Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát về cơ cấu tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An

Xem xét, đánh giá hoạt động nói chung và hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng trước hết là xem xét, đánh giá về yếu tố con người – yếu tố chủ thể thực hiện hoạt động đó. Hoạt động chất vấn phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Hội đồng nhân dân, nhất là phụ thuộc vào số lượng, cơ cấu thành phần của thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.

Giai đoạn 2011-2016 là nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI. Theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐND ngày 09-6-2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc xác nhận tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khoá XVI, nhiệm kỳ 2011 – 2016 có tổng số 85 đại biểu Hội đồng nhân dân sinh hoạt ở 21 tổ đại biểu, trong đó có 6 đại biểu chuyên trách, chiếm tỷ lệ 7,05%, cuối nhiệm kỳ do 4 đại biểu nghỉ hưu và chuyển công tác nên số đại biểu Hội đồng nhân dân là 81 (xem Bảng 2.1) (so với Hội đồng nhân tỉnh khóa XV nhiệm kỳ 2004-2011, số đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giảm 6,6%).

Chất lượng đại biểu được bảo đảm cả về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị. Số đại biểu có trình độ đại học và trên đại học là 75 đại biểu, chiếm tỷ lệ 88,2%, đại biểu Hội đồng nhân dân có trình độ lý luận chính trị cử nhân và cao cấp là 69 đại biểu, chiếm 81% (so với Hội đồng nhân dân khóa XV nhiệm kỳ 2004-2011 thì trình độ chuyên môn và chính trị của đại biểu Hội đồng nhân dân khóa XVI nhiệm kỳ 2011-2016 cao hơn. Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XV nhiệm kỳ 2004-2011, số đại biểu có trình độ đại học là 65, chiếm 71,42%, trình độ trên đại học là 13, chiếm 13,83%, trình độ trung cấp là 11 đại biểu, chiếm 12,1% và trình độ sơ cấp là 2 đại biểu, chiếm 2,2%).

  • Bảng 2.1. So sánh số lượng đại biểu, đại biểu chuyên trách và trình độ chuyên môn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVI với đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XV Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Trong nhiệm kỳ 2011-2016, Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An có đại biểu nữ là 15, chiếm tỷ lệ 17,6%; đại biểu nam là 70, chiếm tỷ lệ 82,4%; đại biểu trẻ tuổi là 10, chiếm tỷ lệ 12%; đại biểu dân tộc thiểu số là 12, chiếm tỷ lệ 13,2%; người ngoài Đảng 7, chiếm tỷ lệ 8,4%, 35 đại biểu tái cử, chiếm 41,1%. Cơ cấu đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh theo các tiêu chí là yếu tố quan trọng để bảo đảm và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và xu thế hội nhập của tỉnh. Cơ cấu thành phần và trình độ chuyên môn của đại biểu ảnh hưởng quyết định đến hoạt động chất vấn. Trong nhiệm kỳ 2011-2016, Hội đồng nhân dân tỉnh đã tiến hành chất vấn 42 lượt nội dung trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh đối với Ủy ban nhân dân tỉnh và 14 sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Hình thức chất vấn không ngừng được đổi mới, người chất vấn đã thể hiện được trách nhiệm của mình trước yêu cầu của cử tri. Đại biểu Hội đồng nhân dân đã lựa chọn những vấn đề trọng tâm, bức xúc để giám sát hằng năm đã làm cho hoạt động chất vấn ngày càng đáp ứng tốt hơn những yêu cầu, đòi hỏi của cử tri, của cuộc sống. Kết quả hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân đã có tác động tích cực trong thực tế, góp phần nâng cao trách nhiệm phát hiện và khắc phục kịp thời những thiếu sót, hạn chế cả về chính sách pháp luật và tổ chức quản lý điều hành, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước [9].

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh luôn duy trì số lượng 03 đồng chí trong suốt nhiệm kỳ 2011 – 2016, bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực, trong đó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh là Bí thư Tỉnh ủy kiêm nhiệm (từ tháng 12 năm 2015) hoặc Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy (từ đầu nhiệm kỳ đến tháng 12 năm 2015), Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy (trong nhiệm kỳ vị trí Phó Chủ tịch có sự thay đổi 03 lần). Việc bố trí các cán bộ chủ chốt của Tỉnh ủy nắm giữ những cương vị quan trọng của Hội đồng nhân dân tỉnh chứng tỏ sự quan tâm của Tỉnh ủy đối với tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh, đồng thời khẳng định vai trò, vị trí và tầm quan trọng của Hội đồng nhân dân tỉnh trong hệ thống chính trị của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi và là động lực lớn để Hội đồng nhân dân tỉnh hoạt động hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị theo quy định của pháp luật. Đối với hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân có vai trò quan trọng qua việc chuẩn bị chương trình, nội dung kỳ họp có nội dung chất vấn, tổng hợp chất vấn báo cáo Hội đồng nhân dân, quyết định và trình Hội đồng nhân dân quyết định nhóm vấn đề chất vấn, giám sát việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại kỳ họp trước, tổ chức để đại biểu tiếp công dân tiếp nhận khiếu nại tố cáo, tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của cử tri để báo cáo Hội đồng nhân dân… đây là những căn cứ, cơ sở và điều kiện để đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện hoạt động chất vấn của mình.

Theo Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 19-6-2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An, các Ban của Hội đồng nhân dân và thành viên các Ban là Ban Kinh tế – Ngân sách gồm 1 trưởng ban, 2 phó ban, 5 thành viên; Ban Văn hóa – Xã hội gồm 1 trưởng ban, 2 phó ban, 5 thành viên; Ban Pháp chế gồm 1 trưởng ban, 2 phó ban, 5 thành viên; Ban Dân tộc gồm 1 trưởng ban, 2 phó ban, 5 thành viên. Đến cuối nhiệm kỳ 2011-2016, số đại biểu giảm 4 là ở Ban Kinh tế – Ngân sách, Ban Pháp chế, mỗi ban chỉ gồm 1 trưởng ban, 2 phó ban và 3 thành viên. Ngay sau khi kiện toàn bộ máy, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh đã xây dựng và ban hành Quy chế hoạt động của Ban, phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban từ đầu nhiệm kỳ và trong từng kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh. Chính vì vậy, hoạt động của các Ban luôn đảm bảo sự thông suốt, ổn định, hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị thuộc chức năng, thẩm quyền của các Ban, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Việc kiện toàn về tổ chức và hoạt động các Ban của Hội đồng nhân dân có tác động tới hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân thể hiện ở chỗ, trong quá trình giám sát hoạt động, thẩm tra dự thảo báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi phụ trách, theo dõi việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân, việc thực hiện những lời hứa, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn, thực hiện tiếp công dân, giải quyết kiến nghị, phản ánh, đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân của các Ban của Hội đồng nhân dân (giám sát thường xuyên), đại biểu Hội đồng nhân dân có cơ sở và điều kiện để phát hiện và tìm hiểu sâu, nghiên cứu kỹ về vấn đề cần chất vấn; qua hoạt động giám sát chuyên đề cũng như báo cáo kết quả giám sát chuyên đề của các Ban của Hội đồng nhân dân đã giúp đại biểu Hội đồng nhân dân có thêm căn cứ và cơ sở tiến hành hoạt động chất vấn. Trong nhiệm kỳ 2011-2016, Thường trực, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh đã thực hiện tổng cộng 59 cuộc giám sát, ban hành kết luận với hơn 900 kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành, địa phương và doanh nghiệp. Các hoạt động tổ chức kỳ họp, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, hoạt động giám sát, khảo sát, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, thẩm tra và xử lý các vấn đề phát sinh giữa hai kỳ họp được thực hiện đảm bảo hiệu quả, chất lượng, có nhiều sáng tạo, đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động [12].

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đã tổ chức các cuộc tập huấn, ví dụ tập huấn nâng cao năng lực giám sát trong đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư công, thẩm tra về tài chính, ngân sách của Hội đồng nhân dân, tập huấn về kỹ năng phổ biến, tuyên truyền pháp luật, tập huấn về kỹ năng hoạt động cho đại biểu Hội đồng nhân dân nhằm nâng cao năng lực giám sát (trong đó có hoạt động chất vấn) và các hoạt động cho các Ban của Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân, qua đó giúp đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện hoạt động chất vấn của mình có chất lượng và hiệu quả.

Trong nhiệm kỳ 2011 – 2016, Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức 15 kỳ họp, trong đó có 09 kỳ họp thường lệ, 05 kỳ họp bất thường và 01 kỳ họp chuyên đề (kỳ họp thứ 7 về Hiến pháp năm 2013). Mỗi kỳ họp thường diễn ra trong vòng từ 2,5 đến 03 ngày (trừ kỳ họp bất thường và kỳ họp chuyên đề). Các kỳ họp được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Thời gian, địa điểm tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân được thông báo công khai cho cử tri trước 3 ngày. Các kỳ họp Hội đồng nhân dân đều được Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh phát trực tiếp, báo địa phương và trung ương đưa tin.

2.2. Tình hình hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

2.2.1. Trách nhiệm thực hiện hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và sự tham gia của người trả lời chất vấn

Các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An trong nhiệm kỳ 2011-2016 nhìn chung đã thể hiện bản lĩnh dám nói, dám chất vấn đến cùng những vấn đề bức xúc liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm của người bị chất vấn; đã có ý thức về trách nhiệm của mình trong việc tiếp thu ý kiến chính đáng của người dân, nghiên cứu và tiến hành hoạt động chất vấn người có trách nhiệm, buộc người bị chất vấn phải làm sáng tỏ trách nhiệm của mình trước nhân dân. Trong khía cạnh này, chất lượng đến từ tiêu chuẩn, các đại biểu dân Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An đã thể hiện tính chuyên nghiệp và chuyên môn, tư duy lôgíc, kỹ năng phân tích, đánh giá thông tin, áp dụng thành thạo các kỹ thuật hiện đại, sử dụng tối đa ưu thế của công nghệ thông tin để có các nguồn thông tin nhanh nhất và chính xác nhất, trong việc nghiên cứu các báo cáo, đặt các câu hỏi chất vấn gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, có trách nhiệm trong việc thường xuyên theo dõi, đôn đốc các cơ quan chức năng giải quyết kiến nghị của cử tri thông qua chất vấn tại kỳ họp.

Trong nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI (2011-2016), người trả lời chất vấn đều đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật (là thủ trưởng cơ quan các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là Giám đốc các Sở). Dù nội dung trả lời có thể cặn kẽ, chi tiết hay còn chung chung thì người trả lời chất vấn vẫn trả lời tất cả các ý kiến mà đại biểu đã chất vấn. Nội dung trả lời đã thể hiện đi đúng vào trọng tâm, ngắn gọn, không phân tích viện dẫn các lý do dài dòng. Việc tiếp thu các ý kiến chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân đã thể hiện sự nghiêm túc, có thái độ thiện chí, cầu thị. Đặc biệt, việc hứa giải quyết vấn đề nào đó luôn nêu rõ phương án, lộ trình thực hiện cụ thể, giải pháp cụ thể và thời gian sẽ hoàn thành để đại biểu và cử tri giám sát. Ví dụ tại kỳ họp thứ 9 Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khoá XVI nhiệm kỳ 2011-2016 đã tiến hành chất vấn Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải. Riêng trong phiên chất vấn này, Giám đốc Sở Giao thông -Vận tải đã phải trả lời chất vấn của 12 đại biểu Hội đồng nhân dân về rất nhiều nội dung như: Nguyên nhân và giải pháp cho tình trạng tai nạn giao thông diễn biến phức tạp, vỉa hè, hành lang an toàn giao thông bị lấn chiếm, các loại ô tô chở hàng quá khổ quá tải phá nát đường, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông và cuộc sống của người dân? Tại sao thời gian vừa qua tình hình tai nạn giao thông có những diễn biến nghiêm trọng? Việc quy hoạch bến xe khách được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành từ năm 2007, tại sao vẫn còn 14 huyện chưa có bến xe? Trong 6 tháng đầu năm 2013 tai nạn giao thông do nam giới uống rượu gây ra tăng cao, vậy giải pháp nào để giải quyết tình trạng người điều khiển phương tiện tham gia giao thông uống rượu bia? Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải Nguyễn Hồng Kỳ đã bình tĩnh và thẳng thắn trả lời tất cả các câu hỏi (không đề nghị cho trả lời sau bằng văn bản), trực tiếp trả lời vào câu hỏi: ngoài nguyên nhân do công tác tuyên truyền còn hạn chế, ý thức của người tham gia giao thông thì có trách nhiệm của ngành giao thông vận tải trong việc phối hợp thực hiện với Ủy ban nhân dân, phối hợp làm việc với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

2.2.2. Xây dựng chương trình, chuẩn bị những điều kiện tổ chức và việc thực hiện hoạt động chất vấn của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An

  • Trước kỳ họp Hội đồng nhân dân

Việc xây dựng chương trình, chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho phiên chất vấn cả về nội dung và hình thức đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động chất vấn. Bởi thời gian dành cho phiên chất vấn không nhiều (thường là 1 ngày trong mỗi kỳ họp) nên cần phải thực hiện tốt công tác chuẩn bị để trong khoảng thời gian 1 ngày đó có thể chất vấn mang lại kết quả nhất, làm rõ được trách nhiệm của người bị chất vấn, giải đáp cho cử tri và đại biểu Hội đồng nhân dân hài lòng về nội dung trả lời của người bị chất vấn. Phiên chất vấn phải làm rõ được trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành, trách nhiệm của người lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành đó trong việc thực hiện nhiệm vụ, đưa ra những giải pháp giải quyết và cam kết thực hiện. Nội dung của vấn đề được chất vấn phải bảo đảm tính bao quát, toàn diện, lại phải cụ thể, rốt ráo. Chính trong điều kiện đó, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và chính các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An thể hiện vai trò quan trọng trong công tác chuẩn bị cho phiên chất vấn.

  • Công tác thẩm tra các báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết trình kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh

Một nội dung mà hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh hướng tới là các báo cáo, tờ trình về việc thực hiện nhiệm vụ, về việc thi hành Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, việc thực hiện những lời hứa, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các ngành liên quan đối với lĩnh vực được phân công phụ trách, kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị 6 tháng và cả năm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh. Vì vậy, trước kỳ họp HĐND, theo phân công của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân chủ trì tổ chức thẩm tra các báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành liên quan, thẩm tra tờ trình và dự thảo nghị quyết trình các kỳ họp. Trong nhiệm kỳ 2011 – 2016, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An thẩm tra tất cả các báo cáo tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng, cả năm và dự thảo nghị quyết nhiệm vụ 6 tháng, cả năm; phân công Ban Kinh tế và Ngân sách thẩm tra 85 loại báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết, Ban Văn hóa – Xã hội thẩm tra 28 tờ trình, dự thảo nghị quyết, Ban Pháp chế thẩm tra 40 tờ trình, dự thảo nghị quyết và 68 lượt báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành liên quan trình các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh. Công tác thẩm tra các báo cáo, tờ trình, các dự thảo nghị quyết trình kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiều đổi mới, các Ban đã có sự phân công từng thành viên (các đại biểu Hội đồng nhân dân) nghiên cứu sâu các nội dung theo lĩnh vực phụ trách và thẩm tra sơ bộ trước. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An lưu ý các cơ quan, ban, ngành làm báo cáo giải trình gửi Thường trực Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân, không hạn chế số trang, nhưng báo cáo giải trình tại hội trường thì không quá 7 trang khổ A4, thời lượng giải trình không quá 20 phút. Quy định này giúp cho Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có được đầy đủ thông tin cho việc nghiên cứu thẩm tra được toàn diện, rõ ràng, việc chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp được ngắn gọn, bảo đảm tiết kiệm thời gian mà hiệu quả. Tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, sau khi nghe lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành đọc báo cáo, tờ trình về việc thực hiện nhiệm vụ công tác của mình, sau đó các đại biểu sẽ nêu vấn đề, trao đổi, thảo luận, chất vấn về nội dung các báo cáo, tờ trình đó. Chính vì các Ban của Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân được thẩm tra sơ bộ trước các báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết nên các đại biểu Hội đồng nhân dân sớm nắm bắt được các thông tin liên quan đến nội dung chất vấn ngay từ giai đoạn chuẩn bị của Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, từ đó đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiều thời gian nghiên cứu, tìm hiểu nên nội dung chất vấn tại phiên chất vấn trong kỳ họp Hội đồng nhân dân sâu hơn, có chất lượng hơn, các đại biểu Hội đồng nhân dân rất chủ động trong việc đặt câu hỏi, tiếp tục chất vấn nếu phần trả lời của người bị chất vấn chưa thỏa đáng hoặc câu trả lời mang tính chất qua loa, chiếu lệ, giấu giếm (xem Phụ lục 2.1).

Để công tác thẩm tra báo cáo, tờ trình đạt kết quả, bảo đảm thời gian cho đại biểu Hội đồng nhân dân nghiên cứu, thẩm tra (đại biểu Hội đồng nhân dân được nhận tài liệu trước kỳ họp 5 ngày theo quy định), Thường trực Hội đồng nhân dân chủ động đôn đốc các cơ quan gửi báo cáo, tờ trình đúng lịch, kiên quyết từ chối các tờ trình và báo cáo gửi chậm so với kế hoạch đã thống nhất. Ví dụ tại kỳ họp thứ 9, Hội đồng nhân dân tỉnh đã không tiến hành thẩm tra 4 dự thảo nghị quyết của Ủy ban nhân dân do không bảo đảm về thời gian gửi các Ban của Hội đồng nhân dân thẩm tra, gửi các đại biểu Hội đồng nhân dân nghiên cứu trước kỳ họp. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

  • Công tác tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh

Ngoài những vấn đề kinh tế – xã hội tại địa phương mà chính đại biểu Hội đồng nhân dân tổng hợp tìm hiểu được, một nguồn thông tin quan trọng để các đại biểu Hội đồng nhân dân có cơ sở, tư liệu thực hiện trách nhiệm người đại biểu nhân dân của mình là những kiến nghị của cử tri mà đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp thu được qua các cuộc tiếp xúc cử tri. Để có thể tổng hợp trúng và đúng những vấn đề cử tri bức xúc để đưa ra chất vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân cùng các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An đã tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc cử tri trước mỗi kỳ họp. Công tác tiếp xúc cử tri trước mỗi kỳ họp luôn được Thường trực Hội đồng nhân dân cùng các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An quan tâm thực hiện và các đại biểu Hội đồng nhân dân cũng thể hiện rất rõ trách nhiệm người đại biểu của mình qua việc thực hiện đầy đủ các cuộc tiếp xúc cử tri. Thực tiễn hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh thời gian qua diễn ra nghiêm túc, đúng quy định.

Các cuộc tiếp xúc cử tri do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An tổ chức có nhiều đổi mới về hình thức, nội dung: Kế hoạch tiếp xúc cử tri được đăng tải trên Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh và Báo Nghệ An để cử tri tham gia và giám sát, đa dạng đối tượng tiếp xúc, xuống tận thôn, xóm. Một số cuộc tiếp xúc cử tri đã bố trí cả đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện và xã cùng lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cử tri. Cách làm này giúp tiết kiệm thời gian, công sức của cử tri; các ý kiến, kiến nghị sẽ được các đại biểu phân loại, giải trình đầy đủ. Nếu các câu hỏi của cử tri thuộc lĩnh vực công tác của mình hoặc về các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh mà các đại biểu Hội đồng nhân dân nắm vững thì các đại biểu trong đoàn tiếp xúc sẽ trả lời ngay để giải tỏa thắc mắc của cử tri; nếu những kiến nghị không thuộc lĩnh vực công tác của đại biểu Hội đồng nhân dân thì đại biểu Hội đồng nhân dân sẽ gửi tới đúng địa chỉ là các cơ quan, ban, ngành có thẩm quyền, đồng thời báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân. Thường trực Hội đồng nhân dân sau khi tổng hợp, phân loại kiến nghị sẽ chuyển các kiến nghị của cử tri tới các cơ quan chức năng để trả lời theo luật định. Văn bản trả lời của các cơ quan chức năng được gửi tới Thường trực Hội đồng nhân dân để Thường trực Hội đồng nhân dân chuyển tới các đơn vị cử tri có kiến nghị. Với những kiến nghị của cử tri chậm được giải quyết, giải đáp không thỏa đáng, gây bức xúc kéo dài, phức tạp, có liên quan tới trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chức năng thì Thường trực Hội đồng nhân dân sẽ tổng hợp, làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh, các cấp, các ngành liên quan đề nghị giải quyết và trả lời cho cử tri hoặc thống nhất quyết định có đưa vấn đề ra chất vấn tại phiên họp Hội đồng nhân dân không. Cách làm này rất chặt chẽ bảo đảm cho mọi kiến nghị thắc mắc của cử tri được giải quyết một cách chu đáo và có trách nhiệm. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Qua tổng hợp kiến nghị của cử tri từ các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân trước các kỳ họp tỉnh Nghệ An cho thấy: Các kiến nghị của cử tri chủ yếu tập trung vào những vấn đề thiết thân nhất liên quan đến sinh hoạt, sản xuất, các chế độ, chính sách cơ bản trong đời sống dân sinh. Có thể thấy, nhiều trường hợp cử tri chỉ nêu các hiện tượng, sự việc gây khiến họ bức xúc, mà chưa xác định được câu hỏi đó thuộc trách nhiệm trả lời của cơ quan, cá nhân nào. Chính các đại biểu Hội đồng nhân dân bằng chuyên môn, kỹ năng của mình xác định các kiến nghị đó nếu thuộc trách nhiệm lĩnh vực công tác của mình thì trực tiếp trả lời, nếu thuộc cơ quan, ban, ngành chuyên môn nào thì tiếp nhận và chuyển đến cơ quan, ban, ngành đó. Bằng việc tiếp thu các kiến nghị của cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân đã nhận trách nhiệm về việc kiến nghị của cử tri phải được trả lời, tới đúng người có trách nhiệm trả lời và việc trả lời đúng thời hạn theo luật định. Đồng thời đại biểu Hội đồng nhân dân cũng báo cáo với Thường trực Hội đồng nhân dân. Vai trò của người đại biểu Hội đồng nhân dân thể hiện ở chỗ có thể giải đáp ngay những thắc mắc của cử tri, hoặc là cầu nối giữa cử tri với các cơ quan, ban, ngành, với Hội đồng nhân dân để mọi thắc mắc, kiến nghị của cử tri đều được giải đáp một cách trọn vẹn (xem Phụ lục 2.2).

Sau khi nghe ý kiến, kiến nghị của cử tri, những vấn đề thuộc thẩm quyền chuyên môn của đại biểu thì đại biểu trực tiếp trả lời hoặc giao cho các cơ quan có liên quan rà soát và xử lý (Ví dụ, ngay tại cuộc tiếp xúc cử tri phường Cửa Nam thành phố Vinh trước kỳ họp thứ 3 Hội đồng nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng nhân dân đã giao cho phường Cửa Nam và Ủy ban nhân dân thành phố Vinh xử lý ngay tình trạng bị ngập lụt khi mưa to ở khối 9, 12, 15; Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp xúc cử tri phường Nghi Hương thị xã Cửa Lò đã trả lời ngay cử tri về vấn đề ngập úng nước tại sân golf Cửa Lò), những vấn đề khác, các đại biểu đều tiếp thu và hứa trước cử tri sẽ trình lên kỳ họp để Hội đồng nhân dân tỉnh chất vấn và các ngành phải trả lời tại kỳ họp (Ví dụ từ các kiến nghị của cử tri huyện Đô Lương qua cuộc tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 3 Hội đồng nhân dân tỉnh, qua tìm hiểu, nghiên cứu, các đại biểu Hội đồng nhân dân đã đưa ra những câu hỏi và Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định những vấn đề phải chất vấn tại kỳ họp thứ 3 Hội đồng nhân dân tỉnh là tiến độ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của Chính phủ giai đoạn 2010-2020; từ các kiến nghị của cử tri huyện Tương Dương qua cuộc tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nêu ra vấn đề chất vấn tại kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh là việc thực hiện công tác đền bù giải phóng mặt bằng các công trình đường điện 35KW, thủy điện Khe Bố; từ các kiến nghị của cử tri huyện Nghi Lộc qua cuộc tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 13 Hội đồng nhân dân tỉnh, qua tìm hiểu, nghiên cứu, các đại biểu Hội đồng nhân dân đã đưa ra những câu hỏi và Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định những vấn đề phải chất vấn tại kỳ họp thứ 13 Hội đồng nhân dân tỉnh là tình trạng lạm thu và lạm dụng Quỹ bảo hiểm y tế, tình trạng ô nhiễm môi trường trên diện rộng, v.v.). Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

  • Công tác giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề, hoạt động khảo sát do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân tổ chức

Hoạt động giám sát, khảo sát tập trung chủ yếu vào những vấn đề bức xúc, nổi cộm được cử tri phản ánh, quan tâm nhiều hoặc liên quan đến việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, phương thức giám sát, khảo sát là kết hợp nghe báo cáo với xem xét thực tế tại địa phương, cơ sở, tìm hiểu, khai thác thông tin qua nhiều kênh khác nhau và qua công tác tiếp công dân, giải quyết kiến nghị, phản ánh, đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân đã giúp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân nắm bắt thông tin, hoạt động, những tồn tại, hạn chế, vướng mắc, khó khăn của các ngành, vừa để kịp thời chỉ đạo khắc phục những tồn tại, hạn chế hoặc đề xuất, kiến nghị các giải pháp phù hợp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Đồng thời chính qua các cuộc khảo sát, giám sát, làm việc trực tiếp mà các đại biểu Hội đồng nhân dân có thể phát hiện những nguy cơ xảy ra vi phạm pháp luật, nguy cơ xấu ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức nơi đoàn giám sát, khảo sát đến làm việc để cảnh báo, giúp các cơ quan, tổ chức này chủ động xử lý, giải quyết trước khi có hậu quả xấu xảy ra. Thường trực Hội đồng nhân dân đã thực hiện phương thức giám sát, khảo sát phù hợp với nội dung, đối tượng, thời điểm giám sát, thành phần tham gia giám sát, tăng cường các công cụ hỗ trợ cho đại biểu Hội đồng nhân dân về thông tin, phương tiện làm việc, cơ chế, chính sách thuê chuyên gia, kinh phí. Hoạt động giám sát, khảo sát phối hợp chặt chẽ với cơ quan thông tin đại chúng. Những việc làm đó đã giúp cho hiệu quả hoạt động giám sát, khảo sát nâng lên rõ rệt, tiếp nhận và phản ánh đúng những bức xúc của người dân, là tư liệu cơ sở cho Thường trực Hội đồng nhân dân lựa chọn đúng vấn đề chất vấn và đại biểu Hội đồng nhân dân có cơ sở, tư liệu thực hiện hoạt động chất vấn của mình (xem Phụ lục 2.3).

  • Các công tác tổ chức khác

Trước ngày khai mạc kỳ họp, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh chủ động gửi bản tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, bản tổng hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo của cử tri, bản tổng hợp ý kiến từ hoạt động giám sát, khảo sát của các Ban của Hội đồng nhân dân, bản tổng hợp các chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ủy ban nhân dân tỉnh để Ủy ban nhân dân tỉnh có cơ sở xếp loại, phân công người đứng đầu các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh thuộc ngành, lĩnh vực có câu hỏi chất vấn nghiên cứu trả lời, giải trình trực tiếp tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, đồng thời gửi văn bản trả lời chất vấn qua hộp thư điện tử cho Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh để kịp thời chuyển tải đến các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Để chuẩn bị cho phiên chất vấn trong kỳ họp, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh chủ trì, làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và các ngành liên quan để thống nhất dự kiến nội dung, chương trình, các vấn đề có liên quan đến vấn đề chất vấn và trả lời chất vấn, giao trách nhiệm cụ thể đối với từng cơ quan chủ trì tham mưu, chuẩn bị và tích cực đôn đốc Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành, các Tổ đại biểu và đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc chuyển tài liệu tiếp xúc cử tri cũng như các tài liệu phục vụ nội dung chất vấn và trả lời chất vấn trong kỳ họp. Các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân sinh hoạt theo quy chế để trao đổi về việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu và Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân trong kỳ họp Hội đồng nhân dân như chuẩn bị ý kiến đóng góp cho các báo cáo, tờ trình sẽ được trình tại kỳ họp, báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nội dung chất vấn của Tổ đại biểu. Nội dung chất vấn của Tổ đại biểu được thống nhất bàn bạc và cử đại biểu trực tiếp đặt câu hỏi. Việc chuẩn bị chặt chẽ, cụ thể về vấn đề chất vấn, nội dung chất vấn, người chất vấn và cách thức chất vấn như vậy giúp cho việc thực hiện chất vấn tại kỳ họp mang tính chuyên nghiệp, chủ động.

Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định vấn đề chất vấn và người trả lời chất vấn tại kỳ họp giúp người có trách nhiệm trả lời chất vấn biết được mình phải trả lời về vấn đề gì, cử tri đang có bức xúc gì về vấn đề đó. Người bị chất vấn sẽ có thời gian nghiên cứu và tập trung được vào vấn đề bị chất vấn, chuẩn bị các lý lẽ, chứng cứ trả lời cho các câu hỏi liên quan đến vấn đề chất vấn, chuẩn bị được câu trả lời thuyết phục các đại biểu Hội đồng nhân dân và cử tri. Trong nhiều trường hợp sau khi người bị chất vấn trả lời, các đại biểu Hội đồng nhân dân lại đặt thêm câu hỏi chất vấn sâu hơn. Vì vậy, việc chuẩn bị toàn diện nội dung trả lời chất vấn, những số liệu, tình tiết, sự kiện, vấn đề trách nhiệm cụ thể sẽ giúp người trả lời chất vấn thực hiện được tốt nhất nhiệm vụ của mình. Người bị chất vấn sẽ không quá bị động trước những câu hỏi chất vấn sâu, đòi hỏi phải có những số liệu, cứ liệu chứng minh giải trình đầy đủ. Đồng thời thông qua việc trả lời chất vấn, bản thân người bị chất vấn cũng có thể giải trình cho cử tri cùng các cơ quan, ban, ngành những khó khăn, vướng mắc, những bất cập trong công tác của cơ quan, tổ chức mình để có thể cùng đưa ra được những giải pháp giải quyết vấn đề. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Chương trình kỳ họp luôn được Hội đồng nhân dân tỉnh thông báo công khai rộng rãi trên cổng thông tin điện tử Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài. Trong thông báo về kỳ họp Hội đồng nhân dân luôn đầy đủ những thông tin như thời gian tổ chức kỳ họp, địa điểm, chương trình kỳ họp kèm theo những thông báo như kỳ họp sẽ tổ chức phát thanh, truyền hình trực tiếp các phiên: khai mạc, thảo luận tại hội trường, chất vấn và trả lời chất vấn, bế mạc kỳ họp, tiếp tục tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri qua hệ thống đường dây điện thoại trực tuyến với 3 số điện thoại nóng về những vấn đề liên quan đến nội dung chất vấn. Để các đại biểu có nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu, từ kỳ họp thứ 6 Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đã có cải tiến trong việc chuyển tài liệu đến các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh (ví dụ như nội dung phần giải trình của các ngành được giao trả lời chất vấn) đều được tải qua phần mềm quản lý tài liệu kỳ họp và trang thông tin điện tử đại biểu nhân dân tỉnh Nghệ An được cài đặt trên máy tính xách tay mà Hội đồng nhân dân tỉnh đã trang cấp cho các đại biểu và hộp thư điện tử (thay vì chuyển tài liệu giấy qua đường bưu điện như các kỳ họp trước) giúp thông tin đến đại biểu nhanh hơn, tiết kiệm được khâu in ấn, các đại biểu sử dụng và theo dõi, kịp thời có thêm những ý kiến chất vấn.

Thông thường mỗi kỳ họp dành một ngày cho hoạt động chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân, nhưng có một số kỳ họp không tổ chức phiên chất vấn (ví dụ kỳ họp thứ nhất, thứ 2, thứ 4, thứ 7, thứ 8 và thứ 12) (được nêu trong Bảng 2.2).

  • Bảng 2.2. Bảng tổng hợp thời gian dành cho phiên chất vấn qua các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI, nhiệm kỳ 2011-2016

Mỗi kỳ họp có tiến hành chất vấn (trừ những kỳ họp không tổ chức chất vấn) phần lớn dành thời lượng 1 ngày cho 2 phiên chất vấn, thông thường là: ngày thứ nhất, buổi sáng khai mạc kỳ họp và nghe các báo cáo, tờ trình, buổi chiều thảo luận tại tổ tình hình thực hiện kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh thời gian vừa qua và nhiệm vụ, giải pháp cho thời gian tới, thảo luận các tờ trình, nghị quyết kỳ họp; ngày thứ hai: buổi sáng thảo luận tại hội trường, buổi chiều chất vấn và trả lời chất vấn; ngày thứ ba: buổi sáng tiếp tục chất vấn và trả lời chất vấn, buổi chiều thông qua các nghị quyết kỳ họp và bế mạc kỳ họp. Với thời gian họp là 3 ngày, các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An có phiên chất vấn đều dành thời lượng 1 ngày cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn là phù hợp. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

  • Tại kỳ họp Hội đồng nhân dân

Trước phiên chất vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân yêu cầu Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện các phóng sự truyền hình nêu rõ hơn về thực trạng những vấn đề được chất vấn để phát ngay tại phiên chất vấn, minh họa cho phần chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân. Việc làm này giúp cho phần chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân thêm tính thuyết phục, giúp toàn thể thành phần phiên chất vấn cũng như đông đảo cử tri trong tỉnh theo dõi trực tiếp phiên chất vấn trên sóng truyền hình hình dung, nắm bắt vấn đề sáng rõ, cụ thể hơn. Vai trò của Thường trực Hội đồng nhân dân thể hiện qua việc luôn chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc tổ chức, điều hành các kỳ họp theo hướng tạo không khí cởi mở, dân chủ, phát huy được trí tuệ tập thể, giảm đọc báo cáo tại hội trường, dành nhiều thời gian để thảo luận, chất vấn và trả lời chất vấn. Các đại biểu Hội đồng nhân dân thể hiện trách nhiệm đến tận cùng vấn đề được Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định đưa ra chất vấn.

Mỗi một phiên chất vấn tập trung vào một số lĩnh vực kinh tế – xã hội nhất định giúp nội dung phiên chất vấn có trọng tâm, trọng điểm, đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện chất vấn có điều kiện đi sâu vào những lĩnh vực đó, vấn đề nêu ra được nghiên cứu, trả lời rốt ráo mà phiên chất vấn không bị dàn trải. Hình thức chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân sinh động, việc đặt câu hỏi cụ thể và chính xác với các cứ liệu, số liệu, video hình ảnh khảo sát nghiên cứu được chuẩn bị từ trước.

Mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh bình quân có từ 10 – 15 lượt đại biểu chất vấn. Nhiệm kỳ 2011 – 2016, Hội đồng nhân dân tỉnh đã tiến hành chất vấn 42 lượt nội dung trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh đối với Ủy ban nhân dân tỉnh và 14 sở, ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Sau phiên chất vấn Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đã ra thông báo kết luận để yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành, các cấp liên quan giải quyết các vấn đề được đại biểu nêu lên tại phiên chất vấn nhưng chưa được trả lời hoặc trả lời chưa thỏa đáng.

Phiên chất vấn và trả lời chất vấn được duy trì tại các kỳ họp định kỳ (trừ kỳ họp chuyên đề góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và một số kỳ họp bất thường hoàn thiện công tác tổ chức, nhân sự Hội đồng nhân dân tỉnh nên chưa tiến hành được phiên chất vấn, chưa có đường dây điện thoại nóng) [10], [11] và thời lượng phiên chất vấn là 1 ngày trong tổng số 3 ngày diễn ra kỳ họp. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Tại các kỳ họp, sau khi người bị chất vấn trả lời câu hỏi thì các đại biểu lại tiếp tục nêu thêm những câu hỏi chất vấn xung quanh những nội dung giải trình, trả lời đó, thể hiện sự nắm bắt toàn diện vấn đề, thái độ nghiêm túc muốn đi tận cùng vấn đề cần chất vấn. Ví dụ, tại kỳ họp thứ 9, với câu hỏi: Tại sao thời gian vừa qua tình hình tai nạn giao thông có những diễn biến nghiêm trọng? Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải trả lời một trong những lý do gia tăng tai nạn giao thông là ý thức của chấp hành Luật Giao thông đường bộ của người dân kém, đại biểu Hội đồng nhân dân lại tiếp tục chất vấn là nguyên nhân nào dẫn tới ý thức chấp hành không nghiêm, thậm chí xem thường pháp luật và người thi hành công vụ của một số đối tượng tham gia giao thông, Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải tiếp tục trả lời đó là vấn đề liên quan đến hiệu quả công tác tuyên truyền chưa cao. Luật Giao thông đường bộ đã được đưa vào chương trình dạy trong các trường học nhưng nhiều người trong xã hội nhận thức còn hạn chế, việc này cũng thuộc một phần trách nhiệm của ngành giao thông vận tải; tại kỳ họp thứ 11, sau phần trả lời chất vấn của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ về nguyên nhân của việc ứng dụng các đề tài khoa học và công nghệ (do các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong tỉnh nghiên cứu, xây dựng) vào thực tiễn trên các lĩnh vực đạt hiệu quả còn thấp (nhất là việc xây dựng các mô hình kinh tế ở miền núi), chưa có sự tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế -xã hội, an ninh quốc phòng là nhiều đề tài thiếu tính thực tiễn hoặc tính thực tiễn chưa cao, sự nhân rộng quy mô còn ít, việc tổ chức thực hiện đề tài dàn trải, nguồn lực đầu tư bị phân tán, nhiều sở, ngành, huyện, thị chưa quan tâm đúng mức, chưa có cán bộ tham mưu nên việc quản lý chất lượng chưa hiệu quả, thiếu tính kết nối giữa Sở Khoa học và Công nghệ với các ngành khác, doanh nghiệp địa phương nhỏ yếu, hoạt động nghiên cứu mang tính rủi ro, thì đại biểu Hoàng Văn Phi (Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Hưng Nguyên) tiếp tục chất vấn là đề nghị Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ nhận trách nhiệm cụ thể của ngành mình đến đâu, biện pháp giải quyết như thế nào chứ không chỉ nêu ra trách nhiệm thuộc về nhiều ngành rồi nhận trách nhiệm chung như đã trả lời; tại kỳ họp thứ 14, sau phần trả lời chất vấn của Giám đốc Sở Nội vụ về câu hỏi trách nhiệm trong việc phối hợp bố trí việc làm cho số học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số các huyện miền núi đi học theo chế độ cử tuyển (theo Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14-11-2006 của Chính phủ) hiện nay đang tồn đọng số lượng lớn học xong chưa có việc làm là Sở thực hiện chỉ thị về việc sinh viên hệ cử tuyển khi xin việc làm tại địa phương chỉ xét tuyển mà không thi tuyển, đại biểu Moong Văn Hợi (đại biểu huyện Tương Dương – Trưởng ban Dân tộc Hội đồng nhân dân tỉnh) tiếp tục chất vấn là tại sao trong tỉnh vẫn có tình trạng thi tuyển và phần trả lời chưa làm rõ trách nhiệm thuộc về ai, cấp nào, nơi nào? Đề nghị làm rõ thêm trách nhiệm của Sở Nội vụ trong việc chế độ cử tuyển có tình trạng không xuất phát từ nhu cầu đào tạo cán bộ thực tế, cử tuyển không theo hoạch định, cử tuyển tràn lan nên sau khi sinh viên học xong về không bố trí được việc làm.

Đặc biệt, tại phiên họp chất vấn của kỳ họp thứ 9, Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An đã có một sự đổi mới, đó là phiên chất vấn tại kỳ họp lần này được đổi mới theo phương thức, cách thức chất vấn “mở”, đó là các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có thể chất vấn “tự do” theo từng nhóm vấn đề được chủ tọa kỳ họp đưa ra, gồm kinh tế, quản lý trật tự đô thị, quản lý văn hóa – xã hội, thanh tra, tư pháp, cải cách thủ tục hành chính, quản lý điều hành của chính quyền thành phố…. mà không giới hạn vào những câu hỏi chất vấn được định trước. Từ sự đổi mới này, phiên chất vấn đã diễn ra sôi nổi với nhiều ý kiến đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tiến hành nêu câu hỏi chất vấn liên quan đến những vấn đề mà mình quan tâm, không chỉ là những vấn đề mà Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định đưa ra chất vấn. Việc thực hiện thí điểm hình thức chất vấn này của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An có ưu điểm là các đại biểu Hội đồng nhân dân rất chủ động, sáng tạo trong việc đưa ra các câu chất vấn theo diễn biến của phiên chất vấn, người trả lời chất vấn cũng được đặt trong hoàn cảnh rất linh hoạt đòi hỏi họ phải rất sâu sát, nắm bắt rất rõ công việc của ban, ngành mình, những ưu điểm, hạn chế, những khó khăn trong tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức mới có thể trả lời được chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân. Việc làm này giúp nâng cao trách nhiệm của cả người chất vấn và người bị chất vấn. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Cuối phiên chất vấn, chủ tọa kết luận đánh giá những ưu điểm, tồn tại của các ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc chuẩn bị trả lời và trả lời chất vấn để rút kinh nghiệm. Ví dụ kết luận cho phần chất vấn Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại kỳ họp thứ 11 về nội dung nguyên nhân của việc ứng dụng các đề tài khoa học và công nghệ (do các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong tỉnh nghiên cứu, xây dựng) vào thực tiễn trên các lĩnh vực đạt hiệu quả còn thấp (nhất là việc xây dựng các mô hình kinh tế ở miền núi), chưa có sự tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, giải pháp?, chủ tọa phiên chất vấn là Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh khẳng định vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong đời sống xã hội, đồng tình cao với các giải pháp mà lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ đưa ra trong thời gian tới như: rà soát, ban hành bổ sung quy định về khoa học và công nghệ, ưu tiên tính ứng dụng và tính thực tiễn, ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, phối hợp với các sở liên quan, bổ sung danh mục hỗ trợ tài chính khoa học công nghệ ở các huyện, tăng cường cơ chế đặt hàng, tăng cường công tác truyền thông để đưa các đề tài khoa học công nghệ ứng dụng rộng rãi. Đồng thời chủ tọa phiên chất vấn cũng đề nghị Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức thực hiện ngay những lời hứa tại phiên chất vấn nêu trên.

Cuối mỗi phiên chất vấn, chủ tọa kỳ họp luôn thực hiện việc giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh, giám đốc các sở, ngành liên quan thực hiện lời hứa trong phiên chất vấn; giao Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh theo dõi, giám sát việc thực hiện những lời hứa sau chất vấn của Ủy ban nhân dân tỉnh trong thời gian tiếp theo; giao Ủy ban nhân dân tỉnh phân công chỉ đạo các ngành khẩn trương có giải pháp cụ thể để giải quyết nhanh và hiệu quả những lời hứa sau chất vấn.

Kết thúc phiên chất vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân ra thông báo kết luận nội dung chất vấn gửi Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện.

  • Sau kỳ họp Hội đồng nhân dân

Không chỉ tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc cử tri hoặc tiến hành các cuộc giám sát, khảo sát trước mỗi kỳ họp, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An còn tổ chức cho đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc cử tri, tham gia các cuộc giám sát, khảo sát sau các kỳ họp. Địa điểm tiếp xúc cử tri trước mỗi kỳ họp ở đâu thì sau kỳ họp tiếp xúc ở đó nhằm phản hồi đúng hẹn cho cử tri. Sau kỳ họp, các vấn đề mà cử tri quan tâm đều được các đại biểu Hội đồng nhân dân trả lời trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi tới các cử tri. Việc làm này đã được các cử tri rất hài lòng bởi các câu hỏi của mình đã được giải đáp bằng trách nhiệm cao của các vị đại biểu Hội đồng nhân dân. Tại các cuộc tiếp xúc cử tri sau kỳ họp này, cử tri được thông báo về phần trả lời chất vấn của lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành bị chất vấn sẽ là cơ sở để cử tri cùng tham gia giám sát việc thực hiện những lời hứa, cam kết của lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành đó. Các cuộc giám sát, khảo sát sau chất vấn của Hội đồng nhân dân là để kiểm tra việc thực hiện các lời hứa, các ghi nhận của đại biểu Hội đồng nhân dân của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có được thực hiện trên thực tế không, thực hiện như thế nào, có khó khăn vướng mắc gì cần tháo gỡ, giải quyết, thậm chí là phát hiện thêm những vấn đề tiếp tục chất vấn, chất vấn lại trong kỳ họp Hội đồng nhân dân tới.

2.2.3. Nội dung chất vấn qua các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Nội dung chất vấn trong các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI đều có xác định và tập trung vào nhóm vấn đề chính, có địa chỉ cụ thể; nội dung chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gắn với điều kiện đặc thù của địa phương. Trước mỗi kỳ họp, các ý kiến, kiến nghị của cử tri, các câu hỏi chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân rất nhiều và liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ban, ngành, cơ quan. Với thời lượng phiên chất vấn có hạn, các vấn đề đã được phân loại, sắp xếp theo nhóm và tập trung vào những vấn đề cấp bách nhất, những vấn đề đã được các cơ quan, ban, ngành trả lời nhưng chưa giải quyết dứt điểm, tồn đọng kéo dài, phức tạp cần được tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn ngay tại kỳ họp, những vấn đề còn lại được Thường trực Hội đồng nhân dân chuyển tới Ủy ban nhân dân, các ban, ngành có liên quan để Ủy ban nhân dân trả lời hoặc phân công các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân trả lời bằng văn bản gửi tới cử tri và các đại biểu Hội đồng nhân dân có câu hỏi chất vấn. Việc chất vấn không chỉ dành cho những câu hỏi đã được chuẩn bị từ trước (Thường trực Hội đồng nhân dân gửi câu hỏi chất vấn đến Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân phân công các cơ quan, ban, ngành, người có trách nhiệm thực hiện việc chuẩn bị phần trả lời chất vấn) mà còn cả những câu hỏi chất vấn đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp tục đưa ra sau các phiên thảo luận các báo cáo, tờ trình của các cơ quan, ban, ngành, cả những ý kiến trực tiếp của các đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn tiếp (mới phát sinh sau phần trả lời của người bị chất vấn), tái chất vấn các vấn đề đã được chất vấn tại các kỳ họp trước mà đại biểu Hội đồng nhân dân nhận thấy chưa có chuyển biến, chưa có kết quả, việc giải quyết dây dưa kéo dài. Chính vì vậy, tại mỗi phiên chất vấn của mỗi kỳ họp, phù hợp với thời gian dành cho phiên chất vấn, trung bình có khoảng 3 – 4 lĩnh vực được chất vấn với nhiều câu hỏi được đưa ra.

  • Tổng hợp các phiên chất vấn thực hiện trong các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI tập trung vào các nội dung như sau: Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Kỳ họp thứ 3 tập trung vào các lĩnh vực: nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, kế hoạch và đầu tư, giáo dục đào tạo, với các câu hỏi chất vấn Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Nguyên nhân của việc chậm thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của Chính phủ giai đoạn 2010 -2020 là gì và giải pháp khắc phục? Chất vấn Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư: Giải pháp nào cho tình trạng công trình tạm dừng do phải thực hiện Nghị quyết 11/CP của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội? Giải pháp khắc phục tình trạng các doanh nghiệp trên địa bàn gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh? Chất vấn Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường: Nguyên nhân và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở các dự án đầu tư (đặc biệt là các dự án thủy điện Bản Vẽ, thủy điện Hủa Na, khu công nghiệp Hoàng Mai, Đông Hồi) bị chậm? Chất vấn Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo: Giải pháp nào cho công tác vệ sinh trường học khi thực hiện các tiêu chuẩn tại Quyết định số 1221/2000/QĐ-BYT của Bộ Y tế, quản lý thu chi, lạm thu trong các trường học và chuyển đổi trường mầm non bán công theo Nghị quyết 350/2010/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh, công tác quản lý, tiếp nhận, luân chuyển, sắp xếp bố trí giáo viên, tình trạng giáo viên vi phạm đạo đức nghề nghiệp, tham gia bán hàng đa cấp trong trường học, tình trạng đào tạo liên thông, liên cấp không bảo đảm các điều kiện quy định, kết quả thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về chuyển đổi loại hình trường mầm non?

Kỳ họp thứ 5 tập trung vào các lĩnh vực: nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, y tế, công thương. Cụ thể, các câu hỏi chất vấn được các đại biểu Hội đồng nhân dân đưa ra chất vấn Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với những vi phạm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng như khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép và giải pháp khắc phục? Chất vấn Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường: Nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh ngày càng có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là đối với vấn đề xử lý nước thải, chất thải từ các doanh nghiệp, khu công nghiệp, làng nghề và bệnh viện trong tỉnh và giải pháp khắc phục? Công tác đền bù giải phóng mặt bằng các công trình đường điện 35KW, thủy điện Khe Bố chậm được giải quyết? Chất vấn Giám đốc Sở Y tế: Nguyên nhân và trách nhiệm quản lý của các ngành chức năng đối với tình trạng không thực hiện nghiêm chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình và giải pháp khắc phục? Nguyên nhân và giải pháp cho tình trạng chi phí cho việc khám, chữa bệnh chưa đáp ứng yêu cầu, đầu tư thiết bị y tế trong các bệnh viện công lập còn khó khăn? Chất vấn Giám đốc Sở Công Thương: Trách nhiệm quản lý và giải pháp khắc phục vấn đề tiến độ bàn giao lưới điện nông thôn và hoàn trả tiền đầu tư cho dân sau khi bàn giao trên địa bàn tỉnh chậm, giá cả và chất lượng điện năng cung cấp cho các hộ tiêu thụ ở vùng nông thôn có nhiều bất cập?

Kỳ họp thứ 6 tập trung vào các lĩnh vực: nội vụ, an ninh trật tự, công nghiệp thương mại, lao động – thương binh và xã hội với câu hỏi đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn Giám đốc Sở Công Thương: Giải pháp của công tác chống buôn bán hàng nhập lậu, chống sản xuất buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm? Chất vấn Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội: Công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề, giải quyết việc làm còn những bất cập, hạn chế. Trách nhiệm của ngành chức năng và giải pháp trong thời gian tới? Công tác thực hiện chính sách đối với người có công ở tỉnh trong thời gian qua vẫn còn những tồn tại, hạn chế và vướng mắc. Trách nhiệm và giải pháp? Chất vấn Giám đốc Sở Nội vụ: Công tác cải cách hành chính còn nhiều tồn tại và chưa đáp ứng yêu cầu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức ý thức trách nhiệm chưa cao, đạo đức công vụ yếu kém, có hiện tượng nhũng nhiễu, phiền hà, thậm chí vi phạm pháp luật. Nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp? Chất vấn Giám đốc Công an tỉnh: Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội năm 2012 tiếp tục diễn biến phức tạp và xuất hiện một số tội phạm mới; tội phạm trộm cắp, cướp giật tài sản gây bức xúc trong dư luận (đốt xe máy, giết người); vi phạm pháp luật ở lứa tuổi vị thành niên gia tăng. Nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp?

Kỳ họp thứ 9 tập trung vào các lĩnh vực: nông nghiệp và phát triển nông thôn, kế hoạch và đầu tư, giao thông vận tải với câu hỏi chất vấn Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Trong khi người dân miền núi thiếu đất sản xuất thì một số nông trưởng, lâm trường, tổng đội thanh niên xung phong quản lý và sử dụng diện tích đất, rừng quá lớn mà hiệu quả lại không tương xứng với tiềm năng. Vậy công tác quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp cần phải có giải pháp gì để giải quyết tình trạng này? Chất vấn Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư: Thu hút đầu tư là nhiệm vụ rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, nhưng việc triển khai sau khi cấp giấy chứng nhận đầu tư chậm thì nguyên nhân và giải pháp nào giải quyết? Chất vấn Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải: Nguyên nhân và giải pháp cho tình trạng tai nạn giao thông diễn biến phức tạp, vỉa hè, hành lang an toàn giao thông bị lấn chiếm, các loại ô tô chở hàng quá khổ quá tải phá nát đường, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông và cuộc sống của người dân? Tại sao thời gian vừa qua tình hình tai nạn giao thông có những diễn biến nghiêm trọng? Việc quy hoạch bến xe khách được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành từ năm 2007, tại sao vẫn còn 14 huyện chưa có bến xe? Trong 6 tháng đầu năm 2013 tai nạn giao thông do nam giới uống rượu gây ra tăng cao, vậy giải pháp nào để giải quyết tình trạng người điều khiển phương tiện tham gia giao thông uống rượu bia? Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Kỳ họp thứ 10 tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp thương mại, xây dựng với chất vấn Giám đốc Sở Công Thương: Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền về tình trạng có những vướng mắc trong công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, cơ chế vận hành xả lũ, việc phối hợp giữa chủ đầu tư và địa phương trong công tác khôi phục bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai của nhà máy thủy điện, của hệ thống hồ đập làm ảnh hưởng đến đời sống ổn định của người dân? Công tác quản lý thị trường có nhiều bất cập, tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại diễn ra phức tạp như hàng hóa nhập khẩu không có xuất xứ, kiểm định, hàng hóa kém chất lượng, hàng giả gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Một số cán bộ nhân viên làm công tác thị trường có biểu hiện tiêu cực. Nguyên nhân và giải pháp? Chất vấn Giám đốc Sở Xây dựng: Tại sao hợp đồng cung cấp nước cho người dân chưa được thực hiện như cam kết (cung cấp nước không kịp thời, không đủ sinh hoạt, chất lượng nước kém…).

Kỳ họp thứ 11 tập trung vào lĩnh vực y tế, khoa học và công nghệ, thuế với các câu hỏi của đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn Giám đốc Sở Y tế: Từ khi thực hiện giá dịch vụ khám chữa bệnh theo Quyết định số 72/2012/QĐ-UBND ngày 03-10-2012 của Ủy ban nhân dân về việc quy định đơn giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An (sau đó được thay thế bằng Quyết định số 125/2014/QĐ-UBND ngày 31-12-2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh) thì chất lượng khám, chữa bệnh tại các bệnh viện có được cải thiện, song chưa đáp ứng yêu cầu. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm của một bộ phận y, bác sĩ đối với người bệnh chưa cao. Nguyên nhân và giải pháp? Chất vấn Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ: Nguyên nhân của việc ứng dụng các đề tài khoa học và công nghệ (do các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong tỉnh nghiên cứu, xây dựng) vào thực tiễn trên các lĩnh vực đạt hiệu quả còn thấp (nhất là việc xây dựng các mô hình kinh tế ở miền núi), chưa có sự tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, giải pháp? Chất vấn Cục trưởng Cục Thuế: Theo báo cáo tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh, đến nay mặc dù ngành thuế đã triển khai quyết liệt nhiều biện pháp nhưng tại sao tình hình số nợ thuế vẫn còn ở mức cao và có xu hướng tăng?

Kỳ họp thứ 13 tập trung vào lĩnh vực y tế, điện lực với câu hỏi dành cho Giám đốc Sở Y tế là: Tình trạng lạm thu và lạm dụng Quỹ bảo hiểm y tế (lạm xét nghiệm, chỉ định cận lâm sàng, lạm dụng thuốc kháng sinh, thuốc không thiết yếu, áp giá dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ ngày/giường sai…) trong khám, chữa bệnh mặc dù đã được kiểm tra song vẫn còn diễn ra tại nhiều bệnh viện, chậm khắc phục; công tác quản lý nhà nước để nâng cao chất lượng hoạt động khám, chữa bệnh của bệnh viện có hạn chế, vấn đề y đức, tinh thần thái độ phục vụ của một số cán bộ, nhân viên y tế còn biểu hiện tiêu cực, gây phiền hà cho bệnh nhân, trình độ chuyên môn còn hạn chế dẫn đến xảy ra một số trường hợp tai biến trong điều trị; chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh không bảo đảm, ảnh hưởng đến sức khỏe gây nhiều lo lắng cho người dân. Nguyên nhân và giải pháp của những tình trạng trên? Câu hỏi chất vấn Giám đốc Sở Công Thương là trách nhiệm và giải pháp trong việc chậm tiến độ thực hiện nguồn điện năng (nhất là thủy điện). Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Kỳ họp thứ 14 tập trung vào lĩnh vực nội vụ, lao động – thương binh và xã hội với chất vấn dành cho Giám đốc Sở Nội vụ: Tình trạng ký hợp đồng lao động không đúng quy định pháp luật khá phổ biến trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập gây ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương hành chính và quyền lợi của người lao động; Giải quyết hồ sơ kháng chiến đối với người có công tồn đọng còn chậm; Trách nhiệm trong việc phối hợp bố trí việc làm cho số học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số các huyện miền núi đi học theo chế độ cử tuyển (theo Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14-11-2006 của Chính phủ) hiện nay đang tồn đọng số lượng lớn học xong chưa có việc làm; Chất vấn Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội: Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và giải pháp cần có đối với tình trạng tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo và phát sinh hộ nghèo mới cao, một bộ phận hộ nghèo không muốn thoát nghèo để được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, việc bình xét hộ nghèo có biểu hiện chưa chính xác; Tình trạng một số tổ chức, doanh nghiệp lợi dụng xuất khẩu lao động để lừa đảo, trục lợi chưa được ngăn chặn kịp thời, gây bức xúc trong nhân dân; Giải pháp cho công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề có nhiều hạn chế, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu, chưa bám sát nhu cầu tuyển dụng lao động, dạy nghề cho lao động nông thôn hiệu quả thấp? Tại sao công tác thực hiện chính sách đối với người có công trong tỉnh còn tồn tại hạn chế và vướng mắc?

Kỳ họp thứ 15 tập trung vào lĩnh vực văn hóa – xã hội và lao động – thương binh và xã hội với câu hỏi dành cho Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Tại sao công tác quản lý di tích văn hóa chưa tốt (một số di tích xuống cấp nhưng chưa có biện pháp bảo vệ; một số di tích tôn tạo, trùng tu không đúng quy định)? Trách nhiệm của cơ quan quản lý như thế nào trong việc để xảy ra tình trạng hoạt động các lễ hội trên địa bàn tỉnh quá nhiều, gây tốn kém, lãng phí? Giải thích về việc công nhận các danh hiệu văn hóa ở một số địa phương còn chạy theo số lượng, chưa chú trọng chất lượng? Tại sao hiện nay điểm vui chơi và tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ em chưa được quan tâm đúng mức? Chất vấn Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội: Công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề còn nhiều hạn chế, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu, chưa bám sát nhu cầu tuyển dụng lao động, dạy nghề cho lao động nông thôn hiệu quả chưa cao.

Tóm lại, nội dung chất vấn qua 9 kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An có tổ chức phiên chất vấn xoay quanh những vấn đề bất cập, gây bức xúc trong nhân dân diễn ra trên địa bàn tỉnh trong khoảng thời gian 2011-2016 như bồi thường tái định cư cho nhân dân khi lấy đất để xây các công trình thủy điện nhiều bất cập, ô nhiễm môi trường chậm và khó xử lý, khó khăn trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, buôn lậu, làm hàng giả, hàng nhái gia tăng cộng với biểu hiện tiêu cực của cán bộ quản lý thị trường, cơ sở vật chất và chất lượng khám, chữa bệnh chưa đáp ứng yêu cầu, giáo dục và đào tạo chưa thực chất, trật tự an toàn giao thông phức tạp… Có thể nói những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn lãnh đạo các sở, ngành chính là những vấn đề diễn ra hằng ngày hằng giờ tác động đến cuộc sống của người dân và chính là những vấn đề mà nhiều ý kiến cử tri tập trung đề cập. Nội dung của hoạt động chất vấn đã tập trung vào vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp và yêu cầu những người này trả lời về những vi phạm pháp luật hoặc những biểu hiện yếu kém, trì trệ, không thi hành nghiêm chỉnh, hoặc thi hành không đến nơi, đến chốn các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, không thực hiện hoặc có thái độ xem thường các kiến nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân cũng như những yêu cầu, kiến nghị hợp lý của đại biểu, kiến nghị bức xúc của cử tri, có biểu hiện tham ô, tham nhũng. Các câu hỏi chất vấn đã xoáy sâu vào việc giải đáp, làm rõ trách nhiệm của các đối tượng bị chất vấn trong quá trình thực thi nhiệm vụ theo thẩm quyền được phân công đối với vấn đề được nêu. Mỗi câu hỏi chất vấn là những vấn đề liên quan tới lợi ích của đa số cử tri, được đông đảo nhân dân quan tâm, những vấn đề mà dư luận xã hội đang bức xúc và cần có biện pháp tháo gỡ, đồng thời còn là những vấn đề có tính chất dự báo, có thể diễn ra, nếu không có cách thức ứng phó kịp thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương giúp các cơ quan, ban, ngành có liên quan chủ động dự báo được tình hình, dự liệu các tình huống xảy ra và kịp thời có biện pháp ứng phó giải quyết linh hoạt và hiệu quả. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

2.2.4. Sự tham gia của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và Uỷ ban nhân dân tỉnh trong hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã chủ trì tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri, tập hợp các kiến nghị của cử tri chuyển các cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, qua việc tổng hợp kiến nghị của cử tri, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh cung cấp những cơ sở, căn cứ, thông tin giúp đại biểu Hội đồng nhân dân lựa chọn vấn đề và chuẩn bị nội dung chất vấn sát đúng, chất lượng. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh tham gia hoạt động giám sát với Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, kết luận chất vấn tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh cũng là yếu tố thúc đẩy việc thực hiện nghị quyết về chất vấn, tạo áp lực buộc người bị chất vấn thực hiện các lời hứa. Các kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân là cơ sở để Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân khắc phục những hạn chế trong hoạt động chất vấn. Ví dụ, trong 15 kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khoá XVI, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh luôn có thông báo về hoạt động của Mặt trận Tổ quốc tỉnh tham gia xây dựng chính quyền và một số ý kiến, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc tỉnh đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Tại Thông báo số 270/TB-MTTQ-BTT về hoạt động của Mặt trận Tổ quốc tỉnh tham gia xây dựng chính quyền và một số ý kiến, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc tỉnh đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp thứ 15, Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã nêu kiến nghị đối với Hội đồng nhân dân tỉnh là đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh khắc phục hạn chế trong việc đôn đốc, giám sát một số kiến nghị của cử tri, một số vấn đề còn chưa chất vấn đến cùng để làm rõ trách nhiệm của cơ quan chức năng cũng như vai trò của người đứng đầu, đề nghị Hội đồng nhân dân đánh giá, rà soát lại các chỉ tiêu, nhiệm vụ, việc giải quyết các kiến nghị của cử tri để có các giải pháp tổ chức thực hiện bảo đảm kết quả, đề nghị Hội đồng nhân dân đánh giá trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của các đại biểu. Kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đối với đại biểu Hội đồng nhân dân là một số đại biểu hiệu quả hoạt động không cao. Có đại biểu chưa dành đủ thời gian và tâm huyết để chất vấn có chất lượng, chưa chú trọng thực hiện việc tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, theo nhóm đối tượng, nơi cư trú, đề nghị các đại biểu Hội đồng nhân dân quan tâm thực hiện đầy đủ hơn trách nhiệm của mình đối với cử tri, tăng cường giám sát việc thực hiện lời hứa của các thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh tại các phiên chất vấn của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Sự tiếp thu, trách nhiệm phối hợp hoạt động của Ủy ban nhân dân có tác động đến hiệu quả hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân. Khi nhận được nội dung câu hỏi chất vấn do Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh gửi đến, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đều phân công người trả lời chất vấn đúng chức năng, chuyên môn, đôc đốc người trả lời chất vấn chuẩn bị phần trả lời chất vấn của mình. Trước mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đều chuẩn bị và gửi báo cáo tổng hợp kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri trước kỳ họp đó, kết quả thực hiện kết luận tại phiên chất vấn của kỳ họp trước làm cơ sở cho Thường trực Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân xem xét, đánh giá, quyết định việc thực hiện nghị quyết về chất vấn, thực hiện lời hứa đã đáp ứng yêu cầu chưa hay cần tiếp tục chất vấn. Sau mỗi kỳ họp, Ủy ban nhân dân lại đôn đốc, tạo điều kiện cho lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành cùng tổ chức mình thực hiện nghị quyết về chất vấn, các lời hứa trong phiên chất vấn. Ví dụ Báo cáo số 738/BC-UBND tổng hợp kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri trước kỳ họp thứ 14 Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XVI và kết quả thực hiện kết luận tại phiên chất vấn của kỳ họp thứ 14 Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XVI đề cập những công việc Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ cùng với ngành mình thực hiện các lời hứa tại phiên chất vấn kỳ họp thứ 11 Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XVI với câu hỏi: nguyên nhân của việc ứng dụng các đề tài khoa học và công nghệ (do các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong tỉnh nghiên cứu, xây dựng) vào thực tiễn trên các lĩnh vực đạt hiệu quả còn thấp (nhất là việc xây dựng các mô hình kinh tế ở miền núi), chưa có sự tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, giải pháp mà Sở Khoa học và Công nghệ đưa ra như sau: sàng lọc, lựa chọn, ưu tiên những đề tài nghiên cứu thiết thực, có chất lượng cao, ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống và sản xuất; ưu tiên tăng chi ngân sách của tỉnh cho lĩnh vực khoa học và công nghệ, chú trọng hoàn thiện cơ chế và giải pháp để huy động đầu tư, bổ sung nguồn lực cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ; thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; đãi ngộ và tôn vinh xứng đáng các nhà khoa học, chuyên gia có công trình và cống hiến quan trọng trong nghiên cứu và phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Những việc Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện giải pháp này là: Tăng cường đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ các sở, ban, ngành, huyện và doanh nghiệp; tổng hợp, rà soát và kiểm tra tính khả thi, tính thiết thực, ứng dụng của các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Hội đồng chuyên ngành để tư vấn về danh mục các nhiệm vụ; hướng dẫn, hỗ trợ các tổ chức và doanh nghiệp tham gia các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia để tranh thủ nguồn sự nghiệp khoa học công nghệ trung ương, tổ chức hướng dẫn các doanh nghiệp thành lập quỹ phát triển khoa học doanh nghiệp, hướng dẫn, hỗ trợ các tổ chức và doanh nghiệp tham gia chương trình Nghị định thư với nước ngoài để tranh thủ nguồn lực từ nước ngoài; đôn đốc các sở, ngành liên quan chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm; trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định sửa đổi, bổ sung về quản lý đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh, tổ chức xét thưởng và trao giải thưởng sáng tạo khoa học và công nghệ.

2.2.5. Chuyển biến sau hoạt động chất vấn Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hoạt động chất vấn của Hội đồng nhân dân là phải căn cứ vào chuyển biến thực tế do tác động chất vấn mang lại hay nói cách khác là sự thay đổi các quan hệ xã hội sau khi tiến hành hoạt động chất vấn. Đối với hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân thì đây cũng là thước đo phản ánh giá trị đem lại cho xã hội. Để có được kết quả ấy, đòi hỏi sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân và tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tiếp theo, Hội đồng nhân dân phải xác định được các chuyển biến từ hoạt động chất vấn trong kỳ họp trước đó. Đây là tiêu chí quan trọng cần phải xem xét bởi mục đích của chất vấn là làm rõ được trách nhiệm của người bị chất vấn, đưa ra câu trả lời về chế tài xử lý, biện pháp giải quyết, thời hạn giải quyết vấn đề và giải đáp được những thắc mắc của cử tri để đi tới mục đích cuối cùng là thúc đẩy kinh tế – xã hội địa phương ngày càng phát triển. Do đặt thẳng vấn đề trách nhiệm của lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành nên đã tạo sức ép, qua đó có tác dụng nâng cao trách nhiệm chỉ đạo, điều hành và chịu trách nhiệm của người lãnh đạo, đồng thời đã tăng cường ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức thực thi. Mặc dù Hiến pháp và pháp luật không có quy định cho đại biểu Hội đồng nhân dân từ hoạt động chất vấn có quyền áp đặt trực tiếp biện pháp xử lý như là một chế tài đối với người bị chất vấn – đối tượng chịu sự giám sát, tuy nhiên trả lời chất vấn và việc thực hiện nghị quyết về chất vấn của người bị chất vấn là căn cứ quan trọng để Hội đồng nhân dân đánh giá năng lực, trình độ, trách nhiệm của người bị chất vấn. Chính vì vậy người bị chất vấn không thể không tích cực thực hiện những lời hứa trước cử tri nêu không muốn bị mất tín nhiệm.

Ở khía cạnh này, Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI nhiệm kỳ 2011-2016 đã bảo đảm sau chất vấn, các đoàn công tác kiểm tra, thanh tra nhằm giám sát thực hiện nghị quyết về chất vấn, lời hứa trước cử tri, phát hiện, xử lý sai phạm nên các vấn đề bức xúc của nhân dân địa phương đã được giải quyết sau chất vấn và việc giải quyết nhanh hơn, hiệu quả hơn, tránh sai sót.

Dưới tác động của hoạt động chất vấn, các cơ quan có vấn đề bị chất vấn đã tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm, xác định rõ trách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân, qua đó hoạt động của các cơ quan nhịp nhàng liên tục bảo đảm quyền và lợi ích cho người dân. Ví dụ sau chất vấn Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại kỳ họp thứ 3 về tiến độ chương trình xây dựng nông thôn mới, Sở đã tích cực phối hợp với các sở, ban, ngành tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới, thành lập ban chỉ đạo và bộ máy giúp việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới từ cấp tỉnh đến cơ sở, kiện toàn một cách kịp thời, phân công cụ thể tới từng tổ chức, cá nhân có liên quan. Nội dung chất vấn là sự cảnh báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về vấn đề hay tình trạng cần được lưu ý giải quyết. Sự cảnh báo này nhằm nâng cao tính dự đoán và trách nhiệm phải nhìn nhận trước vấn đề của người quản lý, tăng cường hoạt động minh bạch, liên tục của các cơ quan nhà nước, các cá nhân lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định, giúp các cơ quan chấn chỉnh công tác, đưa công tác đi vào nền nếp.

2.3. Đánh giá chung về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

2.3.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân

Thứ nhất, đánh giá của dư luận xã hội về kết quả hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An. Sự đánh giá của dư luận xã hội tích cực hay tiêu cực đối với hoạt động chất vấn phản ánh tác dụng, chất lượng của hoạt động này. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nên ý kiến phản hồi của cử tri, của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội đối với hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân là hết sức quan trọng. Về khía cạnh này, nhìn chung, hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An nhận được phản hồi tích cực từ phía dư luận xã hội thể hiện ở việc các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân luôn được người dân ở các khu vực tham gia và tham gia có trách nhiệm khi đưa ra nhiều ý kiến, kiến nghị về những vấn đề nổi cộm, bức xúc tới đại biểu, hoặc có nhiều đơn khiếu nại, tố cáo ghi rõ người khiếu nại, tố cáo, chỉ rõ đối tượng và nội dung khiếu nại, tố cáo rõ ràng, cụ thể, xác đáng. Những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân là chất liệu để đại biểu thực hiện hoạt động chất vấn của mình. Tất cả các phiên chất vấn của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An đều được nhân dân quan tâm theo dõi qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo (báo Nghệ An, cổng thông tin điện tử Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh) thể hiện có những ý kiến phản hồi của cử tri qua 3 số điện thoại đường dây nóng tổ chức trong các phiên chất vấn. Sau các phiên chất vấn, cử tri trong tỉnh luôn theo dõi, giám sát việc thực hiện nghị quyết về chất vấn, các lời hứa của người bị chất vấn, thể hiện ở việc trong các buổi tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của đại biểu Hội đồng nhân dân có những vấn đề đã được cử tri phản ánh là chưa thực hiện hay thực hiện chưa dứt điểm nghị quyết về chất vấn, lời hứa tại phiên chất vấn, cần tiếp tục chất vấn làm rõ…Sự đồng tình, tín nhiệm của cử tri dành cho hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh còn thể hiện là trong suốt nhiệm kỳ 2011-2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVI không có kiến nghị nào của cử tri đối với việc thực hiện nghĩa vụ của người đại biểu dân cử được ghi nhận. Có thể ghi nhận một số nhận xét của cử tri đối với hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2011-2016 như sau: ông Đỗ Đình Quang – đại biểu thành phố Vinh nhận xét về phần chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp 5 là đã chuyển tải được các vấn đề cử tri quan tâm, bức xúc. Các đại biểu đã đưa tâm tư, nguyện vọng của cử tri vào nghị trường rất rõ; ông Trương Công Anh – cử tri phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh nhận xét phần chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp 9 là nhìn chung phiên chất vấn và trả lời chất vấn đã đề cập được các vấn đề hay, cấp thiết, đúng trọng điểm mà các cử tri đang mong muốn được giải quyết; ông Trần Hữu Tiến – Hội cựu chiến binh tỉnh nhận xét phần chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp 14 là trình độ của người chất vấn rất tốt, có nhiều câu chất vấn trực tiếp vào trọng tâm. Ngoài ra là những ý kiến thể hiện sự tin tưởng của cử tri đối với kết quả chất vấn, ví dụ sau khi theo dõi phiên chất vấn kỳ họp 14 có nội dung học sinh hệ cử tuyển sau khi ra trường không được bố trí việc làm chất vấn lãnh đạo Sở Nội vụ, cử tri Lang Văn Nguyệt cho biết khi thấy lãnh đạo Sở Nội vụ hứa sẽ quan tâm phối hợp với chính quyền địa phương tìm cách giải quyết thì rất vui và chờ đợi điều này thành hiện thực… Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Thứ hai, mức độ đạt được mục đích, yêu cầu chất vấn đặt ra. Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân có mục đích đầu tiên là làm rõ khuyết điểm, quy kết trách nhiệm, khôi phục sự công bằng, loại bỏ tiêu cực, ngăn chặn vi phạm pháp luật… trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và mục đích tiếp theo là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan nhà nước, các cá nhân lãnh đạo các cơ quan nhà nước trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định. So sánh đối chiếu kết quả đạt được sau khi tiến hành chất vấn với mục đích đặt ra trước khi tiến hành chất vấn sẽ cho thấy kết quả của hoạt động chất vấn. Mức độ đạt được của mục đích đề ra trở thành tiêu chuẩn, thước đo cho việc đánh giá kết quả chất vấn. Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân đạt hiệu quả cao khi thực hiện được mục đích là làm rõ trách nhiệm chính trị của người bị chất vấn, buộc người bị chất vấn đưa ra giải pháp làm chuyển biến tình hình đang có những bất cập, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế – xã hội và cao hơn là bảo đảm quyền và lợi ích cho các tầng lớp nhân dân ở địa phương. Ở khía cạnh này, nhìn chung, trong nhiệm kỳ 2011-2016, các câu hỏi chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An đã chỉ rõ được khuyết điểm, quy kết được trách nhiệm của các cơ quan, người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong tỉnh khi để xảy ra những tiêu cực, vi phạm pháp luật. Qua thống kê các câu hỏi chất vấn qua các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh đều thấy các chất vấn đều xoáy sâu vào nội dung: tại sao, trách nhiệm như thế nào, giải pháp gì. Những từ để hỏi chỉ đích xác nội dung cần trả lời đã giúp chỉ ra được trách nhiệm của người bị chất vấn trong vấn đề, buộc người trả lời chất vấn không thể cố tình bỏ qua trách nhiệm của ngành mình (dù là trách nhiệm chính hay là trách nhiệm phối hợp), buộc phải đối diện với thực trạng đang bị dư luận chỉ trích, đại biểu Hội đồng nhân dân công khai yêu cầu giải đáp buộc người bị chất vấn phải chỉ ra biện pháp cần làm nhằm cải thiện, giải quyết vấn đề.

Việc chất vấn công khai, minh bạch, nghiêm túc tại nghị trường đã khiến các vấn đề bức xúc của nhân dân diễn ra trong đời sống xã hội chính thức trở thành vấn đề buộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải vào cuộc giải quyết ngay và giải quyết có trách nhiệm trước sự giám sát của nhiều bên. Tại kỳ họp thứ 9 Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI, sau phiên chất vấn đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Thứ ba, tình hình vấn đề sau khi có hoạt động chất vấn so với trước khi chất vấn. Sau chất vấn và trả lời chất vấn thì vấn đề thắc mắc của đại biểu Hội đồng nhân dân, của cử tri có chuyển biến không hay vấn đề lại bị tái chất vấn hoặc phải làm rõ thêm trong các kỳ họp sau, phản ứng, thái độ của đại biểu Hội đồng nhân dân và cử tri có thỏa mãn không? Làm tốt được điều đó là một trong những yếu tố quan trọng đẩy lùi tính hình thức trong hoạt động chất vấn của Hội đồng nhân dân. Thực tế công tác này không đơn giản, kết quả thực tế do chất vấn của Hội đồng nhân dân mang lại nhiều khi không những thể hiện bằng yếu tố định lượng mà còn cả yếu tố định tính. Hơn nữa, Hội đồng nhân dân có phạm vi chất vấn rộng, những biến đổi do sự tác động chất vấn của Hội đồng nhân dân nhiều khi không chỉ phát sinh trực tiếp từ đối tượng bị chất vấn mà còn ảnh hưởng đến các đối tượng liên quan. Do đó, để xác định được những kết quả thực tế từ tác động của chất vấn, đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện, cụ thể, đồng thời phải có những phương pháp đúng đắn để thu thập nhiều nguồn thông tin và tư liệu khác nhau. Ở khía cạnh này, nhìn chung, sau các phiên chất vấn tại Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An, các vấn đề bị chất vấn đều đã có sự chuyển biến ở những mức độ nhất định. Sau chất vấn và trả lời chất vấn đề thắc mắc của đại biểu Hội đồng nhân dân, cử tri đã được giải quyết. Ví dụ chất vấn tại kỳ họp thứ 3 (tháng 6/2012) về nguyên nhân của việc chậm thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của Chính phủ giai đoạn 2010 -2020 và giải pháp khắc phục. Các số liệu đại biểu Hội đồng nhân dân đưa ra là thực trạng nông thôn Nghệ An so với tiêu chí nông thôn mới rất thấp, bình quân toàn tỉnh chỉ đạt 3,64 tiêu chí/xã, trong 431 xã, chỉ có xã Nghi Liên – thành phố Vinh đạt 12 tiêu chí, 238 xã đạt 1-4 tiêu chí (chiếm 55,22%) và đặc biệt có 52 xã không đạt tiêu chí nào. Sau chất vấn tại kỳ họp thứ 3, chương trình nông thôn mới ở Nghệ An đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, được Trung ương đánh giá là điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới của cả nước với những con số như: đến tháng 7/2012 đã có 431/431 xã hoàn thành phê duyệt quy hoạch nông thôn mới, vượt trước 5 tháng so với yêu cầu của Trung ương. Đến 30-11-2015 toàn tỉnh đã có 124/431 xã đạt tiêu chí số 2 về giao thông, chiếm 28,7%; 108/431 xã đạt tiêu chí số 3 về thủy lợi, chiếm 41,8%; 322/431 xã đạt tiêu chí số 4 về điện, chiếm 74,7%; 284/431 xã đạt tiêu chí số 13 về tổ chức sản xuất; 295/431 xã đạt tiêu chí số 10 về thu nhập, chiếm 68,44%; 174/431 xã đạt tiêu chí số 11 về giảm tỷ lệ hộ nghèo, chiếm 40,37%; 307/431 xã đạt tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, chiếm 71,23%; 302/431 xã đạt tiêu chí số 14 về giáo dục, chiếm 70,06%; 178/431 xã đạt tiêu chí số 16 về văn hóa, chiếm 41,29%; 180/431 xã đạt tiêu chí số 17 về môi trường, chiếm 41,76%; 344/431 xã đạt tiêu chí số 18 về hệ thống chính trị vững mạnh, chiếm 79, 81%; 417/431 xã đạt tiêu chí số 19 về an ninh trật tự xã hội, chiếm 96,75%. Sau 5 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới, số tiêu chí đạt chuẩn của các xã tăng rất khá, bình quân từ 3,64 tiêu chí/xã năm 2010 tăng lên thành 12,0 tiêu chí/xã năm 2015. Có 1 đơn vị cấp huyện (thị xã Thái Hòa) đạt chuẩn nông thôn mới, 94 xã đạt 19 tiêu chí, chiếm 21,8%; 41 xã đạt từ 15-18 tiêu chí, chiếm 9,5%; 135 xã đạt 10- 14 tiêu chí, chiếm 31,3%; 131 xã đạt 5-9 tiêu chí, chiếm 30,4%; 30 xã đạt 3-4 tiêu chí, chiếm 7,0% [14]. Như vậy từ thực tế còn yếu kém của việc triển khai Chương trình nông thôn mới, qua 5 năm, chương trình đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, có được sự chuyển biến đó, một phần là do từ sự cảnh báo, đặt vấn đề chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân đã thúc đẩy sự vào cuộc của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân trong tỉnh Nghệ An. Một ví dụ khác là tại kỳ họp thứ 14 chất vấn dành cho Giám đốc Sở Nội vụ là tình trạng ký hợp đồng lao động không đúng quy định pháp luật khá phổ biến trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập gây ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương hành chính và quyền lợi của người lao động; Giải quyết hồ sơ kháng chiến đối với người có công tồn đọng còn chậm; Trách nhiệm trong việc phối hợp bố trí việc làm cho số học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số các huyện miền núi đi học theo chế độ cử tuyển đang tồn đọng số lượng lớn học xong chưa có việc làm. Sau chất vấn, tình hình đã có sự chuyển biến với việc hợp đồng làm công tác chuyên môn trong các cơ quan quản lý nhà nước chấm dứt hoàn toàn (28 người); toàn bộ hợp đồng hiện có được rà soát lại và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt số lượng hợp đồng lao động; giải quyết dứt điểm số hợp đồng; thủ trưởng các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp không tuyển dụng, hợp đồng lao động khi không còn chỉ tiêu biên chế, khi chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch tuyển dụng, hợp đồng lao động [9]. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đạt được những kết quả trong hoạt động chất vấn nêu trên là tổng hợp của nhiều nguyên nhân. Đó là Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân đã tuân thủ những quy định pháp luật về hoạt động chất vấn trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 và Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân 2005; tổ chức bộ máy của Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 được củng cố và kiện toàn với số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực và phẩm chất. Một thực tế là hiện nay hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã được quy định rất rõ ràng và đầy đủ trong Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015 và Luật Tổ chức CQĐP 2015, song nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI diễn ra khi luật này chưa được ban hành mà là trong giai đoạn có hiệu lực của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 (quy định về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cũng được quy định trong Luật này). Hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An áp dụng các quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 và Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân 2005. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2016 áp dụng Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 mà không ban hành Quy chế hoạt động riêng dựa trên cơ sở của Quy chế này. Trong nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân khóa XVI (2011-2016), hoạt động giám sát nói chung, hoạt động chất vấn nói riêng không xảy ra hiện tượng vi phạm các quy định của pháp luật về hoạt động chất vấn đến cả từ phía các đại biểu Hội đồng nhân dân, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân lẫn người bị chất vấn.

Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khoá XVI nhiệm kỳ 2011-2016 được kiện toàn với các đơn vị, thành viên đầy đủ về cơ cấu, bảo đảm về chất lượng. Đây là những yếu tố góp phần tạo điều kiện cho hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An nói chung, hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An nói riêng được bảo đảm thực hiện.

Các đại biểu Hội đồng nhân dân nhìn chung đã thực hiện tốt vai trò người đại biểu dân cử của mình, quan tâm và chất vấn đến những vấn đề gây bức xúc trong dư luận xã hội; việc xây dựng, chuẩn bị và thực hiện kế hoạch, chương trình chất vấn, giám sát sau chất vấn của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân – ngoài việc thực hiện chất vấn trong các kỳ họp Hội đồng nhân dân, Hội đồng nhân dân đã có chương trình hoạt động cụ thể theo quý, 6 tháng và cả năm thực hiện hoạt động giám sát sau chất vấn (các nhiệm kỳ trước chỉ xây dựng kế hoạch hoạt động theo năm nên nhiều nội dung không sát, không tạo được sự chủ động trong hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung và hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân nói riêng); cơ cấu thành viên các Ban của Hội đồng nhân dân đã có thay đổi theo hướng tích cực, số thành viên công tác tại các cơ quan quản lý nhà nước giảm, số thành viên công tác tại cơ quan Đảng, tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp, tại các huyện tăng khiến cho hoạt động giám sát của các Ban của Hội đồng nhân dân (trong đó có hoạt động chất vấn) nói chung, hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân nói riêng mang tính khách quan hơn, luôn nhận được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Thường trực Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước ở địa phương. Trình độ của các đại biểu Hội đồng nhân dân nhìn chung đáp ứng yêu cầu. Trong nhiệm kỳ 2011-2016 Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An, các phiên chất vấn diễn ra đúng theo chương trình, kế hoạch, thực hiện tất cả những nội dung chất vấn đã được Hội đồng nhân dân quyết định cho chất vấn và sự chuẩn bị của các đại biểu Hội đồng nhân dân, của người bị chất vấn, đó là do có vai trò quan trọng của chủ tọa phiên chất vấn. Chủ tọa các phiên chất vấn là Chủ tịch Hội đồng nhân dân (hoặc Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh), đã thể hiện sự linh hoạt, chuyên nghiệp trong hoạt động của mình. Khi không khí kỳ họp trầm lắng, chủ tọa biết cách gợi mở để các đại biểu tham gia chất vấn trực tiếp tại hội trường, làm cho không khí phiên họp sôi động; dừng đúng lúc khi việc hỏi và trả lời quá nóng hoặc quá lan man, không đi đúng trọng tâm. Trong mỗi vấn đề chất vấn, chủ tọa đều đề nghị đại biểu đưa ra các chứng cứ cụ thể để chứng minh. Chủ tọa luôn thể hiện được chính kiến, thẳng thắn, cụ thể, công tâm, khách quan. Cuối mỗi phiên chất vấn, chủ tọa bao giờ cũng kết luận chất vấn rõ ràng, phân minh, ngắn gọn, đánh giá và nhận xét khái quát những nội dung đã đạt được và chưa đạt được trong quá trình chất vấn và trả lời chất vấn, những điểm cần rút kinh nghiệm cho kỳ họp sau; xác định trách nhiệm rõ ràng, cụ thể của cơ quan, thủ trưởng cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết vấn đề, thời gian giải quyết vấn đề và yêu cầu thực hiện; xác định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân, các cơ quan có liên quan, xác định trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp tục giám sát.

Ngoài các nguyên nhân trên, kết quả đạt được còn là do sự lãnh đạo, chỉ đạo, quyết tâm chính trị cao của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực, chung tay góp sức của người dân và sự tham mưu của cơ quan thuộc UBND có người chịu trách nhiệm trả lời chất vấn.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Một là về các đại biểu Hội đồng nhân dân: Vẫn còn những ý kiến của cử tri phản ánh là câu hỏi của đại biểu Hội đồng nhân dân còn chung chung. Số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách chiếm tỷ lệ thấp, còn có nhiều đại biểu trong khối cơ quan hành chính (như Ủy ban nhân dân, các sở, ngành) mà chưa có nhiều đại biểu thuộc các khối Đảng, đoàn thể, dẫn đến trong nhiều trường hợp, các đại biểu chưa thực hiện nhiệm vụ một cách công tâm, trách nhiệm cao; có đại biểu ít tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân như giám sát, tiếp xúc cử tri… Một số đại biểu kiêm nhiệm do bận các công việc ở đơn vị công tác nên chưa dành nhiều thời gian thỏa đáng để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân. Chất lượng hoạt động của đại biểu chưa đồng đều; một số ít đại biểu trình độ năng lực còn hạn chế; một số đại biểu chưa thật sự tích cực tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân; có đại biểu chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân và của cá nhân đại biểu, e ngại, thiếu tự tin, ngại va chạm trên diễn đàn trong hoạt động giám sát, chất vấn, cũng như trong tiếp xúc cử tri. Thậm chí có đại biểu trong cả nhiệm kỳ chưa một lần tham gia phát biểu tại các kỳ họp. Từ đó, dẫn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân bị hạn chế, còn hình thức và chưa thực chất.

Hai là về nội dung chất vấn: Qua một số bản tổng hợp ý kiến chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI cho thấy, nhiều chất vấn chỉ là những câu hỏi thông thường, với mục đích nhận được thông tin về vấn đề nào đó mà đại biểu đó chưa rõ, hoặc để được giải thích rõ hơn về điểm này hay điểm khác trong các báo cáo công tác hoặc các đề án do các cơ quan nhà nước ở tỉnh trình bày tại kỳ họp; người chất vấn không nắm được thẩm quyền việc này do ai, cấp nào giải quyết; hoặc hỏi những câu rất đơn giản, giống như kiến nghị của cử tri. Có thể chỉ ra một số điểm chính về hạn chế trong nội dung các chất vấn như sau:

Tính dàn trải: Các chất vấn đề cập rộng rãi đến rất nhiều mặt tổ chức và hoạt động của nền kinh tế – xã hội của địa phương, nội dung chất vấn mỗi kỳ họp mới tập trung, định hình nhóm vấn đề chất vấn thuộc lĩnh vực nào, do ngành nào quản lý để tập trung chất vấn sâu ngành đó, lĩnh vực đó trong phiên chất vấn mà chưa thống kê được số lượng chất vấn theo loại vấn đề như: các vấn đề về chủ trương, chính sách; các vấn đề mang tầm vĩ mô rộng lớn và lâu dài với các vấn đề cụ thể. Tuy nhiên, từ thực tế các phiên chất vấn ngoài bản tổng hợp ý kiến chất vấn qua cả 15 kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2016 còn cho thấy đa số các chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân là chất vấn gộp các vấn đề, lại nặng về phân tích, diễn giải, đôi khi có cả bình luận. Nhiều chất vấn chỉ xuất phát trên một bình diện ngành, lĩnh vực, nhiều chất vấn trùng lặp hoặc đòi hỏi nhiều cơ quan, ban, ngành phải cùng trả lời. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Tính không đầy đủ: Vẫn còn những vấn đề, lĩnh vực bỏ ngỏ, ít nhận được câu hỏi chất vấn từ các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh như lĩnh vực tư pháp, công tố, cụ thể là chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án cùng cấp. Tính không đầy đủ có thể có bởi lý do cơ chế của hoạt động chất vấn, của sự sâu sát của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Tính chưa chọn lọc: Các câu hỏi có khi chỉ mang tính giải đáp, cung cấp thông tin hoặc chất vấn khi đại biểu chất vấn chưa đủ thông tin. Điều này làm lãng phí thời gian của phiên chất vấn và làm người trả lời chất vấn lúng túng. Có những câu hỏi quá chung chung mà việc trả lời các câu hỏi này đòi hỏi sự nỗ lực của toàn chính quyền, toàn dân trong một thời gian dài.

Sự bất cập về thời gian chất vấn thể hiện ở vấn đề chất vấn rất nhiều, rất rộng, lại thêm yếu tố phức tạp của vấn đề, có những vấn đề được tái chất vấn nhiều lần, nhiều đại biểu hỏi trở đi trở lại nên đòi hỏi cần dành nhiều thời gian; thời gian dành cho chất vấn và trả lời chất vấn đã được bố trí phù hợp, cân đối với thời gian của kỳ họp song thực tế còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu.

Nguyên nhân của hạn chế trước tiên đến từ sự bất cập của quy định pháp luật về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân, thể hiện ở chỗ giai đoạn 2011-2016 chất vấn chưa được quy định tập trung trong một đạo luật chuyên ngành về hoạt động giám sát nên phần nào chưa đề cao được vị trí, vai trò vốn có của hoạt động này như Hiến pháp đã hiến định. Hơn nữa, các quy định về chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh lại nằm rải rác trong một số điều của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 là một đạo luật quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, các quy định phần nào còn chung chung. Việc chất vấn ở thời gian giữa hai kỳ họp do tính chất không trực tiếp nên hiệu quả hạn chế hơn so với chất vấn tại phiên họp thường lệ của Hội đồng nhân dân bởi vì dù Thường trực Hội đồng nhân dân thực hiện ngay việc căn cứ vào chương trình phiên họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân để quyết định nhóm vấn đề chất vấn, người bị chất vấn, thời gian chất vấn thì việc đưa ra phiên chất vấn tại phiên họp tiếp theo cũng ít nhiều làm mất đi tính thời sự, cấp thiết của vấn đề mà cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân đưa ra. Hơn nữa, việc chất vấn giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân lại chưa được quy định rõ về trình tự, thủ tục chất vấn. Pháp luật không quy định sau phiên chất vấn bắt buộc phải có nghị quyết về chất vấn khiến trong không ít trường hợp việc giám sát, kiểm tra thực hiện lời hứa của người bị chất vấn không có cơ sở, căn cứ theo dõi chặt chẽ. Nội dung nghị quyết của Hội đồng nhân dân lại được giao cho Ủy ban nhân dân quy định cụ thể để tổ chức thực hiện nên ảnh hưởng tới hiệu lực, hiệu quả của nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Quy định về quy trình thực hiện chất vấn là các câu hỏi được chuyển đến người bị chất vấn trước khi diễn ra kỳ họp Hội đồng nhân dân tạo điều kiện cho người bị chất vấn có cơ hội chuẩn bị những câu trả lời, những số liệu, tình tiết không đúng thực chất khiến việc chất vấn mất đi ít nhiều tính chân thực, đồng thời làm mất đi cơ hội đánh giá sự sâu sát nắm tình hình công việc của người bị chất vấn khi phải trả lời những câu chất vấn không có chuẩn bị từ trước; các ý kiến phát biểu đều do định hướng trước nên không có tính phản biện cao; việc trả lời của người bị chất vấn vẫn có tình trạng né tránh, không thừa nhận rõ trách nhiệm, quy trách nhiệm chung chung. Sự theo dõi, đôn đốc của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau chất vấn của Hội đồng nhân dân còn thiếu tính quyết liệt. Vẫn có tình trạng tình hình sau chất vấn chuyển biến chậm hoặc phát sinh vấn đề mới cần chất vấn lại.

Chưa có quy định cụ thể đại biểu Hội đồng nhân dân phải dành bao nhiêu thời gian trong tháng/quý cho hoạt động đại biểu dân cử; không có chế độ sinh hoạt định kỳ để nhận xét đánh giá hoạt động của Tổ đại biểu và đại biểu Hội đồng nhân dân…Nguyên nhân một phần là do việc xác định cơ cấu đại biểu chưa hợp lý, trọng cơ cấu mà ít chú trọng vào tiêu chuẩn. Phần khác là do các đại biểu Hội đồng nhân dân, nhất là các đại biểu ở cơ sở năng lực hạn chế, nặng về nhiệm vụ chuyên môn ở cơ quan, kiến thức pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu để có thể phân tích, đánh giá, nghiên cứu chính sách, pháp luật, nghị quyết. Các đại biểu cũng không có nhiều điều kiện và thời gian tiếp cận với các nguồn thông tin cần thiết để phục vụ hoạt động. Do vậy, ít có đóng góp vào công việc của cơ quan dân cử. Trong khi đó, chưa có những quy định cụ thể về trách nhiệm cá nhân đại biểu, nội dung hoạt động của cá nhân đại biểu dân cử; chưa có cơ chế để giám sát và đánh giá kết quả hoạt động của đại biểu. Cá nhân mỗi đại biểu lúng túng trong giải quyết mối quan hệ giữa thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị mình với thực hiện nhiệm vụ đại biểu dân cử; mỗi năm tham gia một vài kỳ họp Hội đồng nhân dân hay tiếp xúc cử tri theo định kỳ. Điều kiện để đại biểu hoạt động (phương tiện, cung cấp thông tin…) cũng còn hạn chế. Công tác bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng hoạt động cho đại biểu Hội đồng nhân dân sau khi được bầu còn nặng về lý luận, thiếu những kinh nghiệm thực tiễn cụ thể trong hoạt động của đại biểu. Do vậy, sau tập huấn trình độ đại biểu chưa được nâng lên, hiệu quả tập huấn chưa cao.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2016 diễn ra trong thời điểm có hiệu lực của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 và đã có những kết quả tích cực. Các đại biểu Hội đồng nhân dân đã thể hiện vai trò, trách nhiệm của người đại biểu dân cử, cùng với sự hỗ trợ, tạo điều kiện của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, sự hợp tác của Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc tỉnh trong các hoạt động tiếp xúc cử tri, tham gia các đoàn giám sát, tham gia thảo luận các dự thảo báo cáo của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, tham gia giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cử tri tại địa phương; các phiên chất vấn được chuẩn bị chu đáo, việc xây dựng chương trình, kế hoạch, nhóm vấn đề chất vấn và nội dung chất vấn được xác định rõ là những yếu tố góp phần làm hoạt động chất vấn đi vào thực chất hơn, hiệu quả chất vấn được nâng lên. Tuy nhiên, hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2011-2016 cũng còn tồn tại một số hạn chế và bất cập, đó là nội dung chất vấn đôi khi còn chung chung khiến cử tri chưa hài lòng, dẫn đến việc trả lời của người bị chất vấn cũng không cụ thể, rốt ráo, chưa làm rõ được trách nhiệm của người lãnh đạo và có những vấn đề phải tái chất vấn, việc giải quyết vấn đề trên thực tế không được như mong đợi của cử tri… Hạn chế đó đến từ nguyên nhân khách quan là những bất cập trong quy định pháp luật về chất vấn, điều kiện để đại biểu hoạt động còn hạn chế. Công tác bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng hoạt động cho đại biểu Hội đồng nhân dân sau khi được bầu còn nặng về lý luận, thiếu những kinh nghiệm thực tiễn cụ thể trong hoạt động của đại biểu, đồng thời cũng đến từ nguyên nhân chủ quan là có một số đại biểu Hội đồng nhân dân chưa thực sự làm tốt vai trò và trách nhiệm của mình, năng lực và trách nhiệm còn hạn chế…Vì vậy để hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực, trở thành phương thức hữu hiệu để cử tri địa phương tham gia quản lý nhà nước, đòi hỏi các đại biểu Hội đồng nhân dân cùng với Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cần nỗ lực hơn nữa trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình. Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464