Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài luận văn

Chất vấn là một hình thức giám sát quan trọng của đại biểu Hội đồng nhân dân, được tổ chức công khai tại kỳ họp hoặc giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân. Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân thể hiện ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân, thể chế hóa và thực hiện phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Chất vấn là việc đại biểu Hội đồng nhân dân nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp và yêu cầu những người này trả lời; với mục đích là giải đáp, làm rõ trách nhiệm của các đối tượng bị chất vấn trong quá trình thực thi nhiệm vụ theo thẩm quyền được phân công. Hoạt động chất vấn là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước của mình, thông qua người đại diện, cơ quan đại diện nói lên tiếng nói, đòi hỏi sự giải trình làm rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan quản lý nhà nước về bất cứ lĩnh vực xã hội nào mà họ quan tâm và có bức xúc. Thực tế cho thấy, hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân ngày một hoàn thiện về hình thức lẫn nội dung và đã có nhiều kết quả tích cực; qua chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân, nhiều vấn đề nổi cộm, bức xúc ở địa phương đã được giải quyết, sự băn khoăn, thắc mắc của cử tri phần nào được giải tỏa, góp phần thể hiện rõ tính chất của Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, làm tăng vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên của đại biểu Hội đồng nhân dân; hoàn thành tốt chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Về mặt lý luận, phù hợp với nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Hiến pháp năm 2013 cùng yêu cầu hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đề cập trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng là “Hoàn thiện cơ chế để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử…”[5, tr.177] và xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nên tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đều phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của nhân dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua nhiều kênh khác nhau, trong đó thông qua đại biểu Hội đồng nhân dân, được nhân dân ủy quyền, – là một kênh hữu hiệu. Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành khá đầy đủ cơ sở pháp lý thực hiện quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân bằng Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01-7-2016, sau đây gọi tắt là Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015), ngoài ra là các văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01-01-2016 – sau đây gọi tắt là Luật Tổ chức CQĐP 2015, thay thế cho Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 – sau đây gọi tắt là Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003), Luật Bầu cử đại biểu QH và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, các luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, v.v.. Về thiết chế pháp luật, các cơ quan dân cử cùng với hệ thống các cơ quan nhà nước khác ngày càng được xây dựng, củng cố và hoàn thiện, tạo điều kiện cho đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trên cơ sở nghiên cứu các thể chế và thiết chế đó, làm rõ về mặt lý luận về vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân, về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân nhằm tìm ra những đổi mới trong hoạt động chất vấn để hoạt động này vừa nghiêm túc, vừa thẳng thắn, vừa đúng mức lại có kết quả tốt là điều rất cần được quan tâm làm rõ.

Về mặt thực tiễn, có những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân như sự nhận thức và thực hiện tốt quy định pháp luật ở từng địa phương trong cả nước là chưa đồng đều, vẫn còn hiện tượng đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn hời hợt, không thực tế, không trúng và đúng những vấn đề xã hội và dư luận quan tâm, hiện tượng đại biểu Hội đồng nhân dân ngại va chạm, né tránh, nhiều vấn đề xã hội quan tâm bị chất vấn nhiều lần nhưng không được giải quyết triệt để khiến cử tri không hài lòng. Việc triển khai các quy định trong các văn bản pháp luật vào thực tế sinh động của đời sống xã hội là một quá trình đòi hỏi vừa phải quán triệt, vừa phải linh hoạt với thực tế, điều kiện từng địa phương.

So với Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong cả nước, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An vừa có những nét chung lại vừa có những nét đặc thù riêng về tổ chức và hoạt động. Việc nghiên cứu làm rõ những nội dung lý luận và thực tiễn về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gắn với điều kiện riêng của địa phương về kinh tế – xã hội, đặc điểm riêng về cơ cấu, thành phần và hoạt động của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An để từ đó đưa ra những quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện, tăng cường và nâng cao hình thức giám sát này; hạn chế, loại bỏ những yếu tố tác động làm giảm chất lượng của nó; đồng thời đưa ra những nội dung và đòi hỏi trách nhiệm cao của cơ quan dân cử, người đại diện dân cử một cách sát hợp là một nội dung quan trọng.

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu luận văn thạc sĩ.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Trong thời gian qua, số công trình nghiên cứu được công bố về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân nói chung, của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng không nhiều, chủ yếu là những công trình nghiên cứu về hoạt động chất vấn của đại biểu QH. Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân được đề cập với tư cách là một trong các hình thức giám sát khi nghiên cứu hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như: “HĐND trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước” do PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung chủ biên, “Một số vấn đề chung về hiệu quả và việc nâng cao hiệu quả giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước” của tác giả Võ Khánh Vinh. Ngoài ra, có một số luận văn thạc sỹ của các tác giả có nghiên cứu về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh như: “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định” của Trịnh Minh Đức, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, 2014; “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Hồng Oanh, Luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2011. Đối với tỉnh Nghệ An, có Luận văn thạc sĩ Luật học của Hồ Thị Hưng: “Nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006. Các công trình nghiên cứu nêu trên đề cập chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Hội đồng nhân dân trong cơ cấu quyền lực nhà nước hoặc hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân (một trong các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân là xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn) và hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân (một trong các hình thức giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân là chất vấn những người bị chất vấn) nên chưa phải là những công trình độc lập nghiên cứu riêng về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Trên thực tế, hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được đề cập trong một số bài tham luận, bài viết đăng tải trên một số báo, các trang thông tin điện tử của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân một số tỉnh và một số báo cáo, tài liệu nghiên cứu về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân một địa phương cụ thể như bài “Kỹ năng chất vấn của đại biểu dân cử” đăng trên Trang thông tin điện tử của Hội đồng nhân dân tỉnh Bạc Liêu ngày 25-8-2016; “Chất vấn tại kỳ họp là một hình thức giám sát tốt của Hội đồng nhân dân” đăng trên Trang tin bầu cử QH khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 ngày 24-3-2016; “Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả khi trả lời chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh” đăng trên Trang thông tin điện tử của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; “Nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân” của tác giả Ngọc Hải đăng trên Trang thông tin điện tử Đoàn đại biểu QH và Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi… Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hiện tại, người viết chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ cả về mặt lý luận và thực tiễn về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, đặc biệt là hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An. Làm rõ những nội dung lý luận và thực tiễn về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh vì thế là một nội dung quan trọng. Luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh (cụ thể là hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An) trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, từ đó đưa ra những quan điểm, giải pháp bảo đảm, nâng cao hoạt động chất vấn; hạn chế, loại bỏ những yếu tố tác động làm giảm chất lượng, hiệu quả của hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Điều này chứng tỏ vấn đề đặt ra là cấp thiết, nhưng rất khó khăn và phức tạp.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2011-2016 (giai đoạn có hiệu lực của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003) để đề xuất các giải pháp bảo đảm, tăng cường hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh phù hợp với quy định pháp luật hiện hành (giai đoạn có hiệu lực của Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015, Luật Tổ chức CQĐP 2015), bảo đảm và góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An nói riêng, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nói chung.

  • Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ sau:

Phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh như xây dựng khái niệm, chỉ ra mục đích, đặc điểm, nội dung, phạm vi, trình tự, thủ tục thực hiện, những yếu tố bảo đảm hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh.

Đánh giá thực trạng và những bất cập trong hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh qua việc đánh giá những kết quả đạt được, phân tích những hạn chế về khách quan lẫn chủ quan của hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2016 phù hợp với pháp luật về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân trong giai đoạn này, tìm ra nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó.

Đưa ra những quan điểm và một số giải pháp cụ thể phù hợp với pháp luật về chất vấn hiện hành như: Hoàn thiện thể chế về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; đổi mới nhận thức của xã hội và của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh về thực hiện thẩm quyền chất vấn; nâng cao trình độ, năng lực và trách nhiệm chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; bảo đảm điều kiện làm việc cho đại biểu Hội đồng nhân dân trong hoạt động chất vấn; …với mục đích cuối cùng là bảo đảm cho hoạt động chất vấn, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nói chung, của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

  • Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, cụ thể là hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An..
  • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian là tại kỳ họp và giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An nơi diễn ra hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân; Về thời gian là giai đoạn 2011-2016 tức nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XVI.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

  • Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác – Lênin (phép biện chứng duy vật); phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, so sánh, thống kê tổng hợp…

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho hoạt động nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Thực tiễn, phương hướng, giải pháp mà Luận văn đưa ra có thể giúp đại biểu Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh tham khảo trong quá trình thực hiện hoạt động chất vấn trong thời gian tới. Luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, học tập thuộc chuyên ngành Luật học.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các bảng, Danh mục các sơ đồ và Phụ lục, đề tài được kết cấu gồm 3 Chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh
  • Chương 2: Thực trạng hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An
  • Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH

1.1. Khái quát chung về đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh

1.1.1. Vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành các đơn vị hành chính các cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Cấp trung ương là cấp vĩ mô, tổ chức quản lý toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Cấp tỉnh, huyện, xã (ở địa phương) là cấp cụ thể hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi tỉnh, huyện, xã tương ứng. Nếu cấp trung ương đề ra đường lối, chính sách thì cấp địa phương tổ chức thực hiện đường lối, chính sách ấy trong phạm vi địa bàn. Cấp tỉnh là cấp đầu tiên của chính quyền địa phương, là cấp trung gian giữa trung ương và huyện, xã, là cấp có phạm vi quản lý lớn hơn so với cấp huyện và cấp xã. Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính. Ở cấp tỉnh, chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh.

HĐND tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở tỉnh, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân tỉnh gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh do cử tri ở địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước (theo Điều 113, 115 Hiến pháp năm 2013). Các quy định trên của Hiến pháp năm 2013 (sau được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều 6 Luật Tổ chức CQĐP 2015) cơ bản kế thừa nội dung của Điều 121 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 (đã được cụ thể hóa tại Điều 36 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003).

Có thể thấy, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị ở địa phương khi góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy sinh hoạt chính trị của nhân dân ở địa phương, là phương tiện, là cầu nối của cử tri trong tỉnh với Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước ở địa phương) trong mối quan hệ chính trị. Thông qua bầu cử, cử tri địa phương ủy quyền của mình cho đại biểu Hội đồng nhân dân để thông qua đại biểu Hội đồng nhân dân, cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình đúng với phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” khi tham gia bàn bạc, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế – xã hội ở địa phương (biểu quyết các nghị quyết về phát triển kinh tế -xã hội ở địa phương), khi thực hiện quyền giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương; khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo về những vi phạm của cá nhân, cơ quan nhà nước ở địa phương trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ…. Ở vị trí đó, đại biểu Hội đồng nhân dân liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân tỉnh, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cử tri và đại biểu Hội đồng nhân dân được nhận những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được pháp luật quy định để thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Ở vị trí là phương tiện, là cầu nối của cử tri trong tỉnh với các cơ quan nhà nước trong mối quan hệ chính trị thì vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương, ở tác dụng góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy sinh hoạt chính trị của nhân dân địa phương khi họ thực hiện quyền làm chủ của mình. Nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân là vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, tham gia quản lý nhà nước. Qua việc thực hiện nhiệm vụ của mình, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh thể hiện trên hai khía cạnh nội dung (thứ nhất: thực hiện các công vụ của trung ương giao cho chính quyền địa phương là vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước; và thứ hai: thực hiện công vụ địa phương là vận động nhân dân thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân) cụ thể như sau:

Ở vai trò thực hiện các công vụ của trung ương giao cho chính quyền địa phương thì Hội đồng nhân dân giám sát việc triển khai công việc này. Đại biểu Hội đồng nhân dân với tư cách là thành viên Hội đồng nhân dân sẽ giám sát việc thực hiện công vụ của trung ương giao cho địa phương. Đại biểu Hội đồng nhân dân phát huy vai trò tích cực của mình trong hoạt động giám sát. Qua tiếp xúc cử tri và thực tiễn hoạt động, đại biểu phát hiện những vấn đề nổi cộm, bức xúc ở địa phương, từ đó có ý kiến chất vấn các cá nhân, cơ quan liên quan hoặc kiến nghị với Thường trực, các Ban Hội đồng nhân dân để tổ chức các đoàn giám sát nhằm làm rõ trách nhiệm và đề xuất các giải pháp khắc phục. Các đại biểu kiến nghị buộc các cá nhân, cơ quan có liên quan phải giải quyết những vấn đề đó.

Ở vai trò thực hiện công vụ địa phương, Hội đồng nhân dân quyết định chính sách địa phương, đồng thời giám sát việc thực hiện các chính sách này. Là thành viên của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia cụ thể hóa chủ trương của cấp ủy, ra quyết định đúng đắn về quy hoạch và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương từng năm, từng giai đoạn; quyết định phân bổ nguồn lực công và nguồn lực đầu tư được huy động từ các thành phần kinh tế hợp lý, đúng quy định của pháp luật. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều hành trong quá trình xem xét, quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Hội đồng nhân dân nghiên cứu, phân tích chính sách, lấy ý kiến của cử tri và thông qua các đại biểu Hội đồng nhân dân quyết định các mục tiêu, các chương trình trọng điểm, danh mục các dự án đầu tư trong thời kỳ quy hoạch, kế hoạch, ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển các lĩnh vực kịp thời, phát huy tác dụng trong thực tiễn cuộc sống. Đại biểu Hội đồng nhân dân đóng góp trí tuệ và trách nhiệm trong thảo luận để tập thể thống nhất cao trước khi quyết định các vấn đề nêu trên. Trong các kỳ họp, đại biểu thảo luận kỹ từng nghị quyết chuyên đề, những nội dung còn nhiều ý kiến khác nhau được tách ra để bàn thảo đến khi thống nhất. Các đại biểu tranh luận dân chủ, thẳng thắn về nội dung các nghị quyết trước khi thông qua. Việc tranh luận, đối thoại công khai trước khi tiến hành biểu quyết cho thấy Hội đồng nhân dân thực sự là của dân, do dân và vì dân và đại biểu Hội đồng nhân dân thực sự là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân bởi cơ quan dân cử, các đại biểu dân cử đã nói lên tiếng nói của người dân, lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở để ban hành các quyết sách [17].

1.1.2. Trách nhiệm, quyền hạn và tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

  • Trách nhiệm

Trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại khoản 1 Điều 115 Hiến pháp năm 2013 (trước đây được quy định tại Điều 121 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001): “…liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước”; các nhiệm vụ này được cụ thể hóa tại các điều 93, 94, 95 Luật Tổ chức CQĐP 2015 (kế thừa quy định tại các điều 38, 39, 40 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003) như: trách nhiệm tham dự kỳ họp, phiên họp Hội đồng nhân dân, trách nhiệm tiếp xúc cử tri, trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân. Trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra trong mối quan hệ với cử tri và nhân dân địa phương, xoay quanh việc phục vụ nhân dân, hoàn thành việc đại diện cho ý chí, nguyện vọng, tiếng nói của nhân dân, bảo đảm cho nhân dân được thực hiện đầy đủ và trọn vẹn tư cách làm chủ của mình như: quyết định các vấn đề kinh tế – xã hội của địa phương; thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tránh lộng quyền, lạm quyền, vi phạm nguyên tắc dân chủ, vi phạm pháp luật, để hoạt động của cá nhân, cơ quan đó đi vào nền nếp, minh bạch và hiệu quả; mọi khiếu nại, tố cáo của người dân đều được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

  • Trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân với cử tri và nhân dân thể hiện:

Một là, qua trách nhiệm chung của Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Như vậy, ở vai trò thực hiện công vụ địa phương, Hội đồng nhân dân quyết định chính sách địa phương về việc thực hiện công vụ địa phương, đồng thời giám sát việc thực hiện các chính sách này. Ở vai trò thực hiện các công vụ của trung ương giao cho chính quyền địa phương thực hiện thì Hội đồng nhân dân giám sát việc triển khai công việc này. Đại biểu Hội đồng nhân dân với tư cách là thành viên Hội đồng nhân dân sẽ trực tiếp thực hiện các công vụ địa phương và công vụ của trung ương giao cho địa phương đó.

Hai là, qua trách nhiệm của từng đại biểu Hội đồng nhân dân như trách nhiệm tham dự kỳ họp, phiên họp Hội đồng nhân dân, trách nhiệm tiếp xúc cử tri, trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận, tổng hợp và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân. Cụ thể: Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Với trách nhiệm tham dự kỳ họp, phiên họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ chấp hành nội quy kỳ họp, tham dự đầy đủ kỳ họp, phiên họp của Hội đồng nhân dân, cuộc thảo luận ở Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, cuộc họp Ban của Hội đồng nhân dân mà đại biểu là thành viên, tham gia các hoạt động khác của Hội đồng nhân dân. Khi nhận được thông báo về thời gian, dự kiến chương trình và tài liệu kỳ họp, đại biểu Hội đồng nhân dân phải nghiên cứu tài liệu, tiếp xúc cử tri, tham gia các hoạt động của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân chuẩn bị cho kỳ họp Hội đồng nhân dân. Trong kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia thảo luận và quyết định chương trình kỳ họp, thảo luận tại phiên họp toàn thể và thảo luận ở Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân về các vấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp, biểu quyết thông qua những vấn đề thuộc nội dung, chương trình kỳ họp.

Với trách nhiệm tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với Hội đồng nhân dân và cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương; mỗi năm một lần vào cuối năm, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri ở đơn vị bầu ra mình về hoạt động trong năm, nhiệm vụ năm tới của mình và của Hội đồng nhân dân. Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó. Trong thời gian giữa hai kỳ họp, đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ tiếp xúc cử tri ở đơn vị bầu cử ra mình, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân với Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước, báo cáo kết quả phiên họp giữa hai kỳ họp với cử tri, tuyên truyền thực hiện tốt pháp luật. Đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân nhằm thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của công dân; giải thích, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho công dân; hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn, thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Khi nhận được ý kiến, kiến nghị của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân xem xét, nghiên cứu để phản ánh tới Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Với trách nhiệm tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân nghiên cứu và hướng dẫn công dân gửi khiếu nại, tố cáo đến đúng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp cần thiết, đại biểu Hội đồng nhân dân trực tiếp hoặc thông qua Thường trực Hội đồng nhân dân chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét giải quyết. Đại biểu Hội đồng nhân dân đôn đốc, theo dõi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định về trách nhiệm tiếp công dân của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tại khoản 2 Điều 4 và Điều 22, ngoài ra có các điều 24, 27, 28 quy định về hoạt động tiếp công dân, trụ sở và lịch tiếp công dân. Điều 23 Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết việc tiếp công dân của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân. Ngày 15-5-2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 759/2014/UBTVQH13 quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của QH, đại biểu QH, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Theo đó, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình tiếp công dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân cùng cấp và tại nơi tiếp công dân ở địa phương mà đại biểu ứng cử theo sự bố trí của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân chuyển sinh hoạt đến địa phương khác trong cùng đơn vị hành chính cấp đại biểu được bầu thì thực hiện việc tiếp công dân ở nơi chuyển đến. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố. Trường hợp không thể thực hiện được việc tiếp công dân theo lịch tiếp công dân đã được công bố do có lý do chính đáng thì đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm thông báo đến Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để điều chỉnh lịch; đồng thời dự kiến thời gian cụ thể thực hiện việc tiếp công dân.

  • Quyền hạn

Để thực hiện trách nhiệm của mình, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh được pháp luật trao cho những quyền hạn nhất định. Quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại các điều 96, 97, 98, 99, 100 Luật Tổ chức CQĐP 2015, đó là: quyền chất vấn, quyền kiến nghị, quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật khi đại biểu Hội đồng nhân dân phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, quyền yêu cầu cung cấp thông tin, quyền miễn trừ. Về quyền chất vấn, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn. Về quyền kiến nghị, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu, tổ chức phiên họp bất thường và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu thấy cần thiết. Về quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. Về quyền yêu cầu cung cấp thông tin, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Về quyền miễn trừ của đại biểu Hội đồng nhân dân, không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Hội đồng nhân dân, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Hội đồng nhân dân nếu không có sự đồng ý của Hội đồng nhân dân hoặc trong thời gian Hội đồng nhân dân không họp, không có sự đồng ý của Thường trực Hội đồng nhân dân. Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định.

Trong các quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền chất vấn quy định tại Điều 96 và quyền kiến nghị quy định tại Điều 97 được hiến định trong khoản 2 Điều 115 Hiến pháp năm 2013 nên mang tính quyền lực nhà nước. Hai quyền hạn này có khả năng tác động đến những đối tượng thuộc tầng cao nhất của bộ máy nhà nước tại địa phương, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị của nhân dân địa phương. Quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật khi đại biểu Hội đồng nhân dân phát hiện hành vi vi phạm pháp luật khẳng định quyền năng tác động đến tổ chức, hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm bảo vệ lợi ích của nhân dân, của xã hội. Quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu là quyền hạn được Luật Tổ chức CQĐP 2015 bổ sung so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003. Quyền miễn trừ thực chất là quyền bất khả xâm phạm của đại biểu, quyền có được sự bảo đảm quan trọng về mặt pháp lý cần thiết khi đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mình xuất phát từ thực tế là trong hoạt động của mình (đặc biệt là hoạt động giám sát, chất vấn), nếu đại biểu phải đối mặt với khả năng chịu trách nhiệm hoặc hậu quả pháp lý về quyết định, phát biểu của mình thì họ không thể phản ánh được một cách đầy đủ các tâm tư, nguyện vọng của người dân cũng như bảo vệ đến cùng các lợi ích chính đáng của nhân dân, không dám nêu lên hoặc phản đối những vấn đề có khả năng xâm hại đến lợi ích của cộng đồng. Để bảo đảm cho việc thực hiện các quyền nêu trên của đại biểu Hội đồng nhân dân, pháp luật cũng quy định cách thức, phương tiện, trình tự, thời hạn thực hiện các quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức hữu quan phải thi hành. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

  • Tiêu chuẩn

Trước khi có Luật Tổ chức CQĐP 2015, tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều 3 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003. Hiện nay, Điều 7 Luật Tổ chức CQĐP 2015 quy định về tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân như sau: “1. Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 2. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác. 3. Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân. 4. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm”. Pháp luật quy định về tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân như vậy là để bảo đảm những người được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân có khả năng và điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đáp ứng được sự tin cậy của nhân dân địa phương. Ngay từ khi ứng cử, tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân mà nhân dân “chọn mặt gửi vàng” đã được xác định rõ, đó là người trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu hết mình cho công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng địa phương, có lập trường tư tưởng vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh của nhân dân, nghiêm chỉnh thực hiện và đấu tranh với mọi sai trái, tham ô, lãng phí, hách dịch, các tệ nạn xã hội, bảo đảm thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng – an ninh, xây dựng chính quyền,… Đó là những người có phẩm chất đạo đức, gương mẫu, có lối sống trong sạch, lành mạnh, trung thực, chân thành, có tấm lòng nhân hậu, quan tâm và quan hệ tốt với mọi người, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, có uy tín với nhân dân địa phương. Một tiêu chuẩn không thể thiếu đối với người đại biểu dân cử là phải có trình độ năng lực, hiểu biết pháp luật, không ngừng nâng cao trình độ, đủ sức tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn: sâu sát, biết lắng nghe ý kiến của dân, có khả năng tuyên truyền đường lối, nghị quyết của Đảng, thuyết phục nhân dân thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Mỗi đại biểu Hội đồng nhân dân phấn đấu thực hiện thật tốt lời dạy của Bác Hồ đối với các đại biểu dân cử: “luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội” [16, tr.567]. Trước yêu cầu đó, để làm tròn trọng trách thật sự là người đại diện quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, đòi hỏi mỗi vị đại biểu một mặt phải hiểu biết thực tế, phải tự nâng cao năng lực, trình độ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, mặt khác, phải nắm vững những chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để tham gia chương trình nghị sự của kỳ họp, xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương có chất lượng và hiệu quả cao, góp phần tích cực vào việc xây dựng và phát triển tỉnh nhà giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng – an ninh, dân chủ, công bằng và văn minh.

1.2. Khái niệm, đặc điểm, mục đích hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

1.2.1. Khái niệm

Chất vấn được hiểu là “hỏi và đề nghị giải thích rõ về điều gì, việc gì” [35]. Chất vấn có thể được dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, theo đó người bị chất vấn là người có dữ liệu thông tin hay sự hiểu biết nhất định và do đó có một nghĩa vụ (tư cách hay trách nhiệm) cung cấp thông tin giải đáp cho vấn đề, hay nói cách khác là người bị chất vấn được đề nghị, được yêu cầu hay bắt buộc phải trả lời.

Trong lĩnh vực chính trị, chất vấn được hiểu là hoạt động giám sát đặc biệt quan trọng, thể hiện quyền lực của cơ quan dân cử và trách nhiệm của các đại biểu dân cử với cử tri của mình, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan công quyền.

Chất vấn (interpellation), theo định nghĩa của Từ điển Webster’s 1913 Dictionary, là yêu cầu quan chức giải thích hoạt động, hành động của mình; là những câu hỏi buộc phải trả lời; là vấn đề nổi lên trong khi tranh luận.

Quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân được hiến định tại khoản 2 Điều 115 Hiến pháp năm 2013. Trong Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015, khoản 7 Điều 2 quy định: “Chất vấn là việc…đại biểu Hội đồng nhân dân nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu”; Điều 84 quy định: “1. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn trực tiếp tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc gửi chất vấn bằng văn bản đến người bị chất vấn…. 2. Nội dung chất vấn phải cụ thể, rõ ràng, có căn cứ và phải liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người bị chất vấn. 3. Trình tự, thủ tục chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Điều 60 và Điều 69 của Luật này và Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân”. Từ các quy định pháp luật có thể hiểu chất vấn là việc đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nêu ra và yêu cầu những người đứng đầu các cơ quan nhà nước ở tỉnh trả lời về trách nhiệm của họ đối với những vi phạm pháp luật, những biểu hiện yếu kém, trì trệ, không thi hành nghiêm chỉnh, hoặc thi hành không đến nơi, đến chốn các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, không thực hiện hoặc có thái độ xem thường các kiến nghị xác đáng của Thường trực Hội đồng nhân dân, biểu hiện tham ô, tham nhũng…xảy ra thuộc lĩnh vực thẩm quyền mà họ có trách nhiệm quản lý. Qua hoạt động chất vấn, các vấn đề bất cập nêu trên sẽ phải được quan tâm giải quyết, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân địa phương, tăng cường nền nếp, sự hoạt động công khai, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả của cơ quan nhà nước, người đứng đầu cơ quan nhà nước, đồng thời qua đó năng lực, trách nhiệm của những người nắm giữ các cương vị lãnh đạo các cơ quan nhà nước này ở tỉnh được xem xét đánh giá. Về phía đại biểu Hội đồng nhân dân, chất vấn là phương tiện để người đại biểu thực hiện nhiệm vụ đại diện cho tiếng nói, ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội, là công cụ để đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Từ các phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh như sau: Chất vấn là một hình thức giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, được tổ chức công khai tại kỳ họp hoặc giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh, theo đó đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành viên khác của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và yêu cầu những người này trả lời nhằm giải đáp, làm rõ trách nhiệm của họ trong quá trình thực thi nhiệm vụ theo thẩm quyền được phân công.

1.2.2. Ðặc điểm

Thứ nhất, chất vấn có hàm nghĩa phỏng vấn nhưng khác với các hình thức giao tiếp hỏi đáp nhằm tìm kiếm sự thật. Hoạt động này không chỉ đơn giản là việc hỏi, trả lời, sự khác biệt ở chỗ người được phỏng vấn là người có thông tin hay sự hiểu biết nhưng không nhất thiết phải có trách nhiệm, nghĩa vụ trả lời. Tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh và phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh trong thời gian giữa hai kỳ họp, chất vấn là một khái niệm có nội hàm rộng hơn rất nhiều. Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở tỉnh; người chất vấn ở đây là các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh – những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân ở địa phương. Do đó, mỗi câu hỏi tại kỳ họp, phiên họp đó phải là những vấn đề liên quan tới lợi ích của đa số cử tri, được đông đảo nhân dân quan tâm, những vấn đề mà dư luận xã hội đang bức xúc và cần có biện pháp tháo gỡ, những vấn đề có tính chất dự báo, có thể diễn ra, nếu không có cách thức ứng phó kịp thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Chất vấn là để quy kết trách nhiệm, đòi hỏi biện pháp giải quyết mà không chỉ là tìm hiểu thông tin và người bị chất vấn buộc phải trả lời.

Chất vấn khác với câu hỏi thông thường bởi chất vấn là hình thức giám sát và là quyền của đại biểu Hội đồng nhân dân được Hiến pháp quy định, mang tính chất pháp lý. Người chất vấn và người bị chất vấn được pháp luật đặt ở vị trí quan trọng, thảo luận những vấn đề kinh tế – xã hội của địa phương. Do đó, sẽ không thể chấp nhận sự dễ dãi hay thiếu nghiêm túc trong chất vấn cũng như trả lời chất vấn. Đại biểu sử dụng quyền chất vấn như một biện pháp cuối cùng để quy kết trách nhiệm của cơ quan, cá nhân bị chất vấn một cách công khai; và nhờ sự tác động mang tính quyền lực mạnh mẽ nhất của cơ quan có thẩm quyền mà khắc phục được các khuyết điểm của cơ quan hoặc người bị chất vấn. Với ý nghĩa như vậy, chất vấn không chỉ đơn giản là quyền riêng của cá nhân đại biểu, mà còn là hình thức giám sát có hiệu quả của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây chính là sự khác nhau cơ bản giữa chất vấn với câu hỏi thông thường.

Chất vấn khác với đàn hạch – một khái niệm dùng trong khoa học pháp lý có nghĩa là hạch hỏi, vạch rõ các tội lỗi, vi phạm. Pháp luật thời kỳ phong kiến ở nước ta trước đây cũng như ở một số nước hiện nay – ví dụ Mỹ – có quy định về đàn hạch là một hình thức giám sát mạnh mẽ đối với các chức danh lãnh đạo trong bộ máy nhà nước. Cơ sở để tiến hành thủ tục “đàn hạch” là các hành vi phản bội Tổ quốc, nhận hối lộ hay phạm những tội nghiêm trọng khác với mục đích là ngăn chặn sự lạm quyền của người có quyền hành trong bộ máy nhà nước, còn cơ sở của chất vấn là trách nhiệm của cá nhân, cơ quan nhà nước đối với những vi phạm pháp luật, những biểu hiện yếu kém, trì trệ, không thi hành nghiêm chỉnh, thi hành không đến nơi, đến chốn các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, không thực hiện hoặc có thái độ xem thường các kiến nghị xác đáng của Thường trực Hội đồng nhân dân, biểu hiện tham ô, tham nhũng…xảy ra thuộc lĩnh vực thẩm quyền quản lý của cá nhân, cơ quan đó. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Mức độ cao hơn của chất vấn là truy vấn, theo Từ điển tiếng Việt mở -Wikipedia, truy vấn có nghĩa là hỏi ráo riết để tìm ra manh mối. Tuy trong các văn bản luật hiện hành của Việt Nam không có quy định về truy vấn nhưng chúng ta có thể hiểu Hội đồng nhân dân đưa ra câu hỏi chất vấn tại phiên họp Hội đồng nhân dân thì đại biểu ấy cùng các đại biểu khác hỏi sâu, hỏi cặn kẽ, trở đi trở lại các khía cạnh của vấn đề nhằm làm cho vấn đề phải được sáng rõ, phải cụ thể và rốt ráo cả nguyên nhân, tình hình, trách nhiệm của các bên, hướng giải quyết, khắc phục và trách nhiệm giải quyết, thời hạn giải quyết, …

Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân mang tính quyền lực nhà nước nên nó còn khác với các hoạt động chất vấn trong Đảng, trong thanh tra, báo chí, Mặt trận Tổ quốc….Theo Hướng dẫn số 15-HD/UBKTTW ngày 14-7-2008 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, chất vấn và trả lời chất vấn trong Đảng là việc đảng viên hỏi và được trả lời về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức đảng hoặc chức trách, nhiệm vụ, tiêu chuẩn đảng viên, cấp uỷ viên, trừ những vấn đề bí mật theo quy định của Đảng và Nhà nước, những vấn đề liên quan trực tiếp đến đường lối, nghị quyết của Đảng. Chất vấn trong Đảng mang tính kỷ luật nội bộ Đảng, được thực hiện trong các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Trong thanh tra, chất vấn là một nghiệp vụ, là công việc chuyên môn của nghề thanh tra, do Thanh tra viên tiến hành tác động trực tiếp vào tâm lý đối tượng thanh tra, mục đích thu được lời khai đúng, đầy đủ về sự thật của nội dung thanh tra và những tin tức cần thiết khác, từ đó có căn cứ để xác minh sự thật, xây dựng báo cáo thanh tra [1]. Nếu hoạt động chất vấn của đại biểu dân cử được tiến hành chủ động, có chương trình, kế hoạch cụ thể và chi tiết, theo định kỳ (theo kỳ họp, sáu tháng hoặc hằng năm) thì chất vấn trong thanh tra được thực hiện có thể theo kế hoạch, thường xuyên và cả đột xuất khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao (Điều 37 Luật Thanh tra năm 2010). Trong lĩnh vực báo chí cũng có hoạt động chất vấn, ví dụ, chất vấn của phóng viên báo chí trong buổi họp báo, gặp mặt các cơ quan thông tấn, báo chí đối với Chủ tịch Quốc hội; chất vấn của phóng viên báo chí đối với các thành viên Chính phủ trong các cuộc họp báo thường kỳ hằng tháng của Chính phủ… Hoạt động chất vấn của báo chí không mang tính quyền lực nhà nước mà mang tính xã hội, tác động đến đối tượng chất vấn bằng dư luận, áp lực xã hội. Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chất vấn được thực hiện ở hoạt động bên trong nội bộ và không mang tính quyền lực nhà nước, cụ thể là các tổ chức đoàn thể trong quan hệ chính trị với tư cách là thành viên của Mặt trận có quyền thảo luận, chất vấn, phê bình, kiến nghị về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Mặt trận cũng như giới thiệu người để hiệp thương cử vào Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp. Uỷ ban Mặt trận lắng nghe ý kiến thảo luận, chất vấn, phê bình, kiến nghị đó để xem xét, điều chỉnh cho phù hợp nhằm nâng cao chất lượng bộ máy tổ chức và hoạt động của Mặt trận (Điều 3 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Thứ hai, chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân có nguồn gốc sâu xa từ nhu cầu kiểm soát, giám sát quyền lực. Mục đích đầu tiên của kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước là ngăn ngừa sự chuyên chế, lạm dụng quyền lực. Trong hầu hết các chính thể hiện đại, nguồn gốc quyền lực nhà nước được ghi nhận là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nhưng quyền lực này chủ yếu thực hiện thông qua các đại diện của nhân dân. Vì quyền lực không do nhân dân trực tiếp thực hiện nên không có sự bảo đảm tuyệt đối là quyền lực nhà nước không đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Ở góc độ này thì sự kiểm soát, giám sát quyền lực sẽ hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực nhà nước phải vì lợi ích của nhân dân. Mục đích tiếp theo của sự kiểm soát, giám sát quyền lực là bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực hiện một cách hiệu quả và có trách nhiệm. Việc thực hiện quyền lực nhà nước có hiệu quả nhất khi nó không trái với lợi ích của nhân dân. Mục đích tiếp theo nữa của kiểm soát, giám sát quyền lực là cung cấp cơ chế báo động những hậu quả xấu trong việc thực hiện quyền lực nhà nước của những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Thêm nữa, đặc trưng quan trọng của quyền lực nhà nước là sự độc quyền sử dụng sức mạnh vũ lực, được dựa trên nguồn của cải vật chất to lớn và bộ máy đồ sộ nên sự lạm quyền của nó sẽ gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Từ đó có thể thấy để thực hiện quyền lực của nhân dân không thể không có sự kiểm soát, giám sát việc thực hiện quyền lực và hoạt động chất vấn được pháp luật quy định xuất phát từ nhu cầu kiểm soát, giám sát quyền lực bởi thông qua việc chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân, nhân dân kiểm soát được các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền sử dụng quyền lực nhà nước như thế nào.

Thứ ba, chất vấn là công cụ giám sát quan trọng và hiệu quả. Chất vấn là công cụ giám sát mạnh nhất của đại biểu Hội đồng nhân dân vì nó quy trách nhiệm chính trị cá nhân, khi đã quy vào trách nhiệm cá nhân (không phải là trách nhiệm của tập thể) trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì tự khắc các cá nhân có thẩm quyền phải hành động theo đúng Hiến pháp và pháp luật, theo lương tâm và trách nhiệm. Suy cho cùng, các hình thức giám sát khác của đại biểu Hội đồng nhân dân như giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân cũng đều là giám sát các quyết định, hành động của người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước, nhưng chất vấn là giám sát trực tiếp, trực diện, quy trách nhiệm cá nhân người có thẩm quyền ngay tại nghị trường trước sự theo dõi, đánh giá của đông đảo cử tri. Vì vậy, chất vấn là công cụ hữu hiệu để đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các quan chức trong bộ máy nhà nước ở địa phương. Ở một số nước, chất vấn có thể dẫn đến việc đặt vấn đề ủng hộ hay phản đối hoạt động của cơ quan hành pháp – cơ sở để ra nghị quyết bất tín nhiệm và dẫn đến sự từ chức của cơ quan hành pháp. Ví dụ, Điều 111 Hiến pháp Tây Ban Nha quy định: Bất kỳ sự chất vấn nào cũng có thể là lý do để đưa ra nghị quyết, qua đó các viện phản ánh quan điểm của mình. Tuy nhiên, ở đặc điểm này, chất vấn không có nghĩa là “bới lông tìm vết”, “soi mói” khuyết điểm; không có ý khinh chê, chỉ trích hay thiếu tôn trọng người bị chất vấn hay là sự bất lợi đối với cơ quan và người bị chất vấn. Chất vấn không phải là để níu kéo nhau, cản trở nhau, mà là để xây dựng, làm cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của mình, bảo đảm sự minh bạch và chế độ trách nhiệm. Phê bình mặc dù là thuộc tính của chất vấn, nhưng không phải mục đích của chất vấn. Qua chất vấn giúp cho hoạt động của các cơ quan và người bị chất vấn tốt hơn, hoàn thiện hơn. Các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khi thực hiện quyền chất vấn của mình là nhân danh cá nhân với tư cách là người đại diện quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân địa phương yêu cầu cá nhân bị chất vấn trả lời về trách nhiệm pháp lý của cá nhân đó về những việc làm có đúng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định hay không. Vì vậy, chất vấn là diễn đàn dân chủ nơi các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh thể hiện vai trò tích cực của mình. So với các hoạt động giám sát khác của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, chất vấn được ghi nhận trong Hiến pháp (hình thức giám sát và quyền của đại biểu dân cử được Hiến pháp quy định). Người chất vấn và trả lời chất vấn được pháp luật đặt ở vị trí quan trọng, hỏi và trả lời về những vấn đề quan trọng của địa phương nhằm mục đích làm rõ trách nhiệm của cá nhân có trách nhiệm đối với vấn đề.

Thứ tư, chất vấn là một biện pháp không thể thiếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước phù hợp với nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân lập ra và trao quyền cho các cơ quan nhà nước, cá nhân thực hiện quyền lực của mình thì tất yếu nhân dân phải được kiểm soát, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan, cá nhân ấy. Dân được kiểm tra, giám sát sẽ ngăn chặn được các tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, đồng thời nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, bảo đảm được chất lượng tốt cho hoạt động của cơ quan, cá nhân được nhân dân ủy quyền. Chất vấn là một hình thức của giám sát, là một kênh quan trọng để nhân dân bày tỏ ý nguyện và tham gia quản lý, giám sát bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức thông qua người đại diện của mình.

1.2.3. Mục đích Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Mục đích của hoạt động chất vấn của đại biểu dân cử nói chung cũng như mục đích của hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh là để làm rõ trách nhiệm chính trị. Có nhiều loại trách nhiệm được xác định thông qua những cách thức và thủ tục khác nhau: Trách nhiệm kỷ luật được xác định thông qua hoạt động kiểm tra, trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định được xác định thông qua hành vi của tổ chức, cá nhân, có thể là hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp luật hoặc có thiệt hại gây ra bởi hành vi, trách nhiệm hành chính được xác định thông qua hoạt động thanh tra, trách nhiệm hình sự được xác định thông qua hoạt động điều tra. Là một hình thức giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động chất vấn nhằm làm rõ trách nhiệm chính trị hay nói cách khác, trách nhiệm chính trị được xác định thông qua hoạt động chất vấn, điều đó được thể hiện ở những khía cạnh sau:

Một là, các phiên chất vấn luôn thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội bởi hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn nhằm mục đích giám sát việc thực hiện các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, qua đó nhận diện những vấn đề bất cập trong đời sống kinh tế – xã hội, xác định rõ trách nhiệm và phương pháp khắc phục, tháo gỡ để thúc đẩy sự phát triển ở địa phương. Nói cách khác, các phiên chất vấn thường động chạm đến những vấn đề nóng, ảnh hưởng sâu sắc, thiết thân đến người dân tại địa phương và đó là lý do khiến các phiên chất vấn được đông đảo cử tri quan tâm theo dõi. Ở khía cạnh này, chất vấn nhằm làm rõ trách nhiệm chính trị của cơ quan quản lý nhà nước và người có thẩm quyền trong các cơ quan đó. Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm về chính sách, thể hiện sự hạn chế về tầm nhìn, hoạch định. Khi một câu hỏi chất vấn được đưa ra thì thông tin, số liệu không phải là vấn đề chính (bởi người đưa ra chất vấn và dư luận xã hội có thể đã nắm rõ) mà là để làm rõ vấn đề: Người bị chất vấn có biết về việc đó không? Tại sao lại để nó xảy ra? Hướng xử lý như thế nào? Cần phải rút kinh nghiệm ở đâu? Chế độ trách nhiệm ra sao? Nghĩa là buộc cơ quan quản lý nhà nước, người có trách nhiệm phải giải thích về thực trạng hoạt động, công tác, nhất là những khuyết điểm, tồn tại của cơ quan, của cá nhân người phụ trách; phải trả lời rõ nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Vì vậy, chất vấn là sự “đối thoại mang tính quyền lực” [26] có mục đích là để làm rõ trách nhiệm.

Đối với chất vấn, trước khi nêu vấn đề, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh phải tìm hiểu kỹ và nắm thông tin về vấn đề mà mình cần chất vấn để làm rõ trách nhiệm của cá nhân có thẩm quyền đối với vấn đề đó. Chất vấn được quy định rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, đối tượng chất vấn cũng được chỉ ra cụ thể trong một phạm vi nhất định. Nếu chất vấn không có mục đích làm rõ khuyết điểm, quy kết trách nhiệm, khôi phục sự công bằng, loại bỏ tiêu cực, ngăn chặn vi phạm pháp luật… trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, thì chất vấn chỉ là hình thức, không còn tác dụng là phương tiện giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước . Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hai là, mục đích khác của chất vấn là kiểm tra năng lực của người có thẩm quyền, có trách nhiệm trong nắm bắt và điều chỉnh lĩnh vực được phân công. Việc sâu sát, nắm vững trách nhiệm được phân công sẽ thể hiện ở sự trả lời lưu loát, rõ ràng, đi trúng và rốt ráo vấn đề được hỏi của người trả lời chất vấn. Ở một số nước, ví dụ như nước Anh, trong hoạt động nghị trường, người bị chất vấn thường không được biết trước các câu hỏi chất vấn đưa ra cho mình [31], quy định này đòi hỏi người bị chất vấn luôn phải nắm rõ tường tận lĩnh vực công tác của mình.

Ba là, chất vấn, xét về một khía cạnh nào đó, có mục đích cảnh báo về một vấn đề hay một tình trạng cần được lưu ý giải quyết. Sự cảnh báo này nhằm nâng cao tính dự đoán và trách nhiệm phải nhìn nhận trước vấn đề của người quản lý (ví dụ tình trạng doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ nhưng lãnh đạo doanh nghiệp lại giàu lên nhanh chóng, hiện tượng người đến bệnh viện sau lại được ưu tiên khám, chữa bệnh trước mà không thuộc những trường hợp được ưu tiên…) và để đạt tới đích cuối cùng là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan nhà nước, các cá nhân lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định.

Bốn là, chất vấn cũng có mục đích cung cấp thông tin và tạo cơ hội cho xã hội đánh giá, phê bình cơ quan quản lý nhà nước, người có thẩm quyền quản lý nhà nước vì làm hay không làm điều gì đó, tạo sức ép lên các cơ quan đó để việc hoạt động, giải quyết vấn đề đang đặt ra được nhanh hơn, hiệu quả hơn, tránh sai sót. Mặc dù Hiến pháp và pháp luật không có quy định cho đại biểu Hội đồng nhân dân từ hoạt động chất vấn có quyền áp đặt trực tiếp biện pháp xử lý như là một chế tài đối với người bị chất vấn, tuy nhiên trả lời chất vấn và việc thực hiện nghị quyết về chất vấn của người bị chất vấn là căn cứ quan trọng để Hội đồng nhân dân đánh giá năng lực, trình độ, trách nhiệm của người bị chất vấn.

Trong điều kiện thông tin tiện lợi như ngày nay, các vấn đề chất vấn tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh có thể được đăng tải trên báo chí hoặc phát trực tiếp trên sóng truyền hình, đường dây điện thoại nóng, hộp thư điện tử được thiết lập nên tạo điều kiện cho nhân dân giám sát cơ quan dân cử và các cán bộ trong bộ máy nhà nước. Như vậy, người bị chất vấn đồng thời chịu hai sức ép, một là sức ép từ phía các đại biểu Hội đồng nhân dân, từ Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, hai là sức ép từ phía dư luận xã hội, của nhân dân tại địa phương. Chất vấn tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh là hình thức giám sát trực tiếp của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đối với các cơ quan, cá nhân khi được chất vấn nhằm giải đáp, làm rõ trách nhiệm trong quá trình thực thi nhiệm vụ theo thẩm quyền được phân công, đồng thời giúp đại biểu Hội đồng nhân dân có cơ sở đánh giá, bỏ phiếu tín nhiệm đối với chức danh do Hội đồng nhân dân bầu và góp phần tạo dư luận xã hội quan tâm thúc đẩy người bị chất vấn thực hiện lời hứa.

1.3. Cấu thành hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

1.3.1. Chủ thể chất vấn, người bị chất vấn, nội dung chất vấn, thời gian tiến hành chất vấn

Theo khoản 7 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015: “Chất vấn là việc…đại biểu Hội đồng nhân dân nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu”. Điều 84 Luật này quy định: “1. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn trực tiếp tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân hoặc gửi chất vấn bằng văn bản đến người bị chất vấn… 2. Nội dung chất vấn phải cụ thể, rõ ràng, có căn cứ và phải liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người bị chất vấn. 3. Trình tự, thủ tục chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Điều 60 và Điều 69 của Luật này và Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân”. Như vậy, chủ thể của hoạt động chất vấn là đại biểu Hội đồng nhân dân; người bị chất vấn là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; nội dung chất vấn là những vấn đề thuộc về trách nhiệm, quyền hạn của những người bị chất vấn; thời gian diễn ra chất vấn là tại kỳ họp Hội đồng nhân dân hoặc tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân trong thời gian giữa hai kỳ họp.

Ngoài quy định quyền chất vấn của cá nhân đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015 còn quy định về hoạt động của các chủ thể khác là Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân liên quan, hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân, ví dụ theo khoản 3 Điều 87, Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát thông qua các hoạt động xem xét trả lời chất vấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; khoản 4 Điều 87 quy định căn cứ vào kết quả giám sát, Hội đồng nhân dân có quyền ra nghị quyết về trả lời chất vấn và trách nhiệm của người trả lời chất vấn khi xét thấy cần thiết; khoản 4 Điều 104 quy định Thường trực Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn: Tổng hợp chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân để báo cáo Hội đồng nhân dân; yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân giải trình các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân; khoản 3 Điều 138 quy định trong trường hợp Hội đồng nhân dân không còn đủ hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu theo quy định và thời gian còn lại của nhiệm kỳ ít hơn hoặc bằng 18 tháng thì Hội đồng nhân dân chỉ thảo luận và quyết định về kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội và ngân sách địa phương, khi đó Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoặc Quyền Chủ tịch Hội đồng nhân dân tổng hợp chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân, ý kiến, kiến nghị của cử tri để báo cáo với hội nghị của các đại biểu Hội đồng nhân dân. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Các quy định của Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015 về chủ thể chất vấn, người bị chất vấn, nội dung chất vấn, thời gian tiến hành chất vấn cơ bản kế thừa các quy định về cùng vấn đề trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 song đã có sự bổ sung, phát triển và hoàn thiện hơn như quy định vấn đề chất vấn là gì, quy định thêm về chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, về việc Hội đồng nhân dân quyết định nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn, về thời gian nêu chất vấn và trả lời chất vấn, về các trường hợp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân cho trả lời chất vấn bằng văn bản…Tuy nhiên, diện người bị đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn theo Điều 41 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 rộng hơn, còn bao gồm cả Chủ tịch Hội đồng nhân dân.

Trong các yếu tố chủ thể chất vấn, người bị chất vấn, nội dung chất vấn, thời gian tiến hành chất vấn thì đại biểu Hội đồng nhân dân – chủ thể chất vấn có ảnh hưởng quyết định nhất đến hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân. Năng lực, kinh nghiệm, kỹ năng, phong cách, bản lĩnh của cá nhân đại biểu Hội đồng nhân dân ghi dấu ấn rất rõ trong đặt vấn đề, cách thức và nội dung mà đại biểu chất vấn. Ngoài yêu cầu về tiêu chuẩn phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, đại biểu Hội đồng nhân dân còn phải là người thực sự có năng lực giám sát, thể hiện qua kiến thức về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là kiến thức pháp luật làm cơ sở cho việc thực hiện hoạt động giám sát (trong đó có chất vấn), người đại biểu cần có bản lĩnh dám nói, dám chất vấn đến cùng những vấn đề bức xúc liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm của người bị chất vấn; người đại biểu cần có ý thức cao về trách nhiệm của mình trong việc tiếp thu ý kiến chính đáng của người dân, nghiên cứu và tiến hành hoạt động chất vấn người có trách nhiệm, buộc người bị chất vấn phải làm sáng tỏ trách nhiệm của mình trước nhân dân. Trách nhiệm nặng nề này đòi hỏi các đại biểu dân cử phải có tính chuyên nghiệp và chuyên môn cao, tư duy lôgíc, kỹ năng phân tích, đánh giá thông tin, áp dụng thành thạo các kỹ thuật hiện đại, sử dụng tối đa ưu thế của công nghệ thông tin để có các nguồn thông tin nhanh nhất và chính xác nhất.

1.3.2. Phạm vi hoạt động chất vấn Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Phạm vi hoạt động chất vấn không chỉ là giới hạn không gian và thời gian diễn ra hoạt động này bởi như trên đã phân tích, hoạt động chất vấn diễn ra tại phiên chất vấn trong thời gian kỳ họp hoặc giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân. Phạm vi hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có thể được xem xét ở giới hạn về chủ thể, người bị chất vấn, nội dung, cách thức thực hiện, địa điểm đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện chất vấn. Những giới hạn này được xác định rõ nét khi xem xét trong sự phân biệt với hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã.

Chủ thể chất vấn luôn là đại biểu dân cử, song với ở cấp trung ương thì chủ thể chất vấn là đại biểu Quốc hội, ở cấp tỉnh là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và ở cấp huyện là đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, ở cấp xã là đại biểu Hội đồng nhân dân xã.

Theo khoản 7 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015: Chất vấn là việc đại biểu Quốc hội nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước; đại biểu Hội đồng nhân dân nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu. Như vậy, người bị đại biểu Quốc hội chất vấn là Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước; người bị đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; người bị đại biểu Hội đồng nhân dân huyện chất vấn là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện; người bị đại biểu Hội đồng nhân dân xã chất vấn là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân xã. Trong hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân nước ta, ở cấp xã không có Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nên người bị chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân xã không có người đứng đầu các cơ quan này.

Quyền giám sát của Quốc hội mang tính quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội tiến hành giám sát ở mức cao nhất hoạt động quản lý nhà nước. Hoạt động giám sát của Quốc hội mang tính tổng quát, bao trùm đối với những vấn đề thuộc tầm vĩ mô, được nhân dân cả nước quan tâm. Khi tiến hành hoạt động giám sát, Quốc hội có thể áp dụng những biện pháp mang tính quyền lực nhà nước cao nhất để xử lý những vấn đề nảy sinh trong giám sát và áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với những người bị giám sát (như bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hoặc miễn nhiệm, bãi nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm với những người giữ chức vụ cao trong bộ máy nhà nước). Giám sát tối cao là quyền Hiến pháp giao cho cơ quan duy nhất là Quốc hội. Đối tượng giám sát chỉ là cơ quan, cá nhân do Quốc hội thành lập, bầu hoặc phê chuẩn. Như vậy, đối tượng giám sát, cũng chính là người bị đại biểu Quốc hội chất vấn ở vào tầng cao nhất của bộ máy nhà nước. Đối tượng giám sát được xác định như vậy bởi Hiến pháp năm 2013 quy định tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp, kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo đó Quốc hội được phân công thực hiện chức năng giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội của các cơ quan, cá nhân đứng đầu các cơ quan nhà nước ở trung ương. Vậy, hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội nhằm vào những người nắm giữ những chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước ở trung ương, những người do Quốc hội bầu, lĩnh vực chất vấn của đại biểu Quốc hội là những vấn đề thuộc tầm vĩ mô, có tính chất rộng lớn trong phạm vi toàn lãnh thổ. Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương (tỉnh, huyện, xã) thì nhằm vào những người nắm giữ các cương vị chủ chốt cùng cấp ở địa phương (tỉnh, huyện, xã), lĩnh vực chất vấn là các vấn đề kinh tế – xã hội diễn ra tại địa phương (tỉnh, huyện, xã). Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Vấn đề chất vấn của đại biểu dân cử là “vấn đề thuộc trách nhiệm” của những người bị chất vấn. Có thể hiểu vấn đề chất vấn của đại biểu dân cử là trách nhiệm của người bị chất vấn đối với nội dung quản lý, công việc thuộc thẩm quyền trách nhiệm của người bị chất vấn đã để xảy ra vi phạm pháp luật, có những biểu hiện yếu kém, trì trệ, không thi hành nghiêm chỉnh, thi hành không đến nơi, đến chốn các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, không thực hiện hoặc có thái độ xem thường các kiến nghị xác đáng của Thường trực Hội đồng nhân dân, có biểu hiện tham ô, tham nhũng, gây bức xúc trong nhân dân hoặc có những biểu hiện của sự vi phạm cần có biện pháp ngăn chặn, giải quyết… Về bản chất, vấn đề thuộc trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh với vấn đề thuộc trách nhiệm của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, xã không khác nhau, song vấn đề thuộc trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh diễn ra trong phạm vi tỉnh còn vấn đề thuộc trách nhiệm của đại biểu Quốc hội diễn ra trong phạm vi toàn lãnh thổ và vấn đề thuộc trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, xã diễn ra trong phạm vi huyện, xã.

Pháp luật không quy định cụ thể lĩnh vực đại biểu dân cử thực hiện chất vấn, vì vậy có thể hiểu lĩnh vực chất vấn là bất kỳ vấn đề nào, bất kỳ hoạt động nào thuộc trách nhiệm của những người bị chất vấn mà đại biểu dân cử quan tâm, chỉ phân biệt theo phân giới hành chính – lãnh thổ là lĩnh vực đó ở phạm vi quốc gia (đại biểu Quốc hội) hay địa phương (tỉnh, huyện, xã là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện, xã). Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân trong tỉnh, chính vì vậy hoạt động chất vấn của họ sẽ xoay quanh toàn bộ những lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội của tỉnh.

1.3.3. Trình tự, thủ tục, hình thức chất vấn

Trình tự hoạt động chất vấn tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật hiện hành (Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015) được minh họa qua sơ đồ 1.1 và trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân qua sơ đồ 1.3. Ngoài ra, luận văn trình bày các sơ đồ 1.2, 1.4 minh họa trình tự hoạt động chất vấn diễn ra tại kỳ họp và trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 để cho thấy bước hoàn thiện dần của quy định pháp luật về vấn đề này.

  • Sơ đồ 1.1: Chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân (theo Điều 60 Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015)
  • Sơ đồ 1.2. Chất vấn và trả lời chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân (theo Điều 69 Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015)
  • Sơ đồ 1.3. Chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân (theo Điều 41, 61 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003) Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.
  • Sơ đồ 1.4. Chất vấn và trả lời chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân (theo Điều 41 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003)

Từ các sơ đồ trên có thể thấy pháp luật về trình tự, thủ tục chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đã có những bước dần được hoàn thiện theo thời gian. So với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015 đã được chi tiết thêm các quy định về trình tự, thủ tục hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân (Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 chỉ quy định trình tự trả lời chất vấn mà không có quy định về trình tự chất vấn) bảo đảm tính chủ động, có kế hoạch của hoạt động chất vấn, bảo đảm chất vấn có trọng tâm, sát thực; quy định rõ hơn về Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân (phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân cũng tiến hành chất vấn trực tiếp mà không chỉ yêu cầu người bị chất vấn trả lời bằng văn bản như quy định tại Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003); xác định rõ hơn hình thức chất vấn và trả lời chất vấn, chất vấn lại, quy kết trách nhiệm; chi tiết các trường hợp cho trả lời bằng văn bản và quy định rõ trình tự, thủ tục của việc trả lời bằng văn bản… Điều này cho thấy quy định pháp luật trong vấn đề này đã được quan tâm hoàn thiện từng bước, thể hiện tinh thần, thái độ coi trọng vai trò, ý nghĩa của quy trình, trình tự, thủ tục chất vấn nói riêng và hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân nói chung, cụ thể: (i) trình tự, thủ tục trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn là cơ sở pháp lý cho hoạt động này được tiến hành theo một trật tự thống nhất, tránh sự tùy tiện trong quá trình triển khai nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia hoạt động chất vấn; (ii) trình tự, thủ tục này phản ánh tính nền nếp, kỷ cương, kỷ luật, sự nghiêm minh trong hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, tính công khai, minh bạch, dân chủ trong hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương; (iii) trình tự, thủ tục chất vấn tạo tiền đề cho việc xác định trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu cơ quan nhà nước ở địa phương; (iv) trình tự, thủ tục chất vấn trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tác động và phản ánh kỹ năng đối thoại, tranh luận của các chủ thể tham gia diễn đàn tại Hội đồng nhân dân; (v) trình tự, thủ tục trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn phản ánh khoa học tổ chức, điều hành hội nghị tại cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

1.3.4. Hệ quả của hoạt động chất vấn Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đối với những hoạt động bình thường trong đời sống xã hội, hệ quả là kết quả trực tiếp sinh ra từ sự việc nào đó (thường là việc không hay) trong quan hệ với sự việc ấy. Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, mục đích của chất vấn là để làm rõ trách nhiệm chính trị, nguồn gốc của chất vấn là nhu cầu kiểm soát quyền lực, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, vì vậy, hệ quả của hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân là hệ quả mang tính chính trị. Chất vấn là để quy kết trách nhiệm chính trị. Chất vấn là công cụ giám sát mạnh và hữu hiệu của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử, vì nó quy trách nhiệm, có khi buộc tội người đứng đầu các cơ quan nhà nước ở tỉnh phải nhận trách nhiệm của mình. Chất vấn có thể dẫn đến việc đặt vấn đề ủng hộ hay phản đối hoạt động của cơ quan, người đứng đầu đó, thậm chí có thể đưa ra nghị quyết bất tín nhiệm và dẫn đến sự từ chức của người đứng đầu cơ quan đó.

Theo quy định của pháp luật nước ta, Hội đồng nhân dân tỉnh có thể ra nghị quyết về chất vấn. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 chỉ quy định Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết (điểm c khoản 3 Điều 61) mà chưa có quy định cụ thể nội dung nghị quyết về chất vấn như thế nào. Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015 đã có quy định về nội dung của nghị quyết về chất vấn (dẫn chiếu từ khoản 5 Điều 60 đến khoản 5 Điều 15 của Luật). Nghị quyết về chất vấn có nội dung cơ bản là: (i) Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người bị chất vấn, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân liên quan đến vấn đề chất vấn; (ii) Thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập; (iii) Trách nhiệm thi hành của cơ quan, cá nhân; (iv) Trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết về chất vấn. Từ việc làm rõ những vấn đề trên có thể dẫn đến hệ quả cao nhất của hoạt động chất vấn là bỏ phiếu tín nhiệm người bị chất vấn. Ở Việt Nam, văn bản điều chỉnh vấn đề này là Nghị quyết số 85/2014/QH13 ngày 28-11-2014 của Quốc hội khóa XIII về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Do đó, tác dụng lớn nhất của chất vấn là tạo nên một sức ép áp đặt trách nhiệm lên những người trả lời chất vấn. Chất vấn là nhằm để các cá nhân nắm chức vụ trong các cơ quan nhà nước luôn cảm thấy áp lực đó mà làm việc tốt hơn.

Hệ quả chính trị của chất vấn, xét ở một khía cạnh nào đó, là sự cảnh báo của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương về một vấn đề hay một tình trạng cần được lưu ý giải quyết. Sự cảnh báo này nhằm nâng cao tính dự đoán và trách nhiệm phải nhìn nhận trước vấn đề của các cơ quan quản lý nhà nước.

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác, chất vấn mang lại hệ quả xã hội to lớn, thường là có tác động rộng rãi hơn hệ quả chính trị. Chất vấn thu hút sự chú ý rộng rãi của công luận về vấn đề nào đó, do đó tạo sức ép buộc cơ quan nhà nước, người đứng đầu cơ quan nhà nước phải giải quyết vấn đề nhanh hơn, tuân thủ pháp luật hơn. Việc truyền hình, truyền thanh trực tiếp và các bình luận của báo chí về những phiên trả lời chất vấn của người bị chất vấn luôn tạo nên luồng công luận mạnh mẽ và gây áp lực xã hội to lớn. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

1.4. Các bảo đảm cho hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh

1.4.1. Các quy định pháp luật

Các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, trong đó có hoạt động chất vấn là cơ sở pháp lý cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện vai trò, chức năng và nhiệm vụ của mình. Các quy định trong văn bản luật đã thể chế hóa sự hiến định của Hiến pháp đối với hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh.

Hiện nay, quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đã được xác định khá rõ ràng, đầy đủ trong Hiến pháp năm 2013 và đạo luật về hoạt động giám sát là Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015. Điểm lại lịch sử hình thành chế định về quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân nói chung, của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng trong các bản Hiến pháp của Việt Nam cho thấy: Hiến pháp năm 1980 quy định tại Điều 120: “Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nước khác của địa phương. Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân trong thời hạn do luật định”. Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 về cơ bản quy định như Hiến pháp năm 1980, nhưng đối tượng bị chất vấn được mở rộng hơn, cụ thể là Điều 122 quy định: “Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và thủ trưởng các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân trong thời hạn do luật định”. Nội dung quy định về chất vấn trong khoản 2 Điều 115 Hiến pháp năm 2013 cơ bản giữ nguyên như Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 (nhưng không quy định Chủ tịch Hội đồng nhân dân là người bị chất vấn). Như vậy, kể từ khi thành lập nước (đầu tiên là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), qua 5 lần thay đổi Hiến pháp, quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh được quy định rõ ràng, đầy đủ qua 3 bản Hiến pháp năm 1980, năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 và năm 2013 (Hiến pháp năm 1946 và năm 1959 do những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã chưa đề cập đến quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân; Hiến pháp năm 1946 mới có quy định Bộ trưởng trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất vấn của Nghị viện hoặc của Ban Thường vụ tại Điều thứ 55; Hiến pháp năm 1959 chỉ quy định về quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ tại Điều 59). Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 2013, có ý kiến băn khoăn rằng liệu quy định quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân đối với Chánh án Tòa án nhân dân có ảnh hưởng đến tính độc lập trong xét xử của Tòa án trong quá trình thực thi quyền tư pháp của mình không và đề nghị không nên quy định đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp. Song, Hiến pháp năm 2013 được ban hành vẫn quy định quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân với Chánh án Tòa án nhân dân. Lý giải vấn đề này, một số chuyên gia, nhà khoa học cho rằng, quy định quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân đối với Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp là phù hợp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta (tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân), phù hợp với tính chất đại biểu nhân dân của các đại biểu Hội đồng nhân dân. Bảo đảm tính độc lập trong xét xử của Tòa án không hề mâu thuẫn với việc hoạt động xét xử của Tòa án (Tòa án thực hiện quyền tư pháp) cũng cần phải được kiểm soát, người đứng đầu cơ quan Tòa án cùng cấp cũng cần phải trả lời về trách nhiệm của họ đối với những vi phạm pháp luật, những biểu hiện yếu kém, trì trệ, không thi hành nghiêm chỉnh, thi hành không đến nơi, đến chốn các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, không thực hiện hoặc có thái độ xem thường các kiến nghị xác đáng của Thường trực Hội đồng nhân dân, biểu hiện tham ô, tham nhũng…xảy ra thuộc lĩnh vực thẩm quyền quản lý. Thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đã được quy định cụ thể, chi tiết tại Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015 và Luật Tổ chức CQĐP 2015. Ngoài ra, hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh còn được điều chỉnh bởi Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân 2005 (ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02-4-2005. Căn cứ vào Quy chế này, Hội đồng nhân dân các địa phương có thể xây dựng Quy chế hoạt động của mình phù hợp tình hình cụ thể của địa phương), nội quy các kỳ họp, chương trình hoạt động toàn khóa của Hội đồng nhân dân tỉnh. Giai đoạn trước khi có Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 không có mục riêng quy định về hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân (trong đó có chất vấn) mà lồng ghép nội dung này vào trong các quy định về quyền và trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân. Riêng về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015 lần đầu tiên có những quy định mới thể hiện sự rõ ràng, cụ thể, đầy đủ và hoàn thiện hơn như: khẳng định quyền chất vấn trực tiếp của đại biểu Hội đồng nhân dân đối với người bị chất vấn; quy định cụ thể, đầy đủ, rõ ràng hơn về nội dung chất vấn; đã bổ sung thêm về trình tự, thủ tục chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tại cả kỳ họp Hội đồng nhân dân lẫn phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân; đã quy định về yêu cầu công khai phiên chất vấn; đã quy định về các trường hợp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân cho trả lời chất vấn bằng văn bản; đã quy định về trách nhiệm và thời gian người đã trả lời chất vấn gửi báo cáo việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại kỳ họp trước đến Thường trực Hội đồng nhân dân để chuyển đến các đại biểu Hội đồng nhân dân. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Việc ra đời Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015 đã đánh dấu bước phát triển ngày một hoàn thiện hơn trong quy định của pháp luật về hoạt động giám sát nói chung và hoạt động chất vấn nói riêng của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh như Tờ trình số 09/TTr-BST ngày 17-01-2015 của Ban soạn thảo Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân về dự án Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân đã chỉ rõ: “Để bảo đảm thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể chế hoá các quy định liên quan đến hoạt động giám sát trong Hiến pháp năm 2013…, đồng thời khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về giám sát trong Luật Hoạt động giám sát của QH, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và ban hành một đạo luật chung về hoạt động giám sát của QH, Hội đồng nhân dân là thực sự cần thiết để khắc phục tình trạng quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân còn trùng lặp, chưa rõ ràng về trình tự, thủ tục thực hiện, nhiều quy định về hình thức giám sát chưa được thực thi hoặc tính khả thi còn thấp, như quy định về việc Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân mới được thực hiện đã phát huy hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cuộc sống như tổ chức phiên giải trình, tổ chức chất vấn giữa hai kỳ họp… chưa được ghi nhận trong các quy định của luật; một số thẩm quyền… được quy định trong các đạo luật về tổ chức nhưng không có trình tự, thủ tục thực hiện trong luật hoạt động giám sát. Ngoài ra, trong Luật này còn luật hóa các quy định về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đã được thể hiện trong Nghị quyết số 85/2014/QH13 để thể hiện cho thống nhất đồng thời, pháp điển hóa các quy định về hoạt động chất vấn trong các văn bản pháp luật khác như nội quy kỳ họp Hội đồng nhân dân, quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân. Theo đó, Luật được ban hành đã sớm đi vào cuộc sống mà không phải chờ sửa đổi các văn bản khác có liên quan hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành” [2].

1.4.2. Tổ chức bộ máy hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh

Để thực hiện tốt hoạt động chất vấn đòi hỏi Hội đồng nhân dân tỉnh phải có tổ chức bộ máy hoạt động khoa học, linh hoạt, năng động và hiệu quả, thể hiện ở sự chuyên nghiệp, phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân, Chủ tọa kỳ họp Hội đồng nhân dân là những yếu tố quan trọng, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, Đoàn thư ký kỳ họp, bộ phận giúp việc.

Thực tế cho thấy, bất kỳ một cơ quan nào, nếu có tổ chức bộ máy hợp lý và đồng bộ sẽ tạo nên guồng máy làm việc nhịp nhàng và mang lại hiệu quả cao. Ví dụ: Phiên chất vấn sẽ có chất lượng hơn nếu các đại biểu Hội đồng nhân dân đưa ra được những câu hỏi xác đáng trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu kỹ vấn đề, Thường trực Hội đồng nhân dân phát huy vai trò trong việc chỉ đạo tập hợp các tư liệu và các phóng sự truyền hình để minh họa phục vụ phiên chất vấn và trả lời chất vấn, xác định vấn đề chất vấn và thời gian chất vấn phù hợp, Chủ tọa kỳ họp chủ động, linh hoạt trong điều hành kỳ họp, sắc sảo, bản lĩnh trong xử lý tình huống, bộ máy giúp việc chuyên nghiệp trong việc chọn lọc ý kiến có giá trị, xử lý và tổng hợp nhanh kịp thời chuyển tới Chủ tọa và Đoàn thư ký kỳ họp… Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Vai trò của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân rất quan trọng đối với việc tạo điều kiện, cung cấp thông tin, nhất là những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến từng đại biểu Hội đồng nhân dân; thực hiện công tác phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp; tổ chức để đại biểu tiếp xúc cử tri; hướng dẫn và tạo điều kiện cho đại biểu làm tốt việc tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến đại biểu; thực hiện công tác tập huấn kỹ năng hoạt động đại biểu dân cử, tạo những điều kiện vật chất cho hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân… đặc biệt là xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân. Các Ban của Hội đồng nhân dân tiến hành thẩm tra các báo cáo, tổ chức các cuộc khảo sát, giám sát; các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành thảo luận, tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện hoạt động giám sát (trong đó có hoạt động chất vấn).

Trong mỗi phiên chất vấn của Hội đồng nhân dân tỉnh, chủ tọa kỳ họp là người điều hành, là người cầm cân nảy mực giúp cho phiên chất vấn được thực hiện đúng quy định của pháp luật, thể hiện tính nền nếp, chuyên nghiệp, hiệu quả. Pháp luật không có nhiều quy định về chủ tọa phiên họp chất vấn ngoài điểm a khoản 3 Điều 53 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân 2005: “Chủ tọa phiên họp nêu những vấn đề chất vấn và thứ tự trả lời chất vấn”, song từ những quy định liên quan đến hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân có thể thấy chủ tọa phiên chất vấn là người dẫn chương trình, là trung tâm trong quá trình chất vấn. Chủ tọa có trách nhiệm gợi mở nội dung, cách thức để các đại biểu tham gia chất vấn sôi nổi, nhiệt tình. Chủ tọa cũng có trách nhiệm kiểm soát để tránh việc hỏi và trả lời quá nóng hoặc quá lan man, không đi đúng trọng tâm. Vì vậy cần phát huy trách nhiệm, vai trò của người điều hành để bảo đảm cho các phiên chất vấn được thực hiện dân chủ, cởi mở, thẳng thắn với tinh thần trách nhiệm cao của đại biểu cũng như của người trả lời chất vấn.

1.4.3. Năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm thực hiện hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và thái độ, trách nhiệm của người trả lời chất vấn Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố (thể chế pháp luật, tổ chức bộ máy Hội đồng nhân dân như đã đề cập ở trên), trong đó, yếu tố quan trọng nhất là chất lượng của từng đại biểu Hội đồng nhân dân vì theo quy định của pháp luật “Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý Nhà nước”. Dù tổ chức bộ máy giúp việc cho Hội đồng nhân dân, hỗ trợ cho đại biểu Hội đồng nhân dân có tiên tiến đến đâu, thể chế dù có hoàn thiện đến mấy, xét đến cùng yếu tố quyết định vẫn là đại biểu Hội đồng nhân dân. Để là người đại diện thật sự cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, mỗi vị đại biểu Hội đồng nhân dân phải thực hiện tốt, hiệu quả việc tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, nghiên cứu đơn thư yêu cầu, khiếu nại, tố cáo của công dân, đôn đốc cơ quan chức năng giải quyết đúng pháp luật, làm tốt vai trò giám sát và tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân một cách xác đúng, hợp lòng dân; luôn phấn đấu rèn luyện giữ vững phẩm chất của người đại biểu dân cử; dành thời gian thỏa đáng cho hoạt động của người đại biểu, xem đây là nhiệm vụ hệ trọng mà nhân dân giao cho.

Để thực hiện được hoạt động chất vấn, đại biểu Hội đồng nhân dân cần phải có kỹ năng. Do phần lớn số đại biểu Hội đồng nhân dân là hoạt động không chuyên trách, không mang tính chuyên nghiệp, không thường xuyên, lại biến động sau mỗi nhiệm kỳ bầu cử; đại biểu được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trình độ khác nhau và điều kiện tham gia vào hoạt động Hội đồng nhân dân cũng không giống nhau; nên đòi hỏi đại biểu Hội đồng nhân dân cần phải được bồi dưỡng kỹ năng hoạt động đại biểu mới đem lại chất lượng hiệu quả hoạt động cao. Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân đòi hỏi kỹ năng tiếp xúc cử tri, kỹ năng chất vấn, kỹ năng thu thập, phân tích và xử lý thông tin, kỹ năng giám sát, kỹ năng đánh giá kỹ năng xây dựng chương trình hoạt động. Trong đó kỹ năng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân phản ánh trình độ, năng lực, sự hiểu biết, nghệ thuật chất vấn của đại biểu; cần phải chú ý chất vấn là một hoạt động thuộc về phạm trù hoạt động giám sát của đại biểu, do vậy, người đại biểu phải lựa chọn câu hỏi chất vấn hết sức thận trọng, câu hỏi đúng trọng tâm, khúc chiết và dứt khoát, những bằng chứng, những thông tin, những dữ liệu trong câu chất vấn phải mang tính xác thực, có địa chỉ rõ ràng, đúng với đối tượng bị chất vấn. Trước khi chất vấn vấn đề gì, nội dung gì, đòi hỏi người đại biểu phải tìm hiểu thật kỹ vấn đề, nội dung cần chất vấn, thu thập các thông tin, các bằng chứng xác thực. Câu hỏi, chất vấn của đại biểu thường gắn với hệ quả pháp lý, buộc đối tượng bị chất vấn phải giải trình rõ ràng cái đúng, cái sai và xác định rõ trách nhiệm pháp lý trước Hội đồng nhân dân, trước cử tri và trước đại biểu. Để bảo đảm và nâng cao hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, cần phải có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và tầm quan trọng của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của người đại biểu Hội đồng nhân dân, phải bồi dưỡng những kiến thức kỹ năng chất vấn, phương thức hoạt động trong các cơ quan dân cử. Đại biểu Hội đồng nhân dân phải tham gia đầy đủ các buổi tiếp xúc cử tri, hiểu rõ mục đích, yêu cầu chất vấn, kỹ năng thu thập, phân tích, xử lý thông tin, kỹ năng đặt câu hỏi “trúng và đúng” vấn đề chất vấn. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Có năng lực, phẩm chất chưa đủ, một yếu tố bảo đảm cho hoạt động chất vấn là các đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện đúng và đầy đủ phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của người đại biểu dân cử. Điều này được thể hiện qua khả năng của Hội đồng nhân dân nói chung và đặc biệt là khả năng của từng đại biểu Hội đồng nhân dân nói riêng trong việc đi sâu chất vấn những vấn đề bất cập, gây bức xúc dư luận, quy kết trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan bị chất vấn. Ngoài ra ở đây còn có sự đánh giá mức độ bảo vệ quyền và lợi ích của cử tri và thái độ đấu tranh chống các hành vi phạm pháp luật của các cá nhân bị chất vấn. Điều này thể hiện ở khả năng của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc phản ánh chính xác các kiến nghị, nghi vấn, bức xúc của cử tri cho các cá nhân, cơ quan bị chất vấn, thể hiện tâm tư, thái độ và nguyện vọng của cử tri. Ở khía cạnh này, chất vấn được bao đảm khi các đại biểu Hội đồng nhân dân ý thức được đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình, có khả năng sử dụng đúng và tối đa thẩm quyền mà mình được trao, có kỹ năng chất vấn và có thái độ kiên quyết trong quá trình thực hiện hoạt động chất vấn. Đây chính là thước đo khả năng đại diện và mức độ thực hiện chức năng đại diện của đại biểu Hội đồng nhân dân với cử tri. Từ một khía cạnh khác có thể thấy, chính hoạt động chất vấn đến lượt nó tác động trở lại tới đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh ở chỗ nếu câu hỏi chất vấn thể hiện đại biểu Hội đồng nhân dân đã sâu sát vấn đề, tìm hiểu kỹ càng vấn đề, đưa ra được những câu hỏi buộc người bị chất vấn phải giải trình làm rõ, phải có biện pháp giải quyết để tạo sự chuyển biến cho vấn đề trên thực tế, thỏa mãn yêu cầu của cử tri thì khi đó đại biểu Hội đồng nhân dân sẽ thể hiện rõ được vai trò, trách nhiệm của mình trước nhân dân, thể hiện rõ sự hoàn thành trọng trách được cử tri giao phó và giành được sự tín nhiệm của nhân dân.

Một yếu tố nữa tác động đến hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh là trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị đại biểu công tác trong việc hỗ trợ, nhất là về thời gian để đại biểu có điều kiện hoạt động vì đa phần đại biểu Hội đồng nhân dân hiện nay là hoạt động không chuyên trách. Hoạt động đại biểu không đơn thuần chỉ dự các kỳ họp, tiếp xúc cử tri mà cần có quỹ thời gian nhất định để nghiên cứu chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nắm tình hình kinh tế – xã hội, đời sống nhân dân, các yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để hoạt động của mỗi vị đại biểu tại các kỳ họp, tại các buổi tiếp xúc cử tri và nhất là trong đăng đàn chất vấn đạt chất lượng cao hơn, bảo đảm thực hiện tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế – xã hội của địa phương và chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan, người đứng đầu các cơ quan nhà nước ở địa phương.

Thái độ, trách nhiệm của người trả lời chất vấn cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động chất vấn. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003 có những quy định rất ngắn gọn về trách nhiệm của người trả lời chất vấn như: “Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn” (Điều 41), “Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ về các nội dung mà đại biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục” (điểm a khoản 3 Điều 61 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003; điểm b khoản 3 Điều 53 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân 2005). Cơ bản kế thừa các quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, điểm b khoản 3 Điều 60, điểm b khoản 2 Điều 69 Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015 quy định: “Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vào vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay; xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập (nếu có)”. Ngoài ra, Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân 2005 còn quy định cụ thể về thời gian trả lời chất vấn: Thời gian trả lời chất vấn của người trả lời chất vấn do Chủ tọa phiên họp báo cáo Hội đồng nhân dân quyết định; thời gian trả lời chất vấn về từng vấn đề không quá mười lăm phút, trong trường hợp đặc biệt do Chủ tọa phiên họp quyết định (Điều 53 Quy chế). Qua các quy định của pháp luật có thể thấy, trả lời chất vấn cũng là vấn đề rất quan trọng, có tính quyết định đối với ý nghĩa và mục đích của quyền chất vấn. Việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn phải tuân thủ những yêu cầu có tính nguyên tắc, được bảo đảm về mọi mặt (như trình tự, thủ tục, thời gian, hình thức chất vấn…); người trả lời chất vấn phải trả lời tất cả các ý kiến mà đại biểu đã chất vấn. Nội dung trả lời phải trọng tâm, ngắn gọn, không phân tích viện dẫn các lý do dài dòng. Việc trả lời chất vấn cũng phụ thuộc nhiều vào ý thức, thái độ, trách nhiệm trả lời chất vấn, thực hiện nghị quyết về chất vấn của người bị chất vấn. Ý thức, thái độ đó thể hiện nếu đại biểu phê bình về tinh thần trách nhiệm, tiến độ giải quyết chậm thì người bị chất vấn bình tĩnh nêu rõ tình hình, những vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết; tiếp thu nghiêm túc, có thái độ thiện chí, cầu thị, làm rõ trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể; nếu hứa giải quyết vấn đề nào đó thì nêu rõ phương án, lộ trình thực hiện cụ thể, giải pháp cụ thể và thời gian sẽ hoàn thành để đại biểu và cử tri giám sát. Người trả lời chất vấn phải đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật (phải là thủ trưởng cơ quan), trường hợp có lý do chính đáng mới ủy quyền cho cấp phó trả lời thay và phải được Hội đồng nhân dân đồng ý.

1.4.4. Xây dựng, chuẩn bị, thực hiện kế hoạch, chương trình chất vấn, giám sát sau chất vấn và sự tham gia của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh cùng Uỷ ban nhân dân tỉnh Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Xây dựng kế hoạch, chương trình và nội dung chất vấn sát hợp, linh hoạt cũng như việc thực hiện nhịp nhàng, chuyên nghiệp là điều kiện để bảo đảm sự chủ động cho Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, qua đó tạo điều kiện tốt nhất cho phiên chất vấn và trả lời chất vấn có được kết quả. Nếu không có sự chuẩn bị trước và tạo môi trường cho hoạt động chất vấn thì hoạt động này rất dễ rơi vào hình thức với nội dung chung chung, không đúng với tính chất và mức độ của vấn đề cần chất vấn. Chương trình, nội dung chất vấn phải có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những vấn đề thiết thực, bức xúc được đa số đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành và được đông đảo cử tri ở địa phương quan tâm. Nếu việc thực hiện chất vấn không theo đúng kế hoạch, chương trình, không có tính nghiêm túc, chuyên nghiệp thì chất vấn cũng sẽ không có kết quả. Nếu sau chất vấn mà nghị quyết về chất vấn, những lời hứa của người bị chất vấn không được giám sát, đôn đốc thực hiện, bị bỏ ngỏ thì việc chất vấn sẽ chỉ là hình thức và còn làm mất uy tín của đại biểu Hội đồng nhân dân, của Hội đồng nhân dân trước cử tri. Vai trò của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của HĐND và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh thể hiện rất rõ trong xây dựng, chuẩn bị, thực hiện kế hoạch, chương trình, nội dung chất vấn và giám sát sau chất vấn như Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh tổng hợp câu hỏi chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh để báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh, quyết định cho trả lời tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc cho trả lời bằng văn bản gửi đến đại biểu đã chất vấn và Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, quyết định thời hạn chất vấn, phân công Ban của Hội đồng nhân dân chuẩn bị dự thảo nghị quyết về chất vấn,Thường trực Hội đồng nhân dân tổ chức tạo những điều kiện vật chất cho phiên chất vấn…

Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân đặt trong tổng thể hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân chịu tác động từ mối quan hệ hoạt động giữa Hội đồng nhân dân với Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh. Trong hoạt động chất vấn của mình, Hội đồng nhân dân quyết định nội dung chất vấn theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân trình trên cơ sở các kiến nghị của các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri địa phương. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tạo điều kiện để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng và kiến nghị của nhân dân với Hội đồng nhân dân. Có thể thấy, hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân luôn cần có sự phối hợp của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc đưa ra ý kiến, kiến nghị trong hoạt động chất vấn; tạo điều kiện cho đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc cử tri, thu thập thông tin, ý kiến cử tri về vấn đề đại biểu Hội đồng nhân dân quan tâm hoặc được đề nghị giám sát, chất vấn; tác động đến người bị giám sát, bị chất vấn thông qua việc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát, chất vấn báo cáo bằng văn bản; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung giám sát, chất vấn; xem xét khách quan, khoa học những vấn đề liên quan đến nội dung giám sát, chất vấn; tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung kiến nghị sau giám sát, chất vấn; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân không giải quyết hoặc giải quyết không đúng quy định của pháp luật, làm cơ sở cho hoạt động chất vấn; giám sát việc thực hiện các nghị quyết, lời hứa tại phiên chất vấn của người bị chất vấn làm cơ sở cho việc chất vấn lại…

Từ một khía cạnh khác, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc có tác động tới hoạt động chất vấn thông qua việc tác động đến đại biểu Hội đồng nhân dân – những người trực tiếp tiến hành hoạt động chất vấn, cụ thể, Điều 72 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân 2005 quy định: Thường trực Hội đồng nhân dân phối hợp với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp theo dõi hoạt động của đại biểu và giúp đại biểu Hội đồng nhân dân làm nhiệm vụ đại biểu. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận thường xuyên giám sát tiêu chuẩn đại biểu và việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân theo quy định của pháp luật. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hoạt động của Ủy ban nhân dân ảnh hưởng đến hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân thể hiện qua việc Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp (Điều 2 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, Điều 8 Luật Tổ chức CQĐP 2015), Ủy ban nhân dân (cơ quan chịu sự giám sát, trong đó có hoạt động chất vấn) có trách nhiệm thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát của chủ thể giám sát; báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giám sát (HĐND, đại biểu Hội đồng nhân dân); nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết về giám sát của Hội đồng nhân dân, thực hiện kết luận, kiến nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân. Ủy ban nhân dân có trách nhiệm gửi quyết định mà mình đã ban hành đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp có liên quan. Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát (trong đó có chất vấn) có trách nhiệm trực tiếp báo cáo, trình bày những vấn đề mà chủ thể giám sát yêu cầu. Trong nhiệm kỳ, hoạt động của Hội đồng nhân dân được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân và của cả Ủy ban nhân dân (Điều 7 Luật Hoạt động giám sát của QH và Hội đồng nhân dân 2015).

Kết luận Chương 1

Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương; liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước. Thực hiện vai trò và nhiệm vụ đó, đại biểu Hội đồng nhân dân có thẩm quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước cùng những người đứng đầu các cơ quan đó. Chất vấn là một trong những hình thức giám sát quan trọng mà đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện, có mục đích làm rõ, quy kết trách nhiệm của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước ở địa phương đối với những vi phạm pháp luật, những biểu hiện yếu kém, trì trệ, không thi hành nghiêm chỉnh, hoặc thi hành không đến nơi, đến chốn các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, không thực hiện hoặc có thái độ xem thường các kiến nghị xác đáng của Thường trực Hội đồng nhân dân, biểu hiện tham ô, tham nhũng…xảy ra thuộc lĩnh vực thẩm quyền quản lý. Tác dụng lớn nhất của chất vấn là tạo nên một sức ép áp đặt trách nhiệm lên những người trả lời chất vấn. Chất vấn là nhằm để các cá nhân nắm chức vụ trong các cơ quan nhà nước luôn cảm thấy áp lực đó mà làm việc tốt hơn. Vì lý do đó mà chất vấn được coi là một hình thức giám sát mạnh nhất của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Qua hoạt động chất vấn, cử tri có thể nhìn nhận và đánh giá đại biểu Hội đồng nhân dân có xứng đáng với sự tin cậy trao quyền đại diện của mình hay không. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giúp nhận thức rõ về vai trò, tác dụng của hoạt động này trong đời sống chính trị ở địa phương, từ đó chúng ta có thể rút ra những định hướng, giải pháp nhằm bảo đảm cho hoạt động này. Luận văn: Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464