Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tình hình đói nghèo tại tỉnh Hà Giang

2.1.1. Khái quát chung về tỉnh Hà Giang

  • Điều kiện tự nhiên

Hà Giang là tỉnh vùng cao, biên giới nằm ở cực Bắc của Việt Nam: giáp Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang và Trung Quốc. Nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800m đến 1.200m so với mực nước biển.

Nằm trong vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn của Việt Nam, tỉnh Hà Giang thường đón những đợt không khí lạnh thổi từ đồng bằng và vùng Đông Bắc tới nên hầu như quanh năm tỉnh Hà Giang duy trì tình trạng thời tiết ẩm ướt, đặc biệt vùng núi cao thường gặp nhiều kiểu thời tiết sương muối, mưa đá. Địa hình chủ yếu là núi cao dẫn đến thiếu đất sản xuất – không có điều kiện phát triển sinh kế, ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ gia đình và rộng hơn là ảnh hưởng tới kết quả giảm nghèo của các địa phương.

Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng. Ở đây có mật độ sông – suối tương đối dày. Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều, độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông đường thuỷ. Một số sông lớn như: Sông Lô, Sông Chảy, Sông Gâm… Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.

Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, toàn tỉnh có 9 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, rất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp, cây dược liệu và cây ăn quả.

Diện tích rừng tương đối lớn, không những giữ vai trò bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn cung cấp những nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, y tế và sẽ là những điểm du lịch sinh thái lý tưởng của tỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tỉnh sống chủ yếu bằng nguồn lợi từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, tuy nhiên, phương thức sản xuất của đồng bào còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào thiên nhiên nên mức độ rủi ro rất cao, do đó, đói nghèo do thiên tai vẫn còn diễn ra.

  • Đặc điểm về kinh tế – xã hội

Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2019 ước đạt 6% (đạt mức tăng trưởng trung bình so với 14 tỉnh khu vực Trung du miền núi phía Bắc), thấp hơn so với mục tiêu Nghị quyết đề ra (8%) và thấp hơn so với mức tăng trưởng 6,64% của năm 2018. Tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2019 theo giá hiện hành đạt 24.096,5 tỷ đồng. Tổng sản phẩm bình quân đầu người ước đạt 28,1 triệu đồng/người/năm, tăng 1,9 triệu đồng/người/năm so với năm 2018.

  • Về dân số, lao động và việc làm:

Theo kết quả điều tra của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương từ ngày 01-25/4/2019, dân số tại tỉnh Hà Giang có 854.679 người và 190.777 hộ. Dân số khu vực thành thị là 135.465 người (15,8%), nông thôn là 719.214 người (84,15%). Tỉ lệ hộ có nhà ở thiếu kiên cố và đơn sơ là 42,3%, tỉ lệ hộ không có nhà ở là 0,2%.

Hà Giang gồm 22 dân tộc sinh sống, chủ yếu là các Dân tộc thiểu số như: Mông, Nùng, Tày, La Chí, Pà Thẻn, Lô Lô, Sán Dìu…, mật độ dân số trung bình 105 người/km2; cơ cấu dân số theo khu vực thành thị chiếm 15,02%, nông thôn vùng núi 84,98%.

Trong tổng số lực lượng lao động của tỉnh: Lao động ngành nông – lâm nghiệp – thủy sản 415.888 người, chiếm 76,10%; lao động ngành công nghiệp – xây dựng cơ bản là 44.267 người, chiếm 8,10%; lao động ngành dịch vụ 86.347 người, chiếm 15,80%.

Lực lượng lao động chiếm trên 64% dân số của tỉnh; trong đó lao động độ tuổi từ 15 – 35 chiếm gần 30% dân số. Thực tế hiện nay, người dân ở Hà Giang vẫn chủ yếu là lao động nông nghiệp gắn bó với đồng ruộng, mức thu nhập thấp. Hoạt động nông nghiệp ở nhiều xã, với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chậm, làm nông nghiệp theo thời vụ dẫn đến nguy cơ lao động thất nghiệp vẫn hiện hữu. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Về giáo dục: Có thể nói trình độ dân trí ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nhận thức và làm việc của con người. Nếu trình độ thấp sẽ hạn chế tới việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, giảm năng suất lao động, ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Không những vậy còn làm hạn chế sự tiếp nhận và chấp hành các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Ở Hà Giang, tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc viết là 73,5% (Nam: 81,2%; Nữ: 65,7%); tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chưa bao giờ đi học là 23,6% (Nam: 16,6%; Nữ: 30,6%) [2].

Về y tế: Công tác truyền thông y tế được triển khai tích cực, đặc biệt là các vấn đề về dân số, sức khỏe sinh sản, an toàn thực phẩm… được tổ chức dưới nhiều hình thức. Tuy nhiên, ở một số khu vực tuyến xã, vùng xa xôi, hẻo lánh, số lượng bệnh xá còn ít, y – bác sĩ còn thiếu năng lực chuyên môn dẫn đến tình trạng không đáp ứng đầy đủ được nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân.

Về hệ thống điện, nước: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tỉnh Hà Giang đã và đang cố gắng đưa mạng lưới điện quốc gia đến với từng hộ dân vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao. Xây dựng các hồ chứa nước trên cao để người dân có nước sử dụng cho sinh hoạt.

Về an sinh xã hội: Tổ chức triển khai thực hiện Đề án vận động nguồn lực xã hội hỗ trợ trẻ em các xã đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2019-2025 trên địa bàn tỉnh và Kế hoạch thực hiện dự án hỗ trợ thực hiện các mục tiêu quốc gia về Bình đẳng giới.

Tỉ lệ hộ nghèo: Năm 2019 toàn tỉnh giảm được 7.251 hộ nghèo, giảm 4,44% (vượt kế hoạch đề ra); Số hộ nghèo còn 48.832 hộ (tỷ lệ 26,73%), hộ cận nghèo còn 26.094 hộ (tỷ lệ 14,29%).

2.1.2. Tình hình đói nghèo tại tỉnh Hà Giang

Theo thống kê của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Giang, tính đến cuối năm 2019, tổng số hộ của tỉnh là 182.652 hộ, trong đó, số hộ nghèo đầu năm là 56.083 hộ, số hộ nghèo cuối năm là 48.824 hộ, tỉ lệ hộ nghèo giảm 4,44% trong năm 2019.

Hiện tại, Hà Giang có 6 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a gồm Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Hoàng Su Phì và Xín Mần. Trong giai đoạn 2018-2020 có thêm huyện Bắc Mê được bổ sung vào danh sách huyện nghèo tại Hà Giang. Theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt thôn Đặc biệt khó khăn (đặc biệt khó khăn), xã Khu vực III, Khu vực II, Khu vực I thuộc vùng Dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020, tỉnh Hà Giang có 1408 thôn Đặc biệt khó khăn, trong đó có 16 xã Khu vực I, 45 xã Khu vực II và 134 xã Khu vực III. Người dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất lúa, sắn, ngô.

Số hộ nghèo giai đoạn 2016-2020 của tỉnh có giảm tuy nhiên nghèo đói vẫn ở mức cao so với cả nước. Thống kê số hộ nghèo qua các năm của các huyện trong tỉnh Hà Giang cho thấy rõ hơn về thực trạng này.

  • Bảng 2.1. Bảng tổng hợp tỉ lệ hộ nghèo các huyện trong tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2020 (%)

Qua thống kê có sự chênh lệch rõ rệt giữa các huyện với nhau trong giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ hộ nghèo ở mức cao rơi vào các huyện biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông các đồng bào dân tộc thiểu số; năm 2019, huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Đồng Văn (48,25%), Mèo Vạc (46,66%), Xín Mần (38%), Yên Minh (37,86%). Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao. Thực tế cho thấy những hộ nghèo rơi vào các xã biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp cũng như những điều kiện khác còn thiếu thốn. Số liệu về phân loại hộ nghèo theo từng đối tượng, căn cứ theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 có thể thấy rõ hơn vấn đề này.

  • Bảng 2.2. Tỉ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trong tỉnh giai đoạn 2016-2020

Theo thống kê tại bảng 2.1 và 2.2, tỉ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm tới trên 99% tổng số hộ nghèo, tập trung nhiều ở vùng Dân tộc thiểu số, vùng Đặc biệt khó khăn, xã biên giới của các huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Hoàng Su Phì và Xín Mần, Bắc Mê – là nơi có tốc độ giảm nghèo chậm, luôn đứng trước nguy cơ tái nghèo.

  • Hộ nghèo tập trung nhiều ở các huyện trên do một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, địa hình chủ yếu là núi cao, người dân sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp: trồng ngô, khoai, sắn, một số nơi phát triển ruộng bậc thang trồng lúa nước. Tuy nhiên, các huyện trên cũng là nơi phải chịu ảnh hưởng của thiên tai như sạt lở, sương muối.  làm cho nông sản kém phát triển, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế. Khu vực vùng sâu, vùng xa sống cách xa trung tâm, bị hạn chế trong việc tiếp cận với thị trường, với nguồn thông tin, một số bộ phận bị cô lập với xã hội, chỉ xoay quanh đàn bò và đồng ruộng, không có ý thức vươn lên thoát nghèo.

Thứ hai, người Dân tộc thiểu số Hà Giang vẫn giữ nhiều nét bản sắc truyền thống, nhiều nét văn hóa ở thời điểm hiện nay trở nên lạc hậu, trở thành các hủ tục như ma chay, cưới hỏi… vấn đề trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại dai dẳng nên các bà mẹ vẫn đẻ dày, đẻ nhiều, dẫn tới cuộc sống nghèo vẫn hoàn nghèo.

Tảo hôn và hôn nhân cận huyết là một trong những hủ tục phổ biến, diễn ra thường xuyên trong vùng đồng bào Dân tộc thiểu số làm cho chất lượng dân số suy giảm, suy thoái nòi giống, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực và là một trong những lực cản đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

2.2.1. Tổ chức bộ máy và phân công, phối hợp thực hiện

Uỷ ban nhân dân cấp xã: Là đầu mối thực hiện các kế hoạch, dự án, cụ thể hóa pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, đưa ra những đánh giá khách quan về những mặt đạt được, chưa đạt được của các văn bản, thông qua chỉ tiêu về hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Uỷ ban nhân dân cấp huyện: Huyện có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội của huyện căn cứ các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên để rà soát, đánh giá hộ nghèo, hộ cận nghèo; đánh giá thực trạng đói nghèo của địa phương như: Xây dựng Đề án hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; huy động nguồn lực, sự tham gia của các doanh nghiệp trên địa bàn để tổ chức thực hiện tốt pháp luật về xóa đói, giảm nghèo. Cơ quan đầu mối trực tiếp liên quan đến xóa đói, giảm nghèo ở huyện là Phòng LĐTB và XH.

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang chịu trách nhiệm thực hiện pháp luật xóa đói, giảm nghèo tại địa phương, hàng năm phối hợp cùng với sự trợ giúp, tham mưu của các Sở như Sở LĐTB và XH, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư và các sở ban ngành liên quan khác. Tổ chức thực hiện, xây dựng và phê duyệt Kế hoạch giảm nghèo hàng năm; Tổ chức giám sát, đánh giá kết quả thực hiện văn bản quy phạm pháp luật đối với xóa đói, giảm nghèo gửi Bộ LĐTB và XH tổng hợp báo cáo Chính phủ. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Có thể thấy rằng, Ủy ban nhân dân tỉnh đảm nhiệm khâu tổ chức điều hành và chịu trách nhiệm về sử dụng các nguồn lực trên địa bàn quản lý. Khâu thực hiện được giao cho Ủy ban nhân dân xã hoặc tạm thời cho Ủy ban nhân dân huyện trong trường hợp Ủy ban nhân dân xã có những hạn chế về năng lực. Các Ban xóa đói, giảm nghèo đều được thành lập ở tất cả các tỉnh, hầu hết các huyện và xã nghèo tham gia Chương trình Xóa đói, giảm nghèo, trong đó có thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo. Một số Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện có bộ phận chuyên trách về Xóa đói, giảm nghèo hoặc một nhóm chuyên viên giúp việc cho họ và cho ban Xóa đói, giảm nghèo trong công tác điều hành và điều phối hàng ngày. Ủy ban nhân dân xã cũng có một đầu mối phụ trách Xóa đói, giảm nghèo, các trưởng thôn chính là đầu mối Xóa đói, giảm nghèo cấp thôn bản. Chính quyền xã và đoàn thể quần chúng chịu trách nhiệm lập kế hoạch trình lên cấp trên và thực hiện công tác Xóa đói, giảm nghèo.

Ngoài ra, theo Thông tư số 21/2012/TT-LĐTBXH ngày 05/9/2012 về hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm, trách nhiệm của từng cấp địa phương trong quá trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo được thể hiện như sau:

Cấp xã: Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp xã trực tiếp chỉ đạo thực hiện điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn với nhiệm vụ cụ thể:

  • Phổ biến, tuyên truyền mục đích, yêu cầu của việc điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo;
  • Tổ chức lực lượng điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo và tổ chức bình xét dân chủ, công khai tại cộng đồng dân cư (thôn/bản, tổ dân cư);
  • Đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn; trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã công nhận hộ nghèo, cận nghèo mới;
  • Cập nhật thông tin về hộ nghèo, hộ cận nghèo làm cơ sở thực hiện các chính sách an sinh xã hội và đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo hàng năm.

Cấp huyện (Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội):

  • Xây dựng và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện kế hoạch điều tra, rà soát, xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn;
  • Tổ chức tập huấn cho những người trực tiếp tham gia điều tra, rà soát (tổ chức tập trung theo đơn vị hành chính với huyện có ít xã, hoặc theo cụm xã nếu huyện có nhiều xã);
  • Phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo việc tổ chức điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn;
  • Tổ chức thẩm định kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo của các xã gửi lên; trường hợp thấy kết quả rà soát chưa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, tổ chức phúc tra lại trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;
  • Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt danh sách hộ thoát nghèo, cận nghèo; hộ nghèo, cận nghèo mới trên địa bàn huyện; thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã để công nhận và báo cáo Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp tỉnh;
  • Cập nhật thông tin về hộ nghèo, hộ cận nghèo vào phần mềm quản lý làm cơ sở thực hiện các chính sách an sinh xã hội và đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo hàng năm.

Cấp tỉnh (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội): Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

  • Xây dựng và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kế hoạch tổ chức điều tra, rà soát; thống nhất mẫu biểu thực hiện trên địa bàn;
  • Tổ chức tập huấn nghiệp vụ điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo cho cấp huyện;
  • Phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo việc tổ chức điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn;
  • Kiểm tra, phúc tra kết quả điều tra, rà soát;
  • Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm trên địa bàn; báo cáo Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội để tổng hợp, công nhận;
  • Cập nhật kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo vào phần mềm quản lý làm cơ sở thực hiện các chính sách an sinh xã hội và đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo hàng năm.

Các cấp ủy Đảng, chính quyền thôn bản, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Đoàn thành niên, Hội chữ thập đỏ… theo lĩnh vực hoạt động của mình tổ chức thực hiện pháp luật, tuyên truyền, nâng cao kiến thức pháp luật cho người dân, các hội viên của mình; phối hợp với nhau để hướng dẫn người dân trao đổi kinh nghiệm, phát triển kinh tế gia đình, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, giáo dục trẻ em. Tuyên truyền mạnh mẽ pháp luật, tổ chức các phong trào thi đua sáng tạo, tìm cách làm ăn, giúp đỡ gia đình vươn lên thoát nghèo.

Các hoạt động giảm nghèo cũng được thể hiện tích cực qua sự nỗ lực, chung tay của các tổ chức thành viên trong khối Mặt trận thông qua các cuộc vận động, thi đua yêu nước. Tiêu biểu như phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo bền vững”; “Cựu chiến binh gương mẫu”; “Xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ Tổ quốc” của Đoàn Thanh niên; “Thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo” trong cán bộ, đoàn viên công đoàn, “5 không, 3 sạch”, “Phụ nữ thi đua phát triển kinh tế” của Hội Phụ nữ…

Các doanh nghiệp, hợp tác xã, các câu lạc bộ, hiệp hội… trong giai đoạn 2016-2020, Hà Giang nhận được sự hỗ trợ từ Dự án “Chương trình giảm nghèo dựa trên phát triển hàng hóa tỉnh Hà Giang” (viết tắt là CPRP tỉnh Hà Giang) do Quỹ Quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD) tài trợ cho 5 huyện của tỉnh đã giúp cho công tác Xóa đói, giảm nghèo được cải thiện, nhất là cải thiện đời sống người dân nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện môi trường nông nghiệp thích ứng với thị trường và biến đổi khí hậu [33].

Đối với các hợp tác xã (HTX), nhờ các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tập thể của tỉnh, các Hợp tác xã đã chủ động củng cố, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, mở rộng ngành nghề kinh doanh… góp phần tích cực trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, dân sinh, hỗ trợ nông dân sản xuất (trong đó có người dân nghèo), góp phần hoàn thành tiêu chí 13 (Tổ chức sản xuất) trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Hợp tác xã cũng liên kết với hàng chục hộ dân trên địa bàn để cung cấp sản phẩm cho Hợp tác xã, việc liên kết đã tạo việc làm cho nhiều người dân, hướng đi thuận lợi giúp tạo việc làm cho người nghèo. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Cá nhân, công dân:Công tác Xóa đói, giảm nghèo không thể không kể đến sự đóng góp của các cá nhân, công dân trong cộng đồng. Cả nước cùng “Chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau”, đó là sự tham gia sôi nổi của các cá nhân, công dân vào hoạt động vì cộng đồng, chung tay giúp đỡ người nghèo bằng các hình thức khác nhau, các sáng kiến thiết thực và hiệu quả.

Hằng năm, trên địa bàn tỉnh Hà Giang nhận được sự trợ giúp của rất nhiều cá nhân, công dân: cấp phát lương thực, thực phẩm (mì tôm, gạo…), quần áo ấm cho người dân vùng cao… hay hỗ trợ xây nhà, sửa đường, làm đường tại các vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh. Đồng thời, tỉnh cũng huy động sự đóng góp của các cá nhân trong và ngoài tỉnh cho Quỹ vì người nghèo và Quỹ cứu trợ tỉnh nhằm hỗ trợ, giúp đỡ các gia đình thuộc diện nghèo, khó khăn, gia đình gặp thiên tai, hỏa hoạn.

Có thể thấy rằng, Nhà nước có vai trò hoạch định pháp luật một cách cụ thể theo lộ trình vạch sẵn kèm theo các chỉ tiêu, tiêu chí phải đạt được sao cho người nghèo có thể tiếp cận được pháp luật của Nhà nước, được bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của một công dân. Nhà nước tạo môi trường pháp lý để khuyến khích người nghèo tham gia vào kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, được tiếp cận với các ưu đãi của Nhà nước để phát triển kinh tế – xã hội. Các tổ chức trong hệ thống chính trị – kinh tế – xã hội ở tỉnh cùng với các doanh nghiệp, hợp tác xã, các câu lạc bộ, hiệp hội, cá nhân trên địa bàn thông qua việc cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước để thực hiện các hoạt động xóa đói, giảm nghèo theo đúng trình tự trên địa bàn.

Như vậy, Nhà nước luôn tạo điều kiện về cơ sở pháp lý để các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài địa phương cùng tham gia quá trình thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về Xóa đói, giảm nghèo nói chung, thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo nói riêng.

Giai đoạn 2016-2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 3193/QĐ-UBND ngày 20/12/2016, về việc thành lập Ban Chỉ đạo các chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 tỉnh Hà Giang với 34 thành viên, trong đó:

  • Đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban;
  • Phó Chủ tịch (phụ trách khối nông lâm nghiệp) làm Phó ban phụ trách Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.
  • Phó Chủ tịch (phụ trách khối Khoa giáo, văn xã) làm Phó ban phụ trách Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững;
  • Ủy viên Thường trực là Giám đốc các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động – TBXH, Sở Nông nghiệp, Ban Dân tộc; các thành viên là Trưởng các ngành, đơn vị của tỉnh. Đồng thời Ban chỉ đạo các Chương trình Mục tiêu quốc gia đã Ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo các chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 tỉnh Hà Giang, trong đó phân công trách nhiệm cụ thể từng thành viên trong Ban chỉ đạo.
  • Đối với cấp huyện: Thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 như đối với cấp tỉnh.
  • Đối với cấp xã: Thành lập Ban chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.

Trên cơ sở nhiệm vụ được phân công, các ngành thành viên Ban chỉ đạo của tỉnh, huyện, xã chủ động tham mưu, chỉ đạo, phân bổ kinh phí, phối hợp triển khai và tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát các chính sách, dự án theo từng lĩnh vực được phụ trách, đặc biệt là các chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến người nghèo, hộ nghèo đảm bảo đúng đối tượng và ngày càng hiệu quả.

2.2.2. Xây dựng kế hoạch Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Trong quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Hà Giang, các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo được triển khai một cách nghiêm túc, toàn diện. Nhận thức về công tác xóa đói, giảm nghèo và quyết tâm thực hiện pháp luật của các cấp, các ngành, đội ngũ cán bộ công chức và nhân dân địa phương được nâng lên.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, trên cơ sở Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, Quyết định số 1772/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 và thực trạng nghèo của tỉnh Hà Giang, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 29/7/2016, về thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2020; đồng thời Hội đồng nhân dân (Hội đồng nhân dân) tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 18/NQ-HĐND ngày 21/7/2016 về việc phê duyệt Chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2020, được Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang cụ thể hóa thành Chương trình số 190/CTr-UBND ngày 05/8/2016, Chương trình Giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2020 và Kế hoạch thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia (mục tiêu quốc gia) giảm nghèo hàng năm, với mục tiêu: giảm nghèo bền vững (giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên 4%/năm, huyện nghèo, xã nghèo giảm 6%/năm) hạn chế tái nghèo.

Trên cơ sở đó, các cấp, các ngành xây dựng Chương trình, Kế hoạch thực hiện về giảm nghèo, tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động, giải pháp chi tiết đến từng lĩnh vực, từng xã, thôn bản và hộ nghèo, đảm bảo tạo điều kiện để các hộ nghèo đều có điều kiện phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tiếp cận tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin) để thoát nghèo bền vững.

Các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đã chủ động xây dựng và ban hành Nghị quyết chuyên đề và Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết, Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 với những giải pháp hiệu quả và thiết thực, phù hợp với đặc điểm và điều kiện thực tiễn trên địa bàn quản lý, làm căn cứ phân bổ và bố trí ngân sách tổ chức triển khai thực hiện nhằm đạt các mục tiêu về giảm nghèo bền vững đến năm 2020.

Ngoài việc ban hành các Nghị quyết, Quyết định về công tác giảm nghèo, các ngành thành viên trong Ban chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững của tỉnh đã chủ động tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các Nghị quyết, Quyết định về các chính sách hỗ trợ như: Hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề; Hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao động; Hỗ trợ học sinh bán trú chưa được hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định của Nhà nước; hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cho đối tượng hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên, hộ có mức sống trung bình làm nghề nông lâm nghiệp, hộ tham gia Bảo hiểm y tế theo hộ gia đình… để thúc đẩy công tác giảm nghèo bền vững đạt hiệu quả. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Ngoài ra, ở một số lĩnh vực khác, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 18/2018/NQ-HĐND ngày 19/7/2018 Quy định một số nội dung về quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Hà Giang, được Ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể bằng một số quyết định: Quyết định số 26/2018/QĐ-UBND ngày 30/8/2018 Quy định chi tiết một số điều tại Nghị quyết số 18/2018/NQ-HĐND ngày 19/7/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh; Quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 về quản lý và sử dụng Quỹ phát triển cộng đồng xã, thôn trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 21/2018/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 ban hành hệ thống biểu mẫu báo cáo tình hình thực hiện và thanh toán vốn thực hiện đầu tư công trên địa bàn tỉnh Hà Giang; Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 17/5/2017 Quy định về quản lý, thanh toán và quyết toán kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo cơ chế đặc thù…

Để thực hiện, Ủy ban nhân dân cũng ban hành Quyết định số 3193/QĐ-UBND ngày 20/12/2016, về việc thành lập Ban Chỉ đạo các chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 tỉnh Hà Giang với 34 thành viên; cùng Quyết định số 791/QĐ-BCĐ của Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh ngày 31/5/2017 Ban hành quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo các chương trình Mục tiêu quốc gia tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2020.

Thực hiện Quyết định số 48/2016/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang đã ban hành Nghị quyết số 69/2017/NQ-HĐND ngày 24/4/2017 về Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng ngân sách địa phương thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 và Nghị quyết số 30/2019/NQ-HĐND ngày 11/12/2019, sửa đổi nội dung điểm d khoản 2 điều 5 quy định ban hành kèm theo Nghị quyết số 69/2017/NQ-HĐND 24/4/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh (trong đó quy định về tỷ lệ đối ứng ngân sách địa phương của các huyện, thành phố tối thiểu 2%).

Tổng nguồn vốn NSTW hỗ trợ cho Chương trình là 2.731.021 triệu đồng [45, tr.3], trong đó:

  • Vốn đầu tư phát triển: 2.010.200 triệu đồng;
  • Vốn sự nghiệp: 720.821 triệu đồng.

Nguồn lực khác:

  • Tín dụng: 4.344.000 triệu đồng (doanh số cho vay);
  • Nguồn lực huy động lồng ghép thực hiện Chương trình: 1.150.907 triệu đồng (Ngân sách địa phương: 594.640 triệu đồng; Trái phiếu Chính phủ: 96.880 triệu đồng; Huy động từ doanh nghiệp, người dân và cộng đồng đóng góp: 459.387 triệu đồng). Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Trên cơ sở các tiêu chí, các thành viên Ban chỉ đạo tham mưu xây dựng phương án phân bổ bảo đảm công khai, minh bạch và tập trung vào các vùng khó khăn, vùng nghèo trọng điểm, ưu tiên theo hình thức cuốn chiếu, bảo đảm đủ mức đầu tư, hỗ trợ để phát huy nhanh hiệu quả, không dàn trải. Việc phân bổ vốn cũng được thực hiện dựa trên hệ thống tiêu chí cụ thể cho từng mục tiêu, đối tượng và từng chính sách, đề án.

Trên cơ sở các chính sách, dự án, chương trình đầu tư có liên quan đến Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo, chính quyền cấp tỉnh đã thực hiện phân cấp, trao quyền cho chính quyền cơ sở thực hiện. Căn cứ vào tổng nguồn lực được giao, các huyện, thành phố chủ động bố trí ngân sách, chỉ đạo xây dựng kế hoạch giảm nghèo cụ thể để giải quyết những nhu cầu cấp thiết theo những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra đối với từng xã trong diện Xóa đói, giảm nghèo.

Bên cạnh đó, chính quyền cũng khuyến khích và tạo điều kiện để người dân cùng tham gia vào các hoạt động giảm nghèo từ việc xác định đối tượng thụ hưởng đến việc lập kế hoạch, triển khai thực hiện, giám sát và đánh giá kết quả. Chuyển phương thức hỗ trợ từ cho không sang hỗ trợ có điều kiện, hỗ trợ có thu hồi luân chuyển, nhân rộng mô hình Quỹ phát triển cộng đồng xã thôn nhằm bảo toàn nguồn vốn, tăng cơ hội tiếp cận chính sách và khuyến khích sự tích cực, chủ động tham gia của người nghèo, chống tư tưởng trông chờ ỷ lại, đảm bảo tính bền vững trong giảm nghèo. Chẳng hạn, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 18/2018/NQ-HĐND ngày 10/7/2018 về ban hành quy định một số nội dung về quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Hà Giang và Quyết định số 26/2018/QĐ-UBND ngày 30/8/2018 quy định chi tiết một số điều tại Nghị quyết số 18/2018/NQ-HĐND (trong đó quy định tỷ lệ, thời gian thu hồi, cơ chế quản lý kinh phí thu hồi đối với từng dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo).

2.2.3. Phổ biến, tuyên truyền pháp luật

Thông qua Hội đồng Phổ biến và Giáo dục pháp luật, tỉnh Hà Giang đã tổ chức nhiều hội nghị tập huấn chuyên ngành, hội thảo và công tác trợ giúp pháp lý, công tác Tuyên giáo, xuất bản tài liệu, tờ rơi, hệ thống trang thông tin điện tử… Công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về Xóa đói, giảm nghèo được tổ chức thực hiện sâu rộng và đồng bộ từ các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể đến các tầng lớp nhân dân; hình thức tổ chức thực hiện phong phú, huy động được sự tham gia của các tổ chức, đặc biệt là các tổ chức chính trị xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng; nhờ đó mà đã có tác động tích cực đến việc chuyển biến nhận thức và hành động của mỗi tập thể và cá nhân trong việc tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.

Hằng năm, tỉnh xây dựng và ban hành các kế hoạch về việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo cùng với việc hướng dẫn các địa phương trong tỉnh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện công tác Xóa đói, giảm nghèo phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng địa phương; xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động để tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật Xóa đói, giảm nghèo; kế hoạch về nhân rộng các mô hình xóa đói, giảm nghèo điển hình, tiêu biểu…

Hàng tuần trên các buổi phát thanh truyền hình của tỉnh và số báo Hà Giang đều đăng tải các tin bài về chủ trương của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo, gương điển hình, kinh nghiệm, mô hình giảm nghèo thành công của các địa phương, cộng đồng và người nghèo. Đặc biệt là các chương trình phát thanh về chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước tại các chợ phiên vùng cao bằng tiếng phổ thông cũng như tiếng dân tộc thiểu số thu hút được rất nhiều đồng bào quan tâm. Công tác truyền thông đã góp phần thay đổi và chuyển biến nhận thức trong giảm nghèo, khơi dậy ý chí chủ động, vươn lên của người nghèo, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng để thoát nghèo bền vững.

2.2.4. Công tác kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Hoạt động kiểm tra, giám sát công tác thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo ở Hà Giang được các ngành, các cấp thường xuyên duy trì theo định kỳ (6 tháng, hàng năm, giữa kỳ, tổng kết giai đoạn), giám sát đánh giá theo chuyên đề, theo chính sách, theo hoạt động, đặc biệt là hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, các ngành chuyên môn trên địa bàn tỉnh trên cơ sở các chương trình, kế hoạch của cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát. Phát huy vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra; công tác tiếp dân được hoạt động thường xuyên, thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo.

Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, kiến nghị với chính quyền và các ngành chức năng, kịp thời điều chỉnh, bổ sung các giải pháp quản lý, điều hành chương trình giảm nghèo đạt hiệu quả, góp phần đưa các hoạt động về giảm nghèo đúng mục tiêu, đúng đối tượng.

Dưới sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương, chính sách hỗ trợ giảm nghèo đã thực sự đi vào cuộc sống, mục tiêu giảm nghèo bền vững đã đạt được những kết quả đáng khích lệ nêu trên. Giai đoạn 2016-2020 là giai đoạn mới trong công tác Xóa đói, giảm nghèo, là giai đoạn áp dụng chuẩn nghèo mới, đáng chú ý là không có vụ vi phạm pháp luật trong công tác thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Qua thanh tra, kiểm tra, giám sát cho thấy, công tác giảm nghèo đã được các địa phương trong tỉnh xác định là nhiệm vụ chính trị của địa phương, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn; Các địa phương đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (Chương trình, Kế hoạch, Quyết định…) nhằm triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo; mục tiêu giảm nghèo được ghi nhận trong các Nghị quyết về phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Ngoài ra, đẩy mạnh công tác tuyên truyền các quy định của pháp luật trong lĩnh vực giảm nghèo đến các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân; xác định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo.

Các địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn được tham gia khiếu nại, tố cáo, kịp thời tiếp cận với các chính sách hỗ trợ giảm nghèo, triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ giảm nghèo theo quy định như: Chính sách hỗ trợ về giáo dục, y tế, nhà ở, đất sản xuất, nước sạch, tiền điện, ưu đãi lãi suất tín dụng; hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 (diễn ra trong khoảng từ cuối năm 2019 đến nay), tạo điều kiện cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo về nguồn lực để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn; thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo để tìm ra những thiếu sót, sai phạm trong công tác Xóa đói, giảm nghèo.

Mặt khác, tình trạng lao động “chui” ở tỉnh Hà Giang đang diễn ra khá thường xuyên, nhiều địa phương chưa nắm được số lượng lao động tự do sang nước ngoài nói chung và Trung Quốc nói riêng làm thuê mà không có giấy phép. Một số hộ nghèo thông qua lao động “chui” mà cải thiện cuộc sống, thoát nghèo. Tuy nhiên, để vấn đề lao động sang Trung Quốc hay nước ngoài làm thuê trở nên hợp pháp, đảm bảo được quyền lợi cho người lao động, chính quyền địa phương cũng như chính quyền các cấp cần đưa ra các biện pháp, các quy định giúp người lao động được đi làm theo nguyện vọng; tiến hành kiểm tra, rà soát người lao động để đưa ra các biện pháp xử lý thích hợp. Các đồn biên phòng đã tăng cường công tác kiểm tra tại các vùng biên giới, tránh tình trạng vượt biên trái phép, gây hậu quả nghiêm trọng đến quốc phòng – an ninh, cũng như sự phát triển kinh tế – xã hội trong tỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

2.2.5. Tổng kết, đánh giá việc thực hiện

Trong những năm qua, tỷ lệ giảm nghèo của Hà Giang luôn đạt từ khoảng 3-5%/năm, cụ thể: năm 2016-2017 giảm 4,57%, 2017-2018 giảm 3,01%, 2018-2019 giảm 4,44%; năm 2019 còn 26,73%, giảm 12,02% so với năm 2016.

  • Bảng 2.3. Kết quả xoá đói, giảm nghèo của Hà Giang giai đoạn 2016-2020

Công tác Xóa đói, giảm nghèo của tỉnh giai đoạn 2016-2020 đã đạt được một số kết quả dưới đây:

Thực hiện chính sách về phát triển sản xuất, kinh tế, cơ sở hạ tầng:Thực hiện các dự án trong chương trình 135 giai đoạn 2016-2020, Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 17/5/2017 quy định về quản lý, thanh toán và quyết toán kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo cơ chế đặc thù; Quyết định 1234/QĐ-UBND ngày 03/7/2017 về ban hành thiết kế mẫu, thiết kế điển hình đối với một số công trình được áp dụng cơ chế đặc thù thuộc các Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2017-2020… đã hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho 326 lượt công trình; duy tu bảo dưỡng các công trình sau đầu tư là 308 lượt công trình cơ sở hạ tầng đã xuống cấp; Giao cho 7 huyện nghèo xây dựng 65 mô hình giảm nghèo nuôi trâu, bò, dê, lợn, gà đen theo hình thức luân chuyển và có thu hồi cho 1.546 hộ nghèo hưởng lợi [45, tr.5-6]…

Thực hiện chính sách tín dụng cho hộ nghèo: Thực hiện cơ chế cho vay uỷ thác qua các tổ chức đoàn thể, Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Hà Giang đang thực hiện cho vay với 15 chương trình tín dụng chính sách. Trong đó, giai đoạn 2016-2019 đạt 3.416 tỷ đồng/104.188 lượt hộ nghèo, giúp cho 38.544 lượt hộ nghèo, 11.307 lượt hộ cận nghèo, 7.683 lượt hộ mới thoát nghèo, 6.089 lượt hộ dân tộc thiểu số được vay vốn phát triển sản xuất, cải thiện đời sống[45, tr.10]…

Thực hiện chính sách đào tạo nghề, tạo việc làm cho người nghèo: Ban hành Chương trình số 299/CTr-UBND về đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động và đưa lao động đi làm việc ngoài tỉnh; tư vấn về chính sách xuất khẩu lao động theo Quyết định 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 về phê duyệt đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020. Kết quả đã có 2.706 quản lý lao động qua biên giới; 18.571 lao động đi làm việc tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Ả-rập-xê-út… và tại Trung Quốc theo thỏa thuận ngoài tỉnh[45, tr.10].

Thực hiện việc trợ giúp xã hội: Trợ cấp thường xuyên hàng tháng tại cộng đồng cho 23.376 đối tượng; hỗ trợ 5.783 phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số sinh con đúng chính sách dân số; trích nguồn đảm bảo xã hội, tổ chức thăm và tặng quà nhân dịp Tết nguyên đán, ngày Người khuyết tật Việt Nam (18/4), ngày Quốc tế Người cao tuổi (01/10), ngày Vì người nghèo (17/10) [45, tr.11]… Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

  • Thực hiện chính sách y tế, giáo dục và nhà ở:

Thực hiện Luật Bảo hiểm Y tế và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện rà soát, mua và cấp thẻ bảo hiểm y tế bình quân hàng năm cho 716.611 đối tượng; Tỷ lệ người dân có thẻ Bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh đến nay đạt 98,5% [45, tr.11].

Về thực hiện chính sách giáo dục: Để con em đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa được đến trường, Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang đã ban hành Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND, hỗ trợ tiền ăn và tiền ở cho học sinh bán trú không thuộc diện được hưởng các chính sách hỗ trợ hiện hành của Trung ương[45, tr.12].

Từ 8/2019, thực hiện Chương trình hỗ trợ nhà ở từ nguồn xã hội hóa theo Kế hoạch số 01-KH/BCĐ ngày 25/7/2019 của Ban chỉ đạo thực hiện hỗ trợ xây dựng nhà ở kiên cố cho người có công, cựu chiến binh nghèo, hộ nghèo có khó khăn về nhà ở trên địa bàn tỉnh Hà Giang, đến thời điểm hiện nay toàn tỉnh đã có trên 2000 hộ gia đình đã triển khai xây dựng nhà ở[45, tr.12].

Nước sạch, vệ sinh và tiếp cận các nguồn thông tin: Thực hiện Quyết định 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2016 tỉnh Hà Giang được phân bổ 17.864,6 triệu đồng thực hiện hỗ trợ 13.472 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn để xây dựng công trình nước sinh hoạt phân tán. Đặc biệt từ Chương trình nông thôn mới đã vận động và hỗ trợ các hộ xây 22.627 nhà tiêu hợp vệ sinh, xây 22.039 bể trữ nước sinh hoạt để đạt chuẩn xã nông thôn mới. Tổ chức tuyên truyền được trên 4.100 buổi phục vụ hàng trăm lượt người nghe; treo trên 11.000 băng zôn, pano, khẩu hiệu[45, tr.13].

Thực hiện công tác xã hội hóa trong giảm nghèo: Thực hiện triệt để cơ chế phân cấp, trao quyền cho cơ sở, đặc biệt là phân cấp quản lý cho cộng đồng thôn thông qua việc ban hành Quyết định số 25/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về quản lý và sử dụng Quỹ phát triển cộng đồng xã, thôn trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2020. Tỉnh cũng đã xây dựng cơ chế cho việc xã hội hóa xóa đói, giảm nghèo bằng cách xây dựng và phát triển Quỹ “Ngày vì người nghèo”.

2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

2.3.1. Ưu điểm và nguyên nhân

  • Ưu điểm:

Kết quả giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 giảm đều qua các năm, khoảng 3-5%/năm; số người nghèo được thụ hưởng các thành quả kinh tế, xã hội ngày càng nhiều, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, giúp người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, hưởng thụ tốt hơn các dịch vụ công cộng và thành tựu phát triển kinh tế – xã hội.

Trên cơ sở các văn bản của cơ quan cấp trên về xóa đói, giảm nghèo. Các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đã chủ động xây dựng và ban hành các Nghị quyết chuyên đề, Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết, chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 với những giải pháp hiệu quả và thiết thực, phù hợp với đặc điểm và điều kiện thực tiễn trên địa bàn quản lý, làm căn cứ phân bổ và bố trí ngân sách tổ chức triển khai thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020.

Nhiều chính sách, dự án giảm nghèo triển khai có hiệu quả, các dịch vụ xã hội cơ bản đã đến với người nghèo, cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, đời sống người dân được nâng lên, từng nội dung đầu tư, hỗ trợ đều có tác động trực tiếp đến thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội, Xóa đói, giảm nghèo vùng Dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn miền núi, nhất là các huyện nghèo và xã Đặc biệt khó khăn.

Bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình từ tỉnh đến cơ sở đã được thành lập và kiện toàn đồng bộ, phù hợp với quy định chung trong cả nước, hoạt động tương đối hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Công tác phối hợp của  thành viên Ban chỉ đạo các cấp, các ngành được đưa vào nề nếp, phát huy tốt vai trò tham mưu cho Ban chỉ đạo trong việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn; thường xuyên xuống cơ sở kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các chương trình giảm nghèo.

Nhận thức của người lao động về các chương trình giảm nghèo được nâng cao, tạo được phong trào giảm nghèo sôi động trên địa bàn tỉnh. Thông qua việc đưa lao động đi xuất khẩu lao động, đi làm việc ngoài tỉnh đã góp phần tích cực vào giúp người lao động có việc làm, thu nhập, tiếp cận được khoa học kỹ thuật, tác phong công nghiệp, từng bước hòa nhập thị trường lao động, với thu nhập đạt được đã giúp nhiều hộ gia đình Xóa đói, giảm nghèo.

Việc xã hội hóa công tác Xóa đói, giảm nghèo được tổ chức triển khai tốt, thu hút được sự tham gia của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng của nhân dân. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

  • Nguyên nhân:

Để đạt được những kết quả như trên, có thể thấy đó là những nỗ lực của cả hệ thống chính trị và người dân cùng nhau ý thức thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, nhờ vào sự lãnh đạo kịp thời, đúng đắn của Đảng và Nhà nước; sự quan tâm của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương đã đề ra được nhiều chủ trương, biện pháp cụ thể, thiết thực đối với việc thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo trên từng lĩnh vực cụ thể. Những kết quả đạt được của việc thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo là do nhận thức đúng đắn quan điểm Xóa đói, giảm nghèo – một trong những chiến lược hàng đầu để phát triển đất nước, là một trong những chủ trương, chương trình lớn của quốc gia, giàu tính nhân văn, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong suốt 75 năm qua.

Sự quan tâm của các cấp chính quyền đối với việc thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo được thể hiện trong việc xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động về Xóa đói, giảm nghèo; cấp kinh phí bảo đảm cho các hoạt động Xóa đói, giảm nghèo; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, pháp luật, chuyên môn đối với CBCC thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo… đây là nguyên nhân mang tính chỉ đạo, lãnh đạo xuyên suốt trong quá trình thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang trong thời gian qua. Bên cạnh đó, tỉnh luôn chú trọng đổi mới và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo. Các hình thức tổ chức thực hiện phong phú và đa dạng, bên cạnh những hình thức tuyên truyền truyền thống như thông qua các hội nghị, hội thảo, tọa đàm… còn có những hình thức mới như tuyên truyền thông qua các trang thông tin điện tử, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, tuyên truyền cũng phát huy những hiệu quả tích cực.

Thứ hai, sự nỗ lực, quyết tâm phấn đấu của các cơ quan quản lý và nhân dân trong tỉnh; là sự phối hợp và giúp đỡ có hiệu quả của các sở, ban ngành, mặt trận, đoàn thể, các tổ chức trong tỉnh.

Các cơ quan thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo các cấp đã thực hiện tốt chức năng tham mưu đối với các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, chủ động trong việc nâng cao nhận thức cũng như trong tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo giúp mọi người dân nghèo được tiếp cận đầy đủ, kịp thời với pháp luật Xóa đói, giảm nghèo.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tổ chức thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo, các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan của tỉnh đã tích cực phối hợp với nhau nhằm tăng cường hiệu quả việc tổ chức thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho đội ngũ Cán bộ, công chức về Xóa đói, giảm nghèo cũng như bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng xóa đói, giảm nghèo. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Đội ngũ Cán bộ, công chức thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo là những người không chỉ truyền đạt kiến thức chuyên môn mà còn là người thực hiện nhiệm vụ Xóa đói, giảm nghèo, đưa pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo đến gần hơn với các đối tượng Xóa đói, giảm nghèo; giải thích các chủ trương, đường lối của nhà nước trong xã hội và nhân dân giúp người dân địa phương được tiếp cận pháp luật một cách nhanh chóng, hiểu được pháp luật là một trong những thách thức đặt ra đối với Cán bộ, công chức tỉnh Hà Giang, là một trong những khó khăn lớn nhất bởi Hà Giang là nơi có địa hình núi cao, chủ yếu là người Dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, nơi tiếp cận với nguồn thông tin bị hạn chế.

Thứ ba, việc chấp hành nghiêm túc và vận dụng đúng đắn những quy định của pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo là một trong những nguyên nhân giúp công tác Xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả nêu trên.

Nhiều địa phương đã chú trọng phát huy vai trò của những người có uy tín, học vấn trong cộng đồng dân cư, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên để tham gia vào hoạt động giám sát các hoạt động Xóa đói, giảm nghèo ở địa phương, vận dụng hiệu quả, linh hoạt và sáng tạo, phù hợp với tình hình của địa phương đã giúp công tác Xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả đáng mong đợi.

Cấp chứng chỉ tiếng dân tộc cho Cán bộ, công chức là một trong những yếu tố giúp công tác Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả, bởi dân cư tỉnh Hà Giang chủ yếu là người Dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Mông chiếm đa số. Do vậy, biết tiếng dân tộc giúp Cán bộ, công chức địa phương dễ dàng phổ biến quy định pháp luật cho người dân, giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của Xóa đói, giảm nghèo để tự mình phát triển.

Thứ tư,sự tham gia của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng của nhân dân… Đặc biệt là sự vào cuộc của các Doanh nghiệp, tổng công ty, các đơn vị, tổ chức cá nhân đã được huy động đóng góp cho công tác giảm nghèo như đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ xóa nhà tạm, xây dựng lớp học mầm non, trụ sở thôn, trạm y tế, đường giao thông…

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

  • Hạn chế:

Bên cạnh những kết quả về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực Xóa đói, giảm nghèo ở Hà Giang những năm qua thì tỷ lệ giảm nghèo ở các huyện tại Hà Giang còn có những tồn tại, hạn chế nhất định. Điều này thể hiện ở chỗ:

Một là, công tác chỉ đạo, điều hành trong tổ chức thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo đôi lúc còn thiếu sự tập trung, việc triển khai thực hiện chưa hiệu quả. Việc chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về Xóa đói, giảm nghèo chưa thực sự sát sao, chưa phát huy được tính chủ động tích cực trong việc triển khai thực hiện, dẫn đến việc người dân gặp khó khăn trọng việc tiếp cận pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo, việc xảy ra các vi phạm về Xóa đói, giảm nghèo vì thế mà gia tăng: việc kết hôn cận huyết, kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi, sinh đẻ nhiều… vẫn diễn ra ở hầu hết các địa phương trong tỉnh; việc phân bổ ngân sách đối với các dự án đầu tư để xóa đói, giảm nghèo bị phân tán, dàn trải; nhiều công trình đầu tư đưa vào sử dụng không bố trí kinh phí duy tu, bảo dưỡng cũng như thiếu quy chế quản lý, dẫn đến xuống cấp nhanh.

Hai là, kinh phí hỗ trợ đầu tư cho sản xuất theo phân bổ của Nhà nước chiếm tỷ trọng thấp nên mục tiêu tăng thu nhập, tạo việc làm cho hộ nghèo khó đạt được. Việc giao vốn, cấp phát giống cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ sản xuất thường chậm so với thời điểm mùa vụ, một số chưa phù hợp với địa bàn dẫn đến hiệu quả đạt được thấp. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 71/NQ-CP ngày 31/5/2018 về một số chính sách đối với hộ nghèo thiếu hụt đa chiều, các chính sách đối với hộ nghèo đa chiều đã được các cấp, các ngành thực hiện đúng quy định như hỗ trợ về Bảo hiểm y tế, giáo dục. Tuy nhiên một số chính sách, pháp luật hiện nay chưa được Trung ương cấp kinh phí thực hiện như:

Chính sách hỗ trợ nhà tiêu hợp vệ sinh; hoặc mức hỗ trợ còn rất thấp như chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ chỉ mới thực hiện hỗ trợ cho hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 và hộ nghèo tách hộ trước thời gian 5 năm, do vậy những hộ nghèo do mới tách hộ và hộ nghèo mới phát sinh từ năm 2016 chưa được hỗ trợ còn nhiều; Hiện nay mức vay hỗ trợ tối đa là 25 triệu đồng/hộ, mức hỗ trợ này rất thấp để các hộ nghèo vùng cao Hà Giang có kinh phí xây nhà đáp ứng được yêu cầu bền vững và diện tích tối thiểu theo quy định (từ 8m2/người trở lên không kể công trình phụ); Mức hỗ trợ xây bể nước phân tán theo Quyết định 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ (1,5 triệu đồng/hộ) đối với hộ nghèo tại 6 huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang là rất thấp để xây được bể trữ nước mưa do chi phí giá thành vật liệu ở nơi này rất cao so với vùng thấp.

Về chính sách hỗ trợ tiếp cận thông tin, trong Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo từ năm 2016-2020, Trung ương mới bố trí 18,58 tỷ đồng để tổ chức thực hiện, quá ít để thực hiện hỗ trợ tiếp cận thông tin cho hộ nghèo, hộ cận nghèo (nhất là chính sách hỗ trợ phương tiện nghe nhìn; trang bị phương tiện tác nghiệp phục vụ thông tin cổ động…)

Ba là, tỷ lệ Xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương là không đồng đều, ở các huyện vùng cao, biên giới, tỷ lệ hộ nghèo giảm chậm; Tuy giảm nghèo nhanh (bình quân mỗi năm giảm từ 6 – 7% số hộ nghèo) nhưng thu nhập của người dân huyện nghèo vẫn ở mức thấp so với mức thu nhập chung của cả nước, khi Chính phủ ban hành chuẩn nghèo mới thì số hộ nghèo lại tăng lên.

Tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn nên việc tập trung nguồn lực tài chính, vật lực, nhân lực còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc thực hiện chương trình Xóa đói, giảm nghèo, nhà nước và nhân dân cùng làm hoặc việc xã hội hóa công tác Xóa đói, giảm nghèo. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, hạ tầng cấp điện, hạ tầng thông tin truyền thông, hạ tầng cấp thoát nước, các trung tâm thương mại, hệ thống chợ biên giới, giáp biên giới còn gặp nhiều khó khăn…

Bốn là, chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực Xóa đói, giảm nghèo còn nhiều hạn chế. Thực tế cho thấy, hiện nay tại các huyện, thị xã, hầu hết cán bộ phục trách công tác Xóa đói, giảm nghèo đều là kiêm nhiệm, do vậy, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực Xóa đói, giảm nghèo còn yếu. Đội ngũ cán bộ có chuyên môn kỹ thuật chưa có hoặc chưa đủ để có thể hướng dẫn người dân tiếp thu và áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất, nên chưa đưa được các chương trình hỗ trợ dịch vụ sản xuất, khuyến nông, lâm, thú y, bảo vệ thực vật đến với người dân.

Năm là, lao động địa phương chủ yếu là chưa qua đào tạo, không có tay nghề, nên rất khó tạo được việc làm tại chỗ cũng như tham gia thị trường lao động trong và ngoài nước. Hệ thống giáo dục phổ thông tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao dân trí, chuyển biến nhận thức của người dân; các lớp học mẫu giáo, các điểm trường tiểu học và nhà ở cho học sinh còn rất thiếu thốn. Chưa quan tâm đào tạo giáo viên người dân tộc tại chỗ, đối với giáo viên ở miền xuôi lên vùng khó khăn công tác thì chưa có chính sách khuyến khích thỏa đáng động viên, nên không đảm bảo sự gắn bó lâu dài. Chương trình đào tạo cử tuyển với mục đích đào tạo con em đồng bào dân tộc, người địa phương để trở về phục vụ địa phương vẫn còn tình trạng ưu tiên con em cán bộ có điều kiện, nên một bộ phận không nhỏ sau khi được đào tạo theo hệ cử tuyển đã không trở lại địa phương công tác. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

  • Nguyên nhân:

Trong phân cấp quản lý, chưa khuyến khích vai trò và tính chủ động của các địa phương, việc giao kế hoạch và nguồn lực giảm nghèo cho các địa phương theo kiểu mệnh lệnh hành chính “từ trên xuống” làm hạn chế đi tính chủ động, sáng tạo.

Do các các chương trình giảm nghèo chưa coi trọng chính sách hỗ trợ người nghèo trong việc đa dạng hóa sinh kế.Chưa có chính sách khuyến khích và hỗ trợ người nghèo, cận nghèo, để giúp họ chủ động vươn lên thoát nghèo, làm giàu. Một số chính sách ban hành mang tính ngắn hạn, tình thế, nên chưa tập trung đúng mức vào giải quyết nguyên nhân của đói nghèo; Công tác triển khai thực hiện một số chính sách giảm nghèo ở các địa phương chưa phát huy hiệu quả: vẫn có những hộ có lao động nhưng thiếu việc làm, thiếu đất canh tác, thiếu phương tiện sản xuất…

Do ý thức pháp luật của Cán bộ, công chức và người dân: Một bộ phận không nhỏ người nghèo, xã nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo. Mặt khác, bệnh thành tích đã khiến một số địa phương khống chế tỷ lệ nghèo thấp hơn so với thực tế, dẫn đến một số người nghèo chưa tiếp cận được các chính sách, gây ra những hiểu biết sai lệch về chính sách của Nhà nước.

Bộ máy thực hiện công tác Xóa đói, giảm nghèo chưa tương xứng, biên chế công chức làm Xóa đói, giảm nghèo ở cấp huyện, xã còn thiếu, mang tính kiêm nhiệm. Trình độ của một số Cán bộ, công chức còn chưa theo kịp yêu cầu của công tác Xóa đói, giảm nghèo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ có chuyên môn chưa được đáp ứng kịp thời.

Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, khí hậu khắc nghiệt, địa hình chủ yếu là đồi núi, đất canh tác chiếm tỉ lệ thấp, thường xuyên xảy ra nhiều thiên tai như lũ lụt, xói mòn đất, cháy rừng, mưa đá dẫn đến đất đai kém màu mỡ, việc sản xuất, cũng như chăn nuôi nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế thấp.

Sự phân tán của địa bàn dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang làm cho công tác Xóa đói, giảm nghèo ở các vùng này gặp khó khăn. Những người thuộc diện đói nghèo thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu ăn, phương tiện sinh hoạt, sản xuất, nhà ở kém chất lượng, thiếu nước sinh hoạt. Trẻ em nghèo hầu như không được đi học hoặc học “dở dang” để tham gia lao động, phụ giúp gia đình từ sớm. Các hộ gia đình nghèo ít quan tâm tới giáo dục con cái, do đó mà trẻ em nghèo ngay từ khi sinh ra đã ít được trang bị những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, sống chủ yếu dựa vào phong tục tập quán truyền thống của gia đình, dòng họ. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

Tiểu kết chương 2

Trong chương 2, Luận văn đã khái quát được những đặc điểm tự nhiên, dân số và tình hình kinh tế – xã hội cũng như đặc điểm đói nghèo của các thôn, xã vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Hà Giang.

Luận văn đã phân tích thực trạng đói nghèo và thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo tại Hà Giang từ 2016 đến nay;

Luận văn cũng đã rút ra những thành công và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang với chủ thể là hệ thống cơ quan nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp, Hợp tác xã và cá nhân công dân. Từ đó cũng lý giải nguyên nhân của những thành công và hạn chế của việc thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang để làm cơ sở cho việc đề ra những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo trong Chương 3 của Luận văn. Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464