Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM
2.1.1. Thời kỳ trước khi có Luật Đất đai năm 1987
Năm 1980, Quốc hội đã ban hành bản Hiến pháp thứ 3 của nước CHXNCN Việt Nam. Bản Hiến pháp lần này đã khẳng định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa… là của Nhà nước – đều thuộc sở hữu toàn dân” [18]. Chính vì vậy ngay sau đó, vào ngày 01/07/1980 Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước: “Toàn bộ ruộng đất trong cả nước đều do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và kế hoạch chung nhằm đảm bảo ruộng đất sử dụng hợp lý, tiết kiệm và phát triển theo hướng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”.
2.1.2. Thời kỳ năm 1988 đến năm 1993
Trên tinh thần của Hiến pháp năm 1980 Luật Đất đai năm 1987 được ban hành, tiếp tục khẳng định lại đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Về việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại thì Luật Đất đai 1988 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, mà chỉ nêu phần nghĩa vụ của người sử dụng đất: “Đền bù thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của Pháp luật” [20].
- Năm 1992, bản Hiến pháp được ban hành thay thế cho các bản Hiến pháp trước đây. Hiến pháp quy định:
Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời… đều thuộc sở hữu toàn dân [19, Điều 17]; Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do AN, QP, lợi ích quốc gia mà Nhà nước trưng mua hay trưng dụng, có BT tài sản của cá nhân hay tổ chức theo giá trị thị trường [19, Điều 23].
2.1.3. Thời kỳ năm 1993 đến năm 2003 Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Hiến pháp năm 1992 đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất cụ thể:
- Tại Hiến pháp quy định về quyền sở hữu đối với đất đai: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời đều thuộc sở hữu toàn dân” [19, Điều 17].
- Tại Điều 18 Hiến pháp quy định về quyền quản lý của Nhà nước đối với đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm việc sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả; đồng thời quy định việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và có trách nhiệm, nghĩa vụ của người được Nhà nước giao cho sử dụng đất (tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi thường khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất do Nhà nước giao theo các quy định của pháp luật).
- Tại Điều 58 Hiến pháp quy định về quyền sử dụng cá nhân: “Công dân có quyền sở hữu thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”.
- Luật đất đai năm 1993 đã thể chế hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về đất đai thông qua việc giao đất, cho thuê đất, chế độ quản lý, sử dụng các loại đất, quản lý việc sử dụng đất đúng mục đích, xác định thời hạn giao đất, cho thuê đất, thẩm quyền thu hồi và giao, cho thuê đất; hạn mức sử dụng các loại đất và quy định các quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng đất.
Thông qua Luật Đất đai năm 1993 người sử dụng đất đã được làm chủ về ruộng đất, có các quyền và nghĩa vụ được xác lập cụ thể, đất đai được vận động theo cơ chế thị trường, việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn trở thành động lực to lớn phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển đô thị và thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Luật Đất đai năm 1993 thực sự là văn bản quan trọng đối với quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng và bồi thường đất đai, tài sản gắn liền với đất. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Luật Đất đai năm 1993 cũng như quy định việc Nhà nước xác định giá các loại đất để tính tiền khi giao đất, cho thuê đất và bồi thường thiệt hại khi thu hồi, theo khung giá do Chính phủ quy định. Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 02/12/1998 đã quy định quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất của người khác, cụ thể: Xác định rõ các quyền của người sử dụng đất khi được giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất nhưng không phải nộp tiền sử dụng đất và được cho thuê đất. Chuyển sang thuê đất nông nghiệp (không bị hạn chế về hạn điền) để tạo điều kiện phát triển các trang trại, thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, khai thác đất hoang hoá, đất trống đồi núi trọc và thông qua các quy định để đầu tư trong nước, Nhà nước có chính sách miễn giảm tiền thuê đất. Xử lý các tồn tại cũ mà các tổ chức đã được giao đất, đã nộp tiền sử dụng đất không phải chuyển sang thu đất để yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiều văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành đã đề cập đến những vấn đề có liên quan trực tiếp đến chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó có nhiều quy định, chế định đã và đang đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tế, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác quản lý, sử dụng đất đai đối với quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất cũng như lợi ích của Nhà nước sau thời kỳ đổi mới.
Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực tế cho thấy, sau khi Nhà nước thu hồi đất và thực hiện giải phóng mặt bằng, người bị ảnh hưởng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những người bị thu hồi hết đất sản xuất, phải chuyển sang ngành nghề khác. Theo Nghị định 22/1998/NĐ-CP giá đất do Nhà nước quy định để bồi thường thiệt hại về đất khác xa với giá thực tế. Với giá trị được bồi thường người có đất bị thu hồi không có khả năng tự lập nơi ở mới cũng như không có khả năng đầu tư để chuyển sang ngành nghề khác, để duy trì cuộc sống tối thiểu. Như vậy, dưới tác động của cơ chế thị trường cùng với số lượng dự án gia tăng công tác bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng trở lên khó khăn, phức tạp, thực tiễn đòi hỏi phải có sự thay đổi về mặt chính sách, cơ chế, năng lực thể chế trong công tác này.
2.1.4. Các quy định về bồi thường, hỗ trợ thực hiện theo Luật Đất đai năm 2003
Tại kỳ họp thứ tư Quốc Hội Khoá XI đã thông qua Luật Đất đai năm 2003, luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004. Luật Đất đai lần này vẫn dựa trên nền tảng đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Luật Đất đai năm 2003 có rất nhiều nội dung mới trong đó có vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như: Khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi dự án phải thu hồi đất. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Luật Đất đai năm 2003 đã mở rộng các quyền của người sử dụng đất, trong đó có quyền được nhận bồi thường khi nhà nước thu hồi đất. Luật Đất đai xác định rõ:
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này; và định nghĩa Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [22, Điều 4].
Luật Đất đai năm 2003 cũng đã quy định về việc bồi thường và tái định cư cho người bị thu hồi đất, theo đó những hộ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bị thu hồi đất sẽ được bồi thường. Các dự án trước khi thu hồi đất phải lập và thực hiện các dự án tái định cư để bồi thường cho người bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Giá đất bồi thường được hình thành theo 3 trường hợp sau:
- Do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định phải sát với giá trị trường, được công bố vào ngày mồng 1 tháng 1 hàng năm
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất
- Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê lại quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên thực tế giá bồi thường đất thường được áp dụng theo khung giá bồi thường của tỉnh, dựa vào khung giá đất của Chính phủ.
2.1.5. Các quy định về bồi thường, hỗ trợ theo Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản dưới Luật Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Luật Đất đai năm 2013
Luật Đất đai năm 2013 đã được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2013 và đã được Chủ tịch nước ký lệnh ban hành có hiệu lực từ ngày 01/7/2014; trong đó có nhiều nội dung mới về bồi thường và hỗ trợ người dân khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Mục 2 và Mục 3 thuộc Chương VI, bao gồm 21 điều từ Điều 74 đến Điều 94.
Thực hiện theo quy định của Luật Đất đai 2013, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi sẽ rõ ràng, bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai và kịp thời hơn so với trước đây (toàn bộ nội dung về bồi thường và hỗ trợ người dân khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2003 chỉ quy định tại 2 điều: Điều 42 và Điều 43). Luật Đất đai 2013 quy định cụ thể nguyên tắc bồi thường về đất như sau:
Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường (điều kiện để bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật).
Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật [23, Điều 42 và 43]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Đối với đất ở, Luật quy định: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với QSD đất tại Việt Nam mà có có Giấy chứng nhận QSD đất, Giấy chứng nhận QSH nhà ở và QSD đất ở, Giấy chứng nhận QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định mà chưa được cấp, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu là đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp thì được bồi thường về đất.
Đối với các loại đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp khác, Luật quy định: Ngoài việc được bồi thường về đất còn được bồi thường chi phí đầu tư vào đất (quy định tại các Điều 77, Điều 78, Điều 80 và Điều 81).
Đối với các loại đất được Nhà nước giao, cho thuê không thu tiền hoặc được miễn thu tiền giao đất, tiền thuê đất; đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất.
Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định rõ về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó, người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ. Các khoản hỗ trợ bao gồm: Tiền hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất đồng thời hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, trường hợp thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở; hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở và các hỗ trợ khác.
Đối với tài sản gắn liền với đất, cây trồng, vật nuôi là thủy sản bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, Luật Đất đai năm 2013 cũng đã quy định cụ thể việc bồi thường tại các Điều 88, Điều 89 và Điều 90. Khi các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh Nhà nước thu hồi đất mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ Ngày 15/5/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ- CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Theo đó, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở mà các trường hợp này đủ điều kiện theo quy định thì khi thu hồi hết đất ở (hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND tỉnh; hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn) sẽ được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư.
Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở nhưng còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền.
Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do UBND cấp tỉnh quy định.
Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Nghị định này cũng quy định dự án tái định cư được lập và phê duyệt phải độc lập với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nhưng phải đảm bảo có đất ở, nhà tái định cư trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất. Đồng thời, khu tái định cư phải được bố trí theo nhiều cấp nhà, mức diện tích khác nhau để phù hợp với các mức bồi thường và khả năng chi trả của người trong diện tái định cư. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Thông tư 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Ngày 30 tháng 6 năm 2014 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành thông tư số 37/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Theo đó, Thông tư hướng dẫn một số nội dung quan trọng như:
Việc xác định diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để tính hỗ trợ ổn định đời sống phải dựa trên từng quyết định thu hồi đất, không được cộng dồn diện tích đất bị thu hồi của các quyết định thu hồi trước đó.
Phần diện tích đất nông nghiệp còn lại sau khi phần đất có nhà ở bị thu hồi có thể được chuyển mục đích sử dụng sang đất ở để tái định cư nếu đủ điều kiện để tách thửa; Trường hợp không tách thửa được thì Nhà nước thu hồi hoặc người sử dụng tiếp tục sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch.
Người không là cán bộ, công chức, viên chức trong hộ gia đình có người là cán bộ, công chức, viên chức đang sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi đất được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo, thay đổi nghề nghiệp hoặc tìm việc làm mới.
Luật đất đai năm 2013 ra đời nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, khắc phục bất cập và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư, đồng thời nhằm giảm thiểu khiếu kiện trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, Luật Đất đai 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của pháp luật đất đai năm 2003, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của pháp luật Đất đai năm 2003, đưa chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong Nghị quyết 19/NQ-TW đi vào cuộc sống.
2.2 HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH ĐIỀU CHỈNH VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.2.1. Luật Đất đai năm 2013
Luật Đất đai năm 2013 đã được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2013 và đã được Chủ tịch nước ký lệnh ban hành có hiệu lực từ ngày 01/7/2014; trong đó có nhiều nội dung mới về bồi thường và hỗ trợ người dân khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Mục 2 và Mục 3 thuộc Chương VI, bao gồm 21 điều từ Điều 74 đến Điều 94. Nội dung quy định về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất, thảm quyền thu hồi đất; trình tự, thủ tục thu hồi đất; đơn vị tổ chức thực hiện thu hồi đất; quy định về bồi thường về đất, bồi thường về tài sản, quy định về tái định cư.
Thực hiện theo quy định của Luật Đất đai 2013, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi sẽ rõ ràng, bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai và kịp thời hơn so với trước đây.
2.2.2. Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ
Ngày 15/5/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Theo đó, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở mà các trường hợp này đủ điều kiện theo quy định thì khi thu hồi hết đất ở (hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND tỉnh; hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn) sẽ được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư.
Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở nhưng còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền.
Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do UBND cấp tỉnh quy định.
Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Nghị định này cũng quy định dự án tái định cư được lập và phê duyệt phải độc lập với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nhưng phải đảm bảo có đất ở, nhà tái định cư trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất. Đồng thời, khu tái định cư phải được bố trí theo nhiều cấp nhà, mức diện tích khác nhau để phù hợp với các mức bồi thường và khả năng chi trả của người trong diện tái định cư.
2.2.3. Thông tư 37/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Ngày 30 tháng 6 năm 2014 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành thông tư số 37/2014/TT-BTNMT Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Theo đó, Thông tư hướng dẫn một số nội dung quan trọng như:
Việc xác định diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để tính hỗ trợ ổn định đời sống phải dựa trên từng quyết định thu hồi đất, không được cộng dồn diện tích đất bị thu hồi của các quyết định thu hồi trước đó.
Phần diện tích đất nông nghiệp còn lại sau khi phần đất có nhà ở bị thu hồi có thể được chuyển mục đích sử dụng sang đất ở để tái định cư nếu đủ điều kiện để tách thửa; Trường hợp không tách thửa được thì Nhà nước thu hồi hoặc người sử dụng tiếp tục sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch.
Người không là cán bộ, công chức, viên chức trong hộ gia đình có người là cán bộ, công chức, viên chức đang sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi đất được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo, thay đổi nghề nghiệp hoặc tìm việc làm mới [6].
Luật đất đai năm 2013 ra đời nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, khắc phục bất cập và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư, đồng thời nhằm giảm thiểu khiếu kiện trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, Luật Đất đai 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của pháp luật đất đai năm 2003, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của pháp luật Đất đai năm 2003, đưa chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong Nghị quyết 19/NQ-TW đi vào cuộc sống. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.3 THỰC TRẠNG NỘI DUNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
2.3.1. Các quy định pháp luật Việt Nam về thu hồi đất
2.3.1.1. Các trường hợp thu hồi đất
Từ 12 trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 bổ sung trường hợp thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. Theo đó, việc thu hồi đất được chia thành 04 nhóm như sau:
Nhóm 1: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng , an ninh bao gồm những trường hợp cụ thể sau:
- Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc;
- Xây dựng căn cứ quân sự;
- Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng ga, cảng quân sự;
- Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí;
- Xây dựng cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý [23].
Nhóm 2: Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia , công cộng. Luật Đất đai năm 2013 thu hẹp hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia , công cộng. Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư ; dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận , quyết định đầu tư và một số trường hợp được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét thông qua chủ trương thu hồi đất, cụ thể:
- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
- Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận , quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:
Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia;
Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi , cấp nước , thoát nước , điện lực , thông tin liên lạc ; hệ thống dẫn , chứa xăng dầu , khí đốt; kho dự trƣ̃ quốc gia ; công trình thu gom, xử lý chất thải [23];
- Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:
Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước , tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; công trình di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;
Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;
Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;
Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;
Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản.
Nhóm 3: Thu hồi đất do vi phạm pháp luật; đặc biệt đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng. Luật Đất đai năm 2013 quy định chế tài mạnh để xƣ̉ lý đối với các trường hợp này cụ thể:
- Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;
- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
- Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
- Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;
- Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;
- Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm; Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;
- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;
Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.
Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
- Nhóm 4: Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, cụ thể:
Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;
- Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
- Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;
- Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người;
- Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.
Việc thu hồi đất theo quy định tại khoản 1 Điều này phải dựa trên các căn cứ sau đây:
- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã có hiệu lực pháp luật đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Giấy chứng tử hoặc quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác nhận không có người thừa kế của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người để thừa kế đã chết đó đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
- Văn bản trả lại đất của người sử dụng đất đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;
- Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này;
- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định mức độ ô nhiễm môi trường, sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người đối với trường hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều này [23].
2.3.1.2. Thẩm quyền thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2013 có sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất so với quy định trước đây để cải cách hành chính khi thực hiện các dự án, trong đó quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện thu hồi đối với trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất. Đây là lần đầu tiên trong Luật Đất đai có quy định UBND cấp tỉnh được ủy quyền cho UBND cấp huyện thực hiện thu hồi đất, cụ thể như sau:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.
2.3.1.3. Thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất
Luật đã quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc thông báo thu hồi đất: Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.
Đồng thời, Luật cũng quy định: Người có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất.
2.3.1.4. Về trình tự, thủ tục thu hồi đất
Đây là nội dung rất quan trọng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, dân chủ trong thực hiện thu hồi đất. Tại Điều 69 của Luật Đất đai đã quy định cụ thể các bước công việc như: Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Việc lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.
Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền;
Cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:
Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày;
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;
Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt;
Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện.
Trường hợp người có đất thu hồi đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 của Luật này.
- Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm quản lý đất đã được giải phóng mặt bằng.
Trong các bước công việc này, người sử dụng đất được tiếp cận thông tin bằng nhiều hình thức (gửi đến từng người có đất thu hồi, họp trực tiếp, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư…) về thông báo thu hồi đất, kế hoạch thu hồi đất; tham gia góp ý kiến cụ thể về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
2.3.1.5. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng
Luật Đất đai năm 2013 quy định có 02 tổ chức có chức năng thực hiện nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đó là tổ chức dịch vụ công về đất đai và Hội đồng bồi thường, tái định cư. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.3.1.6. Quy định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc
Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc, thực hiện cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc; điều kiện tiến hành cưỡng chế, kiểm đếm bắt buộc; thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế kiểm đếm; trình tự thủ tục tiến hành cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc, cụ thể như sau:
Nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc
- Việc cưỡng chế phải tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, bảo đảm trật tự, an toàn, đúng quy định của pháp luật;
- Thời điểm bắt đầu tiến hành cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính.
Cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định kiểm đếm bắt buộc sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;
- Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, tại địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;
- Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc đã có hiệu lực thi hành;
- Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành.
Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.
- Trình tự, thủ tục thực hiện quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc được quy định như sau:
Tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế;
Trường hợp người bị cưỡng chế chấp hành quyết định cưỡng chế thì tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành và thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.
Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định cưỡng chế [23, Điều 70].
2.3.1.7. Quy định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất
Điều 71 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất cụ thể như sau:
- Nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 70 của Luật này.
- Điều kiện thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất.
Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục; Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành; Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.
Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản.
- Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất:
Trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế; Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.
Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế;
Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.
Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản.
- Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất:
Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cưỡng chế theo quy định của pháp luật về khiếu nại; thực hiện phương án tái định cư trước khi thực hiện cưỡng chế; bảo đảm điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc cưỡng chế; bố trí kinh phí cưỡng chế thu hồi đất;
Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm chủ trì lập phương án cưỡng chế và dự toán kinh phí cho hoạt động cưỡng chế trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện cưỡng chế theo phương án đã được phê duyệt ; bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;
Trường hợp trên đất thu hồi có tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải bảo quản tài sản; chi phí bảo quản tài sản đó do chủ sở hữu chịu trách nhiệm thanh toán;
Lực lượng Công an có trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất;
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm yết công khai quyết định cưỡng chế thu hồi đất; tham gia thực hiện cưỡng chế; phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng niêm phong, di chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất;
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp với Ban thực hiện cưỡng chế thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất khi Ban thực hiện cưỡng chế có yêu cầu [23].
2.3.2. Các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Luật Đất đai năm 2003 đã có những bước tiến trong việc bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi. Tuy nhiên, đây vẫn là một trong những vấn đề nổi cộm, làm chậm tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến môi trường và hiệu quả đầu tư, gây khiếu kiện kéo dài trong thời gian qua.
Để khắc phục những bất cập trên, Luật Đất đai năm 2013 đã có những điểm đổi mới rất quan trọng từ nguyên tắc bồi thường về đất, cho đến việc chi trả bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
2.3.2.1. Quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Các chế định bồi thường về đất , hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2003 trên thực tế đã không thể thể chế, truyền tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất , bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành. Khắc phục hạn chế này , Luật Đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt. Trong đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện.
Cụ thể nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể như sau:
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
- Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.
Trong đó, Luật bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 75, cụ thể: (i) Bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; (ii) trường hợp cơ sở tôn giáo , cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Thể chế hóa cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: Đất nông nghiệp, đất ở, đất phi nông nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng sử dụng đất
Trong đó, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 việc xác định mức bồi thường cho người có đất thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó , trƣ̀ trường hợp đất nông nghiệp có nguồn gốc do Nhà nước giao đất đối với hộ gia đình, cá nhân.
Đối với người dân mất đất nông nghiệp, đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ, UBND cấp tỉnh phải có phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho người dân. Với những người dân bị thu hồi đất, mục tiêu an sinh phải đặt lên cao nhất. Việc bồi thường bằng tiền được xác định theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND câp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi.
2.3.2.2. Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, cho một số trường hợp không được bồi thường về đất
Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm:
- Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54;
- Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;
- Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng; Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;
- Đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.
2.3.2.3. Quy định cụ thể trường hợp bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 76).
Các trường hợp không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:
- Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật này;
- Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;
- Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;
- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;
- Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.
2.3.2.4. Quy định cụ thể trường hợp được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân (Điều 77)
Theo đó hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với: Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế;diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này.
2.3.2.5. Quy định về bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo
Tổ chức kinh tế đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất; mức bồi thường về đất được xác định theo thời hạn sử dụng đất còn lại.
Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại nếu chi phí này không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Trường hợp đất nông nghiệp không phải là đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên của tổ chức kinh tế đã giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất thì hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ.
2.3.2.6. Quy định cụ thể các trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Theo đó hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
- Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
- Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
- Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.
- Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất.
2.3.2.7. Quy định cụ thể trường hợp bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo thời hạn sử dụng đất còn lại đối với đất sử dụng có thời hạn.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng.
2.3.2.8. Quy định cụ thể trường hợp bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, đất nghĩa trang, nghĩa địa, khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo thời hạn sử dụng đất còn lại.
Tổ chức kinh tế đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất để làm nghĩa trang, nghĩa địa quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật này; doanh nghiệp liên doanh sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở do nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất quy định tại Điều 184 của Luật này, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ.
Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất phi nông nghiệp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, khi Nhà nước thu hồi đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất theo thời hạn sử dụng đất còn lại.
Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất phi nông nghiệp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất phi nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ.
2.3.2.9. Quy định cụ thể trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất
- Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;
- Đất được Nhà nước giao để quản lý;
- Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;
- Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này.
2.3.3. Các quy định pháp luật Việt Nam về hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.3.3.1. Về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
- Trong Luật Đất đai năm 2013 quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất như sau:
Quy định về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất (khoản 1 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013): (i) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; (ii) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật [23, Điều 83, khoản 1].
2.3.3.2. Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm.
Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh.
Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở như sau: Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm.
2.3.3.3. Về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Nhằm khắc phục tình trạng một số khu tái định cư chất lượng còn thấp, không đồng bộ về hạ tầng, chưa đảm bảo có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, Luật Đất đai năm 2013 đã có những quy định mới như sau:
Bổ sung quy định cụ thể về lập và thực hiện dự án tái định cư theo hướng: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất. Quy định khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền. Quy định việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư
- Sửa đổi và bổ sung quy định về bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở:
Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.
Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Quy định trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu. Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương.
2.3.3.4. Về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi. Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả. Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước.
2.3.4. Thực trạng quy định pháp luật về cơ chế đảm bảo thực hiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam
Đã từ lâu ở nước ta, để giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai, Nhà nước xác lập con đường giải quyết hành chính, theo đó người sử dụng đất thực hiện quyền khiếu nại và được giải quyết theo thủ tục hành chính do pháp luật về đất đai và pháp luật về khiếu nại quy định. Từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1995 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 ra đời và có hiệu lực thi hành, tranh chấp hành chính về đất đai là một trong 8 loại việc được Tòa án nhân dân giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính. Sự kiện này có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Đây là con đường tư pháp giải quyết tranh chấp hành chính với ưu thế riêng được thừa nhận chung, có ý nghĩa bổ sung cho khiếu nại theo con đường hành chính và hoàn toàn phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đồng thời, đó cũng là một phương thức hữu hiệu bảo đảm vận hành bộ máy hành chính nhà nước trong sạch và có được tính hợp pháp, hiệu quả. Kể từ đó tới nay, pháp luật giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai liên tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Quốc hội đã ban hành Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Đất đai năm 2013; Chính phủ, Tòa án nhân tối cao, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành. Về cơ bản, các văn bản pháp luật đã bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và khả thi, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai.
- Luật Đất đai năm 2013 đã quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai cụ thể:
Luật Đất đai đã quy định cụ thể các trường hợp tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do tòa án nhân dân giải quyết giải quyết
Trường hợp tranh chấp đất đai mà các bên đương sự không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai thì đương sự chỉ có thể lựa chon một trong hai hình thức đó là nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng.
Quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, cơ chế bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của kết quả giải quyết tranh chấp.
2.4 ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Thu hồi đất để chuyển sang các mục đích khác đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế – xã hội phát triển theo hướng văn minh, hiện đại hơn đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH đất nước. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân có đất bị thu hồi đã dần được hoàn thiện theo hướng đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người dân, đảm bảo ổn định đời sống và công bằng xã hội. Nhưng bên cạnh đó cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, cần tiếp cận quyền sử dụng đất như một quyền về tài sản, không phân biệt thu hồi đất để sử dụng vào mục đích nào và có tính đến những thiệt hại không chỉ vật chất mà còn tinh thần, không chỉ hiện tại mà còn tương lai của các thế hệ sau này. Vấn đề Nhà nước thu hồi đất để có đất phục vụ công nghiệp hóa và đô thị hóa, giải quyết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần được xem xét không chỉ liên quan tới giá trị tài sản mà còn nhiều chiều khác cần được cân nhắc. Nếu là quan hệ chuyển nhượng đất đai tự nguyện thì vấn đề duy nhất cần đặt ra là giá trị thỏa thuận giữa 2 bên. Cơ chế Nhà nước thu hồi đất hiện nay có bản chất là sự chuyển nhượng bắt buộc, khi bên có đất không muốn mất đất do gắn với sinh kế, kể cả sự ổn định gia đình, tập quán, tâm linh, v.v. Nói chung, người sử dụng đất có xu hướng không muốn mất đất, mặc dù giá trị bồi thường, hỗ trợ có thể đã ngang giá trị thị trường. Vì vậy, cơ chế Nhà nước thu hồi đất cần được nghiên cứu, xem xét theo cách tiếp cận đa chiều gồm: bảo đảm an ninh chính trị, bảo đảm đồng thuận xã hội, bảo đảm công bằng lợi ích kinh tế, bảo đảm văn minh về văn hóa và bảo đảm tính nhân văn trong bảo vệ quyền của con người. Trong nhiều trường hợp người ta còn quan tâm tới cách tiếp cận môi trường. Thông thường, ô nhiễm môi trường do sử dụng đất tác động không chỉ những người bị thu hồi đất mà tác động chung vào mọi cư dân nơi có dự án đầu tư sử dụng đất.
2.4.1. Về thu hồi đất
2.4.1.1. Ưu điểm
Các trường hợp thu hồi đất đã được thu hẹp, giới hạn phạm vi áp dụng. Trong trường hợp sử dụng đất vào mục đích phát triển kinh tế thì chỉ những dự án kinh tế lớn, có tác động đến kinh tế – xã hội của địa phương mới được áp dụng cơ chế thu hồi đất. Việc giới hạn phạm vi áp dụng đã góp phần thúc đẩy các quan hệ đất đai vận động theo cơ chế thị trường. Khi thực hiện theo cơ chế thu hồi đất, nếu giải quyết hợp lý vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất thì có thể rút ngắn thời gian thực hiện vì được sự trợ giúp của các chính quyền địa phương. Khi áp dụng cơ chế Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết vì các mục đích công không sinh lợi mà bồi thường thỏa đáng về giá trị tài sản (gồm cả quyền sử dụng đất) thì thường không xẩy ra các chuyện phức tạp về tất cả các chiều tiếp cận (chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, nhân văn). Sự cần thiết của tiếp cận đa chiều chỉ đặt ra khi cơ chế Nhà nước thu hồi đất cho các trường hợp có sinh lợi cho nhà đầu tư ở các mức độ khác nhau.
2.4.1.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Việc thực hiện thu hồi đất thường thiếu khách quan từ phía các cơ quan hành chính do tâm lý muốn ưu tiên phát triển kinh tế, hay thiên vị nhà đầu tư dẫn đến giải quyết không thỏa đáng quyền lợi của người bị thu hồi đất. Trong nhiều trường hợp, cơ chế này có thể gắn với các nguy cơ tham nhũng. Sự thiếu khách quan do bất kỳ lý do nào cũng làm cho bài toán công bằng về lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia (nhà đầu tư, Nhà nước, người đang sử dụng đất) không thể giải quyết hợp lý.
Đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan hành chính nên phải tăng nhân lực của bộ máy hành chính và tăng chi phí hành chính, dễ phát sinh tham nhũng, cán bộ quản lý dễ gắn quyền lợi riêng của mình vào quyết định phân chia lợi ích của các bên tham gia.
Chưa có sự tham gia của hệ thống định giá bất động sản theo giá thị trường trong quá trình triển khai, từ đây dễ dẫn tới tình trạng khó giải quyết các bất đồng ý kiến về giá đất và tài sản trên đất. Đây cũng chính là một nguyên nhân chính gây ra bất công bằng trong thụ hưởng lợi ích từ dự án đầu tư.
Do thường không giải quyết thỏa đáng giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nên số lượng khiếu kiện của người bị thu hồi ngày càng tăng, gây mất ổn định xã hội. Những khiếu kiện dài ngày trên diện rộng có thể ảnh hưởng đáng kể tới an ninh chính trị.
Thẩm quyền thu hồi đất đã phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, trong đó có nhiều dự án thu hồi diện tích lớn, thu hồi đất trồng lúa, đất rừng để chuyển sang đất phi nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của nhiều hộ dân nhưng việc thực hiện còn thiếu cân nhắc, tính toán, trong khi việc kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên còn thiếu chặt chẽ. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc không bảo đảm tính nhân văn trong bảo vệ quyền con người, không chỉ là quyền đối với tài sản, mà còn cả quyền có việc làm, quyền có lương thực, thực phẩm.
Cơ chế Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để giao cho nhà đầu tư gắn với lợi ích kinh tế luôn chứng tỏ tính thiếu văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng tới tính văn hóa của cơ chế quản lý đất đai.
2.4.2. Về bồi thường Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.4.2.1. Ưu điểm
- Đã phân định một bước giữa bồi thường và hỗ trợ, trong đó cơ chế bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất bị thu hồi đã bước đầu có sự điều tiết về lợi ích giữa người bị thu hồi đất, Nhà nước và nhà đầu tư.
- Ngày càng bảo đảm được tính dân chủ, minh bạch, rõ ràng ngay từ khâu đầu trong quá trình thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và thực hiện dự án đầu tư.
- Trình tự, thủ tục về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư từng bước được cải cách, rút gọn. Năm 2009, lần đầu tiên đã lồng ghép việc thực hiện các thủ tục hành chính trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất với thủ tục lập, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; thủ tục phê duyệt dự án đầu tư. Do vậy, so với trước đây, đã rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục khoảng từ 1/3 đến 1/2 thời gian thực hiện.
- Nguồn kinh phí chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất đã xác định rõ hơn, cụ thể là do ngân sách nhà nước chi trả; trong trường hợp nhà đầu tư ứng vốn chi trả thì sẽ được ngân sách nhà nước hoàn trả toàn bộ trên cơ sở bù trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà nhà đầu tư phải nộp để được sử dụng đất.
2.4.2.2. Hạn chế
Mặc dù đã có một bước phân biệt giữa bồi thường và hỗ trợ nhưng sự phân biệt đó vẫn chưa thực sự phù hợp với thực tế. Việc định giá đất nông nghiệp theo phương pháp thu nhập làm cho giá đất nông nghiệp trong đô thị thấp hơn rất nhiều so với giá trên thị trường, pháp luật quy định một khoản hỗ trợ khá cao cho đất nông nghiệp là đất vườn ao và đất nông nghiệp trong khu dân cư mà bản chất đây là khoản bồi thường theo giá đất phù hợp thị trường. Khi thu hồi đất nông nghiệp, người nông dân phải được bồi thường thiệt hại do mất việc làm, mất sinh kế nhưng pháp luật lại chỉ tính hỗ trợ trong một thời gian nhất định. Cần một bước đổi mới tiếp theo để mọi thiệt hại của người mất đất đều được bồi thường, hỗ trợ chỉ là khoản trợ giúp thêm ngoài những thiệt hại đã được xác định.
Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm.
Tình trạng không thống nhất về cơ chế Nhà nước thu hồi đất và thực hiện bồi thường, hỗ trợ giữa các dự án đầu tư có nguồn vốn trong nước và dự án từ vốn vay của các tổ chức nước ngoài (ADB, WB, v.v.).
Tình trạng một số người bị thu hồi đất không hợp tác để thực hiện đo đạc, kiểm đếm để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi có quyết định thu hồi đất. Nhiều trường hợp còn xây dựng công trình tạm, trồng cây lâu năm để đòi bồi thường, hỗ trợ nhiều hơn. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Việc cập nhật biến động, chỉnh lý tài liệu bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính thực hiện không đồng bộ và triệt để, đo đạc xong không triển khai ngay việc cấp Giấy CNQSDĐ trong khi việc sử dụng đất thường xuyên có biến động đã gây khó khăn cho công tác kiểm đếm để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phần lớn các địa phương chưa đo tách riêng cho từng loại đất, có địa phương chỉ đạo viết gộp chung và mang ký hiệu của loại đất ở, có địa phương tạm trừ mỗi hộ 200-400m2 đất ở còn lại tính vào đất vườn. Từ đó dẫn đến giá đất theo loại đất khác nhau, áp giá bồi thường khác nhau, gây nên khiếu kiện trong quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng.
- Về giá đất:
Có sự chênh lệch lớn về giá đất tại các khu vực giáp ranh giữa các địa phương (Ví dụ: giá đất tại khu vực giáp ranh giữa thành phố Hà Nội với các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc chênh lệch từ 100 – 716%.).
Công tác xác định giá đất cụ thể để làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ tái định cư còn nhiều bất cập, cán bộ định giá đất còn thiếu và yếu đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác xác định giá đất để tính bồi thường.
Về tổ chức thực hiện công tác định giá đất còn chồng chéo và không thống nhất phân công thực hiện giữa ngành tài nguyên môi trường và ngành tài chính từ Trung ương đến địa phương; đội ngũ cán bộ làm công tác định giá đất ở địa phương phần lớn là các cán bộ kiêm nhiệm nhiều công việc, chưa được đào tạo và bồi dưỡng để nắm chuyên sâu về công tác định giá đất; chưa giao cho đơn vị sự nghiệp hoặc thành lập tổ chức chuyên môn hóa để thực hiện định giá đất; chưa quy định việc sử dụng tư vấn giá đất, giải quyết khiếu nại về giá đất.
- Cơ chế xác định giá đất tính tiền bồi thường Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Trước Luật Đất đai 2013, việc xác định giá đất tính tiền bồi thường thực hiện theo Điều 9 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006, Điều 11 Nghị định số 69/2009/NĐ- CP của Chính phủ. Theo đó, giá đất tính tiền bồi thường là giá đất do Nhà nước quy định (UBND cấp tỉnh quy định trong bảng giá) theo mục đích sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; trường hợp giá này chưa sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh sẽ quyết định giá đất tính tiền bồi thường cho phù hợp. Sau đó, Luật Đất đai 2013 quy định giá đất tính tiền bồi thường là giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định đối với từng trường hợp mà không dựa vào giá đất trong bảng giá như trước đây (Điều 114).
Như vậy, từ Luật Đất đai 2003 đến nay, giá đất tính tiền bồi thường đều là giá của Nhà nước, dù cơ chế hình thành có khác nhau qua từng giai đoạn. Mặc dù các quy định nói trên đã “cố gắng” tạo điều kiện cho giá đất bồi thường “sát” với giá thị trường nhưng chắc chắn giá đất này sẽ bị chi phối bởi ý chí chủ quan của Nhà nước do người quyết định cuối cùng là “Chủ tịch UBND cấp tỉnh” nơi có đất. Ý chí chủ quan này lại chịu sự chi phối bởi địa vị, quyền lực nhà nước trong quan hệ đất đai. Xu hướng phổ biến là cơ quan nhà nước sẽ quyết định mức giá bồi thường thấp hơn giá thị trường thực sự. Hậu quả là lợi ích của người bị thu hồi đất khó mà được đảm bảo sòng phẳng. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều công trình hạ tầng của Nhà nước và các dự án đầu tư khác không thể thực hiện đúng tiến độ do người có đất bị thu hồi không thể chấp nhận được mức giá đất bồi thường mà cơ quan Nhà nước đưa ra.
Vì vậy, để tránh tình trạng trên tiếp diễn, việc xác định giá đất bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất không nên “độc quyền” thuộc về Nhà nước nữa. Giá đất này phải hình thành trên cơ sở thương lượng giữa hai bên, có sự tham khảo thực tế và giá đất đưa ra của các tổ chức dịch vụ về tư vấn giá đất. Điều này hiện nay đã có thể thực hiện được bởi cơ chế pháp lý đầy đủ cho các tổ chức trung gian này hình thành và hoạt động đã được quy định.
Tóm lại, trong điều kiện kinh tế thị trường, chúng ta không nên nhầm lẫn thu hồi đất chỉ là một công cụ hành chính thuần túy, mà phải nhận thấy được nó còn là một công cụ kinh tế quan trọng của chủ sở hữu Nhà nước. Sử dụng công cụ thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế – xã hội một cách rộng rãi không có nghĩa là “lạm dụng” quyền lực nhà nước gây tổn hại đến quyền tài sản của NSDĐ. Lợi ích của người bị thu hồi đất là lợi ích riêng của từng chủ thể sử dụng đất, nhưng phát triển bền vững kinh tế – xã hội chính lại là lợi ích chung của xã hội. Chỉ khi nào Nhà nước có quy định phù hợp và vận dụng tốt công cụ thu hồi đất cho phát triển kinh tế – xã hội thì hai lợi ích này mới có thể hài hòa được.
2.4.3. Về hỗ trợ
2.4.3.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Thực hiện quy định về hỗ trợ đầy đủ cho người bị thu hồi đất để ổn định đời sống, chuyển đổi việc làm, bù đắp thiệt hại về thu nhập. Cơ chế hỗ trợ đã bước đầu có sự điều tiết về lợi ích giữa người bị thu hồi đất, Nhà nước và nhà đầu tư; đặc biệt đã có chính sách ưu tiên hỗ trợ đối với các trường hợp thu hồi đất nông nghiệp, đất ở.
Việc lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp đối với các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã trở thành quy định bắt buộc.
Chính phủ đã có một số quy định cụ thể về mức hỗ trợ cho từng nhóm trường hợp và giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thêm một số hỗ trợ khác trong những trường hợp cần thiết. Đây là một quy định có tính chất “mở”, góp phần tháo gỡ cho các địa phương trong việc vận dụng các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
2.4.3.2. Hạn chế
Chưa quan tâm đúng mức đến hỗ trợ cho cuộc sống của người dân bị mất đất sau thu hồi.Việc chủ động đào tạo nghề hoặc chủ động phối hợp với cơ quan có liên quan để tổ chức đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp chưa được các cấp Ủy đảng tại một số địa phương quan tâm. Một bộ phân nông dân sau khi đã sử dụng không đúng mục đích của khoản tiền hỗ trợ (xây nhà mới, mua sắm, nâng cấp tiện nghi sinh hoạt,v.v.) đã lâm vào cảnh thất nghiệp và các tệ nạn xã hội.
Về hỗ trợ ổn định đời sống: việc quy định chỉ hỗ trợ cho trường hợp bị thu hồi diện tích đất nông nghiệp từ 30% trở lên còn bất cập, gây thiệt thòi cho những người bị thu hồi nhiều lần nhưng đều dưới ngưỡng tỷ lệ này. Gây thắc mắc, khiếu kiện, so bì trong nhân dân.
2.4.4. Về tái định cư Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.4.4.1. Ưu điểm
Quan điểm nhất quán trong vấn đề tái định cư là phải xây dựng khu tái định cư trước khi ban hành quyết định thu hồi đất ở, nơi tái định cư phải có điều kiện sống tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, có điều kiện thuận lợi về hạ tầng phục vụ đời sống, sinh hoạt, học tập của người dân. Các quan điểm này đã từng bước được thể chế trong Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.
Các mức diện tích đất ở và giá trị đầu tư trong các khu, điểm, nhà ở tái định cư đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu, khả năng tài chính và tập quán sinh hoạt của người dân bị thu hồi đất. Chính sách Nhà nước hỗ trợ khoản chênh lệch về tiền giữa suất tái định cư tối thiểu với số tiền được bồi thường, hỗ trợ đối với những hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở được người dân và dư luận đánh giá là điểm đột phá trong chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
2.4.4.2. Hạn chế
Chưa có cơ chế bắt buộc để bảo đảm có quỹ đất và nguồn vốn xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất. Chất lượng khu tái định cư chưa đáp ứng yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”.
Phần nhiều các dự án phải thu hồi đất ở nhưng quỹ đất để phục vụ tái định cư cho người có đất ở bị thu hồi đã không chuẩn bị kịp, hoặc chuẩn bị không tốt (kết cấu hạ tầng chất lượng kém, thiếu đồng bộ, không đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt tối thiểu của người dân) dẫn đến tình trạng nhà (căn hộ) tái định cư đã hoàn thành nhưng không có người thuộc diện tái định cư đến nhận nhà ở.
Người bị thu hồi chỗ ở thường không được lựa chọn nơi tái định cư mà phải thực hiện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nơi tái định cư thường chưa được đề cập đến các khía cạnh văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh của cả cộng đồng dân cư bản địa. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.4.5. Những hạn chế, yếu kém chung của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Hạn chế trong nghiên cứu cơ sở lý luận
Quá trình xây dựng pháp luật và các chính sách liên quan về đất đai đang trong giai đoạn tiệm cận với xu hướng vận động thực tế – chuyển sang KTTT. Đất đai là nguồn lực quan trọng hàng đầu của nền kinh tế nhưng lại chậm được “thị trường hóa”, không chuyển hóa thành một nguồn lực thị trường. Mấu chốt vấn đề là ở chỗ thị trường đất đai theo đúng nghĩa chậm được hình thành trong khi thị trường đất đai giao dịch “ngầm”, phi chính thức lại phát triển mạnh, rất sôi động, thường xuyên gây ra những cơn sốt đầu cơ “nóng”, “lạnh”.
Chậm chuyển quan niệm sở hữu đất đai với tư cách là (1) nguồn tài nguyên quốc gia, (2) nguồn lực tự nhiên trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang quan niệm là một nguồn lực thị trường (tài sản – giá trị) của nền kinh tế thị trường.
Việc Nhà nước trực tiếp thu hồi đất cho mọi dự án, công trình còn mang nặng cơ chế bao cấp đã khiến cho nhà quy hoạch không đưa yếu tố kinh tế vào bài toán quy hoạch phát triển của mình; nhiều dự án, công trình vẫn được triển khai khi kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng chiếm tới 80% giá trị của dự án, công trình.
Việc phân cấp quản lý nhà nước đối với đất đai đáng lẽ phải theo nguyên lý thị trường, cho đến nay, lại vẫn mang nặng tinh thần hành chính – kế hoạch hóa tập trung. Sự phân cấp dẫn tới việc trao quyền vượt quá năng lực, có mặt vi phạm nguyên tắc quản lý tài sản quốc gia (cấp huyện cũng được quyền thu hồi đất, giao đất, bồi thường đất gắn với các dự án phát triển kinh tế, trong khi người dân hầu như không được tham gia và có ý kiến gì), đây là nguồn gốc của tình trạng “buông lỏng quản lý nhà nước về đất đai”, hình thành nên các nhóm lợi ích, thao túng quá trình “vốn hóa” tài nguyên đất, chiếm đoạt nguồn lợi to lớn do quá trình chuyển đổi mang lại.
Tuy đã có nguyên tắc chia sẻ lợi ích hợp lý giữa Nhà nước, nhà đầu tư, người bị thu hồi đất nhưng lại chưa có quy định cụ thể về cách chia sẻ như thế nào để hợp lý, vì vậy, việc thực hiện cụ thể nguyên tắc này trên thực tế rất khác nhau giữa các địa phương.
Thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các dự án nâng cấp các đô thị, nơi có giá đất rất cao đã tạo ra các dự án đòi hỏi kinh phí đầu tư quá lớn. Tại Hà Nội đã có con đường được gọi là “đắt nhất hành tinh”, đó là hệ quả của việc thực hiện cứng nhắc trình tự, thủ tục thu hồi đất và bồi thường theo giá đất thị trường, thiếu xem xét để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm giảm kinh phí đầu tư nhưng vẫn đạt được sự đồng thuận của người bị thu hồi đất.
Vấn đề hỗ trợ cho người bị thu hồi đất để chuyển đổi nghề nghiệp chưa được xem xét kỹ lưỡng, chưa đưa ra được những giải pháp phù hợp để ổn định đời sống, ổn định việc làm. Giải pháp bồi thường bằng đất kinh doanh dịch vụ, đất ở để người bị thu hồi đất nông nghiệp có khả năng tự chuyển đổi sang nghề nghiệp kinh doanh dịch vụ bên cạnh các khu công nghiệp, trong khu dân cư là tốt nhưng cần được dự tính trước và đưa vào QHSDĐ để có tính khả thi cao hơn.
Chưa chú ý tới quyền lợi của cộng đồng dân cư nơi có đất. Hiện mới chỉ có quy định việc chia sẻ nguồn thu từ đất giữa ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Cách tiếp cận này chưa bảo đảm quyền lợi của địa phương, cộng đồng dân cư.
- Hạn chế trong việc ban hành chính sách pháp luật Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Hệ thống văn bản pháp luật đất đai về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ban hành nhiều, phức tạp, chồng chéo, đồng thời, lại thường xuyên thay đổi theo hướng càng về sau càng cởi mở, thuận lợi hơn trước dẫn đến những vi phạm pháp luật, khiếu kiện, suy bì giữa những người bị thu hồi đất ngày càng gia tăng.
Với quy định cho người sử dụng đất được tự chuyển mục đích sử dụng đất đã tháo gỡ được một phần gánh nặng trong công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, phát huy được tính chủ động của doanh nghiệp, cá nhân sử dụng đất; tuy nhiên, cũng dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp không có kinh nghiệm, không có năng lực tài chính lợi dụng sự thiếu chặt chẽ này để “giữ đất”, “ôm đất”, “chạy dự án” để bán dự án kiếm lời, qua đó gây nên tình trạng phá vỡ quy hoạch chung, phát triển đô thị ồ ạt, tình trạng dự án “treo”, “nhà hoang”.
Pháp luật đất đai chưa hình thành được các quy định riêng về việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, đối với nhóm người nghèo; chưa gắn kết với chính sách ưu đãi cho đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách thực hiện xóa đói giảm nghèo, chính sách bình đẳng giới.
Quy định về các trường hợp thu hồi đất nhất là các trường hợp phục vụ mục đích phát triển kinh tế còn thiếu cụ thể, dẫn đến tình trạng tùy tiện trong áp dụng pháp luật. Quy trình công khai, công bố các thông tin quy hoạch, phạm vi thu hồi đất vẫn còn nặng về hình thức, dẫn đến việc thu hồi đất không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Chưa có quy định chi tiết để lựa chọn các dự án có hiệu quả, các nhà đầu tư có năng lực. Vẫn còn nhiều dự án được giao đất nhưng không thực hiện đầu tư, để đất hoang nhiều năm, có biểu hiện chờ đất lên giá để chuyển nhượng cho nhà đầu tư khác, trong khi người bị thu hồi đất vẫn chưa tìm được đất khác để ổn định đời sống.
Thiếu quy định làm cơ sở pháp lý để thực hiện đo đạc, kiểm đếm, lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi có quyết định thu hồi đất.
Việc bồi thường, hỗ trợ vẫn đang thực hiện theo cơ chế tính một lần khi Nhà nước thu hồi đất; các quy định về ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng nhìn chung vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng; việc bù đắp những thiệt hại không tính được bằng tiền, hoặc những thiệt hại dài hạn chưa được xem xét đầy đủ và thỏa đáng dẫn đến nhiều vấn đề xã hội bức xúc như vấn đề việc làm, thu nhập ổn định lâu dài cho người bị thu hồi đất.
- Hạn chế trong việc tổ chức thực hiện Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Việc bồi thường, hỗ trợ chưa gắn với dự án đầu tư, thường việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và việc giao đất cho nhà đầu tư vẫn được giải quyết thành hai quá trình khác nhau dẫn đến chưa gắn kết trách nhiệm của nhà đầu tư và chính quyền địa phương trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Nhiều địa phương vẫn thực hiện bồi thường về đất theo giá đất quy định trong Bảng giá nhân với hệ số điều chỉnh, trong khi việc xây dựng và ban hành Bảng giá đất lại chưa tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc thị trường; giá đất trong Bảng giá thường thấp để thu hút đầu tư, giảm thu tiền sử dụng đất khi cấp Giấy CNQSDĐ, giảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Các địa phương hiện nay vẫn chủ yếu thực hiện thu hồi đất và giao chỉ định cho chủ đầu tư, cho phép chủ đầu tư ứng vốn trả trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Từ đó dẫn đến sự không minh bạch trong lựa chọn chủ đầu tư, đẩy chủ đầu tư đối đầu với người có đất bị thu hồi, kéo dài thời gian giải phóng mặt bằng.
Các địa phương chưa chủ động tạo lập quỹ đất tái định cư theo quy hoạch hoặc nếu có thì các khu tái định cư lại không đảm bảo các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Trình tự, thủ tục thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa tạo được tính phù hợp đối với từng hoàn cảnh kinh tế – xã hội của địa phương, từng đặc trưng tập quán của các dân tộc thiểu số. Người dân luôn cảm thấy khu tái định cư được chỉ định không phù hợp với hoàn cảnh sống của mình, nhất là khi giải quyết tái định cư cho nhóm người nghèo, cho cả một cộng đồng dân cư dân tộc thiểu số.
Cơ chế tham gia của cộng đồng dân cư và người dân trong quá trình thu hồi đất chưa được thực thi sâu rộng trong thực tiễn, sự tham gia nhiều khi chỉ mang tính hình thức, không hiệu quả. Việc thực hiện nguyên tắc dân chủ, công khai, công bằng, đúng pháp luật còn thiếu nghiêm túc: một số địa phương bỏ qua việc thông báo thu hồi đất trước khi có quyết định thu hồi đất; có địa phương khi xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bỏ qua việc xin ý kiến của người dân hoặc không công khai phương án sau khi đã được được phê duyệt. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.4.6. Những bất cập, hạn chế, thiếu hụt của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai
Hiện nay, chúng ta phải thừa nhận rằng, cả pháp luật nội dung và pháp luật hình thức điều chỉnh giải quyết tranh chấp hành chính về đất đai vẫn còn những bất cập, hạn chế, thiếu hụt. Ở đây, tôi xin đưa ra và phân tích hai vấn đề bất cập, hạn chế, thiếu hụt về pháp luật như sau:
Một là, bất cập, hạn chế của pháp luật về đất đai: Có thể nói rằng, một trong những nguyên nhân cơ bản phát sinh tranh chấp hành chính về đất đai gay gắt trong giai đoạn vừa qua là do Luật Đất đai cũ có quá nhiều bất cập trong việc thu hồi, định giá, đền bù, hỗ trợ tái định cư… Đây cũng là những nội dung mà trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 đã có nhiều ý kiến của các chuyên gia và đại biểu Quốc hội thiết tha đề nghị có những thay đổi then chốt, nhưng nhìn chung vẫn chưa được khắc phục. Chẳng hạn như về thu hồi đất, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Nhà nước chỉ thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết vì mục đích an ninh, quốc phòng, để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa một phạm vi quá rộng các trường hợp được phép thu hồi đất, chỉ có điểm khác là những trường hợp đó, tùy thuộc vào quy mô, sẽ cần có sự chấp thuận của Hội đồng nhân dân, bên cạnh cơ quan chính quyền có thẩm quyền thu hồi đất. Nếu việc hướng dẫn và tổ chức thực hiện không tốt, có thể lại dẫn đến tình trạng lạm quyền, thu hồi đất tràn lan, tiếp tục gây bức xúc trong nhân dân. Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013, không có nhiều đổi mới về cơ chế thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, mà chủ yếu là luật hóa một số quy định của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ. Quy định như vậy chưa thể giải quyết được những bất cập về thực tế mất sinh kế, mất việc làm của người bị thu hồi đất và những mâu thuẫn, bức xúc gay gắt đang diễn ra ở nhiều địa phương.
Hai là, thiếu căn cứ pháp lý trong việc ban hành các quyết định hành chính và thực hiện hành vi hành chính: Đối tượng của tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai là các quyết định hành chính và hành vi hành chính trong quản lý về đất đai, nhưng việc phân biệt giữa quyết định hành chính và hành vi hành chính trong các cơ quan có thẩm quyền đôi khi còn lúng túng. Thực tế, khó xác định hành vi hành chính mang tính nội bộ hay hành vi hành chính là đối tượng của tranh chấp hành chính. Đặc biệt, do chưa có luật nên việc ban hành các quyết định hành chính trong việc thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng, chuyển mục đích sử dụng đất, còn có hiện tượng vi phạm như: Sai đối tượng, không tuân thủ trình tự, thủ tục, thiếu công khai, dân chủ, công bằng, không thẩm tra xem xét nhu cầu sử dụng của người được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất.
Có thể nói, giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai trong giai đoạn vừa qua đã có những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và đổi mới cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ, kịp thời và đặt trong mối quan hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy nhận thức, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, bảo đảm cơ sở vật chất cho công tác giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai và các giải pháp hỗ trợ khác.
2.4.7. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.4.7.1. Nguyên nhân khách quan
Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn hiện nay và tương lai, đòi hỏi phải thu hồi để chuyển mục đích sử dụng một diện tích đất lớn hơn nhiều lần so với các thời kỳ trước đây, khối lượng công việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất rất lớn và không những không giảm mà còn có chiều hướng ngày càng tăng lên, gây áp lực lên bộ máy chính quyền các cấp, các địa phương.
Tập quán sinh sống, cư trú, sử dụng đất của từng vùng, miền rất đa dạng, vì thế cho nên cơ chế, chính sách về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong nhiều trường hợp phù hợp với vùng, địa phương này nhưng lại bất cập đối với vùng, địa phương khác.
Đất nước phát triển theo cơ chế KTTT, đất đai được thừa nhận là có giá và giá đất ngày càng tăng do diện tích có giới hạn trong khi nhu cầu ngày càng lớn; thị trường đất đai – bất động sản mới được hình thành, các quan hệ đất đai trong nhiều trường hợp chưa được vận hành theo cơ chế thị trường mà vẫn nặng về mệnh lệnh hành chính, bao cấp đã làm cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thêm phức tạp.
2.4.7.2. Nguyên nhân chủ quan
Công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để làm rõ cơ sở khoa học, lý luận còn chưa được quan tâm đầy đủ đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự hành thành các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đặc biệt là việc nghiên cứu về cơ chế chia sẻ lợi ích, phạm vi áp dụng chuyển đổi đất đai tự nguyện để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách và bộ mày nhà nước trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Tổ chức, bộ máy chuyên trách công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa được quan tâm kiện toàn, trong nhiều công việc liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn có sự phân công chồng chéo. Đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn, nhiều trường hợp còn lợi dụng kẽ hở pháp luật để trục lợi, sách nhiễu người bị thu hồi đất.
Công tác giám sát việc thực thi các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn hạn chế, trong đó đáng chú ý là tình trạng Ủy ban nhân dân các cấp hầu như không thực hiện công việc kiểm tra việc thực thi pháp luật đối với cấp dưới.
2.5 THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Ở VIỆT NAM
Trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định. Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay. Đa số dự án thu hồi đất, thực hiện bồi thường, hỗ trợ để GPMB thành công đã làm cho đời sống của người dân có đất bị thu hồi tốt hơn trước do họ nhận được khoản tiền bồi thường cao, nhận được sự quan tâm hỗ trợ lớn để ổn định đời sống. Đồng thời, chủ đầu tư cũng nhanh chóng có được mặt bằng để tiền hành xây dựng sản xuất, thu hồi vốn nhanh chóng, góp phần phát triển nền kinh tế chung của cả nước và sự tiến bộ xã hội.
Theo báo cáo của các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, từ năm 2005-2011, tổng diện tích đất đã thu hồi là 728 nghìn ha (trong đó có 536 nghìn ha đất nông nghiệp) để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Các tỉnh, thành phố có diện tích đất thu hồi lớn là Đắk Lăk, Điện Biên, Sơn La, Nghệ An, Bình Phước. [4, tr. 11]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Nhưng bên cạnh đó, những chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ đã tạo ra không ít những tiêu cực và bất cập. Một điều cho thấy rằng việc áp dụng chính sách này đối với đất nông nghiệp ở các vùng nông thôn khi Nhà nước thu hồi đất ít xảy ra tình trạng khiếu kiện hơn đối với đất ở, đất sản xuất kinh doanh đặc biệt ở những đô thị lớn thì vấn đề áp dụng chính sách gây nhiều bất cập Tình hình tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai vẫn diễn biến phức tạp, tính chất tranh chấp ngày càng gay gắt, kéo dài, tập trung vào bồi thường GPMB phát triển các khu đô thị (chiếm gần 70% tổng số vụ khiếu nại, tố cáo), trong đó, chủ yếu là khiếu nại về giá đất bồi thường, tiềm ẩn sự mất ổn định ở một số nơi. Đa số các tỉnh đã giải quyết tốt công tác khiếu nại, tố cáo, bên cạnh đó cũng có một số địa phương chưa thực sự quan tâm trong công tác giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân về giải phóng mặt bằng [4, tr. 16].
Theo kết quả tổng hợp báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì trong gần 7 năm, các địa phương đã quyết định thu hồi 50.906 ha của 1.481 tổ chức và 598 hộ gia đình, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai. Những tỉnh thu hồi nhiều đất do vi phạm pháp luật về đất đai như: Bình Phước, Phú Yên, Đắk Nông, Quảng Nam, Gia Lai, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Hà Nội [4, tr. 21].
- Nguyên nhân chính của thực tế nhiều bất cập là:
Công tác quy hoạch sử dụng đất chưa sát với tình hình thực tế, mang nặng tính chủ quan, áp đặt dẫn đến nhiều khu vực quy hoạch đã được công bố là sẽ thu hồi đất nhưng không biết đến bao giờ mới thực hiện. Có những quy hoạch đúng đắn, phù hợp, cần thiết song lại không có lộ trình thực hiện, không có phân kỳ quy hoạch phù hợp. Có trường hợp lại do ngân sách hạn hẹp không chủ động giải quyết thực hiện dự án.
Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện chưa tốt, không sát với thực tế. Nhiều địa phương chưa coi trọng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu TĐC đã được lập nhưng chất lượng kém, không đảm bảo yêu cầu “tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ”. Quá trình lập phương án bồi thường hỗ trợ và TĐC chưa thực sự công khai dân chủ, minh bạch. Một số nơi chưa chú trọng trong việc tạo việc làm mới cho người bị thu hồi đất chuyển đổi nghề nghiệp. Việc chăm lo đời sống cho những người bị thu hồi đất chưa được quan tâm đầy đủ.
Chính sách quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC thường xuyên thay đổi dẫn đến tình trạng so bì, khiếu nại của người bị thu hồi đất qua các dự án.
Giá đất bồi thường chủ yếu thực hiện theo bảng giá nhân với hệ số nên còn thấp so với giá thị trường. Tại các vùng giáp ranh giữa các tỉnh, giữa khu đô thị và nông thôn có sụ chênh lệch lớn về giá bồi thường, hỗ trợ gây khiếu kiện kéo dài ảnh hưởng đến công tác GPMB. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
2.6 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÀNH CHÍNH ĐẤT ĐAI VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai có xu hướng gia tăng và đặc biệt ngày càng trở nên bức xúc từ sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2004. Kết quả tiếp nhận và giải quyết các tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai đến giai đoạn vừa qua cụ thể như sau:
Một là, giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai bằng thủ tục hành chính: Theo thống kê, từ năm 2004 đến nay, tổng số vụ việc khiếu nại các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp nhận và giải quyết trong các năm từ 2004 đến 2012 là: 528.401/612.115 vụ việc, đạt 86%, trong đó, hàng năm, khiếu nại hành chính liên quan đến đất đai luôn chiếm khoảng 70%. Riêng tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm 2004 đến năm 2011, đã tiếp nhận được 59.751 lượt đơn của 29.671 vụ việc, trong đó khiếu nại hành chính về đất đai là 17.7113. Về khiếu nại, tố cáo tồn đọng, bức xúc, kéo dài, tại thời điểm ngày 02/5/2012, các bộ, ngành, địa phương đã kiểm tra, rà soát còn 528 vụ, đến ngày 11/7/2014, còn 34 vụ việc đang được tập trung giải quyết dứt điểm. Các số liệu này cho thấy, số tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai phát sinh và được các cơ quan hành chính nhà nước thụ lý, giải quyết hàng năm là rất lớn. Tỷ lệ số vụ việc được giải quyết so với số vụ việc tiếp nhận cũng tương đối cao và luôn ổn định trên 80%, có năm đạt xấp xỉ 90% là rất cao; số vụ việc tồn đọng, kéo dài trong lĩnh vực đất đai cũng được các cơ quan hành chính nhà nước quan tâm giải quyết với tỷ lệ đáng kể, có những vụ việc kéo dài tới 20 năm, đã được giải quyết dứt điểm. Tuy nhiên, phân tích 257.419/290.565 đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước từ năm 2008 đến năm 2012 cho kết quả: Tỷ lệ khiếu nại đúng và khiếu nại đúng một phần từ năm 2008 đến 2011 chiếm gần 50%, tỷ lệ này trong năm 2012 có giảm xuống còn 43,05%5 nhưng vẫn cho thấy các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân như vậy là rất lớn và đáng báo động.
Hai là, giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai bằng thủ tục tư pháp: Từ năm 2004 đến năm 2011, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý sơ thẩm 3.994 vụ án hành chính liên quan đến đất đai, giải quyết 2.857 vụ, đạt 71,5% (trong khi đó chỉ riêng năm 2013, Tòa án nhân dân các cấp thụ lý sơ thẩm 69.894 vụ án hình sự, xét xử sơ thẩm được 68.751 vụ; thụ lý sơ thẩm 285.794 vụ án dân sự, xét xử được 259.636 vụ). Trong tổng số 2.857 vụ án hành chính sơ thẩm liên quan đến đất đai, Tòa án nhân dân các cấp đã đình chỉ giải quyết 1.130 vụ, chiếm 39,6% các vụ giải quyết; đưa ra xét xử 1.727 vụ, chiếm 60,4% các vụ giải quyết, với kết quả xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện 1.389 vụ, chiếm 80,5% các vụ đưa ra xét xử; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện 149 vụ chiếm 8,6% các vụ đưa ra xét xử; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện 189 vụ, chiếm 10,9% các vụ đưa ra xét xử. Những con số này cho thấy, số lượng các vụ án hành chính trong lĩnh vực đất đai được thụ lý và giải quyết rất ít so với số lượng các vụ án hình sự và vụ việc dân sự, đồng thời, cũng rất ít so với số lượng vụ việc khiếu nại về đất đai đã được các cơ quan hành chính nhà nước thụ lý, giải quyết. Đồng thời, từ số liệu cụ thể các vụ án hành chính liên quan đến đất đai được Tòa án nhân dân các cấp thụ lý, xét xử từ năm 2004 đến năm 2011 cũng cho thấy, mặc dù số lượng vụ án có chiều hướng tăng lên hàng năm (cho dù chỉ tăng rất ít), nhưng tỷ lệ giữa số lượng vụ án được giải quyết với số lượng vụ án đã thụ lý thì lại có xu hướng giảm dần. Thực tế giai đoạn vừa qua, thông thường người dân chỉ khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp hành chính về đất đai sau khi đã qua hai cấp giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính nhà nước và đã có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, tỷ lệ gần 20% số vụ án hành chính về đất đai được Tòa án nhân dân các cấp chấp nhận một phần (8,6%) và chấp nhận toàn bộ (10,9%) lại cho thấy, nếu việc giải quyết của Tòa án đúng pháp luật và nếu tất cả các vụ việc này đều đã qua hai cấp giải quyết khiếu nại, thì có nghĩa rằng gần 20% quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai là trái pháp luật, nhưng không được phát hiện qua việc giải quyết bằng thủ tục hành chính ở các cơ quan hành chính nhà nước [5, tr. 8]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Như vậy, từ thực trạng giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai trên đây có thể thấy, sự tồn tại song song hai phương thức giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai gần 20 năm qua đã mang lại hiệu quả nhất định, góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể sử dụng đất và bảo đảm pháp chế trong hoạt động của các cơ quan nhà nước hữu quan. Mặc dù đã có những tác động tích cực, nhưng cả hai cơ chế hành chính và tư pháp trong giải quyết tranh chấp hành chính như hiện nay cho thấy những tồn tại, hạn chế trong việc hướng tới bảo vệ công lý cho người dân. Thực tế, phần lớn các vụ việc tranh chấp hành chính về đất đai không được giải quyết dứt điểm tại cơ sở, mức độ hài lòng của người dân rất thấp. Đáng chú ý là trong một báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, thì có tới trên 90% số người được hỏi có ý kiến không hài lòng về cơ chế khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với việc thu hồi đất, giải quyết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Sở dĩ có những hạn chế trên, theo chúng tôi các phương thức giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai còn nhiều bất cập, hạn chế cả về mô hình tổ chức, trình tự thủ tục thực hiện và yếu tố con người, cụ thể như sau:
Về mô hình tổ chức: Mô hình tổ chức bộ máy giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai ở cơ chế giải quyết bằng con đường hành chính nhà nước và bằng con đường tư pháp vẫn còn nhiều bất cập. Trong khi trách nhiệm của người đứng đầu (là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại) tại các cơ quan hành chính nhà nước còn chưa cao, bộ máy tham mưu giải quyết của hệ thống cơ quan này cũng còn chưa chặt chẽ, thiếu chuyên nghiệp, thì bộ máy của Tòa án nhân dân cũng có bất cập do được tổ chức theo cấp hành chính, nên trong hoạt động còn khó bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử vì bị ảnh hưởng bởi cấp ủy và chính quyền địa phương.
Về trình tự, thủ tục giải quyết: Cả thủ tục giải quyết bằng con đường hành chính và con đường tư pháp cũng vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập cần phải được tiếp tục khắc phục, hoàn thiện, cụ thể như: Thủ tục giải quyết bởi cơ quan hành chính nhà nước còn mang “tính khép kín”, thực tế phát sinh những trường hợp cần phải xem xét lại, kể cả khi đã có bản án có hiệu lực của Tòa án, nhưng lại không có quy định về những trường hợp này; thủ tục tư pháp khắc phục được hạn chế trên của thủ tục hành chính nhưng lại có nhược điểm là rườm rà, kéo dài thời gian, nhiều trường hợp gây bức xúc trong dư luận.
Về yếu tố con người: Nguồn nhân sự giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai còn nhiều hạn chế. Trong cả hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và hệ thống cơ quan Tòa án, nguồn nhân sự giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai có nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Ở nhiều địa phương, trong bộ máy tham mưu giải quyết khiếu nại về đất đai còn thiếu những cán bộ, công chức vừa có chuyên môn về lĩnh vực đất đai, lại vừa có chuyên môn, kỹ năng về giải quyết khiếu nại hành chính. Đối với Ngành Tòa án, số lượng thẩm phán hành chính còn mỏng và số thẩm phán đáp ứng được các yêu cầu vừa có năng lực chuyên môn như những thẩm phán khác, lại phải vừa có trình độ chuyên sâu trong công tác quản lý nhà nước về đất đai còn ít hơn. Những hạn chế về nguồn nhân lực này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả điều chỉnh pháp luật giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
Qua quá trình đánh giá, tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 đã có những thay đổi cơ bản và toàn diện, đặc biệt là những quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Hệ thống các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của nước ta hiện nay bao gồm các quy định trong Luật Đất đai năm 2013 (Chương VI từ Điều 61 đến Điều 94), quy định tại Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và tại Thông tư 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tạo ra khuôn khổ pháp lý để thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư thống nhất trên cả nước.
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá toàn bộ thực trạng các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cũng như phân tích, đánh giá thực trạng và kết quả công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng như những tồn tại hạn chế của tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai của nước ta hiện nay đã cho chúng ta thấy một bức tranh khá hoàn chỉnh, toàn diện pháp luật về thu hồi đất, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cũng như công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Những tồn tại, hạn chế bấp cập của các quy định hiện hành liên quan đến công tác thu hồi, giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư hiện nay đã cho chúng ta những hướng tiếp cận khác để tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Từ tình hình nghiên cứu trong nước, những mô hình, kinh nghiệm của các nước, các tổ chức quốc tế, có thể chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm xây dựng cơ sở lý luận mang tính hệ thống trên nguyên tắc phù hợp thực tiễn của cơ chế thị trường để từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách, pháp luật cụ thể cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
