Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát về tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và phát triển KT-XH nói chung
Tân Sơn là một trong 62 huyện nghèo của cả nước được thành lập theo Nghị định số 62/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn – tỉnh Phú Thọ. Huyện Tân Sơn có diện tích tự nhiên 68.858 ha với 17 xã, 195 khu dân cư, dân số gần 84 nghìn người với 20132 hộ dân. Trong đó dân tộc thiểu số chiếm 82.3%, gồm 18 dân tộc anh em, chủ yếu là dân tộc Mường chiếm 76%; dân tộc Kinh chiếm 17.2%, dân tộc Dao chiếm 5.8%; dân tộc H,Mông chiếm 0.57% và các dân tộc anh em khác như: Dân tộc Tày, Nùng, La Chí, Thái, Hoa…. cùng sinh sống hòa đồng trong các bản Mường, Dao. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Tân Sơn là nơi có vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ phía Tây của tỉnh Phú Thọ, có quốc lộ 32A chạy qua. là cầu nối quan trọng trong giao lưu kinh tế – văn hóa xã hội với các trung tâm kinh tế chính trị như: Hà Nội, Thành phố Việt Trì, các tỉnh Đồng Bằng Bắc Bộ và các tỉnh miền Tây Bắc Tổ quốc.
Sau khi thành lập huyện, được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp lãnh đạo từ Trung ương, các Bộ ngành và tỉnh Phú Thọ, tình hình kinh tế – xã hội huyện Tân Sơn đã có nhiều khởi sắc, đời sống của nhân dân ngày một được cải thiện. Tỉ lệ hộ nghèo giảm đáng kể từ 62% năm 2007 xuống còn 19,43% năm 2015. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm: 11 %, thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 15,2 triệu, lương thực bình quân đầu người đạt 450 kg, an ninh chính trị được ổn định và giữ vững.
Về văn hóa GD huyện Tân Sơn đã đạt được những kết quả hết sức quan trọng: Từ năm 2002 huyện đã đạt phổ cập GDTH – đúng độ tuổi, năm 2003 đạt phổ cập GDTHCS. Quy mô mạng lưới trường lớp được giữ vững và phát triển, cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng đảm bảo có đủ lớp học và nhà công vụ GV. Có 17/17 trạm y tế xã đạt chuẩn, 100 % số khu dân cư có nhà văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,16%.
Trong thời gian tới, với sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, các tổ chức xã hội, các cá nhân trong và ngoài nước, đặc biệt là tinh thần đoàn kết, nhất trí, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất của Đảng bộ và nhân dân huyện Tân Sơn sẽ nhanh chóng phát triển và thoát nghèo.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục
2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục và đào tạo Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Trước năm 2007, Cơ bản các xã của huyện là các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 giai đoạn 2, là vùng lõm về chất lượng của huyện Thanh Sơn, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trên 30%; tỷ lệ HS THCS bỏ học hàng năm khoảng 2% đội ngũ GVTHiếu số lượng và cơ cấu bộ môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học thiếu chưa đáp ứng đủ nhu cầu học tập của nhân dân, HS; toàn huyện có 51 cơ sở GD, trong đó: 17 trường Mầm non, 16 trường TH, 14 trường THCS; 02 trường TH&THCS, 01 trường THPT, 01 trường THPT có nhiều cấp học; có 02 trường TH đạt chuẩn Quốc gia; có 216 phòng học tạm; thiếu 272 nhà ở công vụ GV; 100 % các trường Mầm non, TH, THCS chưa có nhà điều hành đúng tiêu chuẩn; bậc học mầm non và cấp TH còn nhiều điểm trường lẻ, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ GV bậc học mầm non là 1/nhóm trẻ, nhóm lớp; 100% GV hợp đồng; tỷ lệ GV cấp TH là 0,9 GV/lớp (nhiều trường phải dạy ghép, dạy treo, học 2 ca); tỷ lệ GVTHCS là 1,5 GV/lớp.
Từ khi thành lập huyện đến nay, quy mô trường lớp, HS phát triển nhanh chóng, đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân, HS ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi. Tính đến thời điểm hiện tại, đã thành lập thêm: 02 trường Mầm non, 01 trường TH, 1 trường THCS, 1 trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS huyện, 01 trung tâm GD nghề nghiệp, củng cố hoạt động của 17 trung tâm học tập cộng đồng ở các xã; giảm số lượng lớp ghép, đưa HS từ các khu lẻ về trung tâm học tập, 100% các trường Mầm non đã có bếp ăn bán trú, tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 10%, 17 xã trên địa bàn huyện đạt chuẩn phổ cập GD mầm non cho trẻ em 5 tuổi năm 2012; duy trì và nâng cao tỷ lệ các tiêu chuẩn phổ cập GDTH, phổ cập GDTHCS, 100% HS trong độ tuổi TH ra lớp; tỷ lệ HS THCS bỏ học còn 0,2%;
Tập trung xây dựng, phát triển các nhà trường theo hướng chuẩn hóa, kiên cố hóa: Hiện tại 272 nhà công vụ GV, 216 phòng học đã được kiên cố hóa; 44/53 trường đã có nhà điều hành; 34/53 trường học được công nhận trường chuẩn Quốc gia; hàng năm tạo điều kiện cho 60-70 GV đi học tập để nâng cao trình độ; tỷ lệ GV MN dạy lớp 5 tuổi đạt 2 GV/lớp; tỷ lệ GVTH: 1,2 GV/lớp (đối với các trường đạt chuẩn 1,5 GV/lớp); tỷ lệ GVTHCS đạt 1,9 GV/lớp; 99,99% GV đạt trình độ từ chuẩn trở lên; 100% CBQL, GV đạt chuẩn hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, chuẩn nghề nghiệp GV.
2.2. Giới thiệu về khảo sát Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
2.2.1. Mục đích khảo sát
Xác định cơ sở thực tiễn đề xuất các biện pháp quản lý BDĐNGVTH của huyện Tân sơn
2.2.2. Nội dung khảo sát
2.2.2.1. Tìm hiểu về thực trạng đội ngũ GVTH huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ.
2.2.2.2. Tìm hiểu về thực trạng hoạt động BDĐNGVTH huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ.
2.2.2.3. Tìm hiểu về thực trạng quản lý hoạt động BDĐNGVTH huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ.
2.2.3. Phương pháp khảo sát
Bằng phỏng vấn trực tiếp sâu 20 đối tượng là Hiệu trưởng, hiệu phó và 30 GV các trường TH về vấn đề: ”Theo thầy/cô để thực hiện tốt hoạt động BD cần các điều kiện gì? Vì sao?”
Bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu ý kiến chia làm 2 loại: Dành cho đối tượng là cán bộ quản lý và dành cho GV gồm các câu hỏi đóng/mở, nửa đóng nửa mở về hoạt động BDĐNGVTH huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ.
2.2.4. Đối tượng khảo sát
- 5 cán bộ phòng GD và ĐT huyện
- 10 Hiệu trưởng
- 20 Hiệu phó
- 200 GVTHuộc các trường TH huyện Tân Sơn
2.3. Kết quả khảo sát: Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
2.3.1 Thực trạng GDTH Huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ
2.3.1.1. Tổng quan GDTH Huyện Tân Sơn
Hệ thống trường lớp và HS.
Hệ thống trường, lớp huyện Tân Sơn năm học 2014-2015 là 51 trường, 100% là trường công lập. Từ khi thành lập huyện tăng 4 trường, số trường tăng là do tách 02 trường Mầm non: Trường mầm non Thu Cúc thành 02 trường mầm non Thu Cúc 1 và trường mầm non Thu Cúc 2; Trường Mầm non Mĩ Thuận thành 02 trường mầm non Mĩ Thuận 1 và trường mầm non Mĩ Thuận 2; tách trường TH Mĩ Thuận thành 02 trường TH Mĩ Thuận 1 và trường TH Mĩ Thuận 2 và Thành lập trường Phổ thông dân tộc nội trú THCS
Số lớp 783 với 16702 HS. Trong đó: Mầm non có 255 lớp với 5713 trẻ; TH có 362 lớp với 6632 HS; THCS có 164 lớp với 4219 HS. Tỉ lệ tuyển sinh đầu cấp đạt cao từ 98% đến 100%, HS TH hoàn thành chương trình TH đạt 99,8%, HS tốt nghiệp THCS đạt 98,6%. Chất lượng GD toàn diện được nâng cao tạo được niềm tin với chính quyền địa phương và phụ huynh HS.
Bảng 2.1. Số lượng HS từ năm học 2011-2012 đến năm học 2014-2015
Đối với bậc TH huyện Tân Sơn số lượng HS ra lớp hàng năm đều tăng, tỉ lệ huy động HS ra lớp cao tỉ lệ đạt từ 98% – 100%, không có HS bỏ học, nhiều khu ở cách xa trung tâm tới 14 km, phải xây dựng và tổ chức các khu, điểm lẻ, tổ chức lớp ghép để thuận lợi cho HS đến trường học tập và tham gia các phong trào của nhà trường
Bảng 2.2: Số liệu lớp, học sinh tiểu học từ năm học 2011-2012 đến năm học 2014-2015
Về chất lượng GD.
Thực hiện chỉ thị nhiệm vụ năm học của Bộ GD&ĐT, các văn bản hướng dẫn về việc thực hiện nhiệm vụ năm học của sở GD&ĐT tỉnh Phú Thọ, phòng GD&ĐT huyện Tân Sơn tổ chức triển khai, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả kế hoạch phát triển GD hằng năm của huyện, trong đó có công tác quản lý hoạt động BDGV. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Chất lượng GD đạo đức:
Ngay đầu năm học phòng GD&ĐT đã chỉ đạo các trường TH thực hiện tốt chương trình môn học GD đạo đức, nâng cao chất lượng các giờ thực hành đạo đức cho HS. Phối hợp tốt với các cơ quan, đoàn thể, phụ huynh cùng tham GD HS. Số lượng HS hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ hoặc đạt yêu cầu hàng năm đạt từ 99 -100%. Từ năm học 2011- 2012 đến năm học 2013 – 2014 đánh giá hạnh kiểm HS theo Quyết định số 32/QĐ-BGD& ĐT; Năm học 2014 – 2015 theo Thông tư số 30/TT-BGD& ĐT
Bảng 2.3: Xếp loại hạnh kiểm HS TH từ năm học 2011- 2012 đến năm học 2013-2014
Chất lượng văn hóa:
Phòng GD&ĐT chỉ đạo các trường TH thực hiện nghiêm túc chương trình giảng dạy các môn học theo quy định, tổ chức tốt việc sinh hoạt chuyên môn, các chuyên đề, hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học các môn học, đánh giá xếp loại HS đúng quy định. Đa số HS nắm các kiến thức cơ bản của môn học, chất lượng GD từng năm được nâng lên, số HS không đạt yêu cầu giảm, không còn HS ngồi nhầm lớp.
Mặc dù chất lượng GD toàn diện đã được nâng lên đáng kể, song vẫn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh, số HS yếu kém còn cao, số HS khá, giỏi thấp. Ở các trường TH có nhiều khu, điểm trường lẻ và trường ở thuộc xã vùng cao của huyện như trường TH&THCS Xuân Sơn có 8 lớp TH với 68 HS nhưng 100% là lớp ghép 2 đến 3 trình độ, nhiều năm không có HS giỏi cấp trường và cấp huyện, do đó đã phần nào ảnh đến kết quả chất lượng chung. Từ năm học 2011- 2012 đến năm học 2013 – 2014 đánh giá học lực HS theo Quyết định số 32/QĐ-BGD& ĐT; Năm học 2014 – 2015 đánh giá năng lực HS theo Thông tư số 30/TT-BGD& ĐT
Bảng 2.5. Xếp loại học lực HS TH từ năm học 2011- 2012 đến năm học 2013-2014
Bảng 2.6. Xếp loại học lực HS TH năm học 2014-2015
Chất lượng HS giỏi cấp huyện, cấp tỉnh:
Ngay từ đầu năm học phòng GD&ĐT huyện Tân Sơn đã xây dựng kế hoạch tổ chức các cuộc thi HS giỏi lớp 5, HS năng khiếu lớp 3,4 đối với các môn toán, tiếng việt và môn tiếng anh nhằm nâng cao chất lượng học tập của các em HS và tham gia đầy đủ các cuộc thi do sở GD&ĐT tổ chức. Các trường TH luôn tích cực trong công tác BD HS giỏi bằng nhiều hình thức, đẩy mạnh phong trào học tập, rèn luyện HS, số HS tham gia năm sau cao hơn năm trước, song tỉ lệ đạt giải cấp tỉnh chưa cao.
Nguyên nhân chủ yếu là do một số đơn vị trường TH chưa thực sự chú đến công tác phát hiện BD HS giỏi, không xây dựng kế hoạch và chỉ tiêu cụ thể ngay từ đầu năm học, nên những đơn vị này nhiều năm không có HS tham gia cấp tỉnh và đạt giải thấp ở cấp huyện.
Bảng 2.7. Kết quả HS giỏi cấp huyện và cấp tỉnh.
2.3.1.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ GVTH ở huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Thống kê và phân tích.
Bảng 2.8.Về đội ngũ cán bộ quản lí, GVTH năm học 2014-2015.
Đội ngũ GVTH huyện Tân Sơn luôn thiếu và không ổn định, hàng năm số GV xin chuyển ra huyện ngoài, tỉnh ngoài khá nhiều không những GV dạy môn văn hóa thiếu mà hầu hết các bộ môn đều thiếu. Do vậy, hằng năm để chuẩn bị tốt cho việc thực hiện nhiệm vụ năm học, phòng GD&ĐT đều phải báo cáo với Thường trực Huyện ủy, UBND huyện để thực hiện quy trình bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại CBQL đảm bảo chất lượng đội ngũ quản lí các trường trong công tác chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ các năm học và hợp đồng đủ số GVTHiếu ở tất cả các bộ môn (bình quân mỗi năm học huyện phải hợp đồng từ 100 đến 120 GVTH) để đảm bảo đủ GV cho việc dạy học ở tất cả các trường TH trên địa bàn, nâng dần chất lượng GD toàn diện.
Bảng 2.9.Trình độ đào tạo đội ngũ GVTH.
Từ 2 bảng 2.8; 2.9 về trình độ đào tạo và độ tuổi của CBQL, GVTH huyên Tân Sơn cho thấy, số GV có trình độ đạt chuẩn cao 100%, trong đó trên chuẩn (GV có trình độ ĐH, CĐ) là 74,35%, Đảng viên chiếm 48,9%. Đối với một huyện nghèo còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt thì tỉ lệ này cao so với mặt bằng chung của tỉnh, hiện nay đang có 81 GVTH đang theo học các lớp đại học tại chức. Đây là một điều kiện hết sức thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng GD. Song đa số đội ngũ CBQL, GV trẻ có lòng nhiệt tình, say mê với nghề nghiệp nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác GD và giảng dạy, đặc biệt do số lớp, số HS tăng, đội ngũ GVTH hàng năm chuyển công tác ra huyện ngoài nhiều, phải tuyển bổ sung, số tuyển mới đa số trẻ, chủ yếu là trình độ trung cấp, số GV hợp đồng ngắn hạn chỉ trong năm học (từ 01/9 năm trước đến 31/5 năm sau) nên hạn chế rất nhiều trong việc thực hiện giảng dạy theo phương pháp đổi mới, chưa có sự sáng tạo và linh hoạt trong việc soạn giảng phù hợp với trình độ nhận thức của HS. Đặc biệt là công tác BD cho đội ngũ này lại càng khó khăn hơn, vì BD thường tổ chức vào dịp hè số GV hợp đồng không được tham gia, ý thức tự học, tự BD chưa cao, nên tỷ lệ GV dạy giỏi ở các cấp thấp hơn rất nhiều so với tỉnh.
Bảng 2.11. Bảng tổng hợp kết quả thi GV dạy giỏi cấp huyện và cấp tỉnh
Từ năm học 2008-2009 GVTH thực hiện việc đánh giá, xếp loại theo chuẩn nghề nghiệp (đánh giá theo 3 lĩnh vực), với đánh giá này GVTH đã bao hàm chuẩn đào tạo ban đầu đồng thời bao hàm các mức độ, các yêu cầu với các tiêu chí ngày càng cao hơn để đo năng lực GV ở các nhà trường TH trong việc dạy học và thực hiện các nhiệm vụ GD. Dưới đây đây là kết quả đánh giá GVTH theo chuẩn nghề nghiệp
Bảng 2.12. Kết quả xếp loại GVTH theo chuẩn nghề nghiệp.
Việc đánh giá GVTH theo chuẩn nghề nghiệp (Điều 10 – QĐ số 14/2007/QĐ-BGDĐT) gồm hai phần việc chủ yếu:
- Đánh giá theo chuẩn do bản thân GVTHực hiện.
- Đánh giá GVTHeo chuẩn do người tham gia đánh giá thực hiện (người tham gia đánh giá đó là tổ chuyên môn, đồng nghiệp và hiệu trưởng, khi cần thiết có thể tham khảo HS, cha mẹ HS và cộng đồng). Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Vì vậy, kết quả trên là đúng với thực tế, số GV đạt loại xuất sắc thấp, chủ yếu đạt loại khá và trung bình, vẫn còn GV xếp loại yếu không đạt một trong ba lĩnh vực theo chuẩn nghề nghiệp, số GV này không đủ điều kiện để đứng lớp mà phải bố trí công việc khác hoặc tham gia các lớp đào tạo BD trung và ngắn hạn, tham gia các lớp tập huấn, BD chuyên môn do sở, phòng GD&ĐT tổ chức, số này phải luôn có ý thức tự học, tự BD để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì mới có khả năng đáp ứng được yêu cầu.
Đánh giá.
Ưu điểm:
Công tác GD & đào tạo Tân Sơn, đặc biệt là công tác BDGV luôn nhận được sự quan tâm, sự lãnh chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo của sở GD&ĐT Phú Thọ, của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, UBND huyện Tân Sơn đã có các nghị quyết, chỉ thị, chỉ đạo các ban ngành đoàn thể và chính quyền cơ sở xã, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công tác GD ở địa phương.
Cơ sở vật chất lớp học, nhà công vụ được đầu tư xây dựng bằng nhiều nguồn vốn, nhiều chương trình nhất là chương trình kiên cố hóa trường lớp học giai đoạn 2008-2012. Đã triển khai đầu tư xây dựng có hiệu quả đảm bảo đủ lớp học và nhà ở cho GV yên tâm công tác. Công tác xã hội hóa GD được đẩy mạnh, các cấp, các ngành, nhân dân, phụ huynh HS ngày càng quan tâm hơn tới việc học tập của con em nói riêng và sự nghiệp GD nói chung.
Đội ngũ cán bộ QL, GV đa số trẻ, có trình độ chuẩn và trên chuẩn cao, nhiệt tình trong công tác, có ý thức học tập BD, tự BD nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Quy mô, mạng lưới trường lớp TH ổn định và phát triển, được sắp xếp và bố trí hợp lí đến tất cả các thôn bản, tạo điều kiện cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa được đến trường.
Tồn tại:
Tân Sơn là huyện nghèo nên còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ năm học. Cơ sở vật chất, phòng chức năng và phòng học bộ môn đa số các trường còn thiếu, thiết bị dạy học thiếu hàng năm chưa được bổ sung, chưa đáp ứng được việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.
Ngân sách giao các trường chủ yếu chi lương, việc chi phục vụ cho dạy và học thấp, nguồn kinh phí huy động từ nhân dân để tăng cường CSVC gặp nhiều khó khăn, tư tưởng ỷ nại, trông chờ vào nhà nước còn phổ biến đối với nhân dân và phụ huynh HS.
Biên chế cán bộ phòng GD&ĐT số lượng ít, không đủ cán bộ làm công tác quản lí nhà nước, số cán bộ trưng tập ngắn hạn chưa yêu tâm công tác. Do đó việc thanh tra, kiểm tra, chỉ đạo cơ sở kết quả còn hạn chế.
Đội ngũ GV, nhân viên thiếu, biến động thường xuyên vì chuyển ra vùng ngoài với số lượng lớn, số GV hợp đồng ngắn hạn (hợp đồng lao động trong 1 năm học) nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng GD.
Đời sống nhân dân chủ yếu là nông nghiệp, tỉ lệ hộ nghèo cao nên còn gặp nhiều khó khăn trong việc chăm lo đến việc học tập của con em mình, chủ yếu phó mặc cho nhà trường; giao thông đi lại khó khăn, nhiều nơi phải qua sông suối nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng học tập và giảng dạy.
2.3.2. Thực trạng hoạt động BDĐNGVTH huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
2.3.2.1. Nhận thức của CBQL, GV về hoạt động BDĐNGVTH
Để thăm dò nhận thức của CBQL,GVTH các trường về nội dung nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát 230 người, được kết quả như sau:
Bảng 2.13: Tầm quan trọng của công tác BD cho GVTH Mức độ
Kết quả cho thấy CBQL,GVTH đã nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác BDGV. BD kĩ năng sư phạm và BD phẩm chất, chính trị, đạo đức, lối sống nhà giáo cũng được chú trọng. Đây là tín hiệu đáng mừng cho công tác quản lý. Tuy nhiên vẫn còn có số ít (3.5%) nhận thức chưa đúng về công tác BDĐNGVTH trong giai đoạn hiện nay, sự chênh lệch đáng kể trong nhận thức giữa GV với CBQL, giữa GV có trình độ ĐHSP, CĐSP với GV có trình độ TCSP, giữa GV công tác ở vùng thuận lợi với GV công tác ở vùng cao có sự khác biệt về nhận thức.
Nhìn chung, đa số GV đã nhận thức đúng về sự cần thiết của công tác BDGV. Trước những tác động của yêu cầu phát triển GD, hầu hết GV đã có thức trong việc đào tạo nâng chuẩn cũng như trong việc tự BD để tránh bị tụt hậu. Đây là thuận lợi lớn trong việc quản lí hoạt động BDĐNGVTH theo chuẩn nghề nghiệp. Tuy nhiên còn một số GV chưa nhận thức đúng về việc tự BD nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình, còn e dè và rất ngại trong việc BD cập nhật các môn học ngoại ngữ, tin học vì họ cho là quá khó và chưa có đủ phương tiện học tập. Thiết nghĩ, cần phải tăng cường GD nhận thức hơn nữa để không những GV mà cả đội ngũ CBQL hiểu được vai trò của hoạt động BD, nâng cao năng lực QL và chuyên môn, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao.
Trong bất kì giai đoạn phát triển nào của đất nước, không có chương trình, sách giáo khoa, phương tiện dạy học nào có thể thay thế người thầy giáo. Như vậy, để nâng cao chất lượng dạy học và chất lượng GVTH thì việc nhận thức của GV là giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng dạy và học đáp ứng nhiệm vụ GD trong giai đoạn hiện nay.
2.3.2.2. Nhu cầu của CBGQLGD, GV về hoạt động bồi dướng GV Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển GDTH. Trên phạm vi toàn quốc GDTH đã phát triển đáng kể về mạng lưới, quy mô trường lớp và nhất là chất lượng GD.
Để tìm hiểu về sự cần thiết phải BDĐNGVTH, tác giả đã tiến hành điều tra 235 người là CB phòng GD, CB QL và GVTH các trường trên địa bàn Huyện Tân Sơn đã thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 2.2. Đánh giá nhận thức về mức độ cần thiêt về BDĐNGVTH
Có tới 84,2 % CBQL và GV cho rằng rất cần thiết và 14,5% cho rằng cần thiết với các lý do về nhu cầu BD khác nhau tuỳ theo các đối tượng, tuỳ theo điều kiện và khả năng khác nhau của từng người trong đội ngũ GV. Sở dĩ cần thiết phải BD ĐNGVTH vì các lý do sau:
- Vì mặt bằng kiến thức trước khi vào sư phạm còn thấp, ý kiến này phần lớn tập trung vào số GV chưa đạt chuẩn, họ mong muốn được cập nhật kiến thức nhằm đáp ứng yêu cầu của HS.
- Do đào tạo quá lâu, kiến thức bị lạc hậu, đặc biệt là các GV lớn tuổi.
- Do trình độ đào tạo không đồng đều.
- Do chương trình đào tạo không còn phù hợp với mục đích, yêu cầu, mục tiêu và nội dung GD cấp TH và xu hướng phát triển xã hội.
- Do chương trình SGK thay đổi, GV chưa làm chủ được SGK.
Việc BD để đáp ứng chuẩn nghề nghiệp là cần thiết về lĩnh vực kiến thức, kỹ năng sư phạm, các đặc trưng của tưng hoạt động và phương pháp giảng dạy đặc trưng để nắm vững chương trình.
2.3.2.3. Thực hiện mục tiêu BDGVTH Huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Mục tiêu là yếu tố tiên quyết của mọi kế hoạch. Muốn kế hoạch thành công thì nhất thiết người thực hiện phải nắm rõ mục tiêu. Để tìm hiểu về mục tiêu BDĐNGVTH Huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ, tác giả đã tiến hành khảo sát 235 đối tượng là CBQLGD và GVTHu được kết quả như sau:
Bảng 2.14. Đánh giá nhận thức về các mục tiêu của hoạt động BDĐNGVTH
Từ bảng số liệu trên ta thấy hầu hết các CBQLGD (92%) và GV (95%) đều nhận thức đúng mục tiêu ”Củng cố, mở rộng, nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng sư phạm cho GV” và mục tiêu ” Nâng cao thái độ đúng đắn đối với nghề sư phạm” của CBQLGD là 86% và GV là 75%. Tuy nhiên cũng có khá đông CBQLGD và GV nhận thức chưa đúng về mục tiêu BDĐNGVTH là ”Giúp GV đáp ứng chuẩn nghề nghiệp GVTH”, ” Nâng cao ý thức tự học, tự BD của GV”. Khi CBQLGD nhận thức chưa đúng về mục tiêu BDĐNGVTH sẽ ảnh hưởng đến việc thiết lập mục tiêu, xây dựng nội dung chương trình, hình thức, phương pháp BD và không đề ra được các giải pháp phù hợp để quản lý hoạt động BDGV. Cũng như GV một khi đã nhận thức chưa đúng về mục tiêu BD sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động BD. Từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của GDTH.
2.3.2.4. Nội dung BDĐNGVTH
BD các lĩnh vực chuẩn nghề nghiệp
Nếu như trước đây mục tiêu BDĐNGVTH chỉ nhằm đáp ứng chuẩn đào tạo, bổ sung kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu đổi mới, thì việc BD để đáp ứng chuẩn nghề nghiệp GVTH mới ban hành có những yêu cầu cao hơn đó là: Nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và kĩ năng sư phạm để GV có thể dạy đủ các môn học thực hiện các hoạt động GD toàn cấp học, có khả năng dạy lớp ghép, dạy tiếng Việt cho HS dân tộc thiểu số, dạy trẻ khuyết tật theo hướng hòa nhập ở những địa phương có nhu cầu. Những GV được BD, có thể trở thành những GV cốt cán của trường, của địa phương và có tiềm lực để phấn đấu nâng cao hơn về chuẩn, ngạch bậc.
BD về lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống: Chấp hành đầy đủ các quy định của Pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, yêu nghề tận tụy với nghề, sẵn sàng khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ GD HS, sống trung thực, lành mạnh, giản dị; được đồng nghiệp, nhân dân và nhân dân và HS tín nhiệm. Có tinh thần tự học, phấn đấu nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ chính trị chuyên môn, nghiệp vụ; thường xuyên rèn luyện sức khỏe.
BD về lĩnh vực kiến thức: Nắm vững mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình, sách giáo khoa của các môn được phân công giảng dạy; Nắm được kiến thức về tâm lí lứa tuổi, sử dụng các kiến thức đó để lựa chọn phương pháp giảng dạy, cách ứng sử sư phạm trong GD phù hợp với HS TH, biết ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
BD về lĩnh vực kĩ năng sư phạm: Xây dựng được kế hoạch giảng dạy cả năm học thể hiện các hoạt động dạy học nhằm cụ thể hóa chương trình của Bộ phù hợp với đặc điểm của nhà trường và của lớp được phân công dạy. Lựa chọn và sử dụng hợp lí các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính sáng tạo, chủ động trong việc học tập của HS, làm chủ được lớp học, xây dựng được môi trường học tập hợp tác, thân thiện, tạo sự tin cậy cho HS, hướng dẫn HS tự học, xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm gắn với kế hoạch dạy học, có các biện pháp GD, quản lí HS một cách cụ thể, phù hợp với đặc điểm HS của lớp. Một số năng lực quan trọng khác: Năng lực chuẩn đoán, năng lực đáp ứng trách nhiệm của xã hội; kĩ năng kiểm tra đánh giá kết quả của giảng dạy và năng lực học tập của HS, kĩ năng thiết kế bài giảng theo phương pháp dạy học tích cực. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Để tìm hiểu về nhu cầu BD những nội dung chuẩn nghề nghiệp, tác giả đã tiến hành khảo sát 230 CBQL, GVTHuộc các trường TH trong Huyện Tân Sơn và đã thu được kết quả như sau:
Bảng 2.15. Đánh giá nhận thức về nội dung BDGV
Như vậy ta thấy các CBQL và GV cho rằng BD về kiến thức và BD về kỹ năng sư phạm quan trọng hơn BD về lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Xuất phát từ quan điểm đã được đào tạo làm GVTHì hầu như GV nào cũng có phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống trong sáng, lành mạnh. Để đảm bảo có đủ kiến thức và thường xuyên đổi mới phương pháp GD đáp ứng sự phát triển của xã hội thì GV cần được BD thường xuyên.
Thực hiện Điều lệ trường TH được Bộ GD&ĐT ban hành, yêu cầu đạt chuẩn của GVTH là tốt nghiệp THSP, hệ 9+3 những vùng khó khăn, miền núi và hệ 12+2 cho các vùng còn lại và phải có một tỉ lệ nhất định đạt trình độ trên chuẩn. Do đó, kế hoạch và chỉ tiêu giao hàng năm cho các trường CĐSP và giao cho Trung tâm GDTHường xuyên các huyện, thị, thành trong tỉnh mở lớp và liên kết với các trường ĐHSP để từng bước nhanh chóng chuẩn hóa và nâng chuẩn đối với GV. Coi đây là một chiến lược để cải thiện và nâng cao chất lượng GD, đáp ứng yêu cầu ngày nâng cao của GD.
Mặc dù công tác đào tạo và BDGV đã được ngành GD&ĐT quan tâm, song kế hoạch QL công tác BD cũng như biên soạn chương trình, việc đầu tư về kinh phí chưa đồng bộ. Hơn nữa, ý thức tự giác học tập của GV cũng còn nhiều hạn chế, đời sống GV còn gặp nhiều khó khăn…Mặt khác, việc quản lí và cơ chế điều hành chưa đủ mạnh, do đó phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng BD, thậm chí ở một số nơi vẫn coi đây chỉ là hình thức. Điều này sẽ được ngành GD&ĐT Phú Thọ khắc phục ở giai đoạn tiếp theo.
BDĐNGVTHeo chu kỳ
Công tác BD thường xuyên theo chu kỳ là chương trình BD nhằm giúp cho GV bổ sung những kiến thức mới về chủ trương, đường lối GD, về chương trình nội dung, phương pháp dạy học bộ môn. Tính đến nay, GVTH đã qua 3 chương trình BD:
- Chu kỳ 1992-1996: BD chuyên đề theo môn Toán, Tiếng việt, Đạo đức, Tâm lí.
- Chu kỳ 1997-2000: BD chuyên đề đổi mới nội dung và phương pháp: Đổi mới phương pháp GD môn tự nhiên – xã hội; đổi mới nội dung và phương pháp GD ở TH; đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn toán; dạy ngôn bản nói và viết ở TH theo hướng giao tiếp. Hình thức này không những BD để cập nhật kiến thức mà còn BD năng lực sư phạm, kĩ năng dạy học bộ môn và thường được tổ chức trong thời gian hè. Sau khóa BD của mỗi chu kỳ đều được công nhận và cấp chứng chỉ hoàn thành chương trình.
- Chu kỳ 2003-2007: Chương trình này góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GVTH, thực hiện tốt chương trình TH mới; nội dung, cấu trúc của sách giáo khoa, sách giáo viên mới và các tài liệu học tập khác; mối liên hệ giữa sách và và phương pháp dạy học mới; đặc điểm của dạy học phát huy tính tích cực của HS; các kĩ năng chính mà GV cần có để dạy học có hiệu quả; cách sử dụng hợp lí các thiết bị dạy học và làm một số thiết bị dạy học đơn giản; cách đánh giá HS, tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động GD của mình và BD kĩ năng cho GVTH như: Lập kế hoạch bài dạy và tiến trình dạy học theo yêu cầu đổi mới chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học; sử dụng sách giáo khoa và sách giáo viên một cách có hiệu quả.
Trong quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện, phòng GD&ĐT đã tham mưu cho UBND huyện thành lập Ban chỉ đạo BDGV; thành lập các tiểu ban bộ môn, chỉ đạo chương trình BD, soạn phần mềm nội dung cho các bộ môn; tổ chức quá trình BD sau khi tiếp thu, triển khai từ Bộ, Sở GD&ĐT. Cuối đợt tổ chức tổng kiểm tra GV toàn huyện để đánh giá kết quả và cấp chứng chỉ. Đơn vị tổ chức lớp BD là phòng GD&ĐT.
Hình thức tổ chức lớp học: Theo địa bàn cụm, phòng GD&ĐT là cấp quản lí trực tiếp tổ chức BDĐNGVTH toàn huyện, tập trung thành từng lớp, nghe GV cốt cán truyền đạt. Có tổ chức thực hành lên lớp nhưng không nhiều vì lớp quá đông, BD trong hè nên không có HS để thực hành. Tất cả GV không phân biệt trình độ, nhu cầu đều được BD thống nhất. Kết quả BD là 100% GV đạt yêu cầu, được cấp giấy chứng nhận.
BDĐNGVTHeo chuyên đề
BD nội dung và phương pháp dạy chương trình TH 100 tuần và 120 tuần cho GV hiện đang dạy tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nhằm phổ cập GD và xoá mù chữ.
- BDGV chủ nhiệm và tổ trưởng chuyên môn cho đối tượng là các chủ nhiệm giỏi, các tổ trưởng và khối trưởng chuyên môn. Nội dung BD là công tác quản lý, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, giảng dạy, GD.
- Nội dung, phương pháp dạy, kỹ thuật đánh giá dạy và học ở lớp ghép, phát triển tài liệu địa phương. Chuyên đề này được BD cho GV trực tiếp dạy các lớp ghép ở các trường vùng cao, vùng sâu, vùng xa trong huyện
- Phương pháp dạy môn Toán, Tiếng việt TH theo tinh thần đổi mới, hoạt động giao tiếp, việc dạy các kỹ năng nghe, nói, đọc viết cho HS TH, đổi mới về kiểm tra, đánh giá bộ môn Toán, Tiếng việt ở TH. Đối tượng BD là các GV dạy khá giỏi và các hiệu phó chuyên môn trong các trường TH nhằm đào tạo đội ngũ cốt cán. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
- BD các tổng phụ trách đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh với các nội dung lý luận chung, nghiệp vụ và hoạt động công tác đội, hướng dẫn thực hiện hoạt động tập thể ở TH, tập huấn nghiệp vụ Đoàn, Đội, nội dung phương pháp dạy và thực hành một số bài quy định ở TH.
- BD lý thuyết chung về phương pháp dạy thể dục TH, chương trình SGK, điền kinh và trò chơi vận động, GDTHể chất, quy chế GDTHể chất thực nghiệm, phương pháp đánh giá, kiểm tra và cho điểm thể dục đối với HS TH, BD công tác vệ sinh học đường cho các GV chuyên trách và kiêm nhiệm dạy thể dục nội khoá ở TH.
- BD về sức khoẻ, y tế cộng đồng cho GV vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
- BD nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy bộ môn âm nhạc, hội hoạ cho GV dạy các môn năng khiếu nhạc, hoạ.
- BD một số vấn đề cơ bản về đạo đức, pháp luật, công tác giảng dạy và GD đạo đức cho HS TH. Đối tượng BD là các GV cốt cán.
- BD cho CBQL TH về nội dung thanh tra GD và chuyên môn, các văn bản pháp quy về thanh tra, hướng dẫn nghiệp vụ về công tác thanh tra trường học, thanh tra GV, thanh tra giờ dạy của bậc TH.
Qua các nội dung BD theo chuyên đề như trên, GV được lĩnh hội một lượng đáng kể về tri thức và phương pháp giảng dạy mới, nâng cao được kỹ năng sư phạm, qua đó cũng cung cấp cho họ khả năng tự nghiên cứu các loại sách , đặc biệt là sách BD, cách đọc sách tham khảo để có vốn kiến thức và phương pháp phong phú hơn giúp GV có thể dạy đủ và dần dần dạy tốt tất cả các môn trong chương trình GD
BDĐNGVTHeo chương trình SGK mới
Cùng với việc BD thường xuyên chu kỳ III (2003-2007) nhằm cập nhật tri thức, kỹ năng cho GV; BD để GV đạt chuẩn đào tạo, kể từ hè 2002 việc BD cho GV về chương trình và sách giáo khoa mới là nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành GD&ĐT nói chung của GD&ĐT Huyện Tân Sơn nói riêng. Các cấp lãnh đạo trong ngành GD&ĐT trong huyện đã đảm bảo để tất cả GV được phân công dạy theo chương trình và sách giáo khoa mới đều dược BD kỹ trước khi thực hiện giảng dạy.
Việc triển khai thực hiện chương trình đổi mới GD phổ thông thay sách giáo khoa lớp 1,2,3,4 nghiêm túc, đồng bộ; bước đầu đạt được những kết quả tốt, góp phần tạo sự chuyển biến đáng kể trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả GD nói chung nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS nói riêng.
2.3.2.5. Hình thức và phương pháp tổ chức Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Hình thức BD: Các hình thức BD mà phòng GD Huyện Tân Sơn đã triển khai đó là:
- BD tập trung theo kế hoạch tập huấn của Bộ GD-ĐT
- BD theo chuyên đề, theo cụm trường theo kế hoạch của Sở GD-ĐT – Trường tự tổ chức các hoạt động BD thường xuyên
- GV tự BD theo chương trình quy định.
- Tác giả đã tiến hành khảo sát 200 GV ý kiến đánh giá về các hình thức BD ĐNGVTH Huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ như sau:
Bảng 2.16 . Đánh giá nhận thức về hình thức BDGV
Rất phù hợp Phù hợp Ít phù hợp
Qua bảng số liệu trên ta thấy trong những năm qua, việc BDGV nhằm nâng cao chất lượng GD ở các trường TH đã được hiệu trưởng áp dụng nhiều hình thức. Các hình thức tổ chức BDĐNGVTH nói chung đa dạng, linh hoạt và phong phú. Các biện pháp đa số được đánh giá rất phù hợp và phù hợp như GV tự BD theo chương trình quy định (53.4%) và BD theo chuyên đề, theo cụm trường theo kế hoạch của Sở GD-ĐT (37.4%). Do điều kiện địa lý Tân Sơn là huyện miền núi, địa ban rộng, địa hình phức tạp bị chia cách nhiều sông suối, xa trung tâm của của Tỉnh, việc đi lại rất khó khăn nên đa số GVTH muốn tự BD theo nội dung và chương trình của Bộ quy định.
Phương pháp BD: Trong quá trình BD cho GVTH, các trường đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp đã áp dụng BDGV trong thời gian qua gồm:
- Thuyết trình của báo cáo viên
- Thuyết trình kết hợp minh họa bằng hình ảnh – Nêu vấn đề, thảo luận theo nhóm
- Nêu vấn đề, cá nhân nghiên cứu tài liệu, trình bày báo cáo – Tọa đàm, trao đổi
- Phối hợp các phương pháp
2.3.2.6. Các điều kiện thực hiện BD Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Các điều kiện bảo đảm cho BD và liên kết BD chuẩn hóa còn nhiều thiếu thốn, chưa đáp ứng yêu cầu như: Chưa có cơ sở riêng phục vụ hoạt động BD, hầu hết phải mượn cơ sở nên có tình trạng thiếu bàn ghế, hội trường, phòng học chật hẹp, cũ kỹ, các thiết bị phục vụ cho BD còn hạn chế.
Về chế độ chính sách chủ yếu là người học tự lo, chưa có chính sách khen thưởng cho những GV có thành tích tốt trong quá trình tham gia BD.
Tác giả đã phỏng vấn sâu 20 đối tượng là Hiệu trưởng, hiệu phó và 30 GV các trường TH về vấn đề này: ”Theo thầy/cô để thực hiện tốt hoạt động
BD cần các điều kiện gì? Vì sao?”
Đa số các đối tượng được phỏng vấn đều cho rằng, để hoạt động BDGVTH được tốt thì cần có các điều kiện như: Có báo cáo viên tốt; Cơ sở vật chất đảm bảo như: tài liệu đầy đủ, lớp không quá đông; Trong quá trình BD được thực hành, thảo luận; Lãnh đạo làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá GV. Đây là những điều kiện rất cần thiết trong công tác BDGVTH. Để công tác BDGVTH được hiệu quả thì nhất thiết các điều kiện này cũng phải tốt.
2.3.2.7. Thời gian thực hiện BD
Để biết thời gian BDGV hợp lý ở mức độ nào, tác giả đã tiến hành khảo sát 35 CBQL là Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng các trường cùng với 200 GV, được kết quả như sau:
Bảng 2.17: Đánh giá nhận thức mức độ phù hợp về thời gian BDĐNGVTH
Qua bảng số liệu trên nhận thấy đa số CBQL và GV đều nhận định thời gian BD chuyên môn cho GV trong dịp hè là phù hợp nhất (CBQL là 94%; GV là 96%). Điều này hoàn toàn hợp lý vì hè GV có nhiều thời gian rảnh dỗi, họ sẽ có nhiều thời gian để tham gia học tập, BD nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình. Có 71% CBQL và 89% GV cũng cho rằng trước khi vào năm học mới là thời điểm thuận lợi để tham gia hoạt động BD chuyên môn. Vì đây là thời điểm kế hoạch năm học được xây dựng và triển khai, để làm tốt các kế hoạch cần có những lớp tập huấn, BD kịp thời. Bên cạnh đó BD sau thời gian kết thúc năm học và tự BD có kết quả thấp hơn, đặc biệt là đối với các CBQL. Họ cho rằng BD vào thời gian này là không kịp thời, việc tự GV sắp xếp lại càng khó vì mỗi người một điều kiện, một hoàn cảnh khác nhau.
2.3.3. Thực trạng quản lý hoạt động BDĐNGVTH Huyện Tân Sơn – Tỉnh Phú Thọ. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
2.3.3.1. Quản lý lập kế hoạch BDĐNGVTH
Về triển khai BD chuyên môn nghiệp vụ: Các đơn vị trường học, cơ sở GD đào tạo tiến hành xây dựng kế hoạch chọn cử nhà giáo, CBQLGD đi đào tạo, BD hàng năm; động viên, tạo điều kiện cho cán bộ, viên chức đi học các lớp chuẩn hóa, nâng chuẩn; thực hiện quy định, chế độ bắt buộc về BD hè trong năm, các quy định về đào tạo thạc sỹ… Trong đó chú trọng đến số CBQLGD đang giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý, trong diện kế cận, dự nguồn, có tuổi đời còn trẻ, có phẩm chất đạo đức, có khả năng phát triển tốt.
Tại thời điểm cuối năm 2015, đội ngũ nhà giáo của ngành GD&ĐT Huyện có 100% CB, GVTH đạt trình độ chuẩn trở lên, trong đó có 35% đạt trình độ trên chuẩn. Tuy nhiên kế hoạch BD của các trường TH, phòng GD&ĐT vẫn còn thiếu tính phân hóa, chưa tính đến cụ thể nhu cầu, nguyện vọng BD của cá nhân và những điểm yếu, hạn chế trong năng lực, kĩ năng sư phạm của họ; đồng thời thiếu tính chủ động dẫn đến tình trạng tổ chức BD dồn dập vào một thời điểm mà chủ yếu là thời gian hè, tài liệu không có, gây khó khăn cho GV và đơn vị tổ chức.
Phòng GD&ĐT chưa xây dựng được đề án BDGV lâu dài (5 -10 năm) để định hướng cho phòng GD&ĐT cũng như các cơ sở GD trong xây dựng kế hoạch BDGV cho đơn vị mình.
BD năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ CBQLGD: Được sự cho phép của UBND huyện, phòng GD&ĐT đã phối hợp với các trường Đại học như Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Thái Nguyên, Đại học Hùng Vương,…cử các CBQL, GVTHam gia các lớp tập huấn, BD chuyên môn.
Phòng GD&ĐT đã phối hợp với Ban tổ chức Huyện Ủy, Phòng Nội vụ huyện đã chọn cử một số CBQLGD, GV ở các đơn vị trực thuộc ngành tham gia học các lớp lý luận chính trị trung, cao cấp và BD nghiệp vụ quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên, chuyên viên chính và các lớp nghiệp vụ khác.
Tự BD của GVTH: Nhìn chung vấn đề tự BD chưa tạo thành phong trào, hầu hết các trường chưa thực sự quan tâm, do không bị ràng buộc, chưa có sự chỉ đạo chặt chẽ và thống nhất trong ngành; chưa định hướng rõ nội dung và hình thức đánh giá, kết quả tự BD chưa được đánh giá hoặc đánh giá mức cảm tính, bình thường.
2.3.3.2. Quản lý nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động BDĐNGVTH
Hiện nay nội dung chương trình BDGVTH do phòng ĐT&GD huyện đảm nhận. Sau các đợt BD cấp huyện cho CBQLGD và GVTH cốt cán, phòng GD &ĐT chỉ đạo lập kế hoạch BD cho GVTHeo những nội dung đã BD. Ngoài những nội dung chỉ đạo trên còn căn cứ tình hình thực tế của địa phương BD thêm cho phù hợp. Nội dung đào tạo chuẩn hóa và trên chuẩn do các trường Đại học thực hiện; nội dung BD thường xuyên nhằm cung cấp thêm kiến thức cho GV trên tinh thần nghiên cứu trước tài liệu, kết hợp với các hình thức nghe giảng, thảo luận và thực hành.
Việc tổ chức các hình thức BD theo hướng đa dạng hóa phù hợp với nguyện vọng của đông đảo GV là vấn đề rất khó khăn. Từ thực tế công tác BD và qua tham khảo ý kiến của các CBQL GD và đội ngũ GVTHam gia thường xuyên các lớp tập huấn cấp huyện thì cho rằng các hình thức BD hiện nay chưa có tính phù hợp cao. Do đó cần phải tích cực đa dạng hóa các hình thức BD phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đông đảo GV nhằm chủ động lựa chọn hình thức BD và tự BD, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV nhằm đáp ứng chuẩn nghề nghiệp ( CNN).
2.3.3.3. Quản lý đội ngũ thực hiện hoạt động BDĐNGVTH Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Báo cáo viên là người có vai trò rất quan trọng trong việc BD nâng cao kiến thức và kỹ năng cho CCBQL và GV. Đội ngũ báo cáo viên thường là những người có trình độ chuyên môn giỏi, có kỹ năng sư phạm tốt và có kinh nghiệm trong quá trình truyền đạt kiến thức. Trên cơ sở tiếp thu các nội dung trong các đợt tập huấn của Bộ, Sở và triển khai các nội dung, chương trình BD theo kế hoạch tới CBQLGD và GVTH cốt cán các huyện.
Do vậy các báo cáo viên tham gia trong các buổi tập huấn phải được chọn lựa kỹ càng. Thông thường các báo cáo viên thường là các giảng viên, các chuyên gia về ngành thuộc các trường như: Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quốc gia, Đại học Thái Nguyên, các cán bộ Sở GD&ĐT,… Ngoài BD đạt chuẩn và trên chuẩn, hàng năm đội ngũ GVTH được BD thường xuyên về chính trị, pháp luật và các kiến thức chuyên ngành. Có thể đánh giá đội ngũ báo cáo viên của Huyện, của Sở và của các trường Đại học tham gia hoạt động BD đạt yêu cầu về trình độ và đảm bảo chất lượng.
2.3.3.4. Quản lý cơ sở vật chất, chế độ chính sách đảm bảo cho hoạt động BDĐNGVTH.
CSCV phục vụ cho hoạt động BD hiện nay còn nhiều hạn chế, chủ yếu phải mượn CSVC của các trường học trong huyện. Các phòng chật hẹp, các thiết bị để phục vụ cho hoạt động BD thiếu thốn, cũ kỹ. Tài liệu BD vừa thiếu, vừa chậm. Nội dung tài liệu chưa có tác dụng hướng dẫn thiết thực về phương pháp dạy học, phương pháp GD, phương pháp tự học… cho GV. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của các buổi tập huấn BD.
Kinh phí để tổ chức các hoạt động BDGV rất ít và hầu như không có. Trong cơ chế tài chính hiện nay, lại ở địa bàn miền núi khó khăn, sự thiếu hụt về kinh phí là một hạn chế rất khó giải quyết.
Đối với cán bộ, GV được cử tham gia BD thực hiện theo thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21/9/1010 của Bộ Tài Chính quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho hoạt động đào tạo, BD cán bộ, công chức thì mức chi cho cán bộ công chức, viên chức tham gia hoạt động BD còn quá ít. Chỉ được kinh phí đi lại, lưu trú còn hầu còn hầu như không có khoản phụ cấp nào khác.
2.3.3.5. Quản lý về kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động BDĐNGVTH Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Qua khảo sát 5 cán bộ, lãnh đạo phòng, 30 CBQLGD các trường và 200 GV về kết quả trong và sau khi BD tác giả thu được kết quả như sau:
Bảng 2.18. Kết quả nhận thức về mức độ kiểm tra, đánh giá BD
Từ kết quả trên cho thấy công tác kiểm tra hoạt động BD quá thấp. Tỷ lệ thường xuyên kiểm tra rất thấp, cán bộ phòng GD chiếm 20%, Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng chiếm 10% và GV chiếm 8,5%. Chưa bao giờ kiểm tra, đánh giá ở GV chiếm đến 81%, Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng chiếm 66.7% và Lãnh đạo, cán bộ phòng GD chiếm 60%. Các cấp quản lý vẫn chưa quan tâm nhiều đến hoạt động này hoặc chỉ thực hiện qua loa hình thức nên việc kiểm tra đánh giá chưa triệt để, chưa biết được hoạt động BD đã đạt kết quả như thế nào sau khi BD. Như vậy CBQLGD cần tăng cường kiểm tra đáng giá kết quả đạt được qua kiểm tra đánh giá các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động BDGV và kiểm tra, đánh giá kết quả sau khi BD để có những điều chỉnh thích hợp, nâng cao hiệu quả của hoạt động BDGV. Chính vì chưa thực hiện thường xuyên hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả và kiểm tra đánh giá các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động BDĐNGVTH nên dẫn đến hiệu quả của các hoạt động QL này chưa cao. Do đó phòng GD&ĐT cần tăng cường đánh giá trong và sau khi BD.
2.3.3.6. Quản lý sự phối hợp trong quản lý hoạt động BDĐNGVTH
Phòng GD&ĐT chưa tích cực tham mưu với UBND Huyện và phối hợp với các ngành liên quan trong việc thành lập ban chỉ đạo BDGV từ cấp huyện đến cấp xã. Về nhân lực quản lý hoạt động BDGV ở phòng GD&ĐT và các xã còn thiếu và yếu. Nếu có chỉ là Ban tổ chức lớp BD hoạt động theo chế độ hợp tan. Nhiệm vụ của các cấp quản lý và các trường đối với hoạt động BD như sau:
- Bộ GD&ĐT: Xây dựng kế hoạch dài hạn theo từng chu kỳ và kế hoạch BD hàng năm chỉ đạo cho các trường ĐH sư phạm và Sở GD&ĐT tổ chức thực hiện giao cho phòng GD&ĐT các huyện tổ chức thực hiện.
- Sở GD&ĐT: Việc tham mưu, chỉ đạo, phối hợp, theo dõi, kiểm tra hoạt động BDĐNGVTH giao cho phòng ban phụ trách, không có Ban chỉ đạo BDĐNGVTH cấp Tỉnh và cấp Huyện.
- Phòng GD&ĐT huyện: Tham mưu, chỉ đạo, phối hợp, theo dõi, kiểm tra hoạt động BDĐNGVTH . Tuy nhiên ở cấp này cũng không có ban chỉ đạo BDĐNGVTH mà chỉ có kế hoạch BD hè hàng năm và thường xuyên, chưa có kế hoạch dài hạn và trung hạn.
- Các trường TH: Chưa thật sự quan tâm hoạt động quy hoạch BD đội ngũ GVTHeo một chiến lược dài hạn. Chủ yếu là cử GVTHam gia BD theo yêu cầu của Phòng GD&ĐT. Hầu hết chưa có kế hoạch hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện về thời gian để GVTH đi học các lớp tin học, ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác phục vụ cho hoạt động GD.
2.4. Đánh giá chung đối với việc quản lý hoạt động BDĐNGVTH huyện Tân Sơn Tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
2.4.1. Điểm mạnh
Công tác BDĐNGVTH có chuyển biến theo chiều hướng tốt đạt được những kết quả nhất định trong việc mở rộng quy mô, cải tiến nội dung, phương thức BD và đồng bộ hóa cơ cấu bộ môn.
Các loại hình BD: BD thường xuyên, BD thay sách, BD chuẩn hóa được triển khai khẩn trương, nhịp độ tăng dần, đúng kế hoạch và đảm bảo chất lượng. BD trình độ trên chuẩn được quan tâm và chú trọng và ngày càng thu hút GVTHeo học các lớp chuyên tu, tại chức tại các trường Đại học. Công tác BDĐNGVTHeo chuẩn nghề nghiệp được trển khai đồng bộ và rộng khắp đến toàn thể GV, hoạt động tự BD luôn được quan tâm ở tất cả các trường học trên địa bàn thông qua việc sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề, việc thăm lớp dự giờ, thao giảng
Bộ máy QLGD được kiện toàn và củng cố. Đa số CBQL đạt chuẩn về trình độ đào tạo, có kiến thức cơ bản về QLGD, có khả năng đảm nhận chức danh quản lí, đảm bảo thực hiện có hiệu quả các kế hoạch chương trình, các văn bản của ngành và của Nhà nước áp dụng trong ngành.
2.4.2. Điểm yếu
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, GV nhận thức về hoạt động BD còn hạn chế, chưa thấu đáo. Có sự khác biệt về nhận thức cùng một số vấn đề giữa cán bộ QLGD ở các cấp, đặc biệt là trong đội ngũ GVTH còn một số người chưa nhận thức thấu đáo về công tác BDGV, thể hiện rõ nhất là sự khác biệt giữa GV ở vùng khó và ở vùng thuận lợi.
Các cấp quản lí chưa chú trọng công tác quy hoạch BD dẫn đến thiếu khoa học, mang tính chắp vá, chưa thể hiện quan điểm ưu tiên cho các môn học đặc thù, chưa đảm bảo tính đồng bộ về cơ cấu môn học và cơ cấu GVTHeo từng vùng. Trong quy hoạch chưa thể hiện quan điểm coi trọng hoạt động tự BD của cơ sở và tự học của GV.
Việc cải tiến nội dung chương trình, phương pháp BD chuẩn hóa chưa đi vào thực chất. Tiến độ về đổi mới nội dung chương trình và phương pháp BD còn chậm so với yêu cầu đổi mới GDPT, GDTH. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Hình thức BD chưa phong phú, chưa thể hiện rõ tính phù hợp với các đối tượng học viên. Đặc biệt, chưa có sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới để tăng cường loại hình tự BD. Hoạt động này còn mang tính mùa vụ, chưa tìm ra hướng đi mới cho phù hợp với thực tiễn và tạo ra sự thu hút đối với GV. Hiện nay hình thức BD tập trung vẫn phổ biến. Các hình thức BD bán tập trung, BD từ xa và tự BD chưa được coi trọng đúng mức.
Chưa xây dựng được mạng lưới Ban chỉ đạo công tác BDGV từ ngành xuống đến cơ sở nên việc triển khai kế hoạch BD còn lúng túng. Cơ cấu đội ngũ GV chưa thật đồng bộ, thiếu GV đầu đàn ở các môn học đặc thù: Âm nhạc, mĩ thuật… nên việc thực hiện công tác BDGV của các môn học còn gặp nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại ở hầu hết các trường thiếu nhiều. Vì vậy, chưa khai thác thế mạnh từ thành tựu của khoa học công nghệ.
Cơ chế phối hợp QL công tác BDGV giữa các ngành, các cấp QL còn thiếu chặt chẽ, chưa tạo được sự liên thông, đa tuyến trong phối hợp quản lí, việc kiểm tra đánh giá kết quả mang nặng tính hình thức, chưa có cơ chế phối hợp trong quản lí để tạo điều kiện đúng mức cho hoạt động tự BD của GV.
2.4.3. Thuận lợi
Mặc dù còn nhiều yếu kém, bất cập trong quản lí song có thể khẳng định rằng công tác BDGVTH huyện Tân Sơn đang được diễn ra trong hoàn cảnh có nhiều thuận lợi.
Trong những năm gần đây, GD&ĐT đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Những thành quả đạt được trong công cuộc đổi mới đã khẳng định vai trò quyết định của Bộ GD&ĐT đối với sự phát triển. Đặc biệt chỉ thị số 40-CT/TƯ ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL, tạo niềm tin, động lực cho công tác BDĐNGVTH tiến nhanh trong sự phối hợp của các yếu tố từ môi trường chính trị xã hội.
Quan điểm “tăng cường đào tạo, đào tạo lại và nâng cao chất lượng đội ngũ GV” mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đề ra vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển GD&ĐT, là cơ sở vững chắc để lập quy hoạch công tác BDGV, phát triển nguồn nhân lực trong GD.
Phần lớn đội ngũ cán bộ, GVTH có tinh thần vượt khó, cầu tiến trong học tập nâng cao trình độ, năng lực giảng dạy và rèn luyện đạo đức, lối sống để hoàn thiện nhân cách người GV trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Điều này được thể hiện trong nhu cầu được tiếp tục BD, học tập của GV.
2.2.4. Khó khăn Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
Trong giai đoạn hiện nay, trước sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ, lượng tri thức đang gia tăng theo cấp số nhân với thời gian. Tình trạng này làm nảy sinh mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu vô hạn về cập nhật tri thức và một bên là quỹ thời gian và khả năng nhận thức hữu hạn của con người. GD&ĐT với chức năng “mở cửa tương lai” phải đi tắt, đón đầu và xung kích trên mặt trận chống tụt hậu. Có thể nói đây là một thách thức mang tính thời đại đối với mọi quốc gia, mọi cấp, mọi ngành và mọi người, trong đó ngành GD&ĐT mà trước hết là người GV đang ở vị trí tiền tiêu.
Thực trạng đội ngũ GVTH ở huyện Tân Sơn hiện nay đa số chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới của GD phổ thông. Mặc dù không còn GV có trình độ dưới chuẩn, thậm chí số GV đạt trình độ trên chuẩn cao, một số đang theo học các lớp Đại học tại chức, chỉ còn số ít GV tuổi cao trên 50 là không tham gia học lên. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của GV chưa đầy đủ về công tác BD, tự BD, một bộ phận GV nhiều năm công tác ở vùng cao, thậm chí chuyên giảng dạy ở điểm lẻ cách xa trung tâm ít giao lưu với đơn vị bạn, e dè trong việc tham gia các cuộc hội thảo, hội thi GV dạy giỏi, BD chuyên đề do cấp trên tổ chức…, một nguyên nhân nữa đó là đội ngũ GV chủ yếu là GV trẻ mới tuyển dụng và GV hợp đồng nên chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy và GDTHeo yêu cầu hiện nay, đặc biệt còn nhiều lúng túng trong việc tự đánh giá và tham gia đánh giá GV hàng năm theo chuẩn nghề nghiệp.
Giữa yêu cầu quy hoạch đội ngũ GV và cơ chế quản lí hiện nay còn bất cập. CBQL cơ sở còn thụ động trong việc quy hoạch cán bộ, GV và quy hoạch công tác BDGVTH.
Nguồn lực cho công tác BD còn hạn chế, thiếu giáo vên nòng cốt cho các môn học đặc thù, nguồn tài chính đầu tư cho việc biên soạn tài liệu, bài giảng còn chưa được quan tâm, quan điểm của các cấp quản lí về công tác biên soạn tài liệu, bài giảng vẫn chưa nhất quán.
Tiểu kết chương 2
Tóm lại, hoạt động BDGV mà trước tiên là BDĐNGVTH nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp GD hiện nay và quản lí hoạt động này ở huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của GV và chất lượng GD toàn diện của HS. Tuy vậy, kết quả nghiên cứu điều tra khảo sát cho thấy việc quản lí công tác BDĐNGVTH vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, với việc phân tích thực trạng năng lực, trình độ của đội ngũ GVTH và chỉ ra những hạn chế của các hoạt động BDĐNGVTH. Chương 2 đã đưa ra những cơ sở thực tiễn làm tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp quản lí nhằm khắc phục các tồn tại, giải quyết các vấn đề bất cập trên. Vấn đnày được chúng tôi trình bày tại chương 3 dưới đây. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Biện pháp nâng cao bồi dưỡng giáo viên tiểu học

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
