Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự 2015 về bắt buộc chữa bệnh và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam từ năm 2014 đến 2018 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định của Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự 2015 về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

2.1.1. Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

Xuất phát từ chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta, pháp luật hình sự Việt Nam được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc nhất định như: Nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng… Trên tinh thần kiên quyết trong đấu tranh, phòng chống tội phạm, bên cạnh những hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe thì cũng nhằm giúp đỡ, giáo dục, cải tạo người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để họ có thể trở thành những người có ích cho xã hội. Đối với người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không thể coi họ là tội phạm hay khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trạng thái tỉnh táo nhưng sau đó bị bệnh hoặc tái phát bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì trình tự xử lý đối với họ cũng không thể giống như đối với người trong trạng thái tỉnh táo. Chính vì vậy, việc xử lý đối với những đối tượng này được quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1999: 1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. 2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Như vậy, mặc dù được kế thừa từ Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1999 đã có những điểm khác cho thấy sự hoàn thiện, chặt chẽ về mặt kỹ thuật lập pháp, thể hiện ở quy định “Người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần” trong Bộ luật hình sự 1985 được thay thế bởi quy định “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần” trong Bộ luật hình sự năm 1999 nhằm nhận thức một cách đúng đắn tinh thần của điều luật, tránh hiểu sai khi có quan điểm cho rằng chỉ thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng trên mới không phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu thực hiện nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng trên thì phải chịu trách nhiệm hình sự và quy định “Đối với người này sẽ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh” trong bộ luật hình sự 1985 được thay thế bằng quy định “Đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh” trong bộ luật hình sự năm 1999 cho thấy tính bắt buộc phải được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Đối với những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do bị bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì không phải là tội phạm và không được áp dụng hình phạt đối với họ. Tuy nhiên, với tình trạng bệnh của họ thì cũng không thể để họ ở ngoài xã hội mà cần phải có biện pháp cần thiết để ngăn chặn họ có thể thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội khác, cho nên việc Bộ luật hình sự quy định việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ là phù hợp. Bộ luật hình sự năm 1999 đã dành một chương riêng để quy định về biện pháp tư pháp nói chung và biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng, theo đó Điều 43 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về biện pháp bắt buộc chữa bệnh:“1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại khoản 1 Điều 13 của Bộ luật này, thì tùy theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh; nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa, thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 2. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. 3. Đối với người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt”. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Như vậy, theo quy định trên thì biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với 03 đối tượng:

  • Thứ nhất, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi;
  • Thứ hai, người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi;
  • Thứ ba, người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.

Tùy vào từng giai đoạn tiến hành tố tụng, căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án hoặc Viện kiểm sát quyết định đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa để áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với từng trường hợp cụ thể nêu trên. Mặt khác, theo quy định thì bên cạnh việc đưa vào cơ sở điều trị chuyên khoa thì Tòa án hoặc Viện kiểm sát có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trên thực tế, việc giao cho gia đình hoặc người giám hộ được áp dụng khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không mắc bệnh đến mức có những hành vi quấy phá hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và hành vi thực hiện ở mức độ ít nghiêm trọng, ít có khả năng gây nguy hại cho xã hội. Tuy nhiên, về mặt pháp luật lại không có quy định rõ phải căn cứ vào những điều kiện nào để giao cho gia đình hoặc người giám hộ, đây là một điểm hạn chế của điều luật có thể dẫn đến việc lạm dụng, tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật.

Về thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được hướng dẫn tại tại Điều 5 và Điều 6 Nghị định 64/2011/NĐ-CP ngày 28/07/2011 quy định việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh: “Điều 5. Đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra.

Trong giai đoạn điều tra, khi có nghi ngờ người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự, cơ quan điều tra đang thụ lý giải quyết vụ án phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Nếu Hội đồng giám định pháp y tâm thần kết luận người đó mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì cơ quan điều tra đang thụ lý giải quyết vụ án gửi đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện Kiểm sát cùng cấp.

Điều 6. Đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn thi hành án

  1. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang thi hành án tại Trại giam hoặc Trại tạm giam mà có nghi ngờ họ bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì Giám thị Trại giam, Giám thị Trại tạm giam đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi có Trại giam hay Trại tạm giam đang giam giữ người bị kết án tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với họ và quyết định việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
  2. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang thi hành án tại Nhà tạm giữ mà có nghi ngờ họ bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với họ và quyết định việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”.

Về thời gian bắt buộc chữa bệnh được quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự năm 1999: “Căn cứ vào kết luận của cơ sở điều trị, nếu người bị bắt buộc chữa bệnh quy định tại Điều 43 của Bộ luật này đã khỏi bệnh, thì tuỳ theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án xét và quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.

  • Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”.

Như vậy, pháp luật không quy định cụ thể thời gian áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh là bao lâu cho nên theo quy định nêu trên thì có thể hiểu thời gian điều trị bệnh sẽ không bị hạn chế mà sẽ kéo dài đến khi nào bệnh được chữa khỏi. Sau một quá trình điều trị bệnh, căn cứ vào kết luận của cơ sở điều trị nếu xét thấy người bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh thì Tòa án hoặc Viện kiểm sát quyết định đình chỉ việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì sau khi khỏi bệnh thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Còn đối với người đang chấp hành hình phạt mà phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc người sau khi chấp hành xong biện pháp bắt buộc chữa bệnh mà bị kết án phạt tù thì thời gian chữa bệnh sẽ được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

2.1.2. Quy định của Bộ luật hình sự 2015 về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Có thể nói, sau mỗi lần pháp điển hóa thì các quy định của pháp luật hình sự nói chung và quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ hơn đáp ứng được yêu cầu phát triển về kinh tế – xã hội, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm ở từng giai đoạn nhất định. Sau pháp điển hóa pháp luật hình sự lần thứ 3 với sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 2015 thì quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh vẫn giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật hình sự. Bởi lẽ việc quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nhằm mục đích đầu tiên là phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội của người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác gây rối loạn hoạt động tâm thần, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho những người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần được điều trị và chữa bệnh thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả của Nhà nước ta. Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015: “1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 của Bộ luật này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. 2. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. 3. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt. Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”.

Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, theo đó, “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự năm 2015 được kế thừa gần như toàn bộ quy định của Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 2015 cho thấy sự hoàn thiện về mặt kỹ thuật lập pháp, và mặc dù được rút ngắn xuống còn một điều nhưng cho thấy sự chặt chẽ hơn so với Bộ luật hình sự năm 1999. Cũng như Bộ luật hình sự năm 1999, quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự năm 2015 được áp dụng đối với 03 đối tượng:

  • Thứ nhất, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi; Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.
  • Thứ hai, người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi;
  • Thứ ba, người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.

Trên cơ sở quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015, để áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cần những điều kiện sau:

  • Thứ nhất, biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với người phạm tội hoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
  • Thứ hai, biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần
  • Thứ ba, bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
  • Thứ tư, biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng khi Tòa án hoặc Viện kiểm sát xét thấy cần thiết.

Về thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với các đối tượng nêu trên thì Bộ luật hình sự 2015 vẫn quy định thuộc về Tòa án hoặc Viện kiểm sát. Trường hợp theo khoản 1 thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát hoặc Tòa án; trường hợp theo khoản 2 và khoản 3 thuộc thẩm quyền của Tòa án. Có thể thấy rằng, đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình trong giai đoạn điều tra và truy tố thì thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thuộc Viện kiểm sát. Trong giai đoạn viện kiểm sát đã truy tố, chờ xét xử và giai đoạn thi hành án thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thuộc Tòa án. Hơn nữa, theo quy định nêu trên thì Tòa án hoặc Viện kiểm sát phải căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần để có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh, đây là một điểm khác so với Bộ luật hình sự năm 1999.

Trường hợp áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Ở đây người phạm tội do bị bệnh nên không ở trong trạng thái tỉnh táo, không có khả năng nhận thức được hành vi của mình là đúng hay sai, là nên làm hay không nên làm, họ không có khả năng lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với đòi hỏi của xã hội, tức là họ không có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình. Vì vậy, họ không phải là tội phạm. Tuy nhiên, việc để những người này ở ngoài xã hội là không phù hợp, có thể dẫn đến việc người này sẽ thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội khác. Xuất phát từ mục đích nhân đạo thì việc buộc họ phải vào cơ sở điều trị chuyên khoa để chữa bệnh là điều cần thiết. Khi có nghi ngờ một người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần và căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần Tòa án hoặc Viện kiểm sát có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Bởi vì, họ không phải là tội phạm cho nên sau khi khỏi bệnh, họ sẽ được trở về với xã hội mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình đã gây ra. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Trường hợp áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo, người phạm tội có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, việc người phạm tội mắc bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi là sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội và trước khi bị kết án. Chính vì vậy, họ vẫn bị coi là tội phạm và không được miễn trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà họ đã thực hiện. Tuy nhiên, việc đưa một người bị mất năng lực trách nhiệm hình sự ra xét xử là trái với nguyên tắc nhân đạo, không đạt được mục đích của pháp luật hình sự. Cho nên việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ là chưa cần thiết và căn cứ vào kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần thì Tòa án có thể quyết định đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi họ đã khỏi bệnh thì căn cứ vào quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự mà cơ quan tiến hành tố tụng quyết định việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hay tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp, người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đang phải chấp hành hình phạt tù theo bản án của Tòa án nhưng trong thời gian chấp hành hình phạt tù thì bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Nếu vẫn buộc họ phải chấp hành hình phạt tù thì sẽ không phù hợp với nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự, không đạt được mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội. Đối với đối tượng này thì Tòa án sẽ căn cứ vào kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần để quyết định tạm thời không phải chấp hành hình phạt tù và đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Nếu sau khi khỏi bệnh mà họ không có lý do để miễn chấp hành hình phạt thì họ vẫn tiếp tục chấp hành hình phạt tù. Mặt khác, vì biện pháp bắt buộc chữa bệnh vẫn được xem là một biện pháp hạn chế sự tự do cho nên sau khi khỏi bệnh thì họ chỉ phải chấp hành hình phạt tù trong một khoảng thời gian nhất định sau khi hình phạt tù mà họ chưa chấp hành trước đó đã được trừ vào thời gian bắt buộc chữa bệnh. Nếu như thời gian bắt buộc chữa bệnh cao hơn hoặc bằng hình phạt tù mà người đó lẽ ra phải chấp hành thì họ sẽ không phải chấp hành hình phạt tù nữa.

Cũng giống như Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2015 không quy định về thời gian cụ thể áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là bao lâu mà chỉ quy định là “sau khi khỏi bệnh”, thì chúng ta có thể hiểu là thời gian bắt buộc chữa bệnh không bị hạn chế, tùy vào tình trạng của bệnh mà thời gian bắt buộc chữa bệnh không cố định.

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 447 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì “1. Khi có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật hình sự thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần”. Đây là quy định rất chặt chẽ, cơ quan tiến hành tố tụng khi trưng cầu giám định pháp y tâm thần cần dựa vào cơ sở, chứng cứ nhất định không được chung chung nhằm tránh tình trạng tùy tiện, lạm dụng trong việc trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 447 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì “Căn cứ vào kết luật giám định pháp y  tâm thần, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố; Tòa án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn xét xử và thi hành án”.

Về việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì hiện nay nước ta có các tổ chức, cơ sở đó là Viện Giám định pháp y tâm thần Trung ương và Bệnh viện tâm thần Trung ương 1 (Thường tín, Hà Nội) có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, điều trị những người bị bắt buộc chữa bệnh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực phía Bắc; bệnh viện tâm thần Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng) có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, điều trị người bị bắt buộc chữa bệnh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên; phân viện Giám định pháp y tâm thần phía Nam và Bệnh viện tâm thần Trung ương 2 (Biên Hòa, Đồng Nai) có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, điều trị những người bị bắt buộc chữa bệnh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực phía Nam [57].

2.2. Thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh từ 2014 đến 2018 Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

2.2.1. Những kết quả đạt được về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết một cách triệt để những vấn đề phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Qua đó, không những góp phần quan trọng trong việc phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm mà còn giáo dục người phạm tội để họ trở thành những người có ích cho xã hội. Để thực hiện được điều này, đòi hỏi hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất sẽ đóng vai trò quan trọng nhất. Tuy nhiên, hình phạt không phải là một biện pháp phù hợp đối với tất cả những trường hợp như đối với người bị bệnh tâm thần thì nếu áp dụng hình phạt đối với họ rõ ràng là không đạt được mục đích nêu trên. Chính vì vậy, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà cần phải áp dụng biện pháp tư pháp nói chung và biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng. Trong đó, biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng để trước hết nhằm khôi phục sức khỏe đối với những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng lại mắc bệnh về tâm thần hoặc bệnh khác làm cho họ bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Và sở dĩ quy định biện pháp này là vì mục đích cuối cùng của pháp luật hình sự là nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội, bởi nếu những người này không còn khả năng tiếp thu, nhận thức được những hành vi mà mình đã, đang, sẽ làm thì việc giáo dục, cải tạo đối với họ là không hiệu quả. Do đó mà trong mỗi lần pháp điển hóa pháp luật hình sự thì quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh luôn được quan tâm, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để giải quyết hiệu quả các vụ án hình sự. Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Như vậy, pháp luật chỉ quy định về bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi nhưng bệnh tâm thần, bệnh khác là bệnh nào thì hiện tại pháp luật không quy định cụ thể, rõ ràng. Thực tế trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với những vụ án có liên quan đến người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị bệnh tâm thần hoặc trong quá trình xử lý thì họ đưa ra chứng cứ chứng minh mình bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi nhằm trốn tránh việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt tù đã gây ra không ít khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, bởi lẽ theo quy định hiện hành thì họ phải căn cứ vào kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần của các tổ chức giám định pháp y tâm thần để tiến hành các bước tố tụng tiếp theo quy định pháp luật.

Trong quá trình nghiên cứu về quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, tác giả đã liên hệ với Viện pháp y tâm thần trung ương 1 đề nghị cung cấp các số liệu liên quan đến việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 để làm rõ hơn về những kết quả đã đạt được, cũng như những khó khăn, hạn chế trong việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Viện pháp y tâm thần trung ương 1 chỉ đồng ý cung cấp các số liệu về số bị can, bị cáo đã có kết luận giám định pháp y tâm thần vào điều trị bắt buộc tại Viện pháp y tâm thần trung ương 1 và đã được điều trị ổn định và ra viện từ năm 2014 đến năm 2018, còn đối với những bị can, bị cáo đang theo dõi hoặc đang điều trị thì Viện pháp y tâm thần trung ương 1 không cung cấp, cụ thể như sau:

  • KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH PHÁP Y TÂM THẦN

(Số bệnh nhân vào điều trị bắt buộc tại Viện pháp y tâm thần trung ương 1 đã điều trị ổn định và ra viện từ năm 2014 đến năm 2018)

Tuy còn một số bị can, bị cáo đang theo dõi hoặc đang điều trị không được cung cấp nhưng qua số liệu trên chúng ta có thể thấy, tại Viện pháp y tâm thần trung ương 1 qua mỗi năm số trường hợp mà các cơ quan tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) có sự nghi ngờ đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội về tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự của họ, cũng như số trường hợp phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần trung ương đối với bị can, bị cáo trong giai đoạn tố tụng, người chấp hành hình phạt tù trong giai đoạn thi hành án là không nhiều (như năm 2014 chiếm nhiều nhất trong năm với 89 trường hợp phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần, năm thấp nhất là năm 2015, 2016 với 64 trường hợp phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần) và sự chênh lệch về việc trưng cầu giám định qua từng năm là không cao nhiều nhất chỉ 25 trường hợp (so sánh số trường hợp phải trưng cầu giám định giữa năm 2014 và năm 2015).

Bên cạnh đó, thông qua bảng số liệu, chúng ta có thể thấy về đề nghị trưng cầu giám định pháp y tâm thần ở giai đoạn xét xử, thi hành án (thuộc thẩm quyền của Tòa án) thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn điều tra, truy tố (thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát), thực tế này cho thấy việc phát hiện hoặc nghi ngờ về tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác của bị can tập trung chủ yếu ở giai đoạn điều tra, truy tố và ngược lại cũng cho thấy tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do bị bệnh tâm thần, một bệnh khác của bị cáo, người chấp hành hình phạt tù ở giai đoạn xét xử, thi hành án là thấp. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Qua quá trình giám định pháp y tâm thần, có thể thấy sự chênh lệch giữa số trường hợp trưng cầu giám định pháp y tâm thần với số trường hợp được cơ quan giám định kết luận mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của từng năm là không nhiều và qua từng năm thì sự chênh lệch giảm rất nhiều (nếu như năm 2015 với 64 trường hợp phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần có 34 trường hợp mất khả năng nhận thực hoặc khả năng điều khiển hành vi thì năm 2016 cũng với 64 trường hợp phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần thì có 53 trường hợp mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi). Trong đó, năm 2018 có sự chênh lệch thấp nhất với 66 trường hợp phải trưng cầu giám định pháp y tâm thì có 58 trường hợp kết luận là mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Sự chênh lệch nhiều nhất là vào năm 2015 với 64 trường hợp phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần có 34 trường hợp mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Ngoài việc kết luận về những trường hợp mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì thông qua việc trưng cầu giám định pháp y tâm thần còn kết luận về trường hợp hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, tuy nhiên việc kết luận về các trường hợp này chiếm tỉ lệ không nhiều và giảm dần qua từng năm, nếu như năm 2014 trong tổng số 89 trường hợp phải trưng cầu giám định có 30 trường hợp kết luận hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi chiếm tỉ lệ lớn nhất thì đến năm 2018 trong tổng số 66 trường hợp phải trưng cầu giám định có 08 trường hợp kết luận hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi chiếm tỉ lệ ít nhất. Qua số liệu cho thấy việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ngày càng chặt chẽ, tình trạng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội lợi dụng tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự để trốn tránh việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tuy còn tồn tại nhưng qua từng năm đã giảm rõ rệt.

Một điểm đáng chú ý trong bảng số liệu nêu trên là trong năm từ năm 2014 đến năm 2018 thì chỉ có duy nhất một trường hợp là Viện kiểm sát trưng cầu giám định pháp y tâm thần, đó là vào năm 2016. Qua tìm hiểu, tác giả được biết phần lớn việc nghi ngờ hoặc phát hiện về tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự của bị can là ở ngay trong giai đoạn điều tra nhưng cũng có nhiều trường hợp trong giai đoạn truy tố tuy có căn cứ nghi ngờ về tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự của bị can và có thẩm quyền đề nghị trưng cầu giám định pháp y tâm thần nhưng Viện kiểm sát không ra quyết định trưng cầu giám định mà trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần, sau khi có kết luận giám định pháp y tâm thần thì Cơ quan điều tra chuyển tiếp hồ sơ sang Viện kiểm sát. Trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, nếu bị can bị bệnh được kết luận mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Viện kiểm sát mới ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Điều này gây ra sự khó hiểu trong hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát, bởi lẽ ở giai đoạn truy tố khi có căn cứ nghi ngờ về tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm sát hoàn toàn có quyền ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần nhưng Viện kiểm sát lại đẩy trách nhiệm đó sang cho Cơ quan điều tra, thực tế này cho thấy sự rườm rà về thủ tục, dẫn đến việc kéo dài thời gian tố tụng mà đáng lẽ ra có thể được thực hiện một cách nhanh chóng.

Sau khi có kết luận giám định pháp y tâm thần thì tùy vào từng giai đoạn tố tụng, thi hành án, Tòa án hoặc Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Theo bảng số liệu nêu trên thì qua từng năm (từ năm 2014 đến năm 2018) giữa Tòa án (giai đoạn xét xử, thi hành án) và Viện kiểm sát (giai đoạn truy tố) có sự chênh lệch rất lớn về việc ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Trong đó, sự chênh lệch ít nhất là vào năm 2014 (Viện kiểm sát ra 77 quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Tòa án ra 12 quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh), sự chênh lệch nhiều nhất là vào năm 2017 (Viện kiểm sát ra 83 quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Tòa án ra 05 quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh). Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Ngoài ra, qua từng năm việc ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của Tòa án hoặc Viện kiểm sát có lúc tăng, lúc giảm (tăng nhiều nhất là ở giai đoạn truy tố từ năm 2016 với 61 trường hợp thì đến năm 2017 tăng lên 83 trường hợp; từ năm 2017 đến năm 2018 số trường hợp áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh giảm xuống ở các giai đoạn tố tụng, thi hành án) nhưng nhìn chung qua từng năm từ năm 2014 đến năm 2018 thì việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh có xu hướng giảm dần, thể hiện rõ nét nhất là trong giai đoạn xét xử, thi hành án (năm 2014 với 12 trường hợp, năm 2015 với 07 trường hợp, năm 2016 với 05 trường hợp, năm 2017 với 03 trường hợp và năm 2018 với 02 trường hợp bị cáo, người đang chấp hành hình phạt tù được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh) điều này cho thấy các vụ án hình sự do người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thực hiện cũng như người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi giảm dần qua từng năm. Sự giảm dần của việc ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cũng cho thấy chất lượng của việc giám định pháp y tâm thần (kết luận giám định pháp y tâm thần là căn cứ để ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc không) qua từng năm đã được chú trọng và hoàn thiện hơn thể hiện ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ giám định viên ngày càng được nâng cao, các trang, thiết bị hiện đại phục vụ, hỗ trợ cho việc giám định cũng được đầu tư hơn để đưa ra được kết luận chính xác hơn về tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự của người được trưng cầu giám định, qua đó có thể phân biệt một cách chính xác nhất giữa tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế, cũng như phát hiện những trường hợp lợi dụng quy định pháp luật giả bị bệnh tâm thần để trốn tránh trách nhiệm hình sự do hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình gây ra.

Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động giám định pháp y tâm thần đóng vai trò rất quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm khi tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, sử dụng nhiều chiêu trò, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để qua mặt các cơ quan chức năng, trong đó quy định bắt buộc chữa bệnh rất nhân đạo của Bộ luật hình sự đã được nhiều tội phạm coi như là một “bùa hộ mệnh” trong các vụ án hình sự để nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự, do đó, công tác giám định pháp y tâm thần luôn phải được quan tâm, chú trọng để giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết các vụ án hình sự được khách quan, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, qua đó góp phần bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị hại cũng như chính người được trưng cầu giám định pháp y tâm thần.

Từ những phân tích nêu trên, tác giả nhận thấy rằng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp và việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của các cơ quan tố tụng đã đạt được hiệu quả cao trong việc xử lý những trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi hoặc người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi hoặc người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.

2.2.2. Những hạn chế, khó khăn trong việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trên thực tế vẫn còn tồn tại những khó khăn, hạn chế nhất định. Quy định pháp luật về biện pháp bắt buộc chữa bệnh chưa triệt để, điều này dẫn đến việc những người bị bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi tiếp tục sống trong xã hội khi chưa được chữa trị để rồi họ thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội như vụ việc xảy ra vào ngày 26 tháng 11 năm 2017, cháu K, 6 tuổi, trú tại quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh đang đi trên đường thì bị một đối tượng lao đến dùng dao cắt vào vùng cổ. Cháu K chết khi đang trên đường đến bệnh viện, người gây ra cái chết cho cháu K là Hoàng Nhất Giang, Cơ quan điều tra đã xác định được Giang là người có tiền sử bệnh tâm thần phân liệt và từng được điều trị tại cơ sở y tế [58].

Bên cạnh đó, trên thực tế thì biện pháp bắt buộc chữa bệnh cũng được các đối tượng phạm tội dựa vào để trốn tránh trách nhiệm hình sự. Ví dụ như trường hợp Phạm Chiến T bị Tòa án nhân dân tỉnh V tuyên phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2016/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2016. Theo đó, Ngày 06/10/2015, bị cáo Phạm Chiến T tổ chức ăn cơm, uống rượu mừng sinh nhật con T tại nhà của T. Trần Văn S , Trần K, Nguyễn Văn N và một số người khác có mặt cùng uống rượu với T. Khoảng 14 giờ cùng ngày khi đang uống rượu, do bực tức từ câu nói của S khi đã uống nhiều rượu nên T đã dùng chân phải đá vào sườn bên trái của anh S, dùng tay trái đấm mạnh vào má bên phải của anh S, làm anh S ngã ngửa đầu đập vào tường. Anh S chưa kịp ngồi dậy thì T tiếp tục dùng chân phải đạp mạnh một cái vào vùng bụng của anh S. Khi T không đánh nữa, anh S loạng choạng đứng dậy đi ra ngoài cửa thì bị ngã sấp mặt xuống nền sân. Sau khi đứng dậy thì anh S lại bị ngã ngửa ra sau đầu đập vào đống củi dựa cạnh tường phía trước gần cửa phía bên trái theo hướng từ ngoài nhìn vào nhà T. Sau đó, T và anh Trần K mượn xe của Ngọc đưa anh S về nhà anh S. Sau khi được đưa về nhà, anh S tỉnh lại và kêu đau nên đã được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu Nghị Lạc Việt tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh V nhưng do thương tích nặng nên ngày 07/10/2015 thì anh S tử vong. Trong quá trình điều tra, gia đình Phạm Chiến T có báo cáo và giao nộp các sổ khám bệnh thể hiện việc T đã khám và điều trị bệnh tâm thần (do uống rượu) tại Bệnh viện tâm thần tỉnh V 2 lần (vào các ngày 03/3/2012 và ngày 28/02/2015). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã tiến hành trưng cầu giám định về tâm thần đối với Phạm Chiến T. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 29/2015/PYTT ngày 08/12/2015 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc đã kết luận: “- Phạm Chiến T sinh năm 1982 ở Thôn M, xã M1, huyện X, tỉnh V không bị bệnh tâm thần. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 06/10/2015, Phạm Chiến T đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện tại Phạm Chiến T đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu bị bệnh tâm thần nhưng trong quá trình điều tra, truy tố thì cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không phát hiện ra hoặc đã bỏ quên việc trưng cầu giám định pháp y tâm thần mà vẫn ra kết luận điều tra, truy tố bị can trước Tòa dẫn đến việc Tòa phải trả hồ sơ để đề nghị trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Ví dụ như trường hợp bị cáo Trần Đức Qn bị truy tố về các tội Giết người và Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo Trần Đức Qn có biểu hiện về tâm thần, ngồi gục và hát không chủ định, gia đình bị cáo giao nộp các tài liệu về việc bị cáo đã khám, chữa bệnh và điều trị về tâm thần từ năm 2015, như vậy, bị cáo đã có biểu hiện mắc bệnh về tâm thần trước giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án nhưng Cơ quan điều tra chưa tổ chức giám định về tâm thần đối với bị cáo nên chưa đủ căn cứ xác định rõ về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bị cáo Trần Đức Qn. Vì vậy, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã ra Số: 53/2018/HSST-QĐ ngày 09 tháng 8 năm 2018 trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 188/2018/TLST- HS ngày 10/5/2018 đối với các bị cáo Trần Đức Qn để điều tra, xác minh và tổ chức giám định về tâm thần đối với bị cáo Trần Đức Qn.

Bên cạnh đó, cũng có những trường hợp người phạm tội đã được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, sau khi khỏi bệnh đã được xét xử theo quy định pháp luật nhưng Tòa án lại quên trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Ví dụ như trường hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2018/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình tuyên Nguyễn Văn Đ phạm tội “Giết người” với hình phạt là 09 năm tù tính từ ngày 31/10/2017, được trừ 6 tháng 27 ngày đã tạm giam. Ngày 30/01/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa bình có Quyết định kháng nghị số 01/KN-VKS-P2, nội dung: Kháng nghị đối với phần quyết định chấp hành hình phạt tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2018/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình. Đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ theo hướng áp dụng Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 1999, trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh vào thời gian chấp hành hình phạt tù cho bị cáo Nguyễn Văn Đ để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa bình. Trước đó, trong quá trình điều tra Nguyễn Văn Đ có dấu hiệu tâm thần. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 248/KLGĐ ngày 02/8/2016 của Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận: “Trước, trong khi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Văn Đ có bị bệnh tâm thần: Bệnh rối loạn loại phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi bệnh có mã số F21. Tại các thời điểm trên bị can Nguyễn Văn Đ hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Bị can cần được điều trị bệnh”. Tại Quyết định số 03/KSĐT ngày 28/9/2016, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Nguyễn Văn Đ. Ngày 18/10/2017, Viện pháp y tâm thần Trung ương có Kết luận số 56/GĐSKTT – SBBCB, kết luận: “Hiện tại tình trạng bệnh tâm thần của Nguyễn Văn Đ ở giai đoạn khỏi bệnh. Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.” Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Tại bản án số: 381/2018/HSPT, ngày 20 tháng 06 năm 2018 Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2018/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình về phần trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh vào thời gian chấp hành hình phạt tù. Tuyên Nguyễn Văn Đ phạm tội “Giết người”, xử phạt Nguyễn Văn Đ 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2017. Được trừ 19 tháng 28 ngày (trong đó có 06 tháng 27 ngày đã tạm giam; thời gian bắt buộc chữa bệnh 13 tháng 01 ngày).

2.2.3. Những nguyên nhân gây nên những hạn chế, khó khăn trong việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

Những khó khăn, hạn chế trong việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong thực tiễn do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng theo tác giả chủ yếu do các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, trên thực tiễn đã có nhiều vụ án cố ý gây thương tích, giết người…, xảy ra do nhiều gia đình thiếu quan tâm, chăm sóc đến người bệnh, thậm chí nhiều gia đình còn có biểu hiện che giấu việc người thân của mình có dấu hiệu mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Hơn nữa khi áp dụng các biện pháp bắt buộc đưa người bệnh đến các trung tâm, tổ chức có thẩm quyền chữa trị, do gia đình không đủ kinh tế, hoặc cơ quan có thẩm quyền giao cho chính quyền địa phương quản lý, trong khi chính quyền địa phương không đủ điều kiện để theo dõi, quản lý.

Thứ hai, xuất phát từ tính nhân đạo của Bộ luật hình sư như miễn trách nhiệm hình sự… mà người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc thực hiện hành vi phạm tội không từ một thủ đoạn nào, lợi dụng quy định biện pháp bắt buộc chữa bệnh để trốn tránh trách nhiệm về những hành vi, hậu quả mà họ gây ra. Bên cạnh đó, giám định pháp y tâm thần hạn chế công tác giám định pháp y tâm thần vẫn còn tồn tại nhưng hạn chế, yếu kém. Giám định pháp y tâm thần là một quá trình phức tạp nhưng hiện nay số lượng các giám định viên không nhiều, chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, số lượng các đơn vị có thẩm quyền giám định pháp y tâm thần còn ít (hiện cả nước có 05 đơn vị), trang thiết bị phục vụ công tác giám định chưa đảm bảo được việc theo dõi, chẩn đoán bệnh. Hiện nay, để chẩn đoán bệnh bên cạnh các thiết bị máy móc thì chủ yếu các giám định viên đều phải trực tiếp theo dõi các hành động của bệnh nhân. Việc theo dõi như vậy là rất khó khăn trong việc phân biệt được thật giả, bởi nếu được chỉ điểm thì họ có thể qua mặt các giám định viên. Chính vì vậy mà những người thực hiện hành vi phạm tội hoặc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, quy định của pháp luật còn chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội của những người bị bệnh tâm thần. Đối với những trường hợp tương tự như trường hợp Hoàng Nhất Giang nêu trên thì một số người sẽ được đưa đi bắt buộc chữa bệnh sau khi được cơ quan tố tụng xác định là không phải chịu trách nhiệm hình sự. Sau khi sức khỏe ổn định họ lại được trở về với gia đình, xã hội, những người này sẽ tạo nên sự bất an đối với những người xung quanh vì đến một lúc nào đó bệnh của họ có thể tái phát và họ có thể lại thực hiện nhưng hành vi nguy hiểm cho xã hội. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì việc xác định một người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thuộc trách nhiệm của cơ quan giám định pháp y tâm thần. Trong các giai đoạn tố tụng, giai đoạn nào phát hiện được, hoặc người phạm tội yêu cầu thì cơ quan tiến hành tố tụng ở giai đoạn đó ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để xác định năng lực trách nhiệm hình sự của họ. Mặc dù Nghị định số 64/2011/NĐ-CP quy định việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh, trong đó, có đề cập việc thi hành biện pháp chữa bệnh bắt buộc đối với người được xác định mắc bệnh tâm thần, nhưng các biện pháp này chỉ áp dụng từ giai đoạn điều tra theo quyết định của cơ quan tố tụng, tức là sau khi các đối tượng đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chính vì vậy mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị định số 64/2011/NĐ-CP không đề cập đến việc bắt buộc người bị tâm thần, người bị hạn chế hoặc mất nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi đi chữa bệnh khi họ có dấu hiệu của bệnh để ngăn ngừa những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do họ gây ra. Để ngăn ngừa những hành vi nguy hiểm cho xã hội của người bị tâm thần, hạn chế hoặc mất nhận thức, khả năng điều khiển hành vi gây ra, cần tiến hành đồng thời nhiều giải pháp như khi phát hiện người thân có dấu hiệu của bệnh tâm thần thì gia đình cần sớm đưa đến các cơ sở y tế, theo dõi chặt chẽ người bệnh, tránh gây kích động, hoặc để người bệnh tiếp xúc những công cụ có khả năng gây sát thương. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng cần có sự quản lý, giám sát chặt chẽ, quan tâm đến những người mắc bệnh trên địa bàn. Quy định pháp luật cần phải được sửa đổi, bổ sung để quản lý, cũng như bắt buộc chữa bệnh đối với những người mới bắt đầu có biểu hiện bệnh tâm thần.

Thứ tư, quy định về thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù chưa chặt chẽ, phù hợp… dẫn đến trường hợp bỏ quên việc trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh. Hơn nữa quy định tại Khoản 3, Điều 49 “…Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù” dễ gây ra hiểu nhầm. Nếu như Bộ luật hình sự năm 1999 dành một Điều riêng để quy định về việc trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh vào thời gian chấp hành hình phạt tù nhưng trên thực tế vẫn có trường hợp Tòa án không trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh dẫn đến phải sửa án, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị kết án như đã nêu ở trên thì với quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ gây ra những khó khăn trong việc xử phạt đối với người phạm tội. Bởi theo cấu trúc thì việc quy định thời gian bắt buộc chữa bệnh tại Khoản 3, Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 có người sẽ hiểu là chỉ có ý nghĩa áp dụng cho trường hợp quy định riêng tại Khoản 3, Điều 49 nhưng nếu theo lời văn của điều luật thì có quan điểm cho rằng vẫn được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù cho trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 nếu sau này họ bị xử phạt tù. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Thứ năm, về năng lực, trình độ của những người tiến hành tố tụng liên quan đến biện pháp bắt buộc chữa bệnh còn hạn chế. Qua những phân tích nêu trên cho thấy sự hạn chế của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Có thể nói biện pháp bắt buộc chữa bệnh là một biện pháp mang tính đặc thù có tính chất y học, được áp dụng đối với người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Trong khi những người tiến hành tố tụng không được đào tạo bài bản về những kiến thức tâm thần học, cho nên việc nghi ngờ một người có bị bệnh tâm thần hay không xuất phát từ những nhận định, đánh giá mang tính cá nhân (đối với người này thì sẽ nghi ngờ về tình trạng bệnh nhưng đối với người khác lại không nghi ngờ về tình trạng bệnh của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội).

Quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trên thực tế đã đem lại những kết quả tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng, ngừa tội phạm, đồng thời cũng thể hiện được tinh thần nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta trong việc xử lý đối với những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, giá trị tốt đẹp đã đạt được thì cũng phải nhìn nhận một thực tế là quy định pháp luật về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập. Điều này không những gây cản trở hoạt động đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, ảnh hưởng đến quyền lợi của những người tham gia tố tụng mà ở một khía cạnh nào đó còn gây ra sự phẫn nộ, mất niềm tin trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định của Bộ luât hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự nói chung và quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng là việc làm rất cần thiết, cần phải được chú trọng và thực hiện nhanh chóng hơn.

2.3. Các giải pháp hoàn thiện quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự vẫn còn những hạn chế gây ra những khó khăn nhất định cho việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trên thực tiễn. Và để góp phần hoàn thiện quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, đảm bảo tính hiệu quả của việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, tác giả xin đưa ra một số giải pháp hoàn thiện về hệ thống pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự như sau:

2.3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự

Như đã nói ở trên, mặc dù quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự năm 2015 đã hoàn thiện hơn so với Bộ luật hình sự năm 1999, tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 2015 vẫn chỉ mang tính kế thừa, một số nội dung vẫn còn chung chung, chưa được làm rõ gây ra nhiều tranh cãi, khó khăn trong việc hiểu và áp dụng trên thực tiễn. Do đó, theo tác giả cần phải sửa đổi, bổ sung quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh:

Thứ nhất, cần bổ sung quy định khái niệm cụ thể về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là một chế định lớn, rất quan trọng nhưng sau 03 lần pháp điển hóa pháp luật hình sự thì Bộ luật hình sự năm 2015 cũng chỉ quy định về nội dung mà không quy định rõ biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là gì? Việc quy định khái niệm biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự không những để đưa ra một khái niệm chuẩn mực, chính xác nhất, mà còn tránh gây ra những tranh cãi trong khoa học luật hình sự, đảm bảo nhận thức một cách thống nhất về tính chất pháp lý của biện pháp này.

Theo tác giả thì khái niệm biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có thể được quy định ngay tại Khoản 1 của quy định về biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Và quy định như sau: “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là biện pháp cưỡng chế về hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự, tùy vào từng giai đoạn giải quyết vụ án hoặc giai đoạn thi hành án, trên cơ sở kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần mà Tòa án hoặc Viện kiểm sát áp dụng đối với người trong hoặc sau khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng trước khi kết án hoặc đang chấp hành hình phạt tù mà mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh, nhằm phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội của người này”.

Thứ hai, liên quan đến quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Tác giả thấy rằng quy định này là chưa phù hợp về mặt kỹ thuật lập pháp. Cụ thể, Điều 21 quy định “một bệnh khác” thì chúng ta cũng có thể hiểu theo hướng chỉ khi nào mắc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp mắc nhiều bệnh khác trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì trách nhiệm hình sự của họ sẽ được xử lý như thế nào? Chính vì vậy, theo tác giả cần phải bỏ từ “một” quy định tại Điều 21 sẽ phù hợp hơn: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Thứ ba, trong hệ thống pháp luật hình sự hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn về việc xác định những bệnh nào là bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Để đảm bảo sự thống nhất, hoàn thiện quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, thiết nghĩ cần phải có sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan để sớm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết việc xác định các bệnh nói trên. Trong đó, cần phải quy định cụ thể từng loại bệnh, tên gọi, tính chất, mức độ, các tiêu chuẩn, tình trạng của bệnh, các điều kiện để xác định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không khi bị những bệnh này. Bởi trên thực tế có những bệnh tâm thần hoặc bệnh khác luôn làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi nhưng cũng có những bệnh chỉ làm mất năng lực đó khi bệnh đạt đến một mức độ nhất định hoặc có những bệnh không làm mất năng lực nói trên. Điều này dẫn đến nhiều tranh cãi và nếu chỉ căn cứ vào kết luận giám định pháp y tâm thần có thể dẫn đến việc đưa ra các quyết định thiếu chính xác. Ngoài những bệnh tâm thần như: Tâm thần phân liệt, trầm cảm…, được quy định tại hệ thống phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan (ICD-10) thì sau khi nghiên cứu, tìm hiểu thì tác giả nhận thấy các loại bệnh sau có thể làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người mắc bệnh cần đưa vào danh mục những bệnh khác như: bệnh động kinh, bệnh Alzheimer…

Thứ tư, liên quan đến quy định về phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015: “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Quy định này hiện đang gây ra nhiều tranh cãi về việc có nên truy cứu trách nhiệm hình sự những người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi khi sử dụng rượu, bia do bệnh hay nói cách khác là say rượu bệnh lý mà họ không biết tình trạng bệnh của mình hoặc những người không có lỗi đối với việc sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác hay không?

Theo tác giả nghiên cứu, tìm hiểu thì được biết say rượu bệnh lý (tên gọi khác là say rượu loạn thần), là trạng thái ngộ độc rượu cấp, hiếm gặp, có thể xảy ra ở những người uống lượng rượu không lớn nhưng quá mức chịu đựng của cơ thể. Đặc điểm của say rượu bệnh lý phát sinh sau uống rượu không phụ thuộc nhiều vào số lượng và loại rượu uống, rượu chỉ là một tác nhân dẫn đến say, có khi chỉ một lượng nhỏ. Như vậy, say rượu bệnh lý là một bệnh chứ không phải say rượu thông thường nên không thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015. Có thể coi đây là bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015. Nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ cũng coi trường hợp say rượu bệnh lý được loại trừ trách nhiệm hình sự. Hay đối với người không có lỗi trong việc mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, ví dụ như: họ bị người khác giữ tay chân ép uống rượu bia, hoặc bị lừa sử dụng chất kích thích mạnh khác…

Ở vấn đề nêu trên, theo tác giả không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ. Chính vì vậy, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015 theo từng trường hợp cụ thể (say thường hay say bệnh lý, có lỗi hay không có lỗi…). Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Thứ năm, theo quy định tại Khoản 2, Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 thì “…sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, có thể hiểu sau khi khỏi bệnh mà hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình. Tuy nhiên, đây có phải là cơ sở duy nhất để xác định việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hay không? Hiện đang còn nhiều tranh luận. Tác giả cho rằng, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về việc người phạm tội có năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng sau đó lâm vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, đã được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nhưng sau đó đã khỏi bệnh, trong đó cần phải quy định rõ trường hợp nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp nào thì không.

Thứ sáu, một điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cũng có nhiều ý kiến trái chiều. Tại Khoản 3, Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù”.

Trước đây, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì thời gian bắt buộc chữa bệnh được quy định thành một điều riêng (Điều 44), do đó đương nhiên sẽ được hiểu thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù trong mọi trường hợp. Nay thời gian bắt buộc chữa bệnh lại được gộp vào quy định tại Khoản 3, Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 nên chỉ có ý nghĩa áp dụng cho trường hợp quy định riêng tại Khoản 3, Điều 49 là trường hợp người đang chấp hành án phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình khi bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì được trừ vào thời hạn chấp hành án phạt tù.

Cũng có thể hiểu rằng tuy cấu trúc của Điều luật là như thế nhưng khi áp dụng trong thực tiễn vẫn được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù cho trường hợp người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình quy định tại Khoản 2, Điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 nếu sau này họ bị xử phạt tù. Cách hiểu này không thay đổi so với Bộ luật hình sự năm 1999, nhưng không phù hợp với cấu trúc và lời văn của Điều luật.

Và để đảm bảo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật hình sự, tác giả cho rằng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần thống nhất cách hiểu và cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về quy định nêu trên cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với từng trường hợp nêu trên để tránh việc áp dụng pháp luật không thống nhất.

2.3.2. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Thứ nhất, tại Điều 449 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra quy định: “Khi Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần mà kết quả giám định xác định bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, quyết định…”. Như vậy, điều luật chỉ quy định Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, quyết định. Trong khi Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có thẩm quyền trưng cầu giám định pháp y tâm thần (quy định tại Điểm d, Khoản 2, Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự 2015), nếu kết luận giám định xác định người có hành vi phạm tội bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì có đề nghị Viện kiểm sát áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh như Cơ quan điều tra hay không? Từ các điều luật và nhận định nêu trên. Theo quan điểm của tác giả cần phải bổ sung cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc cán bộ của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra vào điều luật đã phân tích như trên để áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự một cách thống nhất, đạt hiệu quả cao, nâng cao vai trò của các cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, góp phần đấu tranh và phòng chống tội phạm một cách có hiệu quả.

Thứ hai, Về thẩm quyền áp dụng biện pháp Bắt buộc chữa bệnh theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định tại Khoản 2, Điều 447: “Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố; Tòa án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn xét xử và thi hành án”.

Với quy định này, thẩm quyền của cơ quan tố tụng theo các giai đoạn tố tụng, không phân ra 03 nhóm đối tượng như Bộ luật hình sự năm 2015: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 (mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình); người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Đây là điểm chưa đồng nhất quy định về thẩm quyền áp dụng Biện pháp Bắt buộc chữa bệnh giữa Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Bộ luật hình sự năm 2015. Vẫn biết rằng cơ quan tiến hành tố tụng khi ra một quyết định tố tụng phải căn cứ Bộ luật tố tụng hình sự. Nhưng giữa các lời văn của các Bộ luật có liên quan đến nhau không thể có những ý mâu thuẫn, hoặc không thống nhất với nhau sẽ gây lúng túng cho cơ quan tố tụng khi áp dụng pháp luật. Theo tác giả cần phải bổ sung quy định về các đối tượng cần được áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự năm 2015 vào quy định tại Khoản 2, Điều 447 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể như sau: “Căn cứ vào kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 của Bộ luật hình sư; Tòa án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 của Bộ luật hình sự; người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”.

Thứ ba, đối với việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật hình sự năm 2015: Thực tiễn áp dụng pháp luật có nhiều trường hợp bị can bị bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt, tâm thần do rối loạn cảm xúc…, hoặc các bệnh hiểm nghèo khác như bệnh ung thư, bị nhiễm HIV…, và theo kết luận giám định pháp y thì bị can bị hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi, cần phải điều trị. Vì vậy, khi tiến hành các hoạt động tố tụng như lấy lời khai, hỏi cung…, đối với họ là không đảm bảo quyền lợi của bị can, bị cáo trong việc giải quyết vụ án hình sự.

Như quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra”. Ở trường hợp này thì Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra vụ án hình sự và giao bị can cho gia đình quản lý, điều trị, vì đây không thuộc trường hợp áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo Khoản 2, Điều 49 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuy nhiên, nhiều trường hợp bị can không có người thân, Cơ quan điều tra không biết giao bị can cho ai trong khi vụ án đang được tạm đình chỉ hoặc bị can có người thân thích nhưng không có khả năng quản lý hoặc điều kiện kinh tế để đưa bị can đi điều trị bệnh dễ dẫn đến bị can thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội khác. Chính vì vậy, tác giả cho rằng cần mở rộng đối tượng áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh không chỉ là các đối tượng quy định tại Khoản 2, Điều 49 của Bộ luật hình sự năm 2015 mà áp dụng cả các đối tượng là người bị bệnh hiểm nghèo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

2.3.3. Các giải pháp khác Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống tổ chức giám định pháp y tâm thần và tăng cường cơ sở vật chất hiện đại, bảo đảm điều kiện hoạt động giám định tư pháp, tránh tình trạng sai lầm, mâu thuẫn trong việc giám định pháp y tâm thần.

Để xác định được trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì cần phải có sự phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng với tổ chức giám định pháp y tâm thần. Giám định pháp y tâm thần là một quá trình phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn nhất định không những đòi hỏi người trực tiếp thực hiện việc giám định phải có trình độ chuyên môn sâu về tâm thần học mà còn đòi hỏi sự hỗ trợ tích cực của các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, góp phần đảm bảo cho việc giám định được chính xác, khách quan. Ngoài ra các trang thiết bị hiện đại còn giúp cho các giám định viên có thể theo dõi được diễn biến của bệnh, cũng như có khả năng phát hiện được những trường hợp giả mạo bị bệnh tâm thần nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình. Tuy nhiên, hiện nay ở các tổ chức giám định pháp y tâm thần thì tình trạng chung là cơ sở vật chất phục vụ cho việc giám định còn chưa đầy đủ, đã lỗi thời, lạc hậu dẫn đến kết quả giám định chưa thật sự chính xác, đòi hỏi sự quan tâm của cơ quan có thẩm quyền trong việc đầu tư các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, cần thiết cho các tổ chức giám định pháp y tâm thần nhằm tạo điều kiện cho quá trình giám định được tiến hành nhanh chóng, chính xác, giúp cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Thứ hai, củng cố và phát triển đội ngũ người giám định pháp y tâm thần đủ cả về số lượng và chất lượng, trong đó cần chú trọng rèn luyện phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ giám định pháp y tâm thần.

Kết quả giám định pháp y, pháp y tâm thần là căn cứ rất quan trọng trong quá trình tố tụng để xác định một người có tội hoặc không có tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện, cũng như để xác định họ có phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt hay không? Chính vì vậy, cần thiết phải có đội ngũ giám định viên giỏi, có trình độ chuyên môn cao, dày dặn kinh nghiệm, có đạo đức nghề nghiệp tham gia quá trình giám định. Tuy nhiên hiện nay số lượng, chất lượng giám định viên còn hạn chế, nhiều trường hợp giám định viên còn giám định không chính xác về tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự của người được giám định. Vì vậy, phải tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giám định viên theo hướng thường xuyên tổ chức các lớp học tập, trao đổi kinh nghiệm về công tác giám định, đưa đi đào tạo ở các nước phát triển về tâm thần học hoặc mời các chuyên gia của nước ngoài sang hướng dẫn, đào tạo. Bên cạnh đó, các tổ chức giám định pháp y tâm thần cũng cần bổ sung nhiều quy trình, quy chế, siết chặt công tác khám, chữa bệnh, thường xuyên tuyền truyền, phổ biến các quy định pháp luật liên quan cho các giám định viên nói riêng và các y, bác sĩ khác nói chung để nâng cao hiệu quả, chất lượng giám định. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Thứ ba, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức về tâm thần học, quy định của pháp luật có liên quan, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng để theo dõi, giám sát, khắc phục dần tình trạng giám định viên lợi dụng sự thiếu hiểu biết về giám định pháp y, pháp y tâm thần của người tiến hành tố tụng để tự quyết định trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Quá trình tố tụng hình sự là một quá trình phức tạp, trong đó việc xác định trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là một trong những yếu tố rất quan trọng để giải quyết vụ án hình sự. Vì vậy, bên cạnh kiến thức chuyên môn về pháp luật, nghiệp vụ giải quyết các vụ án hình sự còn đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải có những kiến thức cơ bản về tâm thần học để từ đó có thể sớm phát hiện những trường hợp có sự nghi ngờ về những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự góp phần giải quyết vụ án hình sự một cách kịp thời, chính xác. Hơn nữa, trong thực tế hiện nay vẫn còn tình trạng các tổ chức giám định pháp y tâm thần đưa ra kết luận giám định khác nhau về cùng một trường hợp (ví dụ như ở phiên tòa phúc thầm lần 2 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai phải hoãn xử vì cùng một người nhưng lúc được xác định là rối loạn tâm thần cấp dạng phân liệt, không đủ trách nhiệm hành vi, lúc thì xác định là có năng lực nhận thức về hành vi nhưng bị hạn chế về nhận thức do bệnh), gây ra những khó khăn, lúng túng cho người tiến hành tố tụng nếu không nắm được những kiến thức cơ bản về tâm thần học, dẫn đến việc khi giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng không biết phải căn cứ vào kết luận giám định nào để giải quyết vụ án hoặc gây khó khăn trong định hướng xử lý khi kết luận giám định khác nhau.

Khác với các ngành luật khác, ở luật hình sự thì người phạm tội có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt, người phạm tội có thể bị tước bỏ quyền tự do, quyền chính trị, thậm chí cả quyền sống… cho nên việc người tiến hành tố tụng chỉ có những kiến thức chuyên môn về luật hình sự là chưa đáp ứng được yêu cầu. Do đó, việc người tiến hành tố tụng được cung cấp, tự trau dồi các kiến thức pháp luật có liên quan, đạo đức nghề nghiệp là việc làm cần thiết để đảm bảo vụ án hình sự được giải quyết một cách khách quan, chính xác, kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Chính vì vậy, bên cạnh chuyên môn, nghiệp vụ thì cần phải nâng cao kiến thức về tâm thần học, quy định của pháp luật có liên quan, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Thứ tư, để ngăn ngừa những hành vi nguy hiểm cho xã hội của người bị tâm thần, hạn chế hoặc mất nhận thức, khả năng điều khiển hành vi gây ra, cần tiến hành đồng thời nhiều giải pháp như khi phát hiện người thân có dấu hiệu của bệnh tâm thần thì gia đình cần sớm đưa đến các cơ sở y tế, theo dõi chặt chẽ người bệnh, tránh gây kích động, hoặc để người bệnh tiếp xúc những công cụ có khả năng gây sát thương. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng cần có sự quản lý, giám sát chặt chẽ, quan tâm đến những người mắc bệnh trên địa bàn. Quy định pháp luật cần phải được sửa đổi, bổ sung để quản lý, cũng như bắt buộc chữa bệnh đối với những người mới bắt đầu có biểu hiện bệnh tâm thần.

Thứ năm, tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia trên thế giới về lập pháp hình sự

Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế – xã hội và hội nhập khu vực, quốc tế như hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, trao đổi về kinh nghiệm lập pháp hình sự với các quốc gia trên thế giới là việc làm cần thiết. Qua đó, giúp chúng ta không những tiếp thu được những thành tựu, nội dung tiến bộ của các nước trên thế giới, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế – xã hội của đất nước mà còn tránh được những thiếu sót, hạn chế mà các nước đã trải qua, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm. Bên cạnh những quy định khác của Bộ luật hình sự thì sau khi nghiên cứu, tìm hiểu quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, tác giả đã cho thấy những hạn chế, thiếu sót của quy định này. Do đó, phải tiếp tục nghiên cứu các quy định pháp luật của các quốc gia trên thế giới liên quan đến chế định bắt buộc chữa bệnh để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chế định này, góp phần hoàn thiện biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự nước ta.

Thứ sáu, một trong những vấn đề còn tranh cãi, gây khó khăn, lúng túng cho cơ quan tiến hành tố tụng là làm thế nào khi có mâu thuẫn giữa các kết luận giám định pháp y tâm thần về cùng một trường hợp? Có ý kiến cho rằng trong trường hợp này cần phải tiến hành giám định lại nhưng giám định lại thì giám định đến bao nhiêu lần thì không giám định nữa? Và cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào kết luận giám định nào để giải quyết vụ án hình sự thì hiện tại pháp luật chưa quy định. Tác giả cho rằng trong trường hợp có nhiều kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần về cùng một trường hợp giữa các tổ chức giám định có mâu thuẫn với nhau thì cơ quan tiến hành tố tụng không căn cứ vào kết luận giám định nào cả mà cần phải tiến hành trưng cầu giám định ở tổ chức giám định cao hơn để có được một kết luận giám định chính xác nhất.

Bên cạnh đó, để tránh sự mâu thuẫn giữa các kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần gây bức xúc trong dư luận thì pháp luật phải quy định chặt chẽ hơn các quy trình, quy chế giám định đồng thời phải có cơ chế giám sát của cơ quan chức năng để đảm bảo cho việc giám định được chính xác, khách quan.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

Trong thời gian qua việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp trên tinh thần Nghị quyết số: 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính Trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Việc xây dựng, phát triển, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp đã có nhiều tiến bộ; nhiều quy định của pháp luật về các lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, thi hành án, luật sư, công chứng, giám định tư pháp đã được sửa đổi, bổ sung theo đúng chủ trương, định hướng lớn nêu trong Chiến lược cải cách tư pháp trong đó nổi bật nhất chính là sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Có thể nói, sự ra đời của Bộ luật hình sự 2015, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã tháo gỡ được nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, thực hiện các quy định pháp luật hình sự, tố tụng hình sự để xử lý đối với người phạm tội nói chung và áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không có năng lực trách nhiệm hình sự nói riêng. Qua đó, góp phần quan trọng trong việc phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì Bộ luật hình sự 2015, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 còn có những hạn chế nhất định gây khó khăn cho việc áp dụng, thực hiện trên thực tế, nhất là quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự năm 2015. Chính vì vậy, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách đồng bộ, có hệ thống các quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự là cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng, tính hiệu quả của các quy định của Bộ luật hình sự nói chung và quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh nói riêng.

Qua đề tài “biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật hình sự năm 2015”, tác giả muốn đưa đến một cái nhìn rõ ràng, cụ thể về lý luận biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, mục đích đồng thời có sự tìm hiểu, nghiên cứu biện pháp này với các quốc gia trên thế giới, cũng như trong từng giai đoạn phát triển của đất nước nhằm làm nổi bật những nét đặc trưng của biện pháp này. Qua đó, cho thấy được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự, cũng như trong công cuộc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm hiện nay. Để làm rõ bản chất, căn cứ, điều kiện, mục đích áp dụng và cách thức áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng các quy định của pháp luật về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh không những trong bộ luật hình sự mà còn Bộ luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng biện pháp này. Để tìm hiểu việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trên thực tế, tác giả đã tìm đến các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Viện Giám định pháp y tâm thần Trung ương và Bệnh viện tâm thần Trung ương 1 (Thường tín, Hà Nội) để làm cơ sở lý luận cho luận văn này.

Qua việc tìm hiểu, tác giả nhận thấy rằng việc áp dụng quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan khác có liên quan còn nhiều bất cập, khó khăn. Qua nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật, cũng như các nguyên nhân, công tác quản lý, cách thức tổ chức và áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ở các cơ quan trên, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhất định để nhằm hoàn thiện quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Khi Bộ luật hình sự 2015 được ban hành thì quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được tác giả rất quan tâm và trong quá trình tìm hiểu tác giả đã nhận ra được những hạn chế nhất định nên đã chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu để góp phần hoàn thiện Bộ luật hình sự. Luận văn này đã phần nào phản ánh quá trình tìm tòi, nghiên cứu của tác giả trong thời gian vừa qua và trong phạm vi thời gian cùng giới hạn khả năng, nhận thức của mình, tác giả nhận thấy rằng sẽ còn nhiều những hạn chế, thiếu sót cần phải hoàn thiện nhiều hơn. Càng tìm hiểu, nghiên cứu sâu về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh giúp tác giả hiểu biết hơn về biện pháp này để từ đó đưa ra từng vấn đề, phân tích, đánh giá nhằm góp phần làm rõ những hạn chế, bất cập khi áp dụng biện pháp này trong pháp luật hình sự, để từ đó giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có những hành động phù hợp trước hết là thực hiện đúng theo quy định pháp luật hình sự hiện hành, tiến tới hoàn thiện quy định Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự cũng như các văn bản pháp luật có liên quan đến biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để nâng cao hiệu quả việc áp dụng biện pháp này trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự và trong công cuộc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Và cuối cùng với công trình nghiên cứu của mình, tác giả hi vọng sẽ góp phần hiệu quả trong việc giải quyết các vụ án liên quan đến biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong thực tiễn của cơ quan tiến hành tố tụng một cách khách quan, chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Luận văn: Thực tiễn tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong bộ luật hình sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464