Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ xưa, du lịch đã được xem như một dạng hoạt động nghỉ ngơi tích cực, đồng thời là một sở thích, một nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hằng ngày của con người. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội, du lịch được xác định là một ngành kinh tế dịch vụ quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới. Với đặc tính bao hàm nhiều nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, việc phát triển du lịch không những chỉ đáp ứng được nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí,… của khách du lịch mà còn tạo thêm nhiều việc làm, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời góp phần nâng cao dân trí và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngoài ra, du lịch còn góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, làm đậm đà thêm bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia và dân tộc. Du lịch còn là một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng trong việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới. Chính vì vậy, du lịch đã và đang trở thành một ngành “công nghiệp không khói” mang lại nhiều lợi nhuận và chiếm giữ vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Trong những năm gần đây, bên cạnh sự phát triển khá mạnh mẽ của loại hình du lịch sinh thái thì du lịch văn hóa cũng là một hình thức du lịch rất phổ biến, hiện đang thu hút được sự quan tâm của đông đảo du khách có nhu cầu tìm hiểu, khám phá những nét văn hóa đặc trưng, độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc của các nền văn hóa trên phạm vi toàn cầu. Bên cạnh khả năng thỏa mãn được các nhu cầu tham quan, giải trí cơ bản của khách du lịch thì du lịch văn hóa còn giúp du khách nâng cao hiểu biết về lịch sử, kiến trúc, kinh tế – xã hội, lối sống và phong tục tập quán,… ở những nơi mà họ đến thăm. Có thể nói, nếu như du lịch sinh thái chủ yếu hướng đến việc bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa thì du lịch văn hóa lại có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và tinh hoa văn hóa của nhân loại cũng như bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Do đó, với bề dày lịch sử hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, lại nằm gần trung tâm khu vực Đông Nam Á – nơi vốn được xem là cái nôi của nền văn minh lúa nước, đồng thời là nơi giao thoa, gặp gỡ của nhiều nền văn hóa đa dạng từ các quốc gia và khu vực lân cận cả trong quá khứ lẫn hiện tại, Việt Nam sở hữu nhiều điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển đa dạng các loại hình du lịch văn hóa.
Là một tỉnh ở miền biên giới Tây Nam của Tổ quốc, Tây Ninh được sử liệu ghi nhận xưa kia vốn là vùng đất thuộc Vương quốc Phù Nam, phát triển hưng thịnh vào những thế kỷ đầu Công nguyên với nền văn hóa Óc Eo độc đáo. Không những vậy, trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhờ có vị trí chiến lược quan trọng về mặt quốc phòng, Tây Ninh được chọn làm căn cứ địa cách mạng trọng yếu của miền Nam, cùng với Phước Long, Bình Long, Sông Bé,… hợp thành một miền Đông anh dũng trong chiến đấu và anh hùng trong lao động. Nhờ thừa hưởng nhiều nét văn hóa đặc sắc cùng truyền thống cách mạng hào hùng từ quá khứ để lại, Tây Ninh ngày nay có rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, nhất là loại hình du lịch văn hóa. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Tính đến cuối năm 2022, toàn tỉnh có 80 di tích lịch sử – văn hóa được xếp hạng, trong đó có 23 di tích cấp quốc gia. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh đạo các cấp, du lịch Tây Ninh đã không ngừng phát triển và gặt hái được những kết quả đáng khích lệ khi tổng lượt khách du lịch đến với Tây Ninh và doanh thu du lịch của tỉnh tăng liên tục trong giai đoạn 2010 – 2022, đóng góp đáng kể vào ngân sách tỉnh nhà mỗi năm, góp phần cải thiện đời sống người dân địa phương. Trên địa bàn tỉnh hiện đã hình thành khá nhiều điểm, khu du lịch có sức hấp dẫn lớn du khách như: khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen, khu di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Tòa Thánh Cao Đài, Di tích lịch sử – văn hóa tháp Chót Mạt, Hội xuân Núi Bà,…
Tuy nhiên, cho đến nay, du lịch Tây Ninh vẫn còn nhiều hạn chế so với mặt bằng chung của cả nước. Hầu hết các điểm, khu du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư khai thác đúng mức, công tác quản lý còn tồn tại nhiều bất cập, nội dung chương trình du lịch chưa phong phú, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, nguồn nhân lực phục vụ du lịch cùng đội ngũ cán bộ quản lý về lĩnh vực này còn thiếu và hạn chế về năng lực, cơ sở hạ tầng vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch còn khá nghèo nàn, công tác tuyên truyền quảng bá du lịch văn hóa chưa đạt hiệu quả như mong muốn,… Do đó, hoạt động du lịch văn hóa hiện vẫn chưa phát triển tương xứng với những tiềm năng và lợi thế to lớn của địa phương, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển chung của ngành du lịch.
Vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh, từ đó đề xuất định hướng cùng những giải pháp thiết thực, phát triển hơn nữa du lịch văn hóa ở địa phương trong những năm sắp tới theo hướng bền vững trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường là một vấn đề hết sức cấp thiết. Là một người con của quê hương Tây Ninh, tôi quyết định chọn đề tài “Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh” để thực hiện luận văn tốt nghiệp Cao học với mong muốn được đóng góp công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của ngành du lịch tỉnh nhà.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017 – 2023, tác giả đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh theo hướng bền vững đến năm 2030.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch văn hóa.
- Phân tích tiềm năng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Tây Ninh.
- Phân tích thực trạng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017 – 2023.
- Đề xuất định hướng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh đến năm 2030 và các giải pháp thục hiện.
3. Giới hạn đề tài
3.1 Về không gian:
- Địa bàn nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi tỉnh Tây Ninh, đặt trong mối quan hệ với các tỉnh lân cận thuộc vùng Đông Nam Bộ.
3.2 Về thời gian:
- Thực trạng du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh được tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2017 – 2023.
- Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa đến năm 2030.
3.3 Về nội dung:
Đề tài tập trung phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại tỉnh Tây Ninh, trên cơ sở đó đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển loại hình du lịch văn hóa ở địa phương trên quan điểm Địa lí học, không mở rộng sang các loại hình du lịch khác.
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Từ sau Thế chiến thứ hai, ngành du lịch ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình và mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, phải đến những năm 90 của thế kỷ XX, khi mà nền kinh tế – xã hội nước ta có sự chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện thì ngành du lịch mới thật sự được quan tâm. Kể từ thời điểm đó đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển của du lịch Việt Nam được thực hiện và công bố bởi các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực Kinh tế học, Kinh tế chính trị học, Địa lí học, Du lịch học,…
So với nhiều tỉnh trong vùng Đông Nam Bộ và cả nước, Tây Ninh nhìn chung vẫn là một tỉnh nghèo và chậm phát triển, đời sống người dân dựa vào nông nghiệp là chủ yếu. Vì vậy, tuy ngành du lịch vẫn còn non trẻ nhưng phát triển du lịch, nhất là du lịch văn hóa là một hướng đi đúng đắn nhằm khai thác tổng hợp tiềm năng lãnh thổ, góp phần phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch Tây Ninh được công bố. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về du lịch Tây Ninh, đặc biệt là du lịch văn hóa còn khá khiêm tốn. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được công bố như sau: Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Các Báo cáo hoạt động du lịch hằng năm và kế hoạch năm tiếp theo, “Chương trình xúc tiến du lịch năm 2019” của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh.
“Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” (2019), và gần nhất là “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2030 và định hướng 2040” của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh được Chính phủ phê duyệt vào cuối tháng 08/2023. Đây là công trình có ý nghĩa to lớn, không những chỉ rõ tiềm năng, thực trạng du lịch của tỉnh nhà, trong đó có loại hình du lịch văn hóa, mà còn đề ra những quan điểm, mục tiêu và định hướng và giải pháp phát triển du lịch địa phương đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040, nhằm thúc đẩy sự phát triển của du lịch, góp phần đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống của người dân địa phương.
Ngoài ra còn có một số đề tài nghiên cứu của các học viên cao học và sinh viên các trường đại học về du lịch Tây Ninh như:
- Tô Thị Thùy Trang (2019), “Phát triển hoạt động marketing trong du lịch quốc tế tại tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020 – 2025”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Ngoại thương TP.HCM.
- Phạm Thị Sương (2021), “Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2030 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội.
- Nguyễn Thị Minh Thư (2021), “Phát huy các giá trị văn hóa Cao Đài trong hoạt động du lịch (Qua nghiên cứu trường hợp Tòa Thánh Tây Ninh)”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội.
- Trương Thanh Quỳnh Thư (2022), “Lễ hội của đạo Cao Đài Tây Ninh với việc phát triển du lịch địa phương”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP.HCM.
- Nguyễn Ngọc Hiền (2018), “Đánh giá các nguồn lực và định hướng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2017 – 2025”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP.HCM.
- Nguyễn Trọng Hiếu (2021), “Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM.
Đa số các công trình nghiên cứu ở trên là báo cáo tổng quan hoạt động du lịch hằng năm, kế hoạch cho năm tiếp theo, hoặc quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn sắp tới. Còn hầu hết các luận văn đều dừng lại ở mức đánh giá, phân tích tổng quan tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch nói chung ở Tây Ninh, không đi sâu nghiên cứu về loại hình du lịch văn hóa ở địa phương.
Do đó, trên cơ sở kế thừa những đóng góp của các công trình nghiên cứu đi trước, đề tài “Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh” tập trung nghiên cứu sâu, làm rõ tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Tây Ninh trong giai đoạn 2017 – 2023, từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh đến năm 2030 từ góc độ Địa lí học.
5/ Quan điểm và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
Tiềm năng du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh khá phong phú, mỗi loại tuy có đặc điểm và chức năng riêng nhưng luôn có mối quan hệ qua lại, tương tác lẫn nhau và vận động theo quy luật chung của toàn hệ thống. Hơn nữa, du lịch văn hóa chỉ là một bộ phận của du lịch nói chung. Vì thế, khi nghiên cứu du lịch văn hóa ở Tây Ninh cần phải đặt trong bối cảnh phát triển của du lịch nói chung ở địa phương và xem xét thêm trong mối quan hệ với các tuyến du lịch nối với các tỉnh trong vùng phụ cận.
Do đó, việc đánh giá các tiềm năng và nhất là phân tích thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh cần được xem xét trên quan điểm hệ thống để có cơ sở đề xuất các giải pháp toàn diện, đồng bộ và phù hợp nhằm quản lý, khai thác và phát triển du lịch văn hóa ở Tây Ninh một cách hiệu quả.
- Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ
Cùng với hệ thống lãnh thổ du lịch nói chung, hệ thống lãnh thổ du lịch văn hóa cũng được xem là một hệ thống xã hội được cấu thành bởi nhiều yếu tố (tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người,…) có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau. Việc vận dụng quan điểm tổng hợp – lãnh thổ cho phép xem xét tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng trên một địa bàn cụ thể, từ đó phát hiện ra quy luật phát triển, phân bố và xác định các tuyến điểm du lịch phù hợp trong lãnh thổ ấy.
Chính vì vậy, tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Tây Ninh được nghiên cứu, xem xét một cách tổng hợp trên địa bàn tỉnh, để từ đó đề xuất khai thác có hiệu quả những thế mạnh của địa phương, góp phần hình thành nên những tuyến điểm du lịch hấp dẫn cũng như tạo ra các sản phẩm du lịch đặc trưng, độc đáo của tỉnh nhà.
- Quan điểm lịch sử – viễn cảnh
Để đảm bảo tính cập nhật, tác giả tập trung nghiên cứu tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Tây Ninh trong một giai đoạn cụ thể, gần với thời điểm thực hiện đề tài. Tuy nhiên, mỗi một hiện tượng địa lí kinh tế – xã hội nói chung và địa lí du lịch nói riêng đều trải qua các quá trình phát sinh, phát triển trong những khoảng thời gian nhất định.
Tây Ninh tuy là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nơi có bề dày lịch sử và có nền văn hóa đậm đà bản sắc từ xa xưa nhưng trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây đã và đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Chính vì vậy, các yếu tố liên quan đến du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh cũng luôn luôn có sự biến đổi không ngừng theo không gian và thời gian. Do đó, các nội dung trong đề tài luôn được xem xét trong mối quan hệ với quá khứ, tương ứng với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Việc này nhằm đánh giá và phân tích một cách toàn diện tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Tây Ninh vào thời điểm hiện tại, làm cơ sở để đưa ra những dự báo khách quan, đúng đắn cho tương lai.
- Quan điểm kinh tế – sinh thái Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Mục tiêu chính của phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng đều nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương nhưng đồng thời phải bảo tồn được môi trường sinh thái. So với các tỉnh, thành lân cận thì mức độ khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn và mật độ các tuyến điểm du lịch văn hóa ở Tây Ninh là khá cao. Vì vậy, các giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh được đề xuất trong đề tài luôn đi đôi với những chính sách bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên du lịch nhân văn nhằm hướng đến sự phát triển du lịch hiệu quả, bền vững cả trong hiện tại và tương lai.
- Quan điểm phát triển bền vững
Việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, xây dựng, tổ chức các hoạt động du lịch văn hóa ở Tây Ninh cần đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế của chủ đầu tư, lợi ích xã hội cho cộng đồng cư dân địa phương đồng thời không để hoạt động du lịch ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội của tỉnh. Vì vậy, các giải pháp quản lý, khai thác và phát triển du lịch văn hóa ở Tây Ninh được đề xuất trong giai đoạn sắp tới luôn đảm bảo sự bền vững về cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường.
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu
Để đảm bảo tính khách quan và khoa học của đề tài thì việc thu thập tài liệu cùng tất cả những thông tin liên quan đến du lịch văn hóa ở Tây Ninh là hết sức quan trọng. Do đó, trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã sưu tầm và tham khảo một lượng lớn tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các giáo trình, các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, số liệu thống kê của các cơ quan, ban ngành; một số luận văn, luận án đã nghiên cứu trước đó; các văn bản pháp luật, nghị quyết, nghị định; các bài báo, tạp chí và thông tin liên quan trên mạng Internet, Tivi,… Nguồn tài liệu thu thập có độ tin cậy cao và được xử lý khoa học nhằm nâng cao giá trị của luận văn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Phương pháp này được sử dụng trong đề tài thông qua việc phân tích, tổng hợp và so sánh rất nhiều thông tin và số liệu về du lịch văn hóa ở Tây Ninh từ những nguồn khác nhau. Do đặc điểm nguồn tài liệu thu thập được vẫn còn hạn chế và chưa đồng bộ nên khâu xử lý tài liệu, đặc biệt là số liệu khá phức tạp. Từ các số liệu thô thu thập được, tác giả đã xử lý, phân tích và tổng hợp thành các bảng số liệu tinh hoặc thể hiện qua biểu đồ. Tất cả những tài liệu và số liệu đã qua xử lý đều trở thành căn cứ đáng tin cậy để từ đó đưa ra những đánh giá cụ thể về tiềm năng cũng như phân tích, nhìn nhận đúng với thực tế khách quan về thực trạng phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
- Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Hệ thống lãnh thổ du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng được cấu thành bởi nhiều phân hệ (phân hệ khách du lịch; phân hệ tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử; phân hệ cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch; phân hệ cán bộ công nhân viên phục vụ,…) tuy khác nhau về bản chất nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Việc vận dụng phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống trong nghiên cứu đề tài cho phép đánh giá toàn diện các tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở Tây Ninh cũng như phân tích đúng thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại địa phương để từ đó đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch văn hóa trong tương lai một cách phù hợp.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa
Đây là phương pháp truyền thống của Địa lí học, là cơ sở quan trọng để khẳng định giá trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu. Vì vậy, phương pháp nghiên cứu thực địa được sử dụng rộng rãi và thường xuyên trong Địa lí du lịch để thu thập trực tiếp những số liệu, thông tin ban đầu với độ chính xác cao trên địa bàn nghiên cứu. Trong nhiều trường hợp, đây còn là phương pháp duy nhất để thu thập được những nguồn thông tin đáng tin cậy, làm cơ sở cho việc xây dựng ngân hàng tư liệu cho các phương pháp khác.
Việc tiến hành khảo sát thực địa được tác giả thực hiện thông qua việc đến các cơ quan, ban ngành trên địa bàn tỉnh Tây Ninh thu thập các tài liệu, số liệu thống kê, báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu,… đồng thời đến một số điểm, khu du lịch văn hóa điển hình ở các huyện, thị nội tỉnh để tìm hiểu những thông tin liên quan từ khách du lịch, người dân địa phương và chụp ảnh tư liệu.
- Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin Địa lí (GIS)
Đây là một trong những phương pháp đặc trưng của Địa lí học. Bản đồ không chỉ là phương tiện phản ánh những đặc điểm không gian của các đối tượng địa lí du lịch mà còn là cơ sở để tiếp cận những thông tin mới, vạch ra tính quy luật hoạt động của toàn hệ thống. Phương pháp sử dụng hệ thống thông tin địa lí (GIS) cho phép kết hợp thông tin với các đối tượng trên bản đồ, tạo ra những mối quan hệ mới có thể được sử dụng cho nhiều mục đích ứng dụng khác nhau, qua đó góp phần tạo mối liên kết không gian, quản lý và phát triển du lịch bền vững.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng bản đồ như một tư liệu cần thiết khi đánh giá tiềm năng và phân tích thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh. Ngoài ra, các thông số về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh phần lớn được thể hiện qua các biểu đồ. Bên cạnh đó, tác giả còn ứng dụng công nghệ GIS để thành lập các bản đồ về tài nguyên du lịch nhân văn, các tuyến, điểm du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh,… Tất cả không nằm ngoài mục đích làm tăng tính trực quan, sinh động cho cả người nghiên cứu lẫn người đọc đồng thời đảm bảo tính khoa học, khách quan của đề tài.
- Phương pháp điều tra xã hội học Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Phương pháp này có vai trò quan trọng trong nghiên cứu Địa lí du lịch vì tính chất xã hội của đối tượng nghiên cứu. Để thu thập các thông tin có liên quan nhằm phục vụ nội dung đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp hỏi ý kiến gián tiếp thông qua các phiếu khảo sát khách tham quan tại hai điểm, khu du lịch văn hóa trọng yếu trên địa bàn tỉnh, đó là Khu Di tích lịch sử văn hóa – Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen (75 phiếu), Tòa Thánh Cao Đài (25 phiếu). Sau khi được tổng hợp và xử lý, các thông tin, số liệu thu được từ cuộc khảo sát đã trở thành một trong những cơ sở thực tiễn để đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Tây Ninh. Đây cũng là căn cứ cho việc xây dựng định hướng phát triển và đề ra các giải pháp thực hiện phù hợp, có tính khả thi cao đối với hoạt động du lịch văn hóa ở địa phương.
- Phương pháp dự báo
Đây là tập hợp các phương pháp tính toán nhằm phân tích, lập kế hoạch và dự báo sự phát triển của hệ thống lãnh thổ du lịch trong tương lai căn cứ vào khối lượng, cơ cấu nhu cầu, tài nguyên du lịch, sức chứa của cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch,… Do đó, trong phạm vi đề tài, phương pháp dự báo được sử dụng để nghiên cứu một cách toàn diện các yếu tố khách quan và chủ quan, các điều kiện trong nước và ngoài nước, nội tỉnh và ngoại tỉnh, những thuận lợi và khó khăn có ảnh hưởng đến hoạt động du lịch văn hóa. Trên cơ sở đó, có thể đưa ra dự báo về các chỉ tiêu phát triển du lịch, đề xuất hướng tổ chức lãnh thổ du lịch, các dự án, tuyến điểm du lịch văn hóa cần ưu tiên đầu tư, xác định các sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù,… ở địa phương trong những năm tới.
6. Đóng góp của luận văn
Một số đóng góp chủ yếu từ kết quả nghiên cứu của luận văn:
- Hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch văn hóa để vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh. – Đánh giá tổng hợp những tiềm năng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Tây Ninh trên quan điểm Địa lí du lịch.
- Phân tích thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh, rút ra những thành tựu và hạn chế nhằm bổ sung cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các định hướng cùng giải pháp phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn được hiệu quả hơn.
- Đề xuất định hướng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh đến năm 2030 và các giải pháp thực hiện.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý du lịch và chính quyền tỉnh Tây Ninh trong công tác quản lý, chỉ đạo phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tổng hợp lãnh thổ, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của nền kinh tế – xã hội tỉnh nhà.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch văn hóa.
- Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh. –
- Chương 3: Định hướng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh đến năm 2030 và các giải pháp thực hiện.
Ngoài ra, trong luận văn còn có 8 bảng số liệu, 8 biểu đồ, 4 bản đồ và phần phụ lục (gồm 3 bảng số liệu, 1 mẫu phiếu khảo sát, 10 hình ảnh và 1 bản đồ).
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm và quan niệm
1.1.1.1. Du lịch
Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa chính thống về “du lịch”. Cho đến đầu thế kỷ XX, đi du lịch hầu như vẫn được xem là đặc quyền của giới quý tộc nên người ta chỉ coi du lịch là một dạng hoạt động không được phổ biến trong đời sống kinh tế – xã hội lúc bấy giờ.
Đến năm 1925, Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International of Union Official Travel Organization – IUOTO) đã đưa ra định nghĩa:
Du lịch được hiểu là hành động du hành của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình, nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay việc kiếm tiền sinh sống [10].
Tại hội nghị lần thứ 27 (năm 2003), Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourism Organization – UNWTO) đã đưa ra định nghĩa:
Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm [27]. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Theo nhà địa lí người Belarus, I. I. Pirojnik (1985):
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi, liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về mặt tự nhiên, kinh tế và văn hóa [25].
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2015) thì: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [30].
Như vậy, có thể thấy các quan niệm về du lịch dần được hoàn thiện theo thời gian và nhìn chung, các định nghĩa về du lịch đều đề cập đến các khía cạnh khác nhau về bản chất của du lịch. Đó là các hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí của con người ở ngoài nơi cư trú trong một khoảng thời gian nhất định nhằm khôi phục và phát triển thể chất, tinh thần.
1.1.1.2. Văn hóa
Từ “văn hóa” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau. Văn hóa là một từ mà theo Raymond H. Williams (1921 – 1988) – tiểu thuyết gia, nhà xã hội học, nhà phê bình nổi tiếng người Xứ Wales, là “một trong hai hay ba từ khó nhất trong ngôn ngữ tiếng Anh”. Theo Raymond H. Williams thì:
Văn hóa có ba phần chính đó là: thứ nhất, nó như một sự tiến trình tổng hợp trí tuệ, tinh thần và phát triển thẩm mỹ; thứ hai, nó như là một sự biểu lộ của một lối sống đặc biệt; và thứ ba là nó như những công việc và thực tiễn hoạt động trí tuệ và thẩm mỹ [6].
Nhà nhân học người Anh, Edward B. Tylor (1832 – 1917) trong công trình “Primitive Culture” (năm 1871) đã định nghĩa: “Văn hóa là một tổng thể phức hợp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên xã hội tiếp thu được” [6].
TSKH. Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [19].
Trên cơ sở những quan điểm trên, ta có thể hiểu văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
1.1.1.3. Du lịch văn hóa Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Du lịch văn hóa” là một thuật ngữ được cấu thành bởi hai yếu tố: “du lịch” và “văn hóa”. Ngay bản thân mỗi yếu tố “du lịch” và “văn hóa”, nếu đứng từ những góc nhìn khác nhau, người ta cũng đã đưa ra các khái niệm và định nghĩa không giống nhau. Do đó, nếu dựa trên quan điểm của nhiều ngành khoa học và các ngành kinh tế liên quan (Văn hóa học, Địa lí học, Khảo cổ học, Du lịch học,…) thì hiện nay đang tồn tại khá nhiều định nghĩa về “du lịch văn hóa”.
Theo GS. TS. Greg Richards thì: “Du lịch văn hóa là sự di chuyển của những người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ tới khu vực hấp dẫn về văn hóa với ý định thu thập những kinh nghiệm và thông tin mới để thỏa mãn những nhu cầu văn hóa của họ” [6]. Theo cách hiểu này, du lịch văn hóa là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm các thông tin mới cũng như hưởng thụ những giá trị văn hóa tại khu vực ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
Trong bài phát biểu tại Hội nghị Phát triển du lịch văn hóa ở Anh tổ chức ngày 16/12/2013, TS. Richard Prentice, Giáo sư Trường Đại học Nottingham (Anh), đã cho rằng: “Du lịch văn hóa là hoạt động du lịch được xây dựng, được dâng hiến hoặc được tiêu thụ như sự nhận thức cao của văn hóa” [6]. Như vậy, Richard không đưa ra khái niệm theo kiểu mô tả khái quát hoạt động của các đối tượng, hay nêu tóm tắt các mục tiêu của du lịch văn hóa mà chỉ cho rằng sự hình thành của hoạt động này được xuất phát từ động cơ nhận thức văn hóa.
Trong cuốn “Identify and Cultural Tourism” (năm 2016), GS. TS. Robert A. Stebbins, chủ tịch Liên đoàn Khoa học Xã hội Canada, đã nêu: “Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch đặc biệt hấp dẫn dựa trên sự nghiên cứu và tham gia vào những trải nghiệm văn hóa sâu sắc, mới lạ, đó là thẩm mỹ, trí tuệ, cảm xúc hay tâm lý”. Như vậy, Stebbins đã dựa vào mục đích du lịch (trải nghiệm văn hóa sâu sắc, mới lạ) và loại hình du lịch (thẩm mỹ, trí tuệ, cảm xúc hoặc tâm lý) để đưa ra định nghĩa du lịch văn hóa [6].
Đứng ở góc độ của một tổ chức chuyên ngành, Hội đồng quốc tế về những công trình kỷ niệm và khu di tích ICOMOS (International Council On Monuments and Sites) đã đưa ra định nghĩa về du lịch văn hóa như sau:
Du lịch văn hóa là một hình thức du lịch mà mục đích và đối tượng chủ yếu của nó là khám phá những công trình kỷ niệm, những khu di tích cùng nhiều mục tiêu khác. Nó đưa vào sử dụng những mặt ảnh hưởng tích cực từ quá khứ hiệu quả tới mức vừa thỏa mãn những mục đích cá nhân của du khách, vừa góp phần duy trì và bảo vệ chính các đối tượng mà nó khai thác. Hình thức du lịch này bênh vực, ủng hộ những nỗ lực trong thực tiễn được cho là nhằm duy trì và bảo vệ những nhu cầu của cộng đồng nhân loại bởi những lợi ích về mặt kinh tế, văn hóa – xã hội mà nó dành cho tất cả những người có liên quan [6].
Bên cạnh chức năng tất yếu của du lịch nói chung là thỏa mãn các nhu cầu của du khách thì định nghĩa này còn nêu bật được vai trò quan trọng hơn của du lịch văn hóa đó là thông qua việc khai thác những mặt tích cực của quá khứ để giáo dục nhận thức, đồng thời bênh vực, duy trì và bảo vệ những nhu cầu, lợi ích chính đáng cho cộng đồng. Định nghĩa này nhìn nhận du lịch văn hóa như là một hình thức du lịch thanh cao, lịch sự và mang tính bền vững.
Tại khoản 20, điều 4, chương I – Luật Du lịch Việt Nam (2015) đã nêu: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống” [30].
Từ những định nghĩa đã nêu trên, có thể đưa ra một định nghĩa tóm lược về du lịch văn hóa như sau: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm mục đích hưởng thụ, trải nghiệm những giá trị văn hóa của các vùng đất, quốc gia nơi mình đến, đồng thời giúp nâng cao ý thức giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị ấy.
1.1.1.4. Tài nguyên du lịch nhân văn Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2015):
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch [30].
Điểm khác biệt dễ thấy nhất so với tài nguyên du lịch tự nhiên là tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn, còn tác dụng giải trí không thật điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu. Ngoài ra, do được sản sinh từ quá trình lao động sáng tạo của con người nên phần lớn tài nguyên du lịch nhân văn phân bố ở các điểm quần cư, các khu đô thị, các thành phố lớn – nơi tập trung các đầu mối giao thông quan trọng nên việc tiếp cận với nguồn tài nguyên này nhìn chung là dễ dàng và thuận lợi. Hơn nữa, việc tham quan các đối tượng thuộc tài nguyên du lịch nhân văn thường diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, lại ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết, khí hậu. Nói cách khác, việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn góp phần làm giảm sự phụ thuộc vào tính mùa của hoạt động du lịch.
Việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn phần nhiều dựa vào cảm tính và chịu ảnh hưởng mạnh của các nhân tố như độ tuổi, trình độ văn hóa, hứng thú, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, vốn tri thức,… Hơn nữa, mục đích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn là không hề giống nhau, nếu không nói là vô cùng đa dạng và phong phú. Chính những vấn đề phức tạp ấy đã khiến cho công tác đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn gặp rất nhiều khó khăn.
1.1.1.5. Sản phẩm du lịch
Theo giáo sư Michael M. Coltman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình” [27].
Còn theo Luật Du lịch Việt Nam (2015) thì “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [30]. Như vậy có thể hiểu, sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách tham quan, đảm bảo du khách có thể tận hưởng một khoảng thời gian du lịch thú vị, trọn vẹn và hài lòng nhất.
1.1.1.6. Sản phẩm du lịch văn hóa Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Khi nói đến du lịch văn hóa thì có một khía cạnh mà các nhà kinh doanh du lịch đặc biệt quan tâm, đó là việc khai thác các giá trị văn hóa để tạo thành sản phẩm du lịch văn hóa. Nói cách khác, khi các sản phẩm văn hóa được khai thác cho mục đích du lịch thì sản phẩm văn hóa sẽ trở thành sản phẩm du lịch văn hóa. Tất cả mọi sản phẩm du lịch văn hóa đều bắt nguồn từ sản phẩm văn hóa, song không phải bất cứ sản phẩm văn hóa nào cũng có thể trở thành sản phẩm du lịch văn hóa.
Sản phẩm văn hóa do con người sáng tạo ra trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội để phục vụ cuộc sống, thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của các cá nhân và cộng đồng người. Sản phẩm văn hóa có tính bền vững, tính bất biến cao, bên cạnh dấu ấn cá nhân còn mang nặng dấu ấn của cộng đồng cư dân bản địa. Sản phẩm văn hóa ra đời không nhất thiết để bán mà chủ yếu phục vụ đời sống sinh hoạt văn hóa – tinh thần của người dân địa phương. Giá trị của mỗi sản phẩm văn hóa mang tính vô hình, thể hiện qua ấn tượng, cảm nhận của con người nên không thể đo lường bằng số lượng, giá cả mà được chú trọng về giá trị tinh thần, giá trị lịch sử.
Sản phẩm du lịch có tính thích ứng, tính khả biến cao và mang nặng dấu ấn của các cá nhân, các nhà tổ chức và khai thác du lịch. Sản phẩm du lịch được sản xuất ra nhằm bán cho du khách, phục vụ nhu cầu của các đối tượng khách du lịch là cư dân của các vùng miền khác nhau. Giá trị của sản phẩm du lịch đi kèm giá trị kinh tế – xã hội một cách hữu hình nên được đo bằng giá cả và biểu hiện thông qua các chỉ số kinh tế thu được.
Sản phẩm du lịch văn hóa chủ yếu được khai thác trong các chương trình về du lịch văn hóa. Bởi mục tiêu chính là thỏa mãn nhu cầu của khách tham quan nên mặc dù có nguồn gốc là sản phẩm văn hóa nhưng phần lớn sản phẩm du lịch văn hóa đều mang đặc trưng của sản phẩm du lịch. Khi được sử dụng trong hoạt động kinh doanh du lịch, chúng trở thành hàng hóa, mang lại lợi nhuận về kinh tế. Là một sản phẩm kinh doanh nhưng sản phẩm du lịch văn hóa là một loại “hàng hóa” đặc biệt, qua tiêu thụ không hề mất đi như những sản phẩm hàng hóa thông thường mà còn được nhân lên về mặt giá trị tinh thần và hiệu quả xã hội.
1.1.1.7. Điểm du lịch văn hóa
Điểm du lịch văn hóa là nơi có sự phân bố của các loại tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn cùng nhiều dịch vụ liên quan đi kèm nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí của khách du lịch.
Điểm du lịch văn hóa là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị của phân vùng du lịch ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
1.1.1.8. Tổ chức lãnh thổ du lịch
Hoạt động du lịch chỉ có thể được tổ chức và quản lý hiệu quả một khi chúng ta đảm bảo xem xét đầy đủ khía cạnh không gian (hay lãnh thổ) của nó. Do đó, tổ chức lãnh thổ du lịch là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình nghiên cứu hoạt động này.
Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan, dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng cùng các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường.
1.1.2. Một số vấn đề lý luận về phát triển du lịch văn hóa Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
1.1.2.1. Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch
Du lịch và văn hóa là hai thành phần gắn bó tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong hoạt động kinh doanh du lịch. Thực tiễn hoạt động du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay cho thấy, văn hóa không chỉ đóng vai trò là cơ sở cho việc hình thành các loại hình và sản phẩm du lịch cho đến cung cách phục vụ du lịch mà còn là một trong những nhân tố hỗ trợ đắc lực cho du lịch phát triển.
Thật vậy, giữa văn hóa, đặc biệt là văn hóa dân gian và du lịch có mối quan hệ rất chặt chẽ. Từ các di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, các công trình kiến trúc, bảo tàng,… cho đến những lễ hội, nghi lễ truyền thống, phong tục tập quán, kho tàng văn học dân gian, những nghề thủ công truyền thống trong các làng nghề, các loại hình nghệ thuật biểu diễn như ca múa, hát tuồng, múa rối, chèo, trình diễn các loại nhạc cụ dân tộc hay đờn ca tài tử, cải lương,… đều là những đối tượng có sức thu hút mạnh mẽ đối với khách du lịch, là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quý báu của mỗi quốc gia. Theo kết quả điều tra của nhiều tổ chức kinh doanh dịch vụ lữ hành trên khắp thế giới thì việc đưa vào chương trình tour các nội dung biểu diễn nghệ thuật bao giờ cũng mang đến cho du khách sự ngạc nhiên và thích thú đặc biệt. Khi hoạt động du lịch được tổ chức tốt, thì sẽ có nhiều tác động tích cực trở lại đối với văn hóa. Khi đó, thông qua tác động tới ý thức cộng đồng, du lịch góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời giúp đội ngũ những người làm du lịch cải thiện thái độ, văn hóa ứng xử trong du lịch để nâng cao chất lượng phục vụ du khách.
Chính vì vậy, một đất nước muốn làm du lịch hiệu quả và bền vững, nhất là du lịch văn hóa thì trước hết, toàn thể đội ngũ nhân viên hoạt động trong lĩnh vực du lịch cũng như người dân địa phương phải có lòng tự hào sâu sắc về tính truyền thống, tính độc đáo và sự đa dạng của nền văn hóa bản địa, đa dạng về không gian văn hóa của các vùng miền ở địa phương, đa dạng về văn hóa các tộc người, văn hóa ẩm thực, về hệ tư tưởng, tôn giáo và tín ngưỡng,… Từ đó, họ cần xây dựng cho mình nhận thức đúng đắn và rõ ràng về giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc đối với du lịch nước nhà cũng như mối tương quan giữa văn hóa bản địa với các nền văn hóa khác dưới góc độ là tiềm năng du lịch.
Bởi vì một nền văn hóa bao giờ cũng được hình thành và phát triển xuyên suốt quá trình vận động nội sinh từ trong lòng dân tộc, từ cội nguồn truyền thống cho đến hiện đại. Thành tựu của một nền văn hóa, bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, chính là kết quả quá trình vận động nội sinh của dân tộc đó từ quá khứ đến hiện tại nhưng đồng thời cũng tiếp nhận thành tựu từ những nền văn hóa khác, đấy chính là sự ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh. Mà trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì việc giao lưu văn hóa giữa các khu vực, các quốc gia càng trở nên phổ biến và cũng hết sức phức tạp trên nhiều lĩnh vực, bằng nhiều hình thức và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Trong quá trình ấy, nền văn hóa của một dân tộc sẽ ngày càng tiến bộ một khi thể hiện sự xử lý đúng đắn, linh hoạt mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Ngược lại, nền văn hóa đó sẽ tự đánh mất những bản sắc riêng, những giá trị cao quý nhất của dân tộc mình và dần bị mai một, thậm chí lụi tàn theo thời gian nếu tiếp nhận một cách dễ dãi các yếu tố ngoại sinh, từ bỏ các giá trị truyền thống tốt đẹp trong quá trình giao lưu, hòa nhập với những nền văn hóa khác trên thế giới. Và dĩ nhiên, lúc đó, du lịch cũng sẽ là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự xuống cấp của nền văn hóa bản địa. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Bên cạnh đó, mối quan hệ nội hàm sâu sắc giữa du lịch và văn hóa còn được biểu hiện qua sự hội tụ về cung – cầu. Tức là, sự mở rộng và phát triển của “cung” về du lịch cũng chính là sự mở rộng và phát triển của “cung” về tiêu thụ văn hóa. Ngược lại, sự phát triển của “cầu” về du lịch cũng chính là sự phát triển của “cầu” về văn hóa trong hoạt động kinh tế – xã hội. Hay nói cách khác, sự phát triển của những loại hình du lịch mới có thể dựa vào sự phát triển của các loại hình sinh hoạt văn hóa để làm tiêu chí phân loại. Và trái lại, nhu cầu thưởng thức những tour du lịch mới phần lớn cũng xuất phát từ nhu cầu thưởng thức những loại hình văn hóa mới. Do vậy, có thể nói rằng, khi một nước quan tâm đầu tư phát triển văn hóa thì vô hình chung, đất nước ấy đã gián tiếp đầu tư cho sự phát triển của du lịch.
Tóm lại, văn hóa và du lịch tuy là hai thành tố độc lập nhưng giữa chúng lại mối quan hệ rất mật thiết, chặt chẽ và gần gũi với nhau. Như cách nói của Groen (2004): “Văn hóa và du lịch sẽ đi đến sự hợp nhất và tất cả cho nhau” [6], tức văn hóa và du lịch sẽ hợp lại thành một. Vì mối quan hệ đặc biệt này mà văn hóa cũng được xem là đối tượng của du lịch và du lịch văn hóa được hình dung như một trong những cách thức tiêu thụ văn hóa. Do vậy, vấn đề đặt ra là ngoài việc huy động vốn, đầu tư cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực,… thì đầu tư cho văn hóa phải là hoạt động thường xuyên và lâu dài ở mọi quốc gia trên thế giới, dĩ nhiên trong đó có sự góp sức của ngành du lịch.
1.1.2.2. Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa
Tài nguyên du lịch nhân văn:
Các loại tài nguyên du lịch nhân văn:
Di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia và địa phương:
Di sản văn hóa thế giới:
Theo Công ước của Hội đồng Di sản Thế giới (WHO) thì di sản văn hóa thế giới bao gồm:
Các di tích: các tác phẩm kiến trúc, điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết nhiều đặc điểm có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Các quần thể công trình xây dựng: các quần thể này hoặc tách biệt hay liên kết lại với nhau, có giá trị nổi bật toàn cầu về kiến trúc, về tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
Các di chỉ: các tác phẩm do con người tạo nên, hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.
Có nhiều tiêu chuẩn để một di sản quốc gia được WHO công nhận là di sản văn hóa thế giới nhưng có thể thấy, việc một di sản quốc gia được công nhận, tôn vinh là di sản văn hóa thế giới mang lại nhiều ý nghĩa. Tầm vóc của di sản đó sẽ được nâng cao, những giá trị văn hóa, thẩm mỹ cũng như các ý nghĩa kinh tế, chính trị vượt ra khỏi phạm vi một nước. Từ đó, khả năng thu hút khách du lịch và phát triển dịch vụ sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều.
- Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia và địa phương:
Di tích lịch sử – văn hóa không chỉ là bộ mặt quá khứ mà còn là tài sản văn hóa vô giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước, mà ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, nghệ thuật.
Mỗi một quốc gia trên thế giới đều có những quy định riêng về di tích lịch sử – văn hóa. Ở Việt Nam, theo Luật Di sản văn hóa (2011) thì di tích lịch sử – văn hóa thuộc di sản văn hóa, bởi“Di sản văn hóa là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử – văn hóa và khoa học” [29].
Từ những quan niệm về di tích lịch sử – văn hóa của các nước trên thế giới và ở nước ta, chung quy lại thì di tích lịch sử – văn hóa là: Những nơi ẩn chứa một bộ phận giá trị văn hóa khảo cổ; Những địa điểm, khung cảnh ghi dấu về dân tộc học; Những nơi diễn ra sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển lịch sử đất nước, lịch sử địa phương; Những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược, áp bức; Những nơi ghi dấu giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, khoa học; Những công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị toàn quốc hoặc khu vực; Những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tạo dựng cùng với bàn tay khéo léo của con người.
Như vậy, về tổng thể có thể hiểu: “Di tích lịch sử – văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị nhiều mặt điển hình, do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [6].
Thực tế ở nhiều quốc gia và nước ta hiện nay cho thấy, di tích lịch sử – văn hóa thường được phân chia thành một số loại hình như sau: Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Di tích văn hóa khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa thuộc về lịch sử của xã hội loài người thời kỳ chưa có văn tự, hoặc thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại. Ngoại trừ một số trường hợp tồn tại trên mặt đất (ví dụ các bức chạm khắc trên vách đá,…) thì đa số các di tích văn hóa khảo cổ còn lại đều nằm trong lòng đất. Di tích văn hóa khảo cổ còn được gọi là di chỉ khảo cổ và được phân thành di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng.
Di tích lịch sử: là nơi ghi lại những đặc điểm riêng về lịch sử của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Loại hình di tích lịch sử bao gồm: Di tích ghi dấu về dân tộc học (sự ăn ở, sinh hoạt của các tộc người); Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu, có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương; Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược; Di tích ghi dấu những kỷ niệm; Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động; Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến.
Cũng có khi người ta phân chia loại hình di tích lịch sử theo các thời kỳ như cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại.
Di tích văn hóa nghệ thuật: là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nên còn được gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật. Chúng được chia thành 2 loại: di tích kiến trúc và di tích nghệ thuật. Những di tích này không chỉ có giá trị kiến trúc mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần.
Danh lam thắng cảnh: là cảnh quan thiên nhiên hoặc những địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. Nói cách khác, các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, mà còn có giá trị nhân văn do đôi bàn tay, khối óc của con người tạo nên. Chính vì thế, chúng có giá trị to lớn đối với hoạt động du lịch. Ở nước ta, phần lớn các danh lam thắng cảnh nổi tiếng đều là nơi có phong cảnh đẹp với những đền, chùa thờ Phật trang nghiêm, thanh bình.
- Các công trình đương đại:
Trong các chuyến đi du lịch thì các thư viện lớn, hiện đại trên thế giới luôn là điểm dừng chân thú vị của những du khách đam mê tìm tòi, tiếp cận với kho tri thức đồ sộ, quý báu của nhân loại. Còn bảo tàng là nơi lưu lại những dấu ấn, những sự kiện lịch sử, lưu giữ các kỷ vật liên quan đến những anh hùng liệt sĩ, các nhà cách mạng, các thiên tài hoặc vĩ nhân,… qua đó bảo tồn tài sản tinh thần quý giá của mỗi dân tộc. Vì vậy, cùng với việc bảo vệ các di tích lịch sử – văn hóa, công tác xây dựng bảo tàng luôn luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của mỗi quốc gia. Các bảo tàng lớn và nổi tiếng trên thế giới với khối lượng khổng lồ những hiện vật, những tác phẩm nghệ thuật thể hiện sự sáng tạo, tài năng và trí tuệ bất tận của con người lúc nào cũng là niềm mơ ước được đến tham quan và trải nghiệm của du khách.
- Lễ hội: Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú. Đây là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian dài lao động mệt nhọc, hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại (tưởng nhớ tổ tiên, ôn lại truyền thống,…), hoặc để giải quyết những nỗi lo âu, phiền muộn, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được. Vì vậy, lễ hội thường xuất hiện vào thời điểm linh thiêng chuyển giao mùa, hoặc đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ lao động và chuẩn bị bước sang một chu kỳ mới. Bên cạnh đó, ta thường thấy trong thực tế, lễ hội thường gắn với các di tích lịch sử – văn hóa như hình với bóng và chúng thật sự tạo nên một sức hấp dẫn kỳ diệu.
Theo Tạp chí Người đưa tin UNESCO (12/1989): “Lễ hội đã dệt nên tấm thảm muôn màu mà ở đó mọi sự đan quyện vào nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khó, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ và bản năng” [6]. Các lễ hội tạo nên một môi trường đặc biệt mà ở đó, người tham dự có điều kiện tiếp xúc với những bí ẩn, những cảm giác vừa mơ, vừa thực khi mà sự huyền diệu, kỳ bí và sự thân quen, bình dị đan xen, hòa quyện lẫn nhau. Lễ hội còn là dịp để con người hành hương về với cội rễ, bản thể của mình. Vì lẽ đó, ở bất kỳ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào và vào bất kỳ mùa nào đều có những lễ hội. Trong kho báu di sản của quá khứ để lại cho ngày hôm nay, các lễ hội dân tộc lành mạnh không bị mất đi, mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả về hình thức lẫn nội dung.
Lễ hội gồm 2 phần: phần nghi lễ và phần hội. Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng được tổ chức trang nghiêm, trọng thể nhằm hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, hoặc tưởng niệm một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc, một bậc thánh nhân có công khai phá hay chống giặc ngoại xâm bảo vệ bờ cõi, một ông tổ nghề hay nghệ thuật dân gian,… Các nghi thức trong phần lễ còn nhằm bày tỏ lòng tôn kính với những bậc thánh hiền hay thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa, sự phồn vinh, ấm no và hạnh phúc. Với yếu tố văn hóa linh thiêng cùng những giá trị nhân văn sâu sắc, các nghi lễ góp phần giáo dục ý thức tự hào nguồn cội, truyền thống uống nước nhớ nguồn và tính thẩm mỹ cho toàn thể cộng đồng người trước khi chuyển sang tham gia phần hội. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Phần hội diễn ra những hoạt động tiêu biểu, điển hình cho tâm lý và văn hóa cộng đồng, chứa đựng những quan niệm của một dân tộc về thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên. Trong hội thường có các trò chơi dân gian vui nhộn, những cuộc thi đấu thể thao truyền thống, trình diễn các loại hình nghệ thuật cổ truyền, tái hiện lại các hình thức sản xuất, tập quán sinh hoạt của người xưa,… Có thể nói tất cả những gì là tiêu biểu cho một vùng đất, một làng xã đều được mang ra phô diễn nhằm đem lại niềm vui cho mọi người. Đi hội còn là cái cớ để các chàng trai, cô gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau nên phần hội luôn gắn liền với tình yêu, sự giao duyên nam nữ đầy thi vị.
Trên thế giới, lễ hội có nguồn gốc và hình thức vô cùng đa dạng. Có thể phân biệt một số hình thức lễ hội chính sau đây:
- Lễ ghi nhớ những sự kiện của đời sống sinh nở, khai tâm, cưới xin, ma chay.
- Lễ hội “Phục hồi” nhằm làm sống lại một cách ngoạn mục ký ức về một quá khứ hay một nền văn hóa đã tiêu vong.
- Lễ hội có nghi lễ mô phỏng một cuộc tế lễ mang màu sắc sân khấu và có vẻ đẹp trang nghiêm.
- Lễ hội kỷ niệm mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều tổ chức một cách trang nghiêm để nhắc nhở bằng một công ước, hoặc một sự kiện khai sinh ra nhà nước hiện tại.
Ngoài ra, còn có thể phân biệt lễ hội theo nhóm lễ hội truyền thống dân gian (các lễ hội được hình thành trong lịch sử, gắn bó chặt chẽ với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc), lễ hội đương đại (các lễ hội mới phát triển, được du nhập từ các nền văn hóa mới trong thời kỳ hiện đại),…
- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học:
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có giá trị với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội và đặc điểm văn hóa, về thói quen ăn uống, sinh hoạt và sản xuất, về kiến trúc cổ, trang phục dân tộc,… Trên thực tế, mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang sắc thái riêng của mình trên địa bàn cư trú nhất định. Những nét đặc thù của từng dân tộc luôn có sức cuốn hút, hấp dẫn riêng đối với du khách. Bên cạnh mục đích tham quan nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí thì khách du lịch thời nay luôn mong muốn được gặp gỡ bạn bè quốc tế trong chuyến du hành của mình để quan sát và giao lưu, tìm hiểu về các nền văn hóa đồng thời cũng là để không ngừng tìm kiếm bản sắc dân tộc mình.
- Làng nghề thủ công truyền thống Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Trong Bách khoa toàn thư Việt Nam, làng nghề được định nghĩa là “những làng sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam”. Thật ra, làng nghề truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay không chỉ có ở nông thôn mà còn tồn tại trong các khu đô thị, nhất là vùng ven đô. Theo Bùi Văn Vượng: “Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời” [34]. Như vậy có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng có nghề cổ truyền được hình thành từ lâu đời, tồn tại và phát triển đến ngày nay. Hai yếu tố cơ bản cấu thành làng nghề là làng và nghề, trong đó nghề trong làng đã tách khỏi sản xuất nông nghiệp thành ngành kinh doanh độc lập.
Những sản phẩm của làng nghề truyền thống được làm ra bởi bàn tay tài hoa, khéo léo cùng óc sáng tạo tuyệt vời của những người thợ thủ công. Từ tranh dân gian, tranh sơn mài, thổ cẩm cho đến đồ gốm, sản phẩm điêu khắc từ các chất liệu đồng, đá, gỗ,… mỗi sản phẩm luôn mang dấu ấn và hình ảnh của từng làng quê, từng vùng miền, đồng thời ẩn chức bên trong là tâm hồn và bản sắc dân tộc. Có thể nói các sản phẩm của làng nghề truyền thống là sự kết tinh, giao thoa và phát triển các giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của mỗi dân tộc. Các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao gồm trong đó cả giá trị vật thể (hàng lưu niệm) và phi vật thể (kỹ năng làm nghề, cảm nhận văn hóa nghệ thuật,…) nên các làng nghề truyền thống chính là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, thu hút khách du lịch và đem lại lợi nhuận cao cho cộng đồng địa phương.
- Các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác:
Các viện khoa học, trường đại học danh tiếng; những thành phố lớn thường xuyên tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, triển lãm nghệ thuật; các thư viện, bảo tàng nổi tiếng; những sự kiện thể thao quốc tế (Olympic, World Cup, Euro,…); các cuộc thi hoa hậu,… cũng là những đối tượng văn hóa, thể thao thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu.
Các viện nghiên cứu, các trường đại học nổi tiếng trên thế giới là nơi tham quan lý tưởng cho những người trẻ nhằm mục đích định hướng nghề nghiệp hay chọn lựa môi trường học tập phù hợp khi có ý định du học. Đây còn là nơi trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, thành tựu hay hợp tác giáo dục giữa các quốc gia.
Những cuộc triển lãm, hội chợ thường được tổ chức tại các thành phố lớn nhằm trưng bày, giới thiệu đến bạn bè quốc tế những thành tựu trên mọi lĩnh vực của nước sở tại hoặc một khu vực có mối quan hệ, tương đồng về kinh tế hay văn hóa,… Có những người tham dự triển lãm để trao đổi kinh nghiệm sản xuất hoặc tuyên truyền cho các sản phẩm đem trưng bày. Một số khác là thương nhân tìm đến triển lãm để thiết lập mối quan hệ và ký hợp đồng mua bán sản phẩm với các hãng hay công ty nước ngoài. Còn lại là số lượng đông đảo khách tham quan, du lịch bình thường đến với triển lãm bởi nhiều mối quan tâm khác nhau. Rất nhiều thành phố đã trở thành trung tâm cho những hoạt động triển lãm về thành tựu kinh tế, khoa học – kỹ thuật và hội chợ như Leipzig (Cộng hòa Liên bang Đức), Vienna (Áo), Brussels (Bỉ), Cairo (Ai Cập), Moscow (Liên bang Nga),…
Ngoài ra, những cuộc tranh tài thể thao tầm cỡ châu lục (Euro, Asiad,…) hay thế giới (Olympic, World Cup,…), các cuộc thi hoa hậu,… cũng là điểm đến đầy hấp dẫn của du khách, luôn được các công ty dịch vụ lữ hành khai thác mỗi khi có điều kiện.
Tóm lại, ngoài mục đích chính là tham quan, giải trí thì các đối tượng văn hóa, thể thao và các hoạt động nhận thức khác còn có thể thỏa mãn nhiều mục đích đa dạng của du khách. Do đó, hầu như tất cả các thành phố có nhiều đối tượng văn hóa hoặc tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao đều được đông đảo du khách tới thăm và trở thành những trung tâm lớn về du lịch văn hóa.
- Bảo vệ tài nguyên du lịch nhân văn: Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Có một thực tế là so với tài nguyên tự nhiên thì các đối tượng du lịch do con người tạo ra thường bị phá hủy chậm hơn. Tuy vậy, khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn lại không có khả năng tự phục hồi.
Ngày nay, nhờ các giải pháp về công trình – công nghệ và phục chế, sự tổn thất có thể được loại trừ song sự phát triển mạnh mẽ của du lịch trong thời gian qua vẫn dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn hay từng phần những giá trị của nhiều tài nguyên du lịch nhân văn. Cho nên, để tránh những hậu quả xấu do việc sử dụng không hợp lý, do lượng khách đến thăm quá tải, do ô nhiễm cơ học và hóa học,… các cơ quan chức năng cần nhanh chóng ban hành những quy định cụ thể trong nội quy tham quan, đồng thời xây dựng quy hoạch, định hướng khai thác cùng hàng loạt các giải pháp dưới nhiều góc độ nhằm bảo vệ, tôn tạo kịp thời nguồn tài nguyên du lịch quý giá này.
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch:
- Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện, nước. Chúng đóng vai trò là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch.
- Hệ thống giao thông vận tải:
Hoạt động du lịch luôn gắn liền với sự di chuyển của du khách trên một khoảng cách nhất định. Điều này phụ thuộc vào mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông. Bởi một đối tượng dù có sức hấp dẫn khách du lịch đến đâu nhưng cũng sẽ không thể khai thác hiệu quả nếu thiếu sự hỗ trợ của nhân tố giao thông. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông, nhất là tăng nhanh phương tiện vận chuyển công cộng cho phép mau chóng khai thác được các nguồn tài nguyên du lịch mới.
Mỗi loại hình giao thông có những đặc điểm riêng biệt. Giao thông đường ô tô tạo điều kiện cho khách du lịch dễ dàng đi theo lộ trình mình lựa chọn. Giao thông đường sắt tuy rẻ tiền, dễ dàng, tất cả mọi người đều có thể đi được, nhưng chỉ theo tuyến đường sẵn có. Giao thông đường không rất nhanh, rút ngắn thời gian đi lại song giá lại cao. Còn giao thông đường thủy, mặc dù tốc độ chậm hơn nhưng có thể kết hợp với việc tham quan giải trí dọc theo lộ trình trên sông hoặc ven biển. Ngoài ra còn có nhiều phương tiện vận tải chuyên dụng được sản xuất chủ yếu để phục vụ nhu cầu du lịch như ô tô trung chuyển, tàu thủy chở khách du lịch, cáp treo, máng trượt,…
Từ sau Thế chiến thứ hai đến nay, mạng lưới và phương tiện giao thông trên thế giới không ngừng được hoàn thiện và ngày càng hiện đại, tiện nghi. Tất cả đã góp phần giảm bớt thời gian đi lại, tăng cường thời gian nghỉ ngơi, du lịch và nâng cao chất lượng phục vụ du khách.
- Hệ thống thông tin liên lạc: Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Trong đời sống kinh tế – xã hội hiện đại, nếu mạng lưới giao thông và các phương tiện vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiệm việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng, kịp thời, góp phần thực hiện các mối giao lưu trong nước và quốc tế. Vì thế, bên cạnh giao thông vận tải thì hệ thống thông tin liên lạc cũng là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Chúng là điều kiện cần thiết đảm bảo thông tin cho du khách trong nước và quốc tế, đóng góp chủ yếu vào việc giới thiệu sản phẩm du lịch, kết nối tour cho du khách, đồng thời quảng bá thương hiệu, hình ảnh du lịch của đất nước đến với bạn bè quốc tế.
Ngày nay, nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như các hệ thống cáp ngầm xuyên biển, vệ tinh, những hệ thống máy vi tính và điện báo, điện thoại, Internet,… được sử dụng ngày càng phổ biến và trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống, trong đó có hoạt động du lịch.
- Hệ thống cấp điện, hệ thống cấp và thoát nước:
Sản phẩm của hệ thống cung cấp điện, nước phục vụ trực tiếp cho nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của du khách. Cho nên, trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cũng cần chú ý hoàn thiện và đảm bảo sự hoạt động ổn định của các công trình này.
- Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch:
Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch bao gồm các phương tiện vật chất của ngành và một số ngành kinh tế quốc dân tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch. Chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu du khách. Chính vì vậy, sự phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch chủ yếu bao gồm các cơ sở lưu trú, cơ sở vui chơi giải trí, hệ thống các nhà hàng ăn uống và cửa hàng dịch vụ thương mại, các cơ sở y tế, thể thao, các công trình văn hóa, thông tin,… Tất cả đều có ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra sản phẩm du lịch. Trong đó, khâu trung tâm của cơ sở vật chất – kỹ thuật là các cơ sở phục vụ cho việc ăn uống, nghỉ ngơi và vui chơi giải trí của du khách. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Cơ sở lưu trú du lịch:
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2015) thì “Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu” [30]. Tuy có nhiều loại hình cơ sở lưu trú nhưng nhìn chung thì các cơ sở lưu trú bao gồm: khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê và các cơ sở lưu trú du lịch khác. Trong hệ thống cơ sở lưu trú du lịch thì khách sạn đóng vai trò quan trọng hơn cả và mang lại nguồn lợi nhuận lớn nhất. Chính vì vậy, kinh doanh khách sạn luôn chiếm vị trí hàng đầu trong kinh doanh lưu trú du lịch.
- Mạng lưới cửa hàng ăn uống, dịch vụ thương mại:
Trong cơ cấu cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch, đây là bộ phận đáp ứng nhu cầu về ăn uống, mua sắm hàng hóa của du khách bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác. Do đa phần khách du lịch đến từ nhiều vùng, miền khác nhau nên tùy vào đặc điểm tiêu dùng như tính truyền thống, tính dân tộc,… mà nhu cầu về ăn uống và mua sắm của họ rất phong phú. Từ đó, cơ sở vật chất – kỹ thuật đáp ứng nhu cầu trên cũng đa dạng, từ nhà hàng, quán ăn, cửa hàng thực phẩm, bán đồ lưu niệm cho đến những cửa hàng bán đồ chuyên dùng cho du lịch, các mặt hàng tiêu dùng,… Các cửa hàng thường được bố trí ngay tại khu du lịch, trong khách sạn hoặc ở đầu mối giao thông.
Ngoài ra, thuộc hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch còn phải kể đến các cơ sở thể thao, cơ sở y tế, các cơ sở vui chơi giải trí, hoạt động thông tin văn hóa và các cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác.
Các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội:
- Chính sách phát triển du lịch:
Chính sách phát triển du lịch là một trong những chìa khóa quan trọng hàng đầu dẫn đến thành công trong việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, trong đó có du lịch văn hóa. Chính sách phát triển du lịch được xem xét ở hai mặt: thứ nhất là chính sách chung của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) đối với các nước thành viên, thứ hai là chính sách của cơ quan quyền lực tại địa phương, quốc gia đó. Mặt thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn cả vì các chính sách được ban hành căn cứ vào điều kiện khách quan, khả năng thực tế tại mỗi vùng, mỗi quốc gia. Do đó, ngành du lịch sẽ đi đúng hướng nếu có chiến lược, chính sách phát triển phù hợp và ngược lại, nó có thể kìm hãm hoạt động của ngành nếu đường lối cùng các giải pháp đưa ra là bất hợp lý, xa rời thực tế.
Ở Việt Nam, những biện pháp để thúc đẩy du lịch nước nhà đã được Đảng và Nhà nước đề ra ngay từ Đại hội VIII (năm 2006). Từ đó cho đến nay, để thực hiện và cụ thể hóa đường lối của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã có những văn bản chỉ đạo hoạt động du lịch một cách khoa học, thực tiễn và có hiệu quả như Pháp lệnh Du lịch (2009), Luật Di sản văn hóa (2011), Luật Du lịch (2015),… và một số luật có liên quan đến hoạt động du lịch như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng (năm 2014), Luật Đa dạng sinh học (2018),… Tất cả đã đi vào cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh, bền vững của ngành du lịch Việt Nam. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Dân cư và nguồn nhân lực du lịch:
Nhu cầu du lịch của con người tùy thuộc vào nhiều đặc điểm xã hội, nhân khẩu của dân cư. Một đất nước có dân số càng đông thì số người tham gia vào các hoạt động du lịch càng nhiều. Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch. Cho nên để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch cần phải nghiên cứu cơ cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi,… vì đây là một trong những nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển. Bên cạnh đó, tốc độ gia tăng dân số, mật độ dân số, tuổi thọ, sự tập trung dân cư vào các thành phố và quá trình đô thị hóa cũng liên quan mật thiết tới sự phát triển của du lịch.
Nguồn nhân lực du lịch bao gồm bao gồm lao động thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các đơn vị sự nghiệp trong ngành từ trung ương đến địa phương; lao động trong các doanh nghiệp du lịch gồm đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ lao động trong các khách sạn – nhà hàng, công ty lữ hành, vận chuyển du lịch; lao động làm công tác đào tạo du lịch trong các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học. Nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao là yếu tố cực kỳ quan trọng để đạt năng lực cạnh tranh cao của mỗi điểm đến du lịch. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực là vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược và có ý nghĩa hết sức quan trọng, phải đặt lên vị trí hàng đầu trong quá trình phát triển của du lịch của bất kỳ một quốc gia nào.
- Tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương:
Sự phát triển của nền kinh tế – xã hội là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành du lịch. Vai trò to lớn của nhân tố này được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Các nhà kinh tế cũng đã chỉ ra rằng, sự xuất hiện và mở rộng những nhu cầu khác nhau, tất nhiên trong đó có nhu cầu du lịch, là kết quả của sự phát triển nền sản xuất xã hội. Khi nền kinh tế địa phương phát triển sẽ tạo điều kiện nảy sinh nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đến du lịch, không chỉ là nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, mức sống, thời gian rỗi, mà còn cả những sản phẩm về vật chất và tinh thần phục vụ cho du khách. Trong nội bộ nền kinh tế, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp và cả giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch.
- Công nghiệp:
Công nghiệp phát triển góp phần nâng cao thu nhập của người lao động, từ đó làm tăng nhu cầu và khả năng đi du lịch của họ. Đồng thời, nền công nghiệp phát triển cao đã và đang tiếp tục sản xuất ra những vật liệu đa dạng để xây dựng các cơ sở dịch vụ và hàng loạt sản phẩm, hàng hóa các loại đáp ứng nhu cầu của du khách. Ở một khía cạnh khác, trong điều kiện công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ như ngày nay, trước cảnh không gian sống quá chật hẹp, môi trường bị ô nhiễm, hơn bao giờ hết con người cảm thấy cần phải tìm chỗ nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe ngoài nơi cư trú mỗi khi có điều kiện. Đấy cũng là một tiền đề thứ yếu giúp cho du lịch phát triển. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Nông nghiệp:
Có một thực tế không ai có thể phủ nhận là du lịch sẽ không thể phát triển nếu như không đáp ứng được nhu cầu ăn uống của du khách. Trong những ngày tham gia vào tour du lịch, du khách cần có nguồn thực phẩm đa dạng từ nông nghiệp, trong đó các món đặc sản truyền thống đã trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng của nhiều vùng, miền. Hơn nữa, sự có mặt của nguồn hoa quả, rau xanh, thảo mộc còn mở ra khả năng phát triển loại hình du lịch chữa bệnh.
- Mạng lưới giao thông:
Giao thông vận tải là một trong những tiền đề quan trọng cho du lịch phát triển. Khi mạng lưới giao thông hoàn thiện thì du lịch sẽ có điều kiện phát triển với tốc độ nhanh. Ngày nay, con người có thể rút ngắn những khoảng cách về mặt địa lý bằng các phương tiện giao thông hiện đại như tàu hỏa cao tốc (Eurostar, TGV, Shinkansen,…), máy bay phản lực, tàu du lịch cao cấp,… Tốc độ vận chuyển ngày càng tăng nhanh cho phép tiết kiệm thời gian đi lại, giúp khách du lịch có thể đến được những nơi xa xôi đồng thời kéo dài thời gian lưu trú của họ. Bên cạnh tốc độ, sự đảm bảo về an toàn, tiện nghi, cùng giá thành hạ làm cho hoạt động vận tải ngày càng đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành du lịch của mỗi quốc gia.
Bên cạnh sự tiến bộ của nền sản xuất xã hội thì điều kiện an ninh đảm bảo, chính trị ổn định cũng là cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy du lịch phát triển. Có thể nói, hòa bình và ổn định chính trị là đòn bẩy cho hoạt động du lịch, qua đó góp phần củng cố tình hữu nghị giữa các dân tộc.
- Đô thị hóa:
Đô thị hóa được xem là một trong những nhân tố phát sinh góp phần đẩy mạnh nhu cầu du lịch. Đô thị hóa góp phần cải thiện điều kiện sống cho người dân cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần. Lối sống thành thị giúp nâng cao trình độ, nhận thức của dân cư, làm cho họ thích ứng dần với những thói quen và nhu cầu văn hóa.
Mặt khác, đô thị hóa cũng bộc lộ những mặt trái của nó. Quá trình đô thị hóa khiến con người sống tách biệt với thiên nhiên, làm biến đổi môi trường tự nhiên theo chiều hướng tiêu cực, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Cùng với đó là tình trạng lao động căng thẳng, mật độ giao thông dày đặc, tiếng ồn quá lớn,… khiến hiện tượng stress trong xã hội hiện đại càng trở nên phổ biến. Vì thế, nghỉ ngơi, giải trí trở thành một trong những nhu cầu không thể thiếu của người dân thành phố. Từ đó, một loạt các loại hình du lịch đặc biệt, du lịch ngắn ngày đã xuất hiện trên thế giới.
- Đầu tư du lịch: Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Bất kỳ một ngành kinh tế nào, muốn phát triển cũng phải cần đến nguồn vốn đầu tư, và du lịch cũng không ngoại lệ. Thật vậy, để đẩy mạnh hoạt động du lịch thì trước hết, việc xây dựng, hoàn thiện mạng lưới và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc,… là tối quan trọng. Kế đến, cần phải xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật tương ứng như các khách sạn, nhà hàng, cửa hàng dịch vụ thương mại, cơ sở y tế, thể thao,… để đáp ứng cho việc tham quan du lịch trên quy mô lớn. Bên cạnh đó, cũng cần đảm bảo nguồn nhân lực, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của du khách, tăng cường khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Tất cả những yêu cầu đó sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu vốn đầu tư – điều kiện hàng đầu của quá trình phát triển.
Căn cứ vào đặc điểm và thực trạng hoạt động, việc xác định nhu cầu vốn đầu tư phát triển của ngành du lịch khá phức tạp, bao gồm:
- Nhu cầu vốn đầu tư xây dựng mới khách sạn, sửa chữa nâng cấp khách sạn hiện có đạt tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật nhất định.
- Nhu cầu vốn đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí, cơ sở kinh doanh dịch vụ và bán hàng cho khách du lịch.
- Nhu cầu vốn đầu tư tôn tạo, bảo vệ danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử – văn hóa.
- Nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong và ngoài khu du lịch.
- Nhu cầu vốn đầu tư trang bị cho các đội xe chuyên chở của ngành.
- Nhu cầu vốn đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành du lịch.
Là một loại hình của hoạt động du lịch nên du lịch văn hóa còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, điều kiện sống, thời gian rỗi của dân cư, xu hướng hội nhập quốc tế,… Khi mức sống của người dân được cải thiện, thời gian nhàn rỗi tăng lên thì gần như nhu cầu du lịch của họ sẽ xuất hiện. Khi ấy, trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa ngày càng trở nên phổ biến như hiện nay cùng với sự tác động của những nhân tố đã trình bày thì ngành du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ.
1.1.2.3. Các loại hình du lịch văn hóa
Cho đến nay vẫn còn tồn tại khá nhiều quan niệm về du lịch văn hóa nên các loại hình du lịch văn hóa cũng có nhiều cách phân loại khác nhau. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Năm 2003, giáo sư xã hội học người Anh, Chris Rojek đã chia du lịch văn hóa thành 4 nhóm cơ bản [6]:
- Nhóm 1: du lịch văn hóa vùng di sản (Heritage sites cultural tourism), bao gồm những chuyến du lịch tham quan di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và di sản phi vật thể.
- Nhóm 2: du lịch văn hóa thắng cảnh nhân văn (Literary landscapes cultural tourism), gồm tất cả những chuyến du lịch thăm lại những khu di tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà của các anh hùng lịch sử dân tộc, tham quan nơi làm việc của các vĩ nhân,…
- Nhóm 3: du lịch văn hóa những điểm đen (Black spots cultural tourism), là loại du lịch văn hóa đem lại cảm giác xúc động mạnh như tham quan các khu vực thảm sát trong chiến tranh, tham quan nơi xảy ra tai nạn của các nhân vật nổi tiếng, hay vùng biển xảy ra một vụ đắm tàu lịch sử,…
- Nhóm 4: du lịch văn hóa công viên chuyên đề (Theme parks cultural tourism), gồm những chuyến tham quan các công viên văn hóa chuyên đề như: công viên nước, công viên hoa, công viên tranh nghệ thuật, công viên điêu khắc, công viên tình yêu, công viên nghệ thuật hóa trang,…
Đến năm 2013, GS. TS. Richard Prentice cho rằng du lịch văn hóa gồm 3 nhóm cơ bản là: Du lịch văn hóa môi trường tự nhiên; Du lịch văn hóa môi trường xã hội; Du lịch văn hóa cảm xúc [6]. Vào năm 2016, tại hội nghị của tổ chức quốc tế ECTN, nhà nghiên cứu di sản văn hóa người Scotland, TS. Magraret Graham đã chia du lịch văn hóa theo các chuyên đề như: tham quan di sản, bảo tàng, lễ hội, di tích lịch sử – khảo cổ,… [6]
Còn GS. TS. Getz Donald, nhà nghiên cứu về quản trị dịch vụ khách hàng và du lịch người Mỹ, chia du lịch văn hóa thành các nhóm sau [6]:
- Du lịch văn hóa những lễ hội, kỷ niệm.
- Du lịch văn hóa nghệ thuật và giải trí.
- Du lịch văn hóa khoa học giáo dục.
- Du lịch văn hóa sự kiện thể thao.
- Du lịch văn hóa, lịch sử những phát minh sáng tạo của loài người (thăm những nơi sinh ra những phát minh vĩ đại của loài người).
- Du lịch văn hóa thương mại (hội chợ hàng công nghiệp, thăm nếp sinh hoạt văn hóa trong kinh doanh của các tập đoàn lớn,…).
- Du lịch văn hóa chính trị và sự kiện trọng đại (Hội nghị thượng đỉnh G8, OPEC, APEC, Liên Hợp Quốc, lễ kết hôn của hoàng tộc,…). Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Từ những định nghĩa và cách phân loại du lịch văn hóa trên thế giới và thực tiễn hoạt động, ta có thể chia các loại hình du lịch văn hóa thành 2 nhóm:
Du lịch văn hóa truyền thống:
Đây là các loại hình du lịch lấy nguồn giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống làm đối tượng khai thác.
- Du lịch văn hóa truyền thống vật thể: gồm các hình thức du lịch như tham quan các di sản (di sản thế giới, di chỉ khảo cổ, bảo tàng lịch sử, phố cổ); tham quan kết hợp mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ và làng nghề truyền thống (dệt, gốm, đan, thêu,…); các hoạt động sưu tầm hiện vật (tranh, ảnh, gốm, tiền xưa, sinh vật lạ, chứng tích,…).
- Du lịch văn hóa truyền thống phi vật thể: gồm nghệ thuật diễn xuất (hát, kịch, hòa tấu,…); nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc, kiến trúc, triển lãm tranh,…); lễ hội và sự kiện (lễ hội văn hóa, âm nhạc, sự kiện thể thao,…); tham gia các hoạt động tôn giáo (sinh hoạt chùa, nhà thờ, miếu, đình, hành hương,…).
Du lịch văn hóa hiện đại:
Đây là các loại hình du lịch lấy nguồn giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể làm đối tượng khai thác.
- Du lịch văn hóa hiện đại vật thể: gồm các hình thức du lịch tham quan các nhà máy, công xưởng lớn (Boeing, Mercedes – Benz, Sony, Johnnie Walker,…), tham quan những công trình hiện đại (những cây cầu lớn, đường hầm dưới biển, đường hầm xuyên núi, cao ốc hiện đại,…).
- Du lịch văn hóa hiện đại phi vật thể: gồm các hình thức du lịch nhằm mục đích xem các sự kiện lớn như: sự kiện âm nhạc (xem biểu diễn của các minh tinh nổi tiếng về Hip Hop, Pop,…), sự kiện thể thao (World Cup, Olympic,…), sự kiện chính trị (hội nghị APEC, OPEC, G8,…) và nhiều sự kiện đương đại khác như các cuộc thi hoa hậu hoàn vũ, biểu diễn thời trang, liên hoan phim, lễ trao giải thưởng lớn…
1.1.2.4. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
Là một dạng của tổ chức lãnh thổ xã hội nên tổ chức lãnh thổ du lịch cũng mang tính chất lịch sử. Cùng với sự phát triển của xã hội, các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch đã dần dần xuất hiện, trong đó có 3 hình thức chủ yếu: hệ thống lãnh thổ du lịch, cụm tương hỗ phát triển du lịch và vùng du lịch. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, vùng du lịch là hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với du lịch Việt Nam.
Hoạt động du lịch là tính phân tán trong không gian nên để thực hiện tốt việc tổ chức lãnh thổ du lịch cần phải có khoảng không gian rộng lớn. Cho nên, nếu tổ chức lãnh thổ một cách hợp lý thì ngoài ý nghĩa kinh tế còn có thể tiết kiệm được không gian để sử dụng cho các mục đích khác. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
- Hệ thống lãnh thổ du lịch:
Theo I. I. Pirojnik (1985): “Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống kinh tế – xã hội bao gồm các yếu tố có quan hệ tương hỗ với nhau như các luồng khách du lịch, tổng thể tự nhiên và văn hóa, lịch sử, cơ sở vật chất – kỹ thuật, nhân viên phục vụ và cơ quan điều hành” [27]. Chức năng chính của hệ thống lãnh thổ du lịch là phục hồi, tái tạo sức khỏe và khả năng lao động, thể lực và tinh thần của con người.
Về mặt cấu trúc, hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống gồm nhiều thành phần có mối quan hệ chẽ với nhau, được chi thành cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài. Cấu trúc bên trong gồm các nhân tố có sự tác động qua lại lẫn nhau. Còn cấu trúc bên ngoài gồm các mối liên hệ với điều kiện phát sinh và nhiều hệ thống khác (tự nhiên, kinh tế, xã hội). Về mặt hệ thống, hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phân hệ tuy khác nhau về bản chất nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm:
Phân hệ khách du lịch: là phân hệ trung tâm, có vai trò quyết định đối với các phân hệ khác trong hệ thống.
Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử – văn hóa: có mặt trong hệ thống với tư cách là tài nguyên, là điều kiện để thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch, là tiền đề để tạo ra sản phẩm du lịch, là cơ sở lãnh thổ cho quá trình hình thành hệ thống.
Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ: thực hiện những chức năng dịch vụ cho khách và đảm bảo cho các cơ sở kinh doanh hoạt động bình thường.
Bộ phận điều khiển: có nhiệm vụ giữ cho cả hệ thống và từng phân hệ hoạt động hiệu quả.
- Cụm tương hỗ phát triển du lịch:
Cụm tương hỗ phát triển du lịch (tourism cluster) là “tập hợp theo khu vực các doanh nghiệp, nhà cung cấp và dịch vụ du lịch có mối liên kết với nhau” [27]. Tại một khu vực địa lí nhất định có nhiều doanh nghiệp du lịch liên kết và hỗ trợ nhau, nhờ đó làm tăng hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất – kỹ thuật, giảm bớt chi phí đầu vào, góp phần tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Điều kiện hình thành cụm tương hỗ phát triển du lịch bao gồm :
Một không gian địa lí nhất định có thể chứa được một số cơ sở du lịch có quy mô tương đối lớn hoặc rất lớn.
Có một hoặc một số doanh nghiệp du lịch giữ vai trò hạt nhân để liên kết các doanh nghiệp trong không gian địa lí nói trên.
Các doanh nghiệp tự nguyện liên kết với nhau thông qua các hợp đồng kinh tế, biên bản thỏa thuận liên kết để cùng thu được lợi ích kinh tế, cùng có được sự cạnh tranh cần thiết. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Chính quyền địa phương khuyến khích chủ trương liên kết thành cụm, tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp được sử dụng các điều kiện tại chỗ để thực thi nguyện vọng của mình.
- Vùng du lịch:
Theo “Báo cáo Quy hoạch phát triển tổng thể du lịch Việt Nam giai đoạn 2005 – 2020” thì: “Vùng du lịch là một hệ thống lãnh thổ kinh tế – xã hội bao gồm một tập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có quan hệ với nhau và các cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho sự hoạt động của các hệ thống lãnh thổ du lịch” [27].
Theo khái niệm này và trên quan điểm hệ thống, vùng du lịch như một tập hợp hệ thống lãnh thổ được tạo nên bởi hai yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau: hệ thống lãnh thổ du lịch và không gian kinh tế – xã hội xung quanh nhằm đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động có hiệu quả. Đơn giản hơn, có thể hiểu vùng du lịch là một bộ phận lãnh thổ của đất nước, có phạm vi và ranh giới xác định, có những nét đặc thù về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật, sản phẩm du lịch đặc trưng,… cho phép hình thành và phát triển hiệu quả các hệ thống lãnh thổ du lịch dựa trên cơ sở các mối liên hệ nội vùng và liên vùng.
Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch Việt Nam, các cấp phân vị dưới vùng du lịch gồm: điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch và á vùng du lịch.
1.2. Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch văn hóa Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
1.2.1. Tình hình phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam
Mặc dù ra đời từ năm 1960 nhưng du lịch Việt Nam chỉ bắt đầu khởi sắc từ thập niên 90 của thế kỷ XX. Đến nay, ngành du lịch đã và đang có những bước tiến mạnh mẽ và thu được nhiều thành quả đáng khích lệ. Trong đó, du lịch văn hóa được xem là hướng phát triển lâu dài và đầy tiềm năng nhờ Việt Nam sở hữu những lợi thế vô cùng to lớn của một đất nước có lịch sử hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước.
Với vị trí nằm gần trung tâm khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nơi giao thoa, hội nhập văn hóa giữa các nền văn minh lớn trong khu vực và trên thế giới. Đây là cơ sở đầu tiên giúp cho nước ta có một nền văn hóa đa dạng. Quan trọng hơn, dân tộc Việt Nam với bề dày lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc nên biết bao nét đẹp văn hóa truyền thống có giá trị cao đối với hoạt động du lịch. Nước ta hiện có khoảng 40.000 di tích lịch sử – văn hóa, trong đó có 13 di sản được công nhận là di sản văn hóa thế giới (Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn,…), nhiều di chỉ khảo cổ học (Núi Đọ, Thành nhà Hồ – Thanh Hóa, Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội,…), cùng các di tích kiến trúc nghệ thuật (làng cổ, chùa, đình làng,…) rất có giá trị về mặt nghiên cứu cũng như tham quan du lịch. Ngoài ra, sự phong phú của các lễ hội, nhất là lễ hội dân gian (lễ hội Đền Hùng – Phú Thọ, lễ hội Chùa Hương – Hà Nội, lễ hội Ok Om Bok của đồng bào Khmer Nam Bộ,…) vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc, vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, sự đa dạng trong bản sắc văn hóa của các cộng đồng dân tộc, những làng nghề thủ công cổ truyền, văn hóa ẩm thực và các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian,… cũng là những sản phẩm độc đáo, đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn và mua sắm của khách tham quan.
Chính những lợi thế to lớn ấy cùng thể chế chính trị ổn định, đặc biệt là sự tiến bộ rõ rệt của nền kinh tế đã tạo điều kiện cho du lịch Việt Nam nói chung và du lịch văn hóa nói riêng ngày càng phát triển. Trong thời gian qua, Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng nhiều địa phương và các doanh nghiệp lữ hành đã tổ chức nhiều sự kiện du lịch, văn hóa, nghệ thuật, thể thao lớn, thu hút được sự quan tâm và tham gia đông đảo của khách du lịch trong nước lẫn bạn bè quốc tế.
Năm 2000, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 15 năm thống nhất đất nước, TP.HCM đã tổ chức chương trình mang tên “Những ngày văn hóa thể thao các dân tộc Việt Nam” nhằm mục đích phát động “Năm Du lịch Thể thao Văn hóa” trên toàn quốc. Chính những tác động của chương trình này mà ngành du lịch lần đầu tiên đón gần 300.000 lượt khách quốc tế đến Việt Nam. Năm 2010, ngành du lịch đưa ra chương trình mang tên “Liên hoan Văn hóa Du lịch Việt Nam”, tổ chức “Hội xuân Du lịch văn hóa năm 2010” và chủ đề năm du lịch quốc gia “Việt Nam – Điểm đến thiên niên kỷ mới”. Cùng năm này, Chính phủ đã đề ra chương trình “Hành động Quốc gia về Du lịch” nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành, trong đó văn hóa và văn hóa dân tộc là một nội dung định hướng quan trọng. Kể từ đó đến nay, nhiều sự kiện văn hóa, du lịch, thể thao mang tầm cỡ khu vực và châu lục liên tiếp được tổ chức tại khắp các tỉnh, thành trên cả nước như năm du lịch quốc gia, festival du lịch (Festival Huế, Festival hoa Đà Lạt, Festival Diều quốc tế – Vũng Tàu,…), lễ hội du lịch (lễ hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc Tây Bắc, lễ hội Pháo hoa quốc tế – Đà Nẵng,…), liên hoan sân khấu, liên hoan Phim châu Âu tại Việt Nam (2015), tuần lễ văn hóa (Việt – Pháp, Việt – Nhật, Việt – Hàn,…), cuộc thi Hoa hậu quý bà đẹp và thành đạt thế giới (2019), các đại hội thể thao như SEA Games 22 (2013), Đại hội thể thao châu Á trong nhà – AIGs (2019) ,… Các sự kiện văn hóa thể thao là cơ hội để các địa phương đẩy mạnh hoạt động du lịch, góp phần gia tăng lượng khách nội địa di chuyển giữa các vùng miền đồng thời cũng là dịp để ngành du lịch quảng bá hình ảnh đất nước đến với bạn bè quốc tế. Thực tế, trong năm 2023, cả nước đã đón hơn 7,57 triệu lượt khách du lịch quốc tế đến tham quan, thưởng ngoạn. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Có thể thấy, các nhà quản lý và các nhà khoa học nước ta từ lâu đã nhận thức rằng du lịch văn hóa là đòn bẩy, là bộ phận then chốt cho sự phát triển của ngành du lịch nên đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành quả ban đầu rất quan trọng. Mặc dù vậy, nhìn chung du lịch văn hóa ở nước ta vẫn còn không ít những tồn tại, từ công tác nghiên cứu lý luận đến quản lý, khai thác và bảo vệ các tài nguyên du lịch nhân văn. Thực tế cho thấy, các tuyến, tour du lịch nghiên cứu di tích lịch sử – văn hóa, lễ hội, làng nghề,… chưa thật sự đa dạng. Sức hấp dẫn, lôi cuốn du khách của các điểm du lịch văn hóa nhìn chung vẫn chưa mạnh. Đáng ngại hơn, không ít cách làm du lịch chộp giật, phản khoa học cùng sự thiếu ý thức của một bộ phận khách du lịch đang làm tổn hại đến các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, làm mất đi nét tôn nghiêm truyền thống của lễ hội, khiến hình ảnh quốc gia và nhiều địa phương trở nên xấu đi trong mắt bạn bè quốc tế.
Tóm lại, Việt Nam có đầy đủ tiềm năng và lợi thế để trở thành “điểm đến của thiên niên kỷ mới” đúng nghĩa. Vấn đề là làm thế nào để khai thác thật hiệu quả vốn văn hóa trong hoạt động du lịch theo hướng phát triển bền vững để du lịch Việt Nam không chỉ là ngành kinh tế mũi nhọn mà còn là con đường để giao lưu, hội nhập văn hóa hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay.
1.2.2. Tình hình phát triển du lịch văn hóa ở tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ
Với vị trí nằm liền kề Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, phía tây giáp với Campuchia và nối với Thái Lan, Malaysia thông qua tuyến đường bộ xuyên Á, phía đông có hệ thống cảng biển Sài Gòn, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thị Vải, vùng Đông Nam Bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, trong đó có du lịch. Vùng gồm 6 tỉnh, thành: TP. HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu. Tuy có diện tích khá nhỏ so với các vùng khác (23.598 km2), dân số vào loại trung bình (gần 15,2 triệu người, năm 2022) nhưng Đông Nam Bộ lại là vùng dẫn đầu cả nước về GDP, giá trị sản lượng công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu. Cùng với lịch sử hình thành lãnh thổ từ lâu đời, Đông Nam Bộ hội tụ đầy đủ các điều kiện tự nhiên lẫn nhân văn để phát triển nhiều loại hình du lịch, trong đó có du lịch văn hóa.
Đông Nam Bộ xưa kia là vùng giao thoa của hai nền văn minh Khmer và Champa, trước đó là của văn hóa Sa Huỳnh và Óc Eo. Trước khi người Việt, Khmer và Chăm đến thì cả vùng Đông Nam Bộ là nơi cư ngụ của người Stiêng, Chu Ru và Mạ, chủ yếu dọc các sông Đồng Nai, Sài Gòn từ thượng nguồn tới gần cửa biển Cần Giờ. Cụ thể, khoảng 5.000 – 4.000 năm trước, cư dân thuộc dòng Austronesian Nam Đảo – tổ tiên của người Stiêng, Chrau, Mạ,… ngày nay – đã đến đây khai phá, tạo dựng và hoàn chỉnh nền văn hóa Đồng Nai. Rất nhiều di chỉ khảo cổ thời tiền sử đã được tìm thấy ở Đông Nam Bộ, đặc biệt là vùng lưu vực sông Đồng Nai như di chỉ đồ đá Cù Lao Rùa, mộ cổ cự thạch Hàng Gòn (Đồng Nai), di chỉ Dốc Chùa (Bình Dương), di chỉ Bến Đò (TP.HCM),… cùng một số hiện vật đặc trưng của nền văn hóa Sa Huỳnh ở Dầu Giây, Suối Đá, Phú Hòa (Đồng Nai).
Từ đầu Công nguyên đến thế kỷ VI là thời kỳ hưng thịnh của vương quốc Phù Nam với sự phát triển rực rỡ của nền văn minh Óc Eo mà các di chỉ của nó ngày nay đã được tìm thấy ở Cần Giờ, Bàu Thành, Bến Cam, Vũng Tàu. Sau đó, thời tiền Angkor và Angkor (từ thế kỷ VII đến thế XVI) cũng để lại nhiều di tích khắp vùng Đông Nam Bộ như ở Rạch Vương Cai, Long Bảo Tự (Đồng Nai), Gò Cây Mai, Rạch Lò Gốm (TP.HCM), tháp Bình Thạnh, tháp Chót Mạt (Tây Ninh),… Từ thế kỷ XVI, các cộng đồng lưu dân người Khmer, người Việt, người Hoa, người Chăm mới nối tiếp nhau tiến vào Đông Nam Bộ (và cả miền Tây Nam Bộ) khai khẩn, định cư, buôn bán. Cũng từ đó, nền văn hóa Đông Nam Bộ nói riêng và cả Nam Bộ nói chung đã hình thành như một kết quả dung hợp giữa cái nền là văn hóa Việt với những yếu tố tiếp biến từ văn hoá Chăm, Khmer, Hoa,… và cả phương Tây sau này. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
Do vậy, ngày nay, Đông Nam Bộ là một vùng đất đa tộc người nhưng chủ thể văn hóa chính của toàn vùng vẫn là người Việt. Bên cạnh các di chỉ khảo cổ rất có giá trị tham quan, nghiên cứu thì khi đến đây, du khách sẽ có dịp ghé thăm TP. Hồ Chí Minh – trung tâm du lịch lớn nhất của tiểu vùng Đông Nam Bộ. Với lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm, TP.HCM có nhiều di tích lịch sử – văn hóa, cách mạng, công trình kiến trúc cổ là điểm đến hấp dẫn đối với nhiều du khách như Bến Nhà Rồng, Dinh Độc Lập, Địa đạo Củ Chi, chùa Giác Lâm, chùa Vĩnh Nghiêm, nhà thờ Đức Bà,… và các bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, bảo tàng Hồ Chí Minh,… Trên địa bàn thành phố cũng có nhiều khu vui chơi giải trí tầm cỡ khu vực như Công viên Văn hóa Đầm Sen, Suối Tiên, Thảo Cầm Viên,… thu hút rất đông khách du lịch trong và ngoài nước.
Với sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình văn hóa, lịch sử cùng nhiều lễ hội dân gian, tôn giáo,… các tỉnh còn lại của Đông Nam Bộ cũng tập trung nhiều điểm du lịch đặc sắc và ấn tượng như: núi Bà Đen và Hội xuân Núi Bà, Tòa Thánh Cao Đài, Hội yến Diêu Trì Cung, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh); chùa Bà Thiên Hậu, Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương); Chiến khu Đ, khu du lịch Bửu Long (Đồng Nai); núi Bà Rá, Căn cứ Tà Thiết, Sóc Bom Bo (Bình Phước); Côn Đảo, Bạch Dinh, tượng chúa Kitô, Festival biển (Bà Rịa – Vũng Tàu),… Ngoài ra, khi đến với Đông Nam Bộ, các làng nghề thủ công truyền thống cũng là những điểm dừng chân rất thú vị đối với du khách như làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, điêu khắc gỗ Thủ Dầu Một (Bình Dương); lò gốm sứ Biên Hòa (Đồng Nai), Lái Thiêu (Bình Dương); làng nghề bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, muối tôm Gò Dầu (Tây Ninh); làng sơn mài Bình Mỹ, làng kiểng Gò Vấp (TP.HCM),… Cuối cùng, một sản phẩm du lịch đầy hấp dẫn mà khách tham quan không thể bỏ qua đó là các món ăn đặc sản của vùng như bánh canh, bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, thằn lằn núi (Tây Ninh); chôm chôm Long Khánh, bưởi Tân Triều (Đồng Nai); sầu riêng, măng cụt Lái Thiêu (Bình Dương),…
Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của loại hình du lịch sinh thái thì với nguồn tài nguyên nhân văn phong phú và đặc sắc, du lịch văn hóa Đông Nam Bộ cũng đang góp phần đáng kể vào sự phát triển chung của du lịch cả nước. Theo số liệu thống kê của Tổng Cục Du lịch, trong năm 2022, tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ đón hơn 36 triệu lượt khách tham quan, trong đó có 4.335.380 lượt khách quốc tế (chiếm 63,3% tổng lượt khách quốc tế cả nước), đạt doanh thu 75.803,44 tỉ đồng (chiếm gần 47,4% tổng doanh thu du lịch cả nước). Tuy vẫn còn đó không ít những hạn chế, bất cập về cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch, công tác nghiên cứu, quản lý, khai thác và quảng bá hình ảnh du lịch, chất lượng nguồn nhân lực,… nhưng có thể thấy, với tiềm năng và thực trạng phát triển như hiện nay thì du lịch văn hóa tiểu vùng Đông Nam Bộ hứa hẹn sẽ còn nhiều bước đột phá hơn nữa trong tương lai, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng và cả nước. Luận văn: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Định hướng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Tây Ninh