Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Trung học phổ thông Minh Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Minh Đài

2.2.1. Thực trạng giáo dục đạo đức của học sinh THPT Minh Đài

Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Minh Đài được thể hiện qua bảng thống kê sau:

Bảng 2.3: Kết quả giáo dục toàn diện học sinh THPT Minh Đài

Qua bảng 2.3 cho thấy:

  • Tình hình đạo đức của học sinh tương đối ổn định đối với học sinh xếp loại đạo đức Tốt, Khá, Trung bình; học sinh xếp hoại hạnh kiểm Yếu có chiều hướng gia tăng.
  • Phần lớn các em có ý thức rèn luyện đạo đức tốt, học sinh xếp loại đạo đức loại Tốt, khá chiếm tỷ lệ khá cao. Tuy nhiên, còn một bộ phận học sinh xếp loại đạo đức trung bình và yếu chiếm một tỷ lệ thấp nhưng tỷ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm yếu tăng hàng năm.

2.2.1.1. Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi đạo đức của học sinh Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

a) Về nhận thức:

Chúng tôi trưng cầu ý kiến của 200 học sinh ở 03 khối lớp (khối 10: 100; khối 11: 50; khối 12: 50) trường THPT Minh Đài về tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường. Kết quả khảo sát thể hiện bảng 2.4

Bảng 2.4: Ý kiến của học sinh về sự cần thiết của giáo dục đạo đức

Kết quả ở bảng 2.4 cho thấy phần lớn học sinh (153 em chiếm 76,5%) nhận thức được sự rất cần thiết của công tác giáo dục đạo đức cho chính mình và cuộc sống cộng đồng. Điều đó chứng tỏ các em mong muốn được giáo dục để hoàn thiện nhân cách của mình. Do vậy chúng ta cần đặc biệt quan tâm tới công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT một cách thiết thực phù hợp với lứa tuổi của các em.

Bảng 2.5: Nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức cần giáo dục cho học sinh bậc THPT

Từ kết quả ở bảng 2.5 cho chúng tôi thấy một số phẩm chất sau đây được học sinh cho là rất quan trọng và có tỷ lệ phần trăm rất cao: Lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, thầy cô, tôn trọng bạn bè (96%); Lòng yêu quê hương đất nước (91,5%); Ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác thực hiện nội quy nhà trường (88,5%); Tinh thần đoàn kết, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè (85%); Tình bạn, tình yêu và ý thức tuân thủ pháp luật (81,5%); Lập trường chính trị (79,5%); Lòng tự trọng, trung thực, dũng cảm (77%); Động cơ học tập đúng đắn (76%); Yêu lao động, quý trọng người lao động (75%); Tính tự lập, cần cù, vượt khó (74%); Tinh thần lạc quan yêu đời (73,5%); Ý thức bảo vệ tài sản, của công, môi trường (71,5%); Khiêm tốn, học hỏi (70).

Nhìn chung học sinh có nhận thức đúng đắn về phẩm chất đạo đức cần được hình thành và thể hiện mong muốn được học tập, lĩnh hội những phẩm chất đạo đức đó. Tuy nhiên, một số phẩm chất cá nhân đối với bản thân, đối với cộng đồng ít được các em coi trọng (Lòng nhân ái, khoan dung, độ lượng, ý thức tiết kiệm, ý thức phê và tự phê bình). Như vậy, vấn đề cần được quan tâm là phải giáo dục học sinh biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, biết yêu quý cuộc sống lao động, có lòng nhân ái yêu thương con người, ý thức bảo vệ cuộc sống tươi đẹp hôm nay và biết biến nhận thức đúng đắn về các phẩm chất đạo đức thành thái độ, hành vi, hành động đúng.

Về thái độ: Tìm hiểu thái độ của học sinh đối với các quan niệm về đạo đức, chúng tôi đã điều tra bằng phiếu với 200 em học sinh của trường THPT Minh Đài . Kết quả được nêu trong bảng 2.6

Bảng 2.6: Ý kiến của học sinh THPT Minh Đài đối với các quan niệm về đạo đức

Qua kết quả ở bảng 2.6 chúng tôi thấy đa số học sinh có thái độ đồng tình với nhiều quan niệm đúng. Mình vì mọi người, mọi người vì mình, cao nhất với tỷ lệ (95,5%). Đạo đức quan trọng hơn tài năng (93,5%); Đạo đức của mỗi người là do mỗi người tự giáo dục mà thành (91,5%); Các em không đồng tình với một số quan niệm sai: Văn hay chữ tốt không bằng học dốt lắm tiền (95,5%); Tiền trao cháo múc (89%); Có tiền mua tiên cũng được (86,5%); Sống để hưởng thụ (83,5%); Đạt được mục đích bằng mọi giá (81,5%) . Tức các em không đồng tình với quan niệm sống vì tiền, sống ích kỷ, thủ đoạn, sống để hưởng thụ… Tuy nhiên, vẫn còn một số em có thái độ cá nhân vị kỷ, thực dụng: Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ (43,5%); Kiến thức quan trọng hơn đạo đức (37%)…Như vậy, cần phải đẩy mạnh giáo dục đạo đức để giúp cho học sinh vươn tới lối sống cao đẹp hơn, tránh sa vào lối sống ích kỷ, cá nhân, hưởng thụ tầm thường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.2.1.2. Những biểu hiện yếu kém về đạo đức của học sinh THPT Minh Đài Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Để tìm hiểu thực chất những biểu hiện yếu kém về đạo đức của học sinh, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến và trao đổi với giáo viên chủ nhiệm, cán bộ quản lý, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công an huyện, xã nơi địa bàn trường đóng, thu được kết quả như sau:

a) Về ý thức đạo đức

Học sinh yếu kém về đạo đức thường có biểu hiện kém phát triển về ý thức hoặc có khi trở nên vô ý thức trong quan hệ với cộng đồng, với người khác. Nhận thức về xã hội lệch lạc, thiếu niềm tin hoặc hoài nghi cuộc sống, trong quan hệ với mọi người, ngay cả với người thân, ngại thổ lộ, bộc bạch tâm tính, những nét riêng tư, ngay cả những mặt tích cực. Đôi khi có sự lay động niềm tin vào những người tốt, vào những lẽ sống và những lý tưởng sống tích cực, cao đẹp sang niềm tin mù quáng vào cuộc sống bụi đời, với những bạn đường sống ngoài lề của cuộc sống xã hội, bất chấp hành vi đạo đức, pháp luật, dư luận.

b) Về mặt tình cảm và ý chí đạo đức

Một số em có dấu hiệu bị tổn thương về mặt tình cảm gia đình, tình cảm bạn bè, thầy trò, thậm chí cá biệt có những em trở nên ù lì, chai dạn, hận đời, có những em hỗn xược với ông – bà, cha – mẹ, những người ruột thịt của mình. Một số em sống thiếu tình cảm, mồ côi cha mẹ, thiếu người thân, khao khát muốn được sống trong tình cảm nhưng không được bù đắp thỏa đáng cũng làm cho các em tiêu cực, mất thăng bằng về tình cảm, dễ bị kích động hoặc trở nên nhu nhược yếu thế. Một số em tỏ ra kém ý chí: không tự kiềm chế được hành vi tiêu cực của mình hoặc tỏ ra yếu đuối, nhu nhược, dễ bị lôi cuốn, cám dỗ, ngại làm những việc cần phải khắc phục khó khăn trong học tập, lao động và công việc cụ thể.

c) Một số biểu hiện về hành vi, thói quen đạo đức

Học sinh yếu kém về đạo đức thường có biểu hiện vi phạm nội quy trường lớp, kỷ cương nề nếp, vi phạm kỷ luật: bỏ giờ, bỏ học, đi học muộn thường xuyên, đi học không có sách vở, không đủ dụng cụ học tập, ý thức học tập yếu; trong giờ học thường mất trật tự hoặc ngủ gật, không ghi chép bài, học bài; quay cóp, gian lận trong kiểm tra, thi cử.

Đôi khi có những hành vi tỏ ra xấc xược, hỗn láo, chọc tức, trêu chọc người khác, vô lễ với thấy cô giáo, với người trên, hay nói tục, chửi bậy, bắt nạt bạn bè, một số em tuy học giỏi nhưng tỏ ra kêu ngạo, ích kỷ, thiếu lòng nhân ái, nhân hậu.

Một số em thường có biểu hiện liên kết nhóm nhỏ tự phát, hành động theo những nhu cầu sở thích không lành mạnh, đôi khi đối lập với tập thể, với xã hội, hay có những trò tinh quái trêu trọc bạn bè, có những hành vi phản ứng quyết liệt khi chúng cảm thấy bị xúc phạm, hoặc trả đũa cho bõ tức…Nói năng cục cằn thô lỗ, có biểu hiện lệch lạc thái quá trong quan hệ giao tiếp bạn bè, người lớn, người khác giới.

Một số em tập nhiễm những thói quen xấu, tự do phóng túng, ăn mặc lập dị, hút thuốc lá, uống rượu bia, chơi “games”, cờ bạc, cá cược và một số em có hành vi vi phạm pháp luật như: trộm cắp, trấn lột tiền, đánh và thuê người khác đánh bạn, phá hoại tài sản của nhà trường, đua chen đời sống thực dụng, yêu đương quá sớm.

Những trẻ em yếu kém về đạo đức, đặc biệt là không có nhu cầu sống lành mạnh, sống thiếu niềm tin, kém ý chí…thì thông thường rơi vào tình trạng học tập yếu kém. Cùng với thời gian theo các bậc học, với tác động của gia đình và môi trường xã hội, từ chỗ tập nhiễm những yếu tố tiêu cực, dần dần trở thành những đặc điểm tính cách của trẻ khó giáo dục, nhưng không có nghĩa là chúng trở thành những trẻ “mất dạy”; “vô giáo dục”…như một số người đã ám chỉ một cách thiếu sư phạm. A.C.Makarenkô đã từng nhắc nhở các nhà sư phạm: Dù sao chúng vẫn là con người, phải đối với chúng với tư cách là con người hướng về tương lai. Với giả thuyết lạc quan và phải dứt bỏ quá khứ, những tiền sử không lấy gì làm tốt đẹp của chúng trong đầu các nhà sư phạm, những cái đó không có lợi cho trẻ nhỏ đang sống và đang được giáo dục hiện tại

Thực tế điều tra cho thấy số học sinh hư, yếu kém về đạo đức buộc thôi học ngày càng tăng, mỗi năm từ 2 đến 6 em. Một thực trạng tồn tại trong những năm gần đây là hầu hết học sinh tốt nghiệp THCS đều được vào học THPT cho nên số học sinh ý thức yếu, học sinh hư, cá biệt vẫn được vào học THPT. Ở địa bàn huyện Tân Sơn nói riêng, và một số huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ nói chung, chất lượng đầu vào cấp THPT rất thấp. Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng thì các cán bộ quản lý cần phải tìm ra những giải pháp vượt qua được những khó khăn này. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Số liệu điều tra thu được từ Ban giám hiệu, Bí thư Đoàn trường về các hành vi vi phạm đạo đức ở trường THPT Minh Đài trong 3 năm học gần đây (2012 – 2013; 2013 – 2014; 2014 – 2015) được thể hiện ở bảng 2.7

Bảng 2.7: Số học sinh vi phạm đạo đức từ năm 2012 – 2015

Kết quả ở bảng 2.7 cho thấy số học sinh vi phạm đạo đức ngày càng tăng. Đây là điều đáng lo ngại. Năm học 2012 – 2013 có 98/834 em vi phạm chiếm 11,8 %, năm học 2013 – 2014 có 96 em vi phạm tỷ lệ 12,1%; năm học 2014 – 2015 có 112 em vi phạm chiếm tỷ lệ 15%. Số học sinh vi phạm nhiều nhất là bỏ giờ, trốn học, vi phạm an toàn giao thông, nói tục, chửi thề, chửi bậy và gây gổ đánh nhau. Ngoài ra số vi phạm vô lễ, thiếu tôn trọng thầy cô, đánh bạc, trộm cắp, gian lận trong kiểm tra thi cử chiếm tỷ lệ không nhỏ. Đây là những em chưa có ý thức trong học tập, thiếu sự quan tâm của gia đình, các em thường xuyên bỏ giờ, trốn học đi chơi bi-a, điện tử, la cà hàng quán, xem phim, truyện kinh dị, bạo lực, học yếu, ham chơi bị các bạn bè xấu lôi kéo dễ dẫn đến vi phạm pháp luật, thực tế đã có các em vi phạm pháp luật (trộm cắp).

Điều đáng lo ngại hiện nay là tình trạng học sinh gây gổ, đánh nhau càng nhiều, không chỉ có học sinh nam mà có cả học sinh nữ. Nguyên nhân chủ yếu là do xích mích trong tình bạn, tình thương mến khác giới, dẫn đến kết bè, kết nhóm đón đường đánh trả thù nhau, có khi còn dùng cả những hung khí …Do ảnh hưởng của phim nước ngoài, có em thích đánh nhau, đánh hộ bạn để làm oai, thể hiện tính “anh hùng”. Vấn đề đặt ra là các nhà trường phải tăng cường giáo dục ý thức, động cơ học tập đúng đắn, giáo dục tình bạn, tình đoàn kết thân ái chan hòa, giáo dục tình yêu trong sáng để học sinh gắn bó thông cảm, giúp đỡ nhau trong học tập, sinh hoạt và trong cuộc sống.

Số học sinh vi phạm nội qui trường lớp như ăn quà vặt trong lớp, uống rượu bia, hút thuốc trong nhà trường tuy không nhiều nhưng ảnh hưởng đến nhà trường, môi trường sư phạm trong sạch. Phần lỗi này do gia đình quá nuông chiều các em, cha mẹ lo làm kinh tế mà quên đi chăm sóc, dạy bảo con em mình khi các em học đòi người lớn, muốn được thể hiện mình là người lớn nên bắt chước nhiều thói hư tật xấu: say rượu, bia, nghiện thuốc lá, phóng xe vượt ẩu, lái xe khi chưa có giấy phép lái xe, phá rối lớp học…dẫn đến hành vi vi phạm đạo đức.

Qua số liệu điều tra chúng tôi thấy số học sinh thiếu tôn trọng thầy cô giáo là những học sinh cá biệt, khó giáo dục và thường bỏ học sớm. Tuy nhiên những cử chỉ vô lễ của những học sinh đó đã làm ảnh hưởng tới tập thể học sinh. Nhà trường và gia đình phải thường xuyên giáo dục học sinh lòng tôn trọng biết ơn thầy cô giáo để giữ lấy truyền thống cao đẹp “Tôn sư trọng đạo” của dân tộc.

2.2.1.3. Các nguyên nhân dẫn tới hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức của học sinh

Số học sinh yếu kém về đạo đức không nhiều so với tổng số học sinh của toàn trường, tuy nhiên nó lại có ảnh hưởng không nhỏ, dễ lây lan trong tập thể học sinh. Để tìm ra nguyên nhân trên, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của 260 người (gồm giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, Bí thư đoàn trường, cha mẹ học sinh). Kết quả thể hiện ở bảng 2.8 sau đây:

Bảng 2.8: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức của học sinh THPT

Kết quả ở bảng 2.8 cho thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức học sinh. Nhìn chung, có thể chia làm 5 nhóm nguyên nhân chủ yếu:

Nguyên nhân từ phía gia đình: Gia đình là cái nôi của sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ thơ. Trình độ văn hóa, lối sống, phương pháp giáo dục gia đình có ảnh hưởng lớn đến nhân cách của trẻ. Kết quả điều tra cho thấy, phần lớn những học sinh vi phạm đạo đức thường là con cái của các gia đình có hoàn cảnh hoặc khó khăn về kinh tế dẫn đến bố mẹ không có điều kiện quan tâm đến việc học hành của con cái; hoặc có điều kiện kinh tế dư giả do đó nuông chiều con cái quá mức; Bố mẹ lăn lộn để làm giàu, giao phó việc dạy dỗ con cái cho các nhà trường; hay gia đình không hạnh phúc, các mối quan hệ và hành vi trong gia đình thiếu chuẩn mực; Bố, mẹ thiếu hiểu biết về tâm sinh lý lứa tuổi, thiếu kiến thức về giáo dục và chăm sóc con cái… Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Nguyên nhân từ phía nhà trường

Theo báo cáo của Sở GD&ĐT Phú Thọ, Ban giám hiệu trường THPT Minh Đài cũng như một số trường trên địa bàn tỉnh đôi lúc chưa nắm bắt kịp thời các hiện tượng vi phạm đạo đức của học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp; Năng lực sư phạm của một bộ phận giáo viên còn nhiều hạn chế: Chưa sâu sát học sinh để nắm bắt hoàn cảnh riêng của từng em, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của học sinh; Một số giáo viên bộ môn chưa chú trọng việc thông qua “dạy chữ” để “dạy người”, đôi lúc còn coi việc giáo dục đạo đức cho học sinh là việc của người giáo viên chủ nhiệm, của Ban giám hiệu nhà trường; Một số ít giáo viên và thậm chí cả cán bộ quản lý đôi lúc còn thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, chưa thực sự là “Tấm gương sáng để học sinh noi theo”; việc áp dụng các phương pháp giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng còn cứng ngắc, thậm chí áp dụng sai nguyên tắc: xem nhẹ yếu tố thuyết phục, thường áp đặt ý kiến của người lớn, hay thiếu tôn trọng nhân cách học sinh, thô bạo trong cách đối xử với học sinh, chưa kết hợp việc giáo dục những học sinh vi phạm các chuẩn mực đạo đức với việc giáo dục đạo đức cho cả tập thể học sinh…

Nguyên nhân từ phía xã hội

  • Đảng và nhà nước ta đang chủ trương xây dựng một xã hội học tập trong đó quyền và nghĩa vụ của người học được gắn bó một cách hữu cơ. Tuy nhiên, hiện nay một bộ phận học sinh chối bỏ quyền được học của mình, bởi thực tế quyền lợi của một số người học hành đến nơi đến chốn chưa được quan tâm bảo vệ một cách đầy đủ (có bằng Đại học loại Giỏi nhưng vẫn không tìm được việc làm phù hợp).
  • Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế nước ta đang từng bước chuyển mình. Cơ chế thị trường len lõi vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho nhiều giá trị đạo đức truyền thống ngày càng bị xói mòn. Cùng với những thành quả đạt được về xây dựng kinh tế thì chúng ta không thể phủ nhận mặt trái của cơ chế thị trường đã làm xuất hiện ngày càng nhiều những tệ nạn xã hội như: rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp…trước những cám dỗ của đồng tiền đã làm không ít học sinh sa ngã, ảnh hưởng không tốt đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh.
  • Sự buông lỏng trong quản lý của các cấp, các ngành về các hoạt động dịch vụ văn hóa đã làm xuất hiện ngày càng nhiều các tụ điểm văn hóa không lành mạnh ở gần các trường học và đã lôi kéo một bộ phận học sinh vào các trò giải trí như: bi-a, game, internnet…. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiện tượng học sinh trốn học, gây gổ, đánh nhau, ăn cắp, thậm chí vi phạm pháp luật.

Nguyên nhân chủ quan từ phía học sinh

Đó là những biến đổi tâm – sinh lý lứa tuổi học sinh THPT: Sự phát dục, cơ thể biến đổi nhanh chóng làm thay đổi nhận thức, thái độ của các em về bản thân. Ở giai đoạn này tình cảm của các em chưa bền vững, không ổn định, khả năng làm chủ bản thân, sức đề kháng kém, bản lĩnh còn yếu trước những tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài…cho nên dễ phát sinh mặc cảm, sự bồng bột, cả tin…điều này tạo cơ hội cho những hiện tượng tiêu cực trong xã hội thâm nhập vào đời sống tinh thần của các em.

Các nguyên nhân từ việc quản lý, phối hợp các lực lượng giáo dục

Các tổ chức chính trị xã hội nói chung, Đoàn TNCS HCM nói riêng trong trường THPT hoạt động chưa đạt hiệu quả cao, sự phối kết hợp với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh chưa tốt.

Sự phối hợp giữa nhà trường với công an, chính quyền địa phương chưa tốt: Một số học sinh vi phạm pháp luật bị đùn đẩy trách nhiệm trong khâu giải quyết, các em vi phạm ở trường được đưa sang công an, chính quyền địa phương và ngược lại.

Như vậy, để công tác giáo dục đạo đức học sinh có hiệu quả người quản lý trường THPT phải xây dựng được mối quan hệ khăng khít giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội.

2.2.2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Trung học phổ thông Minh Đài Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

2.2.2.1. Thực trạng nhận thức và mức độ thực hiện về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

Điều tra nhận thức về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh đối với 60 cán bộ quản lý, Bí thư đoàn, giáo viên, nhân viên ở trường THPT Minh Đài cho kết quả ở bảng 2.9 như sau:

Bảng 2.9: Nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Kết quả ở bảng 2.9 cho thấy 100% những người được khảo sát đều khẳng định quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh là quan trọng, trong đó có 90% còn đánh giá là rất quan trọng. Như vậy, cán bộ quản lý và giáo viên ở trường THPT Minh Đài đã đánh giá đúng tầm quan trọng của giáo dục đạo đức trong quá trình hoàn thiện nhân cách ở học sinh.

Bảng 2.10 Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Minh Đài

Kết quả khảo sát ở bảng 2.10 cho thấy: Đại bộ phận số người được hỏi (25 người chiếm 41,7%) cho rằng việc thực hiện quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh được thực hiện tốt, (15 người chiếm 25%) cho rằng việc thực hiện quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh được thực tương đối tốt, có 20 người chiếm 33,3% cho rằng việc thực hiện quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay chưa tốt.

So sánh giữa bảng 2.9 và 2.10, chúng tôi thấy sự chênh lệch giữa nhận thức và kết quả đánh giá việc thực hiện: Về nhận thức 100% ý kiến cho rằng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là quan trọng và rất quan trọng nhưng kết quả thực hiện tốt và tương đối tốt chỉ đạt 66,7%. Điều này cũng phản ánh đúng thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT Minh Đài còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục, nhà trường phải quan tâm hơn nữa, làm tốt hơn nữa công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức để giúp các em phát triển toàn diện, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

2.2.2.2. Thực trạng nhận thức và mức độ thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Để đánh giá mức độ cần thiết và mức độ thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh đã được triển khai trong quá trình giáo dục ở trường THPT Minh Đài, chúng tôi tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra đối với 60 cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên của trường THPT Minh Đài.

Bảng 2.11: Ý kiến đánh giá về kết quả thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Kết quả bảng 2.11 cho thấy:

Về việc thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức nói trên: Qua khảo sát chúng tôi thấy trường đều thực hiện tốt một số nội dung giáo dục đạo đức quan trọng. Điều đó chứng tỏ trường THPT Minh Đài đã quan tâm tới công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Một số nội dung giáo dục đạo đức được đánh giá thực hiện tốt như: Kính trọng ông bà, thầy cô giáo (90%); Lòng yêu quê hương đất nước (91,7%); Ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác thực hiện nội quy nhà trường (85%); Tinh thần đoàn kết, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè (83,3%)… Một số nội dung thực hiện ở mức khá: Yêu lao động, quý trọng người lao động (33,3%); Lập trường chính trị (31,7%); Động cơ học tập đúng đắn (31,7%) . Tuy nhiên một số nội dung giáo dục đạo đức thực hiện chưa tốt như: Ý thức tiết kiệm thời gian, tiền của (23,3%); Tình bạn, tình yêu (21,7%); Ý thức bảo vệ tài sản môi trường (23,3%); Tinh thần lạc quan yêu đời (20%)… Điều đó nhắc nhở chúng ta cần quan tâm giáo dục học sinh tính tự giác, dũng cảm, trung thực, biết nhận khuyết điểm để tiến bộ và biết thẳng thắn phê bình những sai trái của bạn để xây dựng tập thể học sinh học tập tốt, rèn luyện tốt. Phải giáo dục học sinh tính khiêm tốn học hỏi thì mới tích lũy được nhiều tri thức. Có quyết đoán thì mới làm được việc lớn. Hiện nay ở trường, học sinh ý thức bảo vệ tài sản, bảo vệ môi trường chưa cao, còn vẽ bậy lên tường, bàn ghế, làm hỏng hệ thống quạt điện, đèn, hái hoa – phá cây xanh, đi vệ sinh chưa đúng nơi, đúng chỗ quy định, không tự giác dọn vệ sinh…thậm chí một số học sinh còn phá hỏng tài sản của nhà trường. Ngoài ra, nhiều giáo viên chưa thực sự hiểu nhu cầu phát triển tâm – sinh lý của học sinh THPT, vì thế, họ cấm đoán thô bạo, chưa thực hiện hiệu quả việc giáo dục tình bạn, tình yêu ở tuổi học trò. Thực tế cuộc sống ngày nay học sinh THPT lớn trước tuổi, các em có nhu cầu rất lớn về việc giáo dục tình bạn, tình yêu. Các em rất tò mò, lúng túng trước tình yêu cảm tính của tuổi học trò nên nhà trường cần phải quan tâm nhiều hơn nữa về giáo dục vấn đề này để giúp các em có hiểu biết đúng về đời sống tình cảm để có được những tình bạn, tình yêu đẹp trong sáng, lành mạnh.

2.2.2.3. Các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Bảng 2.12: Các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh

Kết quả ở bảng 2.12 cho thấy việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT chủ yếu thông qua hình thức dạy học chính khóa: Qua bộ môn Giáo dục công dân (100%); thông qua học tập nội quy, trường lớp (100%); qua sinh hoạt lớp, Đoàn (98,3%), qua bài giảng các bộ môn (96,7%); qua hoạt động văn hóa, văn nghệ (86,7%); hoạt động xã hội, từ thiện (83,3%).

Qua kết quả điều tra nói trên còn cho thấy các hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp ít được chú trọng hơn, trong khi các hoạt động này có khả năng to lớn trong việc bồi dưỡng năng lực, phẩm chất, tình cảm tốt đẹp ở học sinh. Do vậy chúng ta cần phải tiếp tục đổi mới các hình thức giáo dục đạo đức, chú trọng việc phối hợp các hình thức hoạt động khác nhau, phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT.

Thực tế ở trường THPT Minh Đài, các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh chưa phong phú, còn nặng về giáo huấn, cần phải có nhiều hình thức giáo dục đạo đức phong phú, đa dạng, kết hợp với thực tiễn hoạt động, giữa chính khóa và ngoại khóa để lôi cuốn, hấp dẫn học sinh tham gia tự rèn luyện mình và để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh.

2.2.2.4. Thực trạng sử dụng các giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong thời gian qua Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Bảng 2.13: Đánh giá việc sử dụng các giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong thời gian qua

Từ bảng 2.13 chúng tôi nhận thấy một số giải pháp được thường xuyên sử dụng là: Phổ biến nội quy đầu năm để học sinh thực hiện (xếp bậc 1); Phát động thi đua để học sinh phấn đấu, rèn luyện (xếp bậc 2); giáo viên chủ nhiệm kiểm tra, nhắc nhở, uốn nắn (xếp bậc 3); Ban giám hiệu kết hợp với Đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn để giáo dục đạo đức cho học sinh (xếp bậc 4); Khen thưởng kịp thời, kỷ luật nghiêm minh (xếp bậc 5); Nêu gương người tốt, việc tốt (xếp bậc 6);

Giải pháp Nâng cao nhận thức, vai trò, vị trí của hoạt động giáo dục đạo đức là giải pháp vô cùng quan trọng, lẽ ra xếp bậc 1 nhưng thực chất các trường nhận thức chưa đúng và thực hiện chưa được tốt (xếp bậc 9): chưa thường xuyên mở lớp đào tạo bồi dưỡng, mở các lớp chuyên đề để nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo viên, phát huy tinh thần cộng đồng trách nhiệm trong việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.

Tuy nhiên, một số giải pháp theo chúng tôi là cơ bản, cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh thì ở trường ít hoặc không sử dụng. Ví dụ: Tổ chức nói chuyện về giáo dục đạo đức cho học sinh (xếp thứ 15); Đổi mới việc đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cho phù hợp với tình hình thực tế (xếp thứ 14); Bồi dưỡng đội ngũ làm công tác giáo dục đạo đức (xếp thứ 13); Kết hợp với chính quyền, công an địa phương (xếp thứ 12); Xây dựng tập thể học sinh tự quản (xếp thứ 11); Nhà trường kết hợp với Hội phụ huynh học sinh để giáo dục đạo đức (xếp thứ 10)…Mặc dù giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp giáo dục đạo đức cho học sinh, nhưng thực tế ở trường việc tổ chức họp giáo viên chủ nhiệm (hay tổ chủ nhiệm) rất ít; chưa có kế hoạch bồi dưỡng công tác chủ nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm. Nếu được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm, đặc biệt bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng làm công tác chủ nhiệm thì sẽ góp phần nâng cao được hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh. Riêng về giải pháp Tổ chức nói chuyện giáo dục đạo đức cho học sinh hầu như trường không sử dụng, do không có kinh phí, không có thời gian, địa điểm phù hợp…Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay việc nói chuyện cho thanh thiếu niên về lý tưởng sống, động cơ, thái độ, đạo đức, tình cảm là vô cùng quan trọng, cần thiết góp phần nâng cao ý thức rèn luyện đạo đức ở học sinh THPT.

Như vậy giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT, chủ yếu vẫn nặng về sử dụng các giải pháp hành chính, hay yêu cầu học sinh thực hiện quy định, các chuẩn mực một cách bắt buộc. Các giải pháp được sử dụng chưa phong phú, linh hoạt. Chưa chú trọng đến việc nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên, học sinh về giáo dục đạo đức; bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, xây dựng tập thể học sinh tự quản và phải có sự phối hợp tốt giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức học sinh.

2.3. Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông tại trường THPT Minh Đài Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh về tầm quan trọng của công tác quản lý giáo dục đạo đức

Kết quả khảo sát nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức được thể hiện qua bảng thống kê sau:

Bảng 2.14: Nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

Qua khảo sát chúng tôi thấy có 50 người (chiếm 83,33%) nhận thức đúng về tầm quan trọng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh, chỉ có 5 người (chiếm 8,33%) cho rằng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh bình thường và không có người nào phủ nhận tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh. Điều đó chứng tỏ đa số các lực lượng giáo dục (cán bộ quản lý, giáo viên) đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh và quan tâm tới giáo dục đạo đức cho học sinh.

2.3.2. Thực trạng về sự tác động của các lực lượng giáo dục đối với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Qua thực trạng điều tra, chúng tôi nhận thấy rằng trường THPT Minh Đài đã có tổ chức quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Trưởng ban là Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng nhà trường. Các thành viên là Bí thư đoàn, chủ tịch Công đoàn, các Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm, một số giáo viên bộ môn, đại diện Hội cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội khác.

Để thấy rõ được tầm quan trọng của các lực lượng giáo dục đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 260 ý kiến của cán bộ giáo viên và phụ huynh học sinh. Kết quả khảo sát như sau:

Bảng 2.15: Đánh giá tầm quan trọng của các lực lượng giáo dục đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh

Qua bảng 2.15 có thể rút ra nhận xét: Các lực lượng giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đến giáo dục đạo đức cho học sinh THPT đó là: Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm và gia đình; Đoàn TNCS HCM; giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy hằng ngày; Hội cha mẹ học sinh; Tập thể học sinh; Bạn bè thân; Đoàn TNCS HCM; Chính quyền địa phương. Kết quả này chứng tỏ gia đình và nhà trường có ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh.

Những tổ chức xã hội cũng được đánh giá có ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức học sinh như: Công an, đây là lực lượng giáo dục rất quan trọng, đến trường nói chuyện, tuyên truyền giáo dục học sinh sống tuân theo pháp luật, phòng chống tội phạm tuổi học đường, phòng chống tệ nạn xã hội, thực hiện an toàn giao thông…; Tổ chức Đảng cơ sở; Các cơ quan văn hóa thông tin; Công đoàn nhà trường; Hội khuyến học…lại được đánh giá có ảnh hưởng chưa thực sự rõ rệt đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT, mặc dù đây là những lực lượng xã hội cần được kết hợp chặt chẽ với hoạt động của nhà trường để nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức cho học sinh.

Những tổ chức được đánh giá ít có ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức học sinh như Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Mặt trận tổ quốc – đây là những tổ chức ít quan tâm hoặc có quan tâm nhưng thiếu cơ chế để khẳng định vai trò, vị trí và tác động đến giáo dục đạo đức học sinh, những tổ chức này chưa xác định được chức năng tham gia và đánh giá quá trình giáo dục, rèn luyện của học sinh.

2.3.3. Thực trạng phối hợp của nhà trường với các lực lượng giáo dục Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Để xác định thực tế sự phối hợp của nhà trường với các lực lượng giáo dục, chúng tôi tham khảo ý kiến của 260 cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh học sinh. Kết quả thể hiện ở bảng 2.16.

Bảng 2.16: Sự phối hợp của nhà trường với các lực lượng ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức học sinh

Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình có vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh. Nhưng thực tế qua khảo sát cho chúng ta thấy Gia đình (xếp thứ 1) và Hội phụ huynh học sinh (xếp thứ 2) chưa phải có tỷ lệ cao nhất; nhà trường đã chủ động kết hợp với gia đình quan tâm tới việc học tập và rèn luyện của con em. Nhưng bên cạnh đó còn không ít các bậc phụ huynh học sinh phó mặc con em cho nhà trường, không quan tâm thường xuyên tới việc học tập, tu dưỡng đạo đức của con em mình. Không ít phụ huynh suốt 3 năm THPT đã không đi họp phụ huynh hay nhờ người khác đi hộ, vì vậy giáo viên chủ nhiệm không có thông tin hai chiều trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh. Hội phụ huynh học sinh chưa họat động tích cực để giúp nhà trường tìm các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung và chất lượng giáo dục đạo đức nói riêng.

Nhà trường kết hợp với công an tương đối tốt (xếp thứ 3). Thực tế hằng năm các nhà trường vẫn mời công an cấp huyện, xã đến để tuyên truyền, nói chuyện, giáo dục học sinh về ý thức chấp hành pháp luật, an toàn giao thông, phòng chống tội phạm tuổi học đường, phòng chống các tệ nạn xã hội…và giúp nhà trường bảo vệ trật tự an ninh nhất là giải quyết các vụ đánh nhau, trộm cắp… nhằm góp phần giáo dục đạo đức học sinh. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Một số lực lượng giáo dục khác chưa thật sự kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục đạo đức học sinh như các cơ sở kinh tế, văn hóa (xếp thứ 4) chính quyền địa phương (xếp thứ 5); Đoàn thể địa phương (xếp thứ 6); Địa bàn dân cư (xếp thứ 7)… Các lực lượng này chưa phối hợp tốt trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Thời gian học tập và sinh hoạt của học sinh THPT khoảng từ 4 – 6 tiếng tại trường, thời gian còn lại của các em là ở gia đình và ngoài xã hội. Nếu nhà trường không phối hợp tốt với chính quyền địa phương, địa bàn dân cư và gia đình học sinh thì sẽ thiếu thông tin hai chiều về tình hình đạo đức của học sinh nhất là trong bối cảnh phức tạp của xã hội ta hiện nay.

Giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, tổ chức lôi cuốn các em vào những hoạt động lành mạnh, có tính chất giáo dục là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của nhà trường. Để đạt mục tiêu giáo dục, vấn đề đặt ra là nhà trường phải tổ chức kết hợp với gia đình và xã hội, huy động sức mạnh của toàn xã hội để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh: “Mọi tổ chức gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học và môi trường lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục”.

2.3.4. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Minh Đài

Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là vô cùng quan trọng, chúng tôi tiến hành khảo sát bằng phiếu đối với 60 cán bộ quản lý, cán bộ Đoàn và giáo viên. Kết quả thể hiện ở bảng 2.17

Bảng 2.17: Các loại kế hoạch họat động giáo dục đạo đức được xây dựng

Kết quả bảng 2.17 cho thấy: 95% ý kiến cho rằng nhà trường đã chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong cả năm học; 91,7% kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức qua các ngày lễ, kỷ niệm, các đợt thi đua theo chủ đề; 80% kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho từng học kỳ, và đối với kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho từng tháng có 51,7% ý kiến xác nhận có. Tuy nhiên, kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho từng tuần chỉ có 35% ý kiến khẳng định là có tại trường.

Với kết quả trên đã khẳng định các trường THPT Minh Đài chỉ mới chú trọng xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho cả năm học và kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức qua các ngày lễ, kỷ niệm; các đợt thi đua theo chủ đề với thời gian dài. Còn kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh theo từng tháng chưa được sử dụng thường xuyên. Kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh từng tuần ít được sử dụng. Trong bối cảnh xã hội hiện nay có nhiều tệ nạn xã hội tác động xấu đến học sinh nên các trường cần chú trọng tăng cường kế hoạch hóa hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh một cách chi tiết, cụ thể hơn trong thời gian ngắn: tuần và tháng với mục đích: vừa giáo dục đạo đức, vừa kiểm tra sát sao; nhắc nhở, kỷ luật nghiêm; khen thưởng động viên kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh.

2.3.5. Thực trạng quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Minh Đài Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh qua 60 cán bộ quản lý, giáo viên, Bí thư Đoàn trường, giáo viên chủ nhiệm. Kết quả thể hiện như sau:

Bảng 2.18: Thực trạng quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

Qua kết quả khảo sát (bảng 2.18) chúng tôi thấy trường THPT Minh Đài đều quan tâm tới công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, có kế hoạch chỉ đạo sát sao việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.

Các đối tượng được khảo sát đều khẳng định rằng: chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức thông qua dạy học trên lớp là quan trọng và thường xuyên nhất (xếp thứ 1). Hiện nay đại bộ phận giáo viên bộ môn đều có ý thức giáo dục đạo đức cho học sinh (uốn nắn thái độ, hành vi đạo đức…) nhất là những môn khoa học xã hội và giáo dục công dân. Chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức thông qua tiết sinh hoạt lớp, hay hoạt động chào cờ đầu tuần…được ưu tiên lựa chọn ở những vị trí tiếp theo (thứ 2 và 3). Nhà trường quản lý chặt chẽ tiết sinh hoạt lớp (1 tiết/tuần). giáo viên chủ nhiệm cùng đội ngũ cán bộ lớp tổ chức sinh hoạt, nhận xét những ưu – khuyết điểm, khen chê kịp thời, uốn nắn những hành vi đạo đức cho học sinh, giúp học sinh phát triển nhân cách một cách toàn diện. Tiết chào cờ đầu tuần là tiết sinh hoạt chính trị trong phạm vi toàn trường nhằm tổng kết những hoạt động học tập, tu dưỡng của các tập thể lớp và cá nhân học sinh, cũng như khen thưởng động viên, kỷ luật học sinh vi phạm, uốn nắn, nhắc nhở học sinh thực hiện tốt nội quy trường lớp…Đây là những hoạt động có hiệu quả trong công tác giáo dục đạo đức nên nhà trường đã thực hiện khá tốt.

Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động Đoàn TNCS HCM là hoạt động có hiệu quả cao. Dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường, Đoàn TNCS HCM có nhiệm vụ giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh và trực tiếp theo dõi, đánh giá thi đua một cách toàn diện, khách quan hoạt động học tập, tu dưỡng cho học sinh. Chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua mục tiêu, nội dung giáo dục theo chủ điểm tháng có tỷ lệ đánh giá tốt đạt 78,3% (xếp thứ 5). Qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi được biết những hoạt động này thực hiện chưa thực sự hiệu quả, Ban giám hiệu chưa thường xuyên kiểm tra hồ sơ, sổ sách công tác của giáo viên chủ nhiệm, chủ yếu giao phó cho các tổ trưởng bộ môn. Có giáo viên chủ nhiệm không xếp loại học sinh theo qui định là 2 tháng/lần nên cuối năm đánh giá sự rèn luyện đạo đức của từng học sinh chưa thật chuẩn xác, dẫn đến không ít hành động tiêu cực của học sinh.

Chỉ đạo phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh đã thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao. Nhà trường chủ yếu phối hợp các tổ chức, các lực lượng trong nhà trường mà chưa phối hợp chặt chẽ các lực lượng xã hội ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh. Đây là hạn chế cần phải được khắc phục trong thời gian tới.

Chỉ đạo đầu tư về cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động giáo dục đạo đức được xếp thứ hạng cuối cùng. Các nhà trường còn hạn chế về kinh phí: Trường THPT Minh Đài có phòng truyền thống tuy nhiên học sinh chưa tham gia các hoạt động tìm hiểu về truyền thống nhà trường, bề dày thành tích của trường mình đang học nhiều. Việc đầu tư tuyên truyền giáo dục, tổ chức các chuyên đề để nhằm trao đổi về kinh nghiệm giáo dục đạo đức, tọa đàm nói chuyện về người tốt, việc tốt… bị hạn chế do không có kinh phí. Các trường cần linh hoạt, sáng tạo, làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để phục vụ cho mục tiêu giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

2.3.6. Những lý do làm hạn chế tính hiệu quả của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THPT Minh Đài Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Để tìm hiểu những lý do làm hạn chế tính hiệu quả trong việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu đối với 60 người là cán bộ quản lý, Bí thứ đoàn và giáo viên chủ nhiệm. Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 2.19

Bảng 2.19: Những lý do làm hạn chế tính hiệu quả của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

Với kết quả nêu ở bảng 2.19, chúng tôi thấy có 2 nhóm lý do chủ yếu ảnh hưởng đến tính hiệu quả của việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.

a) Nhóm lý do khách quan

  • Do sự chỉ đạo thiếu đồng bộ từ trên xuống và do thiếu các tài liệu, văn bản pháp quy hướng dẫn. Thực tế các trường chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể việc đánh giá đạo đức, hạnh kiểm của học sinh, dẫn đến tình trạng không ít giáo viên chủ nhiệm trẻ lúng túng trong việc xếp loại hạnh kiểm học sinh. Thiếu các văn bản pháp quy của Nhà nước và địa phương chỉ đạo các ban ngành thực hiện phối hợp với nhà trường và gia đình trong hoạt động giáo dục đạo đức học sinh.

b) Nhóm lý do chủ quan

  • Do nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức. Vì nhận thức còn hạn chế nên nhiều cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm chưa thật nhiệt tình tham gia quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, thậm chí có giáo viên chủ nhiệm buông lỏng họat động giáo dục đạo đức cho học sinh;
  • Chưa xây dựng được mạng lưới tổ chức quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh một cách hợp lý (thứ 2); công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên (thứ 6). Quản lý mà không kiểm tra thì coi như không quản lý, trong quá trình hoạt động không thường xuyên kiểm tra thì không thể biết được mặt mạnh, mặt yếu, những thiếu sót để uốn nắn, bổ sung;
  • Tính kế hoạch còn yếu; sự phối hợp giữa các bộ phận bên trong, bên ngoài nhà trường thiếu đồng bộ. Đây là hạn chế lớn: thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường thì hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh không cao;
  • Công tác đánh giá khen thưởng chưa khách quan, kịp thời, chưa động viên kích thích được phong trào thi đua của giáo viên và học sinh do chủ yếu nhà trường chỉ xây dựng kế hoạch hóa ở tầm vĩ mô, chưa chi tiết, cụ thể;
  • Do đội ngũ cán bộ thiếu và yếu. Ở đây thiếu và yếu chủ yếu là đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, thiếu những giáo viên tâm huyết với nghề, yêu trẻ và kinh nghiệm công tác giáo dục học sinh. Nhiều giáo viên trẻ mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy cũng như công tác chủ nhiệm cho nên phần nào cũng hạn chế trong việc quản lý lớp và giáo dục đạo đức cho học sinh. Lực lượng chủ yếu giáo dục đạo đức cho học sinh tiếp theo phải kể đến là cán bộ Đoàn: đa số họ là kiêm nhiệm, không thật sự ổn định, chưa được đào tạo nghiệp vụ công tác Đội, Đoàn một cách bài bản, do đó chưa thực hiện tốt hoạt động giáo dục đạo đức, lý tưởng cho học sinh.

Các lý do khách quan và chủ quan được kể trên nếu được khắc phục kịp thời sẽ nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Minh Đài.

2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

2.4.1. Ưu điểm

Nhìn chung học sinh THPT Minh Đài có nhận thức đúng đắn về các chuẩn mực đạo đức. Được sự giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội đa số các em đều có phẩm chất đạo đức tốt như: kính trọng ông bà, cha mẹ, thầy cô, đoàn kết thân ái, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè và người thân xung quanh, có lối sống lành mạnh, khiêm tốn học hỏi, tự giác, tích cực học tập, có ý thức chấp hành kỷ luật, nội quy trường, lớp, biết tuân theo pháp luật, tuân theo những quy định của cuộc sống, xã hội và cộng đồng. Nhiều em có ý thức vươn lên để tự khẳng định mình trong học tập và cuộc sống, không ngừng rèn luyện để nâng cao phẩm chất, nhân cách để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trường THPT Minh Đài đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, vai trò, vị trí của công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong quá trình giáo dục toàn diện, nên đã có một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh.

Ngay từ đầu năm học nhà trường đã tổ chức học tập, quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên đến đội ngũ cán bộ giáo viên và học sinh qua những buổi học chính trị, sinh hoạt, học tập nội quy, điều lệ trường, quy định khen thưởng, kỷ luật, đánh giá xếp loại học sinh. Xuyên suốt trong năm học nhà trường quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua con đường dạy học, thông qua giờ sinh hoạt chủ nhiệm, thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và thông qua sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Nhà trường triển khai kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho cán bộ quản lý, giáo viên, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn TNCS HCM…liên tục phát động thi đua để các tập thể lớp và cá nhân học sinh tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức trong nhà trường.

2.4.2. Hạn chế

Những năm gần đây, nền giáo dục nước ta còn nhiều bất cập, chất lượng giáo dục đạo đức còn thấp, chưa đáp ứng kịp thời được nhu cầu của xã hội, công tác giáo dục đạo đức cho học sinh còn hạn chế, Nhà trường chủ yếu chú trọng giáo dục trí dục, chưa quan tâm đúng mức đến mặt đức dục, nội dung giáo dục đạo đức thiên về kiến thức mà xem nhẹ việc rèn ý thức, thái độ, hành vi cho học sinh. Trong khi đó việc quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của nhà trường mới chỉ dừng lại ở kế hoạch tổng thể, tức là lựa chọn những ngày lễ lớn, để tổ chức hoạt động giáo dục, chưa cụ thể hóa các hình thức tổ chức có tính sáng tạo. Các hình thức tổ chức chưa phong phú, đa dạng, có chiều sâu để cuốn hút học sinh và nâng cao nhận thức sâu sắc, tình cảm và niềm tin mạnh mẽ để hình thành và phát triển những hành vi đạo đức, chuẩn mực tích cực trong mối quan hệ.

Sự phối hợp các lực lượng chưa đồng bộ, thiếu sự nhất quán giữa nhà trường và các đoàn thể xã hội, phụ huynh học sinh, nhất là các bậc cha mẹ học sinh chưa nhận thức rõ mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức và các giải pháp giáo dục đạo đức để cùng cộng đồng trách nhiệm trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh.

2.4.3. Những nguyên nhân của hạn chế trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Qua nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Minh Đài, chúng tôi nhận thấy các nguyên nhân sau đây:

Mặt trái của đời sống xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục đạo đức nói riêng cho học sinh THPT.

Tuổi học sinh THPT nhạy cảm với cái mới, nhưng cũng dễ “bốc đồng”, nông nổi, tự khẳng định mình bằng việc bắt chước các hành vi xấu trong đời sống xã hội. Những hiện tượng tiêu cực trong xã hội đã làm xói mòn niềm tin và ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng niềm tin cho thế hệ trẻ. Những bài giảng về đạo đức và các hình thức giáo dục đạo đức phải kết hợp hài hòa với thực tiễn, phù hợp với tâm lý lứa tuổi mới tạo dựng được niềm tin cho học sinh. Chính vì chưa xác định được niềm tin nên một bộ phận học sinh mờ nhạt về lý tưởng, ước mơ, hoài bão, có những nhu cầu đòi hỏi không chính đáng, dẫn đến các hành vi phạm các chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Do thiếu văn bản pháp quy hướng dẫn về hoạt động giáo dục đạo đức nên việc tổ chức triển khai các hoạt động giáo dục đạo đức thiếu đồng bộ. Hoạt động giáo dục đạo đức không mang tính pháp quy cao như hoạt động dạy học, nên trong thực tế hoạt động giáo dục đạo đức chưa được đặt ngang hàng với giáo dục trí tuệ. Ngoài ra, thiếu sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới, văn bản hướng dẫn nhiều khi còn chung chung, dẫn đến sự vận dụng thiếu đồng bộ giữa các trường.

Một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức, thiếu quan tâm đến mặt giáo dục này cho học sinh, thậm chí còn có những cán bộ giáo viên thiếu mẫu mực, chưa phải là tấm gương cho học sinh noi theo.

Một số cơ quan, ban ngành chưa quan tâm phối hợp với nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh. Vẫn còn hiện tượng nhận thức sai lệch về nhà trường, cho rằng giáo dục đạo đức chỉ là trách nhiệm của riêng nhà trường.

Một bộ phận phụ huynh chưa quan tâm phối hợp với nhà trường để giáo dục đạo đức cho con em. Tư tưởng “trăm sự nhờ thầy” còn khá phổ biến trong phụ huynh. Còn có những phụ huynh chăm lo làm ăn hơn chăm sóc con cái. Tâm lý “bao cấp” trong giáo dục còn ảnh hưởng lớn đến tư tưởng phụ huynh, quan niệm về xã hội hóa giáo dục chưa được nhận thức đầy đủ.

Năng lực quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của một bộ phận cán bộ quản lý, năng lực tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức của đội ngũ giáo viên vẫn còn những hạn chế. Vì vậy còn nặng về biện pháp hành chính, các biện pháp sư phạm chưa được phát huy một cách tích cực.

Thiếu cán bộ chuyên trách có năng lực để tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Tài liệu, kinh phí, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ cho hoạt động giáo dục đạo đức.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

Chương 2, tác giả luận văn đã phân tích và trình bày được các hạn chế cơ bản của hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.

Hoạt động giáo dục đạo đức có những hạn chế cơ bản sau:

  • Nhà trường chủ yếu chú trọng giáo dục trí dục, chưa quan tâm đúng mức đến mặt đức dục, nội dung giáo dục đạo đức thiên về kiến thức mà xem nhẹ việc rèn ý thức, thái độ, hành vi cho học sinh.
  • Các hình thức tổ chức chưa phong phú, đa dạng, có chiều sâu để cuốn hút học sinh. Thiếu các hoạt động trải nghiệm thực tiễn để các em có thể cảm nhận được sâu các nội dung giáo dục
  • Mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức và các giải pháp giáo dục đạo đức chưa được chuyển tải nhất quán tới các đoàn thể xã hội, phụ huynh học sinh để đồng trách nhiệm trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh.
  • Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức có những hạn chế cơ bản sau:
  • Thiếu văn bản pháp quy hướng dẫn về hoạt động giáo dục đạo đức nên việc tổ chức triển khai các hoạt động giáo dục đạo đức thiếu đồng bộ. Hoạt động giáo dục đạo đức không mang tính pháp quy cao như hoạt động dạy học, nên trong thực tế hoạt động giáo dục đạo đức chưa được đặt ngang hàng với giáo dục trí tuệ. Ngoài ra, thiếu sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới, văn bản hướng dẫn nhiều khi còn chung chung, dẫn đến sự vận dụng thiếu đồng bộ không chỉ giữa các trường.
  • Thiếu kế hoạch hệ thống và chi tiết. Việc quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của nhà trường mới chỉ dừng lại ở lựa chọn những ngày lễ lớn để tổ chức hoạt động giáo dục, chưa cụ thể và đa dạng hóa các hình thức tổ chức theo những vấn đề/nhu cầu của thực tế.
  • Công tác tuyên truyền giáo dục trong đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường chưa hiệu quả. Một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức, thiếu quan tâm đến mặt giáo dục này cho học sinh, thậm chí còn có những cán bộ giáo viên thiếu mẫu mực, chưa phải là tấm gương cho học sinh noi theo.
  • Thiếu sự phối hợp hiệu quả: Một số cơ quan, ban ngành chưa quan tâm phối hợp với nhà trường để giáo dục đạo đức cho học sinh. Vẫn còn hiện tượng nhận thức sai lệch về nhà trường, cho rằng giáo dục đạo đức chỉ là trách nhiệm của riêng nhà trường. Một bộ phận phụ huynh chưa quan tâm phối hợp với nhà trường để giáo dục đạo đức cho con em. Tư tưởng “trăm sự nhờ thầy” còn khá phổ biến trong phụ huynh. Còn có những phụ huynh chăm lo làm ăn hơn chăm sóc con cái. Tâm lý “bao cấp” trong giáo dục còn ảnh hưởng lớn đến tư tưởng phụ huynh, quan niệm về xã hội hóa giáo dục chưa được nhận thức đầy đủ.
  • Năng lực quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của một bộ phận cán bộ quản lý, năng lực tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức của đội ngũ giáo viên vẫn còn những hạn chế. Vì vậy còn nặng về biện pháp hành chính, các biện pháp sư phạm chưa được phát huy một cách tích cực.
  • Thiếu cán bộ chuyên trách có năng lực để tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Tài liệu, kinh phí, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ cho hoạt động giáo dục đạo đức.
  • Thiếu chú trọng tạo môi trường giáo dục trong và ngoài tốt (mặt trái của đời sống xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục đạo đức nói riêng cho học sinh THPT…)

Những vấn đề hạn chế đã xác định ở chương 2 sẽ là cơ sở để tác giả luận văn đề xuất giải pháp khắc phục ở chương 3. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận vặn: Giải pháp nâng cao giáo dục tại THPT Minh Đài

One thought on “Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh THPT Minh Đài

  1. Pingback: Luận văn: Tổng quan giáo dục học sinh trường THPT Minh Đài

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464