Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ hoạt động đời sống, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Ở nước ta, Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và ủy quyền cho nhà nước quản lý, Nhà nước giao cho dân cư sử dụng. Từ khi chính thức giao đất cho dân cư sử dụng, nhà nước tuyên bố bảo hộ quyền sử dụng đất của dân cư.
Đất nước ta đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do đó nhu cầu sử dụng đất cho các ngành kinh tế phi nông nghiệp rất lớn, dẫn tới việc Nhà nước phải thu hồi, chuyển một diện tích lớn đất nông nghiệp vào mục đích công nghiệp và dịch vụ tạo ra sự chuyển biến, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sông cho nhân dân. Tuy nhiên, việc thu hồi đất đã và đang tạo ra sự mất bình đằng giữa người bị thu hồi đất với các đối tượng được nhà nước giao đất, cho thuê đất sau khi thu hồi, dẫn đến nhiều tiêu cực xã hội, kiện cáo kéo dài gây mất ổn định chính trị, quyền lợi chính đáng của người dân có liên quan bị ảnh hưởng. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách đối với việc thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư, giảm thiểu sự mất công bằng trong chính sách bồi thường cho người dẫn như:
Nhà nước chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất hằng năm đã được xét duyệt. Quy định rõ ràng và cụ thể hơn các trường hợp Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế, xã hội. Đối với các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng được chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với nhà đầu tư để thực hiện dự án.
Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan, công bằng và đúng quy định của pháp luật. Người sử dụng đất được bồi thường theo mục đích đất đang sử dụng hợp pháp. Tổ chức thực hiện có hiệu quả phương án đào tạo nghề, tạo việc làm, tổ chức lại sản xuất và bảo đảm đời sống của nhân dân ở khu vực có đất bị thu hồi. Nghiên cứu phương thức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ để bảo đảm ổn định đời sống lâu dài cho người có đất bị thu hồi.
Hoàn thiện cơ chế tạo quỹ đất, huy động các nguồn vốn xây dựng các khu dân cư có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ để bố trí chỗ ở mới cho người có đất bị thu hồi trước khi bồi thường, giải tỏa. Khu dân cư được xây dựng phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dưng và thực hiện chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn vẫn còn một số tồn tại và hạn chế như:Chưa có quy định việc xử lý đối với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại, tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất; chưa thống nhất giữa quy định về tiền bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất với quy định về thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất giao trái thẩm quyền; chưa có quy định về việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất của các công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh; hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất của tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Việc quy định phải thực hiện các thủ tục thẩm tra khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư làm phát sinh thủ tục và kéo dài thời gian thực hiện. Việc lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của các Bộ, ngành cho toàn bộ dự án đối với các dự án sử dụng đất liên quan đến nhiều tỉnh là chưa phù hợp, làm kéo dài thời gian thực hiện, ảnh hưởng đến thực hiện dự án đầu tư. Chưa có quy định việc xử lý tiền thuê đất còn lại cho người được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm mà đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm khi Nhà nước thu hồi đất. Còn thiếu quy định hỗ trợ cho nhà, công trình khác không được phép xây dựng trên đất hồi đất mà trước đây đã được quy định tại Điều 20 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP.
Đề nghị cho phép Ủy ban nhân dân tỉnh được ủy quyền cho Ủy ban nhân dân huyện trong trường hợp khu đất thu hồi chỉ thuộc thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân tỉnh. Chính sách hiện hành chưa có quy định cụ thể về thành phần Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đề nghị bổ sung quy định về việc xác nhận nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp để làm cơ sở thực hiện hỗ trợ.
Những hạn chế trên đã ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị thu hồi đất, ảnh hưởng đến tiến độ thu hồi đất nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh.
Từ những lý do trên, với mong muốn đóng góp một phần trong việc xây dựng cơ sở lý luận cho việc sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, em đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Liên quan đến đề tài, hiện đã có các nghiên cứu sau đây:
Đề tài nghiên cứu về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất theo Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ lợi ích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo tinh thần của Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sủa đổi, bổ sung năm 1998.
Luận văn thạc sỹ “vận dụng lý luận của C. Mác về giá ruộng đất vào định giá đất ở Việt Nam” của Phan Văn Ninh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2004.
Luận văn thạc sỹ “nguồn lực tài chính từ đất đai trong nền kinh tế của nước ta hiện nay” của Trần Đức Thắng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2005.
Luận văn thạc sỹ “chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của Đặng Phương Mai, năm 2012. Các nghiên cứu trên tập trung giải quyết các vấn đề về định giá ruộng đất ở
Việt Nam; nghiên cứu về nguồn lực tài chính từ đất đai và chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở một địa phương cụ thể (Quảng Ninh), đồng thời các nghiên cứu trên được thực hiện đối với Luật Đất đai năm 2003 đã hết hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 (ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành). Do đó, ở góc độ lý luận nhà nước và pháp luật, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp,tổng thể pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013. Từ những lý do trên, việc nghiên cứu nội dung “hoàn thiện pháp luật về, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng thể các quy định của pháp luật quy định nội dung này, qua đó chỉ ra được những ưu điểm, thành tự cũng như những tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục tiêu Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Mục tiêu của luận văn là làm rõ những quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, những tồn tại, hạn chế của pháp luật trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất trong thực tiễn, qua đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất hướng đến phát triển bền vững, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3.2. Nhiệm vụ
Để hoàn thành mục tiêu nêu trên luận văn có các nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết của pháp luật về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của nước ta hiện nay;
- Phân tích, đánh giá chỉ ra những điểm hợp lý, những tồn tại, hạn chế của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của nước ta hiện nay;
- Tổng hợp, so sánh chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định tại một số nước trên thế giới qua đó rút ra bài học, kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Kiến nghị định hướng và giải pháp cơ bản để hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Hệ thống các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ- CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế của hệ thống pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Cơ chế đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghiên cứu, đánh giá, rút ra kinh nghiệm về chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đức, Canađa, Nhật Bản và các tổ chức phi Chính phủ như ADB, WB đối với pháp luật Việt Nam.
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn sử dụng phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu.
Trong phân tích sâu luận văn sẽ kết hợp phương pháp tổng hợp với phương pháp phân tích, phương pháp quy nạp với ngoại suy để đánh giá tiến tình lịch sử cụ thể của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Luận văn cũng đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: nghiên cứu lý thuyết, so sánh.
Đặc biệt, tiêu chí đánh giá chính sách chủ yếu dựa vào kết quả thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số địa phương trên cả nước. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
6. Những đóng góp khoa học của đề tài
Luận giải về cơ sở lý luận của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Đánh giá những thành tựu, những tồn tại, hạn chế của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của nước ta hiện nay;
Kiến nghị hệ thống các giải pháp để hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo kèm theo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận về pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Chương 3: Các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, MỤC ĐÍCH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1.1. Các khái niệm
- Thu hồi đất
Thu hồi là việc lấy lại cái đã đưa ra, đã cấp phát ra hoặc cái bị người khác lấy. Đối với đất đai, do quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân, do Nhà nước là đại diện, vì vậy, khái niệm thu hồi đất gắn liền với sự tồn tại của quyền sở hữu toàn dân về đất đai. Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai. (Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai).
Về bản chất, thu hồi đất chính là việc chuyển quyền sử dụng đất theo một cơ chế bắt buộc thông qua biện pháp hành chính. Việc thu hồi đất có những đặc điểm sau đây: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Xảy ra theo một yêu cầu cụ thể (thu hồi đất do nhu cầu vì lợi ích chung) hoặc trong một hoàn cảnh cụ thể (do vi phạm pháp luật về đất đai; do không còn nhu cầu sử dụng đất).
Việc thu hồi đất phải bằng một quyết định hành chính cụ thể, trong đó phải thể hiện rõ vị trí, diện tích, loại đất bị thu hồi; tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi. Quyết định thu hồi đất được ban hành bởi một cơ quan hành chính có thẩm quyền theo luật định (UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện).
Được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ và được quy định riêng đối với từng trường hợp.
Mỗi trường hợp thu hồi đất có sự khác nhau về căn cứ để thu hồi, về trình tự, thủ tục thu hồi, về chính sách bồi thường khi thu hồi đất:
Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng được căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và dự án đầu tư đã được chấp thuận, cấp phép đầu tư, quyết định đầu tư; Thu hồi đất trong trường hợp người được trao quyền sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (để đất hoang hóa, hủy hoại đất, không thực hiện nghĩa vụ tài chính, …) phải trên cơ sở kết luận thanh tra; Thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu sử dụng đất (tổ chức bị giải thể, cá nhân bị chết, tự nguyện trả lại đất) phải trên cơ sở quyết định giải thể của cơ quan có thẩm quyền, giấy chứng tử, đơn trả lại đất, …
Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng được thực hiện theo một trình tự, thủ tục với thời gian tương đối dài, bao gồm các bước thông báo thu hồi đất, đo đạc diện tích, kiểm đếm tài sản, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, cưỡng chế thu hồi đất và bàn giao đất trên thực địa; Thu hồi đất trong trường hợp người được trao quyền sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai gắn liền với thủ tục thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu sử dụng đất có trình tự thủ tục đơn giản hơn.
Tùy từng trường hợp cụ thể và căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất mà người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc không được bồi thường thiệt hại về đất, về tài sản gắn liền với đất: Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu sử dụng đất và đất có nguồn gốc được giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, thu hồi đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường, do tự nguyện trả lại đất thì được bồi thường; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai thì không được bồi thường nhưng được xem xét trả lại giá trị đã đầu tư vào đất (tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã trả trước, chi phí san lấp, giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng cơ bản, …).
- Trưng thu, trưng mua, trưng dụng đất Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Thuật ngữ trưng thu, trưng mua được sử dụng khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng tài sản thuộc sở hữu tư nhân (của các tổ chức, cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân) để sử dụng cho các nhu cầu của Nhà nước, cho lợi ích chung. Như vậy, đối với đất đai, việc trưng mua, trưng thu chỉ xảy ra trong thời kỳ có sở hữu tư nhân về đất đai (thời kỳ trước ngày 18/12/1980).
Cơ chế trưng thu đất có những điểm giống với cơ chế thu hồi đất hiện nay là: Nhà nước trưng thu đất trong các trường hợp cần cho nhu cầu lợi ích chung như vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia; cá nhân, tổ chức bị trưng thu đất được bồi thường theo thời giá thị trường. Tuy nhiên, cũng có những điểm khác biệt giữa trưng thu đất với thu hồi đất, đó là trong một số trường hợp thu hồi đất không gắn liền với việc bồi thường như thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai, thu hồi đất được giao không thu tiền sử dụng đất, đất được thuê và trả tiền thuê đất hàng năm.
Trưng mua là việc Nhà nước buộc chủ sở hữu tài sản phải bán tài sản thuộc sở hữu của mình cho Nhà nước. Theo Hiến pháp năm 1992 thì:
Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do Luật định [19].
Theo Luật Trưng mua, Trưng dụng tài sản năm 2008 thì nhà ở và các tài sản gắn liền với đất thuộc đối tượng trưng mua; Luật không điều chỉnh vấn đề trưng mua đất (Hội đồng Chính phủ, 1959; Quốc hội, 2008). Sở dĩ pháp luật hiện hành không đặt vấn đề trưng mua đất vì dựa trên quan điểm không thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, Nhà nước – đại diện cho chủ sở hữu không thể mua lại chính những tài sản thuộc sở hữu của mình. Thuật ngữ “thu hồi đất” phù hợp với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đang áp dụng ở nước ta hiện nay.
Trưng dụng là biện pháp hành chính cho phép một cơ quan nhà nước với điều kiện có bồi thường, buộc tư nhân phải cho Nhà nước sử dụng một động sản hay bất động sản trong một thời gian nhất định. Do đó, có thể hiểu, trưng dụng đất là việc Nhà nước điều chuyển quyền sử dụng một diện tích đất trong một giai đoạn tạm thời từ người sử dụng đất hợp pháp sang Nhà nước một cách bắt buộc theo thủ tục hành chính. Như vậy, khác với thu hồi đất, nếu thu hồi đất dẫn đến chấm dứt vĩnh viễn quyền sử dụng đất của người có đất thì trưng dụng đất chỉ chấm dứt quyền sử dụng đất của người có đất một cách tạm thời trong một thời gian nhất định. Cũng giống như thu hồi đất, việc trưng dụng đất thực hiện trong điều kiện được quy định chặt chẽ nhằm mục đích vừa bảo đảm trưng dụng trong trường hợp thật cần thiết vừa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ tài sản hợp pháp của người dân, cụ thể như sau: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Khi đất nước trong tình trạng chiến tranh hoặc trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh, đe dọa sự ổn định về chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;
Khi các mục tiêu công trình quan trọng về an ninh quốc gia bị xâm hại hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố nghiêm trọng gây phương hại tới an ninh quốc gia;
Khi cần khắc phục thảm họa lớn do thiên tai, dịch bệnh gây ra.
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Luật Đất đai năm 2013, Bồi thường về đất là nhà Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất(Khoản 12, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013). Trong các điều khoản quy định cụ thể, Luật cũng quy định những thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi trên đất do việc thu hồi đất gây ra cũng được xem xét bồi thường. Thực tế quá trình triển khai thi hành Luật, việc xác định loại thiệt hại, mức độ thiệt hại, đối tượng được bồi thường cần được xem xét một cách toàn diện, cụ thể hơn.
Về xác định thiệt hại: ngoài thiệt hại về đất, nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất thì còn có những thiệt hại khác mà người sử dụng đất cần phải được bồi thường như: thiệt hại về nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu, thiệt hại về cây trồng, vật nuôi, thiệt hại về môi trường học tập, về dịch vụ y tế, vui chơi, giải trí, thiệt hại do chi phí đã đầu tư vào việc san lấp mặt bằng, thiệt hại do mất địa thế kinh doanh, các thiệt hại về sức khỏe do việc thực hiện dự án gây ra như: khói bụi, tiếng ồn, nước thải…
Về xác định đối tượng được bồi thường: đối tượng bị ảnh hưởng từ việc thu hồi đất không chỉ là tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi mà còn bao gồm cả người đang sử dụng đất thuê, người sử dụng đất lân cận, người có lợi ích liên quan.
Theo Bộ luật Dân sự thì bồi thường là việc đền bù những thiệt hại về vật chất, về tinh thần mà mình gây ra cho người khác, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần; khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất bị thu hồi, để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển (Khoản 14, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013) bao gồm: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; hỗ trợ khác. Các khoản hỗ trợ này được hiểu là phần cho thêm của Nhà nước sau khi đã bồi thường sòng phẳng và là khoản điều tiết từ phần giá trị gia tăng từ đất đai mà không phải là do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.
Như vậy, khác với bồi thường là việc trả lại một các tương xứng những giá trị bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với sự hi sinh, mất mát của người bị thu hồi đất cho những lợi ích chung của đất nước, của cộng đồng. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, do việc bồi thường chưa thực sự sòng phẳng nên các khoản hỗ trợ chưa thực sự đúng với ý nghĩa mà nó được định nghĩa trong Luật đất đai và trong đa số trường hợp thì nó chỉ là sự bù đắp vào khoảng thiếu hụt do việc bồi thường thiếu sòng phẳng gây ra; bên cạnh đó một số khoản hỗ trợ thực chất là bồi thường như là hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm vì đây chính là những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra.
- Tái định cư
Tái định cư là việc Nhà nước bố trí đất ở, nhà ở tại nơi mới cho những người bị Nhà nước thu hồi đất ở mà họ không còn chỗ ở nào khác. Việc thu hồi đất ở thông qua một quyết định hành chính là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và đòi hỏi có sự “hy sinh” của người sử dụng đất, do đó, không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất (có đất ở, nhà ở) mà còn phải đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất, họ phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
Như vậy, nếu việc bồi thường thiên về mức độ tương xứng thì tái định cư thiên về chính sách tạo lập chỗ ở. Trong quy định của Luật đất đai năm 2013 có sự giao thoa giữa hai khái niệm này, theo đó các khu tái định cư được xây dựng để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở.
- Giá đất
Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Có những phương pháp xác định giá đất phổ biến trên thế giới và đã được áp dụng tại Việt Nam là: phương pháp so sánh trực tiếp; phương pháp thu nhập; phương pháp chiết trừ, phương pháp thặng dư và phương pháp hệ số. Đối với từng loại đất, sẽ lựa chọn phương pháp cụ thể để áp dụng, ví dụ: phương pháp so sánh trực tiếp chủ yếu áp dụng cho xác định giá đất ở, phương pháp thu nhập chủ yếu áp dụng cho đất nông nghiệp. Theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013 thì xác định giá đất cụ thể để làm căn cứ tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
1.1.2. Đặc điểm của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện bởi các chủ thể mang quyền lực nhà nước tiến hành trên cơ sở quy định cụ thể của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể thực hiện như thẩm quyền quyết định thu hồi đất (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện), tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, tái định cư.
Đối tượng chịu tác động trực tiếp của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi.
Các hoạt động thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một chuỗi các hoạt động liên quan, là điều kiện và hệ quả của nhau trong đó thu hồi đất là điều kiện đầu tiên, quyết định đến các hệ quả khác. Trên cơ sở quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt các công việc cụ thể, kế hoạch và các bước triển khai cũng như đối tượng và phạm vi áp dụng về thu hồi đất, bồi thương, hỗ trợ và tái định cư mới được triển khai cụ thể.
Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là những hoạt động diễn ra trên cơ sở các quy định của pháp luật, theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và được nhà nước đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhà nước.
Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là những hoạt động diễn ra khi nhà nước cần một diện tích đất cụ thể để phục vụ các mục đích khác nhau như các mục đích liên quan đến quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công công và phát triển kinh tế – xã hội. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là quá trình đa dạng và phức tạp, nó thể hiện khác nhau ở mỗi dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau. Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp. Do đó mỗi khu vực bồi thường, GPMB có những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi dự án và từng địa điểm khác nhau.
Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội đối với mọi người dân. Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê. Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này.
- Thu hồi đất phải được xem là một loại “giao dịch”
Trong điều kiện kinh tế thị trường, nếu việc chuyển giao đất từ Nhà nước đến NSDĐ là một “giao dịch” thì việc thu hồi đất để phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước (loại trừ trường hợp Nhà nước thu hồi đất do NSDĐ vi phạm pháp luật) cũng phải được coi là “giao dịch” tương tự. Rõ ràng, trong trường hợp Nhà nước giao đất, cho thuê đất, việc chuyển giao QSDĐ xuất phát từ nhu cầu của NSDĐ; còn ở trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, việc dịch chuyển QSDĐ lại xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước. Nếu như trong mối quan hệ thứ nhất NSDĐ phải trả tiền (tiền sử dụng đất, tiền thuê đất) cho Nhà nước thì trong mối quan hệ thứ hai, Nhà nước phải trả tiền (bồi thường) cho NSDĐ (người bị thu hồi đất). Từ đây có thể khẳng định, thu hồi đất là một quan hệ của thị trường bất động sản. Vì thế, để đảm bảo tính thị trường của quan hệ đất đai, quyền và lợi ích của người bị thu hồi đất và của các chủ thể có liên quan cần phải được đảm bảo một cách “sòng phẳng”.
1.1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 đến nay, Luật đã được sửa đổi, bổ sung thay thế bằng Luật Đất đai năm 1998, 2001, 2003, và mới đây nhất là ban hành luật đất đai năm 2013. Theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng luôn được không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu của thực tế. Với những đổi mới về pháp luật đất đai, đã cơ bản đáp ứng được tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở. Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác GPMB. Hệ thống văn bản pháp luật đất đai còn có những nhược điểm như là số lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi trong sử dụng, nội bộ hệ thống chưa đồng bộ, chặt chẽ gây lúng túng trong xử lý và tạo kẽ hở trong thực thi pháp luật. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng. Trong báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về quản lý nhà nước trong lĩnh vực Tài nguyên môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 15/8/2013 tại trang 10 có nêu: “Tình trạng chậm hoàn thành công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đang diễn ra phổ biến ở địa phương do chính sách thường xuyên thay đổi; do các cơ quan có thẩm quyền chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật, kéo dài thời gian giải phóng mặt bằng”. Từ đó dẫn tới tình trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải quyết giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, TĐC, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. Trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa thật sát sao. Tại nhiều địa phương, đang tồn tại tình trạng nể nang, trọng tình hơn chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các mối quan hệ về đất đai. Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND xã nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn. Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ GPMB.
- Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế. Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá trình phát triển đang đặt ra.
- Yếu tố giao đất, cho thuê đất
Nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi thường GPMB và TĐC. Nguyên tắc giao đất, cho thuê đất, phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch là điều kiện bắt buộc, nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này; hạn mức đất được giao và nghĩa vụ đóng thuế đất quy định không rõ ràng, tình trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến khó khăn cho công tác bồi thường. Theo tài liệu tổng kết thi hành luật Đất đai năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì tổng diện tích đã giao, đã cho thuê là 24.996 nghìn ha, chiếm 75,53% Tổng diện tích cả nước [3, tr. 9].
- Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống HSĐC có vai trò quan trọng hàng đầu để “quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trường bất động sản”, là cơ sở xác định tính pháp lý của đất đai. Trước tháng 12 năm 2004, rất nhiều địa phương chưa lập đầy đủ hồ sơ địa chính theo quy định; đặc biệt có nhiều xã, phường, thị trấn chưa lập sổ địa chính (khoảng trên 30% số xã đã cấp GCNQSDĐ) để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng đất đai, một số địa phương chưa lập đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp GCNQSDĐ như Thành phố Hà Nội, các tỉnh Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Kiên Giang, Trà Vinh,.. [3. tr. 11].
Vì vậy, việc đo vẽ lại bản đồ địa chính chính quy để thay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại HSĐC là rất cần thiết.
- Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Đăng ký đất đai là một thành phần cơ bản quan trọng nhất của hệ thống quản lý đất đai, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền sở hữu đất đai, bất động sản, sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu đất. Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Chức năng của đăng ký đất đai là cung cấp những căn cứ chuẩn xác và an toàn cho việc thu hồi, chấp thuận và từ chối các quyền về đất.
Trong công tác GPMB, GCNQSDĐ là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường. Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt công tác đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa hoàn tất. Chính vì vậy mà công tác GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn. Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ thì công tác GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn.
- Thanh tra chấp hành các quy định về quản lý và sử dụng đất đai
Công tác bồi thường, hỗ trợ là một việc làm phức tạp, gắn nhiều đến quyền lợi về tài chính nên rất dễ có những hành vi vi phạm pháp luật nhằm thu lợi bất chính của chính quyền địa phương. Hồi đồng thẩm định phải có kế hoạch thanh tra, kiểm tra và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình triển khai thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ, kịp thời phát hiện các sai phạm, vi phạm pháp luật để xử lý tạo niềm tin trong nhân dân.
- Giá đất và định giá đất Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Hiện nay ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giá cả đất đai dựa trên chuyển nhượng quyền sử dụng, là tổng hòa giá trị hiện hành địa tô nhiều năm. Một trong những điểm mới của Luật Đất đai 2003 là các quy định về giá đất. Nếu như trước đây Nhà nước chỉ quy định một loại giá đất áp dụng cho mọi quan hệ đất đai khác nhau thì Luật Đất đai 2003 đề cập nhiều loại giá đất để xử lý từng nhóm quan hệ đất đai khác nhau.
- Trước khi có Luật Đất đai năm 2003
Những vấn đề liên quan đến việc xác định giá đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC đều được quy định tại các văn bản dưới luật như Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định khung giá các loại đất; Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ ban hành quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng… Giá đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quyết định trên cơ sở khung giá đất do Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP.
- Từ khi có Luật Đất đai 2003: Quy định giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây (Điều 55):
- Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quy định giá theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 56 của Luật này;
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Những vấn đề quan trọng, có tính nguyên tắc liên quan đến xác định giá đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC đã được quy định khá cụ thể tại Luật Đất đai năm 2003. Đặc biệt, việc xác định giá đất được thực hiện theo nguyên tắc “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường trong điều kiện bình thường” [22, Điều 56, khoản 1]. Thực hiện các quy định về giá đất tại Luật Đất đai năm 2003, ngày 16/11/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Tuy nhiên luật đất đai năm 2013 có sự thay đổi về yếu tố giá đất và định giá đất. Luật đất đai năm 2013 quy định rõ nguyên tắc định giá đất phải theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá, theo thời hạn sử dụng đất. Bỏ việc công bố bảng giá đất vào ngày 01/01 hàng năm. Bảng giá đất chỉ áp dụng đối với một số trường hợp thay cho việc áp dụng cho tất cả các mục đích như quy định hiện hành bổ sung quy định về cơ quan xây dựng, cơ quan thẩm định giá đất, vị trí của tư vấn giá đất trong việc xá định giá đất, thẩm định giá đất và việc thuê tư vấn để xác định giá đất cụ thể.
- Thị trường Bất động sản
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta, thị trường bất động sản ngày càng được hình thành và phát triển. Ngày nay thị trường bất động sản đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các loại thị trường của nền kinh tế quốc dân, nó có những đóng góp vào ổn định xã hội và thúc đẩy nền kinh tế đất nước trong thời gian qua và trong tương lai.Giá cả của Bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác động tới giá đất tính bồi thường.
1.2 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
1.2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý đất đai và chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Ngày 31/10/2012, tại Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
- Tình hình và nguyên nhân
Sau gần 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường… Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm; thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hình thành và phát triển nhanh. Kết quả đó khẳng định các quan điểm chỉ đạo, định hướng chính sách, pháp luật về đất đai được xác định trong Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX cơ bản là đúng đắn, phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế, nhất là trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư, các thủ tục hành chính về đất đai. Lợi ích của Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương xứng; nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này còn lớn; thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao dịch “ngầm” còn khá phổ biến; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém nêu trên là: Đất đai có nguồn gốc rất đa dạng; chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ; chủ trương, chính sách, pháp luật hiện hành về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; việc thể chế hoá còn chậm, chưa thật đồng bộ. Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai và các chính sách, pháp luật có liên quan chưa nghiêm. Công tác tuyên truyền, giáo dục và quán triệt các chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai còn kém hiệu quả; việc thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý đất đai chưa tốt. Ý thức chấp hành pháp luật về đất đai của một bộ phận cán bộ và nhân dân còn hạn chế. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi sai phạm chưa nghiêm. Hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn thấp. Tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai và các cơ quan liên quan còn nhiều bất cập, hạn chế; một bộ phận còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng.
- Quan điểm chỉ đạo Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu, được xác định cụ thể phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất. Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cho phép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra; trao quyền sử dụng đất và thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế, xã hội theo quy định của pháp luật.
Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn và có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tuỳ theo từng loại đất và nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Người sử dụng đất có nghĩa vụ phải đăng ký quyền sử dụng đất, sử dụng đất đúng mục đích, tuân thủ quy hoạch, trả lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, chấp hành pháp luật về đất đai.
Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật về đất đai. Không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân, nhưng Nhà nước có chính sách phù hợp để đất nông nghiệp được người trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng với hiệu quả cao nhất.
Đất đai được phân bổ hợp lý, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả cao; bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
Chính sách, pháp luật về đất đai phải góp phần ổn định chính trị – xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế; huy động tốt nhất nguồn lực từ đất để phát triển đất nước; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, của người sử dụng đất và của nhà đầu tư; bảo đảm cho thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, phát triển lành mạnh, ngăn chặn tình trạng đầu cơ. Sử dụng có hiệu quả các công cụ về giá, thuế trong quản lý đất đai nhằm khắc phục tình trạng lãng phí, tham nhũng, khiếu kiện. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Nâng cao hiệu lực , hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai ; đẩy mạnh cải cách hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch trong quản lý đất đai . Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ về đất đai . Xây dựng hệ thống quản lý đất đai tiên tiến , ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin đất đai hiện đại.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và toàn dân trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai. Bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước cấp Trung ương về đất đai, đồng thời phân cấp phù hợp cho địa phương, có chế tài xử lý nghiêm các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai. Kiên quyết lập lại trật tự trong quản lý, sử dụng đất đai.
- Về Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Nhà nước chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất hằng năm đã được xét duyệt. Quy định rõ ràng và cụ thể hơn các trường hợp Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế, xã hội. Đối với các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng được chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với nhà đầu tư để thực hiện dự án.
Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp và có sự tham gia của cả hệ thống chính trị. Kiện toàn, nâng cao năng lực của tổ chức có chức năng phát triển quỹ đất để bảo đảm thực thi nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sử dụng đất.
Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan, công bằng và đúng quy định của pháp luật. Người sử dụng đất được bồi thường theo mục đích đất đang sử dụng hợp pháp. Tổ chức thực hiện có hiệu quả phương án đào tạo nghề, tạo việc làm, tổ chức lại sản xuất và bảo đảm đời sống của nhân dân ở khu vực có đất bị thu hồi. Nghiên cứu phương thức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ để bảo đảm ổn định đời sống lâu dài cho người có đất bị thu hồi.
Hoàn thiện cơ chế tạo quỹ đất, huy động các nguồn vốn xây dựng các khu dân cư có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ để bố trí chỗ ở mới cho người có đất bị thu hồi trước khi bồi thường, giải tỏa. Khu dân cư được xây dựng phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền.
1.2.2. Quan điểm khoa học về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo và di dời, hạn chế về số lượng, đất đai luôn có xu hướng khan hiếm làm cho giá trị của đất (giá đất) luôn luôn có xu hướng tăng lên. Trong điều kiện này, việc thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp cần phải tính toán rất chặt chẽ, hết sức tiết kiệm thông qua các quy định cụ thể hoặc công cụ tài chính. Trong thời gian một vài năm trở lại đây, đã có các quy định được ban hành như là quy định về bóc lớp đất mặt của đất trồng lúa hoặc nộp phí cải tạo đất khi chuyển loại đất này sang sử dụng vào mục đích khác, quy định về trồng rừng thay thế hoặc nộp phí để trồng lại rừng khi sử dụng vào đất có rừng, quy định về cải tạo hoàn trả mặt bằng sau khi đã khai thác khoáng sản. Cần khẳng định đây là một hướng đi đúng trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về chuyển đổi đất đai và cần có đánh giá, tổng kết để tiếp tục hoàn thiện những quy định này.
- Đất đai là tài sản của người sử dụng đất
Việc coi đất đai là tài sản của người sử dụng đất đã được quán triệt tương đối đầy đủ và nhất quán trong quá trình xây dựng các chính sách về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Với cách tiếp cận này, khi tính giá bồi thường về đất cho người dân phải căn cứ vào thời giá thị trường và không chỉ căn cứ vào các mục đích sử dụng của thửa đất hiện tại và còn cần phải xem xét đến cả công năng của thửa đất đó tại thời điểm hiện tại và trong tương lai. Tôn trọng và bảo đảm bình đẳng cho người có đất bị thu hồi được tham gia vào quá trình ra quyết định trong việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng.
- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng, đặc biệt là đối với người nông dân. Việc chuyển đổi nghề nghiệp cho những người nông dân bị thu hồi đất sản xuất là rất khó khăn, một mặt do số lượng người bị ảnh hưởng lớn, mặt khác do trình độ hạn chế, điều kiện để tiếp nhận những cái mới, công nghệ tiên tiến rất khó khăn. Vì vậy, bên cạnh hình thức chuyển nhượng, cần đặc biệt khuyến khích hình thức cho thuê và hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Các hình thức này giải quyết tốt hơn bài toán chia sẻ lợi ích, đảm bảo sinh kế lâu dài cho người dân trước tác động của việc chuyển đổi đất đai.
1.2.3. Khái niệm về pháp luật thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2013 đã được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2013 và đã được Chủ tịch nước ký lệnh ban hành có hiệu lực từ ngày 01/7/2014; trong đó những nội dung về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được quy định cụ thể tại Chương VI, bao gồm 34 điều từ Điều 61 đến Điều 94. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là tổng thể các quy định pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Thu hồi đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.
Về bản chất, thu hồi đất chính là việc chuyển quyền sử dụng đất theo một cơ chế bắt buộc thông qua biện pháp hành chính. Việc thu hồi đất có những đặc điểm sau đây:
Xảy ra theo một yêu cầu cụ thể (thu hồi đất do nhu cầu vì lợi ích chung) hoặc trong một hoàn cảnh cụ thể (do vi phạm pháp luật về đất đai; do không còn nhu cầu sử dụng đất).
Việc thu hồi đất phải bằng một quyết định hành chính cụ thể, trong đó phải thể hiện rõ vị trí, diện tích, loại đất bị thu hồi; tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi. Quyết định thu hồi đất được ban hành bởi một cơ quan hành chính có thẩm quyền theo luật định (UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện).
Được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ và được quy định riêng đối với từng trường hợp.
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Luật Đất đai năm 2013 thì “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” [22]. Trong các điều khoản quy định cụ thể, Luật cũng quy định những thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi trên đất do việc thu hồi đất gây ra cũng được xem xét bồi thường. Thực tế quá trình triển khai thi hành Luật, việc xác định loại thiệt hại, mức độ thiệt hại, đối tượng được bồi thường cần được xem xét một cách toàn diện, cụ thể hơn: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Về xác định thiệt hại: ngoài thiệt hại về đất, nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất thì còn có những thiệt hại khác mà người sử dụng đất cần phải được bồi thường như: thiệt hại về nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu, thiệt hại về cây trồng, vật nuôi, thiệt hại về môi trường học tập, về dịch vụ y tế, vui chơi, giải trí, thiệt hại do chi phí đã đầu tư vào việc san lấp mặt bằng, thiệt hại do mất địa thế kinh doanh, các thiệt hại về sức khỏe do việc thực hiện dự án gây ra như: khói bụi, tiếng ồn, nước thải…
Về xác định đối tượng được bồi thường: đối tượng bị ảnh hưởng từ việc thu hồi đất không chỉ là tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi mà còn bao gồm cả người đang sử dụng đất thuê, người sử dụng đất lân cận, người có lợi ích liên quan.
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua các khoản hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; hỗ trợ khác. Các khoản hỗ trợ này được hiểu là phần cho thêm của Nhà nước sau khi đã bồi thường sòng phẳng và là khoản điều tiết từ phần giá trị gia tăng từ đất đai mà không phải là do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.
Như vậy, khác với bồi thường là việc trả lại một các tương xứng những giá trị bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với sự hi sinh, mất mát của người bị thu hồi đất cho những lợi ích chung của đất nước, của cộng đồng. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, do việc bồi thường chưa thực sự sòng phẳng nên các khoản hỗ trợ chưa thực sự đúng với ý nghĩa mà nó được định nghĩa trong Luật đất đai và trong đa số trường hợp thì nó chỉ là sự bù đắp vào khoảng thiếu hụt do việc bồi thường thiếu sòng phẳng gây ra; bên cạnh đó một số khoản hỗ trợ thực chất là bồi thường như là hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm vì đây chính là những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra.
Tái định cư là việc Nhà nước bố trí đất ở, nhà ở tại nơi mới cho những người bị Nhà nước thu hồi đất ở mà họ không còn chỗ ở nào khác. Việc thu hồi đất ở thông qua một quyết định hành chính là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và đòi hỏi có sự “hy sinh” của người sử dụng đất, do đó, không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất (có đất ở, nhà ở) mà còn phải đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất, họ phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở.
Như vậy, nếu việc bồi thường thiên về mức độ tương xứng thì tái định cư thiên về chính sách tạo lập chỗ ở. Trong quy định của Luật đất đai năm 2003 có sự giao thoa giữa hai khái niệm này, theo đó các khu tái định cư được xây dựng để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở.
1.2.4. Nội dung pháp luật thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Nội dung pháp luật về thu hồi đất
Pháp luật thu hồi đất là tổng thể các quy định của pháp luật quy định về thu hồi đất bao gồm:
Quy định về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất bao gồm 4 nhóm:
- Nhóm 1: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh;
- Nhóm 2: Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;
- Nhóm 3: Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;
- Nhóm 4: Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất, tự nguyên trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
Quy định về căn cứ thu hồi đất, thẩm quyền thu hồi đất, tổ chức làm dịch vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; quản lý quỹ đất đã thu hồi và trình tự thủ tục thu hồi đất; quy định về cưỡng chế quyết định kiểm đếm bắt buộc, quy định về quyết định về cưỡng chế thu hồi đất.
- Nội dung pháp luật về bồi thường
Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là tổng thể các quy định của pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất bao gồm những nội dung chính như sau:
- Quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất;
- Quy định về điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công công;
Quy định bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất đối với các trường hợp:
- Khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;
- Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân;
- Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo; Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân;
- Khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Quy định về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở;
- Quy định về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất.
Ngoài các quy định bồi thường về bồi thường về đất Luật Đất đai cũng quy định các trường hợp bồi thường thiệt hại về tài sản, về sản xuất, kinh doanh như:
- Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất;
- Quy định bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất; bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi; bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất; bồi thường thiệt hại đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ an toàn
- Quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất;
- Quy định về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Nội dung pháp luật về hỗ trợ, tái định cư
Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư là tổng thể các quy định của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm những nội dung chính như sau:
- Quy định về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;
- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất;
- Quy định về lập và thực hiện dự án tái định cư;
- Quy định về bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở.
1.3 VAI TRÒ, MỤC ĐÍCH CỦA PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
1.3.1. Vai trò của pháp luật thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Hiện thực hóa các quy định của Hiến pháp hiện hành liên quan đến chế độ sở hữu toàn dân với đất đai và vấn đề quản lý đất đai của nhà nước.
Hiến pháp năm 2013 một lần nữa tái khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quyền sở hữu, đây là quy định cơ sở đặc biệt quan trọng để chúng ta xây dựng Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Luật đất đai quy định cụ thể chế độ sở hữu về đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, cơ quan quản lý đất đai từ Trung ương đến các địa phương, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thẩm quyền thu hồi đất, quy định chế độ sử dụng đất cho từng loại đất, quy định về việc lập và thẩm định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, quy định về tài chính đất đai, quy định về trình tự thủ tục hành chính trong thực hiện các quan hệ đất đai, quy định về thanh tra, giải quyết khiếu lại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai.
- Tạo nên khung khổ pháp lý, cơ chế cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là tổng thể các quy định của pháp luật liên quan đến việc thu hồi đất, việc bồi thường về đất, bồi thường tài sản gắn liền với đất và các khoản hỗ trợ khác, về việc bố trí tái định cư cho người có đất bị thu hồi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện thống nhất trong cả nước, tạo cơ sở pháp lý cũng như đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của công tác thu hồi đất được thực hiện. Luật Đất đai năm 2013, quy định cụ thể các trường hợp nhà nước thu hồi đất, thẩm quyền thu hồi đất, quyền và nghĩa vụ của người có đất bị thu hồi, quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất.
- Tạo cơ sở pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền liên quan.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm của Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 đã thể chế hóa, bổ sung và hoàn thiện các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và hiệu lực của pháp luật. Quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện quy định cả pháp luật về thu hồi đất, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Đồng thời quy định rõ ràng quyền và trách nhiệm của người có đất bị thu hồi. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định rõ các đối tượng, trường hợp, mục đích, quy cách cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
Khác với nội dung quy định về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 đã quy định rõ ràng, cụ thể hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất, mục đích thu hồi đất, đối tượng được bồi thường về đất, bồi thường về tài sản gắn liền với đất, được hỗ trợ và tái định cư cũng như trình tự, thủ tục để thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tạo khuôn khổ pháp lý để công tác thu hồi đất được thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
- Tạo cơ sở cho việc xử lý các vi phạm liên quan trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
Hệ thống các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về đất đai nói riêng liên quan đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói chung và các quy định về xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nói riêng đã được quy định cụ thể các hành vi vi phạm pháp luật, các mức xử phạt cũng như thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xử lý vi phạm hành chính liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tạo ra căn cứ pháp lý để tổ chức và thực hiện việc xử lý vi phạm hành chính liên quan đến thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư.
- Tạo cơ sở để so sánh, đánh giá với vấn đề quản lý đất đai của nhà nước ở các quốc gia khác, tạo động lực cho sự hoàn thiện, phát triển cả hệ thống pháp luật nước ta cho phù hợp với luật pháp quốc tế.
1.3.2. Mục đích của pháp luật thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Hướng đến sự quản lý, điều phối đất đai một cách khoa học, phục vụ hữu ích cho đời sống đất nước, xã hội và người dân
Trong tiến trình phát triển đất nước thi thu hồi đất có vai trò rất quan trọng, phát luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có mục đích điều phối nhu cầu sử dụng đất của các chủ thể trong đó nhà nước đóng vai trò trực tiếp tiến hành việc điều phối, điều chỉnh và dịch chuyển quyền sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất giữa các chủ thể sử dụng đất với nhau để phục vụ những mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau như việc thu hồi đất để đảm bảo an ninh, quốc phòng, vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và vì mục đích phát triển kinh tế xã hội. Thu hồi đất là công việc mà thông qua đó Nhà nước tiến hành sắp xếp, điều chỉnh, điều phối việc sử dụng đất giữa các chủ thể theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích, khoa học, hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả của đất đai trong phát triển kinh tế, ổn định xã hội đồng thời đảm bảo quốc phòng an ninh.
- Hướng đến bảo đảm công bằng, bình đẳng trong quá trình nhà nước thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước lấy đất của người sử dụng đất này giao hoặc cho người sử dụng khác thuê quyền sử dụng bằng quyết định hành chính từ đó dễ dẫn đến tình trạng mất bình đẳng, không công bằng về quyền lợi của các chủ thể, chính vì lẽ đó pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là khuôn khổ pháp lý quan trọng để nhà nước đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho người có đất bị thu hồi. Hướng đến bảo vệ cao nhất quyền của các chủ thể liên quan, quyền con người trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Đề cao trách nhiệm của nhà nước, các chủ thể liên quan trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất nhằm hướng đến sự phát triển bền vững.
Trách nhiệm của Nhà nước trong việc thu hồi đất là đảm bảo việc thu hồi đất được thực hiện công khai, minh bạch, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, việc thu hồi đất phải đúng các loại đất thuộc diện phải thu hồi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Nhà nước phải đảm bảo được quyền lợi chính đáng cho người bị thu hồi đất thông qua việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất, bảo đảm rằng người có đất bị thu hồi phải có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn trước khi họ bị thu hồi đất.
Đối với người có đất bị thu hồi cần tuân thủ các quy định của pháp luật về thu hồi đất, thực hiện việc phối hợp, hợp tác với các đơn vị có liên quan để công tác thu hồi đất được diễn ra thuận lợi, hiệu quả. Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định của pháp luật về thu hồi đất, quyền của người sử dụng đất, người có đất bị thu hồi có thể khiếu nại quyết định thu hồi đất, hoặc khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính khi nhận thấy quyền và lợi ích của mình không được đảm bảo theo quy định.
1.4 CƠ CHẾ ĐẢM BẢO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CỦA PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Hiện nay, Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ ràng, cụ thể cơ chế để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của pháp luật về đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nói riêng. Nội dung của những cơ chế này bao gồm:
- Cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá việc quản lý sử dụng đất đai
Giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai nói chung và lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng được thực hiện bởi các cơ quan tổ chức như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên và sự giám sát của công dân.
Nội dung giám sát của công dân trong quản lý và sử dụng đất đai bao gồm: Việc lập, điều chỉnh, công bố, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Việc thu, miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế liên quan đến đất đai; định giá đất; Việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Hình thức giám sát của công dân trong quản lý và sử dụng đất đai: Trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết;Gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện việc giám sát.
Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được ý kiến của công dân và tổ chức đại diện cho người dân: Kiểm tra, xử lý, trả lời bằng văn bản theo thẩm quyền;Chuyển đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết trong trường hợp không thuộc thẩm quyền;Thông báo kết quả cho tổ chức, cá nhân đã phản ánh.
- Cơ chế giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn về thanh tra, giả quyết tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp cũng như hệ thống tòa án trong việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất. Việc giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính được thực hiện không chỉ bởi Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền mà người sử dụng đất có thể khởi kiện ra tòa án để giải quyết.
Từ những nội dung quy định nêu trên, chúng ta thấy rằng hiện nay việc giám sát, theo dõi, kiểm tra trong việc quản lý và sử dụng đất đai rất được chú trọng được thực hiện từ cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất (Quốc hội) đến Hội đồng nhân dân các cấp, từ Mặt trận tổ quốc Việt Nam đến các tổ chức thành viên và của công dân. Nội dung theo dõi, giám sát rất rộng bao gồm tất cả các lĩnh vực của quản lý Nhà nước về đất đai từ đó có thể đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư nói riêng.
Ngày 10 tháng 11 năm 2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trong đó quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, quy định về hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, quy định cụ thể thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
1.5 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THIỆN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Về nội dung pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Nội dung pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải thể hiện được đường lối, quan điểm của đảng về thu hồi đất về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi. Trên cơ sở những khó khăn, vướng mắt, bất cập, những hạn chế, khuyết thiếu của Luật Đất đai năm 2003, nội dung pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại Luật Đất đai năm 2013 phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tế đảm bảo quyền và lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp và đặc biệt là phải bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người bị thu hồi đất. Nội dung pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải quy định cụ thể nguyên tắc, đối tượng điều chỉnh, phạm vi áp dụng, quy định thẩm quyền, trách nhiệm của từng chủ thể tham gia, quy định chế tài xử lý vi phạm pháp luật, cơ quan giải quyết vi phạm hành chính, thẩm quyền xử lý, chế tài xử phạt để tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc, bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Nội dung pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất phải cung cấp đầy đủ, logic, thống nhất, không chồng chéo các quy định pháp luật liên quan đến quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
Nội dung pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất phải tạo lập được một cơ chế tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát, giải quyết tranh chấp hữu hiệu quá trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
Phải tạo lập một cơ chế quy trách nhiệm cá nhân, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật trong quá trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
Pháp luật phải thể hiện sự tương thích giữa mục tiêu thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo các quyền con người.
Phải đảm bảo sự công bằng, bình đẳng, bảo vệ cao nhất quyền con người trong quá trình nhà nước tiến hành bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Về hình thức
Hình thức Pháp luật được hiểu là cách thức thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Nó là dạng tồn tại, hình thức tồn tại thực tế của Pháp luật, đồng thời là ranh giới tồn tại của Pháp luật trong hệ thống các qui phạm xã hội khác.
Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thì hành phải được xây dựng đồng bộ, nhất quán, đảm bảo sự thống nhất các quy định đồng thời không được mâu thuẫn, chồng chéo với quy định của các ngành hoặc các lĩnh vực khác có liên quan.
- Có khả năng dự liệu
Pháp luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng khi xây dựng và ban hành thì đơn vị chủ trì soạn thảo và tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia xây dựng phải đưa ra được những phương án, dự liệu những quan hệ xã hội liên quan đến phạm vi và đối tượng điều chỉnh của luật trong tương lại sẽ có thể phát sinh trong thực tế để từ đó có thể xây dựng những quy định, những chế tài mở để khi những quan hệ xã hội đó phát sinh thật trong thực tế pháp luật sẽ có ngay công cụ để điều chỉnh trực tiếp, từ đó giảm bớt thiệt hại có thể phát sinh cũng như đảm bảo sự ổn định của hệ thống pháp luật.
- Hệ thống các văn bản hướng dẫn phải quy định, hướng dẫn cụ thể, chi tiết các quy định của Luật Đất đai
Hiên nay, hệ thống pháp luật quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành đồng bộ từ Quốc hội (Luật Đất đai năm 2013); Chính phủ (Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất); Bộ Tài nguyên và Môi trường (Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại địa phương. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nêu trên là căn cứ, cơ sở cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện thống nhất, đồng bộ trên cả nước. Các văn bản hướng dẫn Luật Đất đai về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải tuân thủ nguyên tắc nội dung văn bản cấp dưới không được trái quy định của văn bản có hiệu lực cao hơn, chỉ những nội dung nào thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, của Bộ Tài nguyên và Môi trường và của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì Chính phủ,Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mới có thẩm quyền ban hành hướng dẫn.
1.6 PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ TỔ CHỨC TRÊN THẾ GIỚI VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ, KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Theo nguyên tắc chung, ở hầu hết các nước, mô hình chuyển đổi đất đai bắt buộc được thực hiện trong trường hợp chuyển đổi đất đai dùng cho mục đích quốc gia, mục đích công cộng hoặc trong một số dự án của các đối tác quan trọng hay các dự án đầu tư phát triển kinh tế đặc thù. Tuy nhiên, căn cứ vào chính sách quản lý và sử dụng đất của từng nước, cơ chế thu hồi đất đai bắt buộc cũng có những điểm riêng, cụ thể như sau:
1.6.1. Hàn Quốc Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Đối với các dự án do Nhà nước đầu tư như đường cao tốc, khu đô thị, khu công nghiệp và các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng khác thì Nhà nước quyết định trưng mua đất đai của người đang có quyền sở hữu. Diện tích đất Nhà nước quyết định trưng mua thực hiện theo qui hoạch sử dụng đất. Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường thực hiện hiệp thương với người sở hữu đất và tài sản gắn với đất trên cơ sở giá đất và giá tài sản do tổ chức hoặc cá nhân hành nghề định giá xác định. Trường hợp chỉ hiệp thương được với đại bộ phận chủ sở hữu đất (trên 85%) thì phần diện tích đất còn lại Nhà nước thực hiện cưỡng chế thu hồi.
Luật phát triển đô thị của Hàn Quốc quy định các dự án phát triển đô thị do tư nhân là chủ đầu tư sẽ thực hiện bằng cách tái cơ cấu đất (tự chuyển đổi mục đích sử dụng đất), thu hồi quyền sở hữu hoặc kết hợp cả hai hình thức này. Theo đó, nếu dự án này phục vụ lợi ích cộng đồng, chủ dự án sở hữu hơn 2/3 diện tích mảnh đất hoặc được sự đồng ý của 2/3 các chủ đất khác thì có thể được cho quyền thu hồi quyền sở hữu phần diện tích còn lại, đối với các loại dự án còn lại thì chủ dự án phải là chủ sở hữu của 95% diện tích hoặc phải được sự đồng ý của 95% các chủ sở hữu khác mới được phép thu hồi phần diện tích còn lại để thực hiện dự án.
Luật thu hồi đất và bồi thường của Hàn Quốc là bộ luật chung quy định các nguyên tắc và thủ tục thu hồi đất, bồi thường và tái định cư. Nó được áp dụng cho mọi trường hợp, trừ khi có điều khoản đặc biệt nào nằm trong đạo luật khác. Việc thực hiện cụ thể sẽ được quy định chi tiết hơn trong Quyết định của Tổng thống.
Toàn bộ chi phí thu hồi đất và tái định cư, bao gồm bồi thường, di dời, phục hồi sinh kế (nếu có) sẽ thuộc chi phí của dự án. Chủ dự án phải trả trước những khoản trên. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Để tính toán mức bồi thường Hàn Quốc sử dụng hệ thống chính thức giá bất động sản, theo đó giá trị gần đúng với giá thị trường. Giá trị đất và tòa nhà được định giá bởi 2 thẩm định viên tư nhân. Người bị thu hồi có thể khuyến nghị thêm một thẩm định viên nữa. Giá trung bình do các thẩm định viên đưa ra là giá để quyết định mức bồi thường.
Đối với trường hợp tái định cư, ngoài khoản bồi thường, người bị di dời có thể chọn khu vực nhà, nhà ở hoặc khoản trợ cấp di dời. Một khu vực tái định cư phải có đầy đủ dịch vụ, do chủ dự án chi trả, kể cả chi phí di chuyển. Đất cấp cho người tái định cư có mức giá bằng 80% chi phí phát triển (Mức này thấp hơn rất nhiều so với giá thị trường. Kết quả là phần lớn đất cho người tái định cư được bán lại ngay).
Phục hồi kế sinh nhai không phải là bắt buộc theo Luật thu hồi đất và bồi thường. Phục hồi kế sinh nhai có thể bao gồm: đào tạo nghề, ưu tiên tuyển dụng trong các dự án phát triển đô thị, và các khu vực dành cho hoạt động thương mại.
Người thuê nhà trong khu vực thu hồi được bồi thường để di dời và chi phí di chuyển cũng như được tiếp cận với quỹ nhà công cho thuê.
1.6.2. Trung Quốc
Trung Quốc tập trung phát triển theo các dự án lớn có hạ tầng chung. Mô hình ở Trung Quốc có khá nhiều điểm giống mô hình đang triển khai trong xây dựng các khu công nghiệp ở Việt Nam. Bước thứ nhất là xác định khu vực đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất để chuẩn bị trưng thu (thu hồi). Bước thứ hai là trưng thu đất bằng quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền. Bước thứ ba là nhà đầu tư nhận giao đất hoặc cho thuê đất từ Nhà nước để đầu tư hạ tầng, sau đó chuyển nhượng hoặc cho thuê đối với các nhà đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Việc trưng thu đất sử dụng vào các mục đích đều phải tuân thủ theo quy hoạch sử dụng đất đã được Quốc vụ viện (Chính phủ) phê duyệt; khi trưng thu từ 35 ha trở lên đối với đất nông nghiệp hoặc từ 70 ha trở lên đối với các loại đất khác thì UBND cấp tỉnh phải báo cáo lên Quốc vụ viện để xem xét phê chuẩn rồi mới được ra quyết định trưng thu; dưới mức diện tích này thì chính quyền cấp tỉnh được tự phê chuẩn và sau đó báo cáo lên Quốc vụ viện. Để thực hiện trưng thu đất, cơ quan nhà nước phải xác định được các nội dung chính sau: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
- Các loại đất và đối tượng đang sử dụng đất bị trưng thu;
- Mục đích sử dụng đất và đối tượng được sử dụng đất sau khi trưng thu;
- Những hành vi áp dụng cưỡng chế cần có khi trưng thu;
- Mức bồi thường hợp lý cho tập thể, tổ chức, cá nhân có đất bị trưng
Về chế độ bồi thường đất và tài sản trên đất: UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định hoặc quyết định chế độ bồi thường cụ thể áp dụng trong phạm vi địa bàn của tỉnh, thành phố hoặc đối với các trường hợp thu hồi đất (giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định hoặc quyết định chế độ bồi thường cụ thể có sự khác nhau). Trong một số trường hợp thu hồi đất để thực hiện xây dựng các công trình lớn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, cần tiến độ thực hiện nhanh… xét thấy cần thiết thì Quốc vụ viện có thể quyết định chế độ bồi thường để thực hiện với chế độ bồi thường cao hơn của địa phương đã quy định.
Giá trị bồi thường đối với đất nông nghiệp được xác định theo giá trị sản lượng cây trồng trên đất, tính theo phương pháp thu nhập (lấy thu nhập ròng bình quân của 3 năm gần nhất, chia cho lợi tức tín dụng, sau đó nhân với số năm tương ứng được giao đất); đối với đất xây dựng được xác định theo giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường tại thời điểm tính bồi thường. Giá trị đất hoặc giá đất đã xác định được dùng làm cơ sở để cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện bồi thường thỏa thuận mức bồi thường đất với người có đất bị trưng thu khi lập phương án thực hiện bồi thường.
Trình tự để thực hiện công tác trưng thu đất và bồi thường: Do cơ quan QLĐĐ ở địa phương thực hiện. Đầu tiên xác định diện tích, địa điểm… đất bị trưng thu và chế độ tài chính trong việc bồi thường; sau đó đưa thông báo tới từng người dân và tổ chức báo cáo trước toàn thể những người dân. Tiếp theo là nghe ý kiến phản hồi của nhân dân và giải quyết các ý kiến đó công khai; nếu có khiếu nại thì tiếp tục thoả thuận với dân hoặc báo cáo lên cấp trên nếu chưa giải quyết được thoả đáng. Phương án trưng thu đất và bồi thường sau khi được người dân chấp thuận thì cơ quan QLĐĐ ở địa phương báo cáo cấp trên xin phê chuẩn và tổ chức thực hiện trong vòng 3 tháng.
Trong công tác trưng thu đất và bồi thường ở Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp sáng tạo sau:
- Nghiên cứu giá trị sản lượng cây trồng để tính giá trị bồi thường;
- Giữ lại một tỷ lệ nhất định quỹ đất của các dự án để tổ chức tái định cư;
- Sử dụng tiền bồi thường để mua bảo hiểm cho người bị trưng thu đất;
- Tăng cường giao lưu, trao đổi giữa cơ quan thực hiện trưng thu đất với người bị trưng thu đất;
- Bồi thường theo giá thị trường.
Nhìn chung, trong công tác trưng thu đất và bồi thường ở Trung Quốc có 2 nguyên tắc cơ bản nhất:
- Xuất phát từ quyền lợi lâu dài của người dân (dĩ nhân vi bản);
- Vấn đề chính trong bồi thường là kinh tế: Luôn phải đảm bảo cuộc sống của người dân sau khi bị trưng thu đất bằng hoặc cao hơn trước. Khi trưng thu đất và tái định cư xong sẽ tính toán lại các lợi ích của người dân, nếu thấy chưa đáp ứng được thì tăng thêm giá trị bồi thường.
1.6.3. Ôxtrâylia Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Ôxtrâylia có các quy định pháp luật về thu hồi, cưỡng chế đất cho mục đích công cộng của Chính phủ liên Bang (thuộc khối thịnh vượng Anh), của Chính phủ mỗi Bang, của các cơ quan có thẩm quyền khác theo Luật định, bao gồm: những tổ chức đáp ứng các dịch vụ công cộng như cấp, thoát nước, cấp điện, giao thông, nhà ở và các dịch vụ khác liên quan đến nhu cầu của cộng đồng.
Quyền cưỡng chế thu hồi đất được Chính phủ giao cho một cơ quan có thẩm quyền thực hiện bằng cách mua trên cơ sở thỏa thuận, hoặc trong trường hợp không đạt được thỏa thuận giữa các bên thì áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Về đền bù cho các chủ có đất bị thu hồi thực hiện theo quy định pháp luật do Chính phủ Ôxtrâylia ban hành. Nguyên tắc chủ đạo của việc bồi thường là phải đảm bảo cho người có đất bị thu hồi điều kiện về tài chính ngang bằng với trạng thái cũ khi đất chưa bị thu hồi. Giá bồi thường được quy định riêng cho từng chủ nhà/đất và giá này không bao gồm phần tăng giá do đã có hoặc sẽ có các công trình công cộng, tuy nhiên, trong thực tế thường khó áp dụng được nguyên tắc này, vì có bất động sản thuộc dạng không thể định giá được như nhà thờ, trường học, bệnh viện v.v… và cũng không có số liệu bán các tài sản như vậy trên thị trường. Trong trường hợp này giải pháp phù hợp nhất là đáp ứng đủ kinh phí tái tạo lại công trình thay thế công trình kiến trúc cũ ở một địa điểm khác, thậm chí cả trong trường hợp công trình cũ đã bị hư hỏng. Có một số các quy định về đền bù thiệt hại trong các tình huống cụ thể như sau:
Đền bù thiệt hại do quy hoạch đô thị: Có một số trường hợp sẽ được đền bù thiệt hại khi giá trị đất bị giảm đi do tác động của quy hoạch chi tiết. Ví dụ, đối với đất đang có lợi thế về kinh doanh, do tác động của quy hoạch sử dụng đất hoặc trường hợp khu đất đã được quy hoạch bố trí công trình công cộng trong tương lai dẫn tới có thể bị giảm giá.
Đền bù thiệt hại do bị áp đặt quyền địa dịch theo luật định: đó là các quyền hạn chế trên đất do các chủ khác ở khu đất liền kề có nhu cầu sử dụng điện, nước, thoát nước, lối đi… qua khu đất. Khi dành quyền này cho chủ khác có thể gây phương hại trực tiếp đến bất động sản trong việc sử dụng đất ở mức cao nhất và tốt nhất nên phải định giá những thiệt hại đó để tính đền bù cho đương sự bị ảnh hưởng. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
1.6.4. Đức
Đức là ví dụ của một nước phát triển tiến bộ với quy định pháp luật mạnh mẽ, quản trị tốt và nhiều kinh nghiệm trong việc thu hồi đất gắn với tái phát triển đô thị.
Hiến Pháp của Đức chỉ cho phép thu hồi quyền sở hữu nếu có đủ các điều kiện: (1) việc thu hồi là vì lợi ích cộng đồng, (2) phù hợp với quy định của pháp luật Liên bang về tính chất dự án và mức độ bồi thường, (3) không còn giải pháp nào khác với mức độ can thiệp thấp hơn và buộc phải thu hồi và Chính phủ phải cố gắng có thiện chí trong việc mua lại đất trước khi thu hồi quyền sở hữu.
Từng bang trong 16 bang ở Đức lại có một Đạo luật thu hồi quyền sở hữu riêng quy định các thủ tục và yêu cầu bồi thường. Bộ Luật Xây dựng Liên bang quy định một hệ thống quy hoạch tổng thể không ràng buộc pháp lý và quy hoạch chi tiết có ràng buộc pháp lý. Chính quyền thành phố chỉ thông qua quy hoạch chi tiết có ràng buộc pháp lý sau khi đã thực hiện quy trình đánh giá tác động và lấy ý kiến công khai từ công chúng và người sở hữu về kế hoạch đó. Việc thu hồi quyền sở hữu dựa trên cơ sở quy hoạch chi tiết (quy hoạch có ràng buộc pháp lý) và bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo luật định. Quyết định này có thể bị kháng cáo tại tòa.
Việc bồi thường phải được áp dụng cho người chủ sở hữu bị thu hồi đất hoặc kể cả khi không có sự thu hồi đất nhưng gây ra những tổn thất cho chủ sở hữu. Nguyên tắc là bồi thường sẽ đem lại cho chủ sở hữu cơ hội có được tài sản tương tự. Bồi thường sẽ bằng tiền mặt theo giá thị trường, trừ phi kế sinh nhai của người chủ sở hữu phụ thuộc vào tài sản, khi đó tài sản thay thế sẽ phải được cung cấp. Tiêu chuẩn bồi thường ở Đức quy định ưu ái đặc biệt cho những người dễ bị tổn thương và phải bao gồm cả kế hoạch di dời nhà, tìm việc khác hoặc chuyển vị trí kinh doanh. Trợ cấp khó khăn được trao cho những người thuê nhà nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu những bất lợi về kinh tế cho những đối tượng này.
1.6.5. Canađa Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Tại Canađa, Quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết và tái phân vùng sử dụng đất là căn cứ để chính quyền các bang có thể thu hồi quyền sở hữu đất nhưng quyền này chỉ áp dụng với những mảnh đất thể hiện trong bản quy hoạch là sử dụng cho mục đích công cộng ví dụ như đường giao thông và cơ sở hạ tầng. Quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết và tái phân vùng sử dụng đất được công khai lấy ý kiến cộng đồng trong suốt quá trình chuẩn bị và trước khi phê duyệt.
Chính quyền sẽ không hỗ trợ trực tiếp phát triển tư nhân trong việc thu hồi đất. Ví dụ, một thành phố không thể thu hồi quyền sở hữu một mảnh đất để hoàn thiện quy hoạch xây dựng trung tâm mua sắm hay nhà ở tư nhân.
Việc thực hiện thu hồi quyền sở hữu được xem như là biện pháp cuối cùng để có đất thực hiện dự án. Mọi nỗ lực đều nhằm đạt được thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản, do đó, rất nhiều thời gian và cố gắng được dành cho việc đàm phán với từng chủ sở hữu. Nhà đầu tư tư nhân không có vai trò trong quá trình thu hồi quyền sở hữu, ngoại trừ một số công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp được quy định như đường sắt, các loại đường ống dẫn, viễn thông.
Quyền được bồi thường dựa trên nguyên tắc chung là sau khi nhận bồi thường người chủ sở hữu vẫn phải có tiềm lực kinh tế tương tự như trước khi bị thu hồi đoạt quyền sở hữu. Các khoản bồi thường bao gồm:
- Giá thị trường của đất, của tòa nhà hoặc của các công trình khác;
- Mất giá trị đối với mảnh đất còn lại;
- Mất các tiện ích như cây cối và cảnh quan;
- Tổn thất về kinh doanh (áp dụng đối với người thuê đất cũng như chủ sở hữu);
- Thiệt hại về việc di dời, ví dụ chi phí di chuyển và tái định cư (cũng áp dụng đối với người thuê đất).
Bồi thường phần lớn là bằng tiền, trừ khi người chủ sở hữu và Chính phủ có thỏa thuận khác. Điều này là phù hợp bởi vì Canađa luôn có một thị trường nhà đất tích cực giúp người bị ảnh hưởng mua các nhà đất thay thế.
Một yếu tố quan trọng trong việc đối xử công bằng với người bị ảnh hưởng đó là họ được thuê luật sư, thẩm định viên và các nhà tư vấn để giúp họ miễn phí, Chính phủ sẽ phải trả chi phí này.
1.6.6. Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế
Từ nhiều năm nay, Liên Hợp Quốc và các tổ chức của Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới, các Ngân hàng Phát triển khu vực đã tập trung sự quan tâm vào cơ chế bồi thường, tái định cư đối với trường hợp chuyển đổi đất đai không tự nguyện (thu hồi đất, trưng mua bắt buộc) sang sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư thủy điện và phát triển hạ tầng đô thị.
Các tổ chức của Liên Hợp Quốc như Trung tâm của Liên Hợp Quốc về Định cư (United Nations Centre of Human Settlement – UNCHS/Habitat), Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Quyền con người (United Nations Commission on Human Rights – UNCHR), Tổ chức Nông Lương Thế giới (Food and Agriculture Organization – FAO) đã tập trung vào vấn đề thu hồi đất, chỗ ở bắt buộc từ năm 1990. Năm 1994, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc đã coi vấn đề thu hồi đất bắt buộc cần được xem xét trong mối liên quan tới quyền con người. Năm 1997, UNCHR đã đưa ra hướng dẫn về quyền con người đầy đủ trong thu hồi đất, chỗ ở cho mục đích phát triển để khẳng định các nhà tài trợ quốc tế thực hiện tái định cư tại các quốc gia theo một cơ chế như nhau, đồng thời nhấn mạnh là các quốc gia cần có pháp luật, chính sách phù hợp cho tái định cư.
Các Ngân hàng Phát triển khu vực đã tập trung vào ban hành và thực hiện chính sách tái định cư không tự nguyện như Ngân hàng Phát triển Châu Á đã cho xuất bản Sổ tay Tái định cư vào năm 1982, Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ (Inter- American Development Bank – IDB) đưa ra chính sách vào năm 1993, Ngân hàng Phát triển Châu Phi (AFDB) đưa ra chính sách vào năm 1995. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế trong quá trình tài trợ cho một số loại dự án cụ thể như sau:
- Các dự án thủy điện lớn
Các dự án thủy điện lớn mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội nhưng lại làm tổn hại nhiều hơn tới cộng đồng nơi có đất và người dân bị mất đất, mất tài sản gắn liền với đất. Ngoài sự thiệt hại có thể bồi thường bằng tiền, người dân và cộng đồng còn chịu sự thiệt hại không thể tính bằng tiền từ ảnh hưởng của biến đổi môi trường, hệ sinh thái, văn hóa, tâm linh… Từ đó, Ngân hàng thế giới và một số tổ chức quốc tế khác đã đưa ra nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án, chi phối từ pháp luật, chính sách, quy hoạch, thu nhập, thuế ở tầm quốc gia tới việc triển khai trên thực tế có liên quan đến chính quyền địa phương, nhà đầu tư, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại. Ngoài việc bồi thường thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất cho những người dân trực tiếp bị thiệt hại, nguyên tắc chia sẻ lợi ích còn chi phối tới các quy định của luật pháp, các chính sách nhằm mục tiêu: (1) tổ chức tốt việc tái định cư cho cả một cộng đồng dân cư gắn với môi trường sống, việc làm, các sinh hoạt cộng đồng liên quan đến tập quán, văn hóa, tâm linh; (2) bảo đảm quyền được hưởng lợi của địa phương, của cộng đồng từ thuế, phí và được hưởng giá ưu đãi mua sản phẩm của dự án; (3) gắn kết lâu dài giữa dự án và cộng đồng dân cư tại địa phương nhằm bảo đảm tính bình đẳng, tự chủ của từng bên và gắn kết quyền lợi lâu dài giữa hai bên.
- Các dự án chỉnh trang đô thị
Việc chỉnh trang đô thị tại những khu vực có hạ tầng quá cũ, các khu vực nhà ổ chuột cũng đang đặt ra đối với rất nhiều thành phố lớn, không chỉ ở các nước đang phát triển mà ở cả các nước phát triển. Vấn đề này cũng có mục tiêu mang lại lợi ích cho cả thành phố lớn nhưng lại tác động trực tiếp tới một cộng đồng dân cư nghèo. Mặt khác, đây cũng là vấn đề cần giải quyết theo hướng xóa đói, giảm nghèo tại đô thị. Ngân hàng thế giới và các ngân hàng khu vực đã triển khai nghiên cứu ở hầu hết các đô thị lớn trên thế giới để hình thành giải pháp cho phát triển đô thị bền vững. Từ đây, nhiều chính sách có liên quan đã được hướng dẫn, khuyến nghị để các nước xem xét, ứng dụng. Chính sách chung là đưa ra giải pháp để gắn chặt mối quan hệ giữa chính quyền thành phố, nhà đầu tư, cộng đồng cư dân các khu phố nghèo trên cơ sở giải quyết bài toán kinh tế – chính trị học cho phát triển đô thị. Chính sách đất đai cho khu vực đô thị nghèo dựa chủ yếu vào cơ chế góp đất, điều chỉnh lại đất đai.
1.6.7. Khả năng áp dụng kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Từ những mô hình, kinh nghiệm của các nước, các tổ chức quốc tế trong chuyển đổi đất đai không tự nguyện, có thể rút ra một số bài học ban đầu cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam để phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường, như sau:
- Xác định các trường hợp áp dụng biện pháp Nhà nước thu hồi đất
Các nước, vùng lãnh thổ xác định việc áp dụng biện pháp hành chính để có đất một cách rất hạn chế, ví dụ Hàn Quốc áp dụng cho các các dự án kinh tế như khu đô thị, khu công nghiệp nhưng cũng xác định rõ là các công trình dự án này phải do Nhà nước đầu tư; Trung Quốc áp dụng cho các dự án lớn có hạ tầng chung; Canađa quy định chính quyền các bang có thể thu hồi quyền sở hữu đất nhưng quyền này chỉ áp dụng với những mảnh đất thể hiện trong bản quy hoạch là sử dụng cho mục đích công cộng ví dụ như đường giao thông và cơ sở hạ tầng.
Trong khi đó, các quy định của Luật đất đai 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật quy định về trường hợp được áp dụng biện pháp Nhà nước thu hồi đất vẫn còn khá rộng rãi, bao gồm cả dự án phát triển kinh tế lớn, đầu tư xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp (không phân biệt nguồn vốn đầu tư là của Nhà nước hay của tư nhân), các dự án 100% vốn nước ngoài. Đây là một vấn đề rất khó thuyết phục người có đất bị thu hồi nhanh chóng chấp nhận phương án bồi thường để bàn giao mặt bằng, những người này cho rằng nếu lấy đất của họ để sử dụng vào các mục đích như xây dựng đường giao thông, công trình công cộng thì họ sẵn sàng chấp nhận hi sinh vì cộng đồng, nhưng nếu lấy đất của họ cho các dự án kinh tế thì phải thỏa thuận sòng phẳng và trong nhiều trường hợp những người dân này cho rằng họ cũng có thể tự đầu tư trên mảnh đất của họ được như các nhà đầu tư khác, việc Nhà nước thu hồi đất của họ để giao cho các nhà đầu tư khác là không công bằng, không bình đẳng.
- Đảm bảo quyền lợi của người có đất bị thu hồi
Kinh nghiệm của Ôxtrâylia trong việc ban hành nguyên tắc chủ đạo của việc bồi thường là phải đảm bảo cho người có đất bị thu hồi điều kiện về tài chính ngang bằng với trạng thái cũ khi đất chưa bị thu hồi; của Đức với nguyên tắc là bồi thường sẽ đem lại cho chủ sở hữu cơ hội có được tài sản tương tự.và phải bao gồm cả kế hoạch di dời nhà, tìm việc khác hoặc chuyển vị trí kinh doanh; Kinh nghiệm của Canada trong việc xác định đầy đủ các loại thiệt hại mà người bị thu hồi đất phải gánh chịu bao gồm: đất, nhà, các công trình khác; mất giá trị đối với mảnh đất còn lại; mất các tiện ích như cây cối và cảnh quan; tổn thất về kinh doanh; thiệt hại về việc di dời, ví dụ chi phí di chuyển và tái định cư (áp dụng đối với chủ sở hữu và người thuê đất) cần được nghiên cứu để nâng mức bồi thường cho người bị thu hồi đất, đảm bảo sinh kế của hộ sau khi đã mất đi tư liệu sản suất quan trọng nhất là đất đai.
- Tăng cường vai trò của cơ quan hành chính nhà nước trong trường hợp chủ đầu tư tự thỏa thuận với người dân để có đất thực hiện dự án đầu tư Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Một thực tế đang diễn ra là trong quá trình thương lượng, thỏa thuận với người dân, nhà đầu tư thường gặp khó khăn trong việc tìm được tiếng nói đồng thuận tuyệt đối mà luôn có một bộ phận người đang sử dụng đất không muốn hợp tác với nhà đầu tư để chuyển nhượng quyền sử dụng đất của họ. Từ đó, dẫn đến tình trạng dự án bị giẫm chân tại chỗ, không triển khai được, phá vỡ quy hoạch chi tiết được duyệt. Đối với trường hợp này có thể áp dụng bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc, sau khi đã thỏa thuận được với đa số người dân (Hàn Quốc quy định là 85%) thì đối với những trường hợp còn lại sẽ bị cưỡng chế thu hồi đất và áp dụng giá bồi thường đã thỏa thuận được với đa số.
- Nghiên cứu, áp dụng cơ chế chia sẻ lợi ích
Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế trong việc áp dụng cơ chế chia sẻ lợi ích đối với các dự án trong lĩnh vực thủy điện, chỉnh trang đô thị cần được nghiên cứu (đặc biệt, ở Việt Nam đã nghiên cứu vận dụng trong dự án Thủy điện Sơn La, chỉnh trang đô thị của Đà Nẵng, dự án trồng cây cao su tại Sơn La, Lai Châu), trên cơ sở đó có quy định cụ thể về quy trình thực hiện chuyển đổi đất đai trong trường hợp thực hiện các dự án có tác động lớn, trên diện rộng đến cộng đồng dân cư như các dự án thủy điện lớn, dự án khai thác khoáng sản, dự án xây dựng hồ thủy lợi lớn, các dự án thực hiện chỉnh trang nâng cấp hạ tầng đô thị, khu dân cư nông thôn, xây dựng lại các khu dân cư cũ trên nguyên tắc chia sẻ quyền lợi giữa các bên tham gia, các bên có quyền lợi liên quan.
- Kinh nghiệm quốc tế về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới, nhất là ở các nước cũng đã trải qua thời kỳ chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, những nước có nhiều điểm tương đồng về chế độ sở hữu, văn hóa… với Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề: làm thế nào để có thể cân bằng được giữa nhu cầu đất cho phát triển các mục đích phi nông nghiệp nhưng lại phải đảm bảo ổn định xã hội, công bằng và phát triển bền vững? Trên thế giới, nhiều nước đã có những sáng kiến, biện pháp thực hiện để giải quyết tốt vấn đề đất đai trong quá trình công nghiệp hóa đất nước. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, học tập kinh nghiệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số quốc gia, tổ chức quốc tế sẽ rất hữu ích cho Việt Nam trong việc xây dựng và thực thi chính sách pháp luật đất đai về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người sử dụng đất có đất bị thu hồi.
Kết luận chương 1 Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Luật Đất đai nói chung và những quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư nói riêng đã có quá trình hình thành và phát triển nhất định, qua mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã không ngừng được xây dựng, phát triển và hoàn thiện, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh. Những quy định của pháp luật đất đai năm 2013 đã được xây dựng và hoàn thiện toàn diện và căn bản hơn so với Luật Đất đai năm 2003 đã và đang đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, do các quan hệ xã hội không ngừng vận động và phát triển đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện này thì việc tiếp tục xây dựng và đổi mới các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải được tiến hành thường xuyên, nhằm tạo ra hành lang pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tế.
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư nói riêng có ý nghĩa quan trọng, quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế khác, đến hoạt động phát triển kinh tế, xã hội bảo đảm quốc phòng, an ninh cho đất nước.
Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng về pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nói riêng cũng như việc học tập, tiếp thu, áp dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế về việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư pháp luật đất đai năm 2013 đã có những thay cơ bản, toàn diện, hệ thống các quy định của pháp luật đất đai đã được xây dựng đồng bộ, khoa học, logic đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý đất đai trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, do đất đai là tài sản đặc biệt có giá trị to lớn không chỉ bằng vật chất mà còn mang yếu tố xã hội đặc biệt quan trọng, là cơ sở, nền tảng cho tất cả các ngành kinh tế, các hoạt động của con người được diễn ra cho nên pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi đất nói riêng có những đặc điểm riêng, cơ bản chi phối.
Xây dựng các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải bảo đảm quyền lợi của Nhà nước, của doanh nghiệp và đặc biệt phải bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người có đất bị thu hồi trên cơ sở các quy định cụ thể, khoa học, khách quan, dân chủ đi đôi với những quy định, những chế tài đủ sức răn đe những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về bồi thường hỗ trợ và tái định cư
Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư