Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng về thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Khái quát về thành phố Uông Bí và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Thanh tra thành phố Uông Bí

2.1.1. Khái quát chung về thành phố Uông Bí

  • Về điều kiện tự nhiên

Thị xã Uông Bí, nay là thành phố Uông Bí, được thành lập vào ngày 28/10/1961, là thành phố ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh, nằm trong vùng tam giác động lực phát triển miền Bắc là Hà Nội – Hải Phòng, Quảng Ninh, có vị trí địa lý: Đông giáp huyện Hoành Bồ và thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh; Tây giáp thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; Nam giáp huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; Bắc giáp huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và cách Hà Nội 135km.

Thành phố Uông Bí có 25.546,41ha diện tích tự nhiên. Toàn thành phố có 125.200 nhân khẩu, mật độ dân số trung bình là 472 người/km2, gồm có các dân tộc: Kinh chiếm 90%, còn lại 10% là Sán Dìu, Tày; Dao Thanh Y; Hoa, Nùng và Sán Chay.

Thành phố Uông Bí nằm trong dải cánh cung Đông Triều, chạy dài theo hướng Tây – Đông; kiến tạo địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam đã tạo cho Uông Bí một chế độ khí hậu đa dạng, phức tạp vừa mang tính chất khí hậu miền núi vừa mang tính chất khí hậu miền duyên hải. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,2oC. Mùa hè nhiệt độ trung bình 22 – 300C, cao nhất 34 – 360C. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17 – 200C, thấp nhất 7 – 120C.Độ ẩm tương đối trung bình năm là 81%, độ ẩm tương đối thấp nhất trung bình là 50,8%. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt mức 1.600 mm. Mưa thường tập trung vào các tháng 6, 7, 8 trong năm, chiếm tới 60% lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình giữa các tháng trong năm là 133,3mm.

Khí hậu ở Uông Bí thuận lợi cho phát triển kinh tế, đời sống và môi sinh. Trong đó, nhờ địa hình đa dạng tạo ra nhiều vùng khí hậu khác nhau, thích hợp cho sản xuất nông lâm thủy sản và phát triển các loại hình du lịch.

Uông Bí có Di tích lịch sử văn hóa và danh thắng Yên Tử (Kinh đô Phật giáo – Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam) và Đình Đền Công là di tích Quốc gia đặc biệt. Thành phố còn có các di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh như: Đền – Chùa Hang son, Chùa Ba Vàng, Chùa Phổ Am, Đình – Chùa Lạc Thanh và các khu du lịch sinh thái như: Hồ Yên Trung, Lựng Xanh…

Trải qua các thời kỳ lịch sử, Uông Bí đã trực thuộc nhiều đơn vị hành chính cấp trên khác nhau và địa giới cũng thay đổi nhiều lần. Hiện nay, thành phố Uông Bí là một địa bàn có tầm chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quân sự.

Đến nay, thành phố Uông Bí có 11 đơn vị hành chính gồm 09 phường (Nam Khê, Trưng Vương, Vàng Danh, Bắc Sơn, Quang Trung, Yên Thanh, Thanh Sơn, Phương Đông, Phương Nam) và 02 xã (Điền Công, Thượng Yên Công).

Hình 2.1.Bản đồ hành chính thành phố Uông Bí

  • Về điều kiện kinh tế, xã hội Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Theo báo cáo ngày 31/12/2017 của UBND thành phố Uông Bí về tình hình kinh tế xã hội và công tác chỉ đạo điều hành của UBND thành phố tháng 12, năm 2017; phương hướng nhiệm vụ năm 2018: Kinh tế thành phố trong năm 2017 có bước tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 13,3%, là mức tăng trưởng cao nhất trong những năm gần đây. GRDP bình quân đầu người đạt 6000 USD/người/năm, tăng 600 USD/người/năm so với năm 2016.

Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố tháng 12 đạt 875 tỷ đồng, cả năm đạt 7.873 tỷ đồng tăng 12% so với cùng kỳ (giá so sánh), trong đó Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp địa phương thực hiện tháng 12 đạt 121 tỷ đồng, cả năm đạt 1.207,760 tỷ đồng = 101,2% KH tăng 15,5% so với cùng kỳ. Trong đó Than sạch đạt 7.500 nghìn tấn tăng 4,2% so cùng kỳ, Điện sản xuất đạt 3.100 triệu Kw = 96,9% so cùng kỳ. Doanh thu giao thông, vận tải: thực hiện tháng 12 đạt: 68 tỷ đồng; thực hiện 12 tháng đạt: 706,6 tỷ đồng = 100,9% KH tăng 15% so cùng kỳ. Về trồng trọt: Diện tích gieo trồng cả năm 2017 đạt 3.345/3.226 ha = 107% KH= 100,06% so cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực qui thóc cả năm đạt 12.979 tấn = 98% KH = 95% so cùng kỳ (trong đó thóc 12.411 tấn, ngô 568 tấn). Về lâm nghiệp: Sản lượng nhựa thông khai thác nhựa thông tháng 12 đạt 12 tấn; cả năm đạt 330 tấn = 110%KH tăng 17,9% so cùng kỳ.Diện tích trồng rừng tập trung năm 2017 trên toàn địa bàn Thành phố đạt 200 ha (Trong đó: Thông nhựa 55,7 ha; keo, bạch đàn và cây bản địa 144,3 ha) = 50% KH= 60% so cùng kỳ 2016. Quản lý và bảo vệ tốt 14.000 ha rừng trên địa bàn, chiếm 47% tổng diện diện tích tự nhiên toàn Thành phố, độ che phủ rừng toàn Thành phố đạt 49%. Sản lượng thủy sản thực hiện tháng 12 đạt 165 tấn= 91%KH tăng 2,3% so cùng kỳ. Cả năm 2017 đạt 1.935 tấn = 100,2% KH. Công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai: Thực hiện nghiêm túc việc trực ban công tác phòng chống thiên tai. Xây dựng quy hoạch nuôi trồng thủy sản tập trung 95 ha tại xã Điền Công. Triển khai đồng bộ các biện pháp xử lý ngăn chặn việc sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc hại và các nghề khai thác thủy sản bị cấm. Hoàn thành đề án di dân ra khỏi vùng sạt lở nguy hiểm (12 hộ). Việc triển khai thực hiện Đề án 125 về phát triển vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp: Trong năm, thành phố đã dành nguồn lực đáng kể hỗ trợ các vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung, các mô hình kinh tế và sản phẩm OCOP với tổng số tiền 08 tỷ đồng. Về du lịch: Đến hết ngày 31/12/2017, toàn thành phố đón 2,65 triệu lượt khách tăng 9,15% so cùng kỳ, doanh thu đạt 682 tỷ đồng, tăng 7,2% so cùng kỳ (trong đó khách tham quan Yên Tử đạt 1,74 triệu lượt khách, khách quốc tế đạt 211.684 lượt khách tăng 94,7% so cùng kỳ). Đã cơ bản hoàn thành và dự kiến đưa vào sử dụng Trung tâm Lễ hội và Dịch vụ Yên Tử đúng dịp Hội xuân năm 2018. Triển khai phương án thu phí thăm quan danh lam thắng cảnh Khu di tích Yên Tử theo Nghị quyết của HĐND tỉnh. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng thực hiện tháng 12 đạt 1.300 tỷ đồng; năm 2017 đạt 11.988,6 tỷ đồng tăng 17% so cùng kỳ. Hoạt động vận tải duy trì mức tăng khá so cùng kỳ: Doanh thu giao thông vận tải tháng 12 đạt 70 tỷ đồng; cả năm đạt: 709,6 tỷ đồng = 101,4%KH tăng 15,5%.

Tổng thu ngân sách nhà nước đến hết ngày 31/12/2017 đạt 3.132,207 tỷ đồng = 129% Dự toán Tỉnh giao = 126% Dự toán thành phố giao; trong đó: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trong cân đối đạt 3.092,125 tỷ đồng = 127% Dự toán Tỉnh giao = 125% Dự toán thành phố. Tổng thu ngân sách địa phương đạt 944,248 tỷ đồng = 152% Dự toán Tỉnh giao = 141% Dự toán TP; trong đó: Thu ngân sách địa phương trong cân đối đạt 782,190 tỷ đồng = 126% Dự toán Tỉnh giao = 118% Dự toán thành phố. Tổng chi ngân sách thành phố đến hết ngày 31/12/2017 đạt 747,152 tỷ đồng = 120% KH Tỉnh giao = 112% KH thành phố, trong đó: Tổng chi cân đối (thực chi): 746,090 tỷ đồng = 120% Dự toán Tỉnh giao = 113% Kế hoạch Thành phố giao (trong đó: Chi đầu tư đạt 278,018 tỷ đồng, Chi thường xuyên đạt 468,072 đồng). Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Về xây dựng cơ bản (Tình hình thực hiện đến 31/12/2017): Giải ngân vốn đầu tư: 269,428 tỷ đồng = 87,9% KH (306,556 tỷ đồng); trong đó: Ngân sách Thành phố: 240,001 tỷ đồng = 94,9% KH (252,835 tỷ đồng); Ngân sách xã, phường: 44,682 tỷ đồng = 83,2% KH (53,721 tỷ đồng). Nợ xây dựng cơ bản đến 31/12/2017: 39,506 tỷ đồng, trong đó: Ngân sách Trung ương: 1,618 tỷ đồng; Ngân sách Tỉnh: 37,136 tỷ đồng; Nguồn vốn khác: 0,752 tỷ đồng.

Qua đánh giá các kết quả thực hiện tình hình phát triển kinh tế xã hội cho thấy thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh có nhiều khó khăn, song với sự chỉ đạo điều hành linh hoạt, sáng tạo, quyết liệt của Thành ủy, HĐND và UBND thành phố, sự nỗ lực, cố gắng, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, cộng đồng các doanh nghiệp và nhân dân nên tình hình kinh tế – xã hội của Thành phố đạt nhiều kết quả tích cực: (1) Kinh tế ổn định và phát triển; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá, tăng 13,3% cùng kỳ. (2) Thu ngân sách nhà nước vượt dự toán tỉnh và kế hoạch thành phố; chi ngân sách được kiểm soát chặt chẽ. (3) Niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư vào môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được củng cố và cải thiện; nhiều khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp được kịp thời tháo gỡ bằng các giải pháp thiết thực, hiệu quả; Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 12%. (4) Công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được tăng cường theo hướng xiết chặt, đặc biệt trong quản lý quy hoạch, đất đai, đô thị, tài nguyên, môi trường, cải cách hành chính. (5) An sinh xã hội được đảm bảo, các hoạt động văn hóa, thể thao, giáo dục và đào tạo, y tế, công tác dân tộc, thanh tra, tư pháp, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục được đẩy mạnh. (6) Chủ đề công tác năm được triển khai quyết liệt, thành phố đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng một loạt các dự án trọng điểm của tỉnh và thành phố. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được thắt chặt, nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Việc triển khai xây dựng nếp sống văn hóa văn minh gắn với thực hiện Bộ quy tắc ứng xử “Tự hào là công dân thành phố Uông Bí” được triển khai có hiệu quả, góp phần xây dựng hình ảnh con người Uông Bí thân thiện, kỷ cương. (7) Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. (8) Công tác chỉ đạo, điều hành chủ động, linh hoạt, có trọng tâm, trọng điểm.

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, biên chế của Thanh tra thành phố Uông Bí Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

  • Chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra thành phố Uông Bí

Chức năng, nhiệm vụ (Theo Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-TTCP-BNV ngày 08/9/2014 của Thanh tra Chính phủ và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh):

  • Chức năng: Là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố, có chức năng tham mưu, giúp UBND Thành phố quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
  • Nhiệm vụ: Thanh tra Thành phố có 9 nhóm nhiệm vụ cơ bản:

Trình UBND Thành phố ban hành quyết định, chỉ thị về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước được giao;

Trình Chủ tịch UBND Thành phố kế hoạch thanh tra hàng năm và các chương trình, kế hoạch khác theo quy định của pháp luật;

Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch sau khi được UBND Thành phố hoặc Chủ tịch UBND Thành phố phê duyệt;

Thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức xã, phường thuộc Thành phố;

Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Chủ tịch UBND xã, phường thuộc Thành phố, thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND Thành phố trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng;

  • Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố hướng dẫn nghiệp vụ công tác cho các ban thanh tra nhân dân xã, phường thuộc Thành phố; Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.
  • Thực hiện nhiệm vụ thanh tra;
  • Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo;
  • Thực hiện nhiệm vụ công tác phòng chống tham nhũng.
  • Cơ cấu, tổ chức, biên chế của Thanh tra thành phố Uông Bí

Từ tháng 6/2016 đến nay, Thanh tra thành phố Uông Bí được giao 07 biên chế, bao gồm 02 đồng chí Phó Chánh Thanh tra; 03 đồng chí Thanh tra viên; 02 đồng chí chuyên viên thanh tra.

Về trình độ chuyên môn: Thanh tra thành phố Uông Bí có 01 kỹ sư quản lý đất đai, 02 kỹ sư xây dựng; 02 cử nhân luật, 02 cử nhân kinh tế; tuy nhiên chỉ có 04 cử nhân đào tạo chính quy, còn lại 03/07 đào tạo theo hình thức tại chức.

Về trình độ lý luận chính trị: 01 đồng chí có trình độ cao cấp; 01 đồng chí có trình độ cử nhân; 03 đồng chí có trình độ trung cấp; 02 đồng chí trình độ sơ cấp.

  • Sơ đồ 2.2. Cơ cấu tổ chức của Thanh tra thành phố Uông Bí

Như vậy, biên chế của Thanh tra thành phố Uông Bí chưa đảm bảo so với tiêu chuẩn biên chế đối với thanh tra thành phố tại Đề án phát triển ngành Thanh tra tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 (Đối với Thanh tra thành phố có từ 10-12 biên chế).

Việc tổ chức, sắp xếp công chức tham gia Đoàn thanh tra cũng gặp một số khó khăn nhất định, đặc biệt khi tiến hành 02 đoàn thanh tra đồng thời. Thực tế cho thấy, từ 01/6/2016, sau khi 02 nhân viên thanh tra luân chuyển công tác, Thanh tra thành phố Uông Bí không có người chuyên trách phụ trách công tác giám sát, xử lý sau thanh tra; công tác này được thực hiện kiêm nhiệm nên hiệu quả chưa cao.

  • Biểu số 2.3. Tỷ lệ số lượng người thực tế tham gia công tác thanh tra

Giai đoạn năm 2013-2014, Thanh tra thành phố Uông Bí được giao 06 biên chế, trong đó 01 Chánh Thanh tra, 01 Phó Chánh Thanh tra, 04 thanh tra viên, chuyên viên thanh tra. Ngoài ra, Thanh tra thành phố Uông Bí có 3 nhân viên hợp đồng có thời hạn. Trong đó 05 người phụ trách công tác thanh tra đầu tư xây dựng cơ bản, thanh tra ngân sách và theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận, kiến nghị sau thanh tra; 03 người phụ trách lĩnh vực tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thanh tra đất đai; 01 người phụ trách công tác phòng chống tham nhũng. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Năm 2015 đến tháng 6/2016, do được giao thêm nhiệm vụ giám sát tại Trung tâm Hành chính công thành phố, Thanh tra thành phố phải cử 01 chuyên viên thanh tra thực hiện nhiệm vụ giám sát thường xuyên, trong giờ hành chính tại Trung tâm Hành chính công. Vì vậy Thanh tra thành phố Uông Bí còn 06 công chức, thanh tra viên trực tiếp thực hiện công tác thanh tra. Mặt khác, từ tháng 7/2015, Chánh Thanh tra thành phố do đồng chí Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành uỷ phụ trách (kiêm nhiệm); ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình điều hành, lãnh đạo hoạt động của cơ quan.

Có thể thấy, số lượng biên chế từ năm 2013 đến nay của Thanh tra thành phố luôn thấp hơn số lượng biên chế tối thiểu của cơ quan thanh tra thành phố theo đề án phát triển ngành thanh tra. Số lượng biên chế giảm từ năm 2016 đến nay ảnh hưởng nhiều đến việc phân công nhiệm vụ, tổ chức đoàn; đồng thời, đòi hỏi mỗi công chức, thanh tra viên phải thực hiện nhiều nhiệm vụ thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

2.2. Thực trạng về thanh tra tài chính tại Thành phố Uông Bí Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

2.2.1. Quy trình thanh tra tài chính

Quy trình một cuộc thanh tra tài chính ở UBND thành phố Uông Bí được thực hiện như sau:

  • Chuẩn bị thanh tra
  • Khảo sát để lập kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra

Là hoạt động đầu tiên do Người ra quyết định thanh tra hoặc Chánh thanh tra chỉ định Nhóm khảo sát. Khảo sát để thu thập thông tin, tài liệu cần thiết trực tiếp từ đối tượng thanh tra hoặc gửi văn bản đề nghị đối tượng thanh tra báo cáo và cung cấp hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu phục vụ cho việc lập Kế hoạch thanh tra.

  • Trình phê duyệt Quyết định thanh tra
  • Căn cứ chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm đã được phê duyệt và Báo cáo kết quả khảo sát trước thanh tra, đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra lập đề xuất trưng tập cộng tác viên thanh tra và thực hiện việc trưng tập cán bộ nếu được phê duyệt.
  • Đơn vị được giao chủ trì cuộc thanh tra dự thảo quyết định thanh tra để trình người có thẩm quyền phê duyệt.
  • Xây dựng kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra

Căn cứ Quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng Kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra gồm các nội dung chủ yếu sau:

Mục đích, yêu cầu, phạm vi của cuộc thanh tra:

  • Mục đích: Nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những nội dung chưa hợp lý trong các qui định về quản lý đầu tư và xây dựng để kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục. Phát huy những mặt tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng.
  • Yêu cầu: Thanh tra phải theo đúng quy định của pháp luật, khách quan, chính xác, dân chủ, công khai và kịp thời;
  • Thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, đạt hiệu quả, không làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị là đối tượng thanh tra; Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.
  • Thực hiện thanh tra theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt.
  • Phạm vi: Căn cứ vào từng cuộc thanh tra cụ thể để xác định phạm vi thanh tra cho phù hợp.
  • Phê duyệt Kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra

Kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra được trình lên Người ra quyết định thanh tra phê duyệt trước ngày công bố quyết định thanh tra. Trình tự trình ký phê duyệt Kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra theo qui định của mỗi cơ quan thanh tra.

  • Phổ biến Kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra

Trưởng đoàn thanh tra phổ biến Kế hoạch thanh tra, nội qui làm việc và những yêu cầu khác đến từng thành viên của Đoàn; phân công nhiệm vụ cho từng thành viên Đoàn bằng văn bản. Các thành viên của Đoàn thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu các qui định pháp luật liên quan đến cuộc thanh tra.

  • Lập đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo và chuẩn bị hồ sơ tài liệu cho cuộc thanh tra

Đề cương cần nêu cụ thể để đối tượng thanh tra báo cáo được những nội dung cơ bản của Dự án từ khi chuẩn bị đầu tư đến thời điểm dự án đang thực hiện; đề cương phải nêu ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án; đề xuất biện pháp giải quyết; kiến nghị bổ sung, sửa đổi các qui định pháp luật liên quan đến dự án. Ngoài ra còn yêu cầu đối tượng tranh tra cung cấp một số hồ sơ tài liệu chính như: Quyết định phê duyệt Báo cáo đầu tư (nếu có); Quyết định phê duyệt dự án đầu tư (kể cả quyết định bổ sung, sửa đổi); Quyết định phê duyệt Kế hoạch đấu thầu; Quyết định phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán và một số hồ sơ, tài liệu khác tuỳ từng dự án cụ thể.

  • Gửi Thông báo công bố Quyết định thanh tra cho đối tượng thanh tra

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện để triển khai thực hiện cuộc thanh tra, bộ phận chủ trì cuộc thanh tra soạn thảo văn bản Thông báo công bố Quyết định thanh tra cho đối tượng thanh tra. Nội dung Thông báo gồm địa điểm, thời gian công bố, thành phần tham dự hội nghị công bố, nội dung chương trình hội nghị công bố.

  • Các bước tiến hành thanh tra
  • Tổ chức Hội nghị công bố quyết định thanh tra:

Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm công bố quyết định thanh tra với cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. Địa điểm, ngày, giờ, thành phần tham dự thực hiện theo nội dung Thông báo công bố Quyết định thanh tra (Điều 50, Luật Thanh tra năm 2010);

Khi công bố quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra nêu rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn thanh tra, thời hạn thanh tra, quyền và trách nhiệm của đối tượng thanh tra, dự kiến kế hoạch làm việc của Đoàn thanh tra với đối tượng thanh tra; sau khi công bố quyết định thanh tra phải được lập thành biên bản để các thành phần liên quan ký tên.

  • Tiến hành thanh tra: Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Khi tiến hành thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra phải tuân thủ Luật Thanh tra, các văn bản pháp luật có liên quan và Quy chế hoạt động của Đoàn Thanh tra; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thanh tra; Đoàn thanh tra thực hiện thanh tra, kiểm tra ngay sau khi công bố Quyết định thanh tra; lập biên bản giao nhận hồ sơ, tài liệu theo đúng quy định.

Ngoài việc thanh tra, kiểm tra theo các nội dung nêu trên còn kiểm tra việc quản lý và thực hiện đầu tư theo các qui định pháp luật và các qui định đối với từng hợp đồng cụ thể.

  • Phương pháp tiến hành thanh tra:

Từng thành viên Đoàn thanh tra trực tiếp kiểm tra hồ sơ, tài liệu của dự án, có trách nhiệm thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung nhiệm vụ được phân công. Việc thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ phải được lập thành biên bản trong đó ghi rõ nguồn cung cấp (nếu có), chữ ký của người thu thập, người cung cấp;

Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm chỉ đạo Đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định thanh tra; kịp thời xử lý các kiến nghị của Đoàn thanh tra; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để giải quyết những vấn đề do cuộc thanh tra đặt ra; quyết định gia hạn thời hạn thanh tra, quyết định việc thay đổi Trưởng Đoàn thanh tra và thành viên Đoàn thanh tra khi cần thiết.

  • Kết thúc thanh tra:

Thông báo kết thúc cuộc thanh tra tại cơ sở

Trước khi kết thúc cuộc thanh tra tại cơ sở, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra biết. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Dự thảo Báo cáo Kết quả thanh tra:

  • Báo cáo của các thành viên Đoàn thanh tra: Trong vòng 03 ngày kể từ ngày kết thúc thanh tra tại cơ sở, các thành viên của Đoàn thanh tra phải hoàn thành Báo cáo cá nhân;
  • Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng Báo cáo kết quả thanh tra;
  • Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm lấy ý kiến các thành viên Đoàn thanh tra về dự thảo Báo cáo kết quả thanh tra. Dự thảo Báo cáo kết quả thanh tra được gửi cho đối tượng thanh tra để tham gia ý kiến và giải trình về các nội dung trong dự thảo;
  • Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày kết thúc cuộc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phải có Báo cáo kết quả thanh tra gửi Người ra quyết định thanh tra.
  • Kết luận thanh tra:

Sau khi hoàn thành Báo cáo kết quả thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra dự thảo Kết luận thanh tra trình người có thẩm quyền xem xét ký Kết luận thanh tra.Trình tự trình ký phê duyệt Kết luận thanh tra theo qui định của mỗi cơ quan thanh tra.

  • Công bố Kết luận thanh tra:
  • Người ra kết luận thanh tra có trách nhiệm công bố hoặc gửi Kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra; trường hợp cần thiết có thể ủy quyền cho Trưởng đoàn thanh tra công bố kết luận thanh tra;
  • Việc công bố kết luận thanh tra được lập thành biên bản

Thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi trái pháp luật gây ra.

Người có thẩm quyền ký kết luận thanh tra ra Quyết định thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi trái pháp luật của đối tượng thanh tra gây ra. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

  • Lập, bàn giao hồ sơ thanh tra:

Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm lập và bàn giao hồ sơ thanh tra cho cơ quan đó ra quyết định thanh tra gồm: Quyết định thanh tra; biên bản thanh tra do Đoàn thanh tra, Thanh tra viên lập; báo cáo, giải trình của đối tượng thanh tra; Báo cáo kết quả thanh tra; Kết luận thanh tra; Văn bản về việc xử lý, kiến nghị việc xử lý; Các tài liệu khác có liên quan đến cuộc thanh tra; ngoài ra còn bổ sung thêm các văn bản báo cáo thực hiện kết luận thanh tra của đối tượng thanh tra.

  • Họp rút kinh nghiệm Đoàn thanh tra:

Sau khi ban hành Kết luận thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức cuộc họp Đoàn thanh tra để trao đổi, rút kinh nghiệm về hoạt động của Đoàn Thanh tra, bình bầu cá nhân có thành tích xuất sắc để đề nghị Người có thẩm quyền khen thưởng.

Quy trình tiến hành thanh tra được thể hiện qua (hình: 2.4):

  • Thực hiện các Kết luận thanh tra

Đối tượng thanh tra có trách nhiệm báo cáo (bằng văn bản) Cơ quan thanh tra về những nội dung kiến nghị của Kết luận thanh tra (gửi kèm các văn bản đã xử lý);

Trường hợp đối tượng thanh tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo Chánh thanh tra để kiến nghị Người ra quyết định thanh tra các biện pháp xử lý phù hợp.

  • Hình: 2.4. Quy trình tiến hành cuộc thanh tra

2.2.2. Thực trạng kết quả công tác thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí trong 5 năm (2013-2017) Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Trong 5 năm qua (2013-2017), công tác thanh tra tại Thanh tra thành phố Uông Bí đã có những chuyển biến tích cực, hàng năm kế hoạch thanh tra được xây dựng có trọng tâm, trọng điểm, cơ bản đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của địa phương, hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh; chất lượng các cuộc thanh tra được nâng lên, thực hiện được nhiều cuộc thanh tra lớn, diện rộng trên nhiều lĩnh vực quản lý.

Thanh tra thành phố Uông Bí đã triển khai 27 cuộc thanh tra hành chính. Qua thanh tra đã phát hiện tổng sai phạm 3.724,812 triệu đồng; trong đó tiến hành kiến nghị xử lý thu hồi 2.546,975 triệu đồng; xử lý giảm trừ 1.177,837 triệu đồng. Những vi phạm pháp luật phát hiện qua công tác thanh tra xảy ra trên nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, chủ yếu là trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng, tài chính – ngân hàng, thuế,… Qua thanh tra cho thấy, công tác quản lý đất đai còn buông lỏng, để xảy ra nhi ều thiếu sót, vi phạm như vi phạm trong sử dụng đất không đúng mục đích, hợp đồng thuê đất không đúng thời hạn theo quy định; công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất không đúng quy định. Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, vi phạm chủ yếu là không th ực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục, thi công sai thiết kế, nghiệm thu, thanh quyết toán không đúng thực tế thi công… Theo Báo cáo số 437/BC-UBND ngày 06/7/2017 của UBND thành phố Uông Bí về tổng kết 06 năm thi hành luật thanh tra cho thấy, kết quả hoạt động thanh tra hành chính như sau:

Tổng số cuộc thanh tra đã tiến hành: 32 cuộc, trong đó: có 27 cuộc thanh tra hành chính, 05 cuộc thanh tra trách nhiệm. Trong đó, có 07 cuộc thanh tra tài chính: thanh tra việc chấp hành pháp luật trong thực hiện Luật Ngân sách nhà nước; công tác quản lý thu, chi tài chính ngân sách.

  • Năm 2013: tiến hành 01 cuộc thanh tra tài chính, trong đó tiến hành thanh tra đối với 03 đơn vị.
  • Năm 2014: tiến hành 01 cuộc thanh tra tài chính, trong đó tiến hành thanh tra đối với 01 đơn vị.
  • Năm 2016: tiến hành 01 cuộc thanh tra tài chính, trong đó tiến hành thanh tra đối với 05 đơn vị.
  • Năm 2017: tiến hành 04 cuộc thanh tra tài chính, trong đó tiến hành thanh tra đối với 07 đơn vị.

Biểu số 2.5. Lĩnh vực, hình thức, đối tượng thanh tra tài chính

Nhìn chung, các cuộc thanh tra đều kết thúc đúng tiến độ, đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010; hoạt động thanh tra tài chính hướng vào việc phát hiện những sai phạm trong quá trình quản lý thuộc lĩnh vực tài chính ngân sách; kịp thời tham mưu cho UBND thành phố chấn chỉnh và hoàn thiện cơ chế quản lý. Qua thanh tra, không phát hiện trường hợp vi phạm phải chuyển cơ quan điều tra cùng cấp để xem xét, khởi tố.

Biểu số 2.6. Kết quả công tác thanh tra tài chính

  • Thực trạng kết quả công tác thanh tra: Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Hiện nay, văn bản luật cao nhất quy định về công tác thanh tra là Luật thanh tra số 56/2010/QH12 được Quốc hội khoá XII thông qua ngày 15/11/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011. Căn cứ vào Luật Thanh tra, Chính phủ và các bộ ngành ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật về công tác thanh tra như: Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra; Nghị định số 46/2013/QĐ-BTC ngày 07/01/2013 của Bộ Tài chính ban hành quy trình thanh tra ngân sách cấp huyện thuộc tỉnh (áp dụng cả thanh tra ngân sách cấp xã, phường, thị trấn); Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27/3/2015 của Chính phủ quy định việc thực hiện kết luận thanh tra; Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra; Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-VLSNDTC-BCA-BQP-TTCP ngày 18/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Thanh tra chính phủ quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra, viện kiểm sát, cơ quan thanh tra trong việc trao đổi thông tin về tội phạm và giải quyết kiến nghị khởi tố được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra; Nghị định số 82/2012/NĐ-CP ngày 09/10/2012 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành tài chính; Quyết định số 32/2006/QĐ-BTC ngày 06/06/2006 của Bộ Tài chính quy định về việc ban hành quy chế về hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính; Quyết định số 1692/QĐ-BTC ngày 18/7/2011 của Bộ Tài chính quy định về quy trình thanh tra tài chính tại đơn vị hành chính; Thông tư 327/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí được trích từ các khoản thu hồi phát hiện qua công tác thanh tra đã thực nộp.

Thanh tra thành phố Uông Bí, với nhiệm vụ và quyền hạn thực hiện thanh tra chủ yếu là các đơn vị hành chính sự nghiệp (UBND các xã, phường, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố, các trường học thuộc thẩm quyền quản lý của UBND thành phố) nên sẽ áp dụng các quy định liên quan đến công tác kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp, thể hiện thông qua Luật Kế toán sửa đổi năm 2015 của Quốc hội, Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 và Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp, Thông tư số 71/2014/TTLT-BTC-BNV của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ về chế độ tự chủ đối với cơ quan hành chính nhà nước, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về cơ chế tự chủ đối với đơn vị hành chính sự nghiệp công lập. Để làm rõ các nội dung liên quan đến công tác kế toán quy định tại Luật Kế toán sửa đổi 2015, trong đó có kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp, ngày 30/12/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 174/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán 2015. Trong đó, Nghị định đã làm rõ nhiều nội dung như: Nhiệm vụ kế toán; Yêu cầu kế toán; Nguyên tắc kế toán; Chuẩn mực kế toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán; Chứng từ kế toán; Lập và lưu trữ chứng từ kế toán; Quản lý, sử dụng chứng từ kế toán; Mở sổ, ghi sổ, khoá sổ và lưu trữ sổ kế toán… Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác quản lý, thu chi tài chính, ngân sách. Nhiều văn bản pháp luật trong lĩnh vực này được ban hành nhằm kiểm soát các khoản thu và chi ngân sách để đạt được mục đích thu đúng, thu đủ, chi đúng, chi hiệu quả. Mặc dù chính sách pháp luật ngày càng chặt chẽ trong việc kiểm soát các khoản thu chi ngân sách, nhưng qua quan sát, xem xét, tổng hợp và đánh giá kết quả thanh tra trong 5 năm tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh thể hiện những dạng sai phạm phổ biến trong lĩnh vực tài chính như sau:

  • Thanh tra việc triển khai chế độ, chính sách về thu, chi ngân sách:

Ngoài những văn bản chế độ chính sách của Trung ương, tỉnh quy định, HĐND, UBND thành phố Uông Bí đã ban hành một số cơ chế chính sách của địa phương: Nghị quyết số 178/NQ-HĐND ngày 20/12/2016 về việc trích ngân sách thành phố bổ sung nguồn vốn uỷ thác cho vay các đối tượng chính sách qua Ngân hàng chính sách xã hội và hỗ trợ nguồn vốn cho Quỹ hỗ trợ nông dân thành phố. Thời gian thực hiện từ năm 2016-2020; Nghị quyết số 287/NQ-HĐND ngày 14/7/2017 về việc hỗ trợ vật liệu đầu tư xây dựng bê tông hoá đường giao thông thôn, khu, nội đồng tại các xã, phường, giai đoạn 2017-2020; Nghị quyết số 300/2017/NQ-HĐND ngày 10/8/2017 của Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố khoá XIX về việc trích ngân sách thành phố hỗ trợ tiền vé cho học sinh đi trên tuyến xe buýt Khe Trâm – Vàng Danh – Uông Bí; Quyết định số 1770/QĐ-UBND ngày 10/4/2015 của UBND thành phố về việc hỗ trợ có mục tiêu cho xã, phường từ nguồn thu cấp quyền sử dụng đất đối với các điểm nhỏ lẻ, dôi dư trong khu dân cư; Văn bản số 2279/UBND ngày 03/11/2015 của UBND thành phố, trong đó có chỉ đạo việc tạm vay nguồn dự phòng cải cách tiền lương để chi thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ cải tạo, sửa chữa.

Trong giai đoạn năm 2013-2017, UBND thành phố Uông Bí tiến hành thanh tra đối với 04 đơn vị về việc triển khai chế độ, chính sách về thu, chi ngân sách. Qua xem xét nội dung các văn bản đã ban hành của cơ quan có thẩm quyền tại địa phương, cơ bản các đơn vị được thanh tra đã triển khai đầy đủ, kịp thời việc thực hiện chế độ, chính sách về quản lý tài chính, ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật của Trung ương và cơ chế điều hành ngân sách của tỉnh đảm bảo theo thời gian quy định. Một số cơ chế quản lý tài chính ngân sách, chính sách và chế độ tiêu chuẩn định mức liên quan trực tiếp tại địa phương như: Tỷ lệ điều tiết nguồn thu, định mức chi ngân sách, việc bố trí nguồn kinh phí tạo nguồn cải cách tiền lương, nguồn thu dành cho đầu tư phát triển. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Việc ban hành cơ chế chính sách tại 04 phường, xã được thanh tra giai đoạn 2013-2017: Trên cơ sở Nghị quyết của HĐND của các phường, xã: UBND các phường, xã đã ban hành quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách. Thanh tra các văn bản được các phường, xã ban hành liên quan đến công tác quản lý tài chính, ngân sách gồm Nghị quyết của HĐND và Quyết định của UBND phường, xã về cơ bản các địa phương đã thực hiện giao dự toán thu, chi ngân sách đảm bảo theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn, nội dung giao dự toán đã bám sát các Quyết định hàng năm của UBND thành phố Uông Bí về một số cơ chế và biện pháp điều hành ngân sách nhà nước.

Việc ban hành quy chế chi tiêu nội bộ của 16 đơn vị được thanh tra giai đoạn 2013-2017: các phường xã, các đơn vị dự toán đã xây dựng các nội dung Quy chế chi tiêu nội bộ theo quy định của Trung ương, của tỉnh; cụ thể hoá các nội dung chi theo Hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền làm căn cứ để thực hiện kiểm soát chi tại Kho bạc nhà nước đối với nguồn kinh phí được giao tự chủ theo quy định. Tuy nhiên vẫn còn 04 đơn vị chưa ban hành Quy chế quản lý và sử dụng tài sản (trong năm 2013-2014). Đến năm 2017, các đơn vị đã tiếp thu, rút kinh nghiệm của các đơn vị được thanh tra những năm trước đó nên các quy chế được các đơn vị xây dựng, ban hành theo đúng quy định. Năm 2017, do có những văn bản quy định mới về các chế độ chính sách mới nên hầu hết các đơn vị được thanh tra, chưa được cập nhật, bổ sung làm cơ sở pháp lý xây dựng cơ chế (như các chế độ quy định về công tác phí, hội nghị, chế độ đào tạo cán bộ, công chức; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…), một số đơn vị viện dẫn văn bản đã hết hiệu lực thi hành, nhiều nội dung chi trong quy chế chưa được xây dựng hoặc xây dựng chưa đúng quy định.

  • Thanh tra việc lập, quyết định vào giao dự toán ngân sách:

Căn cứ các quy định của Chính phủ, các bộ ban ngành và UBND tỉnh Quảng Ninh về việc lập, quyết định và giao dự toán ngân sách như: Các văn bản quy định về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước hàng năm: Thông tư số 326/2016/TT-BTC ngày 23/12/2016, Thông tư số 206/2015/TT-BTC ngày 24/12/2015, Thông tư số 211/2014/TT-BTC ngày 30/12/2014, Thông tư số 199/2013/TT-BTC ngày 20/12/2013, Thông tư số 222/2012/TT-BTC ngày 24/12/2012 của Bộ Tài chính; các Quyết định của UBND tỉnh Quảng Ninh về một số cơ chế, biện pháp điều hành ngân sách hàng năm: Quyết định số 4319/QĐ-UBND ngày 20/12/2016…, kết quả thanh tra 04 đơn vị giai đoạn 2013-2017 như sau:

Trong quá trình phân khai, giao dự toán thu ngân sách đối với các phường, xã đã tính toán tỷ lệ điều tiết các sắc thuế để giao dự toán thu đảm bảo theo quy định của tỉnh. Cơ bản HĐND, UBND các phường, xã đã chủ động phân khai bằng hoặc tăng thu đối với một số nội dung thu so với dự toán thành phố giao, nội dung giao dự toán thu, chi ngân sách cơ bản đảm bảo theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cơ quan Trung ương và địa phương. Dự toán thu NSNN trên địa bàn đã được các phường, xã giao dự toán cho các đầu mối, đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu: Tư pháp, tài chính, Đội uỷ nhiệm thu, các thôn, khu, Chi cục thuế.

Việc chấp hành thời gian công tác giao dự toán thu, chi ngân sách của các đơn vị được thanh tra đảm bảo về thời gian theo quy định. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

  • Thanh tra việc chấp hành ngân sách nhà nước
  • Trên lĩnh vực thanh tra thu ngân sách thể hiện sai phạm như:

Thu không có trong quy định Nhà nước; Thu cao hoặc thấp hơn quy định do không cập nhật văn bản quy định kịp thời hoặc hiểu sai nội dung của quy định về thu hoặc cố tình thu cao hơn quy định.

Việc kiểm soát nội bộ về các khoản thu không được lãnh đạo đơn vị quan tâm dẫn đến tình trạng nhân viên đơn vị lợi dụng sự lỏng lẻo mà chiếm đoạt tiền và tài sản từ các nguồn thu của đơn vị.

Các khoản thu bị bỏ ngoài sổ sách, không thực hiện nộp theo quy định của Luật Ngân sách. Có trường hợp đơn vị thực hiện thu, nhưng lại không hạch toán vào sổ sách theo tài khoản doanh thu hoặc thu nhập, mà hạch toán vào tài khoản phải trả. Tất nhiên, tài khoản phải trả này là không có đối tượng để trả. Đến một thời gian nào đó, đơn vị thực hiện bút toán chi trả nợ, nhưng thực chất là chiếm đoạt tiền của ngân sách.

  • Trên lĩnh vực thanh tra chi ngân sách thể hiện những dạng sai phạm nổi bật điển hình như:

Về các khoản chi thường xuyên: Căn cứ các văn bản quy định mức lương cơ sở thay đổi qua các năm (Nghị định số 31/2012/NĐ-CP, Nghị định số 66/2013/NĐ-CP, Nghị định số 47/2016/NĐ-CP, Nghị định số 47/2017/NĐ-CP, Nghị định số 72/2018/NĐ-CP của Chính phủ); Thông tư số 141/2011/TT-BTC ngày 20/10/2011 của Bộ Tài chính quy định về chế độ thanh toán tiền nghỉ phép năm đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng làm việc trong các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 57/2014/TT-BTC ngày 06/5/2014 của Bộ Tài chính về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 141/2011/TT-BTC; Thông tư số 162/2014/TT-BTC ngày 06/11/2014 của Bộ Tài chính quy định về chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; Quyết định số 2718/2010/QĐ-UBND ngày 09/09/2010 của UBND tỉnh Quảng Ninh quy định về chế độ chi tiêu tiếp khách trong nước, tiếp khách nước ngoài và tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Quyết định số 2716/2010/QĐ-UBND ngày 09/09/2010 của UBND tỉnh Quảng Ninh quy định mức chi cụ thể về công tác phí, chi hội nghị đối với cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phương quản lý (hết hiệu lực ngày 05/9/2017). Văn bản số 5806/UBND-TM3 ngày 09/8/2017 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc thực hiện chế độ công tác phí…để các đơn vị được thanh tra áp dụng thực hiện chi thường xuyên.

Công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên có tác dụng giúp cho các đơn vị chấn chỉnh những thiếu sót, tồn tại trong quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; chấp hành tốt Luật Ngân sách Nhà nước và các quy định khác về quản lý tài chính ngân sách. Việc thực hiện khoán kinh phí đối với các cơ quan hành chính, sự nghiệp đã nâng cao tính chủ động của Thủ trưởng các đơn vị trong việc sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm kinh phí nhà nước, nâng cao đời sống cán bộ. Tuy nhiên, qua thanh tra, việc quản lý và sử dụng kinh phí nhà nước ở một số đơn vị cũng còn nhiều thiếu sót, tồn tại, vi phạm cần chấn chỉnh và xử lý kịp thời. Sai phạm trong việc quản lý và sử dụng kinh phí nhà nước nổi lên: Chi sai chế độ, vượt chế độ, chi khống, chi phí không hợp lệ hoặc không đầy đủ chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán không chính xác. Đây là những sai phạm rất phổ biến tại các đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Về khoản chi đầu tư phát triển: Các văn bản quy định được đơn vị được thanh tra áp dụng: Luật xây dựng năm 2014 (có hiệu lực ngày 01/01/2015), Luật xây dựng năm 2003. Nghị định số 32/2015/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Nghị định số 37/2015/NĐ-CP hướng dẫn về hợp đồng xây dựng; Luật đấu thầu năm 2013 (có hiệu lực ngày 01/7/2014), Luật đấu thầu năm 2005. Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu (có hiệu lực ngày 15/8/2014), Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu năm 2005; Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/12/2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình. Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ thay thế Nghị định số 15/2013/NĐ-CP; Thông tư số 09/2011/TT-BXD ngày 28/6/2011 của Bộ Xây dựng hướng dẫn hợp đồng trong thi công xây dựng, Thông tư số 09/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng thay thế Thông tư số 09/2011/TT-BXD; Quyết định số 3600/2012/QĐ-UBND ngày 28/12/2012 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc công bố bộ đơn giá xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh…

Qua báo cáo công tác thanh tra 5 năm (2013-2017), trong công tác thanh tra tài chính về các khoản chi về đầu tư phát triển của thành phố Uông Bí tập trung chủ yếu thanh tra các công trình xây dựng cơ bản và thực hiện đối với 04 đơn vị. Riêng năm 2017, thanh tra 01 đơn vị với 03 công trình xây dựng. Tổng giá trị sai phạm đối với 03 công trình là 22.979.000đ (Hai mươi hai triệu chín trăm bảy mươi chín nghìn đồng chẵn). Tỷ lệ sai phạm (22.979.000/9.283.253.000đ = 0,25% so với tổng mức đầu tư 03 công trình sau khi điều chỉnh và bằng (22.979.000/7.495.117.000đ = 0,31% giá trị phê duyệt quyết toán của 03 công trình).

  • Qua thanh tra, nổi lên những sai phạm như sau:

Việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi không xác với thực tế, hoặc làm theo hình thức chỉ là thủ tục để được phê duyệt thực hiện dự án, công trình, dẫn đến sau khi công trình hoàn thành đã không thể mang lại hiệu quả như yêu cầu ban đầu đưa ra, gây lãng phí tài sản của nhà nước, gây bất bình trong nhân dân. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Khảo sát thiết kế không đảm bảo, yêu cầu kỹ thuật, không khảo sát địa chất thuỷ văn công trình dẫn đến phải thay đổi thiết kế, phát sinh khối lượng, chậm tiến độ thi công, thậm chí có công trình chất lượng không đảm bảo.

Công tác lập và thẩm định dự toán cũng có những sai sót, áp sai đơn giá, tăng khối lượng không cần thiết, làm tăng giá trị công trình, làm cho công tác xét thầu, chấm thầu và thông báo kết quả trúng thầu không đạt được mục đích là chọn nhà thầu với giá thấp nhất với chất lượng công trình tốt nhất, gây thiệt hại đến kinh phí ngân sách Nhà nước.

Có những công trình, đơn vị dự toán không tính đầy đủ khối lượng các hạng mục của công trình, nên đấu thầu phát sinh trường hợp là sau khi có giá trúng thầu, đơn vị trúng thầu lập hồ sơ đề nghị bổ sung kinh phí những phần khối lượng bị thiếu, không có trong dự án, do vậy những khoản kinh phí đề nghị bổ sung này đã không được đấu thầu.

Việc thực hiện Quy chế đấu thầu tại một số dự án có những vi phạm như: có những công trình theo quy định phải tổ chức đấu thầu rộng rãi nhưng các chủ đầu tư lại không tổ chức đấu thầu mà tiến hành xét thầu hoặc chỉ định thầu không đúng quy định. Hoặc có những dự án, công trình, chủ đầu tư tổ chức đấu thầu công khai nhưng lại bị các nhà dự thầu tổ chức thông thầu nhằm đạt được mục đích là giá trúng thầu cao hơn rất nhiều so với giá trị thực tế thi công công trình. Có những trường hợp đơn vị trúng thầu lại tiến hành bán thầu cho đơn vị khác, không những công trình bị bán thầu một lần mà còn bị bán thầu qua nhiều lần để các đơn vị trung gian hưởng chênh lệch giá, làm cho đơn vị thực hiện thi công cuối cùng phải làm cách nào đó nhằm bớt xén vật tư, mua vật tư không đúng tiêu chuẩn quy định để thực hiện công trình và chất lượng công trình không đảm bảo, có những công trình vừa thi công xong đã không thể đưa vào sử dụng được, gây lãng phí, thất thoát rất lớn cho Nhà nuớc.

Lợi dụng những hạng mục ẩn, đơn vị thi công thực hiện thi công thiếu khối lượng vật tư, chất lượng vật tư không đảm bảo. Hoặc khi đang thi công tiến hành khai báo những hạng mục phát sinh khống để quyết toán với ngân sách nhà nước.

Thay đổi chủng loại vật tư có giá trị thấp hơn giá dự toán ban đầu, hoặc phát sinh giảm khối lượng thi công nhưng vẫn lập hồ sơ quyết toán như dự toán ban đầu. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Một số sai phạm khác: các công trình thường được thi công trước khi ký kết hợp đồng thi công, thậm chí có công trình thi công trước khi có thiết kế thi công -dự toán được duyệt, trước khi phê duyệt đơn vị được chỉ định thầu. Những công trình thuộc diện được miễn các loại thuế theo quy định, nhưng đơn vị dự toán không loại trừ ra khỏi giá trị công trình, chủ đầu tư không kiểm tra mà thanh toán hết các khoản thuế cho bên thi công.

  • Trong công tác mua sắm máy móc thiết bị phát hiện những sai phạm như:

Các cơ quan thẩm định hồ sơ đã không thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ làm thiệt hại ngân sách rất nhiều. Có những trường hợp máy móc thiết bị thuộc diện miễn thuế GTGT và thuế nhập khẩu khi nhập khẩu, nhưng các cơ quan thẩm định, tư vấn giám sát và chủ đầu tư đã không xem xét các quy định của pháp luật dẫn đến thanh quyết toán các khoản thuế trên cho nhà cung cấp.

Mua sắm máy móc, thiết bị không phù hợp, định giá không chính xác về hiệu quả hoạt động của máy, nên khi đầu tư vào thì không thể đưa vào sử dụng được hoặc khi sử dụng thì hiệu quả kinh tế không cao, không thể cạnh tranh được nên ngưng hoạt động.

Về khoản chi khác: đây là những khoản chi hỗ trợ các hộ nông dân nuôi gia súc, gia cầm, hỗ trợ gia đình bị thiên tai, gia đình chính sách, các chương trình mục tiêu của Trung uơng và của tỉnh…Qua công tác kiểm tra cũng đã phát hiện ra những sai phạm phổ biến như chi không đúng đối tượng, chi vuợt, chi sai chế độ, chi không hiệu quả, gây lãng phí…

  • Thanh tra việc quyết toán ngân sách:

Một số văn bản quy định về quyết toán ngân sách là: Thông tư số 319/2016/TT-BTC ngày 13/12/2016 của Bộ Tài chính quy định việc xử lý chuyển nguồn ngân sách nhà nước năm 2016 sang năm 2017; Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính về hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm; Văn bản số 1376/KBQN-KSC ngày 27/12/2017 của Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ninh về việc hướng dẫn đối chiếu và khoá sổ kế toán năm 2017…

Cơ bản các đơn vị được thanh tra đã chấp hành tốt về nghiệp vụ khoá sổ kế toán khi kết thúc năm ngân sách, đối chiếu số liệu đầy đủ với KBNN trong thời gian chỉnh lý quyết toán theo quy định. Thực hiện xét các khoản chuyển nguồn, xác định kết dư để chuyển nguồn ở từng cấp ngân sách đảm bảo theo quy định. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

  • Thanh tra việc thực hiện chế độ công khai ngân sách nhà nước:

Đối với UBND cấp xã, nội dung công khai thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Công khai tài chính theo quy định tại Thông tư số 343/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016, Thông tư số 03/2005/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Quy chế công khai tài chính đối với cấp ngân sách nhà nước và Chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính do Bộ Tài chính ban hành; công khai kết quả của Hội đồng tư vấn thuế theo quy định tại Thông tư số 208/2015/TT-BTC ngày 28/12/2015 của Bộ Tài chính.

Đối với các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách hỗ trợ thực hiện công khai ngân sách theo quy định tại Thông tư số 61/2017/TT-BTC ngày 15/6/2017 của Bộ Tài chính, Thông tư số 21/2005/TT-BTC ngày 22/3/2005 của Tài chính, Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.

Ngoài ra, nhằm đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Quốc hội khoá 11 đã ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 có hiệu lực ngày 01/6/2006; Quốc hội khoá 13 đã ban hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 44/2013/QH13 ngày 26/11/2013. Hai văn bản luật này đã gắn kết công tác thanh tra tài chính như là một bộ phận, một công cụ thiết yếu, không thể thiếu được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Bên cạnh một số đơn vị đã ban hành đầy đủ quyết định công khai dự toán và quyết toán ngân sách, các hình thức công khai đảm bảo tính minh bạch, dân chủ và kịp thời, vẫn còn một số đơn vị chưa thực hiện công khai các khoản kinh phí điều chỉnh bổ sung hoặc giảm trong năm, chưa công khai đúng biểu mẫu theo quy định hoặc không công khai tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước…Đặc biệt là 07 đơn vị được thanh tra năm 2017, do trong năm có sự thay đổi về quy định công khai tài chính về cả nội dung và hình thức công khai, các đơn vị chưa kịp thời cập nhật, bổ sung nên dẫn đến những sai phạm trên.

  • Tổng hợp kết quả theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra:

Thanh tra thành phố Uông Bí đã đôn đốc các đơn vị được thanh tra chấp hành nghiêm túc các kết luận thanh tra của các cơ quan Thanh tra và Kiểm toán Nhà nước và Chủ tịch UBND thành phố, đặc biệt là đôn đốc các đơn vị có sai phạm về kinh tế thực hiện việc nộp tiền vào tài khoản tạm giữ của các cơ quan Thanh tra, Kiểm toán theo quy định.

Kết quả thực hiện: số kết luận, quyết định xử lý đã kiểm tra đôn đốc: 07 kết luận và 11 quyết định thu hồi nộp tiền ngân sách. Cụ thể: Kết luận thanh tra số 1713/KL-CTUBND ngày 27/11/2013 của Chủ tịch UBND thành phố về việc thanh tra việc thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước; công tác quản lý thu, chi tài chính ngân sách năm 2012 tại các xã, phường Điền Công, Quang Trung, Phương Đông; Kết luận thanh tra số 1457KL-UBND ngày 12/8/2014 của Chủ tịch UBND thành phố về việc thanh tra việc quản lý sử dụng ngân sách và các khoản thu, chi khác trong 02 năm (2012-2013) của Trường THCS Nguyễn Trãi; Kết luận thanh tra số 1840/KL-UBND ngày 10/10/2016 của Chủ tịch UBND thành phố về việc thanh tra việc quản lý, sử dụng ngân sách và các khoản thu, chi khác trong giai đoạn 2013- 2015 của 05 trường: THCS Nguyễn Văn Cừ, THCS Phương Đông, THCS Trần Quốc Toản, Tiểu học Quang Trung, Mầm non Yên Thanh. Kết luận thanh tra số 1454/KL-UBND ngày 12/7/2017 của Chủ tịch UBND thành phố về việc thanh tra việc chấp hành pháp luật về tài chính, ngân sách năm 2015 của UBND phường Vàng Danh; Kết luận thanh tra số 1706/KL-UBND ngày 11/8/2017 của Chủ tịch UBND thành phố về việc thanh tra việc chấp hành pháp luật về tài chính, ngân sách giai đoạn 2015-2016 tại các trường: Mầm non Thanh Sơn, Mầm non Phương Đông; Kết luận thanh tra số 2375/KL-UBND ngày 03/11/2017 về việc thanh tra việc chấp hành pháp luật về tài chính, ngân sách giai đoạn 2015-2016 tại các trường: Tiểu học Lê Lợi, Tiểu học Trần Phú; Kết luận thanh tra số 217/KL-UBND ngày 31/01/2018 về việc thanh tra việc chấp hành pháp luật về tài chính, ngân sách giai đoạn 2015-2016 tại các trường: THCS Trưng Vương, THCS Phương Nam.

Tổng số vi phạm phát hiện qua các cuộc thanh tra tiến hành trong năm 2013-2017: 181,202858 triệu đồng, trong đó: phải thu hồi 66,931 triệu đồng, số giảm trừ: 114,271858 triệu đồng. Kết quả thực hiện: số tiền đã thu: 66,931 triệu đồng, đạt 100% tỷ lệ xử lý sau thanh tra.

Trong giai đoạn 2013-2017, tổng số vi phạm lớn nhất là năm 2014 thanh tra đối với một đơn vị: 131,421858 triệu đồng (=72,5%): trong đó: phải thu hồi 66,931 triệu đồng, số giảm trừ: 114,271858 triệu đồng. Nguyên nhân: Thanh tra tài chính năm 2014 tiến hành dưới hình thức thanh tra đột xuất, theo yêu cầu của việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại của công dân.

2.3. Đánh giá kết quả công tác thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

2.3.1. Kết quả đạt được

Về công tác thanh tra hàng năm, trên cơ sở định hướng của Thanh tra tỉnh cùng với tình hình thực tế; Thanh tra thành phố đã xây dựng Kế hoạch thanh tra cơ bản đảm bảo với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phù hợp với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; hoạt động thanh tra đã phát hiện, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật; kiến nghị khắc phục những hạn chế trong việc áp dụng quy định của pháp luật có liên quan; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là các lĩnh vực: quản lý đầu tư xây dựng; quản lý tài chính ngân sách. Hàng năm, kế hoạch thanh tra được xây dựng sát với yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của địa phương và hướng dẫn của Thanh tra Chính Phủ. Thanh tra thành phố Uông Bí đã hoàn thành kế hoạch thanh tra được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các cuộc thanh tra đột xuất theo yêu cầu quản lý của các cấp, chất lượng các cuộc thanh tra tiếp tục được nâng lên trên nhiều lĩnh vực quản lý.

Nét mới trong chỉ đạo, điều hành công tác thanh tra là các cuộc thanh tra kinh tế – xã hội đã tập trung vào nhiều dự án, công trình trọng điểm, có tổng mức đầu tư lớn, thanh tra tất cả các giai đoạn đầu tư, từ khâu khảo sát, chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn được bàn giao đưa vào sử dụng (chưa thanh, quyết toán) nhằm phòng ngừa sai phạm, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội của Đảng bộ, chính quyền các cấp. Qua thanh tra, đã phát hiện, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý nhiều sai phạm, thu hồi tiền, tài sản cho Nhà nước và tập thể, cá nhân; đồng thời kiến nghị với cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung nhiều cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm khắc phục những khuyết điểm, sơ hở trong công tác quản lý, góp phần phát triển kinh tế và tăng cường trật tự, kỷ cương xã hội. Hầu hết kết quả các cuộc thanh tra đã được các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhất trí, dư luận đồng tình, ủng hộ, vì thế vai trò, vị thế của cơ quan Thanh tra được nâng lên rõ rệt.

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

2.3.2.1 Những hạn chế, tồn tại

  • Hạn chế trong việc hoàn thiện pháp luật về công tác thanh tra

Hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố; chưa có nhiều kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách.

  • Về công tác chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn

Công tác chỉ đạo, điều hành nhìn chung là đã đáp ứng được yêu cầu đề ra, tuy nhiên cũng còn lúng túng trong một số trường hợp cụ thể.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, thanh tra viên còn nhiều bất cập. Công tác hướng dẫn, chỉ đạo về nghiệp vụ thanh tra còn ít, chưa sâu sát, cụ thể; việc phối hợp giữa cơ quan thanh tra cấp trên với cơ quan thanh tra cấp dưới trong hoạt động thanh tra còn thiếu chặt chẽ.

  • Về số lượng và chất lượng đội ngũ công chức, thanh tra viên

Số lượng công chức thanh tra thành phố Uông Bí còn thiếu so với khối lượng công việc thực tiễn, chưa đảm bảo so với tiêu chuẩn biên chế đối với thanh tra thành phố tại Đề án phát triển ngành Thanh tra tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trên mọi mặt của công tác thanh tra, một số công chức thanh tra sau một thời gian đã có kinh nghiệm và được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ lại luân chuyển, điều động giữ vị trí công tác khác hoặc chuyển cơ quan khác; cán bộ, công chức mới có đủ trình độ chuyên môn nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực thanh tra, chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ nên việc phát huy hiệu quả trong công việc còn hạn chế; chất lượng đội ngũ công chức thanh tra chưa đồng đều; tình trạng hẫng hụt giữa các thế hệ công chức còn phổ biến; thiếu đội ngũ cán bộ nòng cốt kế cận có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

2.3.2.2. Nguyên nhân

  • Nguyên nhân khách quan

Hệ thống pháp luật của nước ta nói chung còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật khi thực hiện thanh tra, kiểm tra. Cụ thể là pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thanh tra còn chưa có hướng dẫn cụ thể, các quy định về giám sát hoạt động thanh tra, thanh tra lại, xem xét lại việc giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật và chế tài xử lý khi vi phạm thẩm quyền thanh tra chưa được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ các văn bản không còn phù hợp và để thực hiện các quy định được thống nhất.

Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến công tác thanh tra; chưa coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cấp ủy, của Thủ trưởng cơ quan nhà nước các cấp.

Thủ trưởng một số cơ quan quản lý nhà nước chưa thật sự quan tâm đến công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra; chưa có những biện pháp cương quyết để xử lý những tập thể, cá nhân không chấp hành các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra, làm triệt tiêu hiệu lực các quyết định sau thanh tra.

  • Nguyên nhân chủ quan

Thanh tra tỉnh, Thanh tra một số sở, ban, ngành, huyện, thị xã, thành phố chậm đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo trong hoạt động thanh tra, chưa chủ động đề xuất và xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra có trọng tâm, trọng điểm nhằm phục vụ kịp thời cho hoạt động quản lý nhà nước và phát triển kinh tế – xã hội của ngành, địa phương;

  • Trưởng một số đoàn thanh tra còn hạn chế khả năng tổ chức, quản lý, chỉ đạo, điều hành cuộc thanh tra;
  • Trình độ năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ quản lý, cán bộ thanh tra, thanh tra viên còn có những hạn chế nhất định; trình độ nhận thức không đồng đều, nghiệp vụ thanh tra yếu;
  • Công tác cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong các tổ chức thanh tra của ngành Thanh tra còn hạn chế;
  • Công tác tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức của ngành chậm được đổi mới từ khâu xác định các tiêu chuẩn ngạch, bậc đến quy hoạch, đào tạo, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

Nội dung Chương 2 đã đề cập đến thực trạng về công tác thanh tra tài chính trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Mặc dù kết quả thanh tra trong 5 năm qua được đánh giá là có nhiều tiến bộ và đạt nhiều kết quả tích cực nói trên, nhưng công tác thanh tra tài chính vẫn còn những hạn chế: còn cuộc thanh tra vi phạm về thời gian xử lý, khắc phục sau thanh tra; tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản qua thanh tra tài chính vẫn còn thấp; việc xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật còn hạn chế. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, trong đó nguyên nhân chủ yếu do quy định của pháp luật, do biên chế, năng lực của đội ngũ công chức thanh tra, do công tác lãnh đạo, chỉ đạo còn một số vướng mắc nhất định.

Trong nội dung chương 2 của đề tài đã chỉ ra một số sai phạm thường gặp trong quá trình thanh tra tài chính và các nguyên nhân dẫn đến sai phạm đó. Từ đó rút kinh nghiệm và cần có giải pháp cụ thể khắc phục những tồn tại, những bất cập trong hệ thống quản lý hiện nay để nâng cao hiệu quả chất lượng công tác thanh tra tài chính. Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp công tác thanh tra tài chính trên địa bàn

One thought on “Luận văn: Thực trạng thanh tra tài chính tại thành phố Uông Bí

  1. Pingback: Luận văn: Nâng cao công tác thanh tra tài chính trên địa bàn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464