Luận văn: tiềm năng du lịch sinh thái ở các xã Cù Lao

đặc điểm tự nhiên – kinh tế – xã hội, tiềm năng du lịch sinh thái ở các xã Cù Lao

3.1. Vị trí địa lý 

Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Long (nguồn: http://www.vinhlong.gov. Vĩnh Long nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, vị trí địa lí của tỉnh nằm ở tọa độ: Từ 9o32’40” đến 10o39’48” Vĩ Bắc và từ 105o41’18” đến 106o17’03” Kinh Đông.

Vĩnh Long nằm giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, các phía theo chiều kim đồng hồ thứ tự tiếp giáp 07 tỉnh thành sau (hình 3.1):

  • Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang
  • Phía Đông giáp tỉnh Bến Tre
  • Phía Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh
  • Phía Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, Hậu giang
  • Phía Tây giáp thành phố Cần Thơ
  • Phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp

Cù lao Dài 

Cù lao Dài gồm hai xã Thanh Bình và Quới Thiện thuộc huyện Vũng Liêm nằm ở vùng hạ lưu sông Mê Kông (nhánh Cổ chiên) với tổng diện tích tự nhiên là 4.409 ha, có vị trí giáp giới như sau:

  • Phía Bắc giáp xã Chánh An (Mang Thít) và tỉnh Bến Tre (ranh giới sông Pang Tra)
  • Phía Nam giáp xã Đông Thành Đông và tỉnh Trà Vinh
  • Phía Đông giáp tỉnh Bến Tre
  • Phía Tây giáp các xã Quới An, Trung Thành Tây và Trung Thành Đông (ranh giới sông Cổ Chiên)

Cù lao Dài, xét về quan hệ kinh tế vùng, cù lao nằm giữa thị xã Vĩnh Long (cách 30 km về phía Tây Bắc từ xã Quới Thiện) và thị xã Trà Vinh (cách khoảng 25 km về phía Đông Nam từ xã Quới Thiện) thông qua sông Cổ Chiên là một tuyến giao thông thủy quan trọng nối liền thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) và các tỉnh Miền Tây, đồng thời nằm giữa ba chân vạc Huyện lỵ: Mang Thít, Vũng Liêm và Chợ Lách với khoảng cách tương ứng 6,5 km (đường chim bay), cách thị trấn Vũng Liêm khoảng 5 km từ xã Thanh Bình. Cù lao Dài có tiềm năng phát triển và cung cấp hàng nông sản, đặc biệt, vườn cây ăn trái kết hợp với du lịch sinh thái.

Cù lao Dài nằm giữa sông Cổ Chiên và trên tuyến du lịch TP.HCM – ĐBSCL, khả năng tiếp cận bằng đường thủy từ thành phố Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, TP.HCM… đều thuận tiện. Do đặc điểm về vị trí địa lý cù lao Dài ngoài điểm du lịch quan trọng trên tuyến du lịch Vĩnh Long – Vũng Liêm, còn được xem là điểm kết nối hai tuyến du lịch quan trọng dọc sông Tiền và dọc sông Hậu.

Cù Lao Mây

Cù lao Mây gồm hai xã Lục Sĩ Thành và Phú Thành thuộc huyện Trà Ôn với tổng diện tích tự nhiên là 4.273,4 ha, có vị trí giáp giới như sau:

  • Phía Bắc giáp xã Ngãi Tứ (Tam Bình) và xã Mỹ Hòa (Bình Minh)
  • Phía Đông và Đông Bắc giáp xã Thiện Mỹ, Tích Thiện và thị trấn Trà Ôn
  • Phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng
  • Phía Tây và Tây Bắc giáp thành phố Cần Thơ (ranh giới sông Hậu)

Cù lao Mây, xét về mối quan hệ kinh tế vùng, cách thị xã Vĩnh Long khoảng 58 km (từ xã Phú Thành) về phía Đông Bắc và thành phố Cần Thơ khoảng 13 km (từ xã Phú Thành) về hướng Tây Bắc, đồng thời cách thị trấn Trà Ôn khoảng 3 km về phía Nam (từ xã Lục Sĩ Thành) và 8 km (từ xã Phú Thành). Cù lao Mây nằm trên tuyến sông huyết mạch của khu vực (sông Hậu) nối liền TP.HCM và các tỉnh miền Tây, và giáp với sông Măng (sông Mang Thít) nối liền sông Cổ Chiên và sông Hậu là tuyến giao thông thủy ngắn nhất từ các tỉnh miền Tây về TP.HCM. Đồng thời, do tiếp giáp với thị trấn Trà Ôn nên có điều kiện thuận lợi về giao lưu thương mại dịch vụ, trao đổi hàng hóa, đặc biệt là hàng nông sản. Kinh tế vườn là thế mạnh của hai xã cù lao. Cù lao Mây có nhiều tiềm năng phát triển DLST do có ưu thế phong cảnh sông nước miệt vườn của vùng miền tây Nam Bộ, và có vị trí thuận lợi để du khách tiếp cận từ thanh phố Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ. Đến với cù lao Mây, du khách có thể thưởng thức khí hậu trong lành giữa vườn cây trái vùng sông nước. Tương lai, thành phố Cần Thơ ngày càng phát triển lớn mạnh, cù lao Mây sẽ là vành đai của một thành phố lớn vùng sông nước phía Tây của Tổ quốc. Do đó, cù lao này cần tích cực chuẩn bị cho mình chổ đứng xứng đáng ở vị trí vành đai của thành phố lớn. Cần có những quy hoạch lại các vườn cây ăn trái của xã vừa có hiệu quả kinh tế, vừa là những điểm vườn tham quan cho khách du lịch thập phương. Du khách đến nơi đây không chỉ ngắm cây, ăn trái mà còn thưởng ngoạn những vẽ đẹp khác như cây kiểng, hoa kiểng, cá kiểng, thú kiểng…tạo ra môi trường thiên nhiên cho khách tham quan du lịch. Nghĩa là phải định hướng phát triển kinh tế xã hội và xây dựng cảnh quan môi trường, phát triển dịch vụ DLST ở vùng sông nước.

Cù lao An Bình

Cù lao An Bình thuộc huyện Long Hồ, có bốn xã An Bình, Bình Hòa Phước, Hòa Ninh và Đồng Phú với tổng diện tích tự nhiên là 6.182 ha, có vị trí giáp giới như sau:

  • Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang
  • Phía Đông giáp tỉnh Bến Tre
  • Phía Nam giáp thành phố Vĩnh Long, xã Thanh Đức, xã Mỹ An (Mang thít)
  • Phía Tây giáp tỉnh Tiền Giang và thành phố Vĩnh Long

Cù lao An Bình nằm trên dòng sông Cổ Chiên, có nhiều tiềm năng phát triển và cung cấp hàng nông sản, đặc biệt là vườn cây ăn trái kết hợp với du lịch sinh thái. Bên cạnh, cù lao cũng nằm tiếp giáp với trung tâm tỉnh lỵ Vĩnh Long, nằm trên tuyến giao thông thủy quan trọng của vùng là sông Cổ Chiên, có quốc lộ 57 đi qua nối liền hai tỉnh Vĩnh Long và Bến tre thông qua phà Đình Khao nên rất thuận lợi về mặt giao thông thủy bộ, một lợi thế hết sức quan trọng cho việc đầu tư phát triển về kinh tế – xã hội và du lịch. Cũng giống như cù lao Dài, khách du lịch có thể tiếp cận cù lao An Bình bằng đường thủy từ TP.HCM, Bến Tre, Trà Vinh và thành phố Cần Thơ là điểm thuận lợi để xây dựng các tua du lịch đi qua cù lao này.

Nhìn chung, các cù lao An Bình, cù lao Mây, và cù Lao Dài là những khu vực tập trung khá nhiều tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái. Với vị trí địa lý nằm ở nơi tiếp giáp các tỉnh lân cận, bao quanh tỉnh, các khu vực trên có lợi thế vừa phát quy được thế mạnh của chính mình, vừa có điều kiện thuận lợi trong khai thác tiềm năng của toàn tỉnh và của các vùng phụ cận.

3.2. Đặc điểm kinh tế – xã hội

3.2.1. Dân số, lao động và thu nhập

Trên các cù lao nghiên cứu có 8 xã, 81 ấp, 19.811 hộ, trong đó mật độ bình quân là 585 người/km2, năm 2023 tỉ lệ tăng dân số tự nhiên trên các xã cù lao trung bình khoảng 0,94% giao động giữa các xã từ 0,85 – 1,00%. Số hộ, nhân khẩu, mật độ dân số phân bố theo đơn vị hành chính các xã được ghi nhận trong bảng 3.1.

Bảng 3.1: Phân bố số hộ, nhân khẩu, mật độ dân số và lao động ở các xã cù lao

Trên các cù lao đều là các xã nông nghiệp nên phần lớn hộ dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp (chủ yếu trồng cây ăn trái lâu năm) chiếm khoảng 90%, các ngành nghề khác còn lại chiếm tỷ trọng không cao, nhất là các cù lao thuộc hai huyện Trà Ôn và Vũng Liêm (Bảng 3.2) và (Biểu đồ 3.1).

  • Bảng 3.2: Lao động theo khu vực ở các huyện có các xã cù lao nghiên cứu
  • Biểu đồ 3.1:Cơ cấu lao động theo khu vực (đơn vị %)

Với nghề làm vườn, thời gian lao động của người dân chiếm khoảng 60 – 70 % tổng ngày công trong năm. Thực tế cho thấy đối với hộ gia đình, thường thiếu lao động cần phải thuê mướn vào mùa thu hoạch trái cây, nhưng ngày công chưa sử dụng đúng mức, thừa lao động xảy ra lúc nông nhàn. Đây là vấn đề cần quan tâm để sử dụng có hiệu quả lao động trên các xã cù lao trong tương lai. Nguồn lao động dồi dào chiếm khoảng 55% tổng dân số các xã cù lao. Trình độ người lao động ngày càng được nâng cao do tiếp thu tốt các kiến thức khoa học kỹ thuật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng phát triển ngày một rộng khắp, lại có kinh nghiệm trong nghề trồng cây ăn trái truyền qua nhiều thế hệ sẽ là một điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội trên các xã cù lao.

  • Trên các cù lao chủ yếu là dân tộc Kinh. Phần lớn theo đạo phật, một ít theo đạo thiên chúa giáo, tin lành và cao đài.
  • Theo UBND các xã thì thu nhập bình quân trên đầu người ở các xã cù lao trung bình khoảng 7 – 8 triệu đồng/người/năm. Cao nhất là xã Qưới Thiện 9,0 triệu đồng/năm/người, thấp nhất là xã Đồng Phú 6,0 triệu đồng/người/năm.

3.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

3.2.2.1. Nông nghiệp

Điều kiện sản xuất NN trên các cù lao có nhiều thuận lợi, với những ưu thế về nguồn nước, đất đai màu mỡ do phù sa bồi đắp hàng năm cùng với hệ thống đê bao khép kín nên nhân dân mạnh dạn đầu tư cho sản xuất NN góp phần nâng cao sản lượng và phẩm chất nông sản.

Trồng trọt: Trên các xã cù lao chủ yếu trồng các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, chủ yếu là nhãn tiêu da bò, bưởi năm roi, chôm chôm, sầu riêng …Theo thống kê năm 2023, tổng diện tích trồng cây ăn trái trên các cù lao nghiên cứu là 8.391,9 ha chiếm 92,6 % diện tích đất nông nghiệp và 56,45 % diện tích đất tự nhiên (An Bình là 3.931,3 ha, cù lao Dài 2.290 ha, cù lao Mây 2.170,6 ha).

Chăn nuôi: Do các dịch bệnh trên gia súc, gia cầm trong các năm qua, nên tình hình chăn nuôi gia súc gia cầm trên các xã cù lao có bước phát triển chậm. Tổng sản lượng năm 2023 có 17.775 con gia súc và 84.341 con gia cầm. Công tác tiêm phòng vắc xin phòng chống dịch bệnh hàng năm đã được quan tâm thực hiện và đạt kế hoạch.

Nuôi trồng thủy sản: Do điều kiện đặc thù là cù lao, xung quanh là nước bao bọc, hệ thống sông rạch chằn chịt nên việc đầu tư phát triển thủy sản nước ngọt rất được chú trọng, nhất là nuôi cá bè ven sông, đào mương vườn ven sông để nuôi cá. Nuôi trồng thủy sản ở các xã cù lao khá phát triển vừa đáp ứng nhu cầu của địa phương và xuất khẩu, các loài thủy sản được nuôi chủ yếu là cá tra (245,7 ha), cá điêu hồng (204 bè), ba sa, nuôi nhữ tôm…chủ yếu nuôi ở dạng công nghiệp. Hiện nay, một số bệnh như bệnh gan thận có mủ, bệnh xuất huyết ở cá tra, bệnh đỏ mang, vây, đuôi ở cá điêu hồng đã gây một số khó khăn cho nông dân nuôi thủy sản.[58], [59], [60], [61], [62], [63], [64], [65].

3.2.2.2. Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp (TTCN), thương mại – dịch vụ  – Cù lao Dài có các cơ sở cung cấp nguyên liệu lác, se lác, dệt chiếu – thảm, mộc gia dụng phát triển ở quy mô vừa và nhỏ dưới hình thức sản xuất hộ gia đình. Bên cạnh đó còn có các nghề khác như xay xát, sửa chữa máy móc, chế biến nước chấm, may mặc, mua bán nhỏ…có nhưng chiếm tỷ trọng thấp. Theo thống kê 2023, trên cù lao có khoảng 765 cơ sở-hộ TTCN với khoảng 1.024 lao động. Có 399 cơ sở mua bán nhỏ lẻ, có 05 bến xe hon đa khoảng 150 chiếc, 03 bến đò ngang có 06 chiếc, có 02 điểm mua bán tập trung.

Cù lao An Bình có các cơ sở cơ khí, đóng tủ bàn ghế, sửa chữa tàu thuyền, sửa chữa điện tử, may mặc, cưa xẻ gỗ, chằm lá, các cơ sở gia công hàng nông sản xuất khẩu, chế biến nước chấm…đang được đầu tư phát triển. Trên các xã thuộc cù lao này có khoảng 228 cơ sở TTCN với khoảng 1.213 lao động và khoảng 1.128 hộ dịch vụ buôn bán nhỏ lẻ. Có 03 bến đò ngang với 7 chiếc, 01 bến phà Đình Khao, 07 bến xe hon đa khách với khoảng 200 chiếc, có 06 điểm mua bán tập trung (chợ). Cù lao Mây có 03 cơ sở xẽ gỗ, 1 cơ sở gốm mỹ nghệ, 19 trại mộc sửa chữa ghe tàu, 2 mô hình đan lác-lục bình, 01 làng nghề làm bánh tráng, 03 cơ sở sửa chữa cơ khí, 01 lò bánh mì, 1 lò bún, 259 cơ sở dịch vụ buôn bán nhỏ lẻ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của người dân địa phương, đã giải quyết được việc làm cho hàng ngàn lao động. Có 05 bến xe hon đa khoảng 330 chiếc, 09 bến đò có 21 chiếc, nổi bật nhất là khu vực chợ nổi thường xuyên có hơn 300 ghe lớn nhỏ mua bán, vào những ngày tết nguyên đán lên đến khoảng 500 nghe. Các dịch vụ đưa rước khách bằng xe hon đa, đò dọc…ngày càng phát triển.[58], [59], [60], [61], [62], [63], [64], [65].

Nhìn chung, trên các cù lao nghiên cứu, người dân đã tận dụng những ngành nghề truyền thống có tiềm năng của địa phương. Các cơ sở công nghiệp và TTCN trên các xã cù lao chỉ ở quy mô vừa và nhỏ, chưa có sự đầu tư đúng mức để thúc đẩy phát triển. Thương mại và dịch vụ bước đầu phát triển với nhiều hình thức đa dạng nhưng chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu thị trường và khách du lịch.

3.2.2.3. Địa chính

Hiện trạng sử dụng đất trên các xã cù lao theo mục đích bao gồm 4 nhóm chính: Đất nông nghiệp, đất chuyên dùng, đất thổ cư, và đất chưa sử dụng, sông rạch (Bảng 3.3).

  • Bảng 3.3: Cơ cấu các nhóm đất chính trên các Cù lao năm 2023
  • Biểu đồ 3.2: Cơ cấu diện tích các nhóm đất chính (Đơn vị %)

Quỹ đất chưa sử dụng trên các cù lao chủ yếu là đất bãi bồi ven sông có tiềm năng khai thác sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, hiện đã và đang được các đối tượng sử dụng đất đưa vào nuôi thủy sản và trồng cây ăn quả, cho nên có thể nói 100% quỹ đất đã được khai thác và sử dụng. Trong đó, diện tích dành cho nông nghiệp cao, chiếm 61% tổng diện tích tự nhiên (Bảng 3.3), điều này đã phản ánh rõ nét về thực trạng phát triển kinh tế xã hội trên các cù lao là dựa vào ngành nông nghiệp là chủ yếu và trong đó tập trung vào phát triển các vườn cây ăn trái lâu năm là một tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái trên các xã cù lao.

3.2.2.4. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Giao thông: Giao thông đường bộ trên các xã cù lao chủ yếu là giao thông nông thôn, với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm đã xây dựng đường đan lưu thông xe hai bánh suốt hai mùa mưa nắng nối liền các ấp trong xã và đường trãi nhựa nối liền các xã trên cù lao. Tổng chiều dài đường giao thông trên các cù lao là 305,5 km, trong đó có 248,57 km đường liên ấp (cù lao Mây có 43,15 km, cù lao Dài có 78,26 km, và cù lao An Bình có 127,16 km), 57,93 km đường liên xã và hương lộ (cù lao Mây có 5,5 km, cù lao Dài có 16,98 km, và cù lao An Bình có 35,45 km). Ngoài ra, có Quốc lộ 57 đi qua cù lao An Bình trên dài 2,97 km nối liền Vĩnh Long và Bến Tre. Nhìn chung, mạng lưới giao thông bộ trên các xã cù lao đã phân bố đều khắp và có khả năng đáp ứng được việc đi lại của người dân.

Tuy nhiên, chất lượng đường giao thông chưa phát triển đồng bộ. Đường đan còn hẹp (1,2 m – 1,5 m), chưa phủ hết các ấp trong xã, cần nâng cấp và mở rộng để phục vụ tốt cho nhu cầu đi lại của người dân và khách du lịch.

Giao thông thủy trên các xã cù lao chủ yếu bằng các phương tiện ghe máy, đò chèo. Ngoài các trục giao thông chính như sông Hậu, sông Cổ Chiên, Sông Pang Tra, trên cù lao Dài còn có các sông lớn như Cần Thư, Thanh Lương, Bình Thủy, Cồn cỏ, Rạch Vọp, Cù lao Mây có các sông Phú Thạnh, Rạch Mái Dầm, Kinh Xáng,…,cù lao An Bình có các sông Hòa Ninh, Kinh Mương Lộ, Rạch Cái Tài, Rạch Vàm Bà Vú, sông Cái Muối…kết hợp với hệ thống sông rạch chằng chịt tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa ở địa phương và ra các khu vực xung quanh và là điều kiện để nghiên cứu phát triển những loại hình dịch vụ du lịch trên sông rạch.[58], [59], [60], [61], [62], [63], [64], [65].

Điện: Năm 2023, mạng lưới điện đã khép kín địa bàn các xã cù lao, trung bình tỉ lệ hộ sử dụng điện trên 95% (Qưới Thiện 98,57%, Hòa Ninh 97%, Đồng Phú 95,17%, Lục Sĩ Thành 91,21%, Phú Thành 92,7%, An Bình 98%, Bình Hòa Phước 95,8%, Thanh Bình 98,0%). Còn một số ít hộ chưa vô điện là do nằm ngoài bán kính 500 mét. Nhìn chung, nguồn điện đã đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Nước: Người dân chủ yếu sử dụng nước sông rạch qua xử lý thông thường như lắng phèn trong lu – bể chứa, dùng bột xử lý hoặc dùng cây nước bơm tay. Số hộ sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn phổ thông đạt 100%. Trên cù lao Mây, An Bình đều có trạm cấp nước, nhưng quy mô còn nhỏ, số hộ sử dụng nước máy còn rất ít khoảng 15,79 % (cù lao An Bình khoảng 23,10 %, cù lao Mây 9,99 %, cù lao Dài 0,00%). Riêng cù lao Dài chưa có điều kiện xây dựng nhà máy nước. Hiện tại, các xã cù lao cần đầu tư xây dựng thêm các nhà máy nước để đảm bảo cho nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân địa phương và du khách. Hiện nay, do việc sử dụng hóa chất trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản ven các sông lớn, các bãi bồi, một phần do hoạt động nhiều của các loại tàu máy (đánh bắt cá, khai thác cát…) là những nguy cơ làm ô nhiễm nguồn nước trên các xã cù lao.

Bưu chính viễn thông: Đảm bảo yêu cầu thông tin liên lạc ở địa phương, mạng lưới điện thoại ngày một phát triển.Thực hiện đề án tin học trong quản lý hành chính cũng như đem tin học và dịch vụ internet vào đời sống cộng đồng dân cư trên các xã cù lao đã bước đầu đem lại kết quả khả quan; Mỗi xã đều có bưu điện văn hóa, bình quân tỉ lệ hộ sử dụng điện thoại cố định là 49,75% (cù lao Mây 35%, cù lao Dài 45,5%, và An Bình khoảng 59,3%), các sóng di động phủ kín các xã cù lao. Hệ thống thông tin liên lạc đã đảm bảo được nhu cầu của người dân địa phương cũng như khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng trên các cù lao.

3.2.3. Văn hóa xã hội

Giáo dục: Sự nghiệp giáo dục trên các xã cù lao đã có những bước tiến đáng kể về hệ thống trường lớp (Bảng 3.4). Huy động trẻ 05 tuổi vào mẫu giáo đạt trên 95%, trẻ 06 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, xét tuyển học sinh tốt nghiệp cấp I và cấp II từ 95 -100%. Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng ngày càng đi vào nề nếp. Thực hiện tốt việc đổi mới giáo dục phổ thông, hưởng ứng cuộc vận động 04 không trong ngành giáo dục. Phần lớn trường lớp được bê tông, ngói hóa, cơ sở vật chất đảm bảo cho công tác dạy và học. Tuy nhiên, nhiều trường chỉ đảm bảo chổ dạy và học chưa có đủ chổ vui chơi giải trí nhằm kết hợp giáo dục tri thức và thể chất cho học sinh. Hiện đang xây dựng 01 trường THPT Hòa Ninh ở xã Hòa Ninh, bắt đầu khai giảng từ năm học 2025 – 2010.

Bảng 3.4: Hệ thống trường lớp trên các cù lao nghiên cứu

(Nguồn: UBND các xã cù lao, 2023)  – Y tế: Có sự kết hợp tốt giữa Đông và Tây y đáp ứng được nhu cầu chăm sóc cho sức khỏe của nhân dân, tiêm chủng cho trẻ em đủ liều đạt 100%, giảm trẻ em suy dinh dưỡng, làm tốt công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm…Năm 2023, khám và điều trị ban đầu cho 97.240 lượt người. Vận động nhân dân đăng ký thực hiện những tiêu chí sức khỏe đến tất cả các hộ gia đình, thường xuyên có những kế hoạch hỗ trợ bệnh nhân nghèo như: tặng quà, khám và điều trị miễn phí, cấp thẻ bảo hiểm miển phí…Việc khám và điều trị, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ y, bác sĩ được nâng lên. Tất cả các xã đều có trạm y tế, các ấp đều có tổ y tế góp phần phục vụ khá tốt công tác điều trị ban đầu cho nhân dân địa phương. Tuy nhiên, điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ y, bác sĩ vẫn còn thiếu (Bảng 3.5), vẫn chưa đáp ứng tốt công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân và khách du lịch khi đến nghỉ dưỡng trên các cù lao. Trung bình 01 bác sĩ cho 10.864 người dân.

Bảng 3.5: Hệ thống cơ sở y tế trên các cù lao nghiên cứu

(Nguồn: UBND các xã cù lao, 2023)  – Văn hóa thông tin – Thể dục thể thao: Thực hiện cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư đến nay tất cả các ấp đã thực hiện và có khoảng 98% hộ đăng ký tham gia. Thường xuyên duy trì các hoạt động của nhà văn hóa các xã, trạm truyền thanh ở các ấp đảm bảo thông tin kịp thời các chủ chương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Hàng năm, đều có tổ chức hội thao như bóng đá mini, bóng chuyền, cầu lông, giao lưu văn nghệ nhân các ngày lễ lớn. Tổ chức thi hát Karaokê giữa các xã cù lao, tiếng hát nông dân, trên các cù lao có 8 đội ca tài tử với khoảng 50 thành viên tham gia phục vụ nhân dân địa phương trong các ngày lễ tết và thường xuyên phục vụ du khách ở các điểm du lịch sinh thái, đặc biệt vẫn duy trì được các lễ hội ở đình làng, chùa chiền. Tuy nhiên, các phong trào chưa sâu rộng, công tác xã hội hóa còn hạn chế, cơ sở vật chất, sân bãi, phương tiện phục vụ vui chơi giải trí của các tầng lớp nhân dân còn thiếu thốn, chưa đáp ứng yêu cầu trong phát triển văn nghệ, thể dục, thể thao hiện nay.

3.3. Tài nguyên du lịch tự nhiên trên các xã cù lao

3.3.1. Khí hậu – Thời tiết   

Khí hậu có thể xem là thành phần tự nhiên quan trọng, có ý nghĩa đối với sự phát triển du lịch. Các cù lao nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm điển hình, có chung một đặc điểm khí hậu nóng ẩm quanh năm và tương đối ổn định, hàng năm có hai mùa mưa nắng rõ rệt với sự phân hóa các đặc tính nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm và thoát hơi nước.

Ẩm độ: Ẩm độ không khí qua các tháng trong năm biến thiên từ 74 – 85%, bình quân từ 82 – 83%, ẩm độ không khí cao nhất tập trung vào tháng 7 đến tháng 10 dương lịch giá trị trung bình 86 – 87 % và thấp nhất là vào tháng 1 đến tháng 3 dương lịch ẩm độ trung bình 76 – 77% (Bảng 3.6)

Bảng 3.6: Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm (%)

(Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Vĩnh Long, 2023)  – Bức xạ: Bức xạ tương đối cao, bức xạ quang hợp trong năm là 79.560 kcal/m2. Bức xạ quang hợp trong tháng là 6.630 cal/m2. Ngày có lượng bức xạ thấp nhất cũng đạt trên 170 cal/cm2/ngày. Thời gian chiếu sáng bình quân năm đạt 2.181– 2.676 giờ/năm, số giờ nắng bình quân trong ngày là 7,5 giờ, số giờ nắng trung bình trên tháng trong mùa khô đạt trên 250 giờ/tháng và vào mùa mưa dao động từ 170 – 207 giờ/tháng.

Điều kiện dồi dào về nhiệt và nắng là tiền đề cho sự phát triển về nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, tăng vụ.[51], [54], [56].

  • Lượng bốc hơi:

Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của các cù lao khá lớn, khoảng 1.400 – 1.500 mm/năm, trong đó lượng bốc hơi vào các tháng mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 dương lịch) khoảng 116 – 179 mm/tháng. Mùa khô đạt khoảng 4 – 6 mm/ngày, mùa mưa đạt khoảng 3 mm/ngày.[52], [55], [57].

  • Nhiệt độ:

Chế độ nhiệt tương đối cao và khá điều hòa, nhiệt độ trung bình cả năm từ 27– 28 oC, không có tháng nào nhiệt độ xuống thấp hơn 19 oC. Nhiệt độ tối cao 37,2C, nhiệt độ tối thấp 19,4 C. Biên độ nhiệt trong năm thấp nhưng biên độ nhiệt giữa ngày và đêm khá cao bình quân 7 – 8 oC (Bảng 3.7)

Bảng 3.7: Đặc trưng nhiệt độ các tháng trong năm ở Vĩnh Long (oC)

(Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Vĩnh Long, 2023)

Biểu đồ 3.3: Dao động nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm

Lượng mưa và sự phân bố mưa: Tổng lượng mưa trung bình trong năm đạt khoảng 1.200 – 1.500 mm/năm, khoảng 90% lượng mưa hàng năm ở các cù lao phân bố tập trung vào tháng 5 – 11 dương lịch, nhiều nhất vào tháng 8 – 10 dương lịch, thời gian mưa trên dưới 180 ngày, thường bắt đầu từ 15 tháng 05 và kết thúc vào 30 tháng 11 dương lịch. Mùa mưa thời tiết mát dịu, dễ chịu. Vào khoảng cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 thường có “hạn Bà Chằng” kéo dài khoảng 15 – 20 ngày.[26], [60].

Bảng 3.8: Lượng mưa các tháng trong năm (mm)

(Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Vĩnh Long, 2023)  – Gió: Các cù lao nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm xuất hiện 3 luồng gió chính thường đạt đến cấp 2, cấp 3 và cấp 4: Gió mùa Tây Nam mang theo nhiều hơi nước, thổi vào mùa mưa, thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch.

Gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa khô khoảng tháng 11 đến tháng 1 năm sau ứng vào mùa khô nên thường khô và lạnh. Gió mùa Đông Nam thổi vào tháng 2 đến tháng 4 mang lại thời tiết lạnh. Tháng 4 và tháng 11 hàng năm thường đổi gió mùa, tốc độ gió trung bình khoảng 2,3 m/s.[12]

Bão hầu như ít khi đến Vĩnh Long nói chung, các cù lao nói riêng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi những cơn bão từ Biển Đông và các vùng lân cận nên đôi khi có mưa, gió lớn kéo dài, có giông và gió xoáy.  

Nhìn chung, các cù lao có những ưu đãi về khí hậu, rất ít điều kiện có ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất nông nghiệp. Các yếu tố khí hậu nói chung thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa cây trồng và canh tác được quanh năm. Nhưng những năm gần đây, sự thay đổi bất thường của khí hậu, thời tiết đã làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của các cù lao và khu vực, mặc dù không bị ảnh hưởng lớn bởi sự biến động này và các xã cù lao đã có nhiều biện pháp để hạn chế tối đa về thiệt hại do lũ gây ra, nhưng hàng năm những thiệt hại trong sản xuất cũng chiếm tỷ lệ đáng lo ngại.

Trên các cù lao đều có thể phân biệt rõ hai mùa mưa và nắng. Tính mùa của khí hậu đã có những ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động du lịch, nó tạo ra tính mùa trong du lịch. Mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 11 dương lịch chiếm đến 90% lượng mưa trong năm, điều này ảnh hưởng đến việc phục vụ khách du lịch. Tuy nhiên, nếu có phương án tốt, có thể tạo ra được ấn tượng lạ đối với du khách.

Theo các chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người (Bảng 3.9), thì các cù lao có nhiệt độ trung bình năm nóng, ít phù hợp với sức khỏe của con người song nhiệt độ trung bình tháng, biên độ dao động nhiệt độ trung bình theo năm và lượng mưa trung bình lại khá thích nghi cho điều kiện sức khỏe và thuận lợi cho hoạt động du lịch, nhất là với số giờ nắng trong ngày cao (khoảng 7 – 8 giờ), đây là một điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch. Thực tế cho thấy, những nơi có số giờ nắng trung bình trong ngày cao thường được ưa thích và có sức hút mạnh đối với du khách và thực tế cho thấy ở các xã cù lao Vĩnh Long khách quốc tế thường tăng cao vào tháng 11, 12, 1, 2 dương lịch và giảm nhiều vào tháng 4, 5, 6, 7 dương lịch.

Bảng 3.9: Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người

3.3.2. Địa chất

Đất đai là một hợp phần của tự nhiên, nhìn chung, ít có những giá trị trực tiếp cho hoạt động du lịch. Song đối với toàn tỉnh Vĩnh Long cũng như trên các cù lao nghiên cứu thì đất đai là một tài nguyên quý giá cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển DLST. Trên mặt đất màu mỡ, với độ phù sa phì nhiêu cao rất phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loài cây trồng, đặc biệt là các loại cây ăn trái tạo nên các HST vườn xanh tốt quanh năm đặc trưng cho vùng sông nước Đồng bằng Sông Cửu Long.

Theo kết quả điều tra khảo sát nông hóa thổ nhưỡng của Chương trình đất Vĩnh Long năm 1991 – 1993, và kết quả khảo sát chỉnh lý, đánh giá bến động các đơn vị đất của tỉnh Vĩnh Long 2018 thì trên các cù lao vùng nghiên cứu có hai nhóm đất chính là: Đất phù sa chiếm khoảng 75,1% phân bố khắp các xã cù lao và đất phèn tiềm tàng 24,9%. Đất phèn phân bố chủ yếu ở cù lao Dài và tầng sinh phèn phổ biến từ 50 – 80 cm, việc kết hợp đào mương, đắp mô lên liếp lập vườn cùng với hệ thống kênh rạch tự nhiên đã làm lắng tụ và tiêu rửa phèn tốt đã khắc phục được sự ảnh hưởng của yếu tố phèn trong sản xuất nông nghiệp.[50], [51], [52], [53], [54], [55], [56], [57].

Nhìn chung, đất đai trên các cù lao khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp với nhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao như cây màu, đặc biệt là những cây ăn quả như: Chôm chôm, sầu riêng, nhãn, bưởi, xoài, cam… do quá trình hình thành và lắng tụ phù sa cũng như biên độ triều cường lớn và ổn định, chế độ tiêu rửa phèn tốt, thời gian ngập không kéo dài hoặc không bị ngập, đồng thời có tầng tích tụ mùn rất thuận lợi cho việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.

3.3.3. Địa hình

Các cù lao nghiên cứu có địa hình điển hình của dạng đồng bằng bồi tụ phù sa sông. Các cù lao nằm trong miền trầm tích trẻ, lớp mặt được bồi lắng phù sa mới đến độ sâu khoảng 100 m, chiều dày của phù sa mới càng ra phía biển càng lớn, xen kẽ giữa nó là các lớp đất sét, cát…Trong đó, cù lao An Bình, cù lao Dài được bồi tụ phù sa sông Tiền, cù lao Mây được bồi tụ phù sa của sông Hậu. Cao trình biến thiên từ 0,2 đến trên 2 m, độ cao trung bình của các cù lao từ 0,6 – 1,2 m. Cù lao An Bình có phần cao hơn cù lao Dài và cù lao Mây. Các cù lao là nơi phân bố chủ yếu các phù sa phát triển trên chân giồng cát, có độ phì cao, đồng thời bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, bị chia cắt khá phức tạp do mạng lưới sông rạch chằng chịt, là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, phát triển các vườn cây ăn trái tạo cảnh quan miệt vườn trù phú, là những điểm thu hút khách du lịch tham quan, nghỉ dưỡng.[50], [51], [52], [53], [54], [55], [56], [57].

3.3.4. Nguồn nước và thủy văn

Nguồn nước mặt trên các cù lao tương đối dồi dào. Giá trị thủy văn nổi bậc của Vĩnh Long nói chung, các cù lao nói riêng, phải kể đến là Tiền Giang và Hậu Giang hai nhánh của sông Mê kông đã bao bọc toàn bộ địa phận Vĩnh Long cung cấp nguồn nước dồi dào và bồi đắp phù sa cho các cù lao. Cù lao An Bình, cù lao Dài nằm bên bờ sông Tiền, cù lao Mây nằm ở tả ngạn sông Hậu, đây sẽ là những điểm hấp dẫn du khách đến khám phá vùng hạ lưu của con sông lớn này. Cũng nhờ hệ thống sông này mà Vĩnh Long và các xã cù lao có điều kiện giao thông thuận lợi để tổ chức các tuyến du lịch sông nước với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các nước trong khu vực sông Mê kông.

Hệ thống sông rạch tự nhiên chằng chịt kết hợp với biên độ triều cường lớn và ổn định rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên canh vườn cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản nước ngọt trong ao vườn, ven sông rạch. Công tác nạo vét kênh rạch, gia cố bờ bao, bờ vùng luôn được các cấp chính quyền quan tâm và được tiến hành thường xuyên. Tuy nhiên, hệ thống đê bao chưa thật hoàn chỉnh, chất lượng chưa đồng bộ để đảm bảo giữ nước cho các vườn cây ăn trái. Mặc khác, do vị trí nằm trên các tuyến sông lớn và địa hình tương đối thấp, kết hợp với sông rạch chằn chịt nên rất nhạy cảm với chế độ triều cường nhất là các vùng mới bồi đấp, vào mùa lũ đỉnh triều rất cao dễ gây ngập úng vào những tháng 10 – 11 dương lịch. Nước ngọt gần như có quanh năm, ngoại trừ những tháng khô (15 tháng 02 đến 15 tháng 05) với lượng nước thượng nguồn sông Mêkông ít, triều cường biển đông dâng cao có thể bị nhiễm mặn nhẹ ở các xã Thanh Bình, Quới Thiện (0,35 – 5,00 ‰) nhưng không thường xuyên và cũng không ảnh hưởng lớn lắm đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt trên cù lao.[50], [51], [52], [53], [54], [55], [56], [57].

Điểm nổi bật trên các cù lao là mạng lưới thủy văn khá dày đặc bởi sự đan xen của hệ thống kênh rạch, với hệ thống kênh rạch này thì trên những chiếc đò chèo hay thuyền máy du khách có thể tham quan cảnh sông nước miệt vườn, tìm hiểu phong tục, sinh hoạt của người dân Nam Bộ nói chung của Vĩnh Long nói riêng.

Tuy nhiên, chế độ thủy văn trên các cù lao cũng chia làm hai mùa rõ rệt phù hợp với mùa của khí hậu. Vào mùa mưa, lũ trên sông Tiền và sông Hậu ảnh hưởng trực tiếp đến các xã cù lao, việc đi bộ trong thời gian này gặp khó khăn, ngược lại,  vào mùa nước kiệt (nhất là tháng 3, 4 dương lịch) mực nước các sông thấp nên tại các kênh rạch nhỏ thuyền máy đi lại khó khăn. Song mùa nắng, nước sông lại trong,  thích hợp cho khai thác dịch vụ tắm nước ngọt tự nhiên trên sông.

Ngoài cung cấp nguồn nước phong phú, sông ngòi, ao hồ còn mang lại cho các xã cù lao về thủy sản, ven các cù lao là những khu bãi bồi thuận lợi cho thủy sản sinh sôi, nhưng hiện nay, việc đánh bắt bừa bãi thiếu kế hoạch, thiếu kiểm soát, ghe tàu đi lại nhiều, cùng với việc khai thác cát trên sông…đã làm ảnh hưởng đến nguồn lợi này, nhất là làm hủy hoại môi trường sống của tôm, một loài rất nhạy cảm với điều kiện sống.

Về nước ngầm trên các xã cù lao đã bắt đầu được khai thác đưa vào sử dụng, chất lượng nước không tốt lắm, trong nước còn nhiều Sắt và Clo, việc xử lý nước chủ yếu bằng phèn, do đó, lượng vi sinh vật, vi khuẩn và các chất hóa học khác chưa được xử lý cũng phần nào ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Gần đây, một số giếng khoan đã bị nhiễm mặn nên việc khai thác nước ngầm bị hạn chế [53].  Người dân trên các cù lao chủ yếu sử dụng nước ao hồ, sông rạch để sinh hoạt thông qua các biện pháp xử lý nước đơn giản như: Lóng lắng qua lu – bể chứa hoặc dùng bột xử lý. Nhưng vẫn chưa là biện pháp an toàn hữu hiệu nhất trong điều kiện sử dụng ngày càng nhiều lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như các chất thải trong sinh hoạt hàng ngày của đại đa số dân cư trong vùng và đặc biệt, chất thải do các tàu bè lưu hành trên sông. Vì vậy, cần chú ý đầu tư xây dựng các nhà máy nước trong các khu dân cư trên các xã cù lao là cần thiết và hướng dẫn cụ thể để người dân thấy được lợi ích của việc sử dụng nước sạch trong sinh hoạt.

Hiện nay, vẫn chưa có công trình nào ghi nhận vấn đề ô nhiễm môi trường nước trên sông rạch và đánh giá mức độ ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người dân trên các xã cù lao. Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa nhanh và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất công nghiệp cũng như nông nghiệp chắc chắn nguồn nước mặt phong phú này không tránh khỏi sự ô nhiểm. Vì vậy, trong tương lai cần phải nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm và các biện pháp xử lý nước sinh hoạt cũng như các biện pháp xử lý nước thải một cách tích cực thì nguồn tài nguyên này mới đảm bảo tốt và bền vững.

3.3.5. Tài nguyên sinh vật

3.3.5.1. Tài nguyên thực vật

Nằm trong khu vực khí hậu xích đạo nắng nóng, mưa nhiều, nhiệt độ và độ ẩm cao quanh năm nên hệ thực vật (TV) trên các cù lao khá đa dạng. Chúng tôi ghi nhận được 343 loài thực vật thuộc 88 họ, nhiều loài xuất hiện nhất là các họ: Palmae, Poaceae, Asteraceae, Euphorbiaceae, Fabaceae, Malvaceae, Lamiaceae, Cucurbitaceae. Trong đó có 251 loài cây trồng, cây rau, hoa kiểng điển hình là: Nhãn, chôm chôm, bưởi, cam, chanh, sầu riêng, măng cụt, chuối, xoài, chuối,… và 92 loài cây hoang dại điển hình như: Bần, dừa nước, mái dầm, bụp tra, cỏ mực, cóc kèn, cốc đồng,  chó đẻ, rau trai…

Đặc biệt, trên các bãi bồi ven sông Tiền, sông Cổ Chiên và sông Hậu xung quanh các cù lao nhất là cù lao Mây có nhiều bần. Bần là những cây thân gỗ, phần lớn là mọc tự nhiên, sinh sản và phát triển khá nhanh. Trái bần chín rụng xuống trôi theo nước, khi bám được đất sẽ nẩy mầm thành cây con, gỗ không chắc chắn nhưng có giá trị trong ngành nguyên liệu giấy và cung cấp chất đốt cho người dân. Rễ phụ của bần có tính chất xốp, nhẹ, và đàn hồi rất tốt, rất có giá trị trong việc sản xuất nút chai phục vụ cho các nhà máy sản xuất rượu Tây và một số ngành thực phẩm đóng chai khác[38]. Trái bần có vị chua đặc trưng, là trái mới lạ đối với nhiều người và du khách, trái bần còn được chế biến các món ăn dân dã rất Nam Bộ như: Canh chua bần, gỏi bần trộn khô cá sặc rằn…Ngoài ra, những hàng bần còn có vai trò như những lá chắn tự nhiên chóng xói lở hai bên bờ sông, rễ bần còn làm nhiệm vụ tích tụ phù sa bồi đắp thêm cho những nơi bị xói lở trước đây, vì thế cần trồng và bảo vệ cây bần ven các sông lớn trên các xã cù lao. Cây bần còn góp phần làm tăng đa dạng sinh học cho môi trường sinh thái trên các xã cù lao, vùng ngập nước gốc bần là nơi cư trú thích hợp và cung cấp thức ăn cho nhiều loài thủy sản, tán bần là nơi sinh sống của các loại chim cò, rắn, chuột…

Dừa nước trên các cù lao khá nhiều, nhất là cù lao Dài. Phần lớn phân bố tự nhiên ven các sông lớn và các bãi bồi, một phần do người dân trồng để lấy lá dừa nước trầm lá lợp nhà, làm vách và các dụng cụ trong gia đình như: Chổi, giỏ túi sách, mũ nón, gói bánh. Lá non dùng để gói bánh dừa, làm bánh cục ăn thơm ngon. Cái quả dừa nước có vị hơi ngọt và béo để ăn tươi, nấu chè, làm thức uống… Sọ dừa già có thể dùng làm cúc áo, đồ mĩ nghệ. Tỷ lệ đường trong nhựa cuống buồng quả dừa nước khá cao khoảng 13 – 17%, Sản xuất đường từ dừa nước đơn giản hơn và có những mặt thuận lợi hơn so với qui trình sản xuất đường mía. Ngoài các giá trị kinh tế trên, người dân ở đây còn trồng dừa nước nhằm mục đích điều hòa khí hậu, giữ đất bồi, bảo vệ bờ sông, kênh rạch, chống xói lở do tác dụng của thủy triều hoặc sóng. Ngày nay, nếu mô hình vườn dừa nước biết kết hợp để nuôi trồng thủy sản thì nhất cử lưỡng lợi, vì vừa cho thu nhập từ dừa nước, vừa lợi trong chăn nuôi.

Ngoài ra, còn tạo cảnh quan cho du lịch sinh thái miền sông nước.[20], [79].

3.3.5.2. Tài nguyên động vật

Trên các xã cù lao nghiên cứu do chủ yếu phát triển kinh tế vườn, khuôn viên của vườn cũng không rộng lắm, trung bình khoảng 7.500 m2, và có vị trí địa lí xa biển, xa rừng, do tác động của con người… nên hệ động vật nuôi cũng như hoang dại không phong phú về số loài và số lượng cá thể. Có thể chia ra:

  • Các loài vật trên cạn:

Động vật trên cạn ở các xã cù lao chủ yếu là vật nuôi như: Gà, vịt, heo, bò, dê, chó, ong mật… nhiều nhất là gia cầm (84.341 con). Ngoài ra còn có một số loài hoang dại như: Rắn, ếch, cóc, nhái, chim, cò, chuột,… nhưng số lượng không nhiều.  – Các loài động vật dưới nước:

Ở nước do nhờ thiên nhiên ưu đãi về hệ thống sông rạch chằn chịt, nên ở các xã cù lao có hầu hết các loài cá nước ngọt của Đồng bằng sông Cửu Long. Chúng gồm nhóm cá đồng là nhóm cá có khả năng sinh sống ở môi trường nước tĩnh và chịu được phèn với nồng độ cao như: Cá lóc, cá trê, cá rô, cá sặc, thát lát, lươn, trạch,…Còn nhóm cá sông thì di cư mạnh trong môi trường nước chảy, chúng sống theo sông, rạch như cá chép, cá mè, trôi, tra, cá linh, cá lưỡi trâu, cá lăng, cá ngát, bông lau, cá lòng tong, cá bóng…Các loài thủy sản được nuôi chủ yếu là cá tra (245,7 ha), cá điêu hồng (204 bè), ba sa, nuôi nhữ tôm càng xanh.

3.3.6. Hệ sinh thái vườn cây ăn trái

3.3.6.1. Đặc điểm của vườn nhà

Vườn cây ăn trái ở các vùng điều tra là những HST nhân tạo thuộc kiểu vườn nhà (Homegarden). Vườn nhà là một hệ thống sử dụng đất, gồm một căn nhà bao quanh bởi mãnh đất, được trồng nhiều loại hoa màu, cây hàng năm hoặc cây lâu năm để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của nhà vườn. Công lao động chủ yếu do những thành viên trong gia đình thực hiện, diện tích vườn nhà khoảng vài trăm m2 đến 1 hoặc 2 mẩu[4]. Riêng theo khảo sát của chúng tôi thì diện tích vườn nhà trên các xã cù lao Vĩnh Long trung bình khoảng 7.500 m2.

Do đặc điểm đất thấp, mực nước ngầm cao, sông rạch nhiều, mùa mưa dễ bị ngập úng nên khác với các vườn nhà ở các vùng sinh thái trung du miền núi, hầu hết diện tích vườn ở đây đều được đào mương lên liếp để phục vụ tưới tiêu, chống ngập úng vào mùa mưa lũ, tận dụng mương nuôi thủy sản để tăng thêm thu nhập. Ngoài ra, một số mô hình vườn nhà được thiết kế nhằm kết hợp với hoạt động DLST.

3.3.6.2. Chức năng của vườn nhà

Giống như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1992)[1], thì vườn nhà trên các xã cù lao thuộc tỉnh Vĩnh Long cũng có những chức năng sau:

Tạo sản phẩm hàng hóa:Vườn có giá trị kinh tế, các cây trồng trong vườn không những cho lương thực, thực phẩm mà còn dùng làm nhiên liệu, vật liệu xây dựng nhà cửa, phục vụ nhu cầu hàng ngày. Ngoài ra, các sản phẩm thặng dư còn có thể bán để lấy thêm tiền. Các loại rau cải, khoai, đậu…chẳng những để làm thực phẩm giúp ích cho sự tiêu thụ, sinh tồn của người trồng mà còn đảm bảo chức năng thương mại khi cần nhu cầu tiền mặt hoặc chăn nuôi thêm kiếm lãi tăng thêm thu nhập cho nông dân. Các loại hoa kiểng đem bán thêm vào dịp lễ, tết cũng thu thêm thu nhập đáng kể.

Cơ cấu thu nhập của các hộ nhà vườn trên các cù lao nghiên cứu được thể hiện trong biểu đồ 3.4. Kết quả này, cho thấy các hộ nhà vườn chủ yếu đầu tư phát triển nông nghiệp, đặc biệt là vườn cây ăn trái.

Biểu đồ 3.4: Cơ cấu thu nhập của các hộ nhà vườn (Đơn vị %)

Qua kết quả điều tra, cơ cấu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của các nhà vườn cho thấy sản phẩm nông nghiệp trên các xã cù lao chủ yếu sản xuất phục vụ cho xuất khẩu và tiêu thụ ở những nơi khác, phần bán cho du khách tham quan ở địa phương chiếm tỉ lệ rất thấp (Bảng 3.10). Điều này cho thấy hoạt động du lịch trên các xã cù lao vẫn chưa phát triển mạnh.

Bảng 3.10: Cơ cấu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên các cù lao (%)

Biểu đồ 3.5: Cơ cấu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên các cù lao

Tạo sản phẩm tự cung, tự cấp: Vườn cung cấp rau, hoa, quả, thực phẩm đóng góp có ý nghĩa vào khẩu phần hàng ngày của gia đình, cung cấp các chất đạm, cacbohydrat, lipit, các chất có hàm lượng nhỏ nhưng rất cần thiết như: Vitamin A, B, C, E, các khoáng …Ngoài ra, nhiều món ăn được chế biến từ các sản phẩm vườn rất được ưa thích như: Cháo cá lóc rau đắng, cây chuối non làm gỏi gia cầm, bắp chuối nấu canh chua hoặc chấm mắm kho…Nhìn chung, những món ăn đạm bạc nhưng không kém phần hấp dẫn. Du khách đến có thể được chủ nhà đãi một bữa  cơm với những món ăn tự có trong vườn nhà, rất thú vị cho những chuyến DLST.

  • Vườn bảo vệ đất và cung cấp nguồn dinh dưỡng cho đất:

Do có cấu trúc nhiều tầng tán nên vườn có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn, và tăng độ phì cho đất, tạo nên một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững.

  • Tạo vẻ mỹ quan, trong vườn các loại hoa kiểng như:

Trạng nguyên, sao nhái, cúc, nở ngày, dừa cạn, sứ, mai vàng, mai tứ quý, lài, mai chiếu thủy, huỳnh anh, hoàng lan, hoa tỏi, đa lộc, …dùng vào việc trang trí, làm đẹp thêm khu vườn.

  • Cung cấp những giá trị y học:

Một số cây chẳng những có nhiệm vụ cho hoa trái, cung cấp thực phẩm mà còn có một chức năng thứ hai là tạo nguồn dược liệu quý rất phong phú và đa dạng, trị được một số bệnh thông thường như:[2], [7].

Nhãn: Hạt nhãn sấy khô, tán bột dùng trị ghẻ lở, cầm máu do đứt tay chân bằng cách rắc thuốc lên chổ đứt băng lại.

Bưởi: Lá bưởi dùng nấu với những lá khác như chanh, cam, sả, quít… để xông trị cảm cúm, nhứt đầu. Lá non nướng chín xoa bóp chổ đau tan máu ứ. Mỗi ngày sắc từ 4 – 12 gram vỏ trái bưởi trị bệnh ăn không tiêu, ho có đườm.

Cam: Vỏ cam xanh (thanh bì) dùng trị đau bụng, đầy hơi, ợ chua, tiêu chảy và kích thích tiêu hóa mỗi ngày dùng từ 5  – 10 gram. Lá dùng nấu nước xông trị cảm cúm, nhức đầu.

Quít: Vỏ quít (trần bì) trị ăn uống không tiêu, nôn mửa, đầy bụng, sốt rét, trừ đờm, dùng mỗi ngày 4 – 12 gram. Lá quýt dùng xông trị cảm, nhứt đầu.

Chanh: Rễ chanh sắc uống mỗi ngày 6 – 12 gram trị bệnh ho, rễ chanh còn dùng trị sán Toenia. Lá chanh dùng nấu nước xông chữa cảm cúm, lá và búp non giã nát đắp lên rún trẻ em trị đầy chướng bụng. Sắc vỏ thân cây chanh uống mỗi ngày 4 – 10 gram giúp hổ trợ tiêu hóa. Hạt chanh có người dùng tẩy giun.

Sầu riêng: Rễ và lá được dùng làm thuốc trị sốt, trị bệnh về gan, vàng da. Mỗi ngày dùng từ 10 – 16 gram dưới dạng thuốc sắc. Vàng da do gan có thể dùng lá nấu nước tắm.

Chôm chôm: Rễ chôm chôm được dùng nấu uống trị bệnh sốt. Lá giã nhỏ đắp lên chổ sưng. Vỏ cây dùng trị sưng lưỡi.

Đu đủ: Hạt đu đủ trị sán lãi nhưng dễ làm hư thai. Nước sắc lá đu đủ dùng rửa vết thương, vết lở loét. Hoa đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp với đường trị ho, mất tiếng, mỗi ngày dùng 4 – 8 gram. Rễ đu đủ  sắc uống mỗi ngày 4 – 12 gram trị băng huyết, hay giã nát lấy nước uống, xác đắp lên vết rắn cắn.

Chuối: Trẻ em đau ruột ăn chuối rất tốt, chuối nấu nước uống trị ho, sưng phổi, làm thông tiểu tiện, tráng dương.

Măng cụt: Vỏ măng cụt sắc uống trị đau bụng, tiêu chảy hoặc vàng da.

Xoài: Vỏ trái xoài chín cũng như trái xoài có tác dụng cầm máu tử cung, ho ra máu, chảy máu ruột…

Ổi: Trái ổi còn xanh thì chát (có tanin) làm táo bón có thể trị tiêu chảy, khi chín có tác dụng nhuận trường. Lá non, búp non trị đau bụng dạng thuốc sắc, ngoài ra còn dùng xông trị cảm cúm.

  • Vườn có chức năng bảo trì nguồn gen:

Các loại vườn cây ăn trái, vườn rau cải, vườn hoa kiểng… là nguồn di truyền gen phong phú vì có rất nhiều chủng loại, ngoài ra còn có rất nhiều loài:

Nhãn: Nhãn long, nhãn tiêu da bò, nhãn xuồng,…

Xoài: Xoài tượng, xoài cát, xoài cát chu, xoài cát hòa lộc…

Cam: Cam sành, cam mật, cam xoàn…

Chuối: Chuối xiêm, chuối cau, chuối hột, chuối già, chuối sáp…

Chôm chôm: Chôm chôm đường, chôm chôm java…

Sầu riêng: Sầu riêng khổ qua, Ri 6, Monthong, sữa hạt lép…

  • Vườn góp phần cải thiện vi khí hậu:

Ở những nơi có nhiều vườn, về mặt sinh thái cũng ảnh hưởng đến đặc điểm vi khí hậu, vườn cây là bộ lọc không khí, làm giảm bụi và các chất độc hại trong không khí. Cây cối hút CO2 làm cho bầu không khí trong lành. Vườn cây làm giảm nhiệt độ không khí trong những ngày nóng nực, tăng thêm độ ẩm không khí vào mùa khô hanh…Do đó, khi bước vào khu vườn cây ăn trái, chúng ta luôn có cảm  giác dễ chịu, thoáng mát, hít thở được luồng không khí trong lành.

  • Vườn tạo cảnh quan môi trường – không gian du lịch sinh thái:

Vườn nhà trên các cù lao có cây trái sum suê, sông nước mênh mông tạo cảnh quan môi trường đặc trưng cho vùng sông nước miệt vườn ĐBSCL, là một yếu tố rất quan trọng thu hút du khách tham quan. Chính yếu tố này, phối hợp với những chức năng trên đã gắn cho vườn nhà trên các cù lao thêm một chức năng mới, góp phần đáng kể vào thu nhập cho các hộ nhà vườn là kết hợp dịch vụ du lịch.   Qua điều tra thực tế các hộ nhà vườn là điểm DLST trên các cù lao cho thấy cơ cấu thu nhập của các hộ này như sau (Bảng 3.11).

Bảng 3.11: Cơ cấu thu nhập của các hộ nhà vườn có kết hợp với dịch vụ du lịch

Từ kết quả trong bảng 3.11, cho thấy khoản thu nhập từ dịch vụ du lịch sinh thái là rất lớn trong tổng thu nhập của các hộ có vườn nhà kết hợp với các dịch vụ du lịch do biết khai thác cảnh quan môi trường – không gian du lịch. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch sinh thái trên các cù lao chưa xứng với tiềm năng vốn có của nó nhất là cù lao Dài và cù lao Mây.

Biểu đồ 3.6: Cơ cấu thu nhập của các hộ nhà vườn có kết hợp với du lịch (%)

3.3.6.3. Sự phân bố diện tích các loại cây trồng trên các xã cù lao

Qua khảo sát, điều tra các chủng loại cây ăn trái trên các cù lao nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận và tổng hợp các số liệu sau (Bảng 3.12).

Bảng 3.12: Diện tích trồng các loại cây ăn trái hiện có trên các xã cù lao  (ha)

(Nguồn: UBND các xã cù lao Mây, cù lao Dài và An Bình, 2023)

Biểu đồ 3.7: Diện tích các loại cây ăn trái trên các cù lao nghiên cứu

Từ các kết quả trên (Biểu đồ 3.7) cho thấy tỉ lệ phân bố diện tích các loại cây  ăn trái trên các cù lao như sau (Biểu đồ 3.8):

Biểu đồ 3.8: Tỉ lệ phần trăm diện tích trồng các loại cây ăn trái trên các cù lao

3.3.6.4. Mô tả hệ sinh thái vườn cây ăn trái

Để tìm hiểu về HST vườn ở các xã cù lao, chúng tôi đã đi thực địa khảo sát các vườn cây ăn trái ở cả 8 xã của 03 cù lao. Tại đây, chúng tôi tiến hành đo đạc, ghi nhận số liệu về nhiệt độ, pH, năng suất thu hoạch, thành phần cây trồng chính, vật nuôi, thực vật hoang dại…và điều tra các mô hình vườn nhà, vườn kết hợp với dịch vụ du lịch sinh thái.

Thông qua khảo sát, điều tra kết hợp với việc phỏng vấn 250 hộ có vườn nhà và 20 điểm du lịch sinh thái trên 3 cù lao, chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau:

Thành phần vườn nhà: 

  • Nhà:

Ở đây, thịnh hành là một kiểu nhà ở trong vườn, cửa nhà hướng ra sông rạch hoặc đường giao thông. Nhà lớn hay nhỏ đều có sân và vườn (trừ ở bến sông, bến đò, bến phà, nhà được xây cất sát mép đường để tiện việc buôn bán, bán hàng quán), sân trồng cây kiểng, xung quanh là vườn cây ăn trái xanh um, trái trĩu cành theo mùa. Thông thường qua ngõ thì đến sân rồi nhà. Tuy nhiên, cũng có có nhà phải đi qua cổng và lối vào dài xuyên qua vườn cây trái, hoặc vườn hoa kiểng, sau nhà là vườn, nếu đất rộng thì vườn nằm cả hai bên nhà và phía trước, có trồng cây ăn quả. Quanh sân nhà là hàng rào cây xanh như bông bụp, đinh lăng, trà hàng rào, kim quít. Xung quanh vườn thường có ao, đê bao bọc với hàng rào bằng xương rồng, bông bụp, một số ít bằng dây kẽm gai hoặc xây tường. Phần lớn rào mang tính chất quy ước về ranh giới, hay để trang trí hơn là vì mục đích bảo vệ, chống trộm cướp. Cổng vào nhà cũng vậy, thường có ít cửa đóng, đôi khi chủ nhà trồng bông giấy, dây huỳnh anh… ở hai bên cổng và uốn giao nhau thành một vòm cong để thêm đẹp nhà. Các quãng dọc theo hàng rào, người ta hay trồng xen những trái cây ăn quả như dừa, xoài, mận, mít hay cây lấy gỗ như so đũa, tràm, mù u, bạch đàn… Phía sau nhà thường là ao cầu nuôi cá tra hoặc tai tượng, chim trắng…Một số ít có chuồng gà, vịt, heo, bò hoặc dê.

  • Thực vật:

Có 343 loài thuộc 88 họ, thực vật hoang dại có 92 loài, điển hình như: Mái dầm, nhãn lồng, bìm bìm, cỏ mực, cốc đồng, chó đẻ, cóc kèn, rau trai…(Xin xem phụ lục 10). Thực vật trồng có 251 loài với các cây ăn trái, cây rau, hoa kiểng…Cây ăn trái với chủng loại phong phú, một số loài đặc sản như: Nhãn, bưởi, chôm chôm, sầu riêng, xoài, cam, măng cụt, bòn bon, ổi, dừa…những cây cho trái quanh năm như mãng cầu, ổi, khế, thơm, đu đủ, mận, dừa…Cây ưu thế ở cù lao Mây là cây bưởi năm roi, nhãn tiêu da bò, chôm chôm, ở cù lao Dài là cây sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon, và ở cù lao An Bình là cây nhãn, chanh, chôm chôm.  

  • Động vật:

Động vật nuôi:

Trên cạn, có các loại gia súc, gia cầm thường được người nuôi như: Chó, heo, bò, gà, vịt…Nhiều nhất là gia cầm (84.341 con). Trong vườn nhãn thường nuôi ong mật giúp cho sự thụ phấn trong vườn cây và thu thêm nguồn lợi nhuận. Tuy nhiên, việc cho nhãn ra hoa quanh năm và rải rác đã làm nghề nuôi ong mật không còn phát triển.

Dưới nước, phần lớn là nuôi trồng thủy sản như: Cá tra (245,7 ha), cá điêu hồng (204 bè), cá ba sa, cá tai tượng, cá chim trắng, cá lóc, cá trê, tôm càng xanh…Cá tra, cá tai tượng thì nuôi trong mương, hầm của vườn, cá điêu hồng, chiêm trắng thường được nuôi bè ở vị trí vườn cạnh mé sông, tôm càng xanh chủ  yếu là nuôi nhữ trong ao vườn.

Động vật đánh bắt tự nhiên:

Trên cạn có rắn, ếch, cóc, nhái, chim, cò, chuột, …và dưới nước có tôm, tép, cua, cá trê, cá lóc, cá rô, cá sặc, cá mè, cá linh, cá lưởi trâu, cá lau kiếng, cá lăng, cá ngát, bông lau, cá lòng tong, cá bóng, thòi lòi, lươn, cua, ốc…

  • Con người

Vườn nhà là một HST nhân tạo nên vai trò của con người mang tính chủ động. Bên cạnh sự lựa chọn cơ cấu giống cây trồng, phân bố, sắp xếp cây trồng một cách hợp lý, con người còn đóng vai trò quyết định cho hiệu quả kinh tế vườn thông qua việc đầu tư chăm sóc cây trồng như vô phân, tưới nước, xẻ mương lên liếp, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, xử lý chất điều hòa sinh trưởng…hoặc kết hợp với chăn nuôi, dịch vụ du lịch…Con người có ý thức đầu tư, có định hướng đúng và kế hoạch phát triển vườn hợp lý thì hiệu quả kinh tế vườn sẽ cao và ngược lại.

  • Đặc điểm môi trường:

Nhiệt độ trung bình tại thời điểm nghiên cứu là 27 – 28oC; pH(H2O) tại các ao vườn có số đo trung bình từ 6.0 – 7.5. Nguồn nước ngọt quanh năm.

Mô hình vườn nhà

So với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1992)[1], thì mô hình vườn nhà trên các xã cù lao nghiên cứu chỉ có phần a (Sông, rạch, đường giao thông) và phần b (Thổ cư và vườn nhà) (Sơ đồ 3.1). Hiện nay, trên các xã cù lao không còn ruộng lúa.

Nhà ở các xã cù lao Vĩnh Long chủ yếu thường được cất dọc theo đôi bờ các  sông, rạch, kênh đào, có con đường đất hoặc “đan” vừa làm đê vừa làm đường giao thông chạy song song theo dòng nước, một bên hay cả hai bên đường còn tùy thuộc vào địa thế của từng nơi. Tùy theo địa thế rộng hay hẹp và cũng tùy điều kiện kinh tế, sở thích của từng người, mà cách bố trí mô hình vườn nhà theo một số dạng chính sau đây:

  1. Sông, rạch, đường giao thông – Sân – Nhà – Vườn
  2. Sông, rạch, đường giao thông – Sân – Nhà – Ao, chuồng – Vườn
  3. Sông, rạch, đường giao thông – Vườn – Sân – Nhà – Vườn
  4. Sông, rạch, đường giao thông – Vườn – Sân – Nhà – Ao, chuồng – Vườn
  5. Sông, rạch, đường giao thông – Sân – Nhà – Vườn sau – Vườn hai bên
  6. Sông, rạch, đường giao thông – Vườn – Sân – Nhà -Vườn sau – Vườn hai bên. Do đất thấp, sông rạch nhiều nên khi lập vườn phải đào mương, lên liếp. Kích thước của liếp và mương phụ thuộc vào chiều cao đỉnh lũ, độ dày tầng đất mặt, độ sâu tầng phèn, loại cây trồng và chế độ canh tác. Quanh từng vườn, và cả xóm, ấp đều có đê bao khép kín. Chuồng gia súc, gia cầm thường bố trí gần nhà, cạnh mương để tiện tẩy dọn vệ sinh và áp dụng mô hình vườn ao chuồng.

Sơ đồ 3.1: Lát cắt ngang qua một vườn nhà điển hình ở cù lao [4].

Một lát cắt theo chiều ngang của một vườn nhà điển hình ở các cù lao gồm:

  • a: Sông, rạch, mương, đường giao thông.
  • b: Thổ cư và vườn nhà:
  • Trước nhà có sân thường trồng hoa kiểng, có thể có bàn thờ ông thiên  và lối vào nhà xuyên qua vườn cây.
  • Sau nhà có vườn cây trái, có thể có ao cá, chuồng gia súc, gia cầm.
  • Phía trước hoặc hai bên nhà cũng có thể có vườn cây trái.

Cấu trúc sinh thái vườn nhà 

Giống với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1992), sự phân tầng theo không gian thẳng đứng của vườn nhà trên các cù lao nghiên cứu cũng có cấu trúc sinh thái gồm 4 sinh tầng khá tiêu biểu (Hình 3.2), chỉ có một vài khác biệt về loại cây trồng ở các tầng do có những đặc trưng riêng của mỗi khu vực.

Trên các cù lao thì cây nhãn, chôm chôm, sầu riêng, bưởi là những cây ưu thế, ngoài ra còn có các loại cây ăn trái khác cùng với một số loại cây rau, hoa kiểng, cây cỏ…đã tạo nên 4 sinh tầng như sau:

  • Tầng cao nhất (tầng A): Trên 10 m, gồm những cây ăn trái chiếm phần cao như: Dừa, cau, cốc và cây một số cây khác như: Mù u, bạch đàn, còng…
  • Tầng giữa (tầng B): Từ 5 – 10 m, chiếm ưu thế với các loài cây ăn trái như nhãn trên 10 năm tuổi, sầu riêng, bưởi, xoài, chôm chôm, măng cụt, vú sữa… – Tầng thấp hơn (tầng C): Từ 1 – 5 m, gồm những cây cam sành, quít, chanh, đu đủ, chuối, xa bô chê, ổi, mận, bòn bon…
  • Tầng sát mặt đất (tầng D): Từ 0 – 1 m, gồm các loại rau, cỏ dại…

Sơ đồ vườn chuyên canh trên các cù lao 

Vườn cây ăn trái trên các xã cù lao chủ yếu là chuyên canh về cây nhãn, bưởi, chôm chôm, sầu riêng…Một số vườn xen cây măng cụt, bòn bon trong nhãn, sầu riêng; chanh tàu trong chôm chôm, nhãn. Hiện nay, đa số các điểm DLST có xu hướng trồng nhiều cây trong vườn với mong muốn có trái cây bốn mùa để thu hút du khách và du khách thích tham quan nhất là vườn chuyên canh chôm chôm, mận

3.3.6.5. Tập quán canh tác, chăm sóc vườn cây ăn trái

Du khách khi đến với các cù lao Vĩnh Long ngoài việc chiêm ngưỡng cảnh quan sông nước miệt vườn thì còn quan tâm nhiều đến tập quán canh tác, chăm sóc vườn cây, làm sao để có được những vườn cây xanh tốt, trĩu quả… Cho nên những người phục DLST, nhất là hướng dẫn viên phải nắm rõ truyền thống này.

Thiết kế vườn

  • Xẻ mương, lên liếp:

Điều kiện tự nhiên ở các xã cù lao Vĩnh Long có những yếu tố ảnh hưởng đến cây trồng như: Mặt đất thấp, nhiều sông rạch, nên mặt nước cấp thường gần mặt đất hoặc đất dễ bị ngập úng trong mùa mưa. Lượng mưa trong năm phân phối không đều gây ngập úng trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa nắng. Lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng cho vườn cây trái. Cho nên, để chăm sóc vườn cây ăn trái có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, khi lập vườn nông dân phải đào mương, lên liếp với những mục đích sau[9]:

  • Nâng cao lớp đất mặt để tránh ngập úng vào mùa nước lũ.
  • Hạ mực nước vốn thường ngày lên cao.
  • Thoát nước nhanh chóng trong mùa mưa lũ và đưa nước vào vườn trong mùa nắng, đặc biệt quan trọng trong giai đoạn kích thích ra trái mùa nghịch.
  • Góp phần nuôi tôm cá thực hiện mô hình vườn ao chuồng.

Tuy nhiên, tùy diện tích vườn, loại cây trồng, độ dày mặt đất, độ sâu tầng phèn mà kích thước liếp mỗi nơi có thay đổi. Những nơi đĩnh lũ cao, tầng đất mặt mỏng, tầng phèn nông thường lên liếp đơn rộng khoảng 3 – 5 m thường trồng 1 hàng chính giữa. Những nơi đĩnh lũ vừa, tầng đất mặt dày thường lên liếp đôi rộng khoảng 6 – 10 m thường trồng cây 2 hàng hai bên cạnh ao. Bề rộng mương từ 2 – 3 m, sâu khoảng 1 – 1,2 m, ở liếp đôi thường xẻ một đường nhỏ ở giữa, dọc theo liếp ngang 20 – 30 cm, sâu 15 – 20 cm để rút nước nhanh khi có mưa hoặc ngập lũ.

Kỹ thuật lên liếp phổ biến ở các xã cù lao là theo lối cuốn chiếu (Sơ đồ 3.4).

Là vùng đất phù sa nước ngọt nên lớp đất mặt bao giờ cũng tốt hơn lớp đất bên dưới, vì vậy khi đào mương lên liếp người ta luôn giữ cho lớp đất mặt đưa lên trên mặt liếp để giúp cây phát triển thuận lợi hơn.

Sơ đồ 3.4: Lên liếp theo lối cuốn chiếu.[9].

  • Xây dựng đê bao, cống bộng, cây chắn gió

Đê bao: Trước tình hình lũ trong những năm qua cho thấy việc xây dựng đê bao quanh vườn và đê bao cả các cù lao là công việc không thể thiếu được, vì ngoài chức năng chống ngập lụt, đê bao còn đảm nhận nhiều chức năng khác như: Làm đường giao thông vận chuyển vật liệu, sản phẩm trong vườn, đường đi lại của người dân, nơi trồng cây chắn gió, hạn chế chiều cao của liếp, nơi xây dựng cống chính để điều tiết nước…Vì vậy, mặt đê bao ở đây thường rộng và chắc chắn bao quanh các ấp, các xã và  thường được trải nhựa xi măng để đi lại dễ dàng hơn cả hai mùa mưa nắng. Chiều cao đê luôn cao hơn chiều cao nhất của đỉnh lũ trong vùng[9]. Hiện tại, trên các xã cù lao đều có đê bao khép kín. Tuy nhiên, có nhiều chổ cần được nâng cấp.

Cống bộng: Tùy diện tích vườn mà bố trí một hay nhiều cống chính để lấy nước vào và thoát nước ra dựa vào sự lên xuống của thủy triều. Kích cở của cống cũng tùy thuộc vào diện tích vườn, chủ vườn phải tính toán sao để trong thời gian nước lớn, ròng lượng nước ra vào đủ theo yêu cầu là được. Vị trí cống cao hay thấp là tùy thuộc lượng nước mà chủ vườn muốn giữ lại bao nhiêu khi xả cống. Thường ở đầu miệng cống phía trong đê bao có treo nắp tự động. Thân cống bộng thường làm bằng xi măng, nhựa, hay thân cây dừa, cây cao đã lấy đi phần ruột. Ngoài cống chính nhiều vườn rộng còn lắp thêm những bộng nhỏ để điều tiết nước giữa các mương, các liếp trong vườn[9].

Cây chắn gió: Trên các xã cù lao Vĩnh Long ít có bão lớn nhưng thỉnh thoảng cũng bị ảnh hưởng bởi những trận bão đi qua như cơn bão số 09 năm 2022 đã làm thiệt hại rất nhiều cho các nhà vườn cù lao Dài. Cho nên nhà vườn thường trồng những cây cao to, khỏe ở phía ngoài dọc theo bờ đê như: Mít, dừa, xoài, cốc, bạch đàn, mù u…để che chắn gió, bảo vệ cho cây trái bên trong vườn nhà, tránh cho vườn cây bị đổ ngã, tránh bị gẫy cành, rụng trái…Ngoài ra, hàng cây còn giúp điều hòa nhiệt độ, ánh sáng trong vườn nhà.

  • Diệt cỏ dại, trồng xen và vét mương

Trong những năm đầu mới lập vườn, tán các cây trồng chưa che phủ kín mặt đất, cỏ dại phát triển nhanh và nhiều, nên chủ vườn thường phải tiến hành làm cỏ 2 lần mỗi năm vào đầu mùa mưa và mùa nắng. Khi cây đã trưởng thành, tán che phủ mặt đất, chủ vườn thường làm cỏ vườn và nạo vét ao 1 lần sau khi thu hoạch trái. Để giảm bớt cỏ dại, đất khỏi bị rửa trôi chất dinh dưỡng, và cũng để lấy ngắn nuôi dài, chủ vườn ở đây thường trồng xen các cây chanh tàu, bắp, chuối, trong cây nhãn, chôm chôm, sầu riêng. Những hộ nhà vườn có kết hợp dịch vụ du lịch sinh thái thì công tác làm cỏ vườn, nạo vét ao được chú trọng nhiều hơn.

  • Tưới nước

“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” cho thấy nước là một nhu cầu thiết yếu đối với cây trồng. Do có địa thế sông ngòi chằn chịt, nguồn nước ngọt đầy đủ quanh năm nhà vườn rất chủ động trong việc tưới tiêu, và luôn chú ý tùy mùa, tùy loại cây trồng, tùy giai đoạn phát triển cụ thể mà chủ vườn có những cách tưới, và hướng điều chỉnh lượng nước phù hợp. Nhà vườn ở đây thường dẫn ống nhựa ra các liếp, dùng ghe chở máy phun đi trong mương, dùng máy bơm nước hoặc xả cống ngập liếp… để tưới cây.

  • Bón phân

Tùy loại cây trồng, loại đất, giai đoạn phát triển của cây, tình trạng sinh trưởng của cây mà số lần bón phân, lượng phân cũng khác nhau. Thường nhà vườn ở đây mỗi năm bón phân hai lần vào lúc vừa thu hoạch xong và trước lúc cây ra hoa. Qua điều tra thấy hàm lượng phân bón được chủ vườn sử dụng theo kinh nghiệm, thói quen, tự học hỏi lẫn nhau mà không theo một khóa đào tạo nào. Ngoài các loại phân hóa học như: Urê, NPK, DAP, phân bón lá Bioted 603…, thì người dân còn sử dụng phân chuồng (trâu bò, dơi, heo…). Có hộ do tình hình tài chính gia đình thiếu hụt nên họ không sử dụng phân bón hoặc sử dụng rất ít.

  • Giống cây và cách trồng

Giống cây trồng ở các cù lao Vĩnh Long không đa dạng lắm về chủng loại, nhãn tiêu da bò, rất ít nhãn xuồng cơm vàng và nhãn long, chôm chôm (chôm chôm Java, chôm chôm đường, chôm chôm Thái), bưởi (bưởi năm roi, bưởi da xanh), xoài (xoài cát Hòa Lộc, xoài cát chu), sầu riêng (sầu riêng Mongthon, khổ qua xanh, sữa hạt lép, Ri 6), Măng cụt, bòn bon, ổi xá lỵ không hạt, mận An Phước, vú sữa lò rèn…Phần lớn nhà vườn trước kia mua giống từ Cái Mơn, Ngũ Hiệp, Vĩnh Kim…về trồng với giá khoảng 5.000 đồng/cây măng cụt, 20.000 – 25.000 đồng/cây sầu riêng, 50.000 đồng/ trái dừa thơm, 20.000 đồng/mận An Phước, còn nhãn, cam sành và chôm chôm từ 4.000 – 6.000/nhánh. Tuy nhiên, vẫn còn không ít hộ mua giống trôi nổi không rõ nguồn gốc.

Hiện nay, nhiều nhà vườn không những tự nhân giống trồng, cung cấp cho  người dân ở địa phương mà còn bán đi nhiều nơi khác. Nhất là trên cù lao An Bình có nhiều điểm sản xuất giống cây trồng nổi tiếng  như: Sáu Ri, Tám Hổ,…có đủ các loại giống cây trồng chất lượng cao và những giống mới đang có nhiều tiềm năng phát triển trên các xã cù lao như: Ổi xá lị không hạt, mít nghệ cao sản M99-I, chanh giấy Limca không hạt ít gai, xoài xanh, dừa thơm…Các cơ sở sản xuất giống còn là những điểm tham quan, học hỏi của khách du lịch trong và ngoài nước.

Khi chọn giống cây trồng, nhà vườn thường chọn những cây ghép ươm trong bầu túi nilon có chiều cao từ 20 – 22 cm, đường kính túi bầu khoảng 12 – 15 cm. Cây sinh trưởng tốt, thân mập, chiều cao cành ghép từ 40 – 50 cm, lá xanh, không có dấu vết của sâu bệnh.

Thời vụ trồng thường vào đầu mùa mưa hàng năm từ tháng 5, 6 dương lịch. Tùy theo giống cây trồng mà khoảng cách cây thay đổi từ  4 – 12 m. Nhãn, chôm chôm mới trồng cách nhau 4 – 5 m sau 7 – 8 năm đốn bỏ 1 cây ở giữa thì khoảng cách là 8 m, sầu riêng thường trồng cách nhau 10 – 12 m, cam sành từ 1,5 – 2 m, bưởi 4 – 5 m, xoài 6 – 8 m.

Khi trồng phải xé bỏ túi bầu ươm cây giống, đặt cây vào giữa hố được đào trước có kích thước khoảng 50 – 80 cm3, hoặc đấp mô trên liếp, thường được bón lót phân hữu cơ ủ hoai, có thể trộn thêm phân super lân và kali. Sau khi trồng xong thì dùng cọc có chiều cao từ 70 – 100 cm cắm chéo qua thân chính và buộc chặt cây vào cọc để tránh làm động cây. Tủ mát gốc bằng rơm rác, cỏ mục và tưới nước giữ ẩm cho cây suốt một tháng để cho rễ phát triển.

  • Những giống cây ăn trái có năng suất và hiệu quả kinh tế cao

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy một số cây ăn trái có năng suất và hiệu quả kinh tế cao hiện đang được trồng phổ biến trên các xã cù lao Vĩnh Long như: Nhãn, chôm chôm, bưởi năm roi, sầu riêng, cam sành, xoài cát Hòa Lộc. Nguồn gốc, đặc điểm sinh thái, kỹ thuật trồng và chăm sóc từng loại cây trái, xin xem phụ lục 2.

3.3.6.6. Sự biến động về chủng loại cây ăn trái

Qua tìm hiểu, chúng tôi biết được vườn nhà trên các cù lao nghiên cứu có sự biến đổi chủng loại cây ăn trái, nếu như trước đây trồng nhiều nhãn long, mận hồng đào đá, chôm chôm Java, sầu riêng khổ qua thì nay trồng nhiều nhãn tiêu da bò, mận An Phước, chôm chôm đường, sầu riêng sữa hột lép, sầu riêng Ri 6…sự biến đổi đó có thể do những nguyên nhân sau đây:

  • Một số dịch bệnh do côn trùng, nấm, vi rút thường xuyên gây hại cho các vườn cây ăn trái.
  • Giá trái cây thấp, vật tư nông nghiệp lại tăng cao, doanh thu thấp, lợi tức hàng năm thu được không đủ cho nhà vườn trang trải chi phí nên buộc nhà vườn phải đốn bỏ và chuyển sang trồng cây khác.
  • Phải thay đổi giống cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong thời buổi mức sống của người dân được nâng lên và hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế của đất nước.
  • Khi nông dân nghèo, gặp phải hoàn cảnh khó khăn, không vốn đầu tư, mất mùa liên tiếp, phải bán vườn cho người giàu và họ chuyển sang chuyên canh một loại cây có giá trị kinh tế cao, hoặc theo nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, hoặc theo ý thích riêng đã làm giảm sự phong phú, đa dạng của vườn cũng như giảm đa dạng sinh học trong vườn.

Như vậy, giá cả cây trái được xem là nguyên nhân chính làm cho cơ cấu cây trồng nhanh chóng thay đổi và là nguyên nhân chủ yếu gây ra biến động chủng loại cây ăn trái trên các cù lao.

3.3.6.7. Một số vấn đề về môi trường vườn.

Nhìn chung, các xã cù lao nghiên cứu với diện tích phủ xanh của cây trái rất lớn, mật độ sông rạch cao, dân cư không phân bố tập trung mà rải rác theo các trục giao thông thủy và giao thông nông thôn là điểm thuận lợi của các cù lao có môi trường tương đối sạch so với các xã trong đất liền và có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, nếu không khai thác đúng mức, đồng thời lạm dụng trong sản xuất, sinh hoạt, không lưu ý các nguyên tắc phát triển bền vững sẽ không tránh khỏi những bất lợi mà môi trường sẽ mang tới.

  • Tình hình sử dụng phân bón:

Phân vô cơ: Hiện nay, các vườn cây trái trên cù lao đã vào giai đoạn cho trái ổn định trung bình từ 10 – 15 năm tuổi, cây đã lớn qua nhiều năm canh tác nên nhà vườn cũng có xu hướng bón phân ngày càng tăng, nhưng cây chỉ sử dụng tối đa 30 % lượng phân bón vào đất, phần còn lại sẽ bị rửa trôi theo nguồn nước hoặc nằm lại trong đất và có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.[31].

Phân hữu cơ: Phân rác, phân chuồng, phân bắc nếu không được xử lý bảo quản và sử dụng tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường.

Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Qua khảo sát cho thấy tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng nhiều nhất là trên cây chanh tàu, chôm chôm, xoài, sầu riêng…, hầu hết nhà vườn mua thuốc bảo vệ thực vật ở các đại lý gần nhà trên các cù lao, thiếu sự hướng dẫn của người bán (70 – 75%), ít hiểu biết về sử dụng thuốc (10 – 15%), sau khi sử dụng vứt bao gói tự do (60 – 65%)

Nước thải sinh hoạt và các hoạt động chăn nuôi, nhất là nuôi cá tra, người dân chưa có những biện pháp hữu hiệu để xử lý chất thải, chủ yếu thải thẳng ra môi trường qua mương, sông rạch.

Chất thải sinh hoạt rắn thường được người dân chôn lấp sau nhà, hoặc đổ đóng ủ phân hoặc đốt. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp đổ, vức rác bừa bãi rác thải xuống sông rạch làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường du lịch trên các cù lao.

Khi khảo sát các điểm du lịch sinh thái trên các xã cù lao. Nhìn chung, các cơ sở điều có ý thức về giữ vệ sinh môi trường, quét dọn, thu gom rác hàng ngày, nạo vét mương rạch thường xuyên. Tuy nhiên, cũng chỉ chôn lấp, đổ đống đốt hoặc ủ phân, chưa có biện pháp xử lý hiệu quả nước thải.

Hiện tại, chưa có kết quả nghiên cứu nào đánh giá mức độ ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, dịch vụ du lịch đến môi trường sinh thái trên các xã cù lao và mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước đến đời sống sản xuất của người dân. Trước tình hình đó, việc xây dựng các nhà máy nước, nơi xử lý rác thải hoặc những bãi chu chuyển trên các cù lao Vĩnh Long vẫn là cần thiết và có kế hoạch hướng dẫn nhà vườn sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lí, hiệu quả nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và đảm bảo chất lượng sản phẩm.

3.3.6.8. Hiệu quả kinh tế 

Hiệu quả kinh tế vườn

Sau khi phân tích hiệu quả kinh tế các hộ điều tra cho thấy hiệu quả kinh tế vườn nhà do thu nhập từ các sản phẩm nông nghiệp của các cù lao như sau:

  • Thu nhập/ diện tích đất canh tác (X) = 7.006,62 đồng/m2/năm.
  • Doanh lợi (Thu nhập/1đồng vốn) = 6,21 đồng/đồng vốn.

Trong đó có một số hộ đạt thu nhập cao 26.035 đồng/m2, nhưng cũng có hộ thu nhập thấp chỉ đạt 1.114 đồng/m2. Qua kết quả trên cho thấy hiệu quả kinh tế vườn còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố đất đai, kỹ thuật chăm sóc, giống cây trồng và giá nông sản.

Trong thời điểm kinh tế thị trường , từng thời điểm giá trị kinh tế của từng loại cây trồng có khác nhau, khi tiến hành phân tích hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng chính, chúng tôi ghi nhận được những kết quả sau (Bảng 3.13)

Bảng 3.13: Thu nhập từ một số cây ăn trái

(Giá tính theo thời điểm khảo sát từ tháng 12 năm 2024 đến tháng 03 năm 2025)

Hiệu quả kinh tế du lịch vườn nhà

Một số mô hình vườn kết hợp du lịch sinh thái chủ yếu

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy trên các cù lao nghiên cứu có khoảng 20 điểm du lịch sinh thái chủ yếu tập trung ở cù lao An Bình và có thể phân ra một số mô hình chủ yếu sau:

Trước nhà là sân có trồng hoa kiểng, một bên nhà là các phòng ăn và bên còn lại là các phòng nghỉ ngủ. Phía sau hoặc xung quanh là vườn cây trái và ao nuôi cá có đường xi măng nhỏ chạy vòng quanh trong vườn để tiện đi lại. Khách tham quan có thể nếm thử hương vị trái cây đặc sản trong vườn và học hỏi về truyền thống, tập quán canh tác của các nhà vườn, sau đó nghỉ ngơi, ăn uống với những món ăn rất đặc trưng cho miền quê sông nước Cửu Long, chủ yếu được làm từ cây, con có sẵn trong vườn nhà.

Trước nhà là sân có hoa kiểng, cạnh sân là khu bán quà lưu niệm, xung quanh là vườn cây ăn trái có ao  nuôi cá. Nhà ăn và nghỉ ngủ được bố trí trên mặt ao xen lẫn trong vườn cây. Đa số phòng ăn và ngủ đều làm bằng cây, lá. Du khách có thể ngủ trong nhà cùng với chủ nhà trên võng hoặc ghế bố.

Sân rộng có trồng hoa kiểng, trong nhà có khu bán quà lưu niệm, khu để du khách thưởng thức trái cây và nghe đàn ca tài tử. Nhà ăn và nghỉ ngủ được bố trí trong vườn cây trái bên cạnh hoặc trên ao nuôi cá.

Nhà trên bờ sông, một bên phía trước cửa nhà là nhà ăn và một bên là nhà nghỉ ngủ được xây dựng theo kiểu nhà sàn trên sông, trên bờ sau nhà là vườn cây, ao cá.

Vườn nhà chia thành nhiều khu: Khu sản xuất cây giống, khu trồng thể nghiệm, khu bán quà lưu niệm và xây dựng nhà ăn, nhà nghỉ xen lẫn trong vườn cây cạnh hoặc trên ao nuôi cá. Du khách không chỉ tham quan, nghỉ dưỡng mà còn tìm hiểu đặc điểm của các giống cây trồng, cũng như quy trình sản xuất giống, kỹ thuật trồng và chăm sóc…

Ao nuôi cá trong vườn cây ăn trái, bố trí các ao để du khách câu cá hoặc tác mương bắt cá và làm thức ăn tự phục vụ.

Du lịch trang trại kết hợp trồng cây ăn trái, nuôi động vật hoang dã (cá sấu, đà điểu…) và xây dựng nhiều khu vui chơi giải trí với các trò chơi dân gian.

Trong nhà làm nghề truyền thống, xung quanh nhà là vườn cây ăn trái. Khách có thể đến tìm hiểu nghề truyền thống hoặc tự tay mình làm ra các sản phẩm truyền thống.

Nhà cổ được gìn giữ qua nhiều thế hệ, trong nhà có bố trí chổ cho du  khách nghỉ, ngủ, nghe đàn ca tài tử. Nhà ăn được bố trí trong vườn cây cây ăn trái xung quanh nhà cổ.

Nhìn chung, tất cả các mô hình đều có sự kết hợp độc đáo giữa nhà ở, vườn cây, sông nước và cộng đồng dân cư địa phương tạo ra loại hình DLST đặc trưng cho vùng sông nước miệt vườn. Vườn ở các điểm du lịch hiện có xu hướng trồng nhiều loại cây trái đặc sản để bốn mùa đều có quả ngon phục vụ du khách.

  • Hiệu quả kinh tế du lịch vườn nhà

Qua điều tra các hộ vườn nhà là các điểm du lịch sinh thái chủ yếu trên cù lao An Bình, chúng tôi đã ghi nhận một số khoảng thu nhập thêm từ các loại hình dịch vụ du lịch cho các hộ nhà vườn như sau:

Bán trái cây: Du khách có thể vô vườn nhãn, chôm chôm, mận…tự do lựa chọn và thưởng thức ngay hương vị đậm đà của trái chín cây mà mình thích chỉ với 15.000 – 20.000 đồng/người. Nếu  du khách muốn tự chọn bẻ đem về làm quà cho gia đình và người thân, bạn bè thì giá được tính cao hơn bán ngoài khoảng 3.000 – 5.000 đồng/kg. Mỗi đĩa trái cây gồm 5 loại khác nhau tùy mùa như nhãn, đu đủ, mít, thanh long, bòn bon, măng cụt, thơm, chôm chôm, cam, mận…dành cho 5 người ăn khoảng 25.000 đồng/đĩa. Bình quân mỗi ngày có 50 khách, vào những tháng cao điểm, ngày lễ số lượng du khách tăng từ 150 – 300 khách hoặc hơn tùy điểm.

Tát ao bắt cá: Giá trung bình cho mỗi nhóm từ 08 người trở xuống là 320.000 đồng/nhóm, nếu trên 08 người tham gia tát ao thì tính 40.000 đồng/người. Du khách được chuẩn bị đủ mọi thứ như rau, bánh tráng…để tự chế biến và thưởng thức các món ăn từ các loại cá mà mình bắt được.

Người phục vụ đò chèo: Mỗi chuyến từ 10.000 – 15.000 đồng, mỗi ngày đưa khoảng 2 chuyến, thu nhập thêm khoảng 600.000 – 900.000 đồng/tháng/người.

Điều khiển đò máy khoảng 80.000 – 100.000 đồng/chuyến/người.

Cho du khách lưu trú tại nhà vườn (Homestay):  Từ 10 – 15 USD/người.   Do mô hình du lịch sinh thái ở các xã cù lao chủ yếu là tham quan sông nước miệt vườn, nên chúng tôi chỉ tính hiệu quả kinh tế du lịch tại vườn nhà dựa trên việc  tiêu thụ các sản phẩm chính của vườn nhà.

Thu thập từ dịch vụ du lịch vườn nhà, được ghi nhận trong bảng 3.13. Qua bảng 3.14 ta thấy từ dịch vụ bán trái cây và tát ao bắt cá, các hộ nhà vườn có kết hợp với dịch vụ du lịch thu thêm trung bình khoảng  2.745.000 đồng/tháng/hộ.

Ngoài ra, thu nhập sẽ còn tăng lên nhiều nếu cộng thêm các khoảng thu nhập từ các dịch vụ khác như: Ngủ trọ qua đêm, ăn uống, chèo đò, cho thuê xe đạp, bán quà lưu niệm, bánh, kẹo, rượu, bán giống cây trồng…

Bảng 3.14: Thu nhập từ dịch vụ du lịch vườn nhà

3.4. Tài nguyên du lịch nhân văn trên các xã cù lao

3.4.1.Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

  • Một số đình làng điển hình trên các Cù lao

Theo truyền thống dân tộc, khi thành lập một xã hay một thôn thì phải xây dựng một ngôi đình. Ở các xã cù lao nghiên cứu còn có rất nhiều đình làng, ngoài đình Hậu Thạnh (cù lao Mây) và Hòa Ninh (cù lao An Bình) là hai di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh, thì còn có các đình điển hình như: Đình Phước Lý, Thái Bình (cù lao Dài), đình Bình Lương, đình An Bình (cù lao An Bình), đình Phú Mỹ Đông, đình Long Hưng (cù lao Mây)…(Xin xem phụ lục 5)

Nhìn chung, vào cuối thế kỷ XVIII, các ngôi đình trên các cù lao Vĩnh Long cũng như ở Nam Bộ đều tôn thờ các biểu tượng danh nhân, những nhân vật sinh tiền có công với đất nước, hoặc để ghi lại ấn tượng sâu sắc được các thế hệ nối tiếp ghi nhớ. Vào năm 1825, với cái nhìn theo truyền thống Nho giáo, Minh Mạng đã quyết định phong cho mỗi một thôn một vị thần Thành Hoàng Bổn Cảnh. Thần Thành Hoàng là thần phù hộ địa phương thành thị nên ở Trung Quốc có thần Thành

Hoàng cấp kinh đô, cấp tỉnh, cấp huyện. Ở Việt Nam cũng có thần Thành Hoàng các cấp, nhưng đặc biệt hơn là có cấp xã, thôn, trong khi ở Trung Quốc thần Thành Hoàng cấp xã lại là Thổ địa.[66]

Điểm đặc biệt là các đình làng trên cù lao đều nằm gần nhà dân, cạnh sông rạch, hoặc đường giao thông nông thôn, xung quanh là những vườn cây trái, một vị trí thuận lợi để tạo nên các điểm tham quan cho du khách. Tuy nhiên, ngoài hai đình Hậu Thạnh và Hòa Ninh, các đình làng khác có qui mô nhỏ hẹp cần có những biện pháp trùng tu sửa chữa và quản lý tốt. Xung quanh đình nên trồng thêm nhiều cây gỗ lâu năm như Sao đen, dầu rái…để tạo thêm vẽ cổ kính.

  • Một số Chùa chiền điển hình trên các cù lao

Trên các cù lao nghiên cứu, hệ thống chùa chiền khá nhiều, ngoài di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia là chùa Tiên châu (cù lao An Bình), còn có một số chùa chiền khác điển hình như các chùa: Chùa Long Thiền, Linh Phước, Thanh Lương, Vạn Cổ (cù lao Dài), chùa Hội Phước, Vĩnh Khánh, Phước Nguyên (cù lao Mây), chùa Hưng Vạn Tự (cù lao An Bình)…(Xin xem phụ lục 5).

Nhìn chung, chùa chiền trên các cù lao đều được trùng tu, xây dựng khang trang. Bên trong có nhiều tượng phật đẹp, có giá trị như: Tượng phật Thích ca ở giữa, hai bên có tượng  Quan Âm bồ tát và Địa Tạng bồ tát, các tượng phật Di Lặc, Di Đà… Trước cửa có tượng Hộ Pháp và Tiêu Diện đại sĩ, ngoài sân hoặc vườn chùa có tượng phật Quan Âm lộ với nhiều loại cây kiểng , hoa kiểng.

3.4.2. Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể 

3.4.2.1. Truyền thuyết và lễ hội cổ truyền trên các cù lao Vĩnh Long

  • Truyền thuyết

Trên các vùng đất cù lao Vĩnh Long có những truyền thuyết gắn liền với đời sống tâm linh, tình cảm của cộng đồng dân cư miền sông nước, xoay quanh lịch sử hình thành các vùng đất cù lao như: Truyền thuyết Bãi Tiên, truyền thuyết về cá Ông, truyền thuyết về đôi ngỗng thần, về trái thúy liễu (xin xem phụ lục 6)

  • Lễ hội cổ truyền

Lễ hội cổ truyền trên các cù lao chủ yếu tập trung ở hai loại tính ngưỡng dân gian và  tín ngưỡng tôn giáo như: Lễ Kỳ yên, Hạ điền, Thượng điền ở đình làng. Các lễ Thượng ngươn, Vu lan, lễ Hạ ngươn, lễ Phật đản ở các chùa chiền. Vào những ngày lễ ở chùa, nhân dân tụ tập rất đông và khách thập phương cũng hành hương đến các chùa, nhất là Tiên châu tự trên cù lao An Bình để tham quan, bái Phật cầu phúc, cầu may, xin đức Phật phù hộ, độ trì cho bản thân và gia đình.

Nhìn chung, các lễ hội cổ truyền ở đình, chùa trên các xã cù lao diễn ra quanh năm, là những điểm thu hút khách du lịch tham quan, tìm hiểu. (Phụ lục 6)

3.4.2.2. Ẩm thực trên đất cù lao

Khi nói đến văn hóa dân tộc, ta không thể không đề cập đến việc ăn uống, ẩm thực là một nghệ thuật cấu thành bản sắc dân tộc. Ngoài vấn đề dinh dưỡng thì thức ăn, thức uống, cách ăn uống là một trong những lĩnh vực thể hiện văn hóa đặc thù của một miền, một dân tộc. Khi du khách đến với Vĩnh Long nói chung và các xã cù lao nói riêng sẽ được thưởng thức những món ăn rất bình dân nhưng cũng rất đặc trưng cho miền sông nước Nam Bộ như, những món ăn phản ánh sâu đậm nhất tâm hồn, tình cảm, và tính cách của những con người miền đất phương Nam:

Món mặn: Chủ yếu là cá sông, ao vườn phổ biến là cá rô, cá lóc, cá trê, cá bóng, cá tra. Cá kho khô, kho mặn và đặc biệt là cá rô kho tộ. Cá rô kho tộ là món ăn được kho trực tiếp trong tô lớn bằng sành hay cái ơ bằng đất nung thay vì trong nồi nhôm hay gan. Cá rô làm sạch ướp với chút nước mắm ngon, đường, tiêu, bọt ngọt, nước màu, top mỡ hoặc dầu ăn, để cho cá thấm gia vị 30 phút mới kho trên ngọn lửa riu riu, khi cá chín thì rắc tiêu và nhắc xuống, cá thơm phức mùi tiêu, sôi lụp bụp, có mùi vị mằn mặn, thơm thơm, cay cay, ngòn ngọt, beo béo.

Món mắm: Người dân cù lao thường làm mắm cá lóc, cá sặc, mắm tôm, tép… Mắm là món ăn được ưa chuộng như là đặc sản của Nam Bộ. Khi có thể pha chế như: Mắm tép trộn gỏi đu đủ, mắm lóc chưng, mắm bầm chưng với thịt nạc bầm và hột vịt, hoặc mắm kho với cà tím, củ cải, có thể thêm mực, tôm, thịt…Ngoài cá thì cũng có thể làm mắm bằng dưa gang, khi ăn có thể để nguyên miếng cắn hoặc xắt trộn với đường, chanh, ớt có thể thêm thịt ba rọi luộc ăn rất hấp dẫn.

Rau: Cùng với các món ăn mặn trong bữa ăn hàng ngày thì rau là thứ rất quan trọng đối với người dân cù lao, nhất là những rau dại mọc hoang ngoài vườn. Rau luộc như bông bí luộc, rau lang luộc, rau muống, rau ngổ, lá cách, đọt khoai mì, bông so đủa, rau cải trời. Ăn sống như bông lục bình, rau đắng, rau muống, bắp chuối, bồ ngót, càng cua…Đặc biệt là ở cách ăn rất đơn giản, không cầu kỳ như rau muống để nguyên cộng, bắp chuối chỉ cần đập dập, đựng trong rổ lớn nhất là khi ăn với mắm kho, các thứ lẩu, bánh xèo.

Canh chua: Đặc biệt nhất trong các món ăn bình dân, do đặc điểm khí hậu nóng ẩm người ta thường tránh ăn các món béo, nhiều dầu mỡ, chỉ có canh chua làm cho bửa ăn trở nên ngon miệng hơn, vừa mát vừa tăng sức khỏe. Đi kèm với canh chua phổ biến vẫn là những loại rau có sẵn trong vườn nhà như: Khóm, giá, bạc hà, môn ngọt, rau nhút, rau ngổ, ngó lục bình, ngò gai, ớt…cá có thể là cá lóc, cá rô, cá sặc, bông lau, cá ngát…Vị chua cơ bản trong canh là me, khế, bần, cơm mẻ, giấm nuôi. Một nồi canh chua ngon phải đủ 6 vị: chua, mặn, ngọt, béo, thơm và cay, trong đó chua, mặn, ngọt là 3 vị chính, còn 3 vị phụ là béo, thơm, cay thì tùy từng người, từng loại rau vườn nhà.

Bánh xèo: Là món ăn đặc trưng của vùng đất Nam Bộ, nhưng mỗi địa phương có cách chế biến khác nhau đôi chút, như phần nhưn và rau sống nơi nào có đặc sản nào thì dùng loại ấy, không có công thức bắt buộc, cứng nhắc. Người dân cù lao thường lam nhưn bằng tép hoặc thịt vịt bầm nhuyễn, củ sắn, măng tre, đu đủ mỏ vịt xắt sợi. các nguyên liệu làm như đem ướp nước mắm, bọt ngọt, đường sau đó chiên sơ cho vừa chín. Nguyên liệu chuẩn bị xong thì bắc chảo lên bếp lửa liu riu, tráng lên chảo một ít dầu, rồi đổ một lớp bột mỏng tráng cho đều tạo thành lớp bánh mỏng, khi bột vừa chín, vàng và thơm thì để nhưn vào, dùng sạn kéo nữa cái bánh đắp lên nửa bên kia để nhưn nằm ở giữa. Khi nhưn vừa nóng thì lấy bánh ra khỏi chảo, chúng ta có chiếc bánh xéo rất giòn, thơm béo, màu vàng tươi. Khi ăn dùng rau sống có thể là cải sà lách, cải bẹ xanh, lá cách, đọt xoài…gói lại chấm vào nước mắm chua.

Các món nhậu: Chuột đồng chiên hoặc khìa nước dừa, ếch chiên bơ hoặc sào lăn, gà hấp rượu, gà hấp nước mắm, gà nướng, cá lóc nướng trui, cá tai tượng chiên xù, tôm nướng, chả giò chiên,ốc luột, ốc hấp tiêu, ốc hấp lá gừng, cá lóc nấu cháo rau đắng…

Món ngọt: Là nhiều loại bánh do các bà, các cô trong gia đình tự làm như: Bánh ít, bánh tét, bánh thuẩn, bánh bò hấp, bánh bò nướng, bánh chuối, bánh lá, bánh dừa, bánh ú…

Thức uống: Du khách đến đây sẽ được thưởng thức nước trà pha mật ong, nước dừa và các loại rượu đế tự nấu lấy bằng gạo, nếp. Khi uống có người ngâm với chuối cơm nương, mít nương, đào, trái ô môi, bìm bịp, tắc kè, rắn hổ…cách uống rượu ở đây cũng mang tính đoàn kết, mọi người cùng uống chung một ly.

Nhìn chung, do điều kiện sinh sống của người cù lao, cuộc sống gắn liền với vườn cây, ao cá từ lâu đời, yếu tố này đã ảnh không nhỏ đến việc hình thành một nét riêng độc đáo trong văn hóa ẩm thực của họ, với những món ăn tuy dân dã nhưng lại rất đậm đà chất quê, làm sao động lòng người thưởng thức với những hương vị đậm đà đầy quyến rũ. Đây chính là một trong những cơ sở giải thích vì sao du khách thường thích đến Đồng bằng sông Cửu Long và nhớ mãi các món ăn thật bình dị, thật dân dã, thật mặn mà của người dân miền sông nước chín rồng này.

3.4.2.3. Những làng nghề  trên các cù lao

Các xã cù lao là những vùng đất mới phát triển, được bồi tụ phù sa từ hai dòng  sông lớn là Tiền Giang và Hậu Giang, cây trái xanh tốt quanh năm. Xuất phát từ tự nhiên, người dân sáng tạo ra những nghề phù hợp với thực tiễn địa phương như: Nghề làm bánh tráng, nghề se lõi sợi lác, nghề làm vườn, nghề sinh vật cảnh, nuôi ong mật, nghề dệt chiếu, nuôi cá da trơn…Đây là những nghề hiện đang có nhiều người làm, nhất là nghề làm bánh tráng, se lõi sợi lác, sinh vật cảnh được công nhận là làng nghề (Phụ lục 7). Cùng với Chợ nổi Trà Ôn, các làng nghề là những điểm tham quan, học hỏi lý thú của du khách khi đến với các xã cù lao. Tuy nhiên, Chính quyền địa phương cần có kế hoạch duy trì và phát triển theo hướng kết hợp với dịch vụ du lịch sinh thái.  

3.4.2.4. Những giá trị nghệ thuật cổ truyền, thơ ca, văn học

Trong các lễ hội, đình đám bà con cù lao thường có sở thích ca tài tử, đây là loại hình sinh hoạt dân gian nên người tham gia chương trình chỉ là bà con chòm xóm với nhau, trong những trang phục bình thường phổ biến ở Nam Bộ. Đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo. Đờn ca tài tử được đưa vào phục vụ du khách tại các điểm du lịch trên các xã cù lao. Khách du lịch quây quần bên chiếc bàn tròn đặt trong nhà hay dưới bóng mát của vườn cây, vừa nhâm nhi tách trà mật ong, vừa thưởng thức vị ngọt của trái cây, vừa lắng nghe tiếng hát diệu êm, ngọt ngào của các nghệ sĩ tài tử, những âm thanh trầm bổng của các nhạc cụ cổ truyền. Đờn ca tài tử Nam bộ trên đất Vĩnh Long vừa là món ăn tinh thần thường nhật của người dân bản địa, vừa là đặc sản địa phương thiết đãi du khách có dịp viếng thăm quê hương Vĩnh Long.

Các cù lao thuộc Vĩnh Long được bồi đắp phù sa của các con sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên nên cây cối xanh tốt quanh năm, hoa trái bốn mùa. Con người ở đây rất yêu thiên nhiên, ngay thẳng, thật thà, hiếu khách. Là nơi có nhiều giá trị văn học dân gian như Ca dao, hò, vè, truyện dân gian…đặc trưng cho nền văn minh sông nước miệt vườn, gắn liền với các mãnh đất cù lao thuộc Vĩnh Long, nhưng chưa có những công trình nghiên cứu sâu và những kế hoạch lưu truyền hay giới thiệu cùng du khách thập phương.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464