Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo – Từ thực tiễn tỉnh Hà Giang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước đang phát triển, do đó vấn đề đói nghèo không chỉ là vấn đề xã hội mà còn là một trong những thách thức lớn ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước. Tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, ngày 10/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giải quyết nạn đói là ưu tiên hàng đầu trong 6 nhiệm vụ Chính phủ phải giải quyết, trong đó Người đã nhiều lần nhấn mạnh: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Theo Người, đói nghèo là một trong ba thứ giặc (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm) mà chúng ta phải chung tay để phòng chống, diệt trừ.

Xóa đói, giảm nghèo (XĐGN) luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu để phát triển bền vững và đã trở thành một chủ trương lớn, một chương trình của quốc gia, giàu tính nhân văn, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc để quyết tâm thực hiện, đó còn là một trong những mục tiêu Thiên niên kỷ, phát triển bền vững của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết.

Thực hiện pháp luật xóa đói, giảm nghèo góp phần đưa pháp luật xóa đói, giảm nghèo vào đời sống, gần gũi hơn với mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là người dân nghèo. Trong đó có nhiều quy định mở đường cho việc cải cách và phát triển đất nước, tạo động lực thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, thúc đẩy quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế. Xóa đói, giảm nghèo – nhằm xóa bỏ khoảng cách giàu – nghèo trong xã hội, giúp người nghèo được hưởng tất cả những đãi ngộ mà một con người phải được hưởng theo Bộ luật Nhân quyền quốc tế mà Việt Nam tham gia, từ đó giúp nâng cao đời sống dân cư, giúp nước ta thoát nghèo, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Tại Hà Giang – một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc có 6/11 huyện, thành phố thuộc diện huyện nghèo được thụ hưởng chính sách theo Nghị Quyết 30a của Chính phủ (gồm 4 huyện Cao nguyên đá là Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ và 2 huyện vùng cao phía Tây là Hoàng Su Phì và Xín Mần). Bên cạnh đó, Hà Giang là tỉnh có 22 dân tộc cùng sinh sống, chủ yếu là các dân tộc thiểu số, người dân có trình độ dân trí thấp. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Việc thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang mặc dù có những tiến bộ, xong vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Chẳng hạn, sự thiếu tính đồng bộ, thống nhất cả về nhận thức và hành động; công tác triển khai thực hiện, đánh giá và giám sát việc thực thi pháp luật còn yếu. Hệ thống pháp luật chưa thực sự tạo ra động lực mạnh mẽ để người nghèo thoát nghèo… chưa tìm ra những giải pháp về pháp luật thiết thực phù hợp với đặc điểm tình hình của tỉnh miền núi, đa dân tộc. Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo ở Hà Giang để đề ra giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả pháp luật xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa mang tính thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả luận văn đã lựa chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo – Từ thực tiễn tỉnh Hà Giang” để làm đề tài nghiên cứu cho chương trình đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp- Luật Hành chính của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Xóa đói, giảm nghèo là một trong những mục tiêu, chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ngay từ khi giành được độc lập. Ở lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo có một số công trình nghiên cứu đã được công bố, các bài viết, bài báo về Xóa đói, giảm nghèo có thể kể đến sau đây:

Lê Thanh Cường (2017), “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia: Luận văn cũng đã đánh giá được thực trạng công tác thực hiện các chính sách về giảm nghèo bền vững của huyện, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện về giảm nghèo bền vững của huyện Quảng Ninh [6].

Nguyễn Lan Phương (2019),“Một số giải pháp xóa đói, giảm nghèo bền vững đối với các tỉnh miền Trung”, Tạp chí Tài chính: Bài báo đã tập trung nêu ra một số giải pháp trong công tác xóa đói, giảm nghèo bền vững ở các tỉnh miền Trung; Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; Thực hiện có chất lượng, hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia về Xóa đói, giảm nghèo; Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của xã hội và cộng đồng dân cư [26].

Nguyễn Đức Thắng (2016), “Thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc đến năm 2020”, Luận án Tiến sĩ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia: làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách Xóa đói, giảm nghèo; phân tích thực trạng tổ chức thực hiện chính sách Xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc trên cơ sở các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách Xóa đói, giảm nghèo; đề xuất các giải pháp mới nhằm nâng cao kết quả tổ chức thực hiện chính sách Xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc nước ta đến năm 2020 và những năm tiếp theo [35].

Phương Thảo (2015), bài viết “Giải pháp giảm nghèo tại các tỉnh Tây Bắc”, Báo Nhân dân: nêu ra các khó khăn, thách thức về Xóa đói, giảm nghèo vùng Tây Bắc; các giải pháp để hoàn thiện cơ chế, chính sách giảm nghèo vùng này [36].

Trần Quỳnh (2020), bài viết “Giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi: cái khó ló cái khôn”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: tác giả nêu ra những mô hình giảm nghèo tiêu biểu của một số hộ dân tại các địa phương, đưa ra kết luận về sự chủ động, thích ứng với khó khăn của người đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) là động lực để Xóa đói, giảm nghèo [28].

Hoàng Chí Bảo (2021), bài viết “Nguồn lực và sự phát triển vùng dân tộc thiểu số”, Báo điện tử Dân tộc và Phát triển: tác giả nếu ra các vấn đề cần phải quan tâm để phát triển vùng Dân tộc thiểu số [1].

Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình này mới chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo; nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo; nghiên cứu lý luận và thực tiễn để xác định phương hướng và nội dung hoàn thiện chính sách về xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam… Theo tìm hiểu của cá nhân tác giả, đến nay chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Do đó, việc nghiên cứu vấn đề thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang sẽ là một cái nhìn mới cho công tác xóa đói, giảm nghèo nên đề tài luận văn của tác giả không có sự trùng lắp về phạm vi, đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quan trọng giúp cho tác giả luận văn tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài này.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu các vấn đề về:

  • Lý luận về thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo.
  • Thực tiễn về thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo tại tỉnh Hà

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Luận văn có các nhiệm vụ sau:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo.
  • Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong việc thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
  • Đề xuất quan điểm, giải pháp để góp phần đảm bảo và nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo – Từ thực tiễn tỉnh Hà

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu các quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo nói chung và xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ 2016 đến nay nói riêng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung: Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo và đề xuất, kiến nghị các giải pháp đảm bảo việc thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi về mặt không gian: Đề tài luận văn nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu từ 2016 -2020, tầm nhìn

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh và pháp luật của Nhà nước về chính sách xóa đói, giảm nghèo và thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo.

5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Phương pháp thu thập, xử lý thông tin, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,…và đánh giá các dữ kiện của vấn đề đặt ra.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài “Thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo – Từ thực tiễn tỉnh Hà Giang” nhằm làm rõ mặt lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo nói chung và thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang nói riêng.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu tham khảo, cung cấp thông tin về thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang cho những ai muốn nghiên cứu, quan tâm đến vấn đề này.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, đề tài chia thành 3 chương. Cụ thể:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp về luật xóa đói, giảm nghèo.
  • Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
  • Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo – Từ thực tiễn tỉnh Hà Giang.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

1.1. Xóa đói, giảm nghèo và pháp luật về xóa đói, giảm nghèo

1.1.1. Xóa đói, giảm nghèo

  • Khái niệm xóa đói, giảm nghèo Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Nghèo, đói là một vấn đề kinh tế xã hội phức tạp, đa phương diện và không thuần tuý, là vấn đề kinh tế cho dù thước đo của nó trước hết và chủ yếu dựa trên thước đo về kinh tế. Nghèo không chỉ phản ánh sự thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu phương tiện sản xuất và sinh hoạt… mà còn phản ánh sự thiệt thòi trên bình diện sức khoẻ, giáo dục, địa vị xã hội.

Theo quan điểm của WB (World Bank): Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện. Thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng… đó là những khía cạnh của nghèo [22].

Tại Hội nghị về xoá đói, giảm nghèo khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Băng Cốc (Thái Lan), Uỷ ban kinh tế – xã hội châu Á – Thái Bình Dương đã đưa ra khái niệm nghèo như sau: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người (ăn, mặc, ở, nhu cầu văn hoá, y tế, giáo dục và giao tiếp…) để duy trì cuộc sống, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận [12].

Như vậy, nghèo theo cách hiểu chung nhất là tình trạng chỉ một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.

Đói được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.000 VNĐ).

Như vậy, đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng.

Xoá đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.

Giảm nghèo là làm cho một bộ phận dân cư nghèo nâng mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn.

Theo Từ điển mở bách khoa toàn thư Wikipedia thì: Xóa đói, giảm nghèo là một chiến lược của Chính phủ Việt Nam nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam.

Ví dụ, ở Việt Nam, nghèo, đói đều do nền kinh tế kém phát triển mà nảy sinh, tuy vậy hiện nay, cả nước đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế lạc hậu kém phát triển sang nền kinh tế phát triển hiện đại với những thang bậc khác nhau nên còn tồn tại đan xen nhiều trình độ sản xuất khác nhau, dẫn đến sự giàu nghèo khác nhau trong các tầng lớp dân cư. Như vậy, ở góc độ nước nghèo, giảm nghèo ở nước ta là từng bước thực hiện quá trình chuyển từ trình độ sản xuất kém phát triển, sang trình độ sản xuất hiện đại. Việc xóa đói, giảm nghèo được xem là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng bằng những quyết định, quy định của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề về đói nghèo. Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Tuy nhiên, việc đánh giá và cách nhìn nguồn gốc dẫn đến nghèo giữa các quốc gia là khác nhau, nên có nhiều quan niệm về giảm nghèo khác nhau. Nếu hiểu nghèo là dạng đình đốn của phương thức sản xuất đã lạc hậu song vẫn còn tồn tại thì giảm nghèo là quá trình chuyển đổi sang phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn. Nếu hiểu nghèo là do tình trạng thất nghiệp gia tăng hoặc xã hội rơi vào khủng hoảng kinh tế thì giảm nghèo là tạo ra nhiều việc làm, ổn định để phát triển.

Như vậy, xóa đói, giảm nghèo có thể được hiểu là các chính sách, biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, sự chênh lệch mức sống giữa các vùng miền trong một quốc gia.

  • Đặc điểm xóa đói, giảm nghèo

Một là, xóa đói, giảm nghèo là chính sách mà Đảng và Nhà nước đưa ra để giải quyết tình trạng đói nghèo.

Xóa đói, giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản hướng vào sự phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, để cho người nghèo có cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, phát triển sản xuất, tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo.

Nhà nước xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật, thể chế hóa chính sách của Đảng về xóa đói, giảm nghèo, đưa đường lối, chính sách của Đảng đến gần hơn với cuộc sống của người dân, trở thành những quy định cơ bản trong thực tiễn.

Xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp Đảng, sự chỉ đạo cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền, sự phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị, xã hội và nhân dân; đồng thời, phải phát huy vai trò làm chủ của người dân từ khâu xây dựng kế hoạch, đến tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá hiệu quả của công tác xóa đói, giảm nghèo.

Hai là, mục tiêu của xóa đói, giảm nghèo nhằm:

  • Giảm tỷ lệ hộ nghèo, không để tái nghèo, các xã nghèo có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu cơ bản; xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói.
  • Giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động vùng nông thôn, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; giảm tỉ lệ thất nghiệp.
  • Cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo; tăng thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước.
  • Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng- xã hội của các khu vực như huyện, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn về hạ tầng cơ sở như trường học, giao thông, y tế, nước sinh hoạt…

Ba là, đối tượng của xóa đói, giảm nghèo thường là các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo trên phạm vi cả nước.

  • Vai trò của xóa đói, giảm nghèo Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Xóa đói, giảm nghèo có vai trò quan trọng, có tính chất định hướng trong việc Xóa đói, giảm nghèo, giải quyết các tệ nạn xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.

Xóa đói, giảm nghèo góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Bởi bộ phận dân cư nghèo thường là những người có ít điều kiện để tiếp cận các dịch vụ cơ bản nên hiểu biết và nhận thức còn hạn chế, dễ tự ti mặc cảm và dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Xóa đói, giảm nghèo giúp nâng cao trình độ dân trí, cung cấp và hỗ trợ các dịch vụ thiết yếu để người dân hiểu biết chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, nó còn giúp cho bộ phận dân cư nghèo nhận thức được việc phát triển kinh tế, xã hội là mục tiêu phấn đấu của tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp khác nhau và là nhiệm vụ của cả đất nước đối với người nghèo.

Trình độ văn hóa, chất lượng nguồn nhân lực là điều kiện quan trọng quyết định đến quá trình phát triển kinh tế xã hội. Phát triển kinh tế xã hội là ưu tiên phát huy nội lực sẵn có mà Xóa đói, giảm nghèo có vai trò đào tạo đội ngũ lao động lành nghề trở thành lực lượng lao động có chuyên môn, tay nghề, kỹ năng lao động để bổ sung cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội.

Xóa đói, giảm nghèo giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho bộ phận dân cư nghèo. Giải quyết ngày một tốt hơn vấn đề việc làm cho người nghèo, làm tăng thu nhập và giảm tỉ lệ hộ nghèo trong cộng đồng.

Xóa đói, giảm nghèo có vai trò hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất giúp các hộ nghèo, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số có khả năng tự mình tìm kiếm những biện pháp, cách thức để thực hiện Xóa đói, giảm nghèo cho bản thân và gia đình. Xóa đói, giảm nghèo góp phần phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu, có vai trò quan trọng đối với các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn để tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, văn hóa, tri thức ở các vùng nghèo, vùng khó khăn.

Xóa đói, giảm nghèo giúp nhà nước định hướng ra các mục tiêu và đề ra các giải pháp để Xóa đói, giảm nghèo hiệu quả. Để thực hiện công tác Xóa đói, giảm nghèo, nhà nước cần đưa ra các chính sách, pháp luật phù hợp với những đường lối, chủ trương mà Đảng đề ra, nhằm thống nhất mục tiêu chung là phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Xóa đói, giảm nghèo là cơ sở, giúp Nhà nước tạo ra hành lang pháp lý cho các cơ quan, đơn vị nhà nước thực hiện công tác Xóa đói, giảm nghèo. Các cơ quan, đơn vị thực hiện công tác Xóa đói, giảm nghèo, trên cơ sở tình hình thực tế tại địa phương mà tiến hành sao cho đạt hiệu quả tối ưu nhất theo các quy định, cơ chế của pháp luật hiện hành.

Xóa đói, giảm nghèo góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, tăng thu nhập, đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân nói chung và người nghèo nói riêng.

1.1.2. Pháp luật về xóa đói, giảm nghèo Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

  • Khái niệm, đặc điểm

Nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Xóa đói, giảm nghèo. Xóa đói, giảm nghèo không phải là một ngành luật, nó là một lĩnh vực. Do đó có thể hiểu: Pháp luật về xóa đói, giảm nghèo là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh trong công tác Xóa đói, giảm nghèo nhằm hỗ trợ, nâng cao mức sống cho người dân nghèo.

Quy định về chuẩn nghèo: Kể từ năm 1992 đến nay, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội đã 5 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau.

Chuẩn nghèo của Việt Nam được xây dựng từ năm 1992 và đã có sự điều chỉnh qua các thời kỳ: từ 1992 – 1995, từ 1996 – 2000, từ 2001 – 2005, từ 2006 – 2010 và 2010 – 2015). Do phạm vi nghiên cứu của Luận văn nên tác giả chỉ đề cập chuẩn nghèo từ 2016 đến nay. Tuy nhiên, có thể thấy:

Thời kỳ 2010-2015, mức chuẩn nghèo mới được áp dụng cho giai đoạn này gồm những hộ có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (khu vực nông thôn), đối với khu vực thành thị hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng trở xuống. (Điều 1, Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015).

Thời kỳ 2016-2020, mức chuẩn nghèo mới áp dụng trong giai đoạn này ở khu vực nông thôn là 000 đồng/người/tháng trở xuống và ở khu vực thành thị là 900.000 đồng/người/tháng trở xuống. (Khoản 1, Điều 2, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2020 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020).

Pháp luật về xóa đói, giảm nghèo mang những đặc điểm sau:

  • Pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực Xóa đói, giảm nghèo.
  • Pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo được chứa đựng ở các loại quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau như: Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình…
  • Có hình thức thể hiện phong phú, gồm các văn bản luật, các văn bản dưới luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Điều chỉnh pháp luật về xóa đói, giảm nghèo

Pháp luật về xóa đói, giảm nghèo được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có thể kể đến một số văn bản sau: Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Hiến pháp năm 2013: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác (Điều 59).

Luật Giáo dục năm 2019: quy định miễn học phí cho học sinh cấp trung học cơ sở theo lộ trình; các nhóm đối tượng sinh viên, học sinh nghèo được miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập dạy nghề.

Luật Nhà ở năm 2014 quy định: hỗ trợ hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn; hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị (Điều 49).

Luật tiếp cận thông tin năm 2016: mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Luật Bảo hiểm y tế 2008, sửa đổi 2014: Nhà nước sẽ đóng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo.

Luật Trợ giúp pháp lý 2017: “người thuộc hộ nghèo, người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo” là hai trong nhiều đối tượng người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật.

Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 về phê duyệt đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Nghị quyết 795/NQ-UBTVQH ngày 22/10/2019 về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo: “Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực.”

Nghị quyết số 80/2011/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020: “Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.”

Thông tư số 14/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26/9/2018 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020.

Ngoài ra, theo thẩm quyền quản lý, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành hàng loạt văn bản để tổ chức thực hiện việc Xóa đói, giảm nghèo như sau: Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; Quyết định 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên; Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc khám, chữa bệnh cho người nghèo; Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020; Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020; Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020….

1.2. Thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm

  • Khái niệm:

Thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo còn được hiểu là quá trình đưa pháp luật về xóa đói, giảm nghèo vào thực tiễn đời sống xã hội, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của chủ thể pháp luật.

  • Đặc điểm thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo:

Thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo là thực hiện pháp luật về một nội dung trong lĩnh vực xã hội, nó có đặc điểm chung mang tính chất của thực hiện pháp luật nói chung, ngoài ra còn có những đặc điểm mang tính chất đặc thù, quy định bởi vị trí, vai trò của nó trong đời sống xã hội. Vì thế, thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo có đặc điểm sau:

Thứ nhất, thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật xóa đói, giảm nghèo. Hành vi đó là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của chủ thể trong một hoàn cảnh cụ thể, nghĩa là những hành vi mang tính pháp lý phù hợp với các quy định của pháp luật, cũng có thể hiểu là hành vi làm đúng theo những gì mà pháp luật quy định. Như vậy, một chủ thể thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo phải bằng hành vi hợp pháp, có thể là hành vi hành động hoặc không hành động nhưng phải làm đúng, làm đủ, không trái với những quy định của pháp luật về xóa đói, giảm nghèo.

Thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa nhà nước, công dân và xã hội. Trong đó, các cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ, công chức quản lý là lực lượng nòng cốt trong thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo. Họ đóng vai trò quan trọng, làm nòng cốt để nâng cao hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo. Cán bộ, công chức là người gần dân nhất, người giúp pháp luật Xóa đói, giảm nghèo đến được với người dân, và người dân là người chịu ảnh hưởng trực tiếp các quy phạm pháp luật đó, đặc biệt là người dân nghèo. Việc kết hợp giữa cán bộ, công chức với công dân, xã hội trong việc thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo tạo tiền đề phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đặc biệt là phát triển con người.

Thứ hai, thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo là hoạt động có mục đích, mục tiêu cụ thể.

Trong những yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo, vấn đề trọng tâm là đưa ra các biện pháp để thực hiện yêu cầu đó sao cho phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, việc thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo là nhằm thực hiện các mục tiêu mà Xóa đói, giảm nghèo tạo ra, đó là phát triển toàn diện con người, giải quyết nạn đói nghèo, coi con người là động lực, là nhân tố quan trọng nhất để đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội; giải quyết việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp… Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Mục tiêu của việc ban hành pháp luật Xóa đói, giảm nghèo là giúp xóa bỏ đói nghèo, nâng cao đời sống nhân dân gắn với việc bảo đảm các quyền của con người, vì sự phát triển toàn diện của con người, hướng tới phát triển kinh tế, xã hội. Do đó, việc tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật về xóa đói, giảm nghèo phải tuân theo những nguyên tắc, quy định chung của Luật pháp quốc tế nói chung và đất nước nói riêng. Công dân ứng xử với nhau theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn trọng pháp luật một cách triệt để, phải xử sự theo đúng yêu cầu của pháp luật, đòi hỏi mọi công dân có trách nhiệm tham gia vào quản lý các công việc của Nhà nước.

Thứ ba, quá trình thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp của Nhà nước. Chính sự đảm bảo của Nhà nước mới làm cho pháp luật Xóa đói, giảm nghèo có môi trường thực thi bình đẳng, công bằng về quyền, nhiệm vụ pháp lý. Việc đảm bảo có thể là đảm bảo chung (đảm bảo pháp lý, tổ chức, xã hội) hoặc xuất phát từ đặc tính các quan hệ xã hội được pháp luật Xóa đói, giảm nghèo điều chỉnh hoặc tùy vào chủ thể chịu sự tác động của pháp luật Xóa đói, giảm nghèo mà Nhà nước đưa ra biện pháp phù hợp.

Các quy phạm pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo là những quy tắc xử sự của mọi công dân, của các nhà chức trách có thẩm quyền, là những quy định về nội dung chương trình, phương thức hoạt động, bộ máy quản lý nhà nước, những quy định về địa vị pháp lý của các chủ thể khác nhau… trong lĩnh vực Xóa đói, giảm nghèo. Do đó, nó có tính bắt buộc thực hiện đối với mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, bảo đảm tính quyền lực của Nhà nước được thực thi trong đời sống thực tiễn.

1.2.2. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo

Pháp luật về xóa đói, giảm nghèo trong phạm vi cả nước phải được nhận thức đúng đắn và thống nhất từ quan điểm đến nội dung của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của nhà nước, các Điều ước quốc tế có nội dung liên quan đến xóa đói, giảm nghèo mà Việt Nam là thành viên

Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trước hết nó đòi hỏi tất cả các quan hệ xã hội quan trọng nói chung phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Nhà nước phải xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật tạo ra sự thống nhất của hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về xóa đói, giảm nghèo. Từ cơ sở có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ thì việc nhận thức đúng đắn và thống nhất những quy định của pháp luật về xóa đói, giảm nghèo phải được thực hiện trên phạm vi cả nước, nhất là những nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo – nơi tập trung đông đảo người dân nghèo để mọi cá nhân, mọi tổ chức phải nhận thức đúng đắn về tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của pháp luật về xóa đói, giảm nghèo để làm cơ sở cho việc thực hiện trong thực tiễn.

Hiến pháp và Luật là những văn bản thể hiện một cách tập trung ý chí và những lợi ích cơ bản của nhân dân lao động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là những văn bản có giá trị pháp lý cao, là cơ sở của hệ thống pháp luật, do đó, các văn bản khác phải tuân thủ nghiêm túc những quy định của Hiến pháp và Luật trong phạm vi cả nước. Điều này đảm bảo tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật, sự thông suốt trong quy trình quản lý đất nước của Nhà nước.

Việc xây dựng và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật về xóa đói, giảm nghèo cần được được xem xét trên cơ sở bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc Việt Nam có thể tham gia và phải có tính khả thi, phù hợp với văn hóa, xã hội và điều kiện kinh tế tại Việt Nam. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

  • Thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo phải được thực hiện một cách chính xác, công bằng, công khai và minh bạch

Pháp luật về xóa đói, giảm nghèo là cơ sở để thực hiện trong thực tế nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trên lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo. Điều này có nghĩa là khi một văn bản pháp luật có hiệu lực thi hành nó phải thể hiện được một cách chính xác, triệt để nội dung, tinh thần của pháp luật, thể hiện được tính khả thi trong thực tế. Để đảm bảo tính chính xác, triệt để trong việc thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo đòi hỏi các chủ thể trong mọi hoạt động của mình phải tuân theo những quy định của pháp luật, thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo pháp luật với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo.

Công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho mọi người dân cũng như toàn xã hội tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước. Với việc công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, người dân sẽ dễ dàng ý thức được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật, đồng thời cũng đòi hỏi cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước thực hiện các quy định của pháp luật.

Trong công tác Xóa đói, giảm nghèo, công khai, minh bạch sẽ làm cho các công chức nhà nước có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách công vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định. Bởi vì, mọi hành vi vi phạm, phiền hà sách nhiễu hay lợi dụng chức trách tư lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý. Để công khai theo đúng nghĩa thì cần có những hình thức nhất định và cụ thể. Mục đích và yêu cầu của các hình thức ấy phải đảm bảo thông tin “không giấu diếm, bí mật mà cho mọi người cùng biết”, thực hiện thông qua nhiều hình thức, đặc biệt là hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

  • Phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm pháp luật về xóa đói, giảm nghèo

Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều có ảnh hưởng không tốt đến quá trình thực hiện những quy định của pháp luật về điều chỉnh các quan hệ xã hội trên lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo. Nó gây ra những tổn thất cho xã hội, xâm phạm sở hữu Nhà nước và công dân như là lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng vị trí, chức năng công tác có hành vi vi phạm pháp luật để trục lợi cá nhân, thực hiện hành vi tham nhũng, gây lãng phí, thất thoát ngân sách nhà nước. Với những hành vi vi phạm pháp luật như trên cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Những khiếu nại, tố cáo các vấn đề có liên quan đến xóa đói, giảm nghèo phải được cấp có thẩm quyền xem xét và giải quyết nhanh chóng, đúng đắn theo quy định của pháp luật.

  • Thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo phải được kiểm tra, thanh tra và giám sát một cách thường xuyên

Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát là một hoạt động phải được tiến hành thường xuyên nhằm đánh giá việc thực hiện những quy định của pháp luật về xóa đói, giảm nghèo; xem xét các biện pháp hoạt động của các cấp, các ngành, cũng như phát hiện những hạn chế để từng bước củng cố bộ máy quản lý, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phương pháp hoạt động để nâng cao hiệu quả trong thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo. Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát giúp cho chủ thể quản lý thấy được những điểm chưa phù hợp, thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật, khắc phục được các kẽ hở của pháp luật để ngăn ngừa mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật.

1.2.3. Chủ thể thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Pháp luật về xóa đói, giảm nghèo khi được tổ chức thực hiện cần có sự chung tay thực hiện của nhiều cấp, nhiều ngành ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì thế các chủ thể tham gia vào quá trình này rất phong phú, bao gồm các đối tượng của pháp luật xóa đói, giảm nghèo (người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, vùng nghèo), các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị – xã hội, nghiệp đoàn, hiệp hội, thậm chí là các nhà khoa học và các đối tượng khác trong xã hội.

Các cơ quan nhà nước, các bộ, ban, ngành có vai trò đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành công tác Xóa đói, giảm nghèo thống nhất từ trung ương tới địa phương nhằm thực hiện tốt mục tiêu Xóa đói, giảm nghèo đã đề ra. Trên cơ sở mục tiêu đó, các địa phương tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng mà chủ động, sáng tạo huy động nguồn lực và các giải pháp phù hợp.

Các tổ chức chính trị, xã hội có trách nhiệm tham gia thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là việc hỗ trợ người nghèo về vật chất, tinh thần nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nghèo: các hoạt động từ thiện, tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách…

Người nghèo vừa là đối tượng, vừa là chủ thể tham gia trực tiếp và thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo, họ thực hiện các quy định pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo như: pháp luật về đất đai, hỗ trợ nhà ở, y tế, giáo dục… nhằm nâng cao mức sống của bản thân, quá trình này là cách để kiểm nghiệm tính đúng đắn của pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo.

1.2.4. Nội dung thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo

  • Tổ chức bộ máy và phân công, phối hợp thực hiện

Ở cấp trung ương, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTB và XH) là cơ quan chủ trì trực tiếp thực hiện, đưa pháp luật xóa đói, giảm nghèo vào thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, tổ chức, quản lý, điều hành phối hợp với các bộ ngành liên quan như: Bộ Kế hoạch Đầu tư (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Bộ Tài Chính, Bộ NN và PTNT (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), Ủy ban Dân tộc, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Y tế… nghiên cứu, xây dựng các chính sách Xóa đói, giảm nghèo phù hợp. Các cơ quan này cùng với một số đoàn thể quần chúng (MTTQ, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân) đều có đại diện tham gia Ban chỉ đạo Chương trình Xóa đói, giảm nghèo quốc gia do Phó Thủ tướng chịu trách nhiệm, giúp Chính phủ chỉ đạo, điều phối và giám sát thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

  • Sơ đồ 1.1. Cơ quan nhà nước thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo

Ở địa phương, Sở LĐTB và XH có trách nhiệm chủ trì và phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan tham mưu, đề xuất cho Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh xây dựng kế hoạch hàng năm, tổ chức triển khai, theo dõi, giám sát định kỳ, báo cáo sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình Xóa đói, giảm nghèo.

UBND huyện có trách nhiệm huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện các chỉ tiêu của chương trình Xóa đói, giảm nghèo theo sự chỉ đạo của tỉnh và hướng dẫn chuyên môn của các sở, ngành. Xác định rõ mục tiêu Xóa đói, giảm nghèo để giao chỉ tiêu cho từng thôn, xã, tổ tự quản tổ chức thực hiện.

UBND tỉnh, huyện, xã tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết và xây dựng kế hoạch Xóa đói, giảm nghèo hàng năm của địa phương mình.

Các tổ chức chính trị – xã hội: Ban chỉ đạo chương trình Xóa đói, giảm nghèo tỉnh tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch phối hợp chặt chẽ với Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể khác trong việc tuyên truyền, vận động thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo tại địa phương.

Người nghèo có trách nhiệm tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Xóa đói, giảm nghèo, nỗ lực học tập, nâng cao trình độ để tham gia quản lý nhà nước, xã hội, góp phần tích cực vào công cuộc Xóa đói, giảm nghèo.

  • Xây dựng kế hoạch

Kế hoạch triển khai thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo được xây dựng trước khi đưa pháp luật vào đời sống xã hội. Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan có trách nhiệm triển khai thực hiện pháp luật từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng các kế hoạch triển khai thực hiện. Kế hoạch triển khai thực hiện pháp luật xóa đói, giảm nghèo bao gồm những nội dung cơ bản như: kế hoạch về tổ chức, điều hành; kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực; kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo; dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành…

Kế hoạch thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo ở cấp nào sẽ do cơ quan chủ trì của cấp đó xây dựng. Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực hiện pháp luật sẽ mang giá trị pháp lý, được các chủ thể triển khai thực hiện pháp luật và cả đối tượng của pháp luật điều chỉnh. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

  • Phổ biến tuyên truyền pháp luật

Sau khi kế hoạch tổ chức thực hiện pháp luật xóa đói, giảm nghèo được thông qua, các cơ quan nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch. Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện pháp luật xóa đói, giảm nghèo. Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực hiện pháp luật. Phổ biến, tuyên truyền pháp luật tốt giúp cho các đối tượng và mọi người dân hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn và khả thi của pháp luật… trong điều kiện hoàn cảnh nhất định để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước. Đồng thời phổ biến, tuyên truyền pháp luật còn giúp mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện, nhận thức được đầy đủ tính chất, quy mô của pháp luật cũng như vai trò của pháp luật về xóa đói, giảm nghèo đối với đời sống xã hội để họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu của pháp luật và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện pháp luật.

Phổ biến, tuyên truyền, vận động thực hiện pháp luật xóa đói, giảm nghèo cần thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi pháp luật đang được thực hiện, để mọi đối tượng cần tuyên truyền luôn được củng cố lòng tin vào pháp luật và tích cực tham gia vào thực hiện pháp luật. Phổ biến, tuyên truyền pháp luật bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng là người nghèo, hộ nghèo; qua các phương tiện thông tin đại chúng… Tùy theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của pháp luật và điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn hình thức tuyên tuyền, vận động phù hợp với điều kiện hiện có của cơ quan, đơn vị mình.

  • Kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện

Công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một hoạt động phải được tiến hành thường xuyên nhằm rà soát, đánh giá những quy định, những biện pháp hoạt động của các cấp, các ngành, các cơ quan trong quá trình thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo để tìm ra những ưu điểm cũng như thiếu sót, hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo, hoàn thiện hệ thống pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo, đổi mới các giải pháp trong hoạt động Xóa đói, giảm nghèo.

Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát để phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý những biểu hiện vi phạm pháp luật liên quan tới việc quản lý nhà nước về Xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm lợi ích Nhà nước, xã hội và công dân; bảo đảm cho pháp luật Xóa đói, giảm nghèo được tuân thủ chính xác. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

  • Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật

Khiếu nại, tố cáo vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân, trong đó có người dân nghèo; là phương thức quan trọng để người dân tham gia vào quản lý nhà nước, kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước của cơ quan nhà nước và những người được trao quyền. Do vậy, công tác phổ biến pháp luật đối với người dân nghèo cần được quan tâm, chú trọng để họ hiểu, biết được các quyền và nghĩa vụ của mình, góp phần quan trọng trong việc thiết lập trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính nhà nước. Giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo giúp người dân nghèo bảo vệ quyền và lợi ích của mình, đồng thời giúp cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong công tác Xóa đói, giảm nghèo.

Giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước, những người có thẩm quyền giải quyết phải nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ, đúng đắn các quy định của pháp luật. Thông qua quá trình này để tạo cơ sở giải quyết những kẽ hở của pháp luật, sự mẫu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong thực tiễn; làm giảm tình trạng tham nhũng, quan liêu; phát hiện những mặt tích cực để biểu dương, khuyến khích đồng thời phát hiện những sai phạm, yếu kém để chấn chỉnh, xử lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đảm bảo cho pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo được thực thi có hiệu quả trong thực tiễn.

  • Đánh giá việc thực hiện

Đánh giá quá trình thực hiện pháp luật xóa đói, giảm nghèo nhằm xác định hiệu lực, kết quả, hiệu quả của pháp luật, so sánh, đối chiếu với những mục tiêu đã đặt ra của pháp luật.

Khi đánh giá quá trình thực hiện pháp luật xóa đói, giảm nghèo cần tập trung vào những nội dung như: kế hoạch triển khai thực hiện có được ban hành kịp thời, đầy đủ và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của thực tiễn; việc phổ biến tuyên truyền về pháp luật có mang lại kết quả và hiệu quả, có làm cho các đối tượng được phổ biến, tuyên truyền nhận thức sâu sắc được về pháp luật và tích cực, chủ động tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật; công tác phân công, phân cấp giữa các ngành, các cấp trong quá trình thực hiện pháp luật; các nguồn lực có được huy động và cung cấp đầy đủ cho quá trình thực hiện; các hoạt động kiểm tra, đánh giá có được thực hiện thường xuyên và phù hợp với các điều kiện khách quan, chủ quan trong quá trình thực hiện hay không; Kết quả và hiệu quả mà pháp luật xóa đói, giảm nghèo tạo ra cho xã hội là gì.

Để đánh giá được quá trình thực hiện pháp luật xóa đói, giảm nghèo được tiến hành dựa trên các tiêu chí cơ bản sau: Tính hiệu lực của văn bản; Kỹ năng tổ chức triển khai thực hiện của các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức; Khả năng huy động nguồn lực và hình thức huy động nguồn lực cho quá trình thực hiện pháp luật; Kết quả và hiệu quả của pháp luật khi được đưa vào thực tiễn đời sống.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

1.3.1. Nhận thức của hệ thống chính trị về xóa đói, giảm nghèo

Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là nhận thức của hệ thống chính trị, trong đó bao gồm: các chuẩn mực chính trị; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổ chức, thực hiện; các quan hệ chính trị, ý thức chính trị và hoạt động của hệ thống chính trị… đối với Xóa đói, giảm nghèo. Nếu nhận thức của hệ thống chính trị đối với Xóa đói, giảm nghèo chưa đúng đắn, thiếu đầy đủ, thờ ơ thì công tác Xóa đói, giảm nghèo sẽ gặp khó khăn vì không có cơ sở để tiếp tục thực hiện: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” là một yêu cầu để quản lý đất nước, là việc giữ gìn trật tự và kỷ cương xã hội. Việc nghiên cứu, đề ra các chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật là vai trò không thể thiếu của hệ thống chính trị đối với công tác Xóa đói, giảm nghèo, đây là khâu quan trọng để các cấp chính quyền cơ sở lấy làm kim chỉ nam trong nhận thức và hành động, tạo nên sự đồng thuận về công tác Xóa đói, giảm nghèo trong cả nước.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân, huy động được cả hệ thống chính trị để thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, phát triển sản xuất và đời sống người dân nghèo là việc cần làm ngay để xây dựng đất nước ngày càng phát triển.

1.3.2. Hệ thống pháp luật về xóa đói, giảm nghèo

Để phát huy tính hiệu quả của pháp luật Xóa đói, giảm nghèo trong thực tiễn đời sống thì hệ thống pháp luật phải được hoàn thiện, để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo cần được đánh giá dựa trên tiêu chí: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý.

Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực Xóa đói, giảm nghèo có thể biến chuyển hằng ngày trong thực tiễn, do đó đòi hỏi phải xây dựng được một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo chặt chẽ, trên những nguyên tắc nhất định, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, không trùng lặp, mâu thuẫn.

Có thể thấy nếu pháp luật về xóa đói giảm nghèo được ban hành đúng trình tự, thủ tục, nội dung điều chỉnh các quan hệ xã hội về Xóa đói, giảm nghèo đầy đủ và phù hợp với thực tiễn thì việc thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo sẽ diễn ra thuận lợi và đạt được hiệu quả cao. Ngược lại, nếu pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo, không phù hợp với việc các quan hệ xã hội trong Xóa đói, giảm nghèo phát sinh trên thực tế thì việc triển khai thực hiện sẽ khó khăn và kém hiệu quả.

1.3.3. Ý thức và trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

Cán bộ, công chức (CBCC) cũng là lực lượng chủ yếu có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật Xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo việc đưa pháp luật vào thực tiễn. Nếu Cán bộ, công chức hiểu biết pháp luật tốt, có ý thức tôn trọng và bảo vệ pháp luật thì hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội sẽ đạt hiệu quả cao. Ngược lại, nếu Cán bộ, công chức ý thức pháp luật kém thì sẽ có hành vi vi phạm pháp luật trong công tác xóa đói, giảm nghèo, gây tham nhũng, nhũng nhiễu. Ý thức pháp luật là sự phản ánh một cách tích cực và sáng tạo đời sống xã hội mà trực tiếp là đời sống pháp luật, thông qua ý thức pháp luật giúp con người tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với pháp luật.

1.3.4. Ý thức và trình độ của người dân nghèo

Trình độ, nhận thức của người dân nghèo còn hạn chế, trình độ dân trí thấp, tình trạng người dân không biết chữ, không thạo tiếng phổ thông còn phổ biến. Mặt khác, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán lạc hậu mà việc tuyên truyền chưa được hiệu quả, chưa phù hợp với thực tế và không thu hút được sự quan tâm của người dân.

Người dân nghèo đại đa số họ chưa biết được các quyền, lợi ích hợp pháp mà mình được hưởng; chưa biết cách tự bảo vệ khi quyền lợi bị xâm hại; cuộc sống gắn với sản xuất nông nghiệp và nông thôn với trình độ canh tác lạc hậu làm cho khả năng sinh lời và giá trị sản phẩm làm ra thấp… dẫn đến chất lượng cuộc sống không được đảm bảo, dễ bị lợi dụng, tình trạng nghèo đói vẫn tiếp diễn qua nhiều thế hệ. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

1.3.5. Các yếu tố khác

Địa hình Việt Nam đa dạng: đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa. Trong đó, đồi núi chiếm ¾ diện tích lãnh thổ, đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích trên đất liền và bị đồi núi ngăn cách thành nhiều khu vực. Đất đai dùng cho nông nghiệp chiếm chưa tới 20% mặc dù nước ta là nước nông nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo đói lại tập trung ở các vùng núi cao, địa hình có nhiều hiểm trở, phải chịu nhiều thiên tai, đất đai bị xói mòn làm cho năng suất cây trồng thấp.

Phần lớn hộ đói nghèo tập trung ở những địa bàn xa xôi, hẻo lánh, rừng sâu, núi cao, hệ thống hạ tầng cơ sở, nhất là giao thông chưa được đáp ứng đầy đủ, dẫn tới việc tiếp cận pháp luật của người dân, việc thông tin liên lạc giữa người dân và chính quyền gặp nhiều khó khăn, làm cho người dân nghèo không nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.

Văn hóa truyền thống dân tộc địa phương là yếu tố ảnh hưởng khá lớn đến công tác thực hiện pháp luật về Xóa đói, giảm nghèo. Lối tư duy, suy nghĩ của người dân nghèo phần lớn chịu ảnh hưởng của phương thức sản xuất nông nghiệp, văn hóa cộng đồng, tư duy “phép vua thua lệ làng” dẫn tới vai trò của cá nhân không được đề cao, không thúc đẩy phát huy được sự sáng tạo của mỗi cá nhân, dẫn đến thiếu ý thức trách nhiệm, làm theo đám đông, thiếu hiểu biết pháp luật.

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 Luận văn, tác giả đã phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo: Khái niệm xóa đói, giảm nghèo; pháp luật về xóa đói, giảm nghèo; thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo; Các nội dung cơ bản về thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo; Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo tại Việt Nam.

Các vấn đề lý luận cơ bản đã được làm sáng tỏ tại chương 1 là cơ sở, nền tảng để nghiên cứu về thực trạng thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo và nghiên cứu các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về xóa đói, giảm nghèo là những nội dung được trình bày trong các chương tiếp theo của Luận văn. Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang

One thought on “Luận văn: Pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Hà Giang

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về xóa đói giảm nghèo tại Hà Giang

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464