Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng và sự bền vững trong phát triển du lịch tại Đồng Hới dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Đồng Hới

2.1.1. Điều kiện về tự nhiên

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Thành phố Đồng Hới là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội và đầu mối giao lưu kinh tế của tỉnh Quảng Bình; nằm ở tọa độ 17,21 đến 17,31 độ vĩ Bắc và 106,10 đến 106,30 độ Kinh Đông, với diện tích 155,71 km2, phía Bắc giáp huyện Bố Trạch, phía Tây và phía Nam giáp huyện Quảng Ninh, phía Đông giáp biển Đông, sau 10 năm phấn đầu và phát triển, ngày 30/7/2021 Đồng Hới được nâng cấp công nhận là thành phố đô thị loại II; gồm 16 đơn vị hành chính, 10 phường và 6 xã.

Đồng Hới là thành phố ven biển, với bờ biển dài 15,7km, có các bải tắm đẹp, có sông Nhật lệ chảy từ phía Nam vào giữa lòng thành phố, phía tây có rừng nguyên sinh và vùng gò đồi trung du tiếp giáp với chân núi Trường sơn; rất thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch biển, du lịch sinh thái, nghỉ ngơi, giải trí…nằm ở vị trí trung độ của cả nước, là nơi hẹp nhất của lãnh thổ Việt Nam, là nơi hội tụ các trục giao thông chính của đất nước, Đồng Hới có cả đường sắt, Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, có Cảng hàng không; tạo điều kiện thông thương giữa Đồng Hới với các vùng trong và ngoài nước rất thuận lợi.

Ngay từ Đồng Hới, trong một bán kính không xa, du khách có thể tham quan khu du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng nổi tiếng, các di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh huyền thoại; ngay tại Đồng Hới có bãi tắm Nhật Lệ, bãi tắm Bảo Ninh, Quang Phú vừa được tổ chức kỷ lục Việt Nam đãnh giá là một trong 10 bãi biển đẹp nhất Viêt Nam;xa hơn nữa về phía Bắc là Lặng mộ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khu thắng cảnh Đèo Ngang – Hòn La. Ngược lên phía Tây là cửa khẩu Quốc tế Cha Lo Nà Phàu. Đi về phía Nam, là núi Thần Đinh, chùa Hoằng Phúc, suối nước nóng Khoáng Bang, nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Lăng mộ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh… với vị trí địa lý thuận lợi đã và đang mở ra cơ hội để phát triển nhanh du lịch mà thành phố Đồng Hới đã xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

2.1.1.2. Địa hình

Đại bộ phận lãnh thổ Đồng Hới là vùng đồng bằng và vùng cát ven biển, địa hình dốc đều từ Tây sang Đông, có lợi thế cả về biển, đồng bằng và đồi, núi là điều kiện để phát triển các loại hình du lịch. Địa hình đồi núi ở Đồng Hới chiếm 15% diện tích tự nhiên, nằm ở phía Tây, có độ cao từ 350m – 510m so với mực nước biển, có rừng nguyên sinh, rừng trồng và các dãy đồi thấp lượn sóng, có điều kiện để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.

Địa hình mấp mô và đụn cát chiếm 40% diện tích, nằm ở phía Đồng có độ cao khoảng từ 30m đến 300m so với mực nước biển; đây là vùng có điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch gắn với đồi cát như mô tô địa hình, trượt cát.v.v. Địa hình duyên hải chiếm 45% diện tích, nằm ở vùng trung tâm Thành phố; với đặc điểm địa hình như vậy, sẽ tạo điều kiện cho thành phố Đồng Hới có tiềm năng phát triển du lịch khá đa dạng theo hướng kết hợp giữa biển, đồng bằng duyên hải và đồi, núi, tạo nên nhiều cảnh quan đẹp; điều đó được thể hiện ở Bản đồ hiện trạng đất của thành phố Đồng Hới (Phụ lục 02).

2.1.1.3. Thời tiết, khí hậu

Thành phố Đồng Hới nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiều biến động phức tạp, khắc nghiệt, gây bất lợi cho du lịch; khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt trong năm: Mùa mưa, lạnh và mùa nắng nóng, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau; đi đôi với thời tiết lạnh, Đồng Hới có lượng mưa khá cao, trung bình từ 1.300 đến 4.000 mm. Lượng mưa phân bố không đều, tập trung vào các tháng 9, 10 kéo theo lũ lụt, các tháng này cũng thường có nhiều cơn bão lớn. Mùa nắng bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, thường xuất hiện gió Tây Nam khô nóng (gió Lào) khoảng 60 ngày trong năm, gây hạn hán nghiêm trọng; nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24,40C, nhưng chênh lệch nhiệt độ giữa 2 mùa rất lớn; chênh lệch nhiệt độ tối cao tuyệt đối và tối thấp tuyệt đối trong năm thường lên đến trên 200C; sự chênh lệch về khí hậu giữa hai mùa ảnh hưởng lớn đến phát triển bền vững du lịch; làm cho du lịch Đồng Hới có tính “thời vụ” rất cao, dẫn đến hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch thấp, đây cũng là những cản trở lớn cho việc thu hút đầu tư phát triển du lịch.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Điều kiện về kinh tế

2.1.2.1. Quy mô tăng trưởng kinh tế Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Mặc dù xuất phát từ một nền kinh tế có quy mô nhỏ, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài không có, song kinh tế của Đồng Hới vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, thể hiện ở Bảng 2.1.

Bảng 2.1: Quy mô tăng trưởng kinh tế Đồng Hới qua các thời kỳ 2017-2022 2022-2024

Từ Bảng 2.1 cho thấy, kinh tế của Đồng Hới trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng khá; Tổng sản phẩm khu vực Đồng Hới (GRDP) giai đoạn 2017 2022 tăng 7,4%/năm, từ 2022 đến 2024 do ảnh hưởng của môi trường biển do Pomosa gây ra và thiệt hại do thiên tai gây nên vì vậy tốc độ tăng trưởng (GRDP) chậm lại 6% /năm. Trong ba khu vực thì khu vực dịch vụ – du lịch có tốc độ tăng trưởng khá, giai đoạn 2017 – 2022 bình quân tăng 7,8%/năm, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chỉ tăng 1,8%/năm; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 7,5%/năm, (GRDP) bình quân đầu người có sự tăng trưởng khá, giai đoạn 20172022 tăng 6,5%. Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn Đồng Hới ( GRDP) năm  2017 chiếm 35,9%, năm 2024 là 37,9% cơ cấu tăng 2%; đây là điều kiện thuận lợi để Đồng Hới đầu tư vốn và các nguồn lực khác cho phát triển du lịch.

2.1.2.2:  Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế Đồng Hới trong những năm qua chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp thể hiện ở Biểu đồ 2.1.

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế Đồng Hới qua hai thời kỳ

Từ Biểu đồ 2.1 cho thấy, năm 2017 tỷ trọng khu vực dịch vụ chiếm 53 ,4%, công nghiệp, xây dựng chiếm 41,5%, nông lâm, thuỷ sản chiếm 5,1%, đến năm 2024 quy mô cơ cấu kinh tế của thành phố có sự chuyển dịch đáng kể giữa các khu vực cụ thể: Dịch vụ là 54,15% cơ cấu tăng 0,25%, khu vực công nghiệp, xây dựng là 42,25% cơ cấu tăng 0,45%, khu vực nông lâm, thuỷ sản còn 3,6% giảm 0,7%; với sự chuyển dịch cơ cấu như trên là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch bền vững.

2.1.3. Điều kiện về xã hội Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

2.1.3.1.Lịch sử, văn hóa, con người

Thành phố Đồng Hới có bề dày lịch sử khá lâu đời, các nhà khảo cổ đã phát hiện tại Bàu Tró di chỉ của người Việt Cổ thời kỳ đồ đá mới; người dân Đồng Hới được hình thành từ lớp người bản địa di cư lập ấp từ đời Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn. Hiện nay còn lưu lại nhiều di tích văn hoá, lịch sử từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại của dân tộc; đây là điều kiện có thể khai thác để phát triển các loại hình du lịch văn hoá, nghiên cứu lịch sử, tham quan di tích…là lợi thế để phát huy bản sắc văn hoá, bảo vệ tài nguyên trong phát triển bền vững du lịch.

2.1.3.2. Dân số và nguồn nhân lực

Dân số trung bình của Đồng Hới trong những năm qua có mức tăng chậm cơ cấu dân số giữa nam và nữ tương đối hợp lý chưa có sự chênh lệch lớn; mật độ dân số ít và ổn định qua các năm; dân số thành thị chiếm tỷ trọng ngày càng cao đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, số liệu được thể hiện ở Bảng 2.2  như sau:

Bảng 2.2: Dân số Đồng Hới qua các thời kỳ từ 2017 – 2024

Từ Bảng 2.2 cho thấy, tốc độ tăng dân số chung hàng năm chậm, giai đoạn 2017 – 2022 bình quân mỗi năm chỉ tăng 0,89% từ năm 2022 đến 2024 tăng 1,06%, dân số thành thị giai đoạn 2017 – 2022 tăng 1,0%, giai đoạn 2022-2024  tăng 1,16%; dân số nông thôn tăng 0,65%, giai đoạn 2022-2024  tăng 0,84%;

Mật độ dân số ở mức trung bình, năm 2017 là 718 người/km2, năm 2024 là 767 người/km2, như vậy qua 7 năm mật độ dân số chỉ tăng 49 người/km2; mật độ cao chỉ tập trung ở một số phường trung tâm như: Đồng Mỹ 4.940 người/km2,  Nam Lý 3.557 người/km2,  Hải Đình 2.666 người/km2,  Đồng Phú 2.590 người /km2; Điều đó cho thấy dân số Đồng Hới chưa phát triển quá đông đúc; Đồng Hới có điều kiện để bảo tồn, tôn tạo các tài nguyên, phát triển các khu du lịch theo hướng bền vững.

Nguồn lực lao động của Đồng Hới tăng nhanh qua hàng năm do có sự di cư từ các huyện trong tỉnh và ngoài tỉnh đến; cơ cấu lao động giữa các khu vực có sự dịch chuyển hợp lý, lực lượng lao động làm việc trong các ngành kinh tế ngày càng chiếm tỷ trọng cao so với dân số, thể hiện ở Bảng 2.3 như sau.

Bảng 2.3: Lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế

Từ Bảng 2.3 cho thấy, cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế đang có sự thay đổi rõ nét theo hướng chuyển từ ngành nông nghiệp sang các ngành dịch vụ, phù hợp cho việc phát triển du lịch cụ thể: Giai đoạn 2017 đến 2022 cơ cấu lao động khu vực nông lâm, nghiệp, thuỷ sản giảm 1,95%, từ năm 2022 đến 2024 giảm 1,25%. Như vậy qua 7 năm, cơ cấu lao động khu vực nông, lâm, thuỷ sản giảm 3,2%; trong khi đó khu vực dịch vụ tăng 1,98%, với cơ cấu lao động được phân bố và đang chuyển dịch dần sang khu vực dịch vụ, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành du lịch tại Đồng Hới.

2.2. Thực trạng phát triển du lịch tại thành phố Đồng Hới Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

2.2.1. Thực trạng tài nguyên du lịch Đồng Hới

2.2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

Đồng Hới có nhiều tiềm năng về tài nguyên tự nhiên để phát triển du lịch, thể hiện ở (Phụ lục 03)

a) Tài nguyên biển: Đồng Hới có trên 15,7km bờ biển chạy dài từ xã Quang Phú đến xã Bảo Ninh, có các bãi tắm Nhật Lệ, Quang Phú và Bảo Ninh; năm 2022 bãi biển Nhật lệ Đồng Hới được tổ chức kỷ lục Việt Nam đánh giá là một trong 10 bãi biển đẹp nhất Việt Nam; là nơi dừng chân cho du khách tắm biển tham quan, nghỉ dưỡng, đã trở thành một địa chỉ du lịch hấp dẫn của du khách đến từ phía Bắc.Bãi tắm Nhật Lệ: Trải dài một màu cát trắng, nước biển trong xanh, bãi tắm thoai thoải rất an toàn, có hệ thống nhà tắm nước ngót, khu vệ sinh đáp ứng đủ cho du

Di chỉ Bàu tró: Bàu Tró nằm trên địa phận phường Hải Thành không chỉ nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên, mà còn với vai trò là khu di tích lịch sử, văn hóa; tham quan di tích khảo cổ học của người nguyên thuỷ thời kỳ đồ đá cách đây 5.000 năm; khi đến đây điều thú vị nghe tiếng sóng biển rì rào lẫn tiếng chim hót lứu lo.

Hình: 2.4. Di chỉ Bàu tró

b) Tài nguyên rừng: Diện tích rừng của Đồng Hới khá lớn, năm 2024 có 6.724 ha chiếm 43,19% đất tự nhiên; phía Tây có rừng nguyên sinh gắn với rừng trồng được phân bố bao quanh Đồng Hới, làm chức năng bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn, ngăn chặn, cát bay, biển lấn; đồng thời vừa là lá phổi xanh của thành phố điều hòa khí hậu,đây là điều kiện để phát triển du lịch,sinh thái lý tưởng. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Cách thành phố Đồng Hới chừng 35 km về phía Tây bắc là di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, với nhiều hàng động kỳ vĩ mang tầm cở quốc tế như: Động Phong Nha, Động Tiên Sơn, Động Tối, Động Tú Làn, Động Sơn Đoòng mang đến cho Đồng Hới lượng khách ngày càng đông.

Động Thiên Đường và Động Sơn Đoòng: Được mệnh danh là “hoàng cung trong lòng đất”, là những kỳ quan tráng lệ và huyền ảo bậc nhất thế giới; nằm trong lòng

Hình: 2.5. Động Thiên Đườngvà Động Sơn Đoòng

một quần thể núi đá vôi ở độ cao 191m, bao quanh là khu rừng nguyên sinh thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Động Thiên Đường có chiều dài hơn 31,4 km, được Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh đánh giá là hang động khô dài nhất Châu Á, một trong những hang động kỳ vĩ nhất trên thế giới. Động Sơn Đoòng, hang động tự nhiên lớn nhất thế giới, sau khi được phát hiện vào năm 2016, đã kích thích trí tò mò của du khách khắp nơi trên thế giới, đến khám phá và thưởng ngoạn. Sơn Đoòng có chiều dài ước tính 5 km, cao 200 m và rộng 150 m. Không chỉ dừng lại ở cảm xúc ngạc nhiên, bất ngờ mà du khách còn hết sức sửng sốt, trước vẻ Núi Thần Đinh: Ở phía Tây nam Đồng Hới, cách trung tâm thành phố 15 km; núi có 3 đỉnh là đỉnh Kỳ Lân phía Đông, đỉnh Thần Đinh phía Tây Bắc, đỉnh Long Lão cao nhất ở Tây Nam; ba đỉnh chầu lại thành thung lũng trên núi được nối kết bởi sườnnúi đất như yên ngựa; ở đócó Kim Phong cổ tự dựa lưng vào núi đất.Nếu du khách đi du lịch lên chùa chiêm bái, theo đường thủy phải leo 1.225 bậc đá để lên chùa; chiêm bái ở chùa, ở miếu, xuống giếng Tiên lấy nước thánh, vào động Thần Đinh chiêm ngưỡng quần thể các vị Phật do mầm đá và nhũ đá tạo ra bên vách với nhiều hình ảnh kỳ bí, huyền diệu; du khách tha hồ tưởng tượng, cũng vì vậy mà gieo vào tâm linh một đức tin thánh thiện.

c) Tài nguyên sông, hồ, khé suối: Đồng Hới có hệ thống sông, suối, ao hồ cả tự nhiên và nhân tạo khá phong phú, góp phần tạo cảnh quan du lịch và điều hòa khí hậu; một số sông, hồ gắn với các di tích lịch sử, văn hoá, di chỉ khảo cổ đã được công nhận, xếp hạng tạo nên các điểm du lịch tự nhiên hấp dẫn.

Suối Lồ Ồ: Cách trung tâm thành phố Đồng Hới 10 km về phía Tây, du khách có thể đi tham quan dã ngoại và tắm ở suối vào mùa hè rất mát mẽ, đây là khu vực có cảnh quan thiên nhiên rừng núi thơ mộng rất phù hợp với hình thức du lịch giả ngoại vào mùa hè, nhưng đây mới chỉ là tiềm năng chưa được đầu tư khai thác.

d) Hệ sinh thái: Đồng Hới khá đa dạng về hệ sinh thái, bao gồm cả biển, rừng và đồng bằng; biển Đồng Hới có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú; có những loài hải sản có giá trị kinh tế cao như: Tôm hùm, mực, các loài cá, sò, ngao, ốc… ngoài ra, còn có các bãi đá ngầm, bãi san hô là môi trường sống cho nhiều loài sinh vật biển có khả năng tạo thành những khu vực lặn biển và nghiên cứu sinh thái hấp dẫn.Vùng rừng núi phía Tây nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn, nơi có khu hệ thực vật, động vật đa dạng, với nhiều nguồn gen quý. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

2.2.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn của Đồng Hới không nhiều nhưng khá đa dạng, có cả di sản văn hoá vật thể và phi vật thể thể hiện ở (Phụ lục04);.

Quảng Bình Quan: Là một cổng áng ngữ trên đường thiên lý Bắc Nam thuộc hệ thống Lũy Thầy, có từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Lũy Thầy là hệ thống thành luỹcổ được chúa Nguyễn xây từ năm 1631 là tuyến phòng thủ quan trọng trong cuộc thành đề tài xúc động và hào sảng cho biết bao tác phẩm văn học – nghệ thuật.

Làng chiến đấu vực quành: Nằm trên đường Hồ Chí Minh, cách Đồng Hới khoảng 7 km về phía Tây, ở đây mỗi hiện vật, mỗi tấc đất, ngọn cỏ,…cũng là minh chứng nhắc lại cho thế hệ trẻ một thời chiến tranh khốc liệt và tinh thần quật cường bất khuất của con người Quảng Bình trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc,…

Lễ hội cầu ngư: Lễ hội cầu ngư được tổ chức hàng năm vào dịp rằm tháng tư, tại xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới; đây là một lễ hội truyền thống nhằm cầu tài, cầu an, cầu mưa thuận gió hòa cho nhân dân xã Bảo Ninh;

Hình: 2.9. Lễ hội cầu ngư và Lễ hội múa bông chèo cạn của ngư dân Bảo Ninh đây là lễ hội thể hiện văn hóa tín ngưỡng của người dân miền biển, đồng thời mang đậm nghi lễ dân gian của người dân sống ở vùng đồng bằng duyên hải miền Trung. – Lễ hội múa bông chèo cạn: Múa bông chèo cạn là lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc bao đời nay của người dân vùng biển Đồng Hới nhằm cầu trời yên biển lặng, mùa màng bội thu và cũng là dịp để khơi dậy tinh thần hăng hái thi đua sản xuất của người dân địa phương;chèo cạn là hình thức chèo thuyền cách điệu thành chèo trên sân đình với lối diễn xướng vừa múa, vừa hát;múa bông là hình thức múa không lời, động tác theo nhịp trống kết hợp với chèo cạn.

Lễ hội Múa bông chèo cạn không những đã góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của người dân vùng biển Đồng Hới mà còn là dịp để quảng bá, những đặc trưng văn hóa của người Đồng Hới với du khách trong và ngoài nước.

Lễ hội diễu hành đường phố: Đây là loại hình mới,là hoạt động thường niên trong khuôn khổ Tuần Văn hóa du lịch của Đồng Hới, được tổ chức vào dịp 30/4 1/5, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, nét đẹp truyền thống của người dân địa phương Đồng Hới, cũng như thu hút khách du lịch đến với Đồng Hới.

Hình:2.10.Lễ hội diễu hành đường phố và Lễ hội bơi trải Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Lễ hội bơi trải: Ở Đồng Hới đã có từ xa xưa gắn với quá trình hình thành cộng đồng dân cư nơi đây; ngoài ý nghĩa đua tài, rèn luyện sức vóc, biểu thị kỹ năng sông nước còn là một thể thức tín ngưỡng cư dân sông nước. Trải qua thăng trầm của thời gian, lễ hội bơi trải vẫn thể hiện bản sắc văn hóa biển đầy sinh động, lối ứng xử đầy tính nhân văn, tinh thần, gắn kết tình yêu cộng đồng của người dân Đồng Hới, đây là loại hình thể thao thu hút động đảo du khách đến xem.

2.2.2. Thực trạng kết cấu cơ sở hạ tầng du lịch Đồng Hới

  • Cơ sở lưu trú

Tính đến 31/12/2024 trên địa bàn Đồng Hới có 195 cơ sở lưu trú chia theo hạng: Có 3 cơ sở đạt 5 sao gồm 1 Resort và 2 khách sạn, 5 khách sạn đạt 4  sao,  8 khách sạn đạt 3 sao, 23 khách sạn đạt 2 sao, 46 khách sạn đạt 1 sao, 11 khách sạn chưa phận hạng, 99 nhà nghỉ các loại; chiếm 95% cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh. Tổng số buồng phục vụ cho lưu trú là 4.490 buồng và 8.339 giường, trong tổng số buồng giường thì khách sạn từ 3 sao đến 5 sao chiếm  29,4%.

Resortsunspa Quảng Bình: Làkhu nghỉ dưỡng cao cấpđạt tiêu chuẩn 5 sao đầu tiên tại mảnh đất Quảng Bình, được Tập Đoàn Trường Thịnh đầu tư và xây dựng; trải dài và tọa lạc ngay tại vị trí mũi tàu của bán đảo Bảo Ninh tuyệt đẹp với 3 mặt giáp biển, và sông Sun Spa Resort là một điểm sáng trong du lịch Đồng Hới và khu vực miền Trung.

Sun Spa Resort có kiến trúc độc đáo, sang trọng và hài hòa cùng thiên nhiên, với 5 tòa building có 234 phòng nghỉ đạt tiêu chuẩn quốc tế, 10 Bungalow có 40 phòng, 12 Villa có 19 phòng nghỉ cao cấp;tất cả các phòng đều đầy đủ tiện nghi dịch vụ, tiện ích mà du khách mong muốn.

Hình: 2.11. Resortsunspa Quảng Bình và Khách sạn Mường Thanh Luxury Nhật Lệ

Khách sạn Mường Thanh Luxury Nhật Lệ: Khách sạn Mường Thanh Luxury Nhật Lệ tọa lạc bên bãi biển Nhật Lệ, Đồng Hới, một trong mười bãi biển đẹp nhất Việt Nam; khách sạn Mường Thanh Luxury Nhật Lệ mang đến một không gian nghỉ dưỡng sang trọng và tinh tế cho quý khách đến du lịch . Điểm đến lý tưởng để tận hưởng những khoảnh khắc thư giãn tuyệt vời với gia đình, bạn bè và người thân khi hành trình đến với Vương quốc hang động Quảng Bình.

Khách sạn 5 sao Biển Vàng Gold Coast Hotel Resort & Spa chuẩn Quốc tế là khu nghỉ dưỡng được đầu tư kỹ lưỡng cực kỳ sang trọng, kết hợp trị liệu spa, mang đến không gian sống vô cùng thoải mái, cùng những liệu pháp làm êm dịu tâm trí, làm tươi mới tâm hồn cuộc sống của du khách; Khách sạn tọa lạc trên bán đảo Bảo Ninh xinh đẹp, một bên là dòng sông Nhật Lệ thơ mộng, một bên là Biển đông bao la với bờ cát trải dài trắng mịn.

Hình: 2.12. Khách sạn 5 sao Biển Vàng Gold Coast Hotel Resort & Spa

  •  Các cơ sở mua sắm Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Trong những năm gần đây thành phố Đồng Hới đã tập trung phát triển nhiều cơ sở mua sắm nhằm phục vụ cho khách du lịch, một số siêu thị mới xây dựng đi vào hoạt động bước đầu phát huy được hiệu quả như: Siêu thị Co.op Mart, Siêu thị Hiếu Hằng, Siêu thị Thế Anh, Trung tâm thương mại Tuấn Việt, và nhiều shop cữa hàng bán quà lưu niệm du khách có thể dễ dàng mua sắm.

Hình: 2.13. Siêu thị Co.op Mart và gian hàng lưu niệm

Ngoài ra Đồng Hới còn có 2 chợ cấp 1 đó là chợ Đồng Hới và chợ Nam lý là 2 chợ đầu mối lớn của thành phố, nơi có nhiều mặt hàng thuỷ hải sản tươi ngon, giá cả rẽ.

  • Mạng lưới giao thông

Xác định hạ tầng giao thông là một trong những đột phá chiến lược, là yếu tố đi trước để tạo tiền đề cho phát triển kinh tế – xã hội; Đồng Hới đã triển khai đồng bộ các biện pháp đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông tương đối đa dạng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển của du lịch và thông thương với bên ngoài. Tổng chiều dài các tuyến giao thông đường bộ là 584 km chiếm trên 6% tổng diện tích đất tự nhiên; trong đó, đường rải nhựa và bê tông là 474,5 km, chiếm 81,2%; đi qua Đồng Hới có Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và đường sắt Bắc Nam, Sân bay Đồng Hới nằm ở phía Bắc, sử dụng máy bay than nhỏ tầm bay ngắn từ 500-700  km là phương tiện phục vụ du khách hạng sang khi đến du lịch tại Đồng Hới.

  • Mạng lưới cấp điện

Đồng Hới hiện đang sử dụng nguồn điện lưới Quốc gia, đáp ứng đủ mọi nhu cầu về điện cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt; toàn tỉnh đã phủ điện đến 100% các xã, phường, tuy nhiên mạng lưới đường, dây điện vẫn còn lạc hậu, chậm được cải tạo mới do nguồn vốn đầu tư của ngành điện còn hạn chế.

  • Hệ thống cấp và thoát nước:

Hiện nay trên địa bàn thành phố có 2 nhà máy cấp nước công suất 25.000 m3/ngày đêm với mạng lưới đường ống nước dài 117 km; nhưng chưa được phủ khắp thành phố; hệ thống thoát nước tại Đồng Hới mới chỉ bao phủ được khu vực nội thành với chiều dài đường ống khoảng 81km, chưa phù hợp cho phát triển du lịch. Hiện tại Đồng Hới có 1 nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt với công xuất xử lý nước 10.000m3 ngày, nước thải lấy từ các hộ gia đình được thu gom qua hệ thống đường ống, chuyển đến nhà máy xử lý, sau đó thoát ra sông Lệ Kỳ. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

  • Hệ thống dịch vụ viễn thông:

Trên địa bàn Đồng Hới đang được các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông như; Vieten, Vinaphon, Morbai…với hệ thống tổng đài kỷ thuật số hiện đại đã phủ sóng trên toàn bộ địa bàn Đồng Hới, hệ thống truyền hình cáp và việc ứng dụng công nghệ kết nối không dây wifi hiện nay đã được phủ sóng sử dụng rộng rãi. Đồng Hới đã lắp đặt hoàn thành các điểm phát sóng Internet không dây tại khu vực trung tâm,các khu du lịch, rất thuận lợi cho du khách truy cập mạng…

  • Đánh giá của du khách về hạ tầng du lịch Đồng Hới

Bảng. 2.4: Ý kiến đánh giá của du khách về hạ tầng du lịch Đồng Hới

Qua khảo sát về sự hài lòng của 200 khách du lịch nội địa đánh giá về cơ sở hạ tầng kỷ thuật du lịch trên địa bàn Đồng Hới kết quả từ bảng 2.4 cho thấy số người đánh giá hoàn toàn hài lòng chiếm 26%, đánh giá hài lòng chiếm 61%, đánh giá tạm được chiếm 13%, và hoàn toàn không hài lòng 0%. Như vậy có thể đánh giá rằng cơ sở hạ tầng kỷ thuật du lịch của Đồng Hới tương đối tốt, là điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển trong tương lai.

2.2.3. Tình hình phát triển du lịch của Đồng Hới trong thời gian vừa qua

2.2.3.1. Phát triển du lịch từ góc độ về kinh tế

a) Quy mô của ngành du lịch

Khách du lịch:Lượng khách du lịch đến Đồng Hới gia tăng với tốc độ khá nhanh qua hàng năm thể hiện ở Bảng 2.5.

Số liệu từ Bảng 2.5 cho thấy, quy mô khách du lịch đến Đồng Hới tăng qua hàng năm, bao gồm cả khách nội địa và khách quốc tế; tốc độ tăng bình quân hàng năm thời kỳ 2017 – 2022 đạt 17,26%, khách quốc tế tăng 4,52%, thời kỳ 2022 2024 giảm 2,11% do sự cố ôi nhiểm môi trường biển vào tháng 4 năm 2023 nên lượt khách giảm mạnh, đến năm 2024 mới phục hồi lại,số lượt khách đến Đồng Hới lại tăng lên đạt 1.060.940 người, chiếm 68,3% lượt khách đến Quảng Bình.

Cơ sở lưu trú:Số cơ sở lưu trú trên địa bàn Đồng Hới tăng nhanh cả về số cơ sở và buồng, gường nhiều khách sạn hạng cao được đầu tư. Tổng số cơ sở lưu trú trên địa bàn có đến cuối năm 2024 là 195 cơ sở, gồm 96 khách sạn và 99 nhà nghỉ, số lượng khách sạn tăng bình quân hàng năm là 6,2%, nhà nghỉ tăng bình quân 7,16%, thể hiện ở Bảng 2.6.

Bảng 2.6: Cơ sở lưu trú du lịch tại thành phố Đồng Hới qua hàng năm

Bảng 2.6 cho thấy số lượng phòng và giường trên 1 cơ sở tăng nhanh qua từng năm: Năm 2017 một cơ sở có 20,5 phòng và 29,7 giường, đến năm 2024 một cơ sở là 23,2 phòng và 42,7 giường, tăng 1,4 lần. Đồng Hới hiện có 1 khu nghỉ dưỡng và 2 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao, với 694 phòng và 1.262 giường chiếm 15,1%; có 5 khách sạn 4 sao với 468 phòng và 923 giường chiếm 11%, đủ điều kiện để tiếp đón khách du lịch hạng sang, phục vụ hội thảo, hội nghị tầm cỡ quốc gia; 8 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao và 23 khách sạn 2 sao, 46 khách sạn 1 sao.

Đánh giá cơ sở lưu trú tại Đồng Hới qua khảo sát 200 khách du lịch nội địa, số liệu ở Bảng 2.7 cho biết về chất lượng lưu trú (với tiêu chí gợi ý là: Sang trọng, rộng rãi, sạch sẽ, vị trí đẹp, dịch vụ đầy đủ) với 4 tiêu chí đánh giá là (Hoàn toàn hài lòng, hài lòng, tạm được, hoàn toàn không hài lòng) Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Bảng 2.7: Ý kiến đánh giá của du khách về cơ sở lưu trú tại Đồng Hới

Kết quả đánh giá như sau: Có 18% du khách hoàn toàn hài lòng, 66% du khách trả lời hài lòng và 16% du khách cho là tạm được; như vậy tính cả hài lòng và hoàn toàn hài lòng chiếm 84%.

Đánh giá về kỷ năng của nhân viên phục vụ có 16,5% du khách hoàn toàn hài lòng, 61,5% hài lòng và 22% cho là tạm được, hoàn toàn không hài lòng là 0%.

Đánh giá về thái độ phục vụ có 21% du khách hoàn toàn hài lòng, có 62% du khách hài lòng và 17% cho là tạm được; như vậy đánh giá cơ sở lưu trú qua 3 chỉ tiêu thì tỷ lệ hài lòng và hoàn toàn hài lòng chiếm tỷ lệ khá cao.

Cơ sở kinh doanh nhà hàng,quán ăn tại Đồng Hới phát triển khá nhanh cả về số lượng và quy mô; năm 2017 có 1.545 cơ sở kinh doanh nhà hàng, thì đến năm 2024 có đến 1.854 cơ sở, bình quân mỗi năm cơ sở kinh doanh nhà hàng tăng 2,6%; hạn chế của các cơ sở nhà hàng, quán ăn của Đồng Hới đó là: quy mô còn nhỏ, lao động phục vụ đa số không có chuyên môn; Bảng 2.8 thể hiện ý kiến đánh giá của du khách về nhà hàng, quán ăn trên địa bàn với 4 mức đanh giá ( tiêu chí gợi ý là: thức ăn ngon đẹp, sang trọng, rộng rãi, sạch sẽ, vị trí đẹp,)  như sau :

Bảng 2.8: Ý kiến của du khách về nhà hàng và quán ăn tại Đồng Hới

Đối với chất lượng món ăn có 36,5% du khách đánh giá là hoàn toàn hài lòng, có 50,5% đánh giá hài lòng và 13% đánh giá tạm được, hoàn toàn không hài lòng 0%. Về chỉ tiêu kỷ năng của nhân viên có 22,5% du khách đánh giá hoàn toàn hài lòng, có 38% du khách đánh giá hài lòng và 37,5% cho là tạm được, và 2% đánh giá hoàn toàn không hài lòng. Về thái độ phục vụ có 25,5% du khách hoàn toàn hài lòng, 46,5% hài lòng và 26% cho là tạm được, 2% hoàn toàn không hải lòng.

Các điểm tham quan du lịch trên địa bàn Đồng Hới và trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vẫn còn nhiều hạn chế chưa thu hút được khách du lịch, đa số du khách đến tham quan chỉ một lần và không quay lại, do tài nguyên du lịch không thể biến đổi nên không hấp dẫn lôi cuốn du khách. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Ý kiến đánh giá của du khách về các điểm tham quan với 4 mức đanh giá (tiêu chí gợi ý là: đẹp, hấp dẫn, mát mẻ..) số liệu ở Bảng 2.9 cho thấy, đối với các điểm tham quan du lịch, có 18% khách du lịch đánh giá là hoàn toàn hài lòng, có 47% du khách đánh giá hài lòng, tạm được 37%, hoàn toàn không hài lòng 0%. Về chất lượng dịch vụ tại điểm tham quan có 8,5% du khách đánh giá hoàn toàn hài lòng, 52% đánh giá hài lòng, 36,5% cho tạm được và 3% hoàn toàn không hài lòng.

Về kỷ năng phục vụ của nhân viên có 6% du khách đánh giá hoàn toàn hài lòng.

Bảng 2.9. Ý kiến của du khách về các điểm tham quan Đồng Hới

Như vậy, qua phân tích ý kiến đánh giá của du khách tại các bảng 2.7 ,  2.8 và 2.9 ở trên, cho thấy: Các điểm tham quan du lịch tại Đồng Hới còn nhiều hạn chế, sản phẩm du lịch và chất lượng phục vụ còn yếu kém chưa thu hút được khách du lịch quay trở lại;chất lượng cơ sở lưu trú, nhà hàng phục vụ ăn uống ở Đồng Hới tương đối tốt, với hơn 80% ý kiến du khách đánh giá là hoàn toàn hài lòng và hài lòng; Về kỹ năng và thái độ phục vụ của nhân viên thì tỷ lệ hài lòng chưa cao trong đó hạn chế nhất là thái độ phục vụ của nhân viên, đặc biệt là trong lĩnh vực nhà hàng, nhiều cơ sở kinh doanh du lịch chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vai trò của lao động đã làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển du lịch.

Cơ sở du lịch lữ hành đã được hình thành từ những năm 2012, hiện nay các cơ sở lữ hành đang kinh doanh ổn định; năm 2017 có 8 công ty doanh thu bình quân là 3,8 tỷ đồng; đến cuối năm 2024 có 14 công ty, doanh thu bình quân 7,4 tỷ đồng, tổng số lao động 175 người, mỗi công ty có 13 người. Hạn chế của các công ty lữ hành đó là quy mô còn nhỏ, năng lực cán bộ và nhân viên còn yếu, chủ yếu là phục vụ khách du lịch trong nước, có thời gian đi tua ngắn, số lượng đoàn đi ít, chưa vươn ra được quốc tế,tỷ trọng khách du lịch do các cơ sở lữ hành phục vụ vẫn còn khiêm tốn, năm 2017 chiếm 6,39%, đến năm 2024 là 9,38%, bình quân mỗi năm tỷ trọng khách du lịch do các cơ sở lữ hành phục vụ chỉ tăng 0,43%, thể hiện ở Biểu đồ 2.2.

Biểu đồ: 2.2.Tỷ trọng du khách do cơ sở lữ hành Đồng Hới phục vụ

Trong tổng số 200 khách được phỏng vấn thì có 63 khách trả lời đi do công ty lữ hành phục vụ chiếm 31,5% và 137 khách tự tổ chức đi theo nhóm theo gia đình và cơ quan chiếm 68,5%.

Cơ sở vui chơi, giải trí,mua sắm trên địa bàn Đồng Hới rất hạn chế, hiện nay chỉ có 2 siêu thị bán hàng quy mô nhỏ như: Siêu thị Hiếu Hằng, siêu thị co.op Mart chưa hình thành được các cữa hàng, quay hàng lưu niệm phục vụ cho khách; chưa có các cơ sở tổ chức các trò chơi mới lạ cảm giác mạnh, các cơ sở dịch vụ như quán bar, quán café quy mô nhỏ, phong cách phục vụ còn hạn chế…

Vốn đầu tư cho du lịch: Trong những năm qua, Đồng Hới đã ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích và kêu gọi đầu tư từ các thành phần kinh tế cho phát triển du lịch; nguồn vốn đầu tư nhiều nhất cho du lịch vẫn là từ các doanh nghiệp tư nhân, số liệu thể hiện ở Bảng 2.10; Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Từ Bảng 2.10 cho thấy, vốn đầu tư trong ngành du lịch Đồng Hới thời gian qua là khá lớn, năm 2017 có 151,5 tỷ đồng và có xu hướng tăng dần qua hàng năm đến năm 2024 tổng số vốn đầu tư lên đến 640,83 tỷ đồng so với năm 2017 bình quân hàng năm tăng 22,9%, chia ra: Cá thể 31,4 tỷ đồng chiếm 4,9%, bình quân hàng năm tăng 13,9%, tư nhân 609,43 tỷ đồng chiếm 95,1%, bình quân hàng năm tăng 23,5%, đây là loại hình kinh tế có đóng góp mạnh mẽ trong việc phát triển của ngành du lịch tại Đồng Hới;

Bảng 2.10. Vốn đầu tư trong ngành du lịch Đồng Hới thời gian qua

Phương tiện kỹ thuật phục vụ du lịch: Các loại phượng tiện kỷ thuật phục vụ du khách ngày càng tăng, đáp ứng được nhu cầu của du khách khi đi du lịch, nhiều chủng loại phương tiện đường bộ được đầu tư, đặc biệt các phương tiện vận chuyển du khách tham quan khi đến Đồng Hới bằng đường bộ như ô tô điện phát triển mạnh, thể hiện ở Bảng 2.11.

Bảng 2.11: Phương tiện vận chuyển khách du lịch

Bảng 2.11 cho thấy, để phục vụ các chuyến tham quan của du khách tại Đồng Hới và các vùng phụ cận, Đồng Hới đã phát triển 5 hãng taxi, 126 công ty vận tải hành khách và du lịch; ngoài ra để đáp ứng nhu cầu tham quan tại trung tâm thành phố và các điểm mua sắm của du khách Đồng Hới đã phát triển 1 Công ty dịch vụ ô tô điện với 40 chiếc để vận chuyển khách đảm bảo môi trường bền vững trong thành phố;ngoài ra Đồng Hới đã và đang huy động các nguồn lực cho việc phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ như nhựa hóa giao thông, lát vĩa hè, dịch vụ khác…

b) Sản phẩm du lịch, loại hình du lịch, tuyến du lịch

Sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch đặc thù của Đồng Hới được khai thác còn ít, du khách đến Đồng Hới chủ yếu là để nghỉ dưỡng gắn với tắm biển vào mùa hè; các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn sẵn có chậm được khai thác, mức độ tu bổ, tôn tạo và đầu tư xây dựng các khu,điểm du lịch, hệ thống cảnh quan đầu tư còn hạn chế, nên sức lôi cuốn du khách còn hạn chế.

Sản phẩm du lịch thiết yếu của Đồng Hới mới chỉ đáp ứng các yêu cầu cơ bản của du khách, chưa thật sự tiện nghi; các khách sạn, nhà nghỉ tư nhân có quy mô nhỏ diện tích hẹp, thiếu các dịch vụ hổ trợ khác…

Sản phẩm du lịch bổ sung của Đồng Hới trong những năm gần đây đã được quan tâm hơn; sản phẩm hang lưu niệm, đặc sản của địa phương, mặt hàng đóng gói thủy sản tươi sống…,nhiều nhà hàng ẩm thực sang trọng, các món ăn mạng đậm hương vị của địa phương dần được hình thành. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Loại hình du lịch: “Do sản phẩm du lịch còn đơn điệu nên loại hình du lịch chủ yếu là du lịch biển; theo Sở Du lịch thì phần lớn lượng du khách đến nghỉ tại Đồng Hới chủ yếu là để tắm biển và nghỉ dưỡng, kết hợp việc với đi công tác, công vụ, một phần chọn Đồng Hới làm điểm dừng chân trong hành trình Bắc Nam, trong đó có một phần đáng kể dừng lại để tham quan Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng” [18, 2].Do sản phẩm du lịch đơn điệu thiếu hấp dẫn, nên du khách đến Đồng Hới chủ yếu là khách nội địa, bình dân, đến nghỉ hoặc dừng chân vào dịp cuối tuần hoặc dịp lễ, khách hạng sang, khách quốc tế rất ítnăm 2024 có 25 nghìnngười, chiếm 2,36%;đa số du khách chỉ một lần và không quay lại,

Biểu đồ 2.3: Khách du lịch chia theo khách quốc tế và khách nội địa

Tuyến du lịch: Trong những năm gần đây, Đồng Hới đã phát triển một số tuyến du lịch gắn với các điểm du lịch trong và ngoài tỉnh, trong đó có các tuyến du lịch như: Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Núi Thần Đinh, suối Bang, Lăng mộ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp.v.v.

Hiện nay Đồng Hới đang hình thành kết nối với tuyến du lịch khu vực Lào và Đông Bắc Thái Lan, năm 2024 đã kết nối 2 tuyến bay hàng không đi Chiềng mai Thái Lan, đi Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch. Việc mở rộng các đường bay có ý nghĩa rất lớn trong việc khai thác khách du lịch; nhờ đó mà lượng khách du lịch do các cơ sở lữ hành phục vụ tăng qua hàng năm, năm 2017 có 31.920 người, đến năm 2024 tăng lên 99.520 người, mỗi năm tăng 17,64%. Tỷ lệ khách du lịch nội địa đến Đồng Hới, theo các loại phương tiện như sau: 17% du khách đi bằng máy bay, 53% đi bằng Ô tô, 24% đi bằng Tàu hỏa, 6% đi bằng xe máy.

c) Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong ngành du lịch

Thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch: Tiềm năng tài nguyên du lịch Đồng Hới không nhiều, nhưng tương đối đa dạng; có biển, hồ, sông, núi; có di tích khảo cổ, lịch sử, có lễ hội, điệu múa hát hò khoan…thể hiện ở Bảng 2.12.

Bảng 2.12: Thực trạng khai thác tiềm năng các loại tài nguyên du lịch

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, các tiềm năng này vẫn chưa được khai thác một cách tương xứng cho mục đích phát triển du lịch; vì vậy mà sản phẩm du lịch còn đơn điệu, ít biến đổi nên việc thu hút du khách còn hạn chế, thời gian lưu trú ngắn, đồng nghĩa với viêc chi tiêu của du khách hạn chế.Từ Bảng 2.12 cho thấy, số lượng các tiềm năng tài nguyên du lịch của Đồng Hới được đưa vào khai thác chỉ đạt 19/39 tài nguyên, chiếm 48,7%; trong đó một số tài nguyên được khai thác có hiệu quả, như bãi tắm biển, cửa biển Nhật Lệ, Hồ Thành, các tài nguyên khác chưa được đầu tư khai thác.

Lực lượng lao động du lịch: Cùng với sự phát triển của ngành du lịch, lực lượng lao động tham gia trực tiếp và gián tiếp vào hoạt động du lịch không ngừng tăng lên cả số lượng và chất lượng, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập.

Bảng 2.13: Lực lượng lao động tham gia hoạt động du lịch của Đồng Hới

Số liệu Bảng 2.13 cho thấy, năm 2017 có 7.957 lao động, đến năm 2024 tăng lên 10.130 lao động, bình quân mỗi tăng 3,51% chia ra:Cá thể tăng 1,82%, tư nhân tăng 4,32%; chia theo ngành, dịch vụ du lịch tăng 4,98%, dịch vụ khác tăng 4,36%.

Chất lượng lao động ngành du lịch của Đồng Hới còn yếu, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm đến 40%, tỷ lệ đại học và trên đại học chuyên ngành du lịch chiếm 17,48%, cao đẳng chiếm 9,9%, trung cấp chiếm 20,89%, sơ cấp chiếm 11,69%; trong tổng số lao động có trình đô đào tạo, thì lao động được đào tạo đúng chuyên ngành chiếm 38,59%, đây là thực trạng của hầu hết các cơ sở kinh danh dịch vụ du lịch trên địa bàn, đang sử dụng một lực lượng lao động trái ngành chiếm tỷ lệ khá lớn, dẫn đến phong cách, thái độ phục vụ, văn hoá giao tiếp ứng xử kém; thiếu kiến thức về tiếp thị du lịch, quản lý kinh doanh, ngoại ngữ.v.v.

Sử dụng vốn và các nguồn lực khác: Nguồn vốn được sử dụng đầu tư cho phát triển du lịch trong thời gian qua được huy động từ các thành phần kinh tế là khá cao, thể hiện ở Biểu đồ 2.4 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Biểu đồ: 2.4. Tỷ trọng vốn đầu tư cho du lịch trong tổng vốn đầu tư

Biểu đồ 2.4 cho thấy, với việc xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn nên trong những năm qua bằng nhiều chính sách Đồng Hới đã thu hút một lượng vốn đầu tư cho phát triển du lịch khá cao, cụ thể: Năm 2017 tỷ trọng vốn đầu tư cho phát triển du lịch chiếm 16,7% trong tổng vốn đầu tư phát triển của Đồng Hới; đến năm 2024 chiếm 23,6% tăng so với năm 2017 là 6,9%; nhiều công trình đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng trong năm 2024 có 3 dự án khách sạn 5 sao đang xây dựng đó là: Khách sạn Wingroop với 218 phòng, 426 giường; Khu nghỉ dưỡng PuLLman Quảng Bình tổng số vốn dự án 600 tỷ đồng cao 21 tầng với 250 phòng và 480 giường và các hạng mục vui chơi giải trí khác; Khách sạn Duy Tân Quảng Bình vốn đầu tư 180 tỷ đồng 121 phòng và 210 giường; đa số các dự án khách sạn đều được xây dựng dọc bờ biển Bảo Ninh, Nhật Lệ, như vậy đến cuối năm 2025 trên địa bàn Đồng Hới có 6 cơ sở nghỉ dưỡng đạt 5 sao. Nhờ được ưu tiên đầu tư nên chất lượng và hiệu suất sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch ngày càng được nâng lên, khả năng và chất lượng phục vụ khách du lịch được cải thiện, đã góp phần vào sự gia tăng lượng du khách đến với Đồng Hới

d) Kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch

Thu nhập từ du lịch và mức đóng góp vào GRDP và ngân sách: Tổng thu nhập từ các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho du lịch trong thời gian qua tăng khá nhanh, đã đóng góp đáng kể vào GRDP và ngân sách cho địa phương số liệu được thể hiện qua Bảng 2.14 và Bảng 2.15

Bảng 2.14: Doanh thu và giá trị tăng thêm của du lịch, dịch vụ thời gian qua

Từ Bảng 2.14 cho thấy, doanh thu của du lịch và dịch vụ hỗ trợ du lịch ngày càng gia tăng, năm 2017 tổng doanh thu là 840.374 triệu đồng chia theo loại hình kinh tế cá thể là 252.112 triệu đồng chiếm 30%; tư nhân 588.262 triệu đồng chiếm chiếm 70%. Giá trị tăng thêm (VA) của ngành du lịch là 638.684 triệu đồng chiếm 13,2% trong GRDP của thành phố; đến năm 2024 đạt 955.554 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân mỗi năm giai đoạn 2017 đến 2024 là 5,92% bên cạnh việc tăng doanh thu, thì thu ngân sách cũng được tăng qua hàng năm cụ thể ở Bảng 2.15.

Bảng 2.15: Đóng góp ngân sách của du lịch và dịch vụ hỗ trợ du lịch

Bảng 2.15 cho thấy, thu ngân sách từ các hoạt động dịch vụ du lịch năm 2017 đạt 57.190 triệu đồng, chia theo loại hình, tư nhân đạt 42.892 triệu đồng chiếm 75%, đây là loại hình trụ cột chính trong việc nộp ngân sách cho Nhà nước, cá thể đạt 14.297 triệu đồng chiếm 25%; đến năm 2024 mặc dù có nhiều biến động do sự cố môi trường biển nhưng nguồn thu vẫn đạt cao 78.130 triệu đồng tăng 1,4 lần so với năm 2017, bình quân mỗi năm từ 2017-2024 tăng 4,56%. Tỷ lệ đóng góp của ngành du lịch vào ngân sách của thành phố hàng năm chiếm từ 10,47% đến 11,77% với sự đóng góp như vậy so với các địa phương khác chưa lớn nhưng nếu du lịch tiếp tục được phát triển, chắc chắn nguồn thu sẽ cao hơn qua từng năm.

Kết quả hoạt động của các cơ sở kinh doanh du lịch: Doanh thu bình quân 1 cơ sở dịch vụ,du lịch, năm sau luôn cao hơn năm trước, sự tăng trưởng của doanh thu sẽ kéo theo thu nhập của người lao động làm việc trong các sơ sở dịch vụ du lịch cũng sẽ tăng lên, thể hiện ở Biểu đồ 2.5. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Biểu đồ 2.5. Doanh thu bình quân 1 cơ sở du lịch, dịch vụ

Từ Biểu đồ 2.5 cho thấy, doanh thu bình quân trên một cơ sở du lịch, dịch vụ, khách sạn, nhà hàng có xu hướng tăng đều qua hàng năm, năm 2017 bình quân 1 doanh nghiệp có 406,8 triệu đồng đến năm 2022, bình quân 1 doanh nghiệp là 538,2 triệu đồng, tăng 131,4 triệu đồng; năm 2023 giảm chỉ có 395 triệu đồng do sự cố ôi nhiểm môi trường biển làm cho du lịch của Đồng Hới bị đình trệ.

Hiệu quả khai thác khách du lịch: Do đặc điểm của khí hậu nên du lịch

Đồng Hới có tính thời vụ rất cao, chủ yếu tập trung từ tháng 5 đến tháng 8; đây là:

Bảng 2.16: Thời gian bình quân khách lưu trú tại Đồng Hới

Từ Bảng 2.16 cho thấy, thời gian lưu trú của du khách tại Đồng Hới vẫn còn rất ngắn và chậm thay đổi, cụ thể năm 2020 khách nội địa là 1,75 ngày/khách, năm 2024 số ngày lưu có tăng lên những chỉ 1,85 ngày/khách. Đối với khách du lịch quốc tế thời gian nghỉ lại lâu hơn năm 2020 là 2,2 ngày/khách, đến năm 2024 tăng lên 2,24 ngày/khách; như vậy tuy số ngày lưu trú có tăng lên những mức tăng còn ít, dẫn đến mức chi tiêu của du khách rất hạn chế, thể hiện ở Bảng 2.17 sau.

Bảng 2.17. Chi tiêu bình quân một ngày khách du lịch nội địa năm 2024

Bảng 2.17cho thấy, mức chi tiêu trung bình của du khách tại Đồng Hới Quảng Bình thấp hơn bình quân cả nước là 22,5% cụ thể: ở Đồng Hới là 1.057,6 ngàn đồng, trong khi đó bình quân cả nước là 1.364,6 ngàn đồng, thấp hơn 307 ngàn đồng, các khoản chi như: Thuê phòng, vui chơi giải trí, tham quan, mua hàng lưu niệm làm quà…đều thấp hơn nhiều so với mức chi bình quân chung cả nước; đặc biệt là các khoản chi tiêu của du khách cho các dịch vụ vui chơi, giải trí, vé tham quan, dịch vụ ăn uống giải khát.

2.2.3.2. Phát triển du lịch từ góc độ về xã hội

a) Tình hình giải quyết việc làm

Hoạt động du lịch trên địa bàn Đồng Hới trong những năm qua đã góp phần quan trọng vào việc mở mang các ngành nghề sản xuất, giải quyết việc làm cho nhiều lao động, tạo thu nhập cho người lao động, đóng góp cho phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, điều đó thể hiện ở Biểu đồ 2.7. Đơn vị tính: lao động

Tuy vậy, do du lịch phát triển tự phát nên nhiều vị trí việc làm trong ngành còn thiếu ổn định, chưa phát triển được các ngành nghề sản xuất hàng hóa và đồ lưu niệm, nhằm thu hút lao động nhàn rỗi trong nông thôn, năm 2024 tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn chỉ có 32,5%, thất nghiệp còn 5%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

b) Thu nhập của lao động trong ngành du lịch và cộng đồng địa phương

Sự phát triển của du lịch trong những năm qua đã góp phần nâng cao thu nhập của người lao động trong ngành du lịch nói riêng và cộng đồng địa phương nói chung, doanh thu bình quân đầu người của lao động du lịch năm sau luôn cao hơn năm trước điều đó được minh chứng ở Biểu đồ 2.8

Biểu đồ 2.8: Doanh thu bình quân trên 1 lao động ngành du lịch

Từ Biểu đồ 2.8 cho thấy, doanh thu bình quân trên 1 lao động năm 2017 đạt 105,6 triệu đồng, năm 2023 bị sự cố môi trương biển nên doanh thu giảm mạnh còn 100,2 triệu đồng, năm 2024 ngành du lịch đã phục hồi và phát triển trở lại; mức tăng doanh thu bình quân mỗi năm thời kỳ 2017 – 2022 là 5,53%. Cùng với mức tăng của doanh thu thì mức tăng của thu nhập cũng tăng lên tương đương, người lao động có điều kiện để cải thiện đời sống và tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống.

c) Thực hiện công bằng xã hội

Sự phát triển của du lịch Đồng Hới trong những năm qua, đã góp phần đáng kể trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, chính quyền thành phố đã thực hiện tốt chính sách bảo trợ xã hội nên không để tình trạng người ăn xin, người bị tâm thần hoặc người nghèo khổ không nơi cư trú sống lang thang trong thành phố.Trong các nguồn thu từ hoạt động du lịch, Đồng Hới đã quan tâm bố trí để phát triển các công trình phúc lợi xã hội, cải thiện cuộc sống và điều kiện kinh doanh của người dân địa phương, như: công viên, cây xanh, Quảng trường biển, đường giao thông quy mô nhỏ, điện chiếu sáng, hạ tầng các điểm du lịch như biển Nhật Lệ, Bảo Ninh…

Kết quả khảo sát từ ý kiến 100 người dân cho thấy; có 63% người dân trả lời ngành du lịch có mạng lại lợi ích và 37% trả lời không có lợi lịch gì; về tạo thêm việc làm cho người lao động của địa phương có 65% trả lời có và 35% trả lời không; về tạo thêm thu nhập cho người dân có 58% trả lời có và 42% trả lời không.

Như vậy có thể kết luận rằng, hoạt động du lịch trên địa bàn Đồng Hới cũng đã đem lại lợi ích về việc làm và thu nhập cho người dân, sự công bằng xã hội đang được thực hiện; tuy nhiên lợi ích đêm lại chưa cao, công bằng xã hội chưa rộng, dẫn đến đánh giá của người dân chưa cao đối với ngành du lịch Đồng Hới.

d) Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Trong những năm qua, các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, di sản văn hoá, lịch sử được tăng cường; thông qua các hoạt động du lịch, đời sống văn hoá tinh thần và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân từng bước được nâng lên; nhiều nét bản sắc văn hoá, lịch sử, con người Đồng Hới được giữ gìn và phát huy; nhiều hoạt động văn hoá truyền thống được khôi phục và phát triển như: lễ hội cầu ngư, bơi trãi; hò khoan chèo cạn, múa bông, cướp cù, bài chòi…

Qua khảo sát ý kiến đánh giá đối với 100 người dân, kết quả như sau: Có 22% ý kiến đánh giá là phát huy và giữ gìn tốt, có 73% ý kiến đánh giá là có phát huy và giữ gìn, 5% ý kiến đánh giá là không giữ gìn, phát huy. Như vậy có thể kết luận:Nét văn hoá truyền thống của Đồng Hới không bị ảnh hưởng nhiều bởi du lịch, các giá trị văn hóa truyền thống vẫn được giữ gìn, không bị thay đổi, ít bị thương mại hóa bởi các hoạt động du lịch.

đ) Mức độ hài lòng và tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch

Đến nay các hoạt động du lịch trên địa bàn Đồng Hới cơ bản được sự đồng thuận và ủng hộ của người dân địa phương; nguyên nhân một phần là do du lịch Đồng Hới phát triển chưa mạnh, những mặt trái của nó chưa xuất hiện nhiều; một phần do nền kinh tế Đồng Hới có xuất phát điểm thấp, đời sống người dân địa phương còn khó khăn so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Do vậy, du lịch được người dân địa phương đón nhận như một hướng phát triển mới có tiềm năng, đem lại lợi ích, thu nhập để cải thiện đời sống.

Sự đồng thuận và ủng hộ của người dân Đồng Hới còn thể hiện ý thức bảo bệ môi trường, đảm bảo sự ổn định về an ninh tật tự tại các điểm du lịch. Số liệu khảo sát 100 người dân như sau: Có 80% trả lời có ý thức bảo vệ môi trường và 20% không có ý thức bảo vệ môi trường; về sự sung đột của người dân địa phương với du khách 100% người đều trả lời là không có sự sung đột.

Theo số liệu khảo sát ý kiến đánh giá về sự hài lòng của người dân như sau: Có 20% ý kiến người dân đánh giá rất hài lòng, 40% đánh giá hài lòng và 22% đánh giá là tạm được, không hài lòng là 18%. Như vậy mức độ hài long và rất hài lòng chiếm 60%, tạm được và không hài lòng chiếm 40%; qua đây có thể đánh giá được rằng các hoạt động du lịch trên địa bàn Đồng Hới tuy có đem lại lợi ích cho người dân về việc làm và thu nhập nhưng hoạt động du lịch còn manh tính mùa vụ cao, không ổn định, thu nhập thấp, nhiều người dân còn bị ảnh hưởng của việc giải phóng mặt bằng…dẫn đến sự hài lòng chưa cao.

2.2.3.3. Phát triển du lịch từ gốc độ sinh thái, môi trường Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Tình hình bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch: Trong những năm qua, Đồng Hới đã tích cực quan tâm đến công tác đầu tư tôn tạo các tài nguyên du lịch và đề nghị công nhận các di tích, danh thắng; trong tổng số 39 điểm có tiềm năng du lịch tại Đồng Hới, hiện đã có 18 điểm đã được công nhận, xếp hạng di tích, danh thắng, chiếm 46,1%; gồm: 9 điểm đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận, 9 điểm được UBND tỉnh công nhận, cụ thể được thể hiện ở (Phụ lục 04).

Bên cạnh việc đề nghị công nhận, xếp hạng các di tích, danh thắng, tổng số tài nguyên du lịch đã được đầu tư tôn tạo, bảo vệ (bao gồm cả Nhà nước và các tổ chức, tư nhân đầu tư) là 18 tài nguyên trên tổng số 39 tài nguyên có tiềm năng du lịch, chiếm 46,1%, “Theo Tổ chức Du lịch thế giới – WTO, nếu tỷ số này vượt quá 50% thì hoạt động du lịch được xem là phát triển bền vững” [32, 37].

Mức độ khai thác tài nguyên du lịch: Mức độ khai thác các tài nguyên, có tiềm năng du lịch của Đồng Hới trong những năm qua còn quá thấp, nên sự tác động từ phía du khách đến tài nguyên làm xuống cấp hay suy thoái chưa ảnh hưởng; năm 2017tài nguyên tự nhiên và văn hoá vật thể có 13 tài nguyên được khai thác, đến năm 2024 đã có 19 tài nguyên trên tổng số 39 tài nguyên có tiềm năng du lịch chiếm 43,6%; tài nguyên văn hoá vật thể, 2017 có 1 loại hình được khai thác, thì đến năm 2024 đã có 2 loại hình trên tổng số 4 loại hình có tiềm năng chiếm 50%;

  1. Quản lý áp lực lên môi trường tại điểm du lịch

Áp lực lượng du khách lên môi trường tại các điểm du lịch là không lớn, chưa gây ra hiện tượng vượt quá “khả năng tải sinh thái” và “khả năng tải xã hội”; hầu hết các điểm du lịch vẫn đảm bảo xanh, sạch, đẹp; đa số vẫn giữ được vẻ tự nhiên; tuy lượng khách du lịch ngày càng tăng, song còn thấp hơn nhiều so với mức giới hạn về khả năng tiếp nhận của các điểm du lịch. Đơn vị tính: (%)

Biểu đồ:2.9.Tỷ lệ sử dụng giường BQ 1 ngày theo tháng – 2024

Đối với khả năng đảm bảo về vật chất kỹ thuật, cấp điện, cấp nước tại các điểm du lịch cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu của du khách; tuy nhiên, so với nhu cầu khách du lịch đang ngày càng gia tăng thì cơ sở hạ tầng du lịch của Đồng Hới sẽ không đủ cung ứng trong những năm tới nếu không được đầu tư phát triển, tỷ lệ khách du lịch đến Đồng Hới tập trung vào mùa hè tức là từ tháng 4 cho đến tháng 8 trong năm, cụ thể qua số liệu từ Biểu đồ 2.9 cho thấy, cường độ sử dụng giường tại các cơ sở lưu trú trong mùa du lịch là khá cao, các tháng cao điểm như tháng 5 đạt 80,2%, tháng 6 đạt  89,1%, tháng 7 đạt 88,4%, từ tháng 8 đến tháng 12 bắt đầu giảm dần đến tháng 4 năm sau lại tăng lên; hiện nay vào các tháng cao điểm, các cơ sở lưu trú dọc ven biển đã xẩy ra hiện tượng cháy phòng. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Đối với mạng lưới điện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa có tuyến hạ thế đi ngầm; do vậy, những năm có bão thường bị thiệt hại, gây đình trệ cho hoạt động kinh doanh; việc xây dựng các tuyến đường điện chưa theo kịp với sự phát triển các khu đô thị, khu du lịch, đặc biệt là khu vực Bảo Ninh;hệ thống đường ống cấp nước cho khu du lịch Bảo Ninh đầu tư chậm nên đã ảnh hưởng đến phát triển du lịch.

d) Thực trạng về môi trường và xử lý chất thải

Trong những năm qua Đồng Hới đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc xử lý vệ sinh môi trường; hiện nay đang thực hiện các đề án “Xã hội hóa về môi trường” mở rộng thu gom, xử lý rác thải” tại các xã vùng ven thành phố, các điểm du lịch. Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải năm 2024 toàn thành phố đạt 92%, và có trên 85% cơ sở sản xuất có hệ thống thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường;tăng cường công tác quản lý đánh giá tác động môi trường đối với các dự án, cơ sở sản xuất kinh doanh; thường xuyên đẩy mạnh công tác kiểm tra, quan trắc, xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ôi nhiệm môi trường nước biển; kết quả quan trắc nước biển tại các bãi tắm Nhật lệ và Bảo Ninh ngày 09/5/2023 như sau:

Bảng: 2.18. Kết quả quan tắc chất lượng nước biển tại Đồng Hới

Như vậy với kết quả quan trắc ở bảng 2.18 cho thấy, hầu hết các thành phần hóa học trong nước biển, tại các bải tắm trên địa bàn Đồng Hới đều đạt Quy chuẩn Việt Nam ban hành vào năm 2022, đảm bảo cho du khách tắm biển. Ý kiến của 100 người dân về môi trường tại các điểm du lịch trên địa bàn thành phố vào tháng 8/2024 cho thấy, tỷ lệ đánh giá môi trường tại các điểm du lịch (hoàn toàn không bị ôi nhiệm là 61%), (môi trường bình thường là 32%), (ôi nhiểm nhẹ là 7%);

Như vậy có thể đánh giá được rằng môi trường tại các điểm du lịch trên địa bàn luôn đảm bảo cho sự phát triển của du lịch; tuy nhiên thành phố còn phải đầu tư mạnh cho hệ thống thu gom nước thải, rác thải trong khu dân cư nhằm đảm bảo môi trường chung trên toàn thành phố.

2.2.3.4. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về phát triển du lịch

Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch:Xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Quảng Bình và của thành phố Đồng Hới, vì vậy trong những năm qua tỉnh Quảng Bình đã tiến hành xây dựng chương trình, lập đề án phát triển du lịch trên địa bàn nhằm khai thác và kéo gọi đầu tư; thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình phát triển Du lịch cấp tỉnh, để chỉ đạo việc phát triển du lịch trong toàn tỉnh. Có thể nói, công tác tổ chức quản lý hoạt động du lịch từng bước được kiện toàn; các cấp chính quyền cơ bản đã nhận thức đúng vai trò, vị trí, tiềm năng, thế mạnh của du lịch; ban hành nhiều chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư, tạo hành lang pháp lý và môi trường kinh doanh cho các cơ sở du lịch phát triển;

Tuy nhiên việc quy hoạch vẫn còn nhiều hạn chế, chưa bài bản nên phát triển du lịch còn mang tính tự phát không theo quy hoạch, chưa đáp ứng yêu cầu cho nhà đầu tư, đa số các doanh nghiệp tự chọn địa điểm đầu tư và yêu cầu chính quyền chấp thuận; việc ban hành các chính sách khuôn khổ pháp lý nhằm kêu gọi đầu tư phát triển ngành du lịch còn nhiều bất cập, chống chéo; vì vậy thời gian qua  công tác thu hút đầu tư bên ngoài rất hạn chế thể hiện qua số liệu khảo sát sau:

– Qua khảo sát 100 doanh nghiệp kinh doanh du lịch về việc đánh gía chính sách đầu tư xây dựng cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình với 4 mức thông thoáng, bình thường, hạn chế, kém thông thoáng, kết quả cho thấy có 36%doanh nghiệp trả lời thông thoáng, 56% doanh nghiệp trả lời bình thường, có 8% trả lời hạn chế, 0% trả lời kém thông thoáng.

Về ý kiến của doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong việc đầu tư, có tuân thủ theo quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh không, thì có 44% chủ doanh nghiệp trả lời có theo quy hoạch nhưng có đến 56% trả lời không theo quy hoạch của chính quyền, mà tự chọn địa điểm sau đó xin chính quyền điều chỉnh quy hoạch mới lập dư án đầu tư. Việc công khai quy hoạch chưa được rộng rãi trong quần chúng nhân dân và doanh nghiệp,nên không những ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư mà còn ảnh hưởng đến quá trình triển khai giải phóng mặt bằng bị người dân phản đối. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Về việc công khai quy hoạch phát triển du lịch của chính quyền tỉnh và thành phố như sau: Có 27% người dân cho rằng có công khai lấy ý kiến, có 40% người dân cho rằng không công khai lấy ý kiến và 33% người dân hoàn toàn không biết gì về vấn đề quy hoạch. Như vậy với kết quả trên có thể đánh giá rằng chính quyền tỉnh và thành phố chưa thực hiện đúng quy chế dân chủ dân, biết dân ban, dân kiểm tra; vì vậy bản quy hoạch không sát với thực tế, cụ thể dự án khu thể thao nghĩ dưỡng của Tập đoàn FLC khi thi công đã bị người dân phản đối buộc phải tạm dừng, đây là bài học để chính quyền thành phố và tỉnh rút kinh nghiệm trong việc công khai quy hoạch cho dân biết.

Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch:Việc xúc tiến, quảng bá du lịch trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực và dần được đẩy mạnh dưới nhiều hình thức, gắn kết giữa Nhà nước và doanh nghiệp cùng tuyên truyền quảng bá, thiết lập quan hệ hợp tác với các tỉnh của Lào, Thái Lan, các nước trong khối ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản; hợp tác quảng bá, với các tỉnh bạn theo “Con đường di sản miền Trung”…Theo khảo sát 200 khách du lịch nội địa,về thông tin tìm hiểu điểm du lịch tại Đồng Hới cho thấy kết quả như sau:Tìm hiểu qua quảng cáo ti vi chiếm 14,5%, tìm hiểu qua Internet chiếm 54%, tìm hiểu qua Công ty lữ hành chiếm 10%, tìm hiểu qua người quen chiếm 9%, qua đài và báo chiếm 12,5%.

Ý kiến của 15 nhà quản lý trong lĩnh vực du lịch về công tác tiếp thị với 4 mức tốt, khá, trung bình, yếu; cho thấy có 26,7% đánh giá là tốt, 53,3% đánh giá là khá và 20% đánh giá là trung bình, yếu 0%.

Như vậy có thể khẳng định rằng công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch của Đồng Hới trên hệ thống truyền hình cũng như thông tin từ các doanh nghiệp lữ hành là rất hạn chế; do nguồn kinh phí hạn hẹp của tỉnh cũng như của doanh nghiệp nên thông tin đến với người dân trong cả nước về du lịch Quảng Bình chưa rộng rãi.

2.2.4. Đánh giá tính bền vững của phát triển du lịch tại Đồng Hới Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

2.2.4.1. Đánh giá về đáp ứng nhu cầu của du khách

a) Tỷ lệ số khách quay lại trên tổng số khách: Theo điều tra khảo sát về ý kiến du khách có ý định quay trở lại Đồng Hới đối với 200 du khách, thì tỷ lệ quay lại chỉ chiếm 33%, không quay trở lại chiếm 67%; thể hiện ở Biểu đồ 2.10;trong số 67% du khách không có ý định qua trở lại, những lý do khiến họ không quay lại là: Bị chặt chém chiếm 5%, thái độ phục vụ kém chiếm 14%, sản phẩm du lịch ít biến đổi chiếm 81%; tỷ lệ du khách đến Đồng Hới lần thứ nhất chiếm 61%, đến lần 2 chiếm 25%, lần 3 trở lên chiếm 14%; nguyên nhân là do sản phẩm du lịch của Đồng Hới quá đơn điệu, không hấp dẫn du khách, khách đến Đồng Hới chủ yếu là tham quan các hang động, tắm biển thưởng thức những món ăn đặc sản biển.

Biểu đồ: 2.10 Về ý kiến của du khách quay lại và lý do không quay lại Đồng Hới

Số ngày lưu trú bình quân: Theo số liệu ở bảng 2.16 cho thấy số ngày lưu trú bình quân của khách nội địa chỉ dao động từ 1,5 đến 1,85 ngày /khách, thấp hơn số ngày lưu trú bình quân của khách quốc tế (0,42 ngày); Ngoài ra tác giả đã tiến hành khảo sát điều tra các cơ sở lưu trú của khách du lịch bao gồm 20 khách sạn từ 0 đến 5 sao, với 200 khách du lịch kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ ngày lưu trú bình quân của khách du lịch nội địa như sau:Số khách lưu trú 1 ngày chiếm 50%, 2 ngày chiếm 37%, 3 ngày trở lên chiếm 13%; như vậy khách du lịch đến Đồng Hới bình quân chưa đến 2 ngày/khách với số ngày lưu trú như trên so với các địa phương khác là quá thấp cụ thể tỷ lệ từ 2 ngày trở lên của Đà Nẵng chiếm 69,5%, Nha Trang 66,4% trong khi đó Đồng Hới chỉ 50%.

  • Tỷ lệ các rủi ro về sức khỏe do du lịch/tổng số khách

Trong những năm qua du khách đến du lịch tại Đồng Hới tỷ lệ rủi ro về sức khỏe như ốm đau, tai nạn giao thông, tại nạn do bất cẩn chiếm tỷ lệ rất ít. Kết quả khảo sát cho thấy; trong tổng số 200 du khách nội địa thì chỉ có 3 khách bị ốm bệnh, đối tượng chủ yếu là trẻ em, chiếm 1,5%, có 2 khách bị tại nạn chiếm 1%, tai nạn giao thông không có.

Như vậy qua 3 chỉ tiêu đánh giá về đáp ứng nhu cầu của khách du lịch tính bền vững chưa cao thể hiện ở tỷ lệ (%) khách du lịch quay trở lại qúa thấp, nguyên nhân chủ yếu là do sản phẩm du lịch còn hạn chế nghèo nàn, đơn điệu, ít được đổi mới; số ngày lưu trú bình quân của khách chỉ ở mức 1,85 ngày; tỷ lệ rủi ro về sự khỏe, tai nạn tuy ít xãy ra, nhưng vẫn còn nhiều tiềm ẩm về tại nạn; đánh giá chung về bộ tiêu chí đáp ứng chu cầu của du khách tại Đồng Hới là chưa bền vững.

2.2.4.2. Đánh giá tính bền vững của du lịch lên phân hệ kinh tế

  • Tỷ lệ (VA) của ngành du lịch/GRDP của địa phương: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Theo kết quả phân tích thực trạng phát triển của ngành du lịch trên góc độ kinh tế cho thấy, tốc độ phát triển bình quân hàng năm về giá rị tăng thêm (VA) của ngành du lịch là 5,92%, tỷ trọng VA chiếm trong tổng sản phẩm GRDP của thành phố ngày càng tăng cụ thể năm 2017 là 13,2% đến năm 2022 tăng lên 14% đến năm 2024 do sự cố ôi nhiểm môi trường biển trong năm 2023 nên tỷ lệ đóng góp của ngành du lịch giảm xuống là 12,3%; như vậy với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 5,92% đánh giá là bền vững.

  • Tỷ lệ đóng góp vào ngân sách của địa phương

Tỷ lệ đóng góp vào ngân sách của ngành du lịch Đồng Hới năm sau luôn cao hơn năm trước,tốc độ tăng trưởng thu ngân sách bình quân mỗi năm thời kỳ 7 năm 2017 – 2024 là 4,56%; tỷ lệ đóng góp chiếm trong tổng thu ngân sách năm 2017  là 11,47%, năm 2022 là 11,77%, năm 2024 là 10,47%; Như vậy với mức đóng góp của ngành du lịch cho ngân sách thành phố còn rất kiêm tốn so với năng lực thực tế; một mặt là do công tác quản lý thuế còn lỏng lẻo, mặt khác thói quen của người dân không quen lấy hóa đơn, hoặc khi lấy hóa đơn bị chủ nhà hàng, quán ăn còn tính thêm 10% giá trị gia tăng; vì vậy theo đánh giá chỉ tiêu này chưa bền vững.

  • Tỷ lệ giá trị hàng hóa mà khách du lịch tiêu dùng tại địa phường:

Theo số liệu điều tra chi tiêu một khách du lịch đến Đồng Hới Quảng Bình chi tiêu về việc mua sắm hàng hóa là 106,3 ngàn đồng; như vậy năm 2024 lượng khách mua hàng hóa tại Đồng Hới sẽ là 122,8 tỷ đồng, so với tổng mức bán lẽ hàng hóa tiêu dùng của Đồng Hới chiếm tỷ lệ 1,46% đây là con số quá nhỏ cho thấy tác động của du lịch lên phân hệ kinh tế là quá thấp, nên chỉ tiêu này chưa bền vững.

d)  Tỷ lệ vốn đầu tư từ du lịch cho các phúc lợi xã hội của địa phương:

Tỷ lệ vốn đầu tư từ ngành du lịch cho các công trình phúc lợi, xã hội của thành phố Đồng Hới còn quá khiêm tốnso với yêu cầu đề ra; kết quả khảo sát về việc đóng góp cho địa phương trong việc xây dựng các công trình phúc lợi, xã hội của 100 doanh nghiệp kinh doanh du lịch chiếm tỷ lệ quá ít, giá trị đầu tư chưa nhiều; cụ thể năm 2024 với chính sách xã hội hóa nhiều công trình phúc lợi xã hội như: Đề án xây dựng vĩa hè, quét rác, trang trí điện cây xanh, công viên, xây dựng các công trình công cộng khác trên địa bàn tỷ lệ đóng góp rất thấp có 41% doanh nghiệp tham gia đóng góp xây dựng các phúc lợi xã hội, còn 59% doanh nghiệp chưa có sự chung tay đóng góp. Như vậy với tỷ lệ khảo sát có thể đánh giá là tỷ lệ vốn đầu tư từ du lịch cho các phúc lợi xã hội trên địa bàn Đồng Hới là chưa bền vững. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

2.2.4.3. Đánh giá tính bền vững của du lịch lên phân hệ xã hội – nhân văn

  • a)Mức độ hài lòng của người dân địa phương đối với hoạt động du lịch:

Theo kết khảo sát của 100 người dân trong đó: 50 người đang làm việc trong các cơ sở du lịch và 50 người sống gần các điểm du lịch cho thấy kết quả như sau: Có 20% người trả lời là rất hải lòng, 40% trả lời hải lòng và có 22% trả lời tạm được, có 18% người trả lời không hải lòng; qua bốn mức độ đánh giá tỷ lệ rất hài lòng và hải lòng chiếm 60%, không hải lòng 18% đây là tỷ lệ trung bình. Như vậy với mức độ như trên chứng tỏ rằng, các hoạt động du lịch trên địa bàn mặc dù có đem lại lợi ích cho người dân về thu nhập, cũng như việc làm nhưng không đáng kể, lao động còn mang tính thời vụ, thu nhập còn thấp vì vậy tính bền vững chưa cao.

  • b) Tỷ lệ (%) việc làm trong ngành du lịch so với tổng số lao động có việc làm

Bảng 2.19 cho thấy,lao động ngành du lịch so với tổng số lao động có việc làm năm 2017 chiếm tỷ lệ 14,5%, năm 2024 là 15,2%; như vậy ngành du lịch đã đem lại lợi ích về việc làm cho người dân, tốc độ tăng việc làm hàng năm là 3,5%, tương đương giải quyết việc làm cho 310 lao động.

Bảng 2.19:Tỷ lệ việc làm của ngành du lịch trong tổng số lao động

Về dịch bệnh liên quan tới du lịch: Do lượng khách đến Đồng Hới còn ít, thời gian lưu trú ngắn ngày nên các dịch bệnh liên quan tới du lịch trong thời gian qua hầu như chưa xảy ra trên địa bàn Đồng Hới; mặt khác do sự quản lý nắm bắt thông tin chặt chẽ của ngành y tế nên đã có sự kiểm soát ngay tại sân bay, nhà ga đã không để xẩy ra tình trạng lây lan dịch bệnh trên địa bàn.

Về tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch:Theo số liệu của cơ quan Công an Đồng Hới các đối tượng nghiện ma túy và liên quan có hồ sơ quan lý ngày càng gia tăng năm 2019 là 680 đối tượng, năm 2022 là 760 đối tượng và năm 2023 là 780 đối tượng; các tệ nạn khác như mại dâm, cờ bạc, cá độ vẫn còn diễn biến phức tạp, việc sử dụng chất kích thích (thuốc lắc) tại các phòng hát karaoke, sàn nhảy giải trí phục vụ cho khách du lịch vẫn diễn ra, chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu.

đ) Hiện trạng các di tích lịch sử văn hóa địa phương được khai thác: Việc đầu tư tôn tạo các tài nguyên để đưa vào khai thác, phục vụ du lịch vẫn còn hạn chế chưa thu hút được khách tham quan; các tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hoá vật thể có 19 tài nguyên trên tổng số 39 tài nguyên có tiềm năng du lịch đưa vào khai thác chiếm 48,7%; như vậy tỷ lệ khai thác tài nguyên còn rất thấp, trong khi đó tỷ lệ tài nguyên chưa được tôn tạo còn chiếm đến 51%, chỉ tiêu này chưa bền vững.

Tỷ lệ (%) mất giá đồng tiền do cơ sở tăng giá vào mùa cao điểm: Đây là một trong những thực trạng chung đối với các cơ sở du lịch trong cả nước cũng như trên địa bàn Đồng Hới; qua khảo sát 100 doanh nghiệp hoạt động du lịch cho thấy tỷ lệ các cơ sở tăng giá dưới 10% chiếm 39%, cơ sở tăng giá trên 10% chiếm 31%, không tăng giá chiếm 30%; các cơ sở tăng giá chủ yếu là cơ sở lưu trú tăng trên 10%, các điểm du lịch giá cả ổn định theo quy định của Nhà nước .

Độ thương mại hóa các sinh hoạt văn hóa truyền thống: Các hoạt động văn hóa truyền thống trên địa bàn Đồng Hới chủ yếu được tổ chức theo đợt, không tổ chức thường xuyên…chủ yếu là giới thiệu đến du khách nét văn hóa phong tục tập quán của người dân Đồng Hới và nhận được sự quan tâm của các du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài; các hoạt động văn hóa chỉ nhằm mục đích giới thiệu không có thương mại hóa. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

2.2.4.4. Đánh giá tác động của du lịch lên phân hệ sinh thái tự nhiên

(%) chất thải được thu gom và xử lý: Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải năm 2024 toàn thành phố đạt 92% và trên 85% cơ sở sản xuất kinh doanh có hệ thống thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; lượng chất thải chưa được xử lý hiện nay trên địa bàn kể cả địa bàn nông thôn là 8% và 15% cơ sở sản xuất chưa có hệ thống xử lý môi trường cũng là một tác nhân lớn gây ô nhiễm môi trường và có tác động xấu tới ngành du lịch.Ý kiến của doanh nghiệp du lịch về vấn đề xử lý nước thải và chất thải thì 100% đều đấu nối với hệ thống nước thải của thành phố và đều có hợp đồng thu gom rác thải được chở về bải rác để xử lý.

  • Lượng nước tiêu thụ bình quân của mỗi du khách:

Theo số liệu điều tra chi phí du lịch hàng năm của ngành Thống kê, vào mùa cao điểm,bình quân mỗi du khách tiêu thụ từ 120 đến 150 lít nước mỗi ngày, tương đương với hơn 1triệu lít nước/ngày chiếm 4,1% lượng nước cung cấp/ngày cho toàn thành phố; tuy nhiên do lượng khách du lịch ngày càng tăng, nên lượng nước của mỗi cơ sở sử dụng trong một ngày cũng sẽ tăng lên; để đảm bảo tính bền vững lâu dài về nguồn nước ngọt phục vụ cho đời sống sinh hoạt cũng như kinh doanh dịch vụ du lịch, Đồng Hới cần phải tính đến nguồn cấp nước cho những năm về sau.

Lượng điện tiêu thụ của mỗi du khách:Chi phí năng lượng của các cơ sở du lịch trên địa bàn Đồng Hới ngày càng tăng; do chất lượng dịch vụ được nâng cao, các phương tiện phục vụ du khách tại các cơ sở lưu trú được đáp ứng tốt hơn, do vậy mà lượng điện tiêu thụ bình quân mỗi du khách có chiều hướng tăng lên. Năm 2017, mỗi du khách sử dụng 10,2kWh/ngày, đến năm 2022 là 12,2kWh/ngày, năm 2024 tăng lên 12,7kWh/ngày; sự tăng lên về mức sử dụng điện năng của du khách, đang tạo áp lực lớn trong việc cắt giảm chi phí của các cơ sở kinh doanh du lịch,đòi hỏi phải thay đổi công nghệ, sử dụng các thiết bị tiết kiệm điện để đảm bảo tính bền vững.

(%) Diện tích cảnh quan, công trình bị xuống cấp: Trên địa bàn Đồng Hới không có diện tích cảnh quan bị xuống cấp, các bãi tắm đều giữ được vẽ tự nhiên vốn có; Đồng Hới luôn quan tâm đến việc đầu tư trồng và xây dựng các khu cây xanh, công viên, rừng phòng hộ, rừng chắn cát, nên đã tạo thêm nét đẹp tự nhiên cho các khu du lịch. Tỷ lệ đất cây xanh công cộng năm 2024 đạt 12m2 /người, tăng 3m2 /người so với năm 2017.

đ) Mức độ tiêu thụ các sản phẩm động, thực vật quý hiếm: Theo số liệu điều tra cơ sở kinh tế năm 2024 số cơ sở kinh doanh mặt hàng ăn uống đặc sản rừng, biển chiếm tỷ lệ 10,4%,tương đương 193 cơ sở;các cơ sở này chuyên bán thực phẩm như: Hoẵng, lợn rừng, nhím, chồn, rùa, baba…mặc dù Đồng Hới đã có chủ trương khuyến khích chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, giảm thiểu săn bắn, mua bán động vật tự nhiên nhưng vẫn không đáp ứng đủ cho thị trường; riêng chỉ tiêu này theo đánh giá là chưa bền vững. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

g) (%) Khả năng vận tải sạch/khả năng cơ giới(tính theo trọng tải): Trong những năm qua, chính quyền Đồng Hới rất quan tâm đến vận tải sạch, nhằm giảm thiểu khí thải ra môi trường, thành phố đã có chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư các loại xe ô tô điện, xích lô để vận chuyển khách du lịch trong nội thành; tuy vậy tỷ lệ vận tải sạch/khả năng cơ giới vẫn còn hạn chế;cụ thể năm 2017 có 4/36 chiếc/ghế ô tô điện, chiếm tỷ lệ 0,83% năng lực vận tải, năm 2022 có 13/117 chiếc/ghế, chiếm 1,87%, đến cuối năm 2024 có 40/360 chiếc/ghế chiếm 4,51%; đối với xe xích lô do du khách không có nhu cầu dạo phố ngắm cảnh, như vậy với tỷ lệ vận tải sách như hiện nay thì chưa đảm bảo được tính bền vững.

Bảng 2.20: Bảng đánh giá các chỉ tiêu phát triển du lịch bền vững ở Đồng Hới

2.3. Đánh giá những kết quả, hạn chế của du lịch Đồng Hới thời gian qua

2.3.1. Kết quả đạt được

2.3.1.1 Về mặt kinh tế

Quy mô mô của ngành du lịch Đồng Hới trong những năm qua có tốc độ tăng trưởng khá; lượng khách du lịch đến Đồng Hới ngày càng nhiều, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch được ưu tiên đầu tư; các hình thức hoạt động du lịch ngày càng đa dạng hơn; đóng góp của ngành du lịch vào ngân sách nhà nước ngày càng gia tăng, mức vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch luôn tăng qua hàng năm.

2.3.1.2 Về mặt xã hội

Chất lượng đời sống của người lao động trong ngành du lịch và cộng đồng địa phương từng bước được nâng lên; góp phần đảm bảo an sinh và thực hiện công bằng xã hội.Trình độ và thu nhập của lao động từ hoạt động du lịch tăng lên; mở mang các ngành nghề mới, giải quyết việc làm, giảm nghèo và giảm thiểu thất nghiệp.Bản sắc văn hoá, lịch sử, con người Đồng Hới được giữ gìn và phát huy; nhiều hoạt động văn hoá truyền thống được khôi phục và phát triển.

2.3.1.3 Về môi trường

Công tác bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch được quan tâm đầu tư; việc khai thác các tài nguyên tự nhiên luôn được đảm bảo không để xuống cấp;hiện tại đã kiểm soát được “áp lực” về lượng khách du lịch lên môi trường tại các điểm du lịch; các nhu cầu của du khách được đáp ứng tương đối đầy đủ; công tác xử lý chất thải, ô nhiễm môi trường luôn được quan tâm.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

2.3.2.1. Về mặt kinh tế

Hạn chế: Phát triển du lịch tại Đồng Hới mang tính tự phát, chưa được quy hoạch bài bản, chi tiết, nên việc thu hút đầu tư còn hạn chế; quy mô phát triển du lịch còn nhỏ, chưa khai thác hết lợi thế, tiềm năng sẵn có về tài nguyên du lịch; chưa kêu gọi được các nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp trong lĩnh vực du lịch đến đầu tư, nhằm tạo động lực thúc đẩy cho các dịch vụ khác cùng phát triển, đặc biệt là các lĩnh vực như vui chơi giải trí, mua sắm…

Các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, nghèo nàn,chưa có sản phẩm đặc trưng riêng của Đồng Hới, loại hình du lịch còn chậm phát triển,hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong ngành du lịch thấp; hoạt động du lịch còn mang tính thời vụ cao.

Môi trường đầu tư còn hạn chế, công tác cải cách hành chính, thủ tục đầu tư còn rườm rà; công tác tuyên truyền và quảng bá du lịch trên các phương tiện truyền hình còn ít.

Cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, các lĩnh vực đầu tư cho du lịch sinh thái, cảnh quan, khu vui chơi giải trí chưa được quan tâm; việc đầu tư tôn tạo di tích văn hóa, lịch sữ còn hạn chế, quy mô đầu tư còn nhỏ; công tác liên kết tua các điểm du lịch trong và ngoài tỉnh còn yếu.

Hiệu quả khai thác khách du lịch thấp, thời gian lưu trú của du khách ngắn, mức chi tiêu của du khách tại Đồng Hới còn thấp so với mức chung cả nước; mức độ hài lòng và khả năng quay trở lại của du khách chưa cao.

Nguyên nhân của hạn chế

Do tình độ quản lý còn hạn chế nên việc quy hoạch phát triển ngành chậm được triển khai, tuy được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, song cho đến nay định hướng phát triển ngành du lịch Đồng Hới còn chung chung gắn với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội nên thiếu tính cụ thể. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Công tác quản lý du lịch còn nhiều bất cập, năng lực cán bộ quản lý du lịch còn nhiều hạn chế, năng lực định hướng phát triển, hiệu quả của nhiều chính sách không cao, thiếu chiều sâu. Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch còn thiếu tính chuyên nghiệp, chưa có chiến lược tiếp thị bài bản; du lịch lữ hành còn yếu cả về chuyên môn nghiệp vụ lẫn năng lực tài chính….

Các cơ sở kinh doanh du lịch đa số có quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu; cơ sở lữ hành còn yếu cả về vật chất và trình độ tổ chức; các cơ sở dịch vụ du lịch, vui chơi, giải trí, mua sắm chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách.

Hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch còn thiếu đồng bộ, một số dự án đầu tư phát triển du lịch triển khai chậm, thời gian kéo dài, chất lượng không đảm bảo; hiện mới có 3 khu nghỉ mát cao cấp đã đưa vào hoạt động.

Nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cho hạ tầng kỷ thuật du lịch còn hạn chế, phân tán, dàn trải nên hiệu quả mang lại thấp; khả năng huy động vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế kém hiệu quả, đặc biệt chưa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài.

Sản phẩm du lịch, loại hình du lịch chưa tạo được nét riêng, độc đáo của Đồng Hới; thiếu các loại hình du lịch đặc trưng có tính cạnh tranh cao; thiếu các sản phẩm du lịch bổ sung như dịch vụ tham quan, vui chơi, giải trí, mua sắm…

Các tuyến du lịch lữ hành chậm phát triển, thể hiện cả khả năng tự tổ chức các tuyến du lịch nội tỉnh cũng như khả năng liên kết du lịch trong khu vực;

Các chính sách chưa đủ sức hấp dẫn để khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển du lịch, nhất là những dự án có chất lượng cao, quy mô lớn; thủ tục hành chính về đầu tư còn rườm rà, giải phóng mặt bằng còn khó khăn.

2.3.2.2. Về mặt xã hội

Hạn chế:Trình độ của lao động ngành du lịch tính chuyên nghiệp còn thấp, thái độ phục vụ kém; việc làm còn mang tính thời vụ cao, thiếu ổn định; đời sống của cộng đồng dân cư chậm được cải thiện, văn minh, văn hoá du lịch của người dân địa phương và lao động du lịch nói riêng chậm đổi mới; tình hình an ninh trật tự và các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng và tiềm ẩn phức tạp.

Nguyên nhân của hạn chế

Do chính quyền chưa quan tâm đến công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch nên tỷ lệ lao động trái ngành còn lớn; các ngành nghề sản xuất các mặt hàng lưu niệm và các dịch vụ phục vụ du lịch để tạo thêm việc làm, thu hút lao động nhàn rỗi ở địa phương chậm phát triển.

Mức độ đóng góp của du lịch cho phúc lợi xã hội còn ít, cơ sở vật chất cho phúc lợi xã hội tại các điểm du lịch vẫn còn lạc hậu. Người dân tại điểm du lịch còn chịu nhiều thiệt thòi trong việc, giải phóng mặt bằng và hưởng lợi từ các dự án.

Việc mở rộng giao lưu và tiếp thu, những tinh hoa văn hoá, văn minh từ bên ngoài của người dân Đồng Hới còn chậm, nguyên nhân xuất phát từ trình độ dân trí còn thấp, bản tính bảo thủ, lối sống khép kín gia đình, mộc mạc, chất phác đã thấm sâu vào con người Đồng Hới… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Các tác động tiêu cực đến xã hội, như mại dâm, ma túy, trộm cắp, tai nạn, bệnh xã hội… và các tệ nạn xã hội khác khó kiểm soát; vai trò của cộng đồng dân cư chưa được đề cao trong việc tham gia xây dựng, giám sát, thực hiện chính sách, quy hoạch phát triển du lịch; sự tham gia của người dân vào kinh doanh du lịch còn mang tính tự phát, xuất phát từ lợi ích trước mắt.

2.3.2.3. Về môi trường

Hạn chế:Số lượng các tài nguyên du lịch được tôn tạo để đưa vào khai thác, phát triển du lịch còn hạn chế, hiệu quả khai thác chưa cao; việc xử lý chất thải và ô nhiễm môi trường một số điểm vẫn thực hiện chưa tốt.

Nguyên nhân của hạn chế

Do nguồn ngân sách nhà nước hạn hẹp nên việc bảo tồn tôn tạo các tài nguyên, cảnh quan du lịch còn hạn chế, việc khai thác một số tài nguyên đang bị ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học; chưa ngăn chặn có hiệu quả việc săn bắt và tiêu dùng động vật hoang dã. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới.

Mức độ đầu tư một số cơ sở vật chất kỹ thuật về cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý rác thải, nước thải và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế, công tác quản lý nhà nước và ý thức của doanh nghiệp và người dân đối với môi trường chưa cao, còn chạy theo lợi nhuận chưa có trách nhiệm với môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới

One thought on “Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới

  1. Pingback: Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464