Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Tổng quan về tỉnh Tây Ninh
2.1.1. Lịch sử hình thành
Trong lịch sử, tỉnh Tây Ninh đã từng là một phần lãnh thổ của vương quốc Phù Nam, rồi vương quốc Chân Lạp. Cho đến cuối thế kỷ XVI, Tây Ninh nhìn chung vẫn còn là một vùng đất hoang vu, nhiều rừng rậm, đầm lầy và thú dữ.
Sau nhiều lần sát nhập rồi chia tách và đổi tên, đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836), phủ Tây Ninh được thành lập. Đây là lần đầu tiên xuất hiện tên gọi Tây Ninh trong văn bản hành chính. Cái tên Tây Ninh được ra đời với một khát vọng là vùng biên giới phía Tây được an ninh mãi mãi.
Vào đầu thời kỳ Pháp thuộc, tỉnh Gia Định vẫn còn rất rộng lớn, bao gồm cả vùng đất Tây Ninh, Tân Bình, Chợ Lớn, Tân An và Gò Công. Năm 1867, Nam Kỳ Lục tỉnh được thực dân Pháp chia thành 24 hạt thanh tra (sau đó gọi là hạt tham biện, sở tham biện). Sau nhiều lần thay đổi, năm 1872, hạt Tây Ninh gồm có 2 quận: Thái Bình (huyện Tân Ninh cũ), Trảng Bàng (huyện Quang Hóa cũ) với 10 tổng, 50 làng. Ngày 01/01/1900, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cho áp dụng nghị định ký ngày 20/12/1899 về việc đổi tất cả các tiểu khu, sở tham biện ở Nam kỳ thành tỉnh. Ngày 09/12/1942, Thống đốc Nam kỳ ban hành Nghị định 8345 ấn định ranh giới Tây Ninh. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tỉnh vẫn giữ nguyên ranh giới cũ. Năm 1950, một phần đất của Thái Hiệp Thạnh cũ được cắt ra để thành lập thị xã Tây Ninh, nhưng do chưa đủ điều kiện hoạt động nên sau đó giải thể. Sau hiệp định Geneve năm 1954, thị xã Tây Ninh lại được thành lập trên địa bàn cũ. Năm 1957, tỉnh được chia thành 3 quận, đó là Châu Thành, Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng. Đến năm 1963, tỉnh Tây Ninh gồm có 4 quận: Phú Khương, Phước Ninh, Hiếu Thiện, Khiêm Hanh.
Sau ngày đất nước thống nhất 30/04/1975, tỉnh Tây Ninh được tổ chức thành 7 huyện và 1 thị xã. Ngày 14/03/1979, huyện Phú Khương được đổi tên thành huyện Hòa Thành. Sau đó, theo Quyết định số 48/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 13/05/1989, tỉnh đã thành lập thêm huyện Tân Châu. Và kể từ thời điểm này, phạm vi lãnh thổ của Tây Ninh nhìn chung đã ổn định, về đại thể vẫn giữ nguyên diện tích, ranh giới và sự phân chia hành chính cho đến ngày nay.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.2. Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ
Tỉnh Tây Ninh có diện tích 4.032,61 km2, chiếm gần 1,22% diện tích cả nước, gồm thị xã Tây Ninh và 8 huyện: Bến Cầu, Châu Thành, Dương Minh Châu, Gò Dầu, Hòa Thành, Tân Biên, Tân Châu, Trảng Bàng.
Là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Tây Ninh nằm trong giới hạn tọa độ địa lí từ 10057’08’’ đến 11046’36’’ vĩ độ Bắc và từ 105048’43’’ đến 106022’48’’ kinh độ Đông.
Ở phía bắc và phía tây, Tây Ninh tiếp giáp với Campuchia trên đường biên giới dài 240 km, với hai cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát cùng hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch. Về phía đông, Tây Ninh giáp tỉnh Bình Phước và Bình Dương theo ranh giới tự nhiên là hồ Dầu Tiếng và sông Sài Gòn với tổng chiều dài hơn 66 km. Phía đông nam giáp TP.HCM với đường ranh giới dài hơn 20 km. Tiếp giáp về phía nam là tỉnh Long An với chiều dài hơn 30 km.
Bên cạnh khả năng giao thương nội vùng và với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên nhờ các tuyến quốc lộ phía nam (QL 22, 1A, 13, 14,…) thì với vị trí nằm ở phía tây nam của Tổ quốc, chỉ cách trung tâm TP.HCM khoảng 99 km, Tây Ninh còn là cầu nối quan trọng giữa hai trung tâm kinh tế lớn bậc nhất của bán đảo Đông Dương là TP.HCM và TP. Phnom Penh thông qua tuyến đường xuyên Á cùng hai cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát. Đây chính là điều kiện thuận lợi để Tây Ninh trở thành đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa,… quan trọng giữa Việt Nam với Campuchia và nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng cùng đường biên giới dài cũng đặt ra nhiều khó khăn cho Tây Ninh trong công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phòng chống gian lận thương mại,… trong tình hình hiện nay.
2.1.3. Khái quát về tự nhiên Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
2.1.3.1. Địa hình
Tây Ninh có cả 3 dạng địa hình: núi, đồi và đồng bằng. Do nằm trên khu vực có tính chất chuyển tiếp giữa Tây Nguyên, Đông Nam Bộ với đồng bằng sông Cửu Long nên địa hình Tây Ninh nhìn chung thấp dần từ đông bắc xuống tây nam. Ở phía bắc, phần lớn diện tích có độ cao 20 – 50 m, phần trung tâm giảm xuống 10 – 20 m và đến phần phía nam, độ cao chỉ còn 1 – 10 m. Từ thị xã Tây Ninh trở lên phía bắc có nhiều đồi núi với độ cao không lớn, xen giữa các đồng bằng xâm thực tích tụ rộng, độ cao phổ biến từ 20 – 50 m. Núi Bà Đen cao 986 m, là ngọn núi cao nhất tỉnh và cũng cao nhất Nam Bộ. Phía nam núi Bà Đen là núi Lấp Vò (800 m) và một số dạng đồi có độ cao từ thấp đến trung bình. Từ đây xuôi về huyện Bến Cầu, độ cao giảm dần tới 10 m rồi 1 – 2 m, một số chỗ bị úng ngập trong mùa mưa.
Nhìn chung, Tây Ninh có ưu thế về địa hình đồi núi – nơi tọa lạc của nhiều chùa chiền, đền thờ – và vùng đồng bằng xung với cảnh quan đẹp, thuận lợi cho tổ chức các hoạt động du lịch như: leo núi, vãn cảnh và viếng chùa; du lịch học tập, nghiên cứu; du lịch thể thao kết hợp,…
2.1.3.2. Khí hậu
Khí hậu Tây Ninh thể hiện rõ tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với nền nhiệt khá cao – nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm chỉ khoảng 2 – 30C. Khí hậu của Tây Ninh được chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, còn mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình đạt khoảng 1.886 mm/năm nhưng phân bố không đều theo thời gian khi có đến 80 – 90% lượng mưa trong năm tập trung vào các tháng mùa mưa, trong đó tháng 9 thường có lượng mưa cao nhất (453 mm). Ngược lại, vào mùa khô, lượng mưa rất ít, hay thậm chí không có mưa, nhất là vào các tháng 1, 2, 3.
Nhìn chung, khí hậu Tây Ninh khá thuận lợi cho tổ chức các hoạt động du lịch quanh năm và phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều loại nông sản, góp phần cung cấp nguồn thực phẩm đa dạng cho khách du lịch. Tuy nhiên, thời tiết nóng bức và hiện tượng khô hạn trong mùa khô làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, đời sống người dân nói chung và ngành du lịch nói riêng. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
2.1.3.3. Thủy văn
- Nước mặt:
Hệ thống sông ngòi ở Tây Ninh có mật độ khá thưa, chỉ đạt 0,314 km/km2. Tuy nhiên, lưu lượng dòng chảy trung bình khá lớn, đạt 20 – 30 l/s/km2. Trong năm, thủy chế sông ngòi thay đổi rõ rệt theo mùa. Mùa lũ tương ứng với mùa mưa, nhưng chủ yếu từ tháng 7 đến tháng 10, mùa cạn tương ứng với mùa khô. Lượng nước trong mùa lũ chiếm tới 85,0% tổng lượng nước cả năm, lũ lớn nhất vào tháng 9.
Sông ngòi ở Tây Ninh chủ yếu bắt nguồn từ Campuchia với tổng chiều dài 460 km. Nguồn nước mặt ở Tây Ninh phụ thuộc chủ yếu vào chế độ hoạt động của 2 con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông. Sông Sài Gòn là ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh với 2 tỉnh Bình Phước và Bình Dương. Sông có chiều dài khoảng 280 km, trong đó có 135 km chảy trên lãnh thổ Tây Ninh. Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ Campuchia, đoạn chảy qua tỉnh Tây Ninh dài 151 km. Hạ lưu sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ bán nhật triều không đều.
Hồ Dầu Tiếng là công trình thủy lợi lớn nhất cả nước, được xây dựng tại thượng lưu sông Sài Gòn (thuộc huyện Dương Minh Châu) từ năm 1980. Diện tích mặt hồ rộng 27.000 ha (trong đó phần thuộc Tây Ninh là gần 16.700 nghìn ha), dung tích hữu ích khoảng 1,45 tỉ m3. Ngoài nhiệm vụ tưới cho 175.000 ha đất canh tác, hồ Dầu Tiếng còn ảnh hưởng đến nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường sinh thái, và nhất sự phát triển ngư nghiệp và du lịch của tỉnh.
- Nước ngầm:
Tây Ninh có trữ lượng nước ngầm khá phong phú, phân bố rộng, chiều dài tầng ổn định (sâu trung bình từ 4 – 11 m), chất lượng nước tốt. Tổng lượng nước ngầm có thể khai thác là 50.000 – 100.000 m3/giờ. Đây là nguồn nước rất quan trọng đối với sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương, nhất là vào mùa khô. Ngoài ra, Tây Ninh còn có nguồn nước khoáng ở xã Ninh Điền (huyện Châu Thành) với lưu lượng 838 m3/ngày đêm, hàm lượng khoáng chất cao, hiện đã được Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia cấp giấy phép khai thác. Một điểm nước có áp lực khác cũng đã được ghi nhận tại khu vực Gia Huỳnh (huyện Trảng Bàng). Như vậy, với trữ lượng dồi dào, chất lượng tốt, nguồn nước ở Tây Ninh đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và đời sống cũng như khai thác phục vụ du lịch trên địa bàn.
2.1.3.4. Sinh vật Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Mang nhiều đặc tính sinh thái của rừng nhiệt đới miền Đông Nam Bộ, thảm thực vật tự nhiên ở Tây Ninh khá đa dạng, gồm 4 kiểu chính: rừng thưa ít ẩm cây lá rộng, rừng hỗn giao tre nứa và cây gỗ, trảng cây bụi, cây cỏ thủy sinh. Trong rừng, điển hình và chiếm ưu thế nhất là các cây họ dầu (kiền kiền, săng lẻ,…), gỗ quý có gụ, sao, trắc, mun, cẩm lai, gõ đỏ, giáng hương, huỳnh đường,… Tuy nhiên, thảm thực vật rừng nguyên sinh hiện nay hầu như không còn, thay vào đó là chủ yếu là rừng thứ sinh. Theo số liệu thống kê, đến năm 2022, tổng diện tích rừng của Tây Ninh là 46.165 ha, trong đó rừng tự nhiên là 38.668 ha, rừng trồng là 7.497 ha. Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát là khu vực có rừng che phủ lớn nhất tại Tây Ninh, chiếm 26,0% tổng diện tích che phủ rừng tự nhiên của tỉnh. Những năm gần đây, tỉnh đã có rất nhiều cố gắng trong việc phục hồi tài nguyên rừng, nhất là rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ cho sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và công trình thủy lợi hồ Dầu Tiếng.
Trong rừng Tây Ninh hiện không còn các loài thú lớn mà chỉ còn một số loài thông thường như: nai, heo rừng, báo, nhím, culi, khỉ, voọc, chồn, cheo cheo, tê tê, sóc bay, trăn đất, tắc kè, kỳ đà, thằn lằn núi,… Tuy vậy, số lượng cá thể cũng còn ít và có nguy cơ bị tiêu diệt do mất dần không gian cư trú.
Trong thời kỳ chiến tranh, những cánh rừng bạt ngàn ở Tây Ninh từng là nơi trú ẩn và hoạt động của quân giải phóng, tiêu biểu như Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Chiến khu Dương Minh Châu, Căn cứ Đồng Rùm,… Ngày nay, những nơi này trở thành các địa chỉ đỏ đón tiếp nhiều đoàn cựu chiến binh tìm về thăm chiến trường xưa cùng hàng nghìn lượt du khách trong nước và bạn bè quốc tế đến tham quan, tìm hiểu mỗi năm.
2.1.4. Khái quát về kinh tế – xã hội
2.1.4.1. Dân cư và nguồn lao động
- Dân cư:
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh, tính đến hết năm 2022, dân số của tỉnh đã đạt 1.089.891 người (chiếm 1,23% dân số cả nước và đứng thứ 4 ở Đông Nam Bộ sau TP.HCM, Đồng Nai và Bình Dương) với mật độ 270 người/km2 và tỉ lệ nữ chiếm 50,6% dân số của tỉnh.
Dân cư Tây Ninh phân bố không đồng đều theo lãnh thổ, người dân sinh sống chủ yếu ở nông thôn, tốc độ đô thị hóa còn chậm. Theo số liệu thống kê năm 2022, dân cư nông thôn chiếm đến 84,3% dân số toàn tỉnh, trong khi đó dân thành thị chỉ có 15,7%.
Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hiện có khoảng 22 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó người Kinh chiếm 98,32% dân số, còn lại là người Khmer, Hoa, Chăm,… Chính đời sống tinh thần đa dạng và những tập tục cổ truyền độc đáo mà đồng bào các dân tộc thiểu số còn lưu giữ đã góp phần làm cho nền văn hóa dân gian của tỉnh thêm phong phú. Do vậy, đây là một trong những tiềm năng cần đặc biệt chú ý khi đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa ở Tây Ninh.
Tây Ninh cũng là tỉnh có nhiều tôn giáo, với 5 tôn giáo chính là: Cao Đài, Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo và một số tôn giáo khác. Trong đó, đông nhất là đạo Cao Đài với hơn 337.000 tín đồ, có trung tâm tôn giáo là Tòa Thánh Cao Đài và khoảng 100 thánh thất, điện thờ. Kế đến là Phật giáo với hơn 90.000 tăng ni, Phật tử, riêng người Khmer chủ yếu theo đạo Phật dòng Tiểu thừa. Công giáo có hơn 35.000 giáo dân, Hồi giáo có khoảng 3.500 tín đồ người dân tộc Chăm,… Những công trình kiến trúc gắn với lễ hội tôn giáo chính là điểm nhấn văn hóa độc đáo thu hút đông đảo du khách thập phương đến với Tây Ninh hằng năm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Nguồn lao động:
Cơ cấu dân số trẻ giúp cho Tây Ninh có nguồn lao động khá dồi dào và tăng nhanh. Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh vào năm 2022, tổng lực lượng lao động (từ 15 tuổi trở lên) của tỉnh là 649.214 người, chiếm 59,6% dân số. Nhìn chung, hầu hết người lao động đều cần cù, chịu khó, có khả năng tiếp thu những tiến bộ khoa học – kỹ thuật, nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn rất hạn chế. Toàn tỉnh chỉ có 10,2% lực lượng lao động thường xuyên đã qua đào tạo nghề, thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước (16,6%) và của vùng Đông Nam Bộ (20,9%). Trong đó, tỉ lệ lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên rất thấp, chưa tới 3,0%.
Trong những năm qua, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch tương đối rõ từ khu vực nông – lâm – thủy sản sang khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, song tốc độ chuyển dịch còn chậm. Năm 2022, tỉ lệ lao động trong khu vực I vẫn cao nhất với 45,6%, tiếp theo là khu vực III với 30,2% và khu vực II là 24,2% (năm 2022). Tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị của Tây Ninh là 1,13%, thấp hơn mức bình quân cả nước (3,21%) và của vùng Đông Nam Bộ (3,24%).
2.1.4.2. Khái quát về kinh tế – xã hội
- Khái quát về kinh tế:
Trong giai đoạn 2017 – 2022, GDP của tỉnh tăng trung bình 11,2%/năm. Năm 2022, GDP/người đạt gần 42,1 triệu đồng, cao hơn mức bình quân cả nước (36,6 triệu đồng). Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh đang diễn ra đúng hướng nhưng tốc độ còn chậm. Trong giai đoạn 2017 – 2022, tỉ trọng ngành nông – lâm – thủy sản đã giảm từ 38,2% xuống 36,2% và của công nghiệp – xây dựng đã tăng từ 27,7% lên 29,0%. Lĩnh vực dịch vụ chuyển biến chậm, chỉ tăng từ 32,7% lên 34,6%.
Cơ cấu thành phần kinh tế của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại và đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2022, tỉ trọng khu vực kinh tế nhà nước tuy chỉ đạt 18,7% và tiếp tục có chiều hướng giảm nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước đang giữ vị trí quan trọng khi chiếm đến 66,3% trong cơ cấu GDP. Điều đáng chú ý là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài luôn chiếm tỉ trọng cao trong những năm gần đây, đạt 15,0% (năm 2022). Điều này chứng tỏ Tây Ninh cũng là một địa bàn đầu tư khá hấp dẫn.
Các lĩnh vực xã hội:
- Giáo dục: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Trong năm học 2021 – 2022, trên địa bàn tỉnh có 116 trường mầm non, 271 trường tiểu học, 106 trường THCS, 31 trường THPT, 1 trường kết hợp cả tiểu học và THCS, 1 trường kết hợp cả THCS và THPT, cùng với mạng lưới giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề, gồm: 1 trường cao đẳng, 2 trường trung cấp chuyên nghiệp, 3 trường trung cấp nghề và trên 190 cơ sở dạy nghề.
Nhìn chung, công tác giáo dục và đào tạo của tỉnh tuy đã có tiến bộ, góp phần ngày càng quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
- Y tế:
Tính đến hết năm 2022, toàn tỉnh có 14 bệnh viện, 3 phòng khám đa khoa khu vực, 2 nhà hộ sinh cấp huyện và 95 trạm y tế ở tất cả các xã, phường. Tổng số giường bệnh là 2.326 chiếc, đạt tỉ lệ 21,3 giường bệnh/1 vạn dân. Sự tiến bộ của ngành y tế đã góp phần quan trọng vào việc chăm sóc sức khỏe cho người dân trong tỉnh.
- Văn hóa:
Đến năm 2022, toàn tỉnh có 421 thư viện, 1 bảo tàng, 1 nhà văn hóa, 1 sân vận động, 1 nhà thi đấu cấp tỉnh cùng nhiều điểm sinh hoạt thể thao tư nhân,… đã cơ bản đáp ứng nhu cầu tìm hiểu kiến thức, tham quan và vui chơi giải trí của người dân địa phương.
Công tác bảo tồn các di tích lịch sử – văn hóa cũng được củng cố. Tính đến cuối năm 2022, toàn tỉnh đã kiểm kê được 365 di tích, lập hồ sơ được 175 di tích, trong đó có 80 di tích được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng.
Phong trào thể dục – thể thao ở địa phương tiếp tục được đẩy mạnh với tỉ lệ người dân tham gia luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên đạt 25,0% dân số. Công tác giáo dục thể chất, phát triển thể thao học đường luôn được quan tâm đầu tư tại tất cả các trường học trên địa bàn.
Chất lượng mạng lưới thông tin, truyền thông từng bước được nâng cao, đóng góp tích cực cho việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và phản ánh nguyện vọng của nhân dân. Phong trào xây dựng nếp sống văn minh trong các tầng lớp nhân dân cũng đạt kết quả cao với 96,7% hộ dân cư đạt chuẩn gia đình văn hóa năm 2022.
2.2. Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
2.2.1. Tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.1.1. Các loại tài nguyên du lịch nhân văn
Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia và địa phương:
Đến cuối năm 2022, Tây Ninh có 80 di tích lịch sử – văn hóa được xếp hạng, gồm 23 di tích cấp quốc gia, 57 di tích cấp tỉnh. Trong đó có 68 di tích lịch sử, 3 di tích kiến trúc nghệ thuật, 6 di tích khảo cổ học và 3 di tích hỗn hợp (1 di tích lịch sử – danh lam thắng cảnh, 2 di tích lịch sử – kiến trúc).
Di tích lịch sử:
Được biết đến là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, Tây Ninh nói riêng và miền Đông Nam Bộ nói chung luôn là địa bàn chiến lược quan trọng, nơi thiết lập nhiều căn cứ địa cách mạng trọng yếu. Nhờ vậy, trên địa bàn tỉnh hiện tồn tại rất nhiều khu di tích lịch sử đã được xếp hạng đồng thời mang đầy tiềm năng khai thác phục vụ du lịch văn hóa. Tính đến tháng 12/2022, Tây Ninh đã có 68 di tích lịch sử được xếp hạng, trong số này có 16 di tích cấp quốc gia. Nổi tiếng nhất trong số này là khu Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (huyện Tân Biên) – cơ quan đầu não đã trực tiếp chỉ huy, lãnh đạo cuộc đấu tranh của quân dân miền Nam suốt một thời gian dài cho đến ngày đất nước thống nhất. Bên cạnh đó, còn phải kể đến Căn cứ Dương Minh Châu (huyện Dương Minh Châu), Địa đạo An Thới (huyện Trảng Bàng), Căn cứ Xứ ủy Nam Bộ (huyện Tân Châu), Địa điểm Chiến thắng Tua Hai (huyện Châu Thành), Căn cứ lõm vùng ruột Gò Dầu (huyện Gò Dầu),… cùng hàng loạt các di tích khác phân bố khắp các huyện, thị trong tỉnh (xem phụ lục 2). Đây chính là nguồn tài nguyên nhân văn có vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch tỉnh nhà nói chung giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai.
- Căn cứ Trung ương Cục miền Nam:
Căn cứ Trung ương Cục miền Nam hiện tọa lạc tại khu vực Rùm Đuôn, ấp Tân Tiến, xã Tân Lập, huyện Tân Biên, cách thị xã Tây Ninh 64 km về hướng bắc. Do căn cứ được xây dựng trong khu rừng Chàng Riệc nên nhân dân thường gọi là căn cứ Chàng Riệc. Nhờ giá trị lịch sử to lớn và khả năng thu hút khách du lịch vượt trội, khu Căn cứ Trung ương Cục miền Nam trở nên nổi bật nhất trong số những di tích lịch sử liền kề (bao gồm Căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Căn cứ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Căn cứ Ban An Ninh Trung ương Cục miền Nam, Địa điểm Ban kiểm tra Trung ương Cục miền Nam thời kỳ 1969 – 1975). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Tiền thân là Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam được thành lập sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), cơ sở đầu tiên đóng tại Mã Đà – chiến khu Đ (huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai). Qua nhiều lần di chuyển và xây dựng căn cứ trên đất Tây Ninh, tháng 08/1972, văn phòng Trung ương Cục chuyển về địa điểm hiện nay cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong khu vực này có hệ thống giao thông hào, công sự chiến đấu, hầm trú ẩn, các con đường mòn, hệ thống hội trường, nhà ở được lợp bằng lá trung quân cùng một số trang thiết bị sinh hoạt và làm việc của các đồng chí lãnh đạo như Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà,… Ở đây còn bảo tồn được một số hố bom B52 do địch thả xuống trong những năm chiến tranh, hay các khu sản xuất, vườn rau xanh, cây ăn quả được cán bộ chiến sĩ trồng mới sau này.
Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam là di tích lịch sử cách mạng có tầm quan trọng đặc biệt đối với Tây Ninh và trên phạm vi cả nước nên đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 2000.
- Địa điểm chiến thắng Tua Hai:
Tua Hai là tên của một tháp canh có từ thời Pháp thuộc, sau này trở thành căn cứ quân sự chiến lược của Mỹ – Ngụy thời kỳ chúng chiếm đóng miền Nam Việt Nam. Tại đây, vào đêm 25 rạng 26/01/1960, thực hiện sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, lực lượng vũ trang cách mạng cùng với nhân dân Tây Ninh đã tiến hành trận tập kích tiêu diệt căn cứ Trung đoàn 32, Sư đoàn 21 Ngụy tại Tua Hai. Trong trận đánh này, lực lượng cách mạng đã diệt hơn 500 tên địch, thu 1.599 súng các loại. Đây là trận đánh đã đi vào lịch sử, góp phần mở màn phong trào đồng khởi vũ trang toàn miền Nam và trở thành mốc đánh dấu bước chuyển giai đoạn cách mạng miền Nam với phương thức đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang.
Căn cứ hiện đã được cải tạo thành khu đền tưởng niệm với di tích duy nhất còn sót lại là cổng thành Tua Hai, nằm cạnh quốc lộ 22B thuộc ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, cách thị xã Tây Ninh 7 km về hướng tây bắc. Với ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Tua Hai, năm 2003, Nhà nước đã công nhận Địa điểm Chiến thắng Tua Hai là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Từ đó đến nay, Tua Hai trở thành điểm tham quan, giáo dục truyền thống yêu nước cho nhiều đoàn khách du lịch, nhất là những đoàn học sinh từ các trường học trong tỉnh.
- Căn cứ Dương Minh Châu: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Là một căn cứ địa cách mạng nổi tiếng ở miền Đông Nam Bộ, Căn cứ Dương Minh Châu ngày nay thuộc ấp Phước Tân, xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Năm 1948, Tỉnh ủy Tây Ninh quyết định chọn vùng Trà Vong làm căn cứ địa cách mạng. Đến năm 1951, căn cứ được đổi tên thành căn cứ Dương Minh Châu – tên gọi của đồng chí Chủ tịch Ủy ban hành chánh tỉnh Tây Ninh đầu tiên đã anh dũng hy sinh trong trận càn của Pháp vào căn cứ bến Cây Chò (nay thuộc xóm Mía, xã Ninh Điền, huyện Châu Thành) vào năm 1947. Với vị trí chiến lược quan trọng, quân dân Căn cứ Dương Minh Châu đã đập tan mọi mưu đồ của địch, bảo vệ các lực lượng cách mạng và tạo thế đứng vững chắc, làm bàn đạp cho quân ta tiến công kẻ thù. Căn cứ Dương Minh Châu đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 2009, hiện trở thành điểm du lịch về nguồn của nhiều đoàn cựu chiến binh, học sinh đến tham quan, ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc.
- Địa đạo An Thới:
Địa đạo An Thới thuộc ấp An Thới, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Trong những năm 1961 – 1965, Huyện ủy Trảng Bàng chỉ đạo tập trung lực lượng xây dựng hệ thống địa đạo tại ấp An Thới để phục vụ chiến đấu. Địa đạo được thiết kế theo hình chữ chi, đào sâu 3 – 4 m, chiều rộng khoảng 0,8 – 1 m, được quân dân trong vùng sử dụng để đánh địch hoặc khi cần rút lui để bảo toàn lực lượng. Nhờ thế liên hoàn của hệ thống địa đạo mà nhân dân An Thới, An Tịnh đã bám trụ, bẻ gãy nhiều trận càn dài ngày của địch.
Địa đạo An Thới đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 2003. Di tích hiện nay còn giữ được 2 cụm địa đạo đã được phục chế, mỗi cụm có chiều dài 200 m, gần địa đạo có 3 công sự chiến đấu nổi trên mặt đất. Một số hạng mục khác (nhà trưng bày truyền thống, đài tưởng niệm, khu bán hàng lưu niệm, đường đi trong di tích, cảnh quan nguyên thủy xung quanh,…) cũng đã được cải tạo và phục dựng, tạo điều kiện cho khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu.
- Di tích văn hóa nghệ thuật:
Từ khi được thành lập cho đến nay, Tây Ninh luôn là địa bàn sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc cùng với sự đa dạng về các loại hình tôn giáo. Tất cả họ đều có đóng góp tích cực cho sự nghiệp khai phá, bảo vệ và phát triển vùng đất này.
Các loại hình di sản văn hóa mà các thế hệ cha ông đã để lại trên mảnh đất Tây Ninh rất đa dạng và phong phú. Trong đó phải kể đến các công trình kiến trúc nghệ thuật mang đậm màu sắc tôn giáo. Đấy là các ngôi đình làng đặc trưng cho nét văn hóa dân gian Nam Bộ, những ngôi chùa uy nghi, cổ kính với kiến trúc Phật giáo phương Đông kết hợp hài hòa với không khí và cảnh quan thanh tịnh xung quanh. Ngoài ra, còn phải kể đến một số chùa tháp thể hiện giá trị thẩm mỹ độc đáo của đồng bào Khmer, hay những ngôi miếu đầy vẻ tôn nghiêm, linh thiêng mang đậm bản sắc của cộng đồng người Hoa. Đặc biệt, trên địa bàn tỉnh còn có sự xuất hiện với mật độ dày đặc của những thánh thất – nơi thờ tự, tu hành của các tín đồ đạo Cao Đài với lối kiến trúc đặc thù không thể lẫn với các kiểu kiến trúc khác. Trong số đó, nổi bật hơn cả là Tòa Thánh Tây Ninh (huyện Hòa Thành), một quần thể kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo đặc sắc với sự kết hợp hài hòa giữa đường lối mỹ thuật Á Đông truyền thống và phong cách phương Tây hiện đại. Nơi đây luôn là điểm đến đầy hấp dẫn, không thể bỏ qua của du khách khi đến với Tây Ninh. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh chưa có di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia nhưng đã có 3 di tích cấp tỉnh được công nhận, đó là: chùa Khmer – Kédol (Khơ me – Khe Đon), Thiên Hậu miếu, Phước Lâm Tự (hay chùa Vĩnh Xuân), tất cả đều tọa lạc tại thị xã Tây Ninh.
- Tòa Thánh Tây Ninh: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Được xây dựng từ năm 1931, chính thức khánh thành vào năm 1955, Tòa Thánh Tây Ninh hiện tọa lạc tại xã Long Thành Bắc, thị trấn Hòa Thành, cách trung tâm thị xã Tây Ninh khoảng 4 km về phía đông nam. Đây là vùng Thánh địa thiêng liêng của đạo Cao Đài, nơi đặt trụ sở của Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Toàn bộ khu Thánh địa rộng khoảng 100 ha, xung quanh có hàng rào bao bọc, bên trong có gần 100 công trình kiến trúc tôn giáo lớn nhỏ khác nhau.
Đường vào nội ô Tòa Thánh có 12 cửa được xây dựng theo kiểu tam quan, chạm hình tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và hoa sen, trong đó Chánh Môn là cửa chính chỉ mở vào những dịp đón tiếp các vị nguyên thủ quốc gia, các vị cao tăng lãnh đạo các tôn giáo. Công trình chính của Tòa Thánh là Hiệp Thiên Đài dài 97,5m, rộng 22m, được xây dựng bằng bê tông cốt tre, có hai lối vào là Lầu chuông (Bạch Ngọc Chung Đài) bên trái và Lầu trống (Lôi Âm Cổ Đài) bên phải. Cả hai lầu đều cao 27 mét, có 6 tầng với chiều cao khác nhau, có mái ngắn phân chia các tầng. Bên trong Hiệp Thiên Đài có hai hàng cột rồng, trên trần nhà là 9 khoảng bầu trời mây và sao, nền có 9 cấp gọi là “Cửu phẩm thần tiên”. Khu chính điện thờ Thiên Nhãn nằm trên quả càn khôn có 3.027 ngôi sao. Ngoài Hiệp Thiên Đài thì trong khuôn viên Tòa Thánh còn có nhiều công trình kiến trúc độc đáo khác như Cửu Trùng Đài, Bát Quái Đài, Hạnh Đường, Giáo Tông Đường, Hộ Pháp Đường, Điện thờ Phật Mẫu, Bá Huê Viên,… Hằng năm, cứ vào mùng 9 tháng Giêng và rằm tháng 8 âm lịch, Tòa Thánh Tây Ninh lại đón hàng chục vạn lượt khách hành hương về dự Đại lễ Vía Đức Chí Tôn và Hội yến Diêu Trì Cung.
- Chùa Khmer – Kédol (Khơ me – Khe Đon):
Chùa Khmer – Kédol được xây dựng tại ấp Thạnh Đông (xưa là ấp Kédol), xã Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh, nằm trên tỉnh lộ 4. Trước kia, ngôi chùa này có tên Botum – Kiri – Rangsay, nghĩa là ánh hào quang của hoa sen, vốn là một ngôi chùa nhỏ có kích thước 6 × 11 m được xây cất bằng gạch, kèo gỗ, mái lợp ngói đơn sơ. Đến đầu năm 2022, công trình trùng tu, xây dựng mới một số hạng mục chùa được hoàn thành sau 7 năm thi công, chùa Khmer – Kédol trở thành ngôi chùa lớn và đẹp nhất trong các chùa Khmer hiện có ở Tây Ninh. Ngôi chùa mới hiện rất khang trang với dáng vẻ kỳ vĩ cùng những chi tiết chạm trổ, hoa văn hết sức cầu kỳ, độc đáo. Ấn tượng nhất là phần mái chùa nhiều tầng với những đỉnh nhọn nhô lên như một đóa hoa sen rực rỡ, nổi bật với hai màu đỏ và vàng kim nhũ. Nội thất trong chùa cũng rất đặc sắc với những bức bích họa được vẽ kín trên trần và các mảng tường có chủ đề xoay quanh các truyền thuyết về Đức Phật. Điều đáng chú ý là tất cả các kiến trúc điêu khắc kể trên đều do các vị sư sãi tu ở chùa chỉ vẽ cho thợ hoặc tự tay thực hiện.
Cộng đồng người Khmer tại đây hiện vẫn bảo lưu các tập quán, phong tục và sinh hoạt văn hóa cộng đồng tại chùa Kédol, nhất là vào các dịp lễ hội, thu hút sự tham gia của đông đảo cư dân địa phương và khách tham quan.
- Phước Lâm Tự (chùa Vĩnh Xuân): Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Phước Lâm Tự, mà lâu nay dân gian vẫn quen gọi là chùa Vĩnh Xuân, tọa lạc tại khu phố 2, phường 1, thị xã Tây Ninh, nằm cạnh chân cầu Quan. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Tây Ninh bởi tính đến năm 2021, chùa đã tròn 140 năm tuổi. Chùa Vĩnh Xuân được tổ sư Phước Chí cùng tín đồ, phật tử và nhân dân địa phương xây dựng vào năm Nhâm Thân (1871) để làm nơi dừng chân cho bá tánh và tăng ni, Phật tử đi viếng chùa Bà Đen. Chùa xây bằng gạch, cột gỗ tròn, mái lợp ngói, gồm 3 lớp nhà với 5 gian có tiền sảnh, mặt hướng phía đông cùng hồ sen và tượng phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát đứng lộ thiên. Tại đây, còn lưu giữ nhiều tượng phật cổ, các họa tiết trang trí được điêu khắc bằng gỗ tinh xảo, nhiều câu đối có tuổi trên 100 năm. Đây là ngôi chùa được chọn làm trung tâm của giáo hội Phật giáo Tây Ninh qua nhiều thời kỳ. Cho đến ngày nay, chùa Vĩnh Xuân vẫn thu hút khá đông bà con trong tỉnh và khách thập phương đến tham quan, lễ Phật vào những dịp lễ tết.
- Di tích văn hóa khảo cổ:
Lãnh thổ Tây Ninh có lịch sử phát triển từ lâu đời nên cho đến nay đã có khá nhiều di tích, di vật của những lớp cư dân cổ đầu tiên đến khai hoang, lập nghiệp trên mảnh đất này được các nhà khảo cổ học phát hiện. Các di tích khảo cổ phân bố rộng khắp địa bàn tỉnh và rải rác ven sông Sài Gòn – vùng giáp ranh tỉnh Bình Dương. Bên cạnh những di tích đã biết thì vào tháng 08/2019, Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học (thuộc Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ) kết hợp với Bảo tàng tỉnh Tây Ninh đã tiến hành khảo sát và phát hiện thêm 15 di tích mới (3 di tích ở huyện Bến Cầu, 12 di tích ở huyện Trảng Bàng). Trong số các di tích khảo cổ đã được tìm thấy ở Tây Ninh, có 6 di tích được xếp hạng (tính đến hết năm 2022), bao gồm 3 di tích cấp quốc gia: tháp cổ Bình Thạnh (xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng), tháp Chót Mạt (xã Tân Phong, huyện Tân Biên), Di tích khảo cổ học Gò Cổ Lâm (xã Thanh Điền, huyện Châu Thành), và 3 di tích cấp tỉnh: chùa Gò Cao Sơn (xã Phước Trạch, huyện Gò Dầu), Di chỉ khảo cổ học đá mới gò Dinh Ông (xã An Thạnh, huyện Bến Cầu), Bến Đình (xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu). Mỗi di tích đều là một công trình nghệ thuật độc đáo, mang những sắc thái và dấu ấn lịch sử riêng biệt, không chỉ có giá trị về mặt khảo cổ mà còn là điểm đến ngày càng hấp dẫn đối với khách du lịch. Tuy nhiên, do tác động của thời gian cùng sự quan tâm chưa đúng mức của chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan mà hiện nay, phần lớn các di tích khảo cổ đã và đang có dấu hiệu xuống cấp, không còn giữ được nguyên trạng. Chính vì vậy, tỉnh vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh công tác tôn tạo, phục chế các di tích này nhằm bảo tồn nguồn di sản vô giá của dân tộc.
- Tháp cổ Bình Thạnh: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Tháp Bình Thạnh nằm trên một gò đất cao xung quanh là đồng ruộng, ở phía hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, thuộc ấp Bình Phú, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng. Đây là một trong những di tích kiến trúc cổ hiếm hoi còn nguyên vẹn ở Nam Bộ, tiêu biểu cho kiến trúc thời kỳ hậu nền văn hóa Óc Eo, có niên đại xây dựng vào khoảng thế kỷ VIII sau Công nguyên.
Trước đây, liền kề tháp Bình Thạnh còn có 3 ngôi tháp khác nhưng các tháp này hiện đã sụp đổ, chỉ còn lại nền móng nằm dưới lòng đất. Tòa tháp cổ được xây dựng bằng hai loại vật liệu chính là gạch thẻ và đá phiến với hình dáng gần giống như các tháp Chăm nổi tiếng ở miền Trung nước ta. Chân tháp có hình vuông, mỗi cạnh rộng 5 m, tháp cao 10 m, đỉnh tháp nhọn, tường rất dày với các lớp gạch được xếp chồng khít lên nhau gần như không có khe hở. Các mặt tháp quay ra 4 hướng đông, tây, nam, bắc. Mặt chính của tháp ở phía đông có gắn một tấm phù điêu bằng đá phiến hình chữ nhật được chạm nổi hình hoa cúc cách điệu. Ba mặt tháp đều được chạm khắc, đắp nổi các họa tiết trang trí rất tinh xảo.
Với vai trò quan trọng trong di sản kiến trúc dân tộc, tháp cổ Bình Thạnh đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 2003. Đến năm 2008, công trình đã được đầu tư trùng tu, phục chế lại nguyên bản. Hằng năm, tháp Bình Thạnh thường đón các nhà nghiên cứu, một số khách vãng lai đến tham quan và được rất đông nhân dân trong vùng đến thắp hương, cúng viếng vào những dịp lễ tết.
- Tháp Chót Mạt:
Tháp Chót Mạt tọa lạc trên một gò đất đắp cao giữa cánh đồng, ngày nay thuộc ấp Xóm Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên. Tháp được xây dựng khoảng thế kỷ thứ VIII, thuộc nền văn hóa Óc Eo, hiện là một trong 3 đền tháp còn lại ở Nam Bộ (cùng với tháp Bình Thạnh ở Trảng Bàng, tháp Vĩnh Hưng ở Bạc Liêu). Năm 2003, tháp Chót Mạt đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.
Kiến trúc tháp cũng gần giống như tháp Bình Thạnh và các tháp Chăm ở miền Trung khi được xây bằng gạch khổ lớn và đá phiến, bình diện tháp hình vuông 5 × 5 m, đỉnh nhọn cao trên 10 m. Các mặt vách thẳng và dày với những vỉa gạch được xếp chồng khít lên nhau, trên bề mặt có chạm nổi hình người, hoa lá cách điệu và nhiều hoa văn trang trí tinh xảo. Tháp quay ra đúng hướng đông, tây, nam, bắc nhưng mỗi chiều kiến trúc đều bị hư hại mất gần phân nửa. Do đó, vào năm 2013, tỉnh đã quyết định phê duyệt và triển khai dự án trùng tu, phục hồi, bảo tồn di tích tháp Chót Mạt. Hiện nay, khu di tích đã có diện mạo mới, khang trang hơn với ngôi tháp nổi bật giữa khuôn viên cây xanh, tất cả đều có tường rào bảo vệ. Nhìn chung, tháp Chót Mạt vừa có sức hấp dẫn đối với khách tham quan vừa phục vụ tốt công tác nghiên cứu khoa học về nền văn minh Óc Eo trên đất Tây Ninh. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Di tích hỗn hợp:
Đây thực chất là những danh lam thắng cảnh, hoặc di tích kiến thúc nghệ thuật vốn có từ lâu đời ở địa phương. Tuy nhiên, do chúng trải qua các thời kỳ hay gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng nên cùng lúc mang cả hai giá trị: lịch sử và danh thắng hoặc lịch sử và kiến trúc. Chính vì vậy, các di tích này được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh xếp vào loại hình di tích hỗn hợp, chẳng hạn như hai di tích lịch sử – kiến trúc cấp tỉnh: đình Thanh Phước (huyện Gò Dầu), chùa Phước Lưu (huyện Trảng Bàng). Đặc biệt, Tây Ninh còn sở hữu một quần thể di tích lịch sử văn hóa và danh thắng cấp quốc gia vô cùng độc đáo là núi Bà Đen (thị xã Tây Ninh) – biểu tượng của mảnh đất và con người Tây Ninh. Với khả năng thu hút đến hơn 2,0 triệu lượt khách tham quan trong nước cũng như quốc tế mỗi năm, Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen là một tài nguyên nhân văn vô giá, đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch nói chung của tỉnh Tây Ninh.
Quần thể di tích núi Bà Đen trải rộng trên diện tích 24 km2, gồm 3 ngọn núi tạo thành: núi Heo, núi Phụng và núi Bà Đen. Trong đó, với độ cao 986 m, núi Bà Đen (hay núi Điện Bà, Vân Sơn, núi Một) là ngọn núi cao nhất vùng Nam Bộ, nằm cách trung tâm thị xã Tây Ninh 11 km về phía đông bắc, thuộc địa phận 2 xã Ninh Sơn và Thạnh Tân. Đây là một quần thể di tích lịch sử – văn hóa và danh thắng gắn với nhiều truyền thuyết, tín ngưỡng dân gian và được đánh giá là vùng đất tâm linh vào bậc nhất ở khu vực Nam Bộ. Núi Bà Đen cũng từng là căn cứ địa vững chắc của quân dân Tây Ninh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Năm 1989, núi Bà Đen đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.
Ngày nay, khu du lịch núi Bà Đen không chỉ thu hút khách thập phương nhờ phong cảnh núi non hùng vĩ, hữu tình, nhiều hang động đẹp mà còn bởi sự linh thiêng của những ngôi chùa, am miếu thờ Phật, các vị thần tiên và những chiến sĩ cách mạng cùng nhiều truyền thuyết mang đậm sắc màu huyền thoại về nàng Lý Thị Thiên Hương – tức Bà Đen, người được vua Gia Long sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu. Trên núi hiện có khá nhiều hang động được các tăng ni, Phật tử sửa chữa làm nơi thờ tự như động Kim Quang, động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Thiên Thai,… Tuy nhiên, điểm nhấn đáng chú ý nhất của Khu du lịch núi Bà Đen chính là hệ thống chùa chiền, đền thờ phân bố dày đặc từ chân núi lên đến Điện Bà như chùa Hạ, chùa Trung, chùa Ông (Linh Sơn Tiên Thạch Tự), chùa Hang,… Tất cả đều được tôn tạo hoặc xây dựng lại khang trang từ các năm 2005, 2007. Trước đây, khi đến tham quan núi Bà Đen, khách du lịch chỉ có một lựa chọn duy nhất là chinh phục quãng đường từ núi chân núi lên đến Điện Bà bằng đường bộ. Nhưng kể từ khi hệ thống cáp treo và máng trượt chính thức đi vào hoạt động vào các năm 2008 và 2012, thì việc lên xuống núi Bà trở nên dễ dàng hơn, nhất là đối với những du khách lớn tuổi. Khu du lịch núi Bà Đen cũng là nơi đầu tiên trên cả nước áp dụng mô hình cáp treo và máng trượt phục vụ khách tham quan.
Với những thế mạnh vốn có cùng sự đầu tư nghiêm túc của chính quyền địa phương, núi Bà Đen đã trở thành khu du lịch trọng điểm của Tây Ninh. Hằng năm, núi Bà thu hút trên 2,0 triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, lễ Phật, tập trung chủ yếu vào các mùa lễ hội như Hội xuân Núi Bà (tháng Giêng), lễ vía Bà (mùng 4, 5 và 6 tháng 5 âm lịch) và Đại lễ Hội yến Diêu Trì Cung của đạo Cao Đài (rằm tháng 8 âm lịch). Đặc biệt, quần thể di tích lịch sử – văn hóa và danh thắng núi Bà Đen hiện đã được Chính phủ phê duyệt là một trong 46 Khu du lịch quốc gia của cả nước, được tập trung đầu tư phát triển trong giai đoạn 2021 – 2030. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Các công trình đương đại:
Số lượng các công trình đương đại ở Tây Ninh không nhiều. Bảo tàng Tây Ninh là công trình đáng chú ý nhất trong số các công trình đương đại ở địa phương. Đây là nơi sưu tầm, lưu giữ hàng nghìn hiện vật, chứng tích lịch sử cùng vô số phim ảnh, tư liệu rất có giá trị về đất và người Tây Ninh.
Bảo tàng được thành lập ngày 09/09/1980, hiện tọa lạc tại số 446, Đường 30 tháng 4, thị xã Tây Ninh. Qua hơn 32 năm hình thành và phát triển, Bảo tàng đã không ngừng phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm và trưng bày hiện vật lịch sử, kiểm kê và quản lý di tích,…
Hoạt động sưu tầm hiện nay đã chú trọng đến công tác điều tra điền dã, khai quật khảo cổ, thực hiện chuyên sâu nhiều chuyên đề như sưu tập hiện vật trong hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ, các làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa các dân tộc,… Bảo tàng tỉnh Tây Ninh hiện đã sưu tầm và trưng bày trên 12.000 hiện vật các loại, cùng với đó là vô số hình ảnh, phim tư liệu về lịch sử, văn hóa, xã hội của địa phương, rất đa dạng về nội dung, phong phú về thể loại. Bên cạnh đó, Bảo tàng còn chủ động phối hợp với các cơ quan ban ngành, đoàn thể ở địa phương tổ chức những cuộc trưng bày chuyên đề, trưng bày lưu động,… để góp phần giáo dục truyền thống cho mọi tầng lớp dân cư, đồng thời quảng bá những hình ảnh đẹp của vùng đất và con người Tây Ninh đến khách du lịch. Nhờ đó, hằng năm Bảo tàng tỉnh Tây Ninh đã tiếp đón hàng nghìn lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, học tập và nghiên cứu.
- Lễ hội:
Theo kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh – “Khảo cứu các lễ hội ở Tây Ninh và định hướng phát triển, quản lý” do Trung tâm Văn hóa tỉnh thực hiện trong giai đoạn 2014 – 2017, thì trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có gần 400 lễ hội các loại, bao gồm 3 loại: lễ hội dân gian (lễ hội của người Kinh, lễ hội của dân tộc ít người), lễ hội tôn giáo (lễ hội đạo Cao Đài, Phật giáo, Thiên chúa giáo) và lễ hội lịch sử cách mạng. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Với 78 đình, dinh, đền, miếu và điện đang hoạt động, toàn tỉnh có 101 lễ hội dân gian cổ truyền, trong đó lễ hội miếu đứng đầu với 45 lễ hội, tiếp theo là lễ hội đình với 42 lễ hội (số liệu của cuộc Tổng điều tra di sản văn hoá phi vật thể tại Tây Ninh năm 2019). Đa số các lễ hội này ngoài việc tập trung vào lễ chính là lễ Kỳ Yên thì còn tổ chức các lễ phụ (Cầu bông, Khai hạ, Tống ôn, Niêm ấn). Cùng với đó là những lễ hội dân gian mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer (tết cổ truyền Chol Chnam Thmay, lễ hội Sene Dolta, lễ hội Ok Om Bok), Chăm (Ramadan, Haji, Maulua) hay của người Hoa (lễ vía Quan Thánh Đế Quân, lễ vía Bà Thiên Hậu),…
Tuy có số lượng lễ hội vào loại khá nhưng do Tây Ninh là vùng đất được khai phá muộn hơn so với nhiều tỉnh thành khác ở Nam Bộ nên có ít thiết chế văn hóa dân gian, dẫn đến việc chất lượng lễ hội không cao. Tuy nhiên, Tây Ninh lại sở hữu các lễ hội lịch sử cách mạng mang tầm vóc quốc gia và những lễ hội tôn giáo vô cùng đặc sắc. Điển hình và tiêu biểu nhất là Hội xuân Núi Bà – một trong 5 lễ hội có thời gian tổ chức kéo dài (trong suốt tháng Giêng) và quy mô lớn nhất cả nước. Kế đến là các lễ hội của đạo Cao Đài tiêu biểu cho tín ngưỡng bản địa và việc bảo tồn những giá trị văn hóa phi vật thể như Đại lễ Vía Đức Chí Tôn, Hội yến Diêu Trì Cung,… Hằng năm, các lễ hội này luôn thu hút một lượng lớn du khách thập phương đến tham quan, thưởng ngoạn.
Dù là cổ truyền hay hiện đại thì hầu hết những lễ hội trên địa bàn tỉnh đều mang tính chất hướng về nguồn cội, có tác dụng cân bằng đời sống tâm linh của con người và cố kết cộng đồng. Hơn hết, các lễ hội đã và đang góp phần bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì mang nhiều sắc thái địa phương riêng biệt, độc đáo và hấp dẫn, lại có nhiều ý nghĩa to lớn nên lễ hội đã trở thành một nguồn tài nguyên nhân văn quan trọng, đóng góp đáng kể vào sự phát triển của ngành du lịch tỉnh nhà.
- Hội xuân Núi Bà:
Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen lại thu hút hàng triệu lượt khách từ khắp mọi miền đất nước và du khách quốc tế đến hành hương, du ngoạn và dự Hội xuân Núi Bà. Lễ hội bắt đầu từ chiều 30 Tết và kéo dài suốt cả tháng Giêng (âm lịch) nhưng chính lễ là hai đêm 18, 19 tháng Giêng.
Khách tham quan đa phần đến từ TP.HCM, các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Họ hành hương về đây để vui chơi, chiêm ngưỡng cảnh đẹp thiên nhiên và cúng bái, thắp hương dâng Bà, cầu nguyện mọi sự bình an, tốt lành cho bản thân, gia đình, bạn bè,… trong năm mới. Trong dịp này, du khách cũng thường xin nhà chùa những gói giấy đỏ bên trong đựng một nhúm gạo hoặc tiền lẻ, coi như xin lộc Bà đầu năm để cầu mong gặp nhiều điều may mắn, làm ăn phát tài, phát lộc. Đặc biệt, sau khi cúng viếng tại Điện Bà, khách tham quan có thể ra khu vực sảnh tiếp khách của nhà chùa để nghỉ ngơi và được thết đãi cơm chay miễn phí với nhiều món ăn ngon, hấp dẫn. Có thể nói, Hội xuân Núi Bà là một trong những dịp lễ hội quan trọng nhất trong năm ở Tây Ninh, góp phần đáng kể vào sự phát triển của ngành du lịch tỉnh nhà, nhất là du lịch văn hóa.
- Lễ vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Bên cạnh hội xuân thì lễ vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu vào các ngày mùng 4, 5, 6 tháng 5 âm lịch hằng năm cũng là một lễ hội quan trọng ở núi Bà Đen. Trong đó, lễ tắm và thay áo cho Bà diễn ra rất tôn nghiêm vào khuya mùng 3, rạng mùng 4. Lúc đó, cửa điện được đóng kín, đèn nến tắt gần hết chỉ còn lại 6 phụ nữ trung niên (trong đó có 3 ni cô của nhà chùa) thực hiện nghi thức tắm tượng Bà bằng thứ nước nấu từ nhiều loại lá thơm trong rừng. Sau khi tắm và thay áo mới cho Bà xong, những người phụ nữ thắp một lần hương nữa, thắp sáng lại đèn nến rồi mở cửa điện để đón các thiện nam, tín nữ vào thắp hương cầu khấn Bà. Suốt ngày mùng 4, tại Điện Bà diễn ra các lễ hội dân gian như hát tuồng, múa dâng bông, dâng mâm ngũ sắc,… Mùng 5 là ngày tiến hành lễ vía Bà chính thức với nghi lễ quan trọng – lễ “Trình thập cúng”, các vị sư thay nhau tụng kinh liên tục trước bàn thờ Bà, đây cũng là ngày lễ hội đông vui nhất. Ngày mùng 6 dành cho việc cúng các cô hồn và chẩn tế cho bá tánh. Những ngày sau đó du khách thập phương vẫn tiếp tục đổ về thăm núi Bà và hành lễ, dâng hương ở Điện Bà.
- Đại lễ Vía Đức Chí Tôn:
Theo quan niệm của đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn chính là Ngọc Hoàng Thượng Đế – đấng tạo hóa của vạn vật trong càn khôn vũ trụ và được các tín đồ tôn kính gọi là đấng cha hiền (Đại từ phụ) của nhân loại. Từ đó, vào ngày mùng 9 tháng Giêng (âm lịch) hằng năm, tôn giáo này tổ chức Đại lễ Vía Đức Chí Tôn để bày tỏ lòng sùng kính đối với Đại từ phụ của vạn linh, đồng thời cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an vào đầu năm mới. Chương trình lễ thường bắt đầu bằng màn trình diễn múa lân – sư – rồng, sau đó các tín đồ Cao Đài trong trang phục áo dài trắng truyền thống diễu hành quanh sân Đại Đồng Xã đến trước nhà thờ Đức Chí Tôn để thực hiện nghi thức cúng viếng, cầu nguyện. Đến tham gia lễ hội, du khách còn được dịp chiêm ngưỡng nhiều mô hình triển lãm của các họ đạo trong và ngoài tỉnh, nội dung xoay quanh những tấm gương tốt đẹp về đạo làm người, những truyền thuyết, sự tích về các danh nhân, danh tướng, các vị anh hùng dân tộc,… Lễ vía Đức Chí Tôn là một trong những nghi lễ quan trọng nhất của đạo Cao Đài, thu hút sự quan tâm của có chính quyền, nhân dân địa phương, khách du lịch hội xuân và hơn 30.000 chức sắc, chức việc, tín đồ Cao Đài trong và ngoài nước về dự mỗi năm.
- Đại lễ Hội yến Diêu Trì Cung:
Theo tín ngưỡng của đạo Cao Đài, cùng với đấng cha hiền thì nhân loại còn có đấng mẹ hiền (Đại từ mẫu) là Đức Diêu Trì Kim Mẫu (hay Đức Phật Mẫu). Do đó, ngoài Đại lễ Vía Đức Chí Tôn thì vào rằm tháng 8 hằng năm, tôn giáo này còn tổ chức lễ vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu, tức Đại lễ Hội yến Diêu Trì Cung, với quy mô lớn.
Vào dịp Đại lễ, những gian trưng bày xung quanh khu vực Báo Ân Từ thu hút rất đông mọi người đến tham quan, thưởng lãm. Đây là nơi các họ đạo, tỉnh đạo chuẩn bị những phẩm vật được tạo hình rồng phượng, tiên nữ,… đẹp mắt và công phu từ các loại trái cây, rau quả, bánh kẹo để dâng lên Đức Phật Mẫu, Cửu vị Tiên Nương kết hợp trang trí đèn hoa lấp lánh. Sau Đại lễ đêm rằm tháng 8, những phẩm vật này sẽ được mang đến Trai đường phát cho các em thiếu nhi vào sáng hôm sau.
Phần hội được đánh giá là hấp dẫn nhất, thường bắt đầu từ lúc 18 giờ 30 phút ngày 15/08 (âm lịch), gồm các tiết mục rước Cộ bông Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương, múa Long Mã, Tứ linh. Khi đám rước đi hết ba vòng quanh sân Đại Đồng Xã là khoảng 21 giờ. Lúc này, tại Báo Ân Từ, các chức sắc, tín đồ Cao Đài tổ chức cúng Đại lễ một cách trang trọng. Tuy chỉ gói gọn trong hai ngày (14, 15 tháng 8 âm lịch) nhưng Hội yến Diêu Trì Cung có sức lan tỏa rất rộng trong cộng đồng khi thu hút hàng vạn tín đồ Cao Đài về hành hương, cùng sự tham dự của đông đảo khách tham quan đến từ khắp mọi miền đất nước và du khách quốc tế. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học:
Nằm trong vùng Đông Nam Bộ – nơi hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn hóa, lại là địa bàn sinh sống của 22 dân tộc anh em còn gìn giữ gần như nguyên vẹn những phong tục tập quán, thói quen ăn uống sinh hoạt, trang phục truyền thống,… nên Tây Ninh sở hữu không ít các đối tượng du lịch độc đáo gắn với dân tộc học. Các giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu về phương diện dân tộc học có tiềm năng khai thác phục vụ du lịch ở địa phương là: những nét văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Khmer, Chăm và Hoa sinh sống trên địa bàn, nghệ thuật đờn ca tài tử và nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người dân Tây Ninh.
- Khái quát văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Khmer ở Tây Ninh:
Từ lâu, người Khmer đã chung sống với cộng đồng các dân tộc khác trên đất Tây Ninh. Vào cuối thế kỷ XIX, Tây Ninh gồm 10 tổng, 72 làng, trong đó có 4 tổng người Khmer với 25 làng. Khi ấy, địa bàn cư trú của họ chưa ổn định bởi những tổng người Khmer đều tập trung rải rác ở các vùng biên giới của tỉnh. Kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, cộng đồng người Khmer ở Tây Ninh không ngừng phát triển, đạt 8035 người/1628 hộ vào cuối năm 2021. Phần lớn họ sống tại các xã: Hòa Hiệp (huyện Tân Biên), Tân Đông (huyện Tân Châu), Hòa Thạnh (huyện Châu Thành), Suối Đá (huyện Dương Minh Châu) và Trường Tây, Trường Hòa (huyện Hòa Thành). Trong sinh hoạt gia đình hằng ngày, họ vẫn sử dụng tiếng nói riêng của dân tộc mình, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, ngữ hệ Nam Á.
Cũng giống như đồng bào Khmer Nam Bộ, người Khmer ở Tây Ninh từ trước đến nay chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp với nghề trồng lúa là chính. Ngoài ra, họ còn duy trì và phát triển một số ngành nghề thủ công truyền thống như nghề làm gốm, đan lát. Nghề gốm thường được tiến hành vào thời điểm nông nhàn trong mùa khô, chủ yếu do phụ nữ đảm trách. Tuy chỉ mang tính chất hộ gia đình với quy mô nhỏ, lại không dùng kỹ thuật bàn xoay để tạo hình cho sản phẩm mà chủ yếu dùng tay vuốt kết hợp với hòn kê, cây đập nhưng sản phẩm gốm của họ cũng khá tinh xảo và đa dạng như nồi, ấm, cà ràng,…
Người Khmer ở Tây Ninh theo đạo Phật dòng Tiểu thừa. Với họ, chùa là nơi sinh hoạt tôn giáo tâm linh, nơi lưu trữ các thư tịch cổ, đồng thời cũng là nơi truyền đạo lý Phật giáo, học chữ mẹ đẻ và đạo lý làm người. Mặc khác, chùa còn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, văn nghệ và các trò chơi dân gian. Có thể nói, mọi sinh hoạt của đồng bào người Khmer ở Tây Ninh luôn gắn liền với chùa chiền. Vì vậy, ngôi nhà ở của người dân tre lá đơn sơ bao nhiêu thì các ngôi chùa của họ lại lộng lẫy bấy nhiêu. Trên địa bàn tỉnh hiện tồn tại khá nhiều điểm chùa với lối kiến trúc đặc trưng cho trường phái Nam tông Khmer tập trung ở huyện Châu Thành như chùa Sát Rát (xã Ninh Điền), chùa Phum Ma (xã Thành Long), chùa Phước Quang (hay chùa Hiệp Phước) ở xã Hòa Thạnh,… và huyện Tân Biên (chùa Chung Rút, xã Hòa Hiệp). Nhưng nổi tiếng hơn cả vẫn là chùa Khmer – Kédol ở xã Thạnh Tân (thị xã Tây Ninh). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Những năm gần đây, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng sự đóng góp của các tín đồ Phật giáo nên hầu hết các ngôi chùa Khmer trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã được tôn tạo ngày một khang trang hơn.
Trang phục truyền thống của đồng bào Khmer khá cầu kỳ vì theo họ, trang phục không chỉ để mặc mà còn phải thỏa mãn cả nhu cầu về mỹ thuật, tín ngưỡng và tâm linh. Tùy theo các dịp đặc biệt như lễ hội, lễ cưới,… mà họ lựa chọn cho mình những bộ trang phục truyền thống khác nhau. Trong những ngày lễ tết, người Khmer thường diện trang phục có gam màu chính là màu vàng – màu gợi không khí hội hè, cũng là màu sắc chủ đạo trong kiến trúc tôn giáo truyền thống thường gặp tại các ngôi chùa Phật giáo. Điểm nổi bật trên trang phục truyền thống của người phụ nữ Khmer là bao giờ cũng đính nhiều hạt cườm hay kim sa sáng lấp lánh kết hợp với hoa văn tinh xảo trên nền các gam màu vô cùng sặc sỡ.
Các lễ hội dân gian truyền thống của đồng bào Khmer Tây Ninh cũng rất đa dạng với những ngày lễ lớn trong năm như lễ vào năm mới Chol Chnam Thmay, lễ Dolta (lễ cúng ông bà), lễ hội Ok Om Bok (lễ cúng trăng),… Trong các dịp này, người Khmer đều tổ chức lễ cúng tại nhà ban ngày và cúng chùa vào ban đêm. Sau các lễ cúng, mọi người quây quần trước chùa ca hát theo tiếng nhạc dân tộc cùng điệu múa Lâm Thôn truyền thống. Đặc biệt, người Khmer ở địa phương cũng có những loại bánh cổ truyền độc đáo như cốm dẹp, bánh ống, bánh gừng, bánh cống,… Đây là những món ăn dân dã nhưng rất ngon và được làm khá công phu, nhất là vào các dịp lễ hội, từ lâu đã trở thành nét văn hóa ẩm thực độc đáo của người dân Khmer Nam Bộ.
Như vậy, tuy có số lượng không đáng kể nhưng cho đến ngày nay, cộng đồng người Khmer ở Tây Ninh vẫn còn gìn giữ gần như đầy đủ những nét văn hóa đặc trưng của đồng bào Khmer Nam Bộ. Đây chính là một nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đầy tiềm năng, có thể góp phần đa dạng hóa những sản phẩm du lịch văn hóa ở địa phương nếu các đơn vị kinh doanh lữ hành biết cách khai thác hợp lý, cùng với đó là công tác quản lý, bảo tồn và phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa truyền thống của người Khmer từ các sở, ban ngành có liên quan.
- Khái quát văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Chăm ở Tây Ninh:
Dân tộc Chăm đã từng có một vương quốc Champa độc lập và hùng mạnh, tồn tại liên tục qua các thời kỳ lịch sử từ năm 192 đến năm 1832. Tuy nhiên, do trải qua những thăng trầm của lịch sử, những biến cố xã hội mà chủ yếu là do chiến tranh và mẫu thuẫn nội bộ, cộng đồng người Chăm bị ly tán và trôi dạt dần đến nhiều tỉnh thành phía nam nước ta, trong đó có Tây Ninh. Trước đây, ở Tây Ninh chỉ có khoảng 100 người Chăm, cư ngụ ở làng Đông Tác (nay là phường 1, thị xã Tây Ninh). Đến nay, cộng đồng người Chăm ở địa phương đã phát triển lên đến hơn 3.300 người, sống tập trung tại các cụm dân cư thuộc 2 huyện biên giới Tân Biên, Tân Châu và ở thị xã Tây Ninh. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Malay – Polynesian, ngữ hệ Nam Đảo.
Ngày nay, cộng đồng cư dân Chăm ở Tây Ninh vẫn còn duy trì hình thức xã hội cổ truyền, đó là chế độ mẫu hệ. Theo phong tục, người con gái có quyền đi hỏi chồng và gia đình bên vợ có mọi uy quyền đối với chàng rể, hay khi chết thì di hài của người chết sẽ được chôn vào nghĩa trang của dòng họ mẹ,… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào Chăm có những sắc thái riêng, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa Ấn Độ giáo với văn hóa dân gian và lễ hội truyền thống mang tính bản địa của tộc người Chăm. Phần lớn đồng bào Chăm ở Tây Ninh theo đạo Hồi chính thống, tức Hồi giáo Islam. Tại các điểm dân cư của người Chăm đều có thánh đường được xây dựng kiên cố vì cộng đồng Chăm Islam xem thánh đường là nơi thiêng liêng, chỉ diễn ra các nghi lễ tôn giáo như lễ cầu nguyện, lễ hội Ramadan, Haji,…
Trang phục của người Chăm có lối tạo dáng và trang trí riêng, rất khó lẫn lộn với các tộc người khác trong cùng nhóm ngôn ngữ hoặc khu vực. Phụ nữ Chăm ngoài chiếc áo dài trắng thường đội khăn được thêu dệt hoa văn tinh xảo, khăn quấn gọn trên đầu hoặc quàng từ đầu rồi phủ kín vai. Đàn ông lớn tuổi thường để tóc dài, quấn khăn trắng có thêu hoa văn ở các mép, hai đầu khăn có nhiều tua vải. Nam mặc áo ngắn sáng màu, cổ tròn, xẻ ngực hoặc cài cúc, cộc tay kết hợp với váy hoặc quần. Có thể thấy, dân tộc Chăm là một trong số ít các tộc người ở nước ta nam giới còn mặc váy, thể hiện phong cách thẩm mỹ vô cùng độc đáo.
Những năm gần đây, để nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho đồng bào Chăm, lãnh đạo tỉnh Tây Ninh đã chủ động tập trung đầu tư phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng tại các địa phương có cộng đồng người Chăm sinh sống và xây dựng hai Nhà văn hóa dân tộc Chăm tại phường 1 (thị xã Tây Ninh) và xã Suối Dây (huyện Tân Châu). Đặc biệt, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh cũng thường xuyên tổ chức các sân chơi văn hóa, văn nghệ lớn như “Liên hoan văn hóa các dân tộc” (được tổ chức 2 năm một lần tại Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh), “Liên hoan ca múa nhạc truyền thống”,… Đây là những dịp không thể thuận lợi hơn để đồng bào Chăm nói riêng và đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh nói chung có cơ hội gặp gỡ, giao lưu và quảng bá những nét đẹp văn hóa của dân tộc mình đến với mọi người, trong đó có khách du lịch. Với những chính sách dân tộc của Chính phủ cùng nỗ lực của các ban, ngành và tổ chức xã hội trong tỉnh, văn hóa Chăm ở Tây Ninh đang có nhiều cơ hội phát triển trên nền tảng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình.
- Khái quát văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Hoa ở Tây Ninh:
Người Hoa có mặt tại Tây Ninh và các tỉnh thành khác ở Nam Bộ từ giữa thế kỷ XVII, phần lớn họ đều thuộc các nhóm người Triều Châu, Phước Kiến, Quảng Đông và người Hẹ. Hiện nay, cộng đồng người Hoa ở Tây Ninh đã có hơn 4.500 người, họ sống tập trung chủ yếu ở thị xã Tây Ninh và thị trấn Gò Dầu (huyện Gò Dầu).
Khi đến với vùng đất Nam Bộ nói chung và mảnh đất Tây Ninh nói riêng, những di dân người Hoa đã mang theo nhiều hành trang văn hóa từ quê cha đất tổ đến vùng đất mới lập nghiệp. Một trong những hành trang quý giá ấy chính là tín ngưỡng thờ Quan Công – một danh tướng thời Tam quốc ở Trung Hoa. Ông tiêu biểu cho văn hóa tinh thần người Hoa bởi đức tính trung nghĩa, chính trực, hiên ngang, văn võ toàn tài,… Do đó, ngày nay trên địa bàn tỉnh có một số miếu thờ Quan Công (người Việt thường gọi là chùa Ông) của người Hoa như miếu Quan Thánh Đế Quân (tức chùa ông Phước Kiến) và miếu Ngũ Thánh (tức chùa ông Gia Ninh) tọa lạc tại thị xã Tây Ninh, Thất phủ Quan Võ Miếu (hay miếu Thất Phủ) và Minh Nghĩa miếu ở huyện Trảng Bàng. Mỗi năm, lễ vía Quan Thánh được tổ chức vào các ngày 13 tháng Giêng và 13 tháng 5 âm lịch, thu hút đông đảo người dân trong và ngoài tỉnh đến dự. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Song song với tục thờ Quan Thánh Đế Quân còn có một tín ngưỡng dân gian phổ biến của đồng bào Việt gốc Hoa Tây Ninh, đó là tục thờ Bà Thiên Hậu. Bà Thiên Hậu là một nhân vật thần thoại được người Hoa tôn thờ như một nữ thần có quyền năng bảo trợ người di trú lưu thông an toàn theo đường biển. Nơi thờ phụng Bà Thiên Hậu ở nước ta dân gian thường gọi là chùa Bà, tương tự như chùa Ông – nơi thờ Quan Thánh Đế Quân. Tại Thiên Hậu miếu ở thị xã Tây Ninh cũng như Thanh An miếu (huyện Gò Dầu), Nhị Phủ miếu (huyện Trảng Bàng), Gia Gòn miếu (Châu Thành),… lễ vía Bà được tiến hành trong hai ngày 22 và 23 tháng 3 âm lịch hằng năm. Lễ hội diễn ra tưng bừng, trọng thể với với đầy đủ các nghi thức và nhiều loại hình văn hóa cổ truyền (diễn xướng, múa lân – sư – rồng, ca múa dân gian,…) cùng sự tham gia của đông đảo bà con người Việt gốc Hoa đang sinh sống trong tỉnh.
Ngày nay, những dấu vết ban đầu của lưu dân người Hoa vẫn còn lưu lại ở các khu phố cổ nằm hai bên chợ cũ Tây Ninh và đường Cách Mạng Tháng 8 (xưa là phố Gia Long), ở xã Long Giang (huyện Bến Cầu) cũng có một xóm người Hoa gọi là xóm Khách. Khu phố Gia Long giờ đã thay đổi nhiều, hai bên đường xuất hiện nhiều tòa nhà cao tầng, mặt đường rộng rãi, xe cộ qua lại nhộn nhịp hơn. Tuy nhiên lẫn khuất đâu đó vẫn còn một số ngôi nhà nhỏ, cổ kính theo lối kiến trúc Trung Hoa, mái lợp ngói âm dương. Đặc biệt, trên phố vẫn còn sót lại một vài cửa hiệu quen thuộc của người Hoa như tiệm điện tử Đại Thành, tiệm ăn Quảng Hải, tiệm xe đạp Liêu Văn Ân,… Ngoài ra, khi đến với phố Gia Long, thực khách sẽ có cơ hội thưởng thức nhiều món ăn mang đậm nét văn hóa ẩm thực Trung Hoa như hoành thánh mì, hủ tíu mì, bánh bao xá xíu, vịt quay,…
Như vậy, kể từ những ngày đầu đặt chân lên lãnh thổ Tây Ninh đến nay, đồng bào người Hoa đã có nhiều đóng góp đáng kể cho công cuộc khai phá, hình thành và phát triển vùng đất này. Và khi hòa nhập với cộng đồng các dân tộc ở địa phương, người Hoa với những nét đặc trưng về phong tục, tín ngưỡng, ẩm thực,… đã rất tích cực trong quá trình giao lưu văn hóa Việt – Hoa giúp diện mạo văn hóa Tây Ninh trở nên đa dạng như ngày nay.
- Khái quát về nghệ thuật đờn ca tài tử ở Tây Ninh:
Nghệ thuật đờn ca tài tử có thể được xem là sự kế thừa, tích hợp giá trị âm nhạc cung đình, dân gian cùng sự giao lưu, tiếp biến các yếu tố văn hóa của người Khmer, Hoa và phương Tây. Loại hình nghệ thuật này bắt đầu được truyền bá vào Tây Ninh từ những năm đầu thế kỷ XX theo ba con đường: thông qua việc truyền bá của những nghệ nhân đờn ca tài tử Tây Ninh vốn là môn sinh của nhạc sư Nguyễn Quang Đại (tức nghệ nhân Ba Đợi); thông qua khách thương hồ và từ những nghệ nhân vùng Ngũ Quảng theo bước chân ông Đặng Văn Trước đến làng Bình Tịnh (Trảng Bàng ngày nay) lập nghiệp, tiêu biểu là gia tộc họ Đỗ. Gia tộc này đều là những người tài hoa, am hiểu nghệ thuật cổ truyền. Sau khi định cư ở Tây Ninh, các thành viên của gia tộc đã kết hợp nghệ thuật cổ truyền ở quê hương với nhạc lễ Nam Bộ, học bài bản tài tử Nam Bộ để trở thành những nghệ nhân đờn ca tài tử nổi tiếng như Đỗ Văn Lá (Chín Lá), Đỗ Văn Hảo (Chín Hảo), Đỗ Văn Rỡ, soạn giả Đỗ Thanh Hiền – nguyên Trưởng đoàn Cải lương Tây Ninh,… Riêng các môn đệ đầu tiên của nhạc sư Nguyễn Quang Đại như Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Diêu sau khi gia nhập đạo Cao Đài đã truyền bá nghệ thuật đờn ca tài tử trong đạo, biến đờn ca tài tử thành âm nhạc tôn giáo, phục vụ lễ nghi tôn giáo. Cùng lúc đó, ở nhiều địa phương khác trong tỉnh như Trảng Bàng, Gò Dầu, Châu Thành cũng có nhiều nghệ nhân đờn ca tài tử tiếng tăm, việc truyền nghề và giao lưu đờn ca tài tử diễn ra khá rầm rộ. Có thể nói, những năm 1930 đến 1960 là giai đoạn đờn ca tài tử phát triển mạnh mẽ, phổ biến ở Tây Ninh. Trong giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phong trào đờn ca tài tử – vọng cổ ở Tây Ninh vẫn phát triển mạnh mẽ ở các vùng kháng chiến và ngay trong những vùng địch tạm chiếm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Từ sau ngày đất nước thống nhất, nghệ thuật đờn ca tài tử Tây Ninh phát triển có lúc thăng trầm, cực thịnh trong giai đoạn 1976 – 1986 và thoái trào trong những năm 1987 – 2010. Từ năm 2011 đến nay, Đảng và chính quyền các cấp ở Tây Ninh đã tạo mọi điều kiện để đờn ca tài tử được phục hồi. Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể ở Tây Ninh năm 2019, trên địa bàn tỉnh hiện có gần 100 câu lạc bộ, đội nhóm đờn ca tài tử và hàng nghìn tài tử đờn, tài tử ca. Trong đó, Trảng Bàng – vùng đất tập trung nhiều hậu duệ nối nghiệp gia tộc họ Đỗ – vẫn là huyện có phong trào đờn ca tài tử mạnh nhất trong tỉnh, nơi cung cấp nhiều nghệ sĩ cho sân khấu cải lương Tây Ninh và TP.HCM, góp phần vào sự lớn mạnh của phong trào đờn ca tài tử Nam Bộ. Tại những cuộc liên hoan, hội thi đờn ca tài tử – nhạc lễ khu vực và quốc gia, các tiết mục tham gia của đoàn Tây Ninh luôn được đánh giá cao. Như vậy, có thể khẳng định rằng, sau khi trải qua biết bao thăng trầm, cho đến nay đờn ca tài tử vẫn là loại hình nghệ thuật được rất nhiều người yêu thích ở Tây Ninh.
- Những nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực Tây Ninh:
Ngoài những di tích lịch sử – văn hóa và các lễ hội tôn giáo hấp dẫn thì Tây Ninh còn có một nền văn hóa ẩm thực độc đáo với nhiều đặc sản rất nổi tiếng. Bên cạnh những sản vật trời ban như ốc núi, thằn lằn núi Bà Đen thì nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng một thời gian dài đón nhận nhiều lưu dân Việt từ khắp mọi miền Tổ quốc đến định cư, sinh sống, người dân địa phương đã sáng tạo ra nhiều món ăn ngon, đặc trưng cho đất và người Tây Ninh. Trong số này có thể kể đến một số món ăn, cây trái tiêu biểu như bánh canh, bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, muối tôm, mắm chua, mãng cầu Bà Đen,… và nhiều món ăn chay vừa hấp dẫn, vừa ngon miệng.
- Bánh canh Trảng Bàng:
Món bánh canh đã xuất hiện ở vùng đất Trảng Bàng từ hơn 100 năm trước nhưng đến nay vẫn giữ được hương vị thơm ngon nổi tiếng, khó có nơi nào sánh bằng. Để có được một tô bánh canh Trảng Bàng hấp dẫn, người thợ phải trải qua công đoạn làm bánh rất công phu. Đầu tiên, người ta phải dùng một loại gạo quý, đắt tiền như Nàng Thơm (Chợ Đào) đem ngâm thật kỹ qua một đêm để hạt gạo đạt đủ độ mềm cần thiết. Sau khi ngâm, gạo được đem xay nhuyễn để lấy tinh bột. Công đoạn cuối cùng là tinh bột được đem hấp chín trước khi ép thành những sợi bánh canh trắng muốt.
Mỗi tô bánh canh khi được bày lên bàn cho thực khách phải đảm bảo cả về chất lượng lẫn mỹ thuật. Bánh được trần nước sôi cho mềm rồi trút vào tô, rải đều trên mặt vài lát thịt heo luộc, thêm một hai khoanh giò heo, nêm gia vị hành lá, hạt tiêu vừa đủ, rưới nước mắm cá cơm và chan ngập nước lèo là ta đã được một tô bánh canh bốc khói thơm phức, đầy hấp dẫn. Ở Trảng Bàng, làm và nấu banh canh đã tồn tại lâu đời và là nghề cha truyền con nối. Nổi tiếng khắp vùng có các quán bánh canh Hoàng Minh, Út Huệ, Thanh Tùng,… hiện trở thành những điểm dừng chân quen thuộc của khách du lịch trên quốc lộ 22.
- Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Bánh tráng là món ăn quen thuộc không thể thiếu trong đời sống của người Việt Nam, nhưng bánh tráng phơi sương thì chỉ có ở Trảng Bàng. Để làm ra loại bánh tráng độc đáo này thì từ cách chọn nguyên liệu đến kỹ thuật tráng, nướng và làm dẻo bánh là cả một quy trình chế biến độc đáo.
Đầu tiên, muốn bánh ngon phải dùng gạo nàng Miên – một giống gạo nở xốp ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia, vo sạch, ngâm kỹ và thay nước liên tục trong hai ngày, sau đó xay nhuyễn hai lần cho bột thật mịn. Bột nước sệt được người thợ dùng một mảnh gáo dừa đã mài nhẵn tráng lên tấm vải căng kín miệng, đậy kín một phút, bánh chín trải ra phên đem phơi nắng. Bánh tráng phơi khô sẽ được đem nướng sơ qua lửa than cho phồng rộp. Bánh nướng xong được xếp chồng lên nhau rồi đem phơi sương sớm ở nơi cao ráo, sạch sẽ và thoáng gió. Vậy là được xấp bánh dẻo dính sát vào nhau nhưng vẫn có thể bóc rời ra dễ dàng, không bị rách nát. Bánh tráng phơi sương thường được ăn kèm với thịt heo luộc, cuộn với rau sống chấm nước mắm chua ngọt hoặc mắm chua. Tùy theo sở thích, thực khách có thể thay thế thịt heo bằng cá hấp, cá chiên hoặc các loại hải sản đều rất tuyệt.
- Muối tôm:
Tây Ninh không hề có biển để làm ra muối, cũng chẳng có nguồn tôm đặc sản nhưng mỗi khi nhắc đến văn hóa ẩm thực Tây Ninh thì không thể bỏ qua món muối tôm. Muối tôm nơi đây vẫn nổi tiếng là ngon, được đông đảo bạn bè quốc tế biết đến.
Để làm ra muối tôm cần trải qua nhiều khâu chế biến công phu, phức tạp. Ớt phải chọn những quả tươi ngon nhất được đem xay nhuyễn cùng tôm, rồi mới trộn với muối theo một tỉ lệ thích hợp. Muối tôm ngon hay không phụ thuộc nhiều vào tay nghề của người chế biến và những bí quyết riêng trong cách thêm nguyên liệu, gia vị. Cách thưởng thức muối tôm cũng vô cùng phong phú và đa dạng. Đơn giản nhất là chấm những loại trái cây chua (xoài, ổi, bưởi,…) với muối tôm. Cũng có thể lấy bánh tráng phơi sương chấm hoặc cho muối vào cuốn lại, hoặc cho vào món bánh tráng trộn tạo nên một hương vị cay mặn, thơm thơm khó tả.
Khi đến tham quan Tây Ninh, du khách có thể mua muối tôm ở những gian hàng thực phẩm tại các điểm, khu du lịch hoặc tìm mua ở bất cứ chợ nào trên địa bàn. Đặc biệt, dọc theo quốc lộ 22 và 22B khu vực thị trấn Gò Dầu, Trảng Bàng, muối tôm được bày bán rất nhiều cùng với các loại đặc sản khác (bánh tráng, hạt điều, kẹo đậu phộng, mắm chua,…).
- Mắm chua: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Một món ăn ngon đặc sắc khác của Tây Ninh mà chỉ những cư dân Nam Bộ mới quen ăn và mê nhất, đó là mắm chua. Cách làm mắm chua có lẽ phần nào chịu ảnh hưởng ở người Khmer nhưng được cải tiến đôi chút cho phù hợp với khẩu vị người Việt. Khoảng tháng 9 tháng 10 âm lịch hằng năm là mùa cá tép theo con nước đổ về xuôi. Người ta đi xúc hoặc giăng lưới để bắt tép, cá lòng tong, rễ tre, cá đỏ đuôi,… về làm mắm chua, ngon nhất là cá rễ tre. Cá được rửa sạch ướp với muối hột rang giả nhuyễn, sau đó trộn với thính và đường tán rồi cho vào lọ đậy kín, sau từ 15 – 20 ngày là mắm có thể ăn được. Khi ăn trộn thêm đường cát, tỏi, ớt, hạt tiêu còn tươi cho mắm dịu lại. Tùy theo sở thích của mỗi người mà mắm chua có thể ăn với cơm hoặc bún cùng với rau sống, đậu rồng non,… Đặc biệt, món bánh tráng cuốn thịt luộc chấm mắm chua đã trở thành một đặc sản nức tiếng của vùng đất Trảng Bàng, Tây Ninh.
- Bánh tráng muối tôm và bánh tráng mắm me:
Trong hàng chục loại bánh tráng thuộc nhóm quà vặt xuất xứ từ Tây Ninh, bánh tráng muối tôm và bánh tráng mắm me là hai món ăn chơi có sức hấp dẫn không cưỡng được nếu thực khách đã một lần nếm qua. Bánh tráng muối tôm gồm bánh tráng phơi sương ăn kèm với muối tôm đặc biệt và các nguyên liệu (đậu phộng, hành phi) tạo ra vị mặn, thơm và cay cay khó tả. Thực khách có thể nặn thêm chút nước tắc vào muối tôm trước khi ăn với bánh tráng để gia tăng thêm hương độc đáo của món ăn này.
Còn túi bánh tráng me lại trông khá cầu kỳ với có một ít bánh tráng phơi sương được gấp vuông vắn, vài gói gia vị nho nhỏ gồm bột tôm rang, ớt bột, hành phi, đậu phộng rang giã đôi và một gói nước me sền sệt, chua chua ngọt ngọt. Tùy theo khẩu vị và sở thích của mình, người ăn có thể gia giảm các gói gia vị để pha chế thành một thứ nước chấm hấp dẫn gọi là mắm me. Sau đó, người ăn gỡ từng tờ bánh tráng dẻo kia ra, cuốn lại, chấm mắm me và thưởng thức. Vị chua dịu của nước me chín, vị cay xé của ớt, vị mặn mặn của bánh tráng, tôm rang, vị béo giòn của đậu phộng rang,… tất cả hoà quyện lại tạo nên một thứ hương vị quyến rũ khó thể nào quên.
- Làng nghề thủ công truyền thống: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Trong những năm qua, các ngành nghề sản xuất thủ công ở nông thôn Tây Ninh đã có nhiều thay đổi khi xuất hiện ngày càng nhiều những làng nghề tiểu thủ công nghiệp mới. Mặc dù vậy, những làng nghề thủ công truyền thống vẫn có chỗ đứng vững chắc trên thị trường và trong lòng người dân địa phương.
Theo kết quả khảo sát của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tây Ninh thực hiện năm 2017, ở các vùng nông thôn trong tỉnh có khoảng 30 loại ngành nghề sản xuất thủ công đang hoạt động, bao gồm 12 nhóm nghề: làm bánh tráng, làm muối ớt, chế biến sản phẩm mây tre, làm nhang, làm mộc gia dụng, làm nón lá, rèn, may, sản xuất gạch, cơ khí, chế biến khoai mì và chế biến nông – lâm – thuỷ sản. Trong đó có nhiều làng nghề đã hình thành cách đây hơn 100 năm và được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Điển hình nhất là làng nghề bánh tráng phơi sương được người dân Trảng Bàng thừa hưởng từ thời cha ông đi khẩn hoang, lập ấp ở Tây Ninh vào thế kỷ XVIII, hay nghề rèn Lộc Trác ở xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, ra đời từ cuối thế kỷ thứ 19. Tuy nhiên, nghề thủ công đang phát triển rất mạnh và thu hút lao động nhiều nhất ở Tây Ninh là nghề mây tre đan, tập trung nhiều nhất ở hai huyện Hòa Thành và Trảng Bàng. Ngoài ra, ở Tây Ninh còn có nhiều làng nghề nổi tiếng khác hằng ngày vẫn cho ra những sản phẩm truyền thống mang thương hiệu của địa phương như làng nghề bánh canh Trảng Bàng, làng nghề chằm nón lá (xã Ninh Sơn, thị xã Tây Ninh), làng nghề bánh tráng muối tôm (Gò Dầu, Trảng Bàng, thị xã Tây Ninh) và các làng nghề ở huyện Hòa Thành như nghề mộc gia dụng (xã Hiệp Tân), nghề làm nhang (xã Long Thành Bắc), nghề đúc gang (xã Trường Hòa),…
Từng làng nghề tuy có những nét đặc thù riêng nhưng tất cả đều mang ý nghĩa kinh tế và giá trị nhân văn sâu sắc. Các làng nghề truyền thống đã tạo công ăn việc làm ổn định cho nhiều lao động ở thôn quê, góp phần cải thiện đời sống kinh tế – xã hội và làm thay đổi bộ mặt nông thôn Tây Ninh theo hướng tích cực. Không những vậy, sự đa dạng, phong phú của các làng nghề thủ công truyền thống đang được các công ty lữ hành khai thác theo kiểu kết hợp với những tài nguyên nhân văn có liên quan (như lễ hội, ẩm thực,…) để phục vụ du lịch. Hiện nay, tỉnh đã có quy hoạch nghề và làng nghề, theo đó một số nghề đã và sẽ tiếp tục được đầu tư cải tạo, khôi phục để có thể xây dựng thành những sản phẩm du lịch đặc trưng, có sức hấp dẫn các đoàn khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu.
2.2.1.2. Bảo vệ tài nguyên du lịch nhân văn
Tây Ninh có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn rất đa dạng và phong phú. Trước đây, do chưa hiểu hết giá trị của các di sản từ vật thể đến phi vật thể nên công tác bảo tồn chúng còn bị cơ quan chức năng và người dân địa phương xem nhẹ. Sau này, khi đưa các công trình ấy vào phục vụ mục đích nghiên cứu hay kinh doanh du lịch đã bắt đầu nảy sinh nhiều bất cập, cùng với sự tàn phá của thời gian đã đe dọa sự tồn vong của các di tích và nhiều giá trị văn hóa phi vật thể một cách nghiêm trọng.
Do đó, để đánh giá lại một cách toàn diện tiềm năng du lịch văn hóa tỉnh nhà đồng thời làm cơ sở cho công tác phục hồi, bảo vệ sau này, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kết hợp với Bảo tàng tỉnh Tây Ninh tiến hành rà soát, thống kê và xác lập hồ sơ toàn bộ các di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn. Trong những năm gần đây, nhiều khu di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật đã được trùng tu, tôn tạo như: khu Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, tháp Chót Mạt, tháp Bình Thạnh, đình Hiệp Ninh,… Chính quyền địa phương cũng đã ra sức phục hồi và nâng tầm các lễ hội truyền thống như: Hội xuân Núi Bà, lễ hội Về nguồn tại Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, lễ hội Chiến thắng Tua Hai, Hội thề Rừng Rong,… Những nét văn hóa cổ truyền của đồng bào người Kinh và các dân tộc thiểu số (Khmer, Chăm,…) ngày càng được quan tâm gìn giữ và phát huy thông qua các hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng diễn ra hằng năm. Tỉnh cũng đang xây dựng quy hoạch phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, đẩy mạnh khâu quảng bá sản phẩm nhằm thu hút sự quan tâm của khách du lịch trong và ngoài nước. Với những nỗ lực từ chính quyền và cộng đồng các dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn, nhìn chung đa số các tài nguyên du lịch nhân văn ở Tây Ninh đang trong tình trạng được bảo vệ tốt. Tuy nhiên trong những giai đoạn sắp tới cần tiếp tục chú ý đến công tác phục hồi và gìn giữ nguồn di sản quý giá này, tránh mọi tác động xấu từ sự thiếu ý thức của nhà đầu tư và khách du lịch gây ra.
2.2.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
2.2.2.1. Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông vận tải:
Do địa hình tương đối bằng phẳng nên mạng lưới giao thông vận tải của tỉnh khá phát triển, bao gồm loại hình vận tải đường bộ và đường thủy.
- Đường bộ:
Mạng lưới giao thông đường bộ trên toàn tỉnh dài 4.710,6 km với 2 tuyến quốc lộ, 251 tuyến tỉnh lộ và 2.273 tuyến đường do cấp xã, phường, thị trấn quản lý, đạt mật độ 1,17 km/km2. Quốc lộ 22 – đoạn đầu của tuyến đường xuyên Á qua Việt Nam (dài 28 km, nối liền TP.HCM với cửa khẩu Mộc Bài) và 22B (dài 77 km, từ Gò Dầu đi cửa khẩu Xa Mát) là 2 tuyến giao thông huyết mạch, có ý nghĩa chiến lược không chỉ đối với Tây Ninh mà còn đối với cả nước trong quan hệ kinh tế đối ngoại với Campuchia và củng cố an ninh quốc phòng. Hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ và những tuyến đường nội bộ tại các xã, phường, thị trấn cũng dần được trải nhựa hoặc bê tông hóa. Trong tương lai không xa, khi đường Hồ Chí Minh đoạn Chơn Thành (Bình Phước) – Đức Hòa (Long An) đi qua địa phận tỉnh Tây Ninh được tái khởi động (dự kiến vào năm 2025) và hoàn tất, mạng lưới giao thông đường bộ của tỉnh sẽ càng hoàn thiện, khách tham quan sẽ có thêm một tuyến đường mới rộng rãi, khang trang để đến với Tây Ninh.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhiều doanh nghiệp vận tải chuyên nghiệp liên tiếp ra đời như Đồng Phước, Kim Ngân, Tân Thanh Nhàn, Thùy Linh,… Các doanh nghiệp này đều trang bị hệ thống xe khách chất lượng cao, tiện nghi để phục vụ hành khách, chủ yếu khai thác các tuyến liên tỉnh, nhiều nhất là tuyến Tây Ninh – TP.HCM, về các tỉnh miền Tây Nam Bộ (Bến Tre, An Giang, Cần Thơ, Cà Mau,…), lên Tây Nguyên (TP. Đà Lạt và Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng), thậm chí ra đến các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận,…). Ngoài ra, các loại hình vận tải công cộng như xe bus, taxi cũng xuất hiện và hoạt động nhộn nhịp trên địa bàn kể từ năm 2016. Đến nay, mạng lưới các tuyến xe bus của các hợp tác xã vận tải Đồng Phước, Ngân Long,… đã nối liền nhiều huyện, thị và khu du lịch trong tỉnh, vươn đến tận các xã vùng sâu, các cửa khẩu vùng biên giới. Loại hình taxi hiện đang hoạt động khá hiệu quả, chủ yếu trên địa bàn thị xã Tây Ninh, gồm 2 đơn vị: Mai Linh (83 chiếc) và Ngọc Việt (30 chiếc). Theo kết quả khảo sát của tác giả, tỉ lệ du khách đánh giá cao mạng lưới giao thông và chất lượng các loại hình vận tải đường bộ trên địa bàn chiếm đến 53,0%, số ý kiến chưa hài lòng chỉ chiếm 21,0% (xem biểu đồ 2.1. và phụ lục 4).
Biểu đồ 2.1. Mức độ hài lòng của du khách về mạng lưới giao thông và chất lượng các loại hình vận tải đường bộ tại Tây Ninh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Có thể nói, loại hình vận tải đường bộ đã và đang phục vụ đắc lực cho sự tăng trưởng vững chắc của nền kinh tế Tây Ninh, đồng thời là tiền đề cơ bản thúc đẩy hoạt động du lịch tỉnh nhà phát triển.
- Đường thủy:
Hệ thống giao thông đường thủy trên địa bàn tỉnh dài 670 km, khá thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, hành khách nội tỉnh, liên tỉnh và liên vùng. Quan trọng nhất là các tuyến trên hai hệ thống sông Sài Gòn (hơn 100 km) và sông Vàm Cỏ Đông (157 km). Dọc theo 2 tuyến đường thủy quan trọng này, tỉnh đã quy hoạch 18 vị trí cảng, bến với tổng công suất thiết kế là 17,4 triệu tấn/năm. Ngoài ra, vận tải đường thủy cũng phát triển trên các tuyến kênh quan trọng như kênh Tây (40 km), kênh Đông (30 km), kênh Tân Hưng (28 km), rạch Vịnh (25 km),… Bên cạnh chức năng kinh tế thì các tuyến giao thông đường thủy cũng là một kênh vận chuyển hành khách, phục vụ du lịch đầy tiềm năng nếu tỉnh có những biện pháp khai thác thích hợp trong tương lai.
Ngoài đường bộ và đường thủy, Tây Ninh còn có khả năng phát triển đường hàng không nhờ cơ sở vật chất còn sót lại từ thời kháng chiến chống Mỹ, đó là các sân bay quân sự như Trảng Lớn (xã Thái Bình, huyện Châu Thành), Thiện Ngôn (xã Tân Lập, huyện Tân Biên). Sân bay Trảng Lớn nếu được sửa chữa, chỉnh trang có thể xây dựng thành sân bay cấp 4 – 5, đường băng rộng 25 – 30 m, dài 1.000 m, tiếp nhận được các loại máy bay 50 – 70 chỗ ngồi. Mặt khác, cũng có thể xây dựng bãi đáp cho máy bay trực thăng trên đỉnh núi Bà Đen để phục vụ du lịch.
- Hệ thống thông tin liên lạc:
Hiện nay, gần như tất cả các mạng di động lớn của Việt Nam đã phủ sóng khắp địa bàn tỉnh, kể cả các xã vùng sâu, biên giới. Trong khi đó, mạng lưới Internet ở địa phương cũng không ngừng phát triển với số lượng thuê bao Internet tăng liên tục qua từng năm. Năm 2022, toàn tỉnh có 1.570.510 thuê bao điện thoại (trong đó có 1.465.745 thuê bao di động), tỉ lệ người dân sử dụng Internet đạt 22,0% dân số với 35.387 thuê bao. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Số lượng bưu điện, bưu cục cũng tăng nhanh và phân bố khắp các xã, phường, thị trấn với 154 điểm giao dịch. Các phương tiện và dịch vụ thông tin hiện đại như máy fax, truyền hình kỹ thuật số, chuyển phát nhanh EMS, chuyển tiền nhanh,… trở nên phổ biến, giúp người dân cũng như khách du lịch có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng. Chất lượng các dịch vụ cũng ngày càng được cải tiến, đặc biệt là tốc độ truy cập Internet, tốc độ truyền số liệu, chuyển phát nhanh, chuyển tiền,… đủ khả năng đáp ứng các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân trong tỉnh. Theo kết quả khảo sát thì có đến 43,0% khách du lịch đánh giá cao chất lượng các dịch vụ bưu chính – viễn thông trên địa bàn, số ý kiến chưa hài lòng về dịch vụ này chỉ chiếm 19,0% (xem biều đồ 2.2. và phụ lục 4).
Biểu đồ 2.2. Mức độ hài lòng của du khách về các dịch vụ bưu chính – viễn thông tại Tây Ninh
Sự tiến bộ vượt bậc của ngành bưu chính – viễn thông đã đáp ứng tốt nhu cầu thông tin liên lạc, tạo thuận lợi cho mọi hoạt động trong đời sống kinh tế – xã hội tỉnh nhà. Đây còn là tiền đề quan trọng, có vai trò thúc đẩy quá trình trao đổi, cung cấp thông tin giữa các điểm, khu và tuyến du lịch cũng như quảng bá hình ảnh du lịch địa phương đến du khách trong và ngoài nước.
- Hệ thống cấp điện:
Hiện nay, nguồn điện cho sản xuất và sinh hoạt ở Tây Ninh được cung cấp từ hệ thống điện miền Nam, qua 9 trạm biến áp 110/22 kV với tổng dung lượng 408 MVA, gồm các trạm: Tây Ninh, Khu công nghiệp Trảng Bàng, Thạnh Đức, Bến Cầu, Tân Hưng, Tân Biên, Ximăng Fico Tây Ninh, Bourbon và trạm 220 kV Trảng Bàng 2. Ngoài ra, tỉnh còn có nhà máy thủy điện nhỏ CS2 (công suất 1,5 MW) tại phía hạ lưu cổng số 2, đầu bờ trái kênh Tây của hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng, được vận hành từ cuối năm 2020, đạt sản lượng điện bình quân 2.794 MWh/năm.
Về lưới điện, tính đến tháng 12/2020, toàn tỉnh có 2.254 km đường dây trung thế (vận hành ở cấp điện áp 22kV) và 3.922 km đường dây hạ thế đạt yêu cầu về kỹ thuật và vận hành, đảm bảo sự tổn thất điện năng luôn ở mức thấp nhất. Điện khí hóa nông thôn được đẩy mạnh khi toàn bộ các xã, phường trên địa bàn tỉnh hiện đã được kết nối với lưới điện quốc gia. Tỉ lệ hộ gia đình sử dụng điện lưới quốc gia đến năm 2021 đạt 99,3%.
Trong vài năm tới, tỉnh sẽ tiếp tục đầu tư các trạm biến áp 110 kV ở các huyện Hòa Thành, Châu Thành; trạm 220 kV ở thị xã Tây Ninh cùng mạch hai đường dây 110kV Trảng Bàng – Tây Ninh, tuyến điện 220kV Bình Long – Tây Ninh,… nhằm giảm tải cho các đường dây hiện có, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển sản xuất, phục vụ du lịch và góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân địa phương.
Hệ thống cấp và thoát nước:
- Hệ thống cấp nước: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Tính đến cuối năm 2021, tỉ lệ dân cư nông thôn Tây Ninh sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 85%, con số này ở đô thị là 100%. Trên địa bàn tỉnh hiện có 79 cơ sở khai thác, cung cấp nước sinh hoạt có giấy phép đang hoạt động. Công trình cấp nước có quy mô lớn và hoạt động hiệu quả nhất tính đến thời điểm hiện tại là Nhà máy nước Tây Ninh (thị xã Tây Ninh), được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2004 với công suất 7.000 m3/ngày đêm. Năm 2020, công suất của nhà máy được nâng lên 18.000 m3/ngày đêm. Cùng với các trạm khai thác nước ngầm tại 4 huyện Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu và Châu Thành và nhà máy nước KCN Trảng Bàng, tổng công suất thiết kế của toàn Nhà máy nước Tây Ninh đã tăng lên 27.000 m3/ngày đêm.
Trong thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục nâng cấp năng lực các nhà máy nước ở những khu vực trung tâm như thị xã Tây Ninh, thị trấn Hòa Thành,Trảng Bàng, Gò Dầu. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đang kêu gọi đầu tư xây dựng các nhà máy nước tại các thị trấn Châu Thành, Dương Minh Châu, các khu dân cư biên giới Bắc Tây Ninh (huyện Tân Biên, Tân Châu), đặc biệt là ở khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài (công suất 26.000 m3/ngày đêm) nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân vùng sâu cũng như tạo tiền đề phát triển cho các ngành kinh tế, trong đó có du lịch.
- Hệ thống thoát nước:
Tây Ninh thuộc khu vực có địa hình cao nên các công trình thủy lợi ngoài nhiệm vụ chính là trữ nước tưới tiêu cho vùng canh tác nông nghiệp còn có vai trò thoát nước lũ cục bộ vào mùa mưa. Hai công trình thủy lợi quan trọng nhất trên địa bàn tỉnh là hồ Dầu Tiếng (thoát nước qua 2 kênh: chính Đông, chính Tây) và hệ thống kênh Tân Hưng (dài 213 km). Ngoài hệ thống kênh thủy mương lợi, hiện nay tỉnh cũng đang tích cực đầu tư các công trình thoát nước đô thị, xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại các điểm dân cư, khu công nghiệp, các điểm du lịch,… nhằm đảm bảo việc xử lý nguồn nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả thải ra môi trường.
2.2.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch:
Nhìn chung, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ở Tây Ninh chưa đa dạng, chủ yếu là khách sạn và nhà nghỉ. Theo số liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tỉ lệ khách du lịch có lưu trú qua đêm tại địa phương trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên, dao động trong khoảng 30 – 33%. Tỉ lệ khách du lịch ở tại các khách sạn, nhà nghỉ chiếm 69,2%, ở nhà khách 15,4% và ở tại nhà người thân 15,4% [11]. Còn theo kết quả khảo sát của tác giả, tỉ lệ khách trọ tại các khách sạn, nhà nghỉ là 54,5%; khách nghỉ tại nhà người thân 27,3% và nghỉ ngay tại khu du lịch (núi Bà Đen) là 18,2% (xem phụ lục 4).
Để đáp ứng nhu cầu nghỉ trọ của du khách, số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh đã không ngừng tăng lên, từ có 251 cơ sở lưu trú với 2.592 phòng – năm 2018 lên 408 cơ sở với 4.152 phòng – năm 2022 (xem bảng 2.1.).
Bảng 2.1. Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch tại tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2018 – 2022
| Năm | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 |
| Số cơ sở lưu trú | 251 | 278 | 267 | 334 | 408 |
| Khách sạn 1 sao | 2 | 3 | 8 | 9 | 19 |
| Khách sạn 2 sao | 2 | 2 | 3 | 3 | 4 |
| Số phòng lưu trú | 2.592 | 2.879 | 3.157 | 3.462 | 4.152 |
Nguồn: Tổng cục Du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Không những tăng lên về số lượng, đa số các cơ sở lưu trú ở địa phương đã chú trọng đầu tư nâng cấp cả về hình thức lẫn chất lượng phục vụ. Đến năm 2022, toàn tỉnh có 23 cơ sở lưu trú được xếp hạng sao, gồm 4 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao (Hòa Bình, Đông Phương, Song Lam, Thảo My) và 19 khách sạn 1 sao. Còn lại phần lớn các sơ sở lưu trú trên địa bàn chưa được xếp hạng mà nguyên nhân chủ yếu ở đây chính là sự hạn chế về chất lượng dịch vụ. Theo kết quả khảo sát, tỉ lệ du khách đánh giá chất lượng của các khách sạn, nhà nghỉ ở mức trung bình chiếm đến 31,8%, mức rất tiện nghi chỉ có 4,5% (xem biểu đồ 2.3. và phụ lục 4).
Biểu đồ 2.3. Mức độ hài lòng của du khách về hệ thống cơ sở lưu trú du lịch tại Tây Ninh
Ngoài khách sạn, nhà nghỉ thì ở Tây Ninh còn có mô hình nhà trọ kinh doanh theo mùa vụ, chủ yếu vào các dịp lễ hội tại khu di tích lịch sử – văn hóa núi Bà Đen và Tòa Thánh Cao Đài. Đây thực chất là nhà ở được người dân tận dụng khai thác kinh doanh lưu trú trong mùa lễ hội với giá bình dân nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách.
Như vậy, hệ thống cơ sở lưu trú ở Tây Ninh về cơ bản đã đáp ứng được số lượng khách nghỉ trọ ở thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, trong những năm tới, tỉnh cần tiếp tục có những giải pháp và chính sách đầu tư nhằm nâng cao số lượng cơ sở lưu trú đạt chuẩn trên địa bàn mới có thể thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi của du khách.
Mạng lưới cửa hàng ăn uống, dịch vụ thương mại:
- Mạng lưới cửa hàng ăn uống:
Cơ sở dịch vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh Tây Ninh bao gồm nhà hàng, quán ăn, quán cà phê, bar,… với chất lượng rất khác nhau. Mạng lưới các cửa hàng, quán ăn đi kèm ngay tại các điểm, khu du lịch ở Tây Ninh vẫn còn khá hạn chế do mặt bằng kinh doanh nhỏ hẹp, giá cả đắt đỏ (do thuế cao), không thu hút được khách tham quan. Tuy nhiên, tại những khu vực lân cận hay dọc hai bên các tuyến quốc lộ 22 thì lại khác hẳn bởi mật độ khá dày đặc các nhà hàng, cửa tiệm, quán ăn gia đình,… sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu về ẩm thực cho du khách. Dọc theo quốc lộ 22 đoạn ngang qua thị trấn Trảng Bàng, khách du lịch có thể dễ dàng bắt gặp hệ thống các quán bánh canh Hoàng Minh, Năm Dung, Út Huệ, Cô Ba,… Đây là những quán ăn nức tiếng trong vùng nhờ hai món đặc sản mà bất cứ du khách nào khi đến với Tây Ninh cũng muốn được thưởng thức, đó là bánh canh Trảng Bàng và bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc. Trong khu vực nội đô thị xã Tây Ninh có các nhà hàng sang trọng như Hòa Bình, Anh Đào, Phong Lan,… cùng nhiều quán ăn gia đình với thực đơn đa dạng và phong cách phục vụ khá chuyên nghiệp, có khả năng thỏa mãn nhu cầu ẩm thực đa dạng của khách tham quan. Đặc biệt, tại thị xã Tây Ninh và vùng ven các huyện Hòa Thành, Châu Thành có những quán ăn chuyên phục vụ các món rất hấp dẫn được chế biến từ thịt bò tơ, thịt trâu, thịt dê như Năm Sánh (bê thui, lẩu bò), Giếng Mạch (trâu một nắng, lẩu trâu), Cúc Phương (lẩu dê, dê tiềm thuốc bắc),… Riêng du khách nào muốn được thưởng thức các món ăn chay của Tây Ninh thì có thể tìm đến chợ Long Hoa, chợ Thị Xã, chợ Phường III,… hoặc đến sảnh tiếp khách của chùa Bà – nơi thường thết đãi cơm chay miễn phí cho khách thập phương, nhất là vào các dịp lễ tết.
Ở Tây Ninh còn có nhiều quán giải khát, rất thích hợp cho du khách nghỉ ngơi và thưởng thức nhiều loại thức uống đa dạng. Các khu vực đô thị như thị xã Tây Ninh, thị trấn Hòa Thành, Trảng Bàng,… là nơi hội tụ của những quán cà phê mang phong cách hiện đại, trẻ trung. Khi đến các vùng ngoại ô, dọc theo quốc lộ 22 và 22B, du khách có thể nghỉ chân tại các quán cà phê võng thoáng mát, mang đậm nét đồng quê và được phục vụ nhiều loại thức uống tự nhiên dân dã như nước dừa, nước mía, rau má,… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Các cơ sở dịch vụ thương mại:
Đa số các điểm và khu du lịch ở Tây Ninh đều có hệ thống các cửa hàng phục vụ nhu yếu phẩm, kinh doanh các mặt hàng lưu niệm, các sản vật tại địa phương cho khách tham quan. Bên cạnh đó, dọc hai bên quốc lộ 22, 22B đoạn qua thị trấn Gò Dầu có hàng loạt các cửa hiệu bày bán những đặc sản của đất Tây Ninh như muối tôm, bánh tráng muối, bánh tráng mắm me, hạt điều, kẹo đậu phộng,… rất thuận tiện cho du khách ghé mua về làm quà cho bạn bè, người thân.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có hệ thống các trung tâm thương mại, chợ và siêu thị có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu mua sắm của khách du lịch. Tiêu biểu là Trung tâm thương mại Long Hoa – ngôi chợ lớn nhất tỉnh, tọa lạc tại huyện Hòa Thành, cách Tòa Thánh Cao Đài khoảng 1 km. Chợ Long Hoa có hình chữ thập với 8 cửa ở 8 hướng khác nhau, được xây dựng vào năm 1952, sau đó được sửa sang và đổi tên thành Trung tâm thương mại Long Hoa vào năm 2010. Đây là ngôi chợ sầm uất nhất tỉnh Tây Ninh, nơi tiêu thụ số lượng lớn hàng hóa tại địa phương và từ các tỉnh lân cận như các mặt hàng thời trang, vải may mặc, hàng nông sản thực phẩm,… Chợ còn bán khá nhiều loại thức ăn chay phục vụ nhu cầu của người dân theo đạo Cao Đài. Ngoài chợ Long Hoa thì tại các huyện, thị cũng có nhiều chợ lớn như chợ Thị Xã Tây Ninh, chợ Phường III, chợ Trảng Bàng,… cùng hệ thống siêu thị Co.opmart (tại thị xã Tây Ninh và thị trấn Trảng Bàng) đang hoạt động rất hiệu quả. Đặc biệt, Tây Ninh còn có một loại hình dịch vụ thương mại độc đáo, đó là hệ thống Siêu thị miễn thuế Mộc Bài, nằm ở vùng đệm giữa biên giới Việt Nam – Campuchia. Chỉ cần chứng minh nhân dân là du khách có thể mua được hàng giá rẻ ít nhất là 10% so với bên ngoài theo định mức tối đa 500.000 đồng/khách/ngày. Có thể nói, Siêu thị miễn thuế Mộc Bài chính là một trong những địa điểm có sức hấp dẫn lớn đối với khách thập phương mỗi khi có dịp đến tham quan Tây Ninh.
- Các cơ sở vui chơi giải trí, hoạt động thông tin văn hóa:
Biểu đồ 2.4. Mức độ đánh giá của du khách về hệ thống cơ sở vui chơi giải trí tại Tây Ninh
Theo kết quả khảo sát, có đến 39,0% du khách nhận định rằng, hệ thống các cơ sở vui chơi giải trí tại Tây Ninh còn nghèo nàn, đơn điệu (xem biểu đồ 2.4. và phụ lục 4). Thật vậy, ngoại trừ công viên 30/4, vườn hoa Thắng Lợi, khu vui chơi thiếu nhi Ước Mơ Tuổi Thơ (thị xã Tây Ninh), công viên Hòa Thành, công viên 23/9 (huyện Trảng Bàng),… thì số lượng các cơ sở, công viên vui chơi giải trí ở Tây Ninh nhìn chung còn rất hạn chế. Mặc dù vậy, kể từ năm 2019, trên địa bàn tỉnh cũng đã xuất hiện thêm Khu du lịch Long Điền Sơn tọa lạc tại ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, thị xã Tây Ninh trên khuôn viên rộng khoảng 12,7 ha do tư nhân làm chủ đầu tư. Với phong cảnh thiên nhiên nhiên thơ mộng, đậm nét thôn quê Nam Bộ cùng nhiều dịch vụ giải trí (nhà hàng, buffet cuối tuần, trò chơi cảm giác mạnh, sân khấu nhạc nước,…) có chất lượng tương đối tốt, Long Điền Sơn đang là nơi thu hút nhiều khách tham quan đến vui chơi, nghỉ dưỡng vào những dịp cuối tuần, lễ tết.
Về cơ sở thông tin văn hóa, đáng kể nhất là Trung tâm Văn hóa tỉnh – nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động, liên hoan văn hóa, văn nghệ của tỉnh và khu vực, tọa lạc tại đường Hoàng Lê Kha, phường 3, thị xã Tây Ninh. Các đêm ca nhạc kết hợp diễn kịch, thường là vào cuối tuần hoặc các dịp lễ tết, cũng được tổ chức tại đây với sự tham gia của nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng. Ngoài ra, đối với những du khách đam mê tìm hiểu, nghiên cứu bản sắc văn hóa các dân tộc nơi mình đặt chân đến thì tham quan Bảo tàng tỉnh Tây Ninh là một hoạt động khá thú vị không thể bỏ qua.
- Các cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Mạng lưới các trạm xăng dầu trên địa bàn tỉnh được phân bố rộng khắp, dọc theo 2 tuyến quốc lộ 22 và 22B, các tuyến tỉnh lộ, huyện lộ,… đến tận các xã vùng sâu biên giới, tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo tính thông suốt cho các chuyến hành trình của khách tham quan. Tại núi Bà Đen, Ban quản lý khu du lịch đã bố trí các trạm cấp cứu tại chân núi và gần khu vực chùa Bà với đội ngũ y tá túc trực thường xuyên, nhất là vào những dịp lễ tết nhằm đảm bảo sơ cứu kịp thời cho du khách trong những tình huống bất trắc.
Ngoài ra, tại các địa điểm du lịch lớn như Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen, khu Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Tòa Thánh Cao Đài,… đều có các dịch vụ về ảnh, sẵn sàng phục vụ khách du lịch khi họ có nhu cầu. Dọc theo tuyến đường Cách Mạng Tháng 8 (thị xã Tây Ninh) cũng có khá nhiều cửa hiệu ảnh kỹ thuật số, nổi tiếng nhất là Kim Dung và Ngọc Dung – hai cửa hiệu ảnh nổi tiếng đã tồn tại từ thời Pháp thuộc ở khu vực phố Gia Long (cũ). Nhìn chung, các cơ sở dịch vụ bổ sung có vai trò nâng cao tính đồng bộ, tính hấp dẫn của hệ thống du lịch tỉnh nhà.
2.2.3. Các nhân tố kinh tế – xã hội và chính trị
2.2.3.1. Chính sách phát triển du lịch
Trong quyết định số 2044/QĐ-TTg về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Tây Ninh đến năm 2030”, Thủ tướng Chính phủ đã xác định ngành du lịch Tây Ninh cần tập trung đầu tư phát triển du lịch với các loại hình du lịch sinh thái gắn với di tích lịch sử văn hóa, các làng nghề truyền thống của tỉnh. Tỉnh cần tập trung cải tạo, nâng cấp các điểm du lịch như khu Căn cứ Trung ương Cục, điểm núi Bà Đen, Tòa Thánh Tây Ninh, khu vui chơi giải trí, khu trung tâm dịch vụ thương mại, khách sạn, nhà hàng,… để đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và nâng cao chất lượng phục vụ nhu cầu du lịch của du khách đến Tây Ninh.
Ý thức được tầm quan trọng của ngành du lịch với sự đi lên của nền kinh tế – xã hội tỉnh nhà nên trong khoảng 10 năm trở lại đây, chính quyền cùng các ban ngành, đoàn thể ở Tây Ninh cũng đã ban hành nhiều chính sách, quy hoạch cụ thể nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành. Chẳng hạn Nghị quyết số 04-NQ/TU về “Đẩy mạnh khai thác tiềm năng, phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2022 – 2025 và định hướng đến 2030” được Tỉnh ủy Tây Ninh ban hành ngày 04/10/2022. Ngoài ra, Tây Ninh còn hợp tác, liên kết với các tỉnh trong tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ và nước bạn Campuchia để xây dựng “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” với các sản phẩm du lịch chính là du lịch tìm hiểu văn hóa, lịch sử; du lịch lễ hội, về nguồn; du lịch tâm linh, sinh thái, mua sắm, giải trí, thể thao,… Gần đây nhất, vào ngày 29/08/2023, Hội đồng Nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 29 về “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2030 và định hướng 2040”. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Có thể thấy, du lịch Tây Ninh đang nhận được sự quan tâm lớn từ Chính phủ đến các cấp lãnh đạo địa phương. Đây chính là cơ hội không thể tốt hơn để du lịch tỉnh nhà tạo nên các bước đột phá mới, phát triển tương xứng với những tiềm năng to lớn hiện có.
2.2.3.2. Nguồn nhân lực du lịch
Lao động trong ngành du lịch bao gồm lao động trực tiếp tại các cơ sở cung cấp hoặc tham gia cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch và lao động gián tiếp – tức lao động không trực tiếp cung cấp sản phẩm dịch vụ cho du khách nhưng góp phần tạo nên sản phẩm du lịch. Trong giai đoạn 2017 – 2022, tốc độ tăng trưởng trung bình của nguồn lao động ngành du lịch ở Tây Ninh là 6,73% (xem biểu đồ 2.5.). Năm 2022, toàn ngành du lịch của tỉnh có 2.850 lao động, trong đó chủ yếu là lao động gián tiếp với 1.900 người, còn lao động trực tiếp chỉ có 950 người. Như vậy, số lao động trong ngành du lịch có tăng lên nhưng vẫn chiếm tỉ lệ rất thấp trong tổng số lao động của tỉnh, chỉ đạt 0,44%.
Biểu đồ 2.5. Số lao động trong ngành du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017 – 2022
Không chỉ thiếu về số lượng, nguồn nhân lực du lịch của tỉnh còn yếu cả về chất lượng, đặc biệt là trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ của đội ngũ hướng dẫn viên, tiếp tân,… Về cơ cấu trình độ lao động trong ngành, số lao động có trình độ từ trung cấp trở lên chỉ chiếm 25,5%, còn lại là 74,5% lao động chưa qua đào tạo. Và theo kết quả khảo sát của tác giả, có 22,0% ý kiến không hài lòng về phong cách đón tiếp, phục vụ du khách của đội ngũ nhân viên tại các điểm du lịch và cơ sở lưu trú ở địa phương, và 52,0% du khách đánh giá chất lượng phục vụ của đội ngũ này chỉ ở mức trung bình (xem biểu đồ 2.6. và phụ lục 4).
Biểu đồ 2.6. Mức độ hài lòng của du khách về phong cách đón tiếp, phục vụ của đội ngũ nhân viên du lịch tại Tây Ninh
Trước tình hình này, tỉnh cần cần nhanh chóng xây dựng những giải pháp phù hợp nhằm cải thiện số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch địa hương, từ đó mới có thể đáp ứng được những đòi hỏi của ngành trong giai đoạn hiện nay.
2.2.3.3. Tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Tây Ninh nhìn chung phát triển khá ổn định, quy mô GDP tăng liên tục. Cơ cấu kinh tế theo ngành có sự chuyển dịch đúng hướng, giá trị sản xuất các ngành đều tăng qua từng năm. Đây chính là bước đệm vững chắc cho ngành du lịch tỉnh nhà phát triển, trong đó có du lịch văn hóa.
Hiện nay, nông – lâm – thủy sản vẫn là ngành kinh tế chính của tỉnh khi đóng góp tới gần 37,0% GDP và thu hút hơn 45,0% lao động xã hội. Sự đa dạng của các loại nông sản, thủy sản chính là nguồn cung cần thiết đáp ứng nhu cầu ăn uống của khách tham quan, nhất là góp phần xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa ẩm thực.
Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, tuy tỉ trọng ngành công nghiệp – xây dựng còn khá nhỏ bé (chỉ chiếm 29,0% GDP năm 2022) nhưng sản xuất công nghiệp đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ. Sự tiến bộ của ngành công nghiệp – xây dựng có vai trò đáng kể trong công tác đầu tư, cải thiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch trên địa bàn tỉnh.
Dịch vụ là ngành kinh tế quan trọng của Tây Ninh khi thường xuyên đóng góp khoảng 1/3 GDP toàn tỉnh, chỉ đứng sau ngành nông – lâm – thủy sản. Mạng lưới giao thông đường bộ ngày càng hoàn thiện, nhiều loại hình vận tải được đưa vào hoạt động đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình di chuyển của khách du lịch. Ngoài ra, mạng lưới thông tin liên lạc của tỉnh cũng phát triển với tốc độ nhanh và ngày càng hiện đại, góp phần đẩy mạnh công tác quảng bá, xúc tiến du lịch tại địa phương. Bên cạnh đó, ngành thương mại của Tây Ninh rất được chú ý phát triển với mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại phân bố khắp các xã, phường, thị trấn, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách tham quan. Về ngoại thương, hai khu kinh tế cửa khẩu là Mộc Bài và Xa Mát cùng hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch là lợi thế cho hoạt động xuất nhập khẩu và mở rộng thị trường khách du lịch của tỉnh. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Về an ninh, tuy nằm sát biên giới nhưng tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Tây Ninh lại rất ổn định. Khi được tác giả khảo sát, có đến 57,0% du khách đánh giá cao tình hình an ninh trật tự hiện nay trên toàn địa bàn cũng như tại các điểm du lịch của tỉnh (xem phụ lục 4). Như vậy, cùng với sự phát triển khá vững chắc của các ngành kinh tế khác, phải nói rằng du lịch Tây Ninh đang có nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tốc độ phát triển.
2.2.3.4. Đô thị hóa
Cho đến nay, phần lớn dân cư Tây Ninh vẫn chủ yếu sống ở nông thôn, quá trình đô thị hóa diễn ra khá chậm khi đến năm 2022, tỉ lệ dân thành thị chỉ đạt 15,7%. Mặc dù vậy, mức sống của người dân trên địa bàn vẫn tăng liên tục qua từng năm và không có sự chênh lệch lớn giữa nông thôn và thành thị. Quá trình đô thị hóa tuy chậm nhưng cũng góp phần thay đổi bộ mặt làng quê Tây Ninh, cải thiện đời sống người dân. Từ đó, các nhu cầu về sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí của người dân ngày càng trở nên đa dạng, trong đó có nhu cầu du lịch. Điều này ít nhiều cũng đã tác động tích cực đến sự phát triển của du lịch tỉnh nhà trong những năm gần đây.
2.2.3.5. Đầu tư du lịch
Ngành du lịch Tây Ninh hiện nay đang thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư đáng kể từ chính nguồn ngân sách thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch, từ các doanh nghiệp tư nhân và sự hỗ trợ của Chính phủ. Trong giai đoạn 2017 – 2022, toàn tỉnh có 79 dự án đầu tư cho phát triển du lịch với tổng số vốn 885 tỉ đồng (xem bảng 2.2.).
Bảng 2.2. Hiện trạng số dự án và vốn đầu tư phát triển du lịch tại tỉnh Tây Ninh, giai đoạn 2017 – 2022
| Năm | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | Tổng số |
| Số dự án CSHTDL | 2 | 2 | 2 | 2 | 2 | 2 | 12 |
| Vốn đầu tư (tỉ đồng ) | 9 | 15 | 11 | 11 | 7,5 | 23,5 | 77 |
| Số dự án CSVC – KTDL | 10 | 12 | 11 | 12 | 11 | 11 | 67 |
| Vốn đầu tư (tỉ đồng) | 15 | 70 | 15 | 141 | 226 | 341 | 808 |
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Trong số này có 10 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng tại các khu du lịch với tổng số vốn là 77 tỉ đồng, dự án đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch là 67 dự án với vốn đầu tư là 808 tỉ đồng. Nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng du lịch do nhà nước hỗ trợ chiếm 100%, còn các dự án đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch chủ yếu do các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, cá thể,… trong và ngoài tỉnh tham gia. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh chưa có dự án đầu tư nước ngoài nào cho lĩnh vực du lịch.
2.2.4. Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh
2.2.4.1. Những lợi thế
So với nhiều tỉnh thành khác trên cả nước, Tây Ninh có ưu thế lớn nhất về số lượng các di tích lịch sử – văn hóa, với 80 di tích được xếp hạng, trong đó có nhiều di tích cấp quốc gia như núi Bà Đen, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Tòa Thánh Tây Ninh,… Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên thuận lợi đã giúp Tây Ninh trở thành vùng đất thu hút nhiều thành phần dân tộc với đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đến làm ăn, sinh sống từ ngàn xưa. Chính đặc điểm này đã hình thành nên tính đa dạng, phong phú của các lễ hội truyền thống trên địa bàn, đồng thời sản sinh ra nhiều đối tượng du lịch đầy tiềm năng gắn với dân tộc học. Đây chính là những nguồn tài nguyên nhân văn cực kỳ quý giá, đồng thời là căn cứ quan trọng để định hướng xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng cho tỉnh nhà.
Ngoài ra, Tây Ninh còn được biết đến như một vùng đất sở hữu nhiều nét văn hóa ẩm thực độc đáo cùng các làng nghề thủ công truyền thống có từ lâu đời. Trong tương lai, khi tỉnh có những chính sách đầu tư, khai thác phù hợp, chắc chắn những tiềm năng này sẽ có cơ hội phát huy hơn nữa vai trò to lớn của mình, góp phần đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch văn hóa của địa phương.
Bên cạnh đó, nhờ vị trí địa lí tiếp giáp Campuchia qua hai cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát cùng một số cửa khẩu tiểu ngạch, Tây Ninh là địa bàn chiến lược trong quy hoạch phát triển các khu kinh tế cửa khẩu của Chính phủ và đảm bảo an ninh quốc phòng. Đây là điều kiện thuận lợi để tỉnh đầu tư, thúc đẩy hoạt động du lịch tham quan, mua sắm ở vùng biên, thỏa mãn nhu cầu của du khách khi đến Tây Ninh. Hơn nữa, ở vị trí tiếp giáp với TP.HCM và nhiều tỉnh có nền kinh tế phát triển ở miền Đông và miền Tây Nam Bộ, Tây Ninh có nhiều cơ hội để cải thiện cơ cấu thị trường khách du lịch tỉnh nhà theo hướng tăng cường tỉ trọng khách ngoại tỉnh và khách quốc tế.
Về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch, Tây Ninh sở hữu mạng lưới phân phối điện, nước và mạng lưới giao thông khá hoàn thiện, các loại hình vận tải đường bộ ngày càng đa dạng, đủ sức đáp ứng nhu cầu đi lại của khách tham quan. Hệ thống thông tin liên lạc của tỉnh cũng khá hiện đại với chất lượng phục vụ ngày càng tăng. Hệ thống cơ sở lưu trú trên địa bàn tuy còn nhiều điều phải bàn về chất lượng song về cơ bản cũng đáp ứng được nhu cầu nghỉ ngơi, ở lại qua đêm của du khách. Mạng lưới cửa hàng ăn uống, cơ sở dịch vụ thương mại được phân bố rộng khắp, thuận tiện cho nhu cầu thưởng thức ẩm thực và mua sắm của khách tham quan. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Về nhân lực, Tây Ninh hiện sở hữu nguồn lao động dồi dào, nếu tỉnh có các chính sách đào tạo nghề và thu hút nhân tài hợp lý, chắc chắn đây sẽ là nhân tố đóng góp đáng kể vào sự phát triển của ngành du lịch địa phương. Tình hình kinh tế – xã hội toàn tỉnh nhìn chung ổn định, tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động du lịch trên địa bàn diễn ra thuận lợi, đảm bảo sự an toàn cho du khách khi đến Tây Ninh. Hơn hết, những năm gần đây, du lịch Tây Ninh nói chung và du lịch văn hóa nói riêng đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ Trung ương, lãnh đạo tỉnh, các cơ quan chức năng và toàn xã hội. Biểu hiện cụ thể nhất là nguồn vốn đầu tư cho công tác trùng tu, tôn tạo và xây dựng hạ tầng du lịch tại các khu di tích, duy trì phát triển các lễ hội truyền thống, quảng bá và xúc tiến du lịch,… luôn tăng dần qua từng năm và đến từ nhiều phía.
Có thể nói, với những tiềm năng to lớn ấy, Tây Ninh hiện đang có rất nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh loại hình du lịch văn hóa, thúc đẩy sự đi lên của toàn ngành du lịch, từ đó đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế – xã hội tỉnh nhà.
2.2.4.2. Những hạn chế
Tuy có rất nhiều ưu thế để phát triển du lịch văn hóa, nhưng song song với đó, Tây Ninh hiện vẫn còn không ít những mặt hạn chế cần được tỉnh nhanh chóng khắc phục để phát triển loại hình du lịch này. Trước hết, mặc dù sở hữu một số lượng lớn di tích lịch sử – văn hóa, song chỉ mới có một số di tích hội đủ điều kiện về hạ tầng du lịch, nguồn nhân lực,… để mở cửa đón khách tham quan như: Khu du lịch núi Bà Đen, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Căn cứ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Địa điểm Chiến thắng Tua Hai,…. Ngoại trừ Tòa Thánh Tây Ninh thì các di tích kiến trúc nghệ thuật còn lại vẫn chưa đủ sức hấp dẫn khách du lịch đến tham quan thường xuyên. Các di tích khảo cổ trên địa bàn hiện phục vụ công tác nghiên cứu là chính, số lượng du khách đến tham quan còn rất hạn chế. Toàn tỉnh hiện cũng chưa có công trình đương đại nào mang tầm cỡ khu vực ngoài Bảo tàng Tây Ninh đang hoạt động cầm chừng.
Hầu hết các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học cũng chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng, chủ yếu gắn liền với đời sống tinh thần của người dân địa phương chứ chưa được các doanh nghiệp đầu tư quảng bá, khai thác phục vụ du lịch. Về ẩm thực, vẫn còn không ít đặc sản chưa được đăng ký thương hiệu, mẫu mã chưa đa dạng,… nên chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của du khách. Tây Ninh có rất nhiều làng nghề truyền thống nhưng đa số lại hoạt động nhỏ lẻ theo hộ gia đình, thiếu sự gắn kết với các công ty lữ hành, nhất là hạ tầng du lịch chưa đảm bảo cho du khách đến tham quan. Đấy là chưa kể một số làng nghề hiện đang dần bị mai một do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường. Tất cả những gì vừa phân tích cũng là minh chứng rõ nét nhất cho thấy: vấn đề bảo vệ, tôn tạo và phát huy các giá trị truyền thống của tài nguyên du lịch nhân văn tuy đã được tỉnh đặt ra nhưng trên thực tế vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Về cơ sở hạ tầng, Tây Ninh có mạng lưới giao thông đường thủy đầy tiềm năng nhưng hiện vẫn chưa được khai thác để vận chuyển khách du lịch, cũng như xây dựng các loại hình du lịch văn hóa gắn với giao thông đường sông. Mạng lưới cơ sở lưu trú vẫn còn nhiều hạn chế về chất lượng phục vụ, chưa đáp ứng được nhu cầu nghỉ ngơi của những du khách có khả năng chi trả cao nhưng khó tính. Đặc biệt, Tây Ninh hiện đang thiếu trầm trọng các cơ sở vui chơi giải trí, khiến các hoạt động du lịch diễn ra khá nghèo nàn, không giữ chân được khách tham quan.
Nguồn nhân lực du lịch của tỉnh hiện nay vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng nên chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn. Ngoài ra, tốc độ đô thị hóa chậm cũng là một đặc điểm có ảnh hưởng không nhỏ đến du lịch tỉnh nhà, làm hạn chế nhu cầu du lịch và khả năng chi trả của người dân địa phương cũng như tốc độ hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch. Thêm nữa, ngoài nguồn vốn trong nước thì Tây Ninh hiện vẫn chưa thu hút được bất kỳ nguồn vốn đầu tư nước ngoài nào cho du lịch. Hệ quả là tuy số vốn đầu tư tăng liên tục nhưng nhìn chung vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch tại địa phương.
2.3. Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
2.3.1. Khái quát chung về hoạt động du lịch
Tây Ninh là tỉnh rất có tiềm năng để phát triển du lịch với nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn độc đáo, hấp dẫn. Trong những năm qua, tuy việc khai thác còn hạn chế, chưa phát huy được hết những lợi thế sẵn có nhưng ngành du lịch cũng đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội.
Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch ngày càng hoàn thiện. Các tuyến giao thông đường bộ được đầu tư xây dựng, nâng cấp và mở rộng, nhiều loại hình vận tải mới (xe bus, taxi) ra đời. Về hệ thống cơ sở lưu trú du lịch, toàn tỉnh đã có 408 khách sạn, nhà nghỉ đăng ký kinh doanh với hơn 4.000 phòng (năm 2022). Mạng lưới cửa hàng ăn uống, cơ sở dịch vụ thương mại được phân bố rộng khắp với nhiều khu thương mại lớn (Siêu thị miễn thuế Mộc Bài, chợ Long Hoa, hệ thống siêu thị Co.opmart,…), đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thưởng thức ẩm thực, mua sắm của khách tham quan. Ngoài việc tôn tạo, nâng cấp các khu di tích lịch sử – văn hóa thì một số điểm du lịch mới cũng đã và đang được tỉnh đầu tư xây dựng như Khu du lịch Long Điền Sơn, dự án Khu du lịch sinh thái Hồ Dầu Tiếng, Khu du lịch sinh thái Ma Thiên Lãnh,… góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu tham quan, giải trí đa dạng của du khách thập phương.
Nhìn chung, hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá. Năm 2022, toàn tỉnh đón gần 3,35 triệu lượt khách tham quan, cao gấp 1,66 lần so với năm 2017. Ngoài sự ổn định của thị trường nội địa thì thị trường khách du lịch nước ngoài của tỉnh cũng được đảm bảo, chủ yếu nhờ tuyến du lịch quốc tế bằng đường bộ từ Campuchia qua hai cửa khẩu Mộc Bài, Xa Mát. Mặc dù tỉ lệ đóng góp vào GDP toàn tỉnh còn rất khiêm tốn, chỉ khoảng 1,0%, nhưng thu nhập từ du lịch đều tăng qua từng năm, đạt 440,0 tỉ đồng vào năm 2022. Các sản phẩm và dịch vụ du lịch tại Tây Ninh tuy chưa thật sự đa dạng và rõ nét song cũng đang được cải thiện từng ngày cả về số lượng lẫn chất lượng. Những tuyến du lịch nội tỉnh, liên tỉnh nối Tây Ninh với các tỉnh, thành trong tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ và cả nước hoạt động khá ổn định và hiệu quả. Có thể nói, với sự quan tâm đầu tư của các cấp lãnh đạo, các doanh nghiệp và toàn xã hội như hiện nay, ngành du lịch nói chung và du lịch văn hóa của tỉnh nói riêng sẽ còn đạt được nhiều bước tiến đáng kể trong thời gian tới.
2.3.2. Thực trạng du khách Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Trong những năm qua, với sự phát triển khá ổn định của nền kinh tế – xã hội cả nước cùng những nỗ lực của ngành du lịch địa phương mà số lượng khách tham quan trong nước và quốc tế đến với Tây Ninh ngày càng tăng đáng kể.
Bảng 2.3. Thực trạng khách du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017 – 2022
Đơn vị: nghìn lượt khách
| Năm | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 |
| Khách nội địa | 2.007,49 | 2.614,65 | 2.530.9 | 2.976,84 | 3.255,29 | 3.339,4 |
| Khách quốc tế | 7,03 | 6,19 | 5,26 | 8,15 | 9,38 | 9,6 |
| Tổng | 2.014,52 | 2.620,84 | 2.536,16 | 2.984,99 | 3.264,67 | 3.349,0 |
Nguồn: Niên giám thống kê 2022, Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh
Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh, trong giai đoạn 2017 – 2022, số lượt khách du lịch đến Tây Ninh tăng từ 2.014,52 nghìn lượt lên 3.349,0 lượt (xem bảng 2.3.), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 13,2%/năm. Mặc dù số lượng khách quốc tế đến Tây Ninh có tăng nhưng trong cơ cấu khách du lịch của tỉnh, khách nội địa vẫn chiếm áp đảo với tỉ lệ hơn 99,0% mỗi năm.
Một điều cần lưu ý, du khách thường hiếm khi tham gia duy nhất một loại hình du lịch trong mỗi chuyến hành trình của mình. Thực tế cho thấy, hầu hết du khách khi đến Tây Ninh đều có tham gia ít nhất một trong số các hoạt động du lịch văn hóa như vãn cảnh kết hợp viếng chùa, lễ Phật trên núi Bà Đen, tham quan Tòa Thánh Cao Đài, tham dự lễ hội truyền thống,… Do vậy, nếu xét trong một chừng mực nào đó có thể xem phần lớn lượng khách thập phương của Tây Ninh chính là khách du lịch văn hóa.
2.3.2.1. Khách quốc tế
Trong giai đoạn 2017 – 2022, lượng khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh không ổn định do tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2018 – 2019, nhưng nhìn chung là có xu hướng tăng. Từ chỗ chỉ đón tiếp hơn 7,0 nghìn lượt khách vào năm 2017 thì đến năm 2022, lượng khách nước ngoài đến Tây Ninh đã tăng lên 9,6 nghìn lượt (xem bảng 2.3.), đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 7,3%/năm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Thị trường khách quốc tế cũng khá đa dạng nhưng chủ yếu là từ các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các nước ASEAN, Australia,…) và một số ít đến từ Tây Âu (Pháp, Anh,…), Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada). Du khách Đông Nam Á đến Tây Ninh đa phần từ các nước lân cận (Campuchia, Thái Lan, Lào, Myanmar,…) qua hai cửa khẩu Mộc Bài và Xa Mát. Hai cửa khẩu này mỗi năm đón hơn 1,0 triệu lượt khách nhập cảnh vào Việt Nam. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên phần lớn trong số họ chỉ mượn đường qua khẩu để tới tham quan các tỉnh thành khác (nhiều nhất là TP.HCM) theo tour hoặc hình thức du lịch caravan, khiến lượng khách quốc tế đến Tây Ninh còn khá hạn chế.
2.3.2.2. Khách nội địa
Trong giai đoạn 2017 – 2022, số lượng khách du lịch nội địa đến Tây Ninh khá ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,3%/năm. Lượng khách nội địa đến Tây Ninh tăng từ 2.007,49 nghìn lượt – năm 2017 lên 3.339,4 nghìn lượt – năm 2022 (xem bảng 2.3.). Họ đến từ khắp mọi miền đất nước nhưng chủ yếu là từ khu vực Đông Nam Bộ (gồm cả du khách địa phương), chiếm 71,0% (theo tác giả khảo sát), kế đến là các tỉnh thành Đồng bằng sông Cửu Long (19,0%) và các vùng miền còn lại (10,0%) (xem biểu đồ 2.7. và phụ lục 4).
Biểu đồ 2.7. Cơ cấu khách du lịch nội địa tại Tây Ninh năm 2023
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
2.3.3. Thực trạng doanh thu
Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh, tổng thu từ khách du lịch trên địa bàn tăng khá nhanh trong giai đoạn 2017 – 2022, từ 193,0 tỉ đồng lên 560,0 tỉ đồng, tăng trung bình 23,7%/năm (xem bảng 2.4). Riêng thu nhập từ du lịch (hay GDP du lịch) tuy có tăng (đạt 440,0 tỉ đồng, năm 2022) nhưng vẫn chiếm tỉ trọng không đáng kể trong GDP cả tỉnh, chỉ trên dưới 1,0%. Trong đó, gần 60% thu nhập du lịch của tỉnh được đóng góp từ khách lưu trú, trong khi nguồn thu từ khách tham quan, vốn có số lượng đông hơn, chỉ dao động trong khoảng 40%.
Bảng 2.4. Thực trạng doanh thu du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017 – 2022
| Năm | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 |
| Tổng thu từ khách du lịch (tỉ đồng) | 193,0 | 291,0 | 345,0 | 450,0 | 463,0 | 560,0 |
| Trong đó: GDP du lịch (tỉ đồng)
– Từ khách lưu trú – Từ khách tham quan |
137,5
79,1 58,4 |
207,7
121,1 86,6 |
241,7
139,2 102,5 |
314,9
189,6 125,3 |
428,2
276,7 151,5 |
440,0
261,1 178,9 |
| Tỉ trọng GDP du lịch trong GDP cả tỉnh (%) | 0,85 | 0,96 | 0,99 | 1,11 | 1,01 | 0,96 |
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Một trong những nguyên nhân khiến doanh thu du lịch của tỉnh còn rất khiêm tốn là do trong cơ cấu khách du lịch theo nghề nghiệp, lượng khách là công nhân, nông dân và học sinh, sinh viên chiếm đến hơn 60,0%, còn thành phần du khách có điều kiện kinh tế (giáo viên, giảng viên, nhà nghiên cứu, nhân viên văn phòng,…) chỉ khoảng 12,0% (xem biểu đồ 2.8. và phụ lục 4).
Biểu đồ 2.8. Cơ cấu khách du lịch theo nghề nghiệp tại Tây Ninh năm 2023
2.3.4. Hoạt động đầu tư và xúc tiến du lịch
Trong những năm qua, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch, các cấp lãnh đạo tỉnh Tây Ninh đặc biệt quan tâm đến hoạt động đầu tư và xúc tiến du lịch, tập trung chủ yếu vào 3 lĩnh vực: Xúc tiến đầu tư phát triển hạ tầng du lịch; Xúc tiến đầu tư phát triển sản phẩm du lịch; Xúc tiến xây dựng và phát triển các tour, tuyến du lịch trong tỉnh, kết nối với các địa phương trong nước và quốc tế.
Trong đó, hoạt động đầu tư xây dựng, chỉnh trang cơ sở hạ tầng tại các điểm du lịch cho thấy hiệu quả cao nhất. Từ nguồn ngân sách địa phương, vốn các doanh nghiệp tư nhân và sự hỗ trợ của Chính phủ, cơ sở hạ tầng tại một số điểm du lịch trọng yếu đã được đầu tư xây mới hoặc nâng cấp, nhiều khu di tích lịch sử – văn hóa được trùng tu, tôn tạo. Riêng giai đoạn 2017 – 2022, toàn tỉnh có 79 dự án đầu tư cho phát triển du lịch với tổng số vốn 885 tỉ đồng. Một số dự án đầu tư vào du lịch tiêu biểu ở Tây Ninh trong giai đoạn này là:
- Dự án xây dựng hệ thống cáp treo mới theo công nghệ châu Âu tại Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen, được khởi công vào tháng 05/2022 với tổng kinh phí xây dựng 208 tỉ đồng. Hệ thống cáp treo này chính thức được đưa vào sử dụng từ ngày 08/02/2023, hoạt động song song với hệ thống cáp treo cũ, đáp ứng nhu cầu tham quan Điện Bà và các chùa trên núi ngày càng tăng của du khách thập phương.
- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng Khu di tích lịch sử – văn hóa Căn cứ Dương Minh Châu có diện tích 15 ha, được khánh thành vào ngày 18/05/2022 sau khi gần 3 năm thi công. Diện tích sử dụng của khu là 3.000 m2, bao gồm: sân, nhà bia, nhà truyền thống, nhà làm việc và công trình phụ, tổng kinh phí xây dựng là 15 tỉ đồng.
- Dự án tu bổ, tôn tạo Di tích lịch sử đình Hiệp Ninh có tổng mức đầu tư gần 4,5 tỉ đồng, thời gian thực hiện từ năm 2019 đến năm 2020. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Công trình tu bổ, tôn tạo Di tích lịch sử địa đạo An Thới do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư trên 3 tỉ đồng. Các hạng mục xây dựng gồm: cổng rào, tượng đài, nhà trưng bày, hội trường, nhà làm việc, hầm địa đạo. Công trình được hoàn thành chỉ sau 150 ngày thi công kể từ ngày khởi công 19/10/2022.
Ngoài ra, trong giai đoạn này cũng còn khá nhiều dự án đầu tư cho du lịch khác như việc phục dựng, chỉnh trang hệ thống kiến trúc trong Khu di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (nhà ở tập thể, nhà khách, nhà ăn,…), dự án đại trùng tu, tôn tạo tổng thể chùa Thiền Lâm (hay chùa Gò Kén),… Gần đây nhất, trong năm 2023, để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và giữ gìn bản sắc văn hóa cổ Tây Ninh, hai di tích tháp cổ Bình Thạnh và Chót Mạt cũng đã được tu bổ, tôn tạo lần thứ hai với tổng kinh phí gần 1 tỉ đồng.
Bên cạnh đó, hoạt động thông tin, quảng bá hình ảnh du lịch Tây Ninh đến các địa phương trong nước và quốc tế cũng rất được chú trọng. Nhiều ấn phẩm chuyên đề về du lịch (sách, báo, CD,…) đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh xuất bản. Việc giới thiệu hình ảnh, thông tin hoạt động du lịch đến người dân cũng được duy trì thường xuyên thông qua các kênh truyền hình, truyền thanh, báo chí, tờ rơi quảng cáo,… Theo khảo sát của tác giả thì có 21,4% du khách ngoại tỉnh biết đến Tây Ninh nhờ theo dõi các thông tin được cập nhật trên báo chí, Radio, TV, mạng Internet (xem phụ lục 4). Hằng năm, Sở còn chủ trì tổ chức nhiều hội chợ, lễ hội truyền thống trên địa bàn nhằm tạo điều kiện cho nhân dân mua sắm, vui chơi giải trí. Ngoài ra, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại – Du lịch Tây Ninh và các ban ngành liên quan đã hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia nhiều hội chợ triển lãm chuyên ngành ở các tỉnh thành trong nước cũng như quốc tế (Ngày hội Du lịch TP. Hồ Chí Minh năm 2019, Triển lãm – Hội chợ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Hà Nội năm 2019, Hội chợ Du lịch Quốc tế TP. Hồ Chí Minh lần thứ 7, 8 – năm 2021 và 2022,…). Qua đó, tiềm năng, thế mạnh và những sản phẩm du lịch đặc trưng của Tây Ninh đã được giới thiệu đến các đối tác nhằm mời gọi đầu tư, xúc tiến thương mại, du lịch cho tỉnh nhà. Tuy nhiên, hiệu quả mang lại từ những hoạt động này nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế.
2.3.5. Các loại hình và sản phẩm du lịch văn hóa chủ yếu
2.3.5.1. Các loại hình du lịch văn hóa chủ yếu
Cho đến nay, toàn tỉnh Tây Ninh hầu như chưa có một công trình hiện đại nào đủ sức thu hút khách tham quan. Đồng thời, do những hạn chế về mặt kinh tế, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực,… nên tỉnh cũng chưa đủ sức tổ chức các sự kiện âm nhạc, thể thao lớn cũng như nhiều sự kiện khác (các cuộc thi hoa hậu, liên hoan phim,…). Do đó, loại hình du lịch văn hóa hiện đại của tỉnh vẫn chưa thể phát triển. Và trên thực tế, ở Tây Ninh hiện nay phổ biến loại hình du lịch văn hóa truyền thống bởi hầu hết các điểm, khu du lịch, lễ hội,… đều hoạt động dựa trên việc khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống.
- Nhóm du lịch văn hóa truyền thống vật thể bao gồm các hình thức du lịch như:
Tham quan các di tích lịch sử cách mạng (Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Địa điểm Chiến thắng Tua Hai,…). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Tham quan, nghiên cứu các di tích văn hóa nghệ thuật (Tòa Thánh Cao Đài, chùa Khmer – Kédol,…), các di tích khảo cổ (tháp cổ Bình Thạnh, tháp Chót Mạt,…), Bảo tàng tỉnh Tây Ninh.
Tham quan, mua sắm tại khu kinh tế cửa khẩu (Siêu thị miễn thuế Mộc Bài), các làng nghề truyền thống kết hợp thưởng thức ẩm thực (bánh canh, bánh tráng Trảng Bàng, muối ớt tôm,…).
- Nhóm du lịch văn hóa truyền thống phi vật thể gồm: các lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng (Hội xuân Núi Bà, Đại lễ Vía Đức Chí Tôn, Hội yến Diêu Trì Cung,…), lễ hội cách mạng (lễ hội Về nguồn tại Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, lễ hội Chiến thắng Tua Hai,…), thưởng thức nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ,…
2.3.5.2. Các sản phẩm du lịch văn hóa chủ yếu
Tây Ninh có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng cùng hệ thống dịch vụ du lịch ngày càng được cải thiện. Đây là những điều kiện cần rất quan trọng để phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa tại địa phương. Tuy vậy, cho đến nay ngoài du lịch tâm linh gắn với lễ hội, tín ngưỡng tương đối nổi trội thì các sản phẩm du lịch còn lại trên địa bàn đều chưa rõ nét, đơn điệu và trùng lặp. Một hạn chế khác là chất lượng sản phẩm du lịch không cao, chưa đủ sức hấp dẫn khách tham quan và cạnh tranh với các sản phẩm du lịch trong khu vực.
Du lịch tâm linh gắn với các lễ hội, di tích lịch sử – văn hóa nghệ thuật:
Khoảng 10 năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta có những bước tiến đáng kể, xã hội ngày càng văn minh, hiện đại song không vì thế mà nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của người dân giảm đi. Tây Ninh là tỉnh có thành phần dân tộc đa dạng với nhiều tôn giáo khác nhau, trên địa bàn cũng tồn tại nhiều di tích lịch sử – văn hóa, công trình kiến trúc nghệ thuật. Đây là những tiền đề hết sức quan trọng để du lịch tâm linh trở thành sản phẩm du lịch văn hóa chủ lực của tỉnh trong giai đoạn hiện nay cũng như thời gian sắp tới. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Điểm tham quan đầu tiên mà phần lớn du khách thường chọn khi đến với Tây Ninh là núi Bà Đen, nhất là vào các dịp lễ tết như Hội xuân Núi Bà, lễ vía Bà,… Khi đến núi Bà, đa phần thanh niên và người trung niên lựa chọn hình thức leo núi, còn người lớn tuổi thường đi cáp treo để lên chùa Bà. Tất cả đều không nằm ngoài ước nguyện được viếng Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, cầu mong mọi sự bình an cho gia đình, người thân, bạn bè trong năm mới. Bên cạnh đó, du khách còn có thể đến tham quan Tòa Thánh Cao Đài – một công trình kiến trúc tôn giáo độc đáo nằm trong khuôn viên nội ô huyện Hòa Thành. Hai lễ hội lớn nhất hằng năm diễn ra nơi đây là Đại lễ Vía Đức Chí Tôn và Hội yến Diêu Trì Cung. Đây là các lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc và tôn giáo, hằng năm thu hút hàng triệu người từ mọi miền đất nước về dự, cúng bái và thưởng ngoạn cảnh quan. Ngoài ra, Tây Ninh còn có nhiều chương trình lễ hội mang màu sắc tâm linh khác cũng đã thu hút được đông đảo du khách thập phương đến tham dự như lễ giỗ Quan Lớn Trà Vong, lễ cúng đình, đền, chùa,…
Du lịch về nguồn, tham quan các di tích lịch sử cách mạng:
Là vùng đất có truyền thống cách mạng kiên cường nên ngoài một lượng lớn các khu di tích lịch sử cấp tỉnh, Tây Ninh hiện có rất nhiều khu di tích cấp quốc gia như: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, núi Bà Đen, Căn cứ Xứ ủy Nam Bộ, Căn cứ Dương Minh Châu, địa đạo An Thới,… Đây là những nơi mà nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã từng sống và chỉ huy cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân dân ta. Ngoài ra, cũng không thể không nhắc đến Địa điểm Chiến thắng Tua Hai – nơi diễn ra trận đánh mang tính lịch sử dẫn đến cuộc khởi nghĩa toàn miền Nam chống lại chế độ Mỹ – Ngụy thời bấy giờ. Sự phong phú của các di tích là điều kiện rất thuận lợi để Tây Ninh phát triển sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng cho tỉnh nhà, đó là du lịch về nguồn, tham quan các di tích lịch sử cách mạng.
Đến với các khu di tích lịch sử – văn hóa, không chỉ được nghe thuyết minh về những tháng ngày đấu tranh oanh liệt của quân dân địa phương, du khách còn được tận mắt chứng kiến những hiện vật lịch sử, tham quan các khu tái hiện nơi sinh hoạt và chiến đấu của các đồng chí cán bộ Trung ương, các anh hùng liệt sĩ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đồng thời, du khách còn có cơ hội thưởng lãm và mua nhiều vật lưu niệm độc đáo được chế tác từ mảnh bom, vỏ đạn, hay nón tai bèo, khăn rằn,… là những vật dụng từng một thời gắn bó với chiến sĩ và nhân dân cả nước thời kháng chiến.
Sản phẩm du lịch này thường thu hút nhiều đoàn cán bộ, cựu chiến binh về thăm lại chiến khu xưa, nhất là vào các dịp lễ lớn trong năm. Các đoàn học sinh, sinh viên cũng thường đến tham quan, học tập nhằm ôn lại truyền thống đấu tranh giữ nước hào hùng của cha ông. Về du khách quốc tế, chiếm số lượng không nhỏ vẫn là các cựu quân nhân Hoa Kỳ. Họ trở lại thăm chiến trường và hồi tưởng về một thời đã gieo rắc nỗi đau lên mảnh đất này, qua đó bày tỏ tình hòa hiếu giữa hai dân tộc, gác lại quá khứ để cùng hướng đến tương lai. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Du lịch tham quan, mua sắm tại khu kinh tế cửa khẩu:
Mộc Bài là cửa khẩu quốc tế đường bộ lớn nhất phía nam nước ta trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Campuchia, thuộc địa phận xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu. Kể từ khi được đưa vào hoạt động vào tháng 10/2015, tuy trải qua nhiều giai đoạn khó khăn nhưng hệ thống siêu thị miễn thuế (GC, Winmart, Fuso,…) tại Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài vẫn là địa điểm hấp dẫn du khách đến tham quan, mua sắm vào những ngày nghỉ cuối tuần. Hàng hóa được bày bán ở đây rất đa dạng nhưng chủ yếu vẫn là hàng Việt Nam. Đối tượng chính đến với Siêu thị miễn thuế Mộc Bài là khách tham quan, bà con tiểu thương từ khắp các tỉnh thành, đặc biệt là từ Tây Ninh và TP.HCM.
Du lịch thưởng thức ẩm thực:
Ngoài việc tham quan các di tích lịch sử – văn hóa, tham gia lễ hội truyền thống,… thì thưởng thức ẩm thực cũng là một trải nghiệm không thể nào quên đối với khách du lịch khi đến vùng đất này. Tây Ninh vốn nổi tiếng với nhiều món ăn ngon, từ các loại đặc sản (ốc núi, thằn lằn núi Bà Đen) cho đến những món mặn (bánh canh, bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, muối ớt tôm, mắm chua,…), món ăn chay và các loại trái cây (mãng cầu Bà Đen, mít nghệ,…). Thời gian gần đây, mạng lưới cửa hàng ăn uống trên địa bàn lại liên tục được mở rộng, chất lượng phục vụ ngày càng đảm bảo. Tất cả đã đáp ứng tốt nhu cầu ăn uống của thực khách sau những chặng đường dài, góp phần vào sự đa dạng của sản phẩm du lịch tại địa phương.
Du lịch làng nghề truyền thống:
Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có khá nhiều làng nghề thủ công truyền thống, trong đó không ít làng nghề đã hơn trăm năm tuổi. Một số sản phẩm của các làng nghề đã được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp chứng nhận nhãn hiệu tập thể và được khách hàng tiêu thụ với số lượng ngày càng tăng như bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, muối ớt chay và muối ớt tôm Tây Ninh. Khi đến tham quan làng nghề, khách du lịch sẽ được tận mắt ngắm nhìn nhiều sản phẩm đa dạng, độc đáo được làm ra từ đôi bàn tay khéo léo, nhanh nhẹn của những nghệ nhân nơi đây. Chẳng những vậy, khách tham quan còn có cơ hội tự mình thử sức với các thao tác, công đoạn tưởng chừng như đơn giản nhưng đầy thú vị của những người thợ thủ công. Tất nhiên, khi ra về mỗi du khách cũng không quên mua một vài sản phẩm làm kỷ niệm hoặc tặng người thân, bạn bè. Tuy nhiên, ngoài làng nghề bánh tráng Trảng Bàng hiện được một số đơn vị kinh doanh lữ hành hợp tác đưa du khách đến tham quan, tìm hiểu thì hầu như các làng nghề còn lại vẫn chưa được khai thác phục vụ du lịch. Rõ ràng đây là một sản phẩm du lịch văn hóa có tiềm năng lớn của tỉnh nhưng lại phát triển chưa tương xứng do khâu quảng bá chưa được chú trọng.
2.3.6. Các địa bàn hoạt động du lịch văn hóa chủ yếu Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
2.3.6.1. Các tuyến du lịch
- Các tuyến du lịch nội tỉnh:
Nhìn chung, các tuyến du lịch nội tỉnh được xây dựng trên cơ sở khai thác những điểm du lịch quan trọng như núi Bà Đen, Tòa Thánh Cao Đài, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Siêu thị miễn thuế Mộc Bài,… (xem bảng 2.5.). Đó thường là các tour ngắn và du khách thường đi về trong ngày. Đối tượng chủ yếu của các tuyến nội tỉnh là du khách địa phương và từ một số tỉnh thành lân cận (TP.HCM, Bình Dương, Long An,…).
Bảng 2.5. Một số tuyến du lịch nội tỉnh đang được khai thác tại Tây Ninh
| STT | Tên tuyến | Chiều dài lộ trình | Địa điểm tham quan | Sản phẩm du lịch chính |
| 1 | Thị xã Tây Ninh – Núi Bà Đen – Hồ Dầu Tiếng – Tòa Thánh Cao Đài | 35 – 40 km | Núi Bà Đen, hồ Dầu Tiếng, Tòa Thánh Cao Đài. | Du lịch tâm linh, lễ hội; du lịch thể thao, sinh thái; tham quan di tích lịch sử – văn hóa nghệ thuật. |
| 2 | Thị xã Tây Ninh – Tháp Chót Mạt – Căn cứ Trung ương Cục miền Nam – Cửa khẩu Xa Mát | 60 – 65 km | Tháp Chót Mạt, sân bay Thiện Ngôn, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Cửa khẩu Xa Mát,… | Tham quan học tập, nghiên cứu; về nguồn thăm chiến trường xưa, tham quan di tích lịch sử cách mạng. |
| 3 | Thị xã Tây Ninh – Bến Cầu – Cửa khẩu Mộc Bài | 25 – 30 km | Địa đạo Lợi Thuận, siêu thị miễn thuế Mộc Bài. | Tham quan di tích lịch sử cách mạng; du lịch tham quan, mua sắm tại khu kinh tế cửa khẩu. |
| 4 | Thị xã Tây Ninh – Gò Dầu – Trảng Bàng | 55 – 60 km | Địa đạo An Thới, tháp Bình Thạnh, chiến khu Bời Lời,… | Tham quan di tích lịch sử cách mạng; du lịch ẩm thực; tham quan, mua sắm. |
Nguồn: Công ty Cổ phần Lữ hành Tây Ninh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Các tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế:
Ngoài những tuyến nội tỉnh, các công ty dịch vụ lữ hành tại địa phương và các tỉnh thành lân cận còn khai thác nhiều tuyến du lịch liên tỉnh thông qua các tour dài ngày, kết nối những điểm du lịch tại Tây Ninh với TP.HCM, các tỉnh còn lại trong vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực Tây Nguyên (Lâm Đồng, Đăk Lăk,…), chẳng hạn như:
- Tuyến Tây Ninh – TP.HCM – Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Tuyến Tây Ninh – TP.HCM – Đồng Nai – Bình Dương – Bình Phước.
- Tuyến Tây Ninh – TP.HCM – Long An – Tiền Giang – Bến Tre.
- Tuyến Tây Ninh – TP.HCM – Tây Nguyên.
Bên cạnh đó, các tuyến du lịch quốc tế cũng dần được hình thành, chủ yếu từ Tây Ninh đi các nước Campuchia, Thái Lan, Lào thông qua hai cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát (xem bảng 2.6.) bằng đường ôtô.
Bảng 2.6. Một số tuyến du lịch quốc tế đang được các công ty dịch vụ lữ hành tại Tây Ninh khai thác
| STT | Tên tuyến | Thời gian | Địa điểm tham quan | Đơn vị khai thác |
| 1 | Tây Ninh – Campuchia | 3 ngày
2 đêm |
Tỉnh Kampong Cham, đền Angkor Wat, Angkor Thom ở TP. Siem Reap, thủ đô Phnom Penh | Công ty Cổ phần Du lịch Thương mại Tây Ninh |
| 2 | Tây Ninh -Campuchia – Thái Lan | 5 ngày
4 đêm |
Thủ đô Phnom Penh (Campuchia); TP. Pattaya, đảo Coral, làng dân tộc Nonooch, Trân Bảo Phật Sơn, thủ đô Bangkok (Thái Lan) | Công ty Cổ phần Lữ hành Tây Ninh |
| 3 | Tây Ninh – Campuchia – Lào | 6 ngày
5 đêm |
Đền Angkor Wat, Angkor Thom ở TP. Siem Reap, tỉnh Steung Treng (Campuchia); cố đô Champasak, thủ đô Vientiane, tỉnh Savanakhet (Lào) | Công ty Cổ phần Lữ hành Tây Ninh |
| 4 | Tây Ninh – Campuchia – Thái Lan – Lào | 8 ngày
7 đêm |
Quần thể đền Angkor Wat, Angkor Thom ở TP. Siem Reap (Campuchia); TP. Pattaya, thủ đô Bangkok (Thái Lan); thủ đô Vientiane, tỉnh Savanakhet (Lào) | Công ty Cổ phần Lữ hành Tây Ninh |
Nguồn: Công ty Cổ phần Du lịch – Thương mại Tây Ninh, Công ty Cổ phần Lữ hành Tây Ninh
2.3.6.2. Các điểm, khu du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen:
Là một trong những điểm du lịch lớn và hấp dẫn bậc nhất khu vực phía Nam, khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen là địa bàn trọng điểm thu hút khách của Tây Ninh. Khách thập phương thường đến đây với mục đích leo núi hoặc sử dụng hệ thống cáp treo để thưởng ngoạn cảnh núi non hùng vĩ, đồng thời tham gia các hoạt động tâm linh như viếng chùa, lễ Phật. Đặc biệt, những du khách trẻ tuổi còn có cơ hội được thử thách bản thân với hệ thống máng trượt hiện đại, an toàn và đầy hấp dẫn. Trong những năm qua, lượng khách tham quan đến núi Bà Đen tăng liên tục, đạt hơn 2,3 triệu lượt khách (năm 2023), trong đó lượng khách tham gia hội xuân chiếm đa số với trên 60,0% (xem bảng 2.7.).
Bảng 2.7. Thực trạng khách du lịch tại Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen giai đoạn 2018 – 2023
Đơn vị: triệu lượt khách
| Năm | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 |
| Khách du lịch | 1.803.064 | 1.911.543 | 2.020.021 | 2.154.947 | 2.201.187 | 2.321.086 |
| Trong đó: | ||||||
| – Khách hội xuân | 1.181.132 | 1.198.347 | 1.309.315 | 1.340.069 | 1.381.054 | 1.412.267 |
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh
Những năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách tham quan, Ban quản lý khu du lịch núi Bà Đen đã đầu tư thêm nhiều công trình mới như cải tạo cảnh quan khuôn viên chân núi, xây dựng Hang Rồng, đầu tư hệ thống cáp treo mới theo công nghệ châu Âu (năm 2023),… Đến thời điểm hiện tại, Khu du lịch núi Bà Đen vẫn đang thể hiện rõ vai trò đầu tàu của mình đối với du lịch tỉnh nhà khi mang lại doanh thu gần 40,0 tỉ đồng mỗi năm, đóng góp đáng kể vào tổng thu du lịch và ngân sách địa phương. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Khu Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam:
Sau hai lần được trùng tu, tôn tạo vào các năm 2004 và 2015, nhiều công trình trong khu Căn cứ Trung ương Cục miền Nam đã được đưa vào phục vụ khách tham quan. Là di tích có giá trị cao về lịch sử và khoa học, Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam hiện trở thành địa chỉ đỏ cho nhiều chuyến hành trình về nguồn, giáo dục truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc, đặc biệt là với thế hệ trẻ. Theo thống kê của Ban Quản lý các khu di tích lịch sử Cách mạng miền Nam trong giai đoạn 2018 – 2023, cùng với Căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Căn cứ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trung bình mỗi năm Căn cứ Trung ương Cục miền Nam đón hơn 600 đoàn với khoảng 38.000 lượt khách đến tham quan (xem bảng 2.8.).
Bảng 2.8. Thực trạng khách du lịch tại khu di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Căn cứ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam giai đoạn 2018 – 2023
| Năm | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 |
| Số đoàn khách | 665 | 606 | 512 | 641 | 803 | 841 |
| Số lượt khách | 36.789 | 27.785 | 29.020 | 36.763 | 50.000 | 52.000 |
Nguồn: Ban Quản lý các khu di tích lịch sử Cách mạng miền Nam
Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học to lớn cùng khả năng khai thác phục vụ du lịch, ngày 10/05/2022, Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam đã được Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt. Tòa Thánh Tây Ninh:
Tòa Thánh Tây Ninh là một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng, là trung tâm hành đạo chính của các tín đồ Cao Đài ở Tây Ninh và toàn miền Nam. Nhờ lối kiến trúc độc đáo nổi bật trên một khuôn viên rộng lớn, thoáng đãng nên mỗi năm Tòa Thánh Cao Đài luôn thu hút một lượng lớn khách du lịch trong nước và khách quốc tế đến tham quan, thưởng lãm. Theo người dân địa phương, ngoài bộ phận dân cư ở khu vực xung quanh, khách vãng lai đến vui chơi vào mỗi buổi chiều các ngày trong tuần thì lượng khách tập trung đông nhất tại Tòa Thánh chủ yếu vào hai dịp lễ lớn trong năm: Đại lễ Vía Đức Chí Tôn (mùng 9 tháng Giêng) và Hội yến Diêu Trì Cung (14, 15 tháng 8 âm lịch). Theo ghi nhận của các phóng viên báo chí, nhà đài trên địa bàn thì hằng năm có đến hơn 35.000 lượt người về Tòa Thánh dự Đại lễ Vía Đức Chí Tôn. Còn vào rằm tháng 8, Hội yến Diêu Trì Cung cũng thu hút hàng vạn tín đồ Cao Đài, khách tham quan từ khắp mọi miền đất nước và bạn bè quốc tế về tham dự.
Hệ thống siêu thị miễn thuế tại khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài:
Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài có tổng diện tích quy hoạch lên đến 21.283 ha nhưng chỉ mới đưa vào sử dụng gần 2.500 ha từ năm 2016, trong đó có chuỗi các siêu thị miễn thuế. Khoảng 3 năm đầu sau ngày thành lập, hệ thống siêu thị miễn thuế tại cửa khẩu đã thu hút tới 10.000 lượt khách tham quan, mua sắm mỗi ngày. Một thời gian dài sau đó, tuy lượng khách giảm đáng kể do một số điều chỉnh về chính sách miễn thuế cho du khách nội địa của Chính phủ nhưng nhìn chung, siêu thị Mộc Bài vẫn là một điểm đến thú vị của không ít khách du lịch. Năm 2022 đã có hơn 2,7 triệu lượt khách (bình quân hơn 7.000 lượt khách/ngày) đến đây tham quan, mua sắm giúp doanh thu toàn khu thương mại Mộc Bài đạt hơn 1.200 tỉ đồng. Thời gian tới, cụ thể vào khoảng tháng 01/2024, khi Chính phủ áp dụng định mức mua hàng miễn thuế mới đối với khách du lịch tại Mộc Bài (1 triệu đồng/người/ngày) cùng nhiều chính sách ưu đãi hấp dẫn, chắn chắn hệ thống siêu thị vùng biên nơi đây sẽ càng nhộn nhịp, thu hút nhiều du khách trở lại tham quan, mua sắm.
Khu du lịch Long Điền Sơn: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Với khuôn viên rộng lớn, phong cảnh hữu tình mang đậm nét làng quê Việt Nam, Khu du lịch Long Điền Sơn là một trong những điểm dừng chân thú vị của nhiều du khách khi đến Tây Ninh. Tính đến thời điểm hiện tại, khu du lịch đã có 12 công trình đi vào hoạt động trên tổng diện tích hơn 12,0 ha. Trong đó có một số công trình mới khánh thành như rạp chiếu phim 5D, đua xe F1, xe điện đụng, 18 tầng địa ngục,… với tổng kinh phí đầu tư hơn 155 tỉ đồng. Kể từ khi chính thức đi vào hoạt động (năm 2019) đến nay, số lượng khách tham quan khu du lịch này không ngừng tăng lên, đạt 459.830 lượt khách vào năm 2023 với doanh thu hơn 10,0 tỉ đồng, nộp ngân sách hơn 600 triệu đồng.
2.3.7. Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh
2.3.7.1. Thành tựu
Nhìn chung trong những năm gần đây, du lịch Tây Ninh, trong đó có du lịch văn hóa, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Ngoại trừ thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2018 – 2019 thì lượng khách du lịch đến Tây Ninh tăng liên tục, vượt mức 3,0 triệu lượt khách từ năm 2021. Trong số này có đến gần 70,0% du khách đến tham quan Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen – điểm du lịch văn hóa chủ lực của tỉnh. Ngoài sự phát triển ổn định của nguồn khách du lịch nội địa thì lượng khách quốc tế đến tham quan Tây Ninh cũng gia tăng với thị trường ngày càng đa dạng, từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã mở rộng sang các nước Tây Âu, Bắc Mĩ. Nhờ đó, tổng thu từ khách du lịch trên địa bàn tỉnh đạt mức tăng trưởng khá (gần 24,0%/năm), từ chỗ chưa đến 200,0 tỉ đồng (năm 2017) đã vượt lên gần 600,0 tỉ đồng vào năm 2022. GDP du lịch cũng đạt trên 400,0 tỉ đồng (cao gấp 3,2 lần so với năm 2017), trong đó chỉ riêng nguồn thu từ Khu du lịch núi Bà Đen là hơn 9,0%.
Hoạt động đầu tư và xúc tiến du lịch văn hóa cũng rất được tỉnh chú trọng. Nhờ nguồn vốn được huy động từ ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệp, nhiều di tích lịch sử đã được đầu tư xây dựng, chỉnh trang và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng (Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen, Khu di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích lịch sử – văn hóa Căn cứ Dương Minh Châu, Di tích lịch sử địa đạo An Thới,…). Đặc biệt, một số di tích lịch sử – văn hóa nghệ thuật có dấu hiệu xuống cấp như đình Hiệp Ninh, tháp Bình Thạnh, tháp Chót Mạt,… đã được trùng tu, tôn tạo khang trang. Bên cạnh đó, bằng nhiều hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản những ấn phẩm du lịch, tổ chức các hội chợ, lễ hội truyền thống,… Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh đang từng bước đưa thông tin, hình ảnh du lịch tỉnh nhà đến rộng rãi du khách trong và ngoài nước. Công tác thu hút, mời gọi đầu tư cho du lịch cũng được Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại – Du lịch Tây Ninh chú trọng thông qua việc tham gia các lễ hội, hội chợ triển lãm chuyên ngành trong nước và quốc tế hằng năm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Hiện nay, tỉnh đang phát triển loại hình du lịch văn hóa truyền thống, đồng thời từng bước hình thành một số sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng như du lịch tâm linh gắn với các lễ hội, di tích lịch sử – văn hóa nghệ thuật; du lịch về nguồn, tham quan các di tích lịch sử cách mạng; du lịch tham quan, mua sắm tại khu kinh tế cửa khẩu,… Ngoài ra, trên cơ sở kết hợp những địa điểm du lịch hấp dẫn tại địa phương và các tỉnh thành lân cận, nhiều tuyến du lịch nội tỉnh và liên tỉnh (chủ yếu với các tỉnh miền Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long) được xây dựng và hiện đang hoạt động với lượng khách ổn định. Đặc biệt, nhiều tuyến du lịch quốc tế, chủ yếu bằng đường bộ sang các nước Campuchia, Thái Lan, Lào qua hai cửa khẩu Mộc Bài và Xa Mát, cũng đã được các hãng lữ hành đưa vào khai thác khá hiệu quả. Nhìn chung, Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen, Khu di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Tòa Thánh Cao Đài, Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài,… vẫn là những điểm du lịch văn hóa trọng yếu trên địa bàn tỉnh.
2.3.7.2. Hạn chế
Mặc dù đã đạt được không ít thành tựu song hiện nay, du lịch văn hóa ở Tây Ninh vẫn tồn tại khá nhiều hạn chế. Trước hết là về cơ cấu khách du lịch, khách nội địa lấn át hoàn toàn so với khách quốc tế, chiếm tỉ lệ hơn 99,0% lượng khách tham quan mỗi năm. Cơ cấu khách nội địa cũng có sự chênh lệch đáng kể khi có đến 90,0% là du khách địa phương và các tỉnh thành lân cận (thuộc vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long). Chẳng những vậy, phần lớn khách du lịch trong nước (hơn 60,0%) đến Tây Ninh lại là những người có thu nhập thấp (công nhân, nông dân, sinh viên) hoặc thậm chí không có thu nhập (học sinh). Có thể nói, nguồn khách nước ngoài ít ỏi cùng sự hạn chế về thu nhập của phần lớn khách nội địa là một trong số nhiều nguyên nhân khiến GDP du lịch của địa phương còn thấp so với quy mô GDP toàn tỉnh, thường chiếm không quá 1,0%.
Thời gian gần đây, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh đã nỗ lực phối hợp cùng nhiều ban ngành, đoàn thể có liên quan để đẩy mạnh hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh nhà dưới nhiều hình thức. Tuy vậy, các hoạt động này vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Nguyên nhân có thể do cách thức tuyên truyền, quảng bá các thông tin và hoạt động du lịch tại địa phương còn sơ sài, không đầy đủ nên chưa thu hút được sự quan tâm của du khách. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu, và cũng là điểm hạn chế lớn nhất của du lịch văn hóa Tây Ninh, đến từ sự phát triển đơn điệu, chưa rõ nét của các loại hình và sản phẩm du lịch văn hóa trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Đến thời điểm hiện tại, tỉnh gần như vẫn chưa thể phát triển được loại hình du lịch văn hóa hiện đại vốn chỉ đi đôi với một nền kinh tế – xã hội có trình độ cao. Nếu so với mặt bằng chung của các sản phẩm du lịch tại địa phương thì du lịch tâm linh gắn với các lễ hội, di tích lịch sử – văn hóa nghệ thuật và du lịch về nguồn, tham quan các di tích lịch sử cách mạng là hai sản phẩm du lịch văn hóa thể hiện dấu ấn tương đối rõ nét nhất. Tuy nhiên, nếu xét trên bình diện khu vực hay quốc gia thì các sản phẩm này vẫn chưa đủ tầm để trở thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, có khả năng đại diện cho du lịch tỉnh nhà. Các sản phẩm du lịch còn lại như du lịch thưởng thức ẩm thực, du lịch làng nghề truyền thống đều rất có tiềm năng nhưng hiện chưa được đầu tư đúng mức. Riêng sản phẩm du lịch tham quan, mua sắm tại khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài lại không ổn định, thăng trầm tùy theo sự thay đổi cơ chế, chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu của Chính phủ và tình hình kinh tế – xã hội cả nước.
Một hạn chế nữa của du lịch văn hóa Tây Ninh là phạm vi và hiệu quả khai thác của các tuyến, điểm du lịch hiện nay. Do đường sắt và đường hàng không chưa có, hình thức vận chuyển hành khách bằng đường thủy chưa phát triển nên đa phần các tuyến du lịch nội tỉnh, liên tỉnh và quốc tế đều được khai thác dựa vào mạng lưới giao thông đường bộ. Chính điều này đã khiến cho phạm vi các tuyến du lịch liên tỉnh ít nhiều bị hạn chế, còn các tuyến quốc tế chỉ dừng lại ở một số nước Đông Nam Á lục địa. Đấy là chưa kể đến tâm lý dè dặt, ái ngại của khách du lịch khi phải trải qua những chuyến hành trình dài bằng ô tô, vừa không đảm bảo sức khỏe vừa tốn nhiều thời gian di chuyển.
Về các điểm du lịch, ngoại trừ núi Bà Đen, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Tòa Thánh Cao Đài, Siêu thị miễn thuế Mộc Bài thì nhiều điểm du lịch tiềm năng khác tại Tây Ninh hiện vẫn chưa có bước đột phá nào đáng kể. Ngoài ra, tình trạng chặt chém du khách, chen lấn, móc túi, cướp giật tài sản và ô nhiễm môi trường vẫn còn xảy ra tại một số điểm du lịch, nhất là vào các dịp lễ tết. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Định hướng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
