc có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, khiếu nại chủ yếu phát sinh ở đô thị hoặc nơi tập trung thực hiện những dự án lớn như liên quan đến vấn đề đền bù và giải phóng mặt bằng đối với dự án cao tốc Nội Bài – Lào Cai liên quan đến khu vực thị xã Phúc Yên; khu công nghiệp Bá Thiện, Thiện Kế – huyện Bình Xuyên; vấn đề đầm Sáu Vó, làng nghề – thị trấn Thang lãng – huyện Bình Xuyên; vấn đề đền bù đất dịch vụ cho bà con trong tỉnh; vấn đề đất đai, cát sỏi ở huyện Sông Lô… Những nguyên với những tình trạng trên bao gồm cả những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Những số vụ việc khiếu nại về đất đai chiếm gần 55% số vụ việc khiếu nại về đất đai trên địa bàn toàn tỉnh trong giai đoạn 2012 – 2015. Trong khi ở các địa bàn miền núi số vụ việc khiếu nại về đất đai chiếm tỷ lệ rất ít trong tổng số vụ việc khiếu nại về đất đai của toàn tỉnh (như huyện huyện Lập Thạch chỉ chiếm 5%, Sông Lô chiếm 6%.

Thứ hai, khiếu nại chủ yếu mang tính đơn lẻ, tuy nhiên cũng xảy ra một số vụ việc khiếu nại đông người, có dấu hiệu liên kết giữa các đối tượng ở các địa phương trong tỉnh.

Thứ ba, nội dung khiếu nại chủ yếu đối với quyết định bồi thường giải phóng mặt bằng, đền bù đất đai, lấn chiếm đất đai. Theo số liệu khảo sát của Thanh tra tỉnh, trong giai đoạn từ năm 2012 đến hết năm 2015 có sự gia tăng tương đối nhanh so với cùng kỳ 4 năm trước đó, trong tổng số các vụ việc khiếu nại, về đất đai, nội dung khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng gồm các vụ việc liên quan đến việc quy hoạch, giải phóng mặt bằng các khu công nghiệp, làng nghề, giãn dân chiếm tỷ lệ ngày càng cao. Ngoài ra là các nội dung: khiếu nại quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất cũng chiếm tỷ lệ lớn.

Nguyên nhân phát sinh khiếu nại về đất đai trên địa bàn tỉnh thời gian qua có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Cụ thể: Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

  • Nguyên nhân khách quan:

Thứ nhất, do trên địa bàn tỉnh tiến hành thu hồi nhiều diện tích đất của các hộ dân để giao cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị, thương mại, hạ tầng giao thông, những nội dung chính sách liên quan đến lợi ích của người Sử dụng đất còn nhiều bất cập, nhất là về giá đất chưa phù hợp, thường xuyên thay đổi theo hướng năm sau cao hơn năm trước; cơ chế chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư chưa nhất quán nên khó thực hiện. Những yếu tố này là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh khiếu nại về đất đai mang tính khách quan không chỉ ở Vĩnh Phúc nói riêng và cũng là thực tế ở nhiều tỉnh khác.

Thứ hai, thu hồi đất nông nghiệp của dân để làm dự án khu đô thị, khu dân cư nhưng tiền bồi thường cho người dân có đất bị thu hồi thấp hơn nhiều lần so với giá đất mà chủ đầu tư chuyển nhượng lại cho người khác, dẫn đến người có đất bị thu hồi cho rằng thiếu sự công bằng về lợi ích. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân gây tâm lý không hài lòng và nảy sinh việc khiếu nại, khiếu kiện diễn ra trong thời gian dài và phức tạp.

Thứ ba, một số vụ việc khiếu nại về nhà, đất do lịch sử để lại như đòi lại đất nông nghiệp trước đây góp vào hợp tác xã, sau đó hợp tác xã giải thể; việc thay đổi về cơ chế chính sách về phát triển kinh tế, trong đó có chính sách về phát triển hợp tác xã cũng là nguyên nhân diễn ra việc khiếu nại về nhà, đất đối với công dân.

  • Nguyên nhân chủ quan:

Thứ nhất, công tác thu hồi đất, xác định giá đất, thống kê đất đai, tài sản trên đất, xác định diện tích trên thực tế, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư có nơi làm chưa tốt, còn để xảy ra sai sót, thiếu công khai, dân chủ dẫn đến công dân không chấp nhận, phát sinh khiếu nại đòi quyền lợi của công dân.

Thứ hai, công tác giao đất, cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất còn để xảy ra sai sót, không đứng giữa thực tế và hồ sơ, bản đồ địa chính và thực địa vẫn còn tồn tại. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Thứ ba, công tác chỉ đạo, điều hành của một số cán bộ trong quản lý, Sử dụng đất còn hạn chế, nhất là ở cấp xã vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, hiện tượng “bờ tre khóm chuối” trong các mối quan hệ anh em, dòng họ, đan xen lợi ích vẫn là một thực tế. Điều này dẫn đến công tác quản lý, sử dụng về đất đai chưa đúng quy định của pháp luật.

Thứ tư, trình độ, năng lực, phẩm chất của một số ít cán bộ, công chức còn hạn chế, thể hiện ở việc như thiếu tinh thần trách nhiệm, không thực hiện đúng trình tự, thời hạn giải quyết; chưa quan tâm đến việc tiếp dân, gặp gỡ đối thoại, lắng nghe ý kiến của nhân dân đòi hỏi những lợi ích chính đáng, những yêu cầu lợi ích thiết thân, cũng như giải thích thỏa đáng về những quy định của pháp luật cho người dân hiểu, nhận thức và thực hiện theo các quy định của pháp luật.

Thứ năm, việc tuyên truyền các chính sách, quy định của pháp luật chưa được chú trọng. Đặc biệt cấp xã, phường, thị trấn là chính quyền gần nhất, mọi thắc mắc, nguyện vọng của người dân đều được phản ánh trực tiếp. Tuy nhiên, việc tuyên truyền và hướng dẫn người dân trong việc thực hiện các quy định ở cấp xã còn nhiều hạn chế, thậm chí có những nơi những quy định tối thiểu về quyền và nghĩa vụ của người dân về đất đai người dân cũng không biết, những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội.

2.2.3. Kết quả thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.3.1. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai

Để hiện thực hóa pháp luật Giải quyết khiếu nại về đất đai Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, đó là:

  • Nghị quyết số 152/2014/NQ-HĐND ngày 22/12/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua bảng giá đất 5 năm 2015-2019 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;
  • Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 Ban hành quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;
  • Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 06/9/2014 sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 60/2009/QĐ-UBND và Quyết định số 06/2012/QĐ-UBND ngày 23/3/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giải quyết đất dịch vụ hoặc đất ở theo các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh;
  • Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 Ban hành quy định về giao đất xây dựng nhà ở không thông qua đấu giá Quyền sử dụng đất, hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận diện tích đất ở và diện tích chia, tách thửa đất ở tối thiểu; hạn mức giao đất trống đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.
  • Quyết định số 46/2014/QĐ-UBND ngày 20/10/2014 về việc thành lập Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Vĩnh Phúc;
  • Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND ngày 23/10/2014 về việc phê duyệt bổ sung giá đất khu vực Biệt thự-Sân Golf Tam Đảo trong bảng giá đất năm 2014;
  • Quyết định số 61/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 về việc ban hành quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 05 năm 2015-2019.
  • Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND ngày 16/11/2015 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của bản quy định chi tiết một số điều về bồi thường, hỗ trợ tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014.

Công tác triển khai thi hành Luật Đất đai và cụ thể hóa Luật đã được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả, góp phần tăng cường công tác quản lý tài nguyên môi trường trên địa bàn tỉnh.

Để công tác Giải quyết khiếu nại về đất đai đạt hiệu quả, hiện nay Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh phúc chỉ đạo các cấp các ngành tiếp tục thực hiện Kế hoạch số 7347/KH-UBND ngày 03/12/2014 về việc thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị, Luật Tiếp công dân, Nghị định số 64/2014/NĐ-CP của Chính phủ và Kế hoạch số 7363/KH-UBND ngày 04/12/2014 về việc phối hợp tổ chức tiếp công dân phục vụ Đại hội Đảng lần thứ XII; Kế hoạch số 1184/KH-UBND ngày 28/10/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tổ chức tiếp công dân, Giải quyết khiếu nại trong thời gian Quốc hội khóa XIII họp. Chỉ đạo Thanh tra tỉnh tham gia tiếp công dân định kỳ cùng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện để kịp thời nắm bắt tình hình khiếu nại, tố cáo báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo giải quyết; kiểm tra, rà soát việc thực hiện các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc xử lý các vụ việc tố cáo trên địa bàn.

Trong năm 2015 Ủy ban nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị đã ban hành 228 văn bản chỉ đạo Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đối với vụ việc khiếu nại về đất đai kéo dài, sau khi giao các cơ quan kiểm tra, rà soát lại và tổ chức đối thoại không có tình tiết mới, Ủy ban nhân dân tỉnh có văn bản trả lời công dân và thông báo từ chối tiếp công dân theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời chỉ đạo tổ chức thực hiện các quyết định, kết luận Giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

2.2.3.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Khiếu nại Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung, pháp luật khiếu nại nói riêng đóng vai trò quan trọng trong Giải quyết khiếu nại về đất đai. Nhận thức được vấn đề này, tỉnh Vĩnh Phúc đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật khiếu nại.

Thực hiện Kế hoạch số 1722/KH-UBND ngày 10/4/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc Về việc triển khai thi hành Luật Khiếu nại, Luật đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức 05 hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành cho Lãnh đạo các Sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh; lãnh đạo Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị; lãnh đạo các Phòng Tài nguyên và Môi trường; Ban Giải phóng mặt bằng các huyện, thành, thị; cán bộ công chức, viên chức và người lao động ngành tài nguyên môi trường công tác trên địa bàn tỉnh; cán bộ tư pháp – hộ tịch cấp xã; đại diện lãnh đạo, cán bộ doanh nghiệp được nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh với tổng số lượng 1.400 người tham dự. Đồng thời biên tập các nội dung cơ bản của tuyên truyền cho nhân dân bằng hình thức phát tờ rơi, tờ gấp với số lượng 14.000 tờ/phát cho 09 huyện, thành, thị. Ngoài ra, Sở còn tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng cuốn Sổ tay Tìm hiểu pháp luật về lĩnh vực đất đai với số lượng 3.833 cuốn.

Các sở, ban, ngành đoàn thể, các huyện, thành phố, thị xã và Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn cũng đã tổ chức các hội nghị triển khai thi hành Luật Đất đai tới cán bộ, công chức, viên chức, thành viên, hội viên và nhân dân trên địa bàn của mình.

Đặc biệt ngày 18/6/2014 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 3275/KH-UBND về tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về đất đai” và đã triển khai rộng khắp ở các cấp, các ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở. Có nhiều cơ quan đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện tham gia tìm hiểu luật. Tổng số có 30.105 bài dự thi thông qua đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể các cấp trong công tác quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai, tạo chuyển biến rõ rệt về quản lý và Sử dụng đất, đưa công tác quản lý đất đai đi vào nền nếp, kỷ cương theo đúng quy định của pháp luật.

Năm 2015 toàn tỉnh đã tổ chức 101 lớp tuyên truyền, phổ biến về Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo cho 7.943 người. Ban chỉ đạo đề án 1-1133 của tỉnh đã chỉ đạo Thanh tra tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp, Báo Vĩnh Phúc, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện có chất lượng, hiệu quả kế hoạch số 1465/KH-UBND ngày 31/3/2014 về việc thực hiện Đề án 1-1133 về tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo cho cán bộ và nhân dân ở xã, phường, thị trấn.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo được tăng cường, đạt kết quả tốt. Toàn tỉnh đã tổ chức 29 lớp tuyên truyền, phổ biến về Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo cho 2.360 lượt người. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

2.2.3.3. Công tác tiếp công dân

Đất đai mang tính đa dạng, phức tạp do lịch sử quản lý đất đại để lại. Chính vì vậy, giải quyết tranh chấp về đất đai đang là một vấn đề rất bức xúc ở nhiều địa phương nói chung và ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng. Mặc dù trong nhưng năm qua số vụ tranh chấp không cao do công tác quản lí nhà nước về đất đai được các cấp chính quyền địa phương chỉ đạo sát sao nhưng tính chất phức tạp của các vụ tranh chấp về đất đai ngày càng tăng.

Bước sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất – kinh doanh mà thực hiện quản lý thông qua hệ thống pháp luật, chính sách thuế, đất đai được thừa nhận có giá trị, Quyền sử dụng đất được tham gia các giao dịch trên thị trường làm quan hệ đất đai ngày càng đa dạng và phức tạp, xuất hiện nhiều quan hệ mới liên quan đến chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn… tỉnh Vĩnh Phúc đang trong quá trình phát triển các khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng, dân số tăng nhanh dẫn đến diện tích đất ngày càng thu hẹp, cộng thêm giá trị Quyền sử dụng đất ngày một tăng, chính vì thế các vụ tranh chấp về đất đai ngày càng trở lên gay gắt hơn và có tính chất phức tạp hơn.

Trong những năm qua, sự phát triển kinh tế xã hội ở Vĩnh Phúc có những bước tiến quan trọng, thu nhập đầu người không ngừng tăng nên cùng với đó là giá đất cũng tăng theo tỷ lệ thuận với sự phát triển kinh tế. Chính vì vậy, vấn đề tranh chấp về đất đai ngày một gia tăng như: Tranh chấp quyền thừa kế, tranh chấp giữa các hộ liền kề, tranh chấp đất dòng họ; khiếu nại đền bù giải phóng mặt bằng, đất dịch vụ…

Các vụ việc liên quan đến tranh chấp về đất đai ngày một phức tạp như vụ việc tranh chấp giữa hộ ông Nguyễn Văn Khá và hộ ông Nguyễn Văn Nhì ở phường Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, vụ tranh chấp đất dòng họ Ngô ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc… cho thấy số đơn thư liên quan đến các vụ tranh chấp về đất đai trên toàn tỉnh từ năm 2012 đến 2015 có xu hướng tăng hơn so với giai đoạn trước.

Trong giai đoạn 2012 – 2015 các cơ quan hành chính nhà nước ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) đã tiếp khoảng trên 20.162 lượt, tăng 5% so với cùng kỳ 4 năm về trước; số lượt đoàn đông người gần 500, trong đó hàng năm có khoảng 18 đoàn thường xuyên có mặt tại trụ sở tiếp công dân của tỉnh, tăng 02 đoàn so với cùng kỳ giai đoạn 2008 – 2011.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện tốt chế độ tiếp công dân thường xuyên ở cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã); chế độ trực tiếp tiếp công dân định kỳ của lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện và các sở, ngành được thực hiện nghiêm túc; các điều kiện phục vụ cho công tác tiếp công dân được đảm bảo, như: Phòng tiếp công dân, sổ theo dõi, nội quy, lịch tiếp công dân được công khai. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục chỉ đạo việc tiếp công dân phải gắn với giải quyết khiếu nại, tố cáo; chế độ trực tiếp tiếp công dân định kỳ và đột xuất của Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh được thực hiện đúng quy định, phân công lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp tiếp công dân theo định kỳ nhiều tháng liên tục để thống nhất theo dõi chỉ đạo giải quyết các vụ việc. Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao trụ sở tiếp công dân của tỉnh tổ chức tiếp công dân thường xuyên và phối hợp với các ngành: Thanh tra, Công an, Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính và một số sở ngành của tỉnh; Văn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban nội chính tỉnh ủy giúp Lãnh đạo Tỉnh ủy, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư theo quy định. Trước các ngày tiếp công dân định kỳ, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh đã trực tiếp nghe Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị và các sở ngành báo cáo tiến độ, kết quả giải quyết cụ thể từng vụ việc khiếu nại, tố cáo được giao. Sau mỗi kỳ tiếp công dân, Ủy ban nhân dân tỉnh có thông báo kết quả tiếp công dân để giao nhiệm vụ cho các cấp, các ngành giải quyết.

Hàng tháng, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Thanh tra tỉnh có văn bản đôn đốc Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị và các Sở ngành tiến hành thẩm tra, xác minh các vụ việc được giao. Đối với vụ việc đông người phức tạp mới phát sinh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các Sở ngành phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị tổ chức nắm tình hình, gặp gỡ công dân, từ đó có biện pháp chỉ đạo giải quyết tiếp theo.

2.2.3.4. Công tác giải quyết khiếu nại về đất đai

Công tác Giải quyết khiếu nại nói chung, khiếu nại về đất đai nói riêng trên địa bàn tỉnh được các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quan tâm thực hiện và có những chuyển biến tích cực. Hầu hết các vụ việc khiếu nại của công dân đều được giải quyết kịp thời, chất lượng Giải quyết khiếu nại được nâng lên so với giai đoạn trước.

Toàn tỉnh đã xem xét có quyết định, kết luận và văn bản giải quyết 2.136/2.560 vụ việc, đạt tỷ lệ 83,4%, trong đó: Khiếu nại 256/288 vụ việc, tỷ lệ 88,9%; tố cáo 120/152 vụ việc, tỷ lệ 78,9%; kiến nghị, phản ánh 1.760/2.120 vụ việc, tỷ lệ 83%.

  • Biểu đồ 2.2: Tình hình tiếp nhận đơn, giải quyết khiếu nại ở tỉnh Vĩnh Phúc

Trong 6 tháng đầu năm 2016 toàn tỉnh đã xem xét có quyết định, kết luận và văn bản giải quyết 579/635 vụ việc, đạt tỷ lệ 91,2%, trong đó: Khiếu nại 56/62 vụ việc, tỷ lệ 90,3%; tố cáo 121/133 vụ việc, tỷ lệ 91%; kiến nghị, phản ánh 402/440 vụ việc, tỷ lệ 91,4%.

  • Trong tổng số 56 vụ việc khiếu nại đã giải quyết: Có 09 vụ khiếu nại đúng (tỷ lệ 16,1%); có đúng, có sai: 14 (tỷ lệ 25%); sai: 33 (tỷ lệ 58,9%). Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.
  • Trong tổng số 121 vụ việc tố cáo đã giải quyết: Có 17 vụ tố cáo đúng (tỷ lệ 14,1%); có đúng, có sai: 35 (tỷ lệ 28,9%); sai: 69 (tỷ lệ 57%).

Trong số đơn khiếu nại, vụ việc thuộc thẩm quyền được Ủy ban nhân dân tỉnh giao xác minh giải quyết là 208 đơn với 160 vụ việc (02 vụ việc chuyển từ năm 2011 sang); số vụ việc đã có báo cáo kiểm tra, xác minh, đề xuất là 128/160 vụ (đạt 80%)

Trong số 128 vụ đã có kết quả giải quyết:

  • Khiếu nại đúng: 08 vụ (chiếm 6,25%)
  • Khiếu nại sai: 88 vụ (chiếm 68,75%)
  • Khiếu nại có đúng một phần: 32 vụ (chiếm 25%)

Trong số 32 vụ việc thuộc thẩm quyền còn tồn lại, có 18 vụ đã hoàn thiện dự thảo báo cáo và 16 vụ việc đang kiểm tra, xác minh theo quy định.

Thực hiện Kế hoạch số 319/KH-TTCP ngày 20-02-2009 của Thanh tra Chính phủ, Thông báo số 321/TB-VPCP ngày 21-11-2008 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải quyết những vụ việc khiếu nại tồn đọng, bức xúc, kéo dài. Qua rà soát, toàn tỉnh có 56 vụ việc, trong đó: số vụ việc khiếu nại tồn đọng có văn bản chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ 2 vụ việc; số vụ việc khiếu nại tồn đọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh 54 vụ việc. Ngay sau khi rà soát, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Thanh tra tỉnh và các cơ quan chuyên môn xác minh, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết xong vụ việc, đạt trên 70%.

Thực hiện Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 18-5-2012 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, Giải quyết khiếu nại và Kế hoạch số 1130/KH-TTCP ngày 10-5-2012 của Thanh tra Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã tập trung rà soát các vụ việc khiếu nại đông người, phức tạp, tồn đọng, kéo dài. Kết quả rà soát trên địa bàn toàn tỉnh không có vụ việc nào tồn đọng, phức tạp, kéo dài theo yêu cầu của Thanh tra Chính phủ.

2.2.4. Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.4.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

Công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư và Giải quyết khiếu nại nói chung, Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai nói riêng đã có những chuyển biến tích cực; đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo tích cực của cấp ủy các cấp, sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể, các cơ quan thông tin đại chúng, tạo được sự thống nhất của cả hệ thống chính trị trong công tác tiếp công dân và Giải quyết khiếu nại; nhận thức và trách nhiệm của nhiều cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác này được nâng lên rõ rệt. Lãnh đạo các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời đối với các vụ việc khiếu nại phức tạp, đông người; thực hiện tổ chức tiếp công dân theo đúng quy định, kịp thời giải quyết các vụ việc khiếu nại mới phát sinh, tập trung giải quyết dứt điểm từ cơ sở. Trong quá trình Giải quyết khiếu nại đã chú trọng công tác đối thoại với người khiếu nại, đã kết hợp giữa vận động, thuyết phục với phân tích thấu tình, đạt lý để công dân hiểu và tự giác chấp hành. Đối với những vụ việc phức tạp, những vụ việc đã có quyết định giải quyết lần hai nhưng công dân vẫn còn tiếp khiếu, lãnh đạo các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo rà soát, tiến hành đối thoại công khai, dân chủ, từ đó đã có những biện pháp chỉ đạo giải quyết dứt điểm.

Xác định được mục đích và ý nghĩa của công tác tiếp công dân là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự chỉ đạo sát sao của Ủy ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các cấp, các ngành trong tỉnh đã chú trọng quan tâm tổ chức thực hiện tốt công tác tiếp công dân theo đúng quy định. Hầu hết các đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh đã bố trí nơi tiếp công dân tại địa điểm thuận lợi, niêm yết công khai lịch, nội quy tiếp công dân, kiện toàn bộ máy giúp việc và bố trí cán bộ có phẩm chất đạo đức, có năng lực công tác, am hiểu chính sách pháp luật làm công tác tiếp công dân. Thực hiện chế độ tiếp công dân thường xuyên và định kỳ theo đúng quy định. Tại Phòng Tiếp công dân tỉnh thường trực tiếp công dân thường xuyên, tham mưu cho lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức tiếp công dân theo định kỳ ngày 15 hàng tháng, Phòng Tiếp công dân tỉnh được đảm bảo các điều kiện vật chất và các phương tiện cần thiết khác theo qui định, sau mỗi kỳ tiếp công dân của lãnh đạo tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh kịp thời ban hành thông báo kết luận của lãnh đạo tỉnh với các nội dung đã tiếp công dân; có kế hoạch theo dõi, đôn đốc các ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc những nội dung đã kết luận để thông tin cho công dân biết. Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Chủ tịch Ủy ban nhân dân các địa phương và Thủ trưởng các ngành bố trí tiếp công dân trong tháng theo quy định. Công dân đến Trụ sở tiếp công dân đều được đón tiếp chu đáo, được trình bày tâm tư nguyện vọng và thực hiện quyền khiếu nại của mình. Do đó, công tác tiếp công dân trên địa bàn tỉnh đã ổn định, nền nếp, chất lượng công tác tiếp dân đã được nâng cao.

Thủ trưởng các cấp, các ngành Tài nguyên – Môi trường, Thanh tra tỉnh đã có nhiều biện pháp chỉ đạo tích cực trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại về đất đai. Hầu hết các đơn thư khiếu nại về đất đai mới phát sinh đều được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật. Việc giải quyết về cơ bản đã đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật về khiếu nại, pháp luật về đất đai. Đặc biệt, đã chủ động rà soát các vụ việc khiếu nại về đất đai kéo dài, phức tạp, tổ chức đối thoại trực tiếp với những người khiếu nại và có biện pháp chỉ đạo giải quyết dứt điểm, hạn chế đơn thư khiếu nại vượt cấp, không để đơn thư tồn đọng, góp phần giữ vững ổn định an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

2.2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân

  • Về hạn chế

Thứ nhất, công tác Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai cơ bản được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thời gian theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, một số vụ còn kéo dài, cá biệt có vụ vượt thời gian từ 1-2 tháng theo quy định của pháp luật khiếu nại, nguyên nhân chủ yếu là do biên chế cán bộ, công chức còn ít, trong khi khối lượng công việc nhiều, địa bàn đi lại khó khăn, việc xác minh đối với các đối tượng có liên quan thường bị động, phải đi lại nhiều lần; đương sự không hợp tác; có vụ việc phức tạp nhưng quan điểm xử lý giữa các cấp, các ngành chưa có sự thống nhất cao trong việc thực thi, thi hành công việc.

Thứ hai, một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tinh thần trách nhiệm đối với công việc chưa cao, năng lực còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ảnh hưởng đến chất lượng Giải quyết khiếu nại, gây bức xúc cho công dân.

Thứ ba, một số quyết định Giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật chưa được tổ chức thực hiện triệt để. Một số vụ việc mặc dù quyết định Giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, nhưng khi người dân tiếp tục khiếu nại vẫn được cơ quan có thẩm quyền giao cho cơ quan chuyên môn xem xét, giải quyết lại.

Thứ tư, việc Giải quyết khiếu nại, giải quyết tranh chấp về đất đai có nơi làm chưa triệt để, còn có biểu hiện ngại khó, ngại va chạm, không tổ chức đối thoại với người khiếu nại. Nhiều vụ việc đã thanh tra, kiểm tra, có kết luận nhưng chậm ban hành quyết định giải quyết.

Thứ năm, một số công dân do không hiểu biết, hoặc cố tình hiểu sai chính sách, pháp luật về đất đai dẫn đến khiếu nại không có căn cứ, không đúng sự thật, chạy theo lợi ích kinh tế, đeo bám dai dẳng, thái độ gay gắt, quá khích. Nhiều vụ công dân biết quyết định của cơ quan nhà nước đúng nhưng vẫn cố tình không chấp hành, sao chụp đơn gửi nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành để gây áp lực đối với cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Một số công dân lợi dụng quyền khiếu nại để kích động, gây rối làm mất an ninh trật tự và làm cho tình hình phức tạp thêm. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

  • Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên:

Một là, chính sách, pháp luật về đất đai luôn thay đổi, còn chồng chéo, bất cập. Công tác quản lý đất đai qua nhiều thời kỳ có cơ chế quản lý khác nhau, bị buông lỏng trong thời gian dài. Việc lưu trữ hồ sơ phục vụ công tác quản lý đất đai qua các thời kỳ còn nhiều thiếu sót. Do đó khi cần các tài liệu có tính chất phản ánh nguồn gốc đất lúc ban đầu không đáp ứng được do vậy cũng tạo không ít khó khăn cho công tác Giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai, bồi thường đất đai.

Hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành chậm, có nội dung thiếu tính khả thi, hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẫn như quy định về quản lý Sử dụng đất, thực hiện chính sách xã hội gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật.

Hai là, cấp ủy, chính quyền một số địa phương, đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công tác tiếp công dân, chưa phối hợp chặt chẽ giữa việc tiếp công dân và Giải quyết khiếu nại nói chung, khiếu nại về đất đai nói riêng. Một số vụ việc chưa được giải quyết kịp thời, nghiêm minh, gây bức xúc trong nhân dân. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các đoàn thể có nơi, có lúc chưa chặt chẽ, thường xuyên, do đó các khiếu nại, tranh chấp đất đai chưa được giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở, còn để xảy ra khiếu nại vượt cấp, kéo dài về thời gian và phức tạp về tính chất vụ việc.

Ba là, biên chế cán bộ làm công tác Giải quyết khiếu nại về đất đai còn thiếu, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Một số cán bộ trong khi thi hành công vụ về quản lý đất đai chưa thực hiện đúng chính sách, pháp luật, sách nhiễu, tiêu cực, gây bức xúc cho người dân trong quá trình đòi quyền lợi.

Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân, tham mưu giải quyết, áp dụng pháp luật ở một số vụ việc khiếu nại, kiến nghị, phản ánh còn hạn chế; tình trạng ỷ lại vào cấp trên trong Giải quyết khiếu nại chưa thật sự được khắc phục.

Bốn là, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai, Giải quyết khiếu nại về đất đai chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao, kiến thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật về đất đai, Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai của các tầng lớp nhân dân còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai tỉnh Vĩnh Phúc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464