Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động đến năng lực công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Tỉnh Viêng Chăn là một tỉnh nông nghiệp, có diện tích 22.554.48km2, với 11 huyện, 443 bản làng thuộc vùng Tây Bắc Lào phần lớn là vùng núi và núi đá (chiếm 2/3 diện tích); đồng bằng chỉ chiếm 1/3 diện tích của toàn tỉnh. Diện tích phần lớn là núi, núi đá chiếm 80% diện tích của tỉnh. Đất trồng trọt chỉ nằm hai bên bờ sông Năm Ngưm. Tiềm năng đất đai của tỉnh chưa được khai thác, kết cấu hạ tầng vẫn còn nghèo nàn.

Tỉnh Viêng Chăn phía bắc giáp với tỉnh Luangpabang, phía nam giáp với thủ đô Viêng Chăn, phía đông giáp với tỉnh Xiêng Khuan và Bolykhamxay; phía Tây giáp với tỉnh Sayabuly và tỉnh Lơi (Thái Lan).

Tỉnh Viêng Chăn nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm. Nhiệt độ cao nhất trong năm là 34-39 độ, thấp nhất trong năm từ 18-12 độ. Lượng mưa bình quân hàng năm là 2.668mm.

2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội 

Tỉnh Viêng Chăn có 3 dân tộc chủ yếu và một số người nước ngoài như dân tộc Lao Lum có 291.891 người, chiếm 60,7%; dân tộc Lào Mông có 110.407 người, chiến 23%: người nước ngoài sinh sống ở tỉnh Viêng Chăn là 544 người, chiến 0,11%.

Cư dân của tỉnh Viêng Chăn có cơ cấu phức tạp, có quá trình lịch sử phát triển rất lâu dài, đa dạng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng. Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Phần lớn cư dân tỉnh Viêng Chăn từ miền Bắc di chuyển xuống.

Từ năm 1981 đến nay, tỉnh Viêng Chăn đã phát triển kinh tế – xã hội tương đối nhanh với thế mạnh của mình bao gồm nhiều ngành, nghề khác nhau… Tỉnh Viêng Chăn đã hình thành được ba khu vực phát triển kinh tế như khu vực huyện Viêng Khăm, khu vực huyện Phôn Hông, khu vực huyện Thulakhom và một khu vực phát triển du lịch mạnh, đó là khu vực huyện Văn Viêng.

Tỉnh Viêng Chăn có tiềm năng và điều kiện khá thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội như diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là đất nông nghiệp hai bên bờ sông Năm Ngưm thuận lợi cho trông trọt. Ở đây có rất nhiều sông, suối để làm thủy lợi, thủy điện, như thủy điện Năm Ngưm I với công suất là 150.000 kw, thủy điện Năm Ngưm II với công suất 615 Mw, thủy điện Năm Ngưm III với công suất 460 Mw. Đây là tiềm năng lớn của nước Lào nói chung và tỉnh Viêng Chăn nói riêng. Các nhà máy thủy điện này đã đáp ứng đủ điện năng cho cả nước Lào và bán cho Thái Lan mỗi năm hàng nghìn Kw điện. Tỉnh Viêng Chăn có đường quốc lộ 13 đi qua (dài 210km) và còn có nhiều đường giao thông khác tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại buôn bán với các tỉnh trong cả nước. Tỉnh Viêng Chăn còn có cửa khẩu ở huyện Xanakham để người dân giao lưu buôn bán, kinh doanh…

Tỉnh Viêng Chăn có hệ thống các trường cao đẳng và đại học của tư nhân, có bệnh viện liên kết Lào – Luc-xăm-bua… Trình độ dân trí của tỉnh Viêng Chăn ngày càng ngày càng được nâng cao. Tỉnh Viêng Chăn có bề dày truyền thống cách mạng, có nhiều đóng góp trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Người dân tỉnh Viêng Chăn cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, có bản chất hiền lành, lương thiện, có ý thức chấp hành đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Lào.

Điều kiên về tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Viêng Chăn có ảnh hưởng đến năng lực công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đang được đẩy mạnh, trong kỷ nguyên “cách mạng công nghệ 4.0” và hội nhập kinh tế toàn cầu.

Thuận lợi:

Tỉnh Viêng Chăn có tiềm năng và điều kiện khá thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội như diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là đất nông nghiệp hai bên bờ sông Năm Ngưm thuận lợi cho trông trọt. Ở đây có rất nhiều sông, suối để làm thủy lợi, thủy điện, như thủy điện Năm Ngưm I với công suất là 150.000 kw, thủy điện Năm Ngưm II với công suất 615 Mw, thủy điện Năm Ngưm III với công suất 460 Mw. Đây là tiềm năng lớn của nước Lào nói chung và tỉnh Viêng Chăn nói riêng. Các nhà máy thủy điện này đã đáp ứng đủ điện năng cho cả nước Lào và bán cho Thái Lan mỗi năm hàng nghìn Kw điện. Tỉnh Viêng Chăn có đường quốc lộ 13 đi qua (dài 210km) và còn có nhiều đường giao thông khác tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại buôn bán với các tỉnh trong cả nước. Tỉnh Viêng Chăn còn có cửa khẩu ở huyện Xanakham để người dân giao lưu buôn bán, kinh doanh…

  • Cơ cấu kinh tế của tỉnh ngày càng được định hình rõ nét hơn, phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường. Chính điều này đòi hỏi năng lực công chức ở tỉnh phải không ngừng được nâng cao, phù hợp với chính sách mở của hội nhập và đổi mới cơ chế quản lý của đất nước. Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.
  • Tỉnh Viêng Chăn có hệ thống các trường cao đẳng và đại học của tư nhân, có bệnh viện, Do vậy có trình độ dân trí ngày càng ngày càng được nâng cao. Mặt khác, tình nhà có bề dày truyền thống cách mạng, có nhiều đóng góp trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Người dân tỉnh Viêng Chăn cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, có bản chất hiền lành, lương thiện, có ý thức chấp hành đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Lào.

Do vậy, với điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp tỉnh Viêng Chăn có nhiều nguồn lực phát triển kinh tế và giao thông thuận lợi, ví trí thuận lợi là điều kiện giúp các công chức quản lý Viêng Chăn là địa phương giàu truyền thống cách mạng. Cán bộ, công chức và nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trung thành với Nhà nước. Chính truyền thống này mà công chức quản lý các phòng cơ quan chuyên môn luôn có tư tưởng vững vàng, luôn thể hiện tinh thần cống hiến và phục vụ cao trong thực thi công vụ.

Đặc biệt đội ngũ công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn hiện nay đa số được rèn luyện, trưởng thành, thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành, kiên định với đường lối đổi mới, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu trong sinh hoạt, lối sống, quan hệ tốt với quần chúng nhân dân, gắn bó với địa phương nơi cư trú.

Khó khăn: 

 Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tỉnh Viêng Chăn vẫn còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém. Kinh tế – xã hội phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, chưa đáp ứng được sự mong mỏi của nhân dân. Quản lý nhà nước vẫn còn thiếu chặt chẽ, chưa ngăn chặn một cách có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực. Đời sống của một bộ phận người ăn lương, nghỉ hưu và các đối tượng chính sách xã hội vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Số lượng người thiếu việc làm và chưa có việc làm còn chiếm tỷ lệ cao. Tệ nạn xã hội và tội phạm có chiều hướng gia tăng. Trật tự an toàn xã hội vẫn chưa đảm báo tốt. Tệ tham nhũng vẫn còn tồn tại. Nếp sống thanh lịch và đạo đức suy giảm. Truyền thống dân tộc có phần bị xói mòn. Tác động tiêu cực của lối sống thực dụng phương Tây tác động khá mạnh đến các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Môi trường thiên nhiên ngày càng bị tàn phá nghiêm trọng. Việc quản lý, điều hành của các cấp chính quyền chưa nghiêm, hiệu quả thấp. Công tác xây dựng Đảng chưa được chú trọng một cách thích đáng. Nhiều Đảng bộ cơ sở đã không phát huy được vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của mình.

Bên cạnh đó công chức quản lý cấp phòng Cơ quan chuyên môn còn mang nặng tác phong nông nghiệp xử lý công việc còn tùy tiện, thiếu tính chuyên nghiệp, thiên về cảm xúc, tình cảm. Bên cạnh đó, đạo lý “kính lão đắc thọ”, “dĩ hòa di quý” đã ăn sâu vào suy nghĩ, hành động của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn Ủy ban nhân dân tỉnh nên những công chức trẻ thường không dám trái ý những người lớn tuổi trong cơ quan, ngại va chạm, không dám nói thẳng, nói thật.Hầu hết đội ngũ công chức quản lý các phòng tại Cơ quan chuyên môn còn hạn chế về tác phong, phong cách làm việc như: thiếu quyết đoán trong tham mưu, xây dựng kế hoạch công tác chưa phù hợp; kỹ năng giao tiếp còn hạn chế; chậm tiếp thu cái mới, chậm đổi mới tác phong.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công

2.2. Khái quát về cơ quan chuyên môn và công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn

2.2.1. Khái quát về cơ quan chuyên môn của tỉnh Viêng Chăn

2.2.1.1. Các cơ quan chuyên môn của tỉnh Viêng Chăn

Theo Luật Hành chính địa phương (2016) của Lào thì bộ máy hành chính cấp tỉnh gồm Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn (Sở). Hiện Ủy ban nhân dân tinh Viêng Chăn có 17 sở chuyên môn với 282 công chức quản lý. Thể hiện qua hình sau:

Sơ đồ 1. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn

Công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn là đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, có vai trò nòng cốt, thực hiện các hoạt động chuyên môn nhất định, thúc đẩy đơn vị hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao. Công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh phải là người có năng lực, trình độ chuyên môn, vững vàng về tư tưởng chính trị, đạo đức công vụ, có phong cách lãnh đạo, làm việc khoa học, có đủ năng lực vừa thực hiện chức năng lãnh đạo quản lý, vừa có chuyên môn vững vàng.

2.2.1.2. Số lượng, cơ cấu công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn

Hiện nay tổng số công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn tính đến tháng 12 năm 2019 là 282 công chức. Trong những năm vừa qua liên tục được bổ sung từ nhiều nguồn vì vậy chất lượng, năng lực của công chức liên tục được tăng lên về số lượng và chất lượng công chức. Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Biểu đồ 2.1: Số lượng công chức quản lý các phòng tại cơ quan

Qua số liệu từ Sở Nội vụ tỉnh Viêng Chăn số lượng công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn trong tỉnh trong giai đoạn từ 2015–2020 liên tục biến động và có xu hướng liên tục biến chuyển theo chiều hướng giảm dần điển hình nếu như năm 2015 có 308 người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý các cơ quan chuyên như giám đốc sở, phó giám đốc sở, các trưởng, phó phòng chuyên môn. Nhưng đến năm 2019 chỉ còn 282 người và xu hướng này sẽ còn tiếp tục giảm khi Lào liên tục thực hiện cải cách hành chính trong đó cải cách bộ máy hành chính được chú trọng, tỉnh gọn bộ máy hành chính, tinh giảm các phòng ban chuyên môn hướng đến giảm cả số lượng công chức quản lý nhưng vẫn đảm bảo tính ổn định, tính hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý, không làm giảm chức năng quản lý nhà nước.

Số lượng công chức quản lý các phòng tại các phòng tại cơ quan chuyên môn tỉnh Viêng Chăn liên tục được cải thiện về chất lượng và số lượng. Chất lượng cán bộ công chức trong tỉnh nói chung và công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn nói riêng trong tỉnh luôn được cấp ủy, chính quyền quan tâm và coi đó là khâu đột phá trong sự phát triển của tỉnh, do vậy những năm gần đây năng lực của công chức quản lý cơ quan chuyên môn trong tỉnh liên tục được nâng cao.

  • Về cơ cấu giới tính:

Biểu đồ 2.2: Công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn

Nhìn vào biểu đồ ta thấy, tỷ lệ nam giới là công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn luôn chiếm số đông luôn ở mức trên 80%. Cụ thể năm 2015 nam giới là 272 người chiếm 88,3 %, nữ là 36 người chiếm 11,7 %, một tỷ lệ nam giới rất đông đảo. Nhìn vào biểu đồ ta thấy xu hướng tỷ lệ công chức nữ có xu hướng gia tăng đồng đều qua các năm, nếu như năm 2015 là 36 người thì đến năm 2019 là 45 người, tăng 11 người tăng 24,4% trong vòng 5 năm. Nếu như trước kia đại đa số là nam giới làm công chức quản lý thì hiện nay xu hướng này có sự dịch chuyển nhanh chóng là nữ sẽ có xu hướng gia tăng do bình đẳng giới được thực hiện, mặt khác phụ nữ thi đỗ công chức cũng như tham gia vào bộ máy nhà nước có xu hướng gia tăng, hơn nữa họ cũng phát huy thế minh và không ngừng nỗ lực phấn đấu để có vị trí cao trong hệ thống. Tuy nhiên, số công chức là nữ giới hiện ngày càng chiếm số lượng và tỷ lệ ngày càng tăng nhưng so với nam giới con rất khiêm tốn và tỷ lệ rất thấp so với nam giới.

  • Về cơ cấu độ tuổi:

Biểu đồ 2.3: Đặc điểm về độ tuổi của công chức quản lý các phòng

Qua biểu đồ ta thấy, về độ tuổi của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn trong giai đoạn từ 2015 đến 2019 có đầy đủ yếu tố tuổi trẻ, kinh nghiệm lại vừa có tính kế thừa. Trong đó công chức ở độ tuổi từ 40 đến 50 tuổi chiếm tỷ lệ đông đảo nhất qua các năm, điển hình năm 2015 là 122 người chiếm 39,6 người, năm 2016 là 112 người chiếm 37,2% là liên tục biến động qua các năm và đến năm 2018 là 73 người chiếm 37,2% công chức. Đây là nhóm công chức vừa trẻ lại đã có kinh nghiệm làm việc trong các cơ quan nên sẽ thuận lợi cho công việc. Tỷ lệ công chức từ 50 đến 60 có xu hướng giảm do đến tuổi nghỉ hưu theo chế độ đối với nữ là 55 tuổi, với nam giới là 60 tuổi. Mặt khác, có một số công chức ở độ tuổi này được cơ cấu vào các chức vụ lãnh đạo nên có xu hướng giảm.

2.3 Thực trạng năng lực công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

2.3.1 Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

2.3.1.1. Trình độ công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn

Trong những năm gần đây trình độ công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn luôn chú trọng đến nâng cao trong đó có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ đòi hỏi phải được bồi dưỡng, nâng cao nhằm đáp ứng với xu thế kinh tế hội nhập quốc tế và sự phát triển chung của tỉnh. Đặc biệt, đây là những công chức tinh hoa nhất trong tỉnh đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao mà các lĩnh vực khác cũng phải được coi trọng để hoàn thiện bản thân

  • Trình độ văn hóa

Qua các số liệu thống kê và khảo sát của tác giả, trình độ văn hóa của đội ngũ công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn được đảm bảo theo quy định. Với sự cố gắng, nỗ lực không ngừng học tập của công chức, trình độ văn hóa của đội ngũ này đã đạt 100% công chức có trình độ văn hóa tốt nghiệp trung học phổ thông (10/10 hoặc 12/12). Như vậy, đã đáp ứng yêu cầu quy định về các tiêu chuẩn đối với công chức quản lý cơ quan chuyên môn do Bộ Nội vụ quy định.

Việc nâng cao trình độ văn hóa và tinh thần của nhân dân đã được tỉnh Viêng Chăn triển khai theo quan điểm của Đảng là: xây dựng người trở thành công dân tốt, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ dân chủ nhân dân, có trật tự và tôn trọng trước pháp luật, hiểu biết rõ và biết so sánh hiệu quả lợi ích có liên quan, biết thực hiện nghĩa vụ, có trách nhiệm trước nhiệm vụ của mình, xây dựng người trở thành người có trình độ văn hóa, có chuyên môn, có khả năng, tích cực; thiết kế và cần biết tiết kiệm, liêm chính, có sức khỏe và hoàn hảo, có văn minh về tinh thần. Xây dựng người có tinh thần yêu nước, yêu di sản văn hóa, bảo vệ giữ gìn và triển khai văn hóa tốt đẹp của đất nước và các bộ tộc, yêu sự lao động; Xây dựng người có tinh thần độ lượng, biết tha thứ, biết hi sinh, có lối sống đẹp, chân thật, có đạo đức và phong cách lịch sự; Xây dựng người có tinh thần biết công ơn, biết kế tiếp và chuyển tiếp những điều tốt đẹp, có sự hiếu thảo, biết ơn đối với người có công lao và biết tiếp thu tinh hoa văn hóa của thế giới

  • Trình độ đào tạo

Trong những năm qua trình độ đào tạo của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn liên tục được nâng lên về trình độ, không chỉ đáp ứng về trình độ bằng cấp theo quy định, rất nhiều công chức quản lý đã nỗ lực để nâng cao trình độ bằng việc học tập không chỉ đáp ứng nhu cầu công việc mà cả nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu. Số công chức được tự đi học và được cử đi học, được để bồi dưỡng ngày càng đông đảo để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ công việc theo quy định ngày càng cao. Mặt khác,

Chính phủ Lào nói chung và chính quyền tỉnh Viêng Chăn nói riêng có nhiều chương trình và hợp tác về đào tạo nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công chức Lào với các Chính phủ và địa phương các nước bạn một số lượng đông đảo. Hàng năm, có hàng trăm sinh viên đến từ Lào, trong đó có sinh viên từ tỉnh Viêng Chăn được cử đi học đại học, thạc sỹ, tiến sỹ tại các nước như Trung Quốc, Việt Nam… Do vậy cũng là điều kiện thúc đẩy các công chức nâng cao trình độ của bản thân. Đặc biệt các công chức trẻ, họ còn có nhu cầu học ở các chương trình đào tạo sau đại học để nâng cao trình độ, năng lực công tác cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Biểu đồ 2.4. Trình độ đào tạo của của công chức quản lý các phòng

Qua biểu đồ ta thấy, nhìn chung trình độ đào tạo của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn trong giai đoạn từ 2015 đến năm 2019 liên tục được thay đổi theo hướng nâng cao trình độ đào tạo, giảm dần tỷ lệ công chức quản lý chỉ có bằng trung cấp và cao đẳng và tiến tới sẽ được chuẩn hóa và không còn công chức có trình độ trung cấp, cao đẳng, tăng cao tỷ lệ đại học và sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ). Theo đó trình độ ngày càng được bảo đảm quy định về chức danh công tác. Cụ thể như sau trình độ đại học luôn chiếm tỷ lệ cao nhất năm 2015 là 167 người với tỷ lệ chiếm 54,2 tổng số công chức. Số công chức có bằng đại học tăng liên tục qua các năm đến năm 2017 tăng lên là 176 người chiếm 59,2% và liên tục có sự biến động tuy tổng số có giảm nhưng tỷ lệ liên tục tăng và đến năm 2019 là 158 người chiếm 56%. Nguyên nhân số công chức có trình độ liên tục tăng như vậy là hàng năm số công chức được chuẩn hóa bằng cấp do đi học từ các hệ đào tạo như tại chức, đào tạo từ xa… nên được chuẩn hóa nhanh và cũng đủ để các công chức hoàn thiện việc học. Tỷ lệ công chức có bằng cao đẳng, trung cấp, sơ cấp giảm đều liên tục do số công chức này đi học bổ sung bằng cấp, số còn lại đa số tuổi cao chờ tuổi nghỉ hưu nên họ không đi học để chuẩn hóa bằng cấp. Điều đáng nói số công chức có trình độ sau đại học tăng nhanh. Năm 2015, 17 công chức có bằng tiến sỹ chiếm 5,5% và có 56 công chức có bằng thạc sỹ chiếm 18,2. Đến năm 2019, toàn tỉnh đã có 28 tiến sỹ chiếm 9,9%, số thạc sỹ là 87 công chức chiếm 30,8%, đặc biệt các công chức trẻ tuổi từ 30 đến 45 Họ nhiệt huyết với công việc, ham học hỏi nâng cao trình độ, kiến thức nên trình độ đào tạo sẽ được cải thiện, đặc biệt tỉnh Viêng Chăn có nhiều trường đại học, cao đẳng đóng trên địa bàn nên là cơ hội để cho các công chức có mong muốn nâng cao trình độ đào tạo, chuyên môn.

So với tiêu chuẩn quy định của Bộ Nội vụ Lào, số công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn đều đạt chuẩn, một số về hưu theo chế độ. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các công chức đều học hệ đại học tại chức hoặc các chương trình liên thông, liên kết. Số lượng công chức có bằng đại học chính quy chưa được cao, chủ yếu là các công chức trẻ. Do vậy, nếu chỉ căn cứ vào số liệu công chức có trình độ đại học tăng qua các năm cũng chưa thể khẳng định chất lượng công chức quản lý được nâng cao. Bên cạnh đó, ngoài việc tham gia các chương trình đào tạo, các hệ đào tạo của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn cũng chủ động nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn bằng nhiều cách như: thường xuyên đi cơ sở trò chuyện, trao đổi với công dân để chủ động nắm bắt tình hình thực tế, thường xuyên tham khảo, xin ý kiến về lĩnh vực chuyên môn từ các phòng, ban phụ trách, học hỏi kinh nghiệm quản lý nhà nước từ các địa phương nước bạn như Việt Nam, Thái Lan… Qua phỏng vấn một số lãnh đạo Sở, tác giả thu thập được thông tin: nhiều công chức đã được tổ chức thường xuyên gặp gỡ, học hỏi kinh nghiệm xử lý trong công việc và trao đổi các vấn đề liên quan đến chuyên môn, liên quan đến các văn bản quy phạm pháp luật từ những cán bộ phòng, ban giữa các sở với nhau, giữa các địa phương trong cả nước và nước ngoài để nâng cao trình độ chuyên môn.

  • Trình độ lý luận chính trị Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Trình độ lý luận chính trị của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn không chỉ được lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm bồi dưỡng, mà còn là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng; mặt khác, với vị trí địa lý quan trọng và nơi các thế lực chống phá liên tục thực hiện âm mưu chống phá chính quyền tỉnh. Do vậy, kết quả học tập chính trị là một trong những tiêu chuẩn để xem xét đánh giá, sử dụng, thực hiện các chính sách cán bộ khác. Do vậy, trong những năm qua, số lượng công chức của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn có trình độ lý luận chính trị ngày càng tăng lên và hàng năm liên tục có một số lượng đông đảo công chức quản lý cơ quan chuyên môn được cử đi học không chỉ đào tạo trong nước mà còn gửi đi đào tạo ở nước ngoài để nâng cao trình độ lý luận.

Biểu đồ 2.5. Trình độ lý luận chính trị của của công chức quản lý các

Trình độ chính trị của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn ngày càng được nâng lên rõ rệt về chất lượng và số lượng, đặc biệt là trình độ cao cấp lý luận chính trị được nâng lên rõ rệt. Năm 2015, 120 công chức có trình độ cao cấp chiếm 38,9 %, đến năm 2019 là 148 người chiếm 52,4% và con số này sẽ tiếp tục được nâng lên trong thời gian tới để chuẩn hóa đội ngũ công chức quản lý trong tỉnh.

Đa số công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh đều có bằng trung cấp và cao cấp lý luận, chỉ một số nhỏ công chức có trình độ sơ cấp lý luận chính trị tuy nhiên trong thời gian tới khi Lào thực hiện chuẩn hóa đội ngũ công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thì sẽ không còn trình độ sơ cấp lý luận chính trị nữa.

Hiện tại số lượng công chức quản lý các phòng tại các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn có trình trung cấp lý luận chính trị còn đông đảo, tuy nhiên với sự phát triển kinh tế trong tỉnh, sự hợp tác đào tạo các nước anh em và yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ nên số lượng công chức có trình độ trung cấp sẽ tiếp tục tăng mạnh, trên cơ sở một số sẽ được quy hoạch lên chức vụ mới nên sẽ được cử đi học các lớp cao cấp lý luận chính trị.

Có thể nói, số lượng công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh được đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính trị cần phải được đẩy mạnh hơn nữa. Trình độ lý luận chính trị được nâng lên không chỉ giúp cho trình độ, năng lực được nâng lên trong công tác mà nó giúp công chức quản lý có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ vững lập trường, kiên định trong mọi hoàn cảnh. Trong bối cảnh kinh tế xã hội đang ngày càng diễn biến phức tạp, kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức nói chung và công chức quản lý cơ quan chuyên môn nói riêng đã có biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, gây mất lòng tin với quần chúng nhân dân. Vì vậy, việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ công chức quản lý là việc làm cần thiết, nhằm giúp họ thấm nhuần tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, tự chỉnh đốn bản thân, vận dụng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, cũng như phương pháp làm việc một cách khoa học. Trình độ lý luận chính trị được nâng lên không những giúp phục vụ công việc nắm được lý luận để đưa vào thực tiễn mà nó còn giúp công chức quản lý có thêm kiến thức để vận động quần chúng nhân dân, gia đình bạn bè chấp hành đướng lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

  • Trình độ ngoại ngữ, tin học Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Về trình độ ngoại ngữ của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn:

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đại hóa nền hành chính hội nhập thế giới thì yêu cầu mỗi công chức phải có khả năng giao tiếp và sử dụng trong công việc là điều bắt buộc trong “kỷ nguyên cách mạng công nghệ 4.0” đặc biệt, các công chức trẻ rất mong muốn có cơ hội được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ để có thể sử dụng vào trong công việc.

Thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế mở cửa, Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV về “Đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới kinh tế, giải quyết đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Đời sống của người dân được nâng cao cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Người dân Lào nói chung và đội ngũ công chức nói riêng ở tỉnh Viêng Chăn có điều kiện tiếp xúc với nền văn hóa, văn minh của thế giới bên ngoài. Đồng thời lại có điều kiện mà tiếp xúc với người nước ngoài, ở cơ quan, ở nơi làm việc, ngoài ra còn tiếp xúc với họ ở ngoài cơ quan khi gặp khách du lịch ở những nơi du lịch.

Hiện nay ở tỉnh Viêng Chăn tiếng Anh được dùng phổ biến nhất trong các thứ tiếng nước ngoài, ngoài ra còn có khá đông người Việt, người Trung Quốc sinh sống, làm việc. Người ở tỉnh được sử dụng tiếng Anh để giao tiếp quốc tế, ngoài ra sách báo, tạp chí, giáo khoa và các ấn phẩm khác, các chương trình trên đài truyền hình cũng như trên mạng Internet đều sử dụng tiếng Anh. Mặt khác do yêu cầu muốn có cơ hội tham gia vào một tổ chức cá nhân hoặc cơ quan nước ngoài, về ngoại ngữ đòi hỏi phải biết tiếng Anh. Có thể nói rằng, hiện nay ở tỉnh Viêng Chăn tiếng Anh đóng vai trò rất lớn đối với công chức cũng như đối với người dân.

Tuy nhiên, hiện nay ở Viêng Chăn có khoảng một nửa công chức biết ngoại ngữ nhưng tỷ lệ thông thạo một ngoại ngữ rất thấp. Có một số ít người biết 2, 3 thứ tiếng. Số công chức biết tiếng Việt chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là các ngoại ngữ của các nước. Số công chức có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ A, B, C tuy nhiều nhưng cũng chưa phản ánh đúng năng lực ngoại ngữ của công chức.

Ngoại ngữ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển cùng với sự tồn tại của xã hội. Ngoại ngữ không chỉ để phục vụ giao tiếp xã hội mà còn là năng lực hoạt động của công chức.

Về trình độ tin học của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn:

Biểu đồ 2.6: Trình độ tin học của công chức quản lý các phòng tại

Hiện nay có 100% số công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn đã có chứng chỉ tin học và trung cấp trở lên đáp ứng được tiêu chuẩn chức danh. Vì hiện nay theo quy định tuyển dụng công chức yêu cầu phải có chứng chỉ tin học vì vậy ngay từ đầu vào khi được trúng tuyển công chức thì công chức đã có chứng chỉ tin học theo quy định. Ngoài ra, trình độ tin học của công chức trong tỉnh ngày càng được nâng lên. Điển hình qua biểu đồ ta thấy hiện tại chỉ có 5,8 % công chức quản lý có trình độ tin học đại học. Ngoài ra, số công chức có bằng trung cấp, đại học cũng có xu hướng tăng do yêu cầu nhiệm vụ công việc đòi hỏi.

2.3.2. Về kỹ năng của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn tỉnh Viêng Chăn Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn phải biết vận dụng thuần thục kiến thức về ngành, lĩnh vực; có kinh nghiệm điều hành, quản lý, xử lý các tình huống xảy ra trên thực tiễn thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đơn vị mình; có ảnh hưởng, có uy tín đối với cấp dưới để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Sự tương tác giao thoa giữa lãnh đạo với chuyên viên trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công việc; mối quan hệ giữa lãnh đạo quản lý với chuyên viên có sự tác động qua lại, bổ trợ cho nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Kỹ năng lãnh đạo quản lý, đòi hỏi công chức lãnh đạo quản lý phải có trình độ chuyên môn mới thực hiện tốt nhiệm vụ điều hành hoạt động công vụ của lĩnh vực mình quản lý.

Công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thực hiện chức trách lãnh đạo quản lý, tổ chức, chỉ đạo, điều hành hoạt động thực thi chính sách, pháp luật của Nhà nước; chỉ đạo, điều hành các nhân viên thuộc cấp; tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, giám đốc sở quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; công chức quản lý phải tham gia trực tiếp công tác chuyên môn cùng với công chức cấp dưới. Vì vậy, ngoài năng lực, kỹ năng lãnh đạo quản lý, còn phải giỏi cả chuyên môn. Đây là một đặc tính rất quan trọng, bảo đảm sự thuận lợi cho công chức lãnh đạo quản lý khi thực hiện nhiệm vụ.

Bảng 2.1. Kỹ năng của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn (Do công chức quản lý tự đánh giá)

Kỹ năng tổ chức, chỉ đạo, điều hành là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật vừa mang tính nghệ thuật giúp công việc ở cơ quan, đơn vị mình được vận hành một cách thống nhất, đồng bộ và chặt chẽ.

Tác giả đã tiến hành điều tra, khảo sát đối với đội ngũ của công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn tự đánh giá về các kỹ năng của bản thân thì trong đó đa số tự nhận kỹ năng này của mình là trung bình chiếm 53,4%, 32% ở mức khá, 11,4% là ở mức sử dụng kỹ năng tổ chức, chỉ đạo, điều hành tốt, có một số nhỏ công chức tự nhận mình còn ở mức yếu là 1,5% và 1,7% là mức kém.

Kế hoạch là điều kiện thiết yếu để tổ chức hành động một cách có tổ chức. Chương trình hành động, kế hoạch công tác, lịch làm việc… là căn cứ, phương tiện hoạt động của cá nhân và tổ chức; là điều kiện đảm bảo cho hoạt động của cá nhân và tổ chức hướng tới mục tiêu đã định; đảm bảo sự thống nhất, liên tục và những yêu cầu đặt ra cho hoạt động của cá nhân và tổ chức. Đối với công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn, kế hoạch là cơ sở để chỉ đạo, điều hành, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá công việc một cách chủ động, khoa học. Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Trên cơ sở yêu cầu của thực tiễn, từ kết quả phân tích công việc, để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu chung đã được xác định, công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn xây dựng, phê duyệt kế hoạch hành động.

Qua khảo sát thực tiễn cho thấy, có 1% số công chức quản lý tự nhận mình còn kém và 1,4% là yếu về kỹ năng lập, phê duyệt kế hoạch, tỷ lệ cao nhất công chức lựa chọn là ở mức trung bình chiếm 51%.

Thông qua hoạt động giao tiếp, công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn có thể điều khiển nguồn lực con người trong cơ quan, đơn vị để thực hiện các quyết sách của mình nhằm đạt tới mục tiêu đã định. Nói một cách khác, không có giao tiếp thì không có hoạt động quản lý mà chỉ có lao động tự mình.

Kết quả khảo sát tại tỉnh Viêng Chăn cho thấy: đa số công chức quản lý nhận định mình có kỹ năng giao tiếp từ trung bình trở lên.

Kỹ năng tham mưu là kỹ năng quan trọng trong việc đánh giá năng lực công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Tham mưu giải quyết công việc đạt kết quả chính là biểu hiện của việc nắm bắt được vấn đề, phân tích vấn đề từ thực tiễn từ đó đưa ra phương án tham mưu cho lãnh đạo Sở giải quyết công việc đạt hiệu quả, tuân thủ của pháp luật nhưng linh hoạt trong cách đưa ra phương án xử lý công việc.

Kỹ năng tham mưu là kỹ năng mang tính cá nhân được hình thành, phát triển với sự hỗ trợ của các yếu tố như tư chất, môi trường, ý chí, sự rèn luyện, giáo dục, đào tạo.

Kết quả khảo sát tại tỉnh Viêng Chăn cho thấy: đa số công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn được phỏng vấn khẳng định họ sử dụng từ ở mức trung bình kỹ năng tham mưu cho lãnh đạo Sở trong quá trình thực thi công vụ. Chỉ có 12,3% tự nhận còn yếu và 1,2% là kém trong hoạt động tham mưu thực hiện nhiệm vụ của mình.

Nếu không quản lý tốt thời gian làm việc sẽ dẫn đến tình trạng “nước đến chân mới nhảy”, kế hoạch thực thi công vụ bị phá vỡ, công việc chồng chéo, những khó khăn xuất hiện. Tình trạng này ảnh hưởng nhiều mặt đến hiệu suất làm việc của cá nhân công chức quản lý cơ quan chuyên môn và ảnh hưởng đến hoạt động chung của cơ quan. Đây là một một vấn đề phổ biến. Để giải quyết những khó khăn này, ngoài việc nhận thức được sự tồn tại của chúng, cần có các cách thức phù hợp để thực thi. Thông thường, kỹ năng quản lý thời gian làm việc được thông qua hoạt động lập kế hoạch công tác và lịch làm việc của công chức quản lý cơ quan chuyên môn. Việc xây dựng, công khai kế hoạch công tác và lịch làm việc có ý nghĩa quan trọng để quản lý thời gian làm việc vì lợi ích của tổ chức, của những cá nhân có mối quan hệ công vụ và vì chính lợi ích của công chức quản lý. Nếu công chức quản lý cơ quan chuyên môn không muốn nhiều công việc dồn đến bất ngờ, thì trước hết tự mình phải hoạch định việc tiếp nhận và giải quyết chúng.

Kết quả khảo sát tại tỉnh Viêng Chăn cho thấy: số người tự nhận mình quản lý thời gian chưa tốt ở mức yếu là 1,4%, ở mức kém là 1,1% còn đâu đa số nhận định mình quản lý ở mức trung bình trở lên. 

Ngoài ra, các công việc thường ngày của đội ngũ công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn rất cần đến khả năng phối hợp trong công việc, đó là việc phối hợp giữa cấp trên với cấp dưới, phối hợp giữa các đồng nghiệp với nhau. Mỗi cán bộ, công chức được giao phụ trách những mảng công việc khác nhau, song chúng có mối quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người dân. Do vậy, việc phối hợp trong quá trình thực hiện công việc là rất quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc phối hợp này còn tồn tại rất nhiều hạn chế. Việc không xây dựng được các nhóm làm việc, không có sự liên kết, phối hợp và không thống nhất giữa các ban, các bộ phận dẫn đến tình trạng người dân mỗi khi đến làm việc phải đi khắp các phòng ban mà không giải quyết xong công việc. Bên cạnh đó, lãnh đạo cũng gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai công việc, khó kiểm soát khối lượng công việc và đánh giá kết quả thực hiện công việc đối với các đơn vị, bộ phận. Bản thân công chức có biểu hiện hạch sách, nhũng nhiễu, đặt ra các yêu cầu đòi hỏi tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân phải qua rất nhiều công đoạn, nhiều đơn vị giải quyết trong khi không có đơn vị nào trực tiếp thụ lý hồ sơ để giải quyết.     

2.3.3. Về thái độ của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

2.3.3.1. Phẩm chất đạo đức, thái độ ứng xử trong quá trình làm việc với công dân

Căn cứ kết quả tác giả thu thập từ các phiếu điều tra do công dân tỉnh Viêng Chăn đánh giá khi đi giao dịch thủ tục hành chính hay liên hệ công tác tại các phòng cơ quan chuyên môn trong tỉnh Viêng Chăn.

Tác giả tiến hành khảo sát trực tiếp đối với 100 công dân khi tới các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn để liên hệ công tác hay làm thủ tục hành chính khi tiếp xúc với công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn để đánh giá năng lực công chức quản lý các phòng tại qua một số tiêu chí, có kết quả tổng hợp như sau:

Tại tiêu chí “Tinh thần, thái độ phục vụ tốt, quan tâm, nhiệt tình” thì có kết quả 12/100 phiếu hoàn toàn đồng ý (12%) và 16/100 phiếu (16%) không đồng ý và hoàn toàn không đồng ý với tiêu chí này. Như vậy, vẫn còn tình trạng công chức chưa thực sự nhiệt tình lắng nghe, giải thích và hỗ trợ công dân, tinh thần, thái độ phục vụ công dân chưa đạt yêu cầu.

Công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn phải tiếp xúc trực tiếp làm việc với người dân thường xuyên, do vậy, tinh thần, thái độ phục vụ công dân và khả năng tiếp thu, ghi nhận ý kiến phản hồi của công dân là tiêu chí đánh giá rất quan trọng. Tuy nhiên, với kết quả đánh giá thu được như trên, có thể nói, năng lực của công chức quản lý hiện cần phải được nâng cao hơn, chưa thể hiện được vai trò là “cầu nối” giữa các cấp chính quyền với người dân, chưa tạo dựng được niềm tin và sự tín nhiệm của quần chúng nhân dân.

Bảng 2.2: Đánh giá thái độ làm việc của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn

Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành khảo sát những nội dung tương tự và dành cho công chức trong Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn đánh giá. Kết quả như sau:

Bảng 2.3: Đánh giá thái độ của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn

Như vậy, qua các phiếu đánh giá của công chức chuyên môn ở trong tỉnh và các công dân đến giao dịch tại các phòng, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thì thái độ làm việc của công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn được đánh giá tương đối tốt, thái độ làm việc với công dân cũng đạt mức khá. Bên cạnh đó, mức độ đánh giá của công chức chuyên môn và các tổ chức, công dân dành cho công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn thì các tiêu chí hầu hết đều có sự tương đồng, sự khác biệt về tỷ lệ giữa hai phiếu đánh giá là không lớn. Do vậy, kết quả đánh giá như bảng trên tương đối chính xác. Trong quá trình làm việc với công dân, hầu hết các công chức không có thái độ cửa quyền, hạch sách, hách dịch hay to tiếng với nhân dân. Đa số công chức đều có thái độ đúng mực, nghiêm túc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và tiếp dân.

2.3.3.2. Thái độ, tác phong làm việc và mức độ phối hợp trong công việc

Để đánh giá tác phong làm việc và mức độ phối hợp trong công việc của công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn, tác giả đã tiến hành điều tra lấy ý kiến của chính những công dân đến các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của Viêng Chăn để làm thủ tục hành chính và kết quả đánh giá được thể hiện như sau:

Biểu đồ 2.7. Đánh giá tác phong làm việc của công chức quản lý các

Như vậy, có thể thấy tác phong làm việc của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn chưa đạt yêu cầu. Có tới 48,3% số người được hỏi không hài lòng với tác phong làm việc của công chức, trong khi đó chỉ có 2,8% rất hài lòng và 16,8% hài lòng với tác phong làm việc của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn, công dân họ đã cảm thấy mình được phục vụ tận tình và đánh giá là công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn trên địa bàn rất chuyên nghiệp. Có 24,6% công dân thấy tác phong của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn là bình thường và chưa thay đổi với trước đây.

2.3.4. Năng lực quản lý, lãnh đạo thể hiện qua kết quả hoạt động của cơ quan chuyên môn Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Đây là công việc rất quan trọng để đánh giá việc năng lực quản lý, lãnh đạo của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn trong một năm có nhiều biến chuyển tích cực hay không. Việc đánh giá công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn được thực hiện theo quy định bằng các văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ, tỉnh Viêng Chăn hướng dẫn về việc đánh giá, phân loại công chức, viên chức hàng năm. Việc đánh giá công chức hàng năm là cơ sở cho việc nhận xét, đánh giá cán bộ công chức khi bổ nhiệm, luân chuyển, điều động.

Biểu đồ 2.8:Kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức quản lý các.

Dựa vào biểu đồ ta thấy, chủ yếu đội ngũ công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn chủ yếu xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 71,4%. Tỷ lệ công chức xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm 18,8% một số lượng khá cao số công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chỉ có 9,3% công chức hoàn thành nhiệm vụ. Có 1% công chức không hoàn thành nhiệm vụ. Có thể nói kết quả đánh giá công chức hiện nay chủ yếu ở mức tương đối tin cậy, nghĩa là họ chưa thực sự tin rằng kết quả đó là đúng đắn, khách quan. Số người cho rằng kết quả đánh giá công chức thiếu tin cậy chưa phản ánh đúng tình hình thực tế, công chức thiếu niềm tin vào chính kết quả đánh giá của cơ quan mình. Điều này đã làm cho các chủ thể đánh giá và đối tượng đánh giá không coi trọng tính thực chất của kết quả đánh giá cuối năm bởi đánh giá tốt cho người khác cũng không ảnh hưởng nhiều đến cá nhân mình thậm chí còn tốt cho cơ quan để các danh hiệu thi đua khác. Việc nâng cao năng lực chắc chắn có tác dụng không nhỏ đến việc nâng cao trình độ, chuyên môn giúp công chức làm tốt hơn trong chức trách nhiệm vụ của mình.  

Ngoài ra, tác giả còn tiến hành khảo sát về năng lực thực thi công vụ đối với công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn để có cái nhìn tổng thể về kết quả về công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn 

Bảng 2.4. Khảo sát về năng lực trong thực thi công vụ của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Dựa vào bảng kết quả dựa trên thông qua sự tự đánh giá về năng lực do công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn cho ta thấy được hiện nay năng lực của công chức quản lý cơ quan chuyên môn nhìn chung đa số tự nhận mình ở mức trung bình ở các năng lực lãnh đạo, quản lý trên.

Năng lực cụ thể hóa chủ trương của cấp trên thành kế hoạch, biện pháp thực hiện tại cơ quan, đơn vị đây là năng lực rất quan trọng biến các đường lối, chủ trương, chính sách được hiện thực hóa vào đời sống thì có 44% công chức lựa chọn năng lực này của bản thân ở mức trung bình. Trong khi chỉ có 21% lựa chọn năng lực khá và 18% lựa chọn năng lực tốt.

Có khả năng nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, thẩm định, dự báo: người công chức lãnh đạo quản lý phải có được khả năng nghiên cứu, phân tích và dự báo được tình hình mới có khả năng đưa ra quyết định quản lý tốt nhất hiện tại có 39,6% lựa chọn trung bình, 23,4% lựa chọn năng lực khá, 15,4% lựa chọn năng lực tốt còn đâu là yếu kém.

Các năng lực khác cũng có tỷ lệ khá tương đồng cho thấy các năng lực trên của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn chưa thực sự tốt vì đây là những năng lực cơ bản và quan nhất để phục vụ cho người công chức quản lý có năng lực quản lý, lãnh đạo cơ quan, phòng, ban, đơn vị phát triển. Do vậy, để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của công việc và nhiệm vụ quản lý nhà nước trên ngành lĩnh vực của cơ quan mình thì trong thời gian tới công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn phải nỗ lực, không ngừng học hỏi nâng cao năng lực cũng như Chính quyền tỉnh phải có những biện pháp hữu hiệu để năng cao năng lực cho đội ngũ công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh mình.         

2.4. Đánh giá chung thực trạng năng lực công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn

2.4.1. Ưu điểm

Cùng với sự nỗ lực không ngừng rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực trong công tác, hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ được giao trong công vụ, năng lực công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tinh Viêng Chăn đã đạt được những mặt tích cực đáng ghi nhận, đóng góp chung vào sự phát triển trong thời gian qua của tỉnh đặc biệt là sự hiệu lực, hiệu quả trong quản lý của bộ máy nhà nước, góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Viêng Chăn. Cụ thể những ưu điểm của công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tinh Viêng Chăn như sau:

Về trình độ chuyên môn của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn ngày càng đạt chuẩn chiếm tỷ lệ cao, số lượng công chức có trình độ đại học và trên đại học chiếm đa phần trong tổng số công chức của tỉnh. Hầu hết công chức có trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý nhà nước và chứng chỉ ngoại ngữ, tin học. Trình độ của công chức được nâng lên, tăng khả năng tham mưu, đề xuất ý kiến đóng góp cùng cấp ủy xây dựng các chủ trương công tác, hoặc tham mưu, đề xuất ý kiến giúp hoàn thiện các nhiệm vụ, các chỉ tiêu kinh tế, xã hội theo nghị quyết của Đảng bộ tỉnh đề ra, góp phần từng bước đưa địa phương vượt qua khó khăn, thử thách, phát huy thuận lợi, tiềm năng để phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững đoàn kết giữa các dân tộc, đảm bảo ổn định an ninh trật tự, trật tự an toàn xã hội. Qua đào tạo, bồi dưỡng, khả năng ứng xử, kỹ năng thực thi công vụ theo vị trí việc làm của công chức được nâng lên rõ rệt; góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Viêng Chăn.

Về thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ: Tinh thần làm việc, trách nhiệm trong công việc, sự phối hợp trong công tác và thái độ phục vụ nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt thông qua hoạt động cải cách hành chính nhà nước ở tỉnh. Ý thức, thái độ phục vụ nhân dân của công chức ngày càng được nâng cao, tình trạng quan liêu, sách nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân ngày càng hạn chế. Kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ công chức được nâng lên rõ rệt, các thủ tục hành chính được công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, người dân đã hài lòng hơn khi tham gia vào các dịch vụ công. Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Về thái độ, hầu hết công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tinh Viêng Chăn đều có phẩm chất đạo đức, có lối sống lành mạnh, ý thức kỷ luật tốt, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, chấp hành và vận động động nhân dân thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, chấp hành tốt nội quy, quy chế của địa phương. Phần lớn công chức đã có phong cách, lề lối, tác phong làm việc tiến bộ hơn, hiệu quả hơn, hạn chế tình trạng quan liêu, hạch sách, nhũng nhiễu nhân dân. Có tinh thần làm việc gắn bó với công việc, khắc phục những khó khăn ban đầu về điều kiện làm việc, chế độ lương, thưởng tuy còn chưa đáp ứng được cho mức sống hiện tại của bản thân và gia đình nhưng họ vẫn nỗ lực hoàn thành tốt công việc được giao.

Về kết quả thực hiện công việc: Đội ngũ công chức quản lý nhìn chung có tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật cao, có ý thức tự chủ, năng động và sáng tạo trong công việc, có kiến thức, trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn, có tinh thần khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; được rèn luyện và thử thách trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, sẵn sàng tiếp cận với kiến thức và công nghệ mới, từng bước thích nghi dần với cơ chế quản lý mới. Đại bộ phận giữ được lối sống lành mạnh, luôn luôn chăm lo cho sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và hết lòng phục vụ nhân dân.

Công tác tổ chức và quản lý công chức được thực hiện tương đối tốt, vận dụng các chính sách, pháp luật của nhà nước vào trong các khâu tuyển dụng, sử dụng, bố trí, sắp xếp công việc, đào tạo, bồi dưỡng và kiểm tra đánh giá công chức đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới.

2.4.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên mà nhà nước CHDCND Lào, cũng như chính quyền đã cố gắng xây dựng để phù hợp với yêu cầu thực tiễn của sự phát triển của đất nước thì năng lực của công chức quản lý cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tinh Viêng Chăn còn những hạn chế dưới đây:

Về trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ: Số lượng công chức có bằng cấp về ngoại ngữ và trình độ công nghệ thông tin ngày càng tăng cao và tăng cả về chủng loại bằng, chứng chỉ nhưng thực tế việc sử dụng vào công việc thực tế còn rất hạn chế.

Về trình độ lý luận chính trị và quản lý nhà nước: Hầu hết đã qua đào tạo từ trung cấp lý luận, cao cấp và chuyên viên, chuyên viên cao cấp tuy nhiên chỉ là bằng cấp còn thực tế thì số công chức đã qua lớp đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị vẫn còn chưa áp dụng trong thực tế dẫn đến việc nắm bắt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nước và triển khai vào thực tế tại địa phương còn nhiều hạn chế, chưa xử lý kịp thời những tình huống phát sinh tai địa phương.

Kỹ năng làm việc của công chức chưa thành thạo, chưa có tính chuyên nghiệp, đội ngũ công chức còn thiếu các kỹ năng làm việc, chưa hiểu rõ về các quy trình, thủ tục giải quyết công việc hoặc hiểu rõ quy trình, thủ tục làm việc thì tự ý cắt xén, giảm các thủ tục, đi tắt vì vậy mà hiệu quả công việc chưa cao. Trong các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn tính chuyên nghiệp chưa có trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện công việc được giao chưa chú trọng thực thi công vụ theo quy trình, làm việc khách quan. – Năng lực chuyên môn và kỹ năng công tác đội ngũ công chức quản lý: Kỹ năng thực thi công vụ của công chức hành chính nhà nước còn nhiều hạn chế, một số công chức lãnh đạo còn chưa thành thạo các kỹ năng như kỹ năng xây dựng chiến lược, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề. Đối với công chức chuyên môn, số lượng công chức trẻ tuổi chiếm tỉ lệ cao, có độ nhanh nhạy trong tiếp thu kiến thức những về kỹ năng còn chưa thành thạo như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phối hợp trong công tác, kỹ năng tiếp cận và xử lý thông tin…

Về mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao: Mức độ hoàn thành nhiệm vụ chỉ đạt yêu cầu và vẫn còn nhiều trường hợp chỉ hoàn thành một phần khối lượng công việc hoặc chậm tiến độ. Bên cạnh đó nhiều công chức chưa hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ mình đang đảm nhận cũng như chưa nắm chắc về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan mà họ công tác.

Về kỹ năng trong thực thi công vụ: một số kỹ năng thực hiện công việc chưa thực sự tốt. Một bộ phận chưa trang bị đầy đủ những kiến thức cơ bản về pháp luật, về quản lý hành chính nhà nước cũng như các văn bản quy phạm pháp luật; kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân còn chưa tốt, bên cạnh đó cũng có một bộ phận còn lợi dụng quan hệ, chức quyền để giải quyết công việc. Khi giải quyết công việc còn dựa vào kinh nghiệm chủ quan, nặng về tình cảm, nể nang, bao che, thiên lệch dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Về ý thức thái độ trong thực thi công vụ: Tinh thần trách nhiệm, ý thứ tổ chức kỷ luật của một số công chức quản lý chưa cao, phong cách làm việc chậm đổi mới; tinh thần phục vụ nhân dân chưa cao, gây nên sự trì trệ trong giải quyết công việc làm giảm bước tiến cho công cuộc cải cách, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính.

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Do chuyển đổi từ cơ chế cũ, và sự chuyển tiếp từ sự phát triển giữa nông nghiệp, nông thôn với quá trình phát triển công nghiệp hóa khiến cho công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn chưa thích ứng và bắt kịp sự phát triển. Mặt khác, bản thân nguồn hình thành công chức được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, một số đã công tác lâu năm, tuy nhiều kinh nghiệm nhưng không được đào tạo bài bản, một số khác chưa nhận thức đúng về vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trong thực thi công vụ.

Ảnh hưởng của đặc điểm dân cư,tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Viêng Chăn. Dân số trong tỉnh chủ yếu sống ở nông thôn, làm nông nghiệp, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khả năng thích ứng với thị trường thấp, ngại thay đổi, ứng dụng khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế, tư tưởng cục bộ, địa phương, bảo thủ vẫn còn khá phổ biến nên cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực của công chức.

Do môi trường làm việc chưa thực sự khuyến khích, tạo động lực làm việc cho công chức, còn mang nặng tính báo cáo nên đã vô hình tạo ra rào cản cho đội ngũ công chức chưa phát huy hết khả năng của mình, môi trường làm việc còn chưa tạo ra động lực làm việc, tự học tập nâng cao trình độ, năng lực của công chức. Cơ sở vật chất nhìn chung chưa đảm bảo cho hoạt động công vụ.

Việc đánh giá công chức hiện nay còn chưa phản ánh thực về phẩm chất và năng lực của công chức. Công tác đánh giá còn mang tính nội bộ, khép kín, hình thức, thiếu sự đánh giá độc lập, không có nhân sự hay tổ chức đánh giá chuyên trách. Mặt khác, kết quả đánh giá mực độ phân loại của công chức ở cơ quan lại có liên quan phát sinh đến trách nhiệm của người đứng đầu, phản ánh đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ, thành tích của cơ quan. Đa số công chức đều cho mình điểm ở mức “an toàn” không cao, không thấp và mang tính cảm tính là chủ yếu và có phần thiếu công bằng, bình đẳng nên kết quả chưa đảm bảo chính xác, khách quan, công bằng chưa tạo cơ sở tin cậy cho việc lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của tổ chức.

Kết quả đánh giá, xếp loại trong cơ quan hàng năm cho thấy đa số công chức vẫn được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, ít có công chức hoàn thành nhưng còn hạn chế về năng lực.

Về ý thức, trách nhiệm công vụ của công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh Viêng Chăn phải đảm nhận khối lượng công việc rất lớn và rộng. Bên cạnh những mặt đạt được thì còn một số công chức vẫn còn tình trạng quan liêu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm, thiếu dân chủ, làm việc theo cảm tính; không nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình là đảm bảo các quyền và lợi ích của người dân. Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Việc quy định các tiêu chuẩn cụ thể cho công chức hiện nay tạo ra nhiều bất cập và ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức. Thực tiễn cho thấy, với những quy định như hiện nay dẫn đến một thực tế là, các cơ quan quản lý khi thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức có xu hướng chú trọng nhiều hơn vào tiêu chuẩn trình độ mà ít chú ý thỏa đáng đến tiêu chuẩn năng lực. Trong một số trường hợp, có đề ra năng lực nhưng là năng lực chung chung mà chưa có tiêu chí cụ thể, rõ ràng. Điều đó dẫn đến tính hình thức trong hoàn thiện tiêu chuẩn công chức. Đó là công chức chỉ tham gia các khóa đào tạo để có đủ văn bằng, chứng chỉ theo quy định hoặc tham gia bổ sung thêm các văn bằng, chứng chỉ cho “đẹp” hồ sơ nhưng năng lực giải quyết công việc hoặc hiệu quả công tác vẫn không được nâng lên. Cấp có thẩm quyền quản lý ở một số cơ quan khi đánh giá công chức để sử dụng còn coi trọng yếu tố bằng cấp, mà chưa chú ý đến yếu tố năng lực. Các cơ quan quản lý khi tổ chức tuyển dụng công chức vẫn phân biệt loại hình đào tạo chính quy và tại chức, chỉ lựa chọn kết quả học tập từ loại khá trở lên…mà chưa chú ý thích đáng đến đánh giá năng lực hoạt động thực tiễn, năng lực áp dụng những điều đã được học vào công vụ.

Chưa xây dựng được bản mô tả công việc, chưa xây dựng được khung năng lực cho từng vị trí cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh. Do đó, chưa tạo ra căn cứ để đề bạt, bổ nhiệm, sử dụng và quản lý công chức.

Cơ chế tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế. Việc tuyển dụng cán bộ, công chức quản lý vẫn mang tính chất quan hệ, người quen, họ hàng nên nhiều trường hợp chất lượng cán bộ công chức chưa phù hợp với yêu cầu công việc như trình độ chuyên môn và chuyên ngành đào tạo. Việc ra đề thi tuyển công chức lãnh đạo chưa được quan tâm.

Các chế độ đối với công chức quản lý, đặc biệt là chế độ tiền lương chưa hấp dẫn không có tác dụng khuyến khích, thu hút lao động giỏi, lao động có trình độ chuyên môn cao vào làm việc trong nền công vụ.

Về công tác thanh tra, kiểm tra Công tác thanh tra, kiểm tra công chức là một công tác cần thiết trong quá trình hoạt động công vụ nhằm tăng cường chức năng pháp chế, răn đe công chức, hướng người công chức thực sự trở thành người công bộc của nhân dân, trung thành với Đảng, tận tụy với nhân dân, thanh tra, kiểm tra giúp phát hiện mặt xấu, mặt tốt của chủ trương, chính sách, ngăn chặn khuyết điểm, biểu dương ưu điểm của công chức. Tuy nhiên, công tác thanh tra công vụ chưa được quan tâm đúng mức, lực lượng công chức làm thanh tra công vụ mỏng nên khó kiểm soát được hành vi vi phạm công vụ của công chức. Việc thanh tra, kiểm tra công vụ, kiểm tra việc thực hiện các nội quy, quy định của cơ quan không được làm thường xuyên, thiếu nghiêm túc, còn nể nang. Quy chế làm việc của các đơn vị chưa được mọi người tôn trọng, và được thực hiện một cách tùy tiện. Chính sự lỏng lẻo trong quản lý đối với việc thực hiện quy chế làm việc, chế độ trách nhiệm dẫn đến thái độ, ý thức phục vụ nhân dân, ý thức tổ chức kỷ luật của đội ngũ công chức còn hạn chế, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác của đội ngũ công chức trong quá trình thực thi công vụ.

Vẫn còn không ít công chức thiếu ý chí phấn đấu, nỗ lực của bản thân để nỗ lực hoàn thành công việc đạt hiệu quả tốt nhất, tâm lý vào công chức để được sự an nhàn. Công tác đào tạo bồi dưỡng chưa thực sự hiệu quả, nội dung chương trình chưa phù hợp, chưa có tính ứng dụng thực tiễn cao.      

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Chương 2 của luận văn đã đề cập đến thực trạng năng lực ngũ công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn; đánh giá về năng lực công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn qua đó chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân. Ngoài ra còn giới thiệu tổng quan về tỉnh Viêng Chăn với những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế – xã hội qua đó thấy được sự tác động, ảnh hưởng đến năng lực của công chức quản lý các cơ quan chuyên môn. Luận văn: Thực trạng năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban.

Qua đó, khi phân tích, khảo sát về thực trạng năng lực công chức quản lý các phòng tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng Chăn như hiện nay chưa đạt yêu cầu, chưa đáp ứng được đòi hỏi công việc. Các chính sách nâng cao năng lực của công chức để kích thích, khuyến khích công chức làm việc chưa hiệu quả. Xuất phát từ các nguyên nhân khách quan từ bên ngoài do điều kiện kinh tế, điều kiện lịch sử, văn hóa để lại. Các nguyên nhân chủ quan đóng vai quan trọng khiến năng lực làm việc làm việc của công chức chưa cao yêu cầu cần phải có sự thay đổi nhận thức từ các phía như lãnh đạo, các cấp chính quyền, bản thân mỗi người công chức phải có sự thay đổi. Từ cơ sở đánh giá thực trạng tìm ra hạn chế, nguyên nhân là căn cứ để đề ra những phương hướng giải pháp nhằm nâng cao năng lực công chức cao nhất.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp năng lực công chức quản lý thuộc Ủy ban

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464