Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những BPNC thì bắt người chiếm vị trí quan trọng và được áp dụng thường xuyên để đấu tranh PCTP. Bắt người là một BPNC trong TTHS phục vụ hiệu quả cho việc ngăn chặn tội phạm và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra, giải quyết VAHS, với mục đích: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án” [35, tr.101]. Biện pháp bắt người là một trong các BPNC trong TTHS được áp dụng rất phổ biến trong thực tiễn và đã phát huy được vai trò to lớn trong việc giải quyết VAHS. Việc áp dụng biện pháp bắt người đúng đắn, kịp thời là sự bảo đảm rất quan trọng cho việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh mọi hành vi phạm tội, không làm oan người vô tội cũng như không để lọt tội phạm; góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và chế độ XHCN. Tuy nhiên, bắt người là biện pháp ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nếu bắt oan, sai thì hậu quả của nó rất phức tạp và có thể không lường trước được. Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp bắt người cũng là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị – xã hội, bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến một số quyền con người và quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người…; nó liên quan nhiều đến việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Do đó, những VPPL về biện pháp bắt người, nhất là những vi phạm xâm phạm đến quyền con người trong TTHS rất dễ bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 mới có hiệu lực thi hành với nhiều quy định mới về biện pháp bắt người cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Quảng Bình là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp hai tỉnh Khăm Muộn và Sa Vẳn Na Khệt của nước CHDCND Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị. Quảng Bình có diện tích tự nhiên là 8.065 km2; dân số đến năm 2019 là 953.914 người. Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, tình hình các loại tội phạm diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng với nhiều loại tội phạm mới, hình thức, thủ đoạn phạm tội hết sức phức tạp và tinh vi. Theo số liệu báo cáo tổng kết công tác đấu tranh PCTP cho thấy trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019, các lực lượng chức năng trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, khởi tố mới 3.680 vụ phạm pháp hình sự. Theo đó, từ năm 2011 đến năm 2015, Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Quảng Bình đã bắt 4.960 đối tượng, trong đó: bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp 1.019 đối tượng (chiếm tỷ lệ 20,54%); bắt người phạm tội quả tang 2.235 đối tượng (chiếm tỷ lệ 45,06%); bắt người đang bị truy nã 195 đối tượng (chiếm tỷ lệ 3,93%); bắt bị can, bị cáo để tạm giam 1.511 đối tượng (chiếm tỷ lệ 30,47%) [47, tr.14]. Những số liệu trên đã cho thấy tính chất công tác bắt giữ đối tượng phạm tội là vấn đề được tiến hành thường xuyên. Trong khi đó, công tác xử lý các vụ án, các đối tượng gây án còn nhiều bất cập, gặp nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật hình sự, nhất là vấn đề áp dụng BPNC bắt người theo pháp luật TTHS.
Về biện pháp bắt người, cho đến nay cũng đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu. Tuy nhiên, do khác nhau về phương pháp tiếp cận, về giới hạn địa bàn nghiên cứu, về thời gian và phạm vi khảo sát cho nên nhiều vấn đề có liên quan đến biện pháp bắt người còn chưa được đề cập, nghiên cứu tới. Vì vậy, nghiên cứu hoàn thiện lý luận, nâng cao hiệu quả biện pháp bắt người trong TTHS tại tỉnh Quảng Bình là một đòi hỏi hết sức cấp bách đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh PCTP đảm bảo sự ổn định về TTATXH, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Bình. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn trên, xét thấy cần phải nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ hơn về nội dung này, đó cũng là lý do tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” làm luận văn tốt nghiệp Cao học Luật. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, ở nước ta đã có rất nhiều các công trình khoa học, như: giáo trình, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học nghiên cứu, đề cập đến biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam, cụ thể như:
- “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của Học viện Cảnh sát nhân dân, Nxb.CAND, Hà Nội, 2005;
- “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của Phạm Mạnh Hùng (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2016;
- “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, 2008;
- “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự” của GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb. CAND, 2007;
- “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015” của TS. Trần Văn Biên – TS. Đinh Thế Hưng (đồng chủ biên), Nxb. Thế giới, 2017;
- Sách chuyên khảo “Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS. Nguyễn Trọng Phúc, Nxb. Chính trị quốc gia, 2015;
- Sách chuyên khảo “Hệ thống các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân” của TS. Trịnh Văn Thanh, Nxb. CAND, 2001;
- Sách chuyên khảo “Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự” của TS. Trần Quang Tiệp, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011;
- Luận án Tiến sĩ “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp ” của Nguyễn Văn Điệp, Đại học Luật Hà Nội, 2005;
- Luận văn Thạc sĩ “Vấn đề bắt oan, sai trong hoạt động điều tra vụ án hình sự và một số giải pháp khắc phục của Cơ quan Cảnh sát điều tra hiện nay” của Võ Quốc Công, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2005;
- Luận văn Thạc sĩ “Các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn áp dụng tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” của Lê Thị Thu Nguyệt, Học viện Khoa học xã hội, năm 2017.
Những công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam. Các công trình này đã đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận về BPNC bắt người, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC bắt người. Tuy nhiên, nhìn chung biện pháp bắt người được các nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề cập ở trên với các mức độ, khía cạnh khác nhau và gắn với các địa bàn khác nhau. Theo khảo sát của tác giả trong những năm gần đây chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về thực tiễn áp dụng BPNC bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam tại địa bàn tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” làm luận văn tốt nghiệp Cao học Luật hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận về BPNC bắt người.
- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng BPNC bắt người hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Trên cơ sở đó tìm ra những hạn chế, tồn tại của việc áp dụng biện pháp này trong thực tiễn, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại đó.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC bắt người và phòng ngừa những vi phạm trong việc áp dụng biện pháp này của cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nêu trên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa và thống nhất nhận thức một số vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về BPNC bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành.
- Khảo sát thu thập thông tin, số liệu thực tế nhằm phân tích tình hình áp dụng BPNC bắt người để minh họa cho quá trình thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam trong thời gian tới của cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các quy định về biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam quy định tại BLTTHS năm 2003.
- Các quy định về biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam quy định tại BLTTHS năm 2015.
- Thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu các quy định về biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam.
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tại địa bàn tỉnh Quảng Bình.
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thống kê được tác giả thu thập trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước và pháp luật nói chung, Nhà nước và pháp luật XHCN nói riêng; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật với tư tưởng Nhân dân là chủ thể của quyền lực xã hội, mọi hoạt động của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân và việc hoàn thiện pháp luật phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân; các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về công tác đấu tranh PCTP, cải cách tư pháp, Nhà nước pháp quyền và vấn đề quyền con người.
- Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: được sử dụng xuyên suốt trong luận văn nhằm làm rõ các vấn đề lý luận, pháp lý, so sánh, phân tích các tài liệu, số liệu, phát hiện, luận giải thuyết phục về các nội dung có liên quan đến đề tài luận văn; tổng hợp các tài liệu, số liệu phản ánh thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS để rút ra kết luận tổng quát.
Phương pháp thống kê: được tác giả sử dụng để thống kê các số liệu thực tế thu thập tại địa bàn Quảng Bình nhằm minh họa, làm rõ thực trạng của tình hình áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình từ năm 2015 đến năm 2019 trong chương 2 của luận văn.
Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án điển hình (được sử dụng chủ yếu tại chương 2): Để có cơ sở cho việc đưa ra những nhận xét, đánh giá trong luận văn, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu hồ sơ một số vụ án trong đó có áp dụng biện pháp bắt người đạt kết quả cao hoặc bộc lộ những thiếu sót dẫn đến hạn chế kết quả hoạt động TTHS tại địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 2015 đến năm 2019.
Phương pháp trao đổi, tọa đàm: được sử dụng để trao đổi, tìm hiểu một số thông tin thực tế từ các cán bộ điều tra, ĐTV của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Bình có kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo và tiến hành hoạt động bắt người theo pháp luật TTHS.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận khoa học về BPNC nói chung, biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam nói riêng. Đây là tài liệu có thể dùng trong công tác nghiên cứu, học tập, tham khảo dành cho các học viên ngành Luật nói chung, Luật hình sự và TTHS nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được nghiên cứu, sử dụng trong thực tiễn chỉ đạo và tiến hành hoạt động áp dụng các quy định của pháp luật hình sự và TTHS để ngăn chặn, đấu tranh PCTP trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Luận văn là công trình khoa học đầu tiên khảo sát một cách toàn diện và sâu sắc về thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình từ năm 2015 đến năm 2019. Làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế, nguyên nhân những hạn chế, từ đó đề xuất các kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, TTHS để thực hiện biện pháp bắt người trong đấu tranh PCTP ở địa bàn tỉnh Quảng Bình. Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các giảng viên, học viên, các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu đến những vấn đề có liên quan đến Luật hình sự và TTTHS nói chung, các BPNC nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục phần nội dung của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương.
- Chương 1: Lý luận về bắt người và quy định theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
- Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp ngăn chặn bắt người và thực trạng áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
- Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng biện pháp bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Chương 1 Lý luận về bắt người và quy định theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1 Lý luận về biện pháp bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm biện pháp bắt người
Để làm rõ nội dung pháp lý của biện pháp bắt người trong TTHS chúng ta cần phải làm rõ một số khái niệm có liên quan như: Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong TTHS.
Thứ nhất, về biện pháp ngăn chặn: Các BPNC trong TTHS được quy định tại Điều 109, BLTTHS năm 2015 như sau:
“1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền THTT trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. 2. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.” [35, tr.101].
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế: Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 2010: “Cưỡng chế là bắt phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực” [50, tr.599]. Căn cứ vào loại VPPL khác nhau, cưỡng chế cũng có được chia thành các loại khác nhau, như: cưỡng chế dân sự, cưỡng chế hành chính, cưỡng chế hình sự và cưỡng chế TTHS. Các biện pháp cưỡng chế trong TTHS được quy định tại Điều 126 – BLTTHS năm 2015 như sau: “Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền THTT có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản” [35, tr.121]. Như vậy, có thể khẳng định rằng biện pháp bắt người là BPNC mang tính cưỡng chế trong TTHS, là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu đời và được mọi người sử dụng thường xuyên trong đời sống xã hội. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 2010 thì: “Bắt là một động từ diễn tả sự nắm lại, giữ lại một người hay một sinh vật nào đó không để cho tự do hoạt động hoặc cử động” [50, tr.60]. Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý xuất bản năm 1998 thì “Bắt là nắm lại, giữ lại, không để cho tự do hoạt động hoặc cử động” [53, tr.74].
Như vậy, bắt được bắt đầu khi chủ thể thực hiện hành động nắm, giữ và kết thúc khi hành động nắm giữ đó chấm dứt. Bắt ở đây được hiểu theo nghĩa rộng. Khi tiếp cận bắt với tư cách là một BPNC trong TTHS, do chưa có định nghĩa pháp lý về biện pháp bắt người, cho nên đã có nhiều quan điểm khác nhau, đáng chú ý là một số quan điểm sau:
ThS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng: “Bắt người là BPNC có tính cưỡng chế nghiêm khắc, vì vậy việc bắt người nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ mà pháp luật quy định” [24, tr.5].
Theo quan niệm của ThS. Nguyễn Hồng Ly: “Bắt người là giữ người phạm pháp, không cho tiếp tục tự do hoạt động, chặn đứng hành động phạm tội đề phòng người đó lẩn trốn, tự sát, tiêu hủy chứng cứ hoặc gây trở ngại cho việc điều tra. Bắt người là một trong những biện pháp cưỡng chế cần thiết nhất của Nhà nước để trấn áp, ngăn chặn những hành động phạm tội… Bắt người là một trong những BPNC do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng pháp luật” [27, tr.31-32].
Theo Từ điển Bách khoa CAND của Nxb. CAND xuất bản năm 2005: “Bắt người phạm tội là một BPNC trong TTHS, được tiến hành theo quy định của pháp luật và theo lệnh của CQĐT, VKS, Tòa án nhằm chặn đứng hành vi phạm tội và không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như việc đảm bảo thi hành luật” [4, tr.35].
Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “Bắt nguời là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, nguời đang bị truy nã và trong truờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với nguời chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.” [45, tr.200].
Còn theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Mở Hà Nội thì: “Bắt người là BPNC trong TTHS do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng pháp luật” [46, tr.214]. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Từ những phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm biện pháp bắt người trong TTHS như sau: “Biện pháp bắt người trong TTHS là BPNC trong TTHS, do những người có thẩm quyền theo luật định tiến hành áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã hoặc người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm chưa bị khởi tố khi có những căn cứ do luật định, theo trình tự thủ tục nhất định nhằm ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự được tiến hành nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật”.
Bắt người không phải là biện pháp trừng phạt của pháp luật đối với người phạm tội mà là BPNC trong TTHS được áp dụng để tước bỏ điều kiện gây ra tội phạm, chặn đứng hành vi phạm tội và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm sự hoạt động đúng đắn của những cơ quan có thẩm quyền THTT. Bắt người trong TTHS là giữ người thực hiện hành vi phạm tội, không cho người đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đề phòng người đó bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc đấu tranh PCTP cũng như yêu cầu tăng cường pháp chế XHCN; bảo đảm quyền con người của công dân, kế thừa có chọn lọc các quy định về bắt người trong các văn bản pháp luật TTHS trước đây. BLTTHS năm 2015 quy định các trường hợp bắt người gồm: Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang; Bắt người đang bị truy nã; Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ [35, tr.101].
1.1.2. Những yêu cầu và vai trò của biện pháp ngăn chặn bắt người Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Những yêu cầu của biện pháp ngăn chặn bắt người
Trong hệ thống các BPNC của TTHS thì bắt người là biện pháp quan trọng được áp dụng rất phổ biến. Việc áp dụng biện pháp bắt người không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác đấu tranh PCTP nói chung và việc giải quyết các nhiệm vụ của quá trình TTHS nói riêng mà còn gắn liền với việc hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, nhất là các quyền tự do cá nhân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Do đó, BPNC bắt người được quy định rất chặt chẽ trong BLTTHS, là cơ sở cho hoạt động bắt người trên thực tiễn, tránh vận dụng biện pháp bắt người một cách tuỳ tiện, dẫn đến bắt oan người vô tội, bắt không đúng thủ tục, bắt trái thẩm quyền. Vì vậy, khi áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS các chủ thể tiến hành cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Yêu cầu về chính trị
Bắt người đúng hay không đúng quy định của pháp luật, bắt oan, sai có ảnh hưởng trực tiếp đến những quyền cơ bản của công dân, do đó biện pháp bắt người theo TTHS luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị – xã hội, liên quan đến quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiện nay, có rất nhiều những thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đang tìm mọi cách để chống phá Nhà nước ta. Hoạt động bắt người phải đảm bảo tốt cho nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và của địa phương trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Công tác đấu tranh PCTP nói chung và việc áp dụng BPNC bắt người trong quá trình giải quyết VAHS nói riêng đều nhằm mục đích bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Xuất phát từ yêu cầy này, Đảng và Nhà nước đã có các hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động bắt người liên quan đến các đối tượng có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Khi tiến hành áp dụng BPNC bắt người đối với những đối tượng này thường tạo ra những luồng dư luận, ảnh hưởng đến những vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế dễ bị những thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, tuyên truyền nhằm làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nuớc. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Vì vậy, trong quá trình thực hiện cơ quan, người có thẩm quyền THTT cần vận dụng linh hoạt các quy định của pháp luật và tiên quyết thực hiện theo các chỉ đạo hướng dẫn của Đảng và Nhà nước về BPNC bắt người với những đối tượng đặc biệt. Đồng thời, xây dựng kế hoạch hạn chế những tiêu cực xảy ra khi tiến hành.
- Yêu cầu về pháp luật
Khoản 2, Điều 20, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 quy định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của TAND, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định” [32, tr.25]. Tại Điều 10 BLTTHS năm 2015 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này…” [35, tr.15]. Như vậy, để đảm bảo bắt đúng đối tượng, BPNC bắt người được quy định rất chặt chẽ trong BLTTHS đây là cơ sở cho hoạt động bắt trên thực tiễn.
Trong quá trình tiến hành bắt, cơ quan, người có thẩm quyền THTT cần có tài liệu, chứng cứ cần thiết chứng minh rằng họ là đối tượng bị áp dụng BPNC bắt người. Hoạt động bắt người được tiến hành không đảm bảo yêu cầu sẽ gây tác hại nhiều mặt như xâm phạm quyền con người và quyền tự do thân thể của công dân, làm giảm uy tín của Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan THTT, gây hoang mang trong dư luận Nhân dân, là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động cả trong và ngoài nước xuyên tạc để chống lại Nhà nước ta. Vì vậy, những tài liệu chứng cứ để bắt người cần thu thập qua quá trình điều tra xác minh, cũng có thể thu thập bằng những biện pháp nghiệp vụ. Trong quá trình thực hiện hoạt động bắt cần phải tuân thủ đúng các điều kiện do luật định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền.
Bắt người về bản chất là biện pháp cưỡng chế, tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân tuy nhiên lại không nhằm xâm phạm đến thân thể họ như là sự trừng phạt hành vi họ đã thực hiện mà chỉ nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm diễn ra và hạn chế sự nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cơ quan THTT không được xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm của người bị bắt; tuyệt đối không thực hiện hành vi tra tấn, bức cung, nhục hình hoặc là bất kỳ hình thức đối xử vô nhân đạo nào khác xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Không được dựa vào các tài liệu chưa được kiểm tra, xác minh hay dựa trên ý chí chủ quan làm căn cứ để thực hiện hoạt động bắt dẫn đến tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm gây hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành hoạt động bắt người, cơ quan, người có thẩm quyền THTT cần phải biết vận dụng linh hoạt, đúng pháp luật trong từng trường hợp bắt cụ thể. Để làm được điều đó cơ quan, người có thẩm quyền THTT cần nắm vững các quy định của pháp luật về biện pháp bắt người và áp dụng một cách chính xác, triệt để và đảm bảo an toàn. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Yêu cầu về nghiệp vụ
Điều tra VAHS là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan của vụ án nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội. Trong hoạt động điều tra, bắt người là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước để trấn áp, ngăn chặn hành vi phạm tội và có vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh PCTP, trốn tránh pháp luật cũng như gây khó khăn cho việc giải quyết VAHS. Trong hoạt động bắt người, cơ quan, người có thẩm quyền THTT phải có trình độ nghiệp vụ chuyên môn vững vàng, có như vậy khi thực hiện việc bắt người mới không vấp phải những khó khăn, vướng mắc. Yêu cầu đối với hoạt động bắt phải đảm bảo tính bất ngờ, khách quan và chính xác.
Bí mật, bất ngờ là yếu tố quan trọng bảo đảm cho việc bắt người được tiến hành một cách hiệu quả nhất, khi tiến hành hoạt động bắt người không để đối tượng biết, bỏ trốn, hoặc gây cản trở cho cuộc bắt, hoặc tiêu huỷ chứng cứ. Yếu tố bất ngờ được biểu hiện trong kế hoạch bắt người như: bí mật về thời gian, địa điểm sẽ tiến hành bắt đối tượng, bí mật về sự chuẩn bị lực lượng bắt… Bí mật là yếu tố cần thiết cho sự thành công của hoạt động bắt người, làm sao để đối tượng bắt chỉ biết là chúng bị bắt khi lực lượng tiến hành bắt xuất hiện và triển khai lệnh bắt. Muốn đạt được yêu cầu như vậy, đòi hỏi công tác chuẩn bị cho việc bắt cần phải tỉ mỉ, cẩn trọng và chu đáo. Trước khi bắt người cần phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, nhân thân của đối tượng và những tài liệu xác minh ban đầu, phải lập kế hoạch của việc bắt người chi tiết về thời gian, địa điểm, thành phần tham gia, công cụ phương tiện hỗ trợ… đặc biệt cần tính toán các phương án có thể xảy ra để chủ động, linh hoạt trong quá trình tiến hành.
Việc bắt người có thành công phải đảm bảo tất cả những mục tiêu trong kế hoạch đã hoạch định trước và linh hoạt trong mọi tình huống có thể xảy ra, khi triển khai bắt phải tiến hành một cách khẩn trương và nhanh chóng.
- Vai trò của biện pháp ngăn chặn bắt người
Là một trong những quyền cơ bản, quan trọng bậc nhất của công dân được quy định trong Hiến pháp, tuy nhiên quyền nhân thân, quyền tự do về thân thể rất dễ bị tác động trực tiếp bởi hoạt động bắt trong TTHS. Vì vậy, cần phải có sự cân nhắc hết sức quan trọng khi quyết định việc bắt người. Hiệu quả đấu tranh PCTP, sẽ được nâng cao rõ rệt, ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm tội cũng như hành vi trốn tránh pháp luật, đồng thời bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi nếu việc bắt người đúng pháp luật. Ngược lại, việc bắt người không đúng pháp luật sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nghiêm trọng hơn nó sẽ xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân, làm giảm uy tín của Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây hoang mang trong dư luận, dễ bị các thế lực phản động, thù địch lợi dụng, mượn cớ để xuyên tạc nói xấu chế độ, nói xấu chính quyền và chống lại Nhà nước. Quy định và thi hành biện pháp bắt người trong TTHS có vai trò lớn trong việc giải quyết VAHS, bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm:
- Một là, “BPNC bắt người thể hiện sự chuyên chính của nhà nước XHCN trong việc đấu tranh, PCTP” [16, tr.95].
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, khái niệm tội phạm quy định trong BLHS phải do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quan hệ xã hội mà theo quy định của BLHS hiện hành phải bị truy cứu TNHS. Tội phạm trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm đến sự bền vững và ổn định của chế độ Nhà nước XHCN, chế độ chính trị, chế độ kinh tế – xã hội, đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân cũng như xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN.
Quy định về biện pháp bắt người là thể hiện đường lối, chính sách của Nhà nước ta trong việc xử lý những hành vi phạm tội và thể hiện thái độ kiên quyết, triệt để của Nhà nước trong việc đấu tranh PCTP.
- Hai là, “bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền THTT được thuận lợi, góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCTP” [16, tr.95]. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Khi tiến hành bắt người, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền THTT phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của biện pháp bắt người đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi BPNC bắt người nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nhằm đảm bảo thực hiện đúng Hiến pháp, đảm bảo tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân theo hiến định. Hiện nay, nhiều vụ án do tính chất phức tạp, người thực hiện hành vi phạm tội cố tình trốn tránh, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Do đó, nhằm ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả ngay từ đầu những hành vi thực hiện tội phạm hoặc hành vi trốn tránh, gây khó khăn cho việc xử lý người phạm tội thì việc áp dụng BPNC bắt người là thực sự cần thiết. Cùng với đó, việc bắt các đối tượng này góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn mà người phạm tội có thể gây ra cho quá trình giải quyết VAHS.
- Ba là, BPNC bắt người giúp việc ngăn chặn tội phạm được kịp thời và hiệu quả [16, tr.96].
Việc này có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm hậu quả của tội phạm. Kịp thời ngăn chặn tội phạm góp phần bảo vệ những đối tượng dễ bị tội phạm tác động tới, đồng thời ngăn chặn và hạn chế hậu quả do tội phạm gây ra.
- Bốn là, cơ sở pháp lý để cơ quan, người có thẩm quyền THTT áp dụng BPNC bắt người trong những trường hợp cần thiết, nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ của TTHS [16, tr.96].
Việc bắt người có tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền tự do về thân thể bởi vậy khi áp dụng cần phải tính toán hợp lý. Bắt người đảm bảo các quy định của pháp luật TTHS sẽ góp phần tăng cường hiệu quả cuộc đấu tranh PCTP. Ngược lại, bắt người không đúng pháp luật sẽ gây tác hại lớn, không những xâm thêm lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, lực lượng cứu hộ y tế, bác sĩ các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây hoang mang trong dư luận quần chúng Nhân dân, dễ pháp y, cơ quan quản lý đường sông, cơ quan quản lý công trình đối với vụ tai xấu chế độ, chống phá Nhà nước ta. Vì vậy, việc quy định các cơ sở pháp lý đảm bảo chặt chẽ sẽ góp phần giúp cho việc áp dụng biện pháp bắt người là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng trong TTHS Việt Nam
1.1.3. Bản chất pháp lý biện pháp bắt người Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Tính cưỡng chế của Nhà nước
Trong xã hội XHCN, giáo dục, thuyết phục là phương pháp chủ yếu, cơ bản để thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước, quản lý xã hội trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Điều này được lý giải từ tính xã hội rộng rãi của Nhà nước ta: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân….do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” [32, tr.2], trong đó mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của Nhân dân. Nhưng bên cạnh biện pháp giáo dục, thuyết phục, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là cần thiết, phù hợp với bản chất xã hội rộng rãi của Nhà nước ta, bởi lẽ việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cũng nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội, trong đó có lợi ích của cá nhân.
Biện pháp bắt người là BPNC nói riêng và là biện pháp cưỡng chế trong TTHS nói chung. Do đó, bản chất pháp lý của biện pháp bắt người chính là sự cưỡng chế của Nhà nước mang tính ngăn chặn được áp dụng trong những trường hợp cần thiết của hoạt động TTHS nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh PCTP. Về tính chất của sự cưỡng chế, áp dụng biện pháp bắt người chính là sự tác động trực tiếp của Nhà nước và xã hội lên đối tượng bị áp dụng. Sự tác động này thể hiện ý chí đơn phương của Nhà nước mà không bị cản trở hay phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Các quyết định, lệnh bắt người của cơ quan, người có thẩm quyền THTT có tính chất bắt buộc đối với người tham gia tố tụng, các cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Quyết định, lệnh bắt người làm phát sinh quan hệ pháp luật TTHS giữa một bên là chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người và một bên là người bị bắt, từ đó phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên. Theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành, chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người chủ yếu là người có thẩm quyền THTT. Bên cạnh đó, còn có sự tham gia của chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức và các cá nhân khác, như: chính quyền địa phương tham gia hỗ trợ việc bắt người, chứng kiến việc bắt người, lập biên bản và giải người bị bắt phạm tội quả tang đến CQĐT; đại diện của cơ quan, tổ chức tham gia với tư cách là người chứng kiến; cá nhân tham gia vào việc bắt người với tư cách là người chứng kiến hoặc là người trực tiếp bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã. Trong trường hợp người bị bắt chống đối, không chấp hành thì chủ thể có thẩm quyền bắt người có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để bảo đảm, thậm chí cả việc sử dụng vũ lực để khóa trói, vô hiệu hóa sự kháng cự, chống đối từ phía người bị bắt.
Về nội dung của sự cưỡng chế, áp dụng biện pháp bắt người chính là sự tác động lên thân thể, tư tưởng, tâm lý và hành vi của chính người bị bắt, qua đó hạn chế quyền tự do cá nhân của người bị bắt. Áp dụng biện pháp bắt người thực chất là sự tác động lên thân thể của người bị bắt bằng việc giữ và giải người bị bắt về cơ quan có thẩm quyền; thậm chí trong trường hợp người bị bắt có hành vi chống đối, chống trả thì lực lượng thi hành biện pháp bắt người được phép sử dụng vũ lực để khống chế, trấn áp và vô hiệu hóa sự chống cự của đối tượng. Khi áp dụng biện pháp bắt người, các quyền thiết thân nhất của người bị bắt bao giờ cũng bị hạn chế ở mức độ nhất định. Do đó, biện pháp bắt người phải được áp dụng với đầy đủ các căn cứ luật định, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thẩm quyền và thủ tục áp dụng. Biện pháp bắt người cùng với biện pháp tạm giữ người, tạm giam người có mức độ hạn chế quyền tự do cá nhân của đối tượng bị áp dụng nhiều hơn so với các BPNC khác, bởi vì nó cách ly đối tượng ra khỏi cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó, bắt người là biện pháp cưỡng chế mang tính nghiêm khắc.
- Tính ngăn chặn Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Nhìn chung, BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn các quy định về BPNC so với các quy định trong BLTTHS năm 2003 theo hướng quy định cụ thể và chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo tốt hơn quyền con người, quyền công dân cho người bị buộc tội, cũng như đảm bảo cho quá trình tố tụng được công bằng và hiệu quả. Biện pháp bắt người không chỉ là biện pháp cưỡng chế trong TTHS mà còn là một BPNC. Bản chất ngăn chặn của biện pháp bắt người được thể hiện trước hết ở việc ngăn chặn tội phạm. Để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, Nhà nước áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau để ngăn chặn mọi hành vi VPPL nói chung và tội phạm nói riêng. Trong đó, biện pháp bắt người là một trong những biện pháp được áp dụng nhằm ngăn chặn tội phạm có hiệu quả. Ngăn chặn tội phạm ở đây là sự ngăn chặn không để cho người phạm tội thực hiện tội phạm được đến cùng. Bên cạnh đó, tính ngăn chặn của biện pháp bắt người còn thể hiện ở phương diện ngăn chặn người bị buộc tội tiếp tục phạm tội, ở chỗ diễn biến tâm lý cũng như thái độ chủ quan của người bị buộc tội cũng rất phức tạp. Bên cạnh những người tỏ rõ sự ăn năn hối lỗi, nhận thức rõ về lỗi lầm cũng như hành vi phạm tội của mình, còn có không ít người có thái độ ngoan cố, tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội, như: chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội mới; kích động, xúi giục người khác phạm tội… Vì vậy, việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp này còn là ngăn chặn người bị buộc tội tiếp tục phạm tội.
Ngoài ra, bản chất ngăn chặn của biện pháp bắt người còn thể hiện việc ngăn chặn người bị buộc tội trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Bên cạnh việc nhiều đối tượng tự nguyện chấp hành, hợp tác tích cực với các cơ quan, người có thẩm quyền THTT thì cũng có rất nhiều đối tượng tìm đủ mọi cách để trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, như: bỏ trốn; có dấu hiệu bỏ trốn. Việc điều tra, truy tố, xét xử sẽ không còn ý nghĩa giáo dục và răn đe nếu người phạm tội tránh được sự trừng phạt của pháp luật, việc áp dụng biện pháp bắt người sẽ ngăn chặn được hành vi bỏ trốn của người bị buộc tội nhằm trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
BPNC bắt người chính là biện pháp bảo đảm ngăn chặn kịp thời hành vi cản trở việc xác định sự thật của vụ án. Cản trở việc xác định sự thật của vụ án được biểu hiện ở nhiều dạng hành vi khác nhau, như: tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại… Đây rõ ràng là những hành vi cần phải được ngăn chặn ngay để đảm bảo tính khách quan của những thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được, góp phần giải quyết vụ án được chính xác, kịp thời.
Như vậy, bản chất ngăn chặn luôn được thể hiện ở biện pháp bắt người, trong mọi trường hợp bắt người. Tuy nhiên, mức độ thể hiện tính ngăn chặn được thể hiện khác nhau ở các trường hợp bắt người, như: bắt người phạm tội quả tang thể hiện rõ tính ngăn chặn tội phạm; bắt người đang bị truy nã, bắt tạm giam bị cáo tại phiên toà thể hiện rõ sự ngăn chặn việc người bị buộc tội trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật;…
1.1.4. Mối quan hệ giữa biện pháp bắt người với các biện pháp ngăn chặn khác trong tố tụng hình sự
Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành, các BPNC bao gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh [35, tr.101]. Bắt người và các BPNC khác đều thể hiện bản chất pháp lý là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực Nhà nước, gắn liền với việc hạn chế quyền tự do của đối tượng bị áp dụng. Giữa biện pháp bắt người và các BPNC khác luôn tồn tại mối quan hệ nhất định. Bắt người là BPNC độc lập nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với các BPNC khác. Trong mối quan hệ này, biện pháp bắt người thường được áp dụng liền trước hoặc “là tiền đề cho việc áp dụng BPNC khác” [40, tr.20]. Tất nhiên không phải mọi trường hợp bắt người đều dẫn đến việc áp dụng các BPNC khác như tạm giữ, tạm giam; đồng thời không phải mọi BPNC đều bắt nguồn từ việc áp dụng biện pháp bắt người, chưa kể đến có BPNC được tiến hành trước, khởi đầu cho việc áp dụng biện pháp bắt người như biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Mối quan hệ tố tụng liên quan đến thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn TTHS trong các cơ quan tiến hành TTHS, nhận thức rõ về mối quan hệ giữa biện pháp bắt người với các BPNC khác trong TTHS là cơ sở để áp dụng đúng biện pháp bắt người, vì đây một BPNC có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc người bị buộc tội tiếp tục phạm tội hoặc có những hành vi cản trở, gây khó khăn cho việc giải quyết VAHS.
1.2. Lược sử quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp bắt người Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
1.2.1. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, cùng với việc củng cố chính quyền còn non trẻ, thiết lập trật tự xã hội mới, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng hệ thống pháp luật, trong đó có các văn bản pháp luật TTHS. Nhằm đấu tranh chống Việt gian, phản động và những tội phạm nguy hiểm khác, thời kỳ này Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về các BPNC, trong đó có BPNC bắt người và bắt người được xem là phương tiện sắc bén để đấu tranh. Tuy nhiên, có thể thấy rằng giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 chưa có các văn bản pháp luật quy định riêng, cụ thể, chi tiết về BPNC bắt người mà mới chỉ được đề cập, quy định xen kẽ trong một số văn bản pháp luật và một số cơ quan tư pháp, bảo vệ pháp luật được hình thành, ra đời liên quan đến việc bắt người, cụ thể:
Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về tổ chức các Toà án và các ngạch Thẩm phán quy định: “Ban Tư pháp xã không có quyền tịch thu tài sản của ai, cũng không có quyền bắt bớ, giam giữ ai trừ khi có trát nã của một Thẩm phán hay khi thấy người phạm tội quả tang”. Theo điều luật này, bắt người được coi là một hoạt động thuộc lĩnh vực tư pháp, có 2 trường hợp bắt người là bắt người theo trát nã và bắt người phạm tội quả tang và chỉ Thẩm phán mới có quyền ra lệnh bắt người. Sắc lệnh số 40/SL ngày 29/3/1946 về bảo vệ tự do cá nhân.
Luật số 103-SL/L.005 ngày 20/5/1957 về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của Nhân dân; Sắc luật số 002/SLt ngày 18/6/1957 quy định những trường hợp phạm pháp quả tang, những trường hợp khẩn cấp và những trường hợp khám người phạm pháp quả tang. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Sắc lệnh 23/SL ngày 21/02/1946 của Chủ tịch nước về việc thành lập Việt Nam Công an vụ (tiền thân của Bộ Công an). Theo Sắc lệnh này thì lực lượng Công an vụ có nhiệm vụ “Điều tra về những hành động trái phép và truy tìm người can phạm để giúp Tòa án trong sự trừng trị”; Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/07/1946 về tổ chức bộ máy Tư pháp Công an tại Điều thứ 2: “Tư pháp Công an có nhiệm vụ truy tầm tất cả các sự phạm pháp (đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh), sưu tập các tang chứng, bắt giao người phạm pháp cho các Tòa án xét xử trong phạm vi luật pháp ấn định”; Sắc lệnh số 85/Sl ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp thì: “Tư pháp Công an có nhiệm vụ bắt người phạm pháp và giao cho các Tòa án xét xử” [49, tr.34]. Nội dung của các văn bản trên thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tôn trọng và bảo vệ quyền tự do thân thể của Nhân dân đối với các phần tử xâm phạm đến lợi ích và sự an toàn của Nhà nước.
Sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng năm 1954, nước ta tạm thời chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 qua sông Bến Hải, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị làm ranh giới. Đây là giai đoạn tiến hành khôi phục, phát triển kinh tế, tiến hành cải tạo XHCN ở miền Bắc, chuẩn bị cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965). Để đáp ứng nhiệm vụ chính trị và xã hội trong thời kỳ mới, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật có liên quan đến công tác bắt, tạm giữ, tạm giam như:
Luật số 103-SL/L005 ngày 20/5/1957 về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của Nhân dân. Tại Điều 4 của Sắc lệnh ghi nhận BPNC bắt người phạm tội quả tang là một BPNC bắt người đặc biệt: “Đối với những người phạm pháp quả tang, bất cứ người nào cũng có quyền bắt và phải giải ngay đến Ủy ban hành chính, TAND hoặc đồn Công an nơi gần nhất. Trong những trường hợp khẩn cấp, cơ quan Công an có thể bắt giữ trước nạn có liên quan đến công trình giao thông hoặc các công trình khác trên đường đó biết. Những trường hợp phạm pháp quả tang và trường hợp khẩn cấp là những trường hợp đặc biệt do luật quy định”.
Sắc lệnh 002/SLT ngày 18/6/1957 của Chủ tịch nước quy định về các trường hợp phạm pháp quả tang, khẩn cấp và các trường hợp khám người phạm pháp quả tang, trong đó Điều 1 quy định: Ðể kịp thời giữ kẻ phạm pháp đã gây thiệt hại đến an toàn của Nhà nước, đến trật tự xã hội, đến tài sản của Nhà nước, đến tính mệnh tài sản của Nhân dân, nay quy định những trường hợp sau đây là phạm pháp quả tang mà người công dân nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến Uỷ ban hành chính, TAND hoặc Ðồn công an nơi gần nhất: Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Ðang làm việc phạm pháp hoặc sau khi phạm pháp thì bị phát giác
- Ðang bị đuổi bắt sau khi phạm pháp.
- Ðang bị giam giữ mà lẩn trốn.
- Ðang có lệnh truy nã.
Nghị định số 301/TTG quy định chi tiết thi hành Luật số 103/SL-L005 ngày 20/5/1957 bảo đảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của Nhân dân. Nghị định ghi nhận trình tự thủ tục bắt giữ đối với các quân nhân trong trường hợp bị bắt phạm pháp quả tang: Trừ những trường hợp phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp, những quân nhân phạm pháp luật Nhà nước do các cán bộ trong quân đội nói ở Điều 1 đoạn b Nghị định này ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam. Những quân nhân phạm pháp bị bắt trong những trường hợp quả tang hoặc những trường hợp khẩn cấp thì trong hạn 24 giờ phải giải lên Tòa án nơi gần nhất.
Hiến pháp năm 1959 đã có sự sửa đổi: “Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của TAND hoặc sự phê chuẩn của VKSND”, đây là sự khác biệt lớn so với Hiến pháp năm 1946, khi mà bản Hiến pháp năm 1946 quy định chỉ có TAND mới có quyền bắt người. Như vậy, Hiến pháp năm 1959 đã quy định thẩm số yêu cầu trước khi khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông quyền là do theo Hiến pháp năm 1946 chỉ có Viện Công tố của Tòa án mà không có VKS, trong khi Hiến pháp năm 1959 đã quy định VKS có chức năng kiểm sát chung và kiểm sát các hoạt động tư pháp cho nên việc bắt phải có sự phê chuẩn của VKS là hoàn toàn phù hợp.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/3/1976 quy định về việc bắt, giam, giữ. Về cơ bản việc bắt giam giữ quy định trong Sắc luật này giống luật 103/SL-L005 ngày 20/5/1957, tuy vậy thẩm quyền bắt được mở rộng đến cấp huyện.
Điều 3 Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/3/1976 quy định về việc bắt người, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật trong trường hợp khẩn cấp: Đội trưởng đội tuần tra của cơ quan an ninh hoặc của quân đội, trưởng hoặc phó đồn an ninh, trưởng hoặc phó cơ quan an ninh huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trưởng hoặc phó ban của cơ quan an ninh từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên, trong khi làm nhiệm vụ, có quyền ra lệnh hoặc tự mình bắt, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật trong những trường hợp khẩn cấp [30, tr.3]. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Tóm lại, phải khẳng định rằng, những quy định của pháp luật về việc bắt người trong những văn bản pháp luật nêu trên đã có tác dụng tích cực trong những giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng trật tự xã hội mới. Song khi bước sang giai đoạn cách mạng mới, những quy định bắt người này bắt đầu không phù hợp tình hình thực tiễn. Sự tản mạn, thiếu chặt chẽ, cụ thể của những quy định về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục bắt người đã làm khó khăn cho việc áp dụng và dễ gây ra vi phạm. Do đó việc phải xây dựng một Bộ luật quy định thống nhất quá trình TTHS nói chung và bắt người nói riêng đã trở thành một yêu cầu cần thiết khách quan.
Ngày 18/12/1980, Quốc hội nước ta đã thông qua Hiến pháp năm 1980. Liên quan đến việc bắt người, Hiến pháp năm 1980 quy định: “Không ai có thể bị bắt, nếu không có quyết định của TAND, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND…”. So với Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đã bổ sung thêm thẩm quyền ra quyết định bắt của VKSND để phù hợp với việc bổ sung chức năng thực hành quyền công tố cho VKS trong bản Hiến pháp này. Hiến pháp năm 1980 ra đời đánh dấu sự hoàn thiện từng bước của hệ thống pháp luật, nhiều văn bản pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới để phù hợp với các nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp 1980.
1.2.2. Từ Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Nhằm thể chế hóa những quy định về TTHS trong Hiến pháp năm 1980, BLTTHS năm 1988 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 28/6/1988, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989, để bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. BLTTHS đã quy định những BPNC thành một hệ thống tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh tại một chương riêng trong Bộ luật tại các Điều 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67 trong đó quy định cụ thể về BPNC bắt người bao gồm: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. BLTTHS năm 1980 sau đó được sửa đổi 3 lần vào các năm 1990, 1992, 2000.
- Về thẩm quyền bắt người được quy định cụ thể hơn
Tại Khoản 1 Điều 62 quy định thẩm quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam: “1- Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người: a) Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp; b) Chánh án, Phó chánh án TAND và Toà án quân sự các cấp; c) Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toà án quân sự cấp quân khu trở lên chủ toạ phiên toà; d) Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên. Trong trường hợp này lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành” [33, tr.76].
Khoản 2 Điều 63 quy định thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp: “2- Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp: a) Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên; b) Người chỉ huy của đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo hoặc biên giới; c) Người chỉ huy máy bay, tàu biển, khi máy bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng” [33, tr.77].
Khoản 1 Điều 64 quy định thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã: “1- Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan công an, VKS hoặc UBND nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến CQĐT có thẩm quyền” [33, tr.78]. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Về thủ tục khi tiến hành bắt người
Khoản 2 và khoản 3 Điều 62 quy định việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
“2- Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu. Người thi hành lệnh phải đọc và giải thích lệnh cho người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt. Khi tiến hành bắt người, phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến.
3- Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang quy định tại Điều 63 và Điều 64 Bộ luật này” [33, tr.76].
Khoản 4 Điều 63 quy định về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp: “4-Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản để xét phê chuẩn. Nếu VKS không phê chuẩn thì trả tự do ngay cho người bị bắt.” [33, tr.77].
Điều 64 quy định về việc thủ tục bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã: “1- Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan công an, VKSND hoặc UBND nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến CQĐT có thẩm quyền. 2- Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí của người bị bắt” [33, tr.78].
- Những việc cần làm ngay sau khi nhận người bị bắt
Điều 65 quy định: “1- Sau khi nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, CQĐT phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt. 2- Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, CQĐT phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh truy nã và giải ngay người đó đến trại giam nơi gần nhất.” [33, Điều 77].
- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có cải cách tư pháp, BLTTHS năm 1988 không còn phù hợp nữa và đã bộc lộ một số hạn chế nhất định. Với tinh thần các nghị quyết của Đảng, BLTTHS năm 2003 được Quốc hội khoá XI tại kì họp thứ tư thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004. BLTTHS này thay thế BLTTHS được Quốc hội thông qua ngày 29/6/1988 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS được Quốc hội thông qua năm 1990, năm 1992 và năm 2000. BPNC bắt người được quy định tại các điều từ thuộc Chương VI Những biện pháp ngăn chặn, BLTTHS năm 2003. Có ba trường hợp bắt người đó là:
- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80 BLTTHS năm 2003)
Khái niệm: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằm ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự,
Đối tương và điều kiện áp dụng: Đối tượng của việc bắt người để tạm giam chỉ có thể là bị can hoặc bị cáo. Chỉ được bắt để tạm giam đối với một người khi có đủ căn cứ để xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội mà xét thấy đáng bắt để tạo điều kiện cho việc điều tra xử lý tội phạm. Bị can, bị cáo phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng hoặc phạm tội do vô ý, không có hành động cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử thì không cần bắt tạm giam. Đối với những bị can, bị cáo đoàn tàu, việc xử lý của tài xế, trưởng tàu sau tai nạn, các dấu vết, vật lạ, các yếu an ninh quốc gia, giết người, cướp tài sản… hoặc phạm các tội mà BLHS quy định nguyên nhân đoạn đường này thể hiện chất lượng của đường sắt phạm tội hoặc có hành động cản trở việc điều tra, xét xử thì cần kiên quyết bắt để tạm giam.
Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam: Khoản 1 Điều 80 BLTTHS năm 2003 thể hiện sự chuyển động, thể hiện tốc độ ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam: “a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp; b) Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp; c) Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; d) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp. Trong trường tiến hành khám nghiệm phải VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.” Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam: Khoản 2 và khoản 3 Điều 80 BLTTHS quy định:
Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu. Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người hoạt động của phương tiện đường sắt hoặc đường bộ, có thể gây ùn tắc giao làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.
Để bảo đảm lợi ích chính đáng của người bị bắt, thân nhân của họ và của những người láng giềng và tránh tình trạng căng thẳng do việc bắt người gây ra, khoản 3 Điều 80 của Bộ luật còn quy định: “Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.”
Theo quy định về việc tính thời hạn tại BLTTHS, ban đêm được tính từ 22 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.
- Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81 BLTTHS năm 2003)
Khái niệm: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm thông, ảnh hưởng đến sự đi lại, thì đánh dấu vị trí, tư thế của tử thi, chụp ảnh hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm.
Những trường hợp khẩn cấp: Khoản 1 Điều 81 BLTTHS năm 2003 quy định chỉ được bắt khẩn cấp khi có một trong các căn cứ (trường hợp) sau đây:
“a) Khi có căn cứ rồi đưa tử thi vào lề đường hoặc ra khỏi phạm vi giới hạn an toàn hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Khi người bị hại hoặc người giấy tờ có liên quan đến phương tiện và người điều là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
- Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực phương tiện và người điều khiển phương tiện người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.” Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Khoản 2 Điều 81 BLTTHS năm 2003 quy định những người sau đây có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp: “a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp; b) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập tụng hình sự nhằm phát hiện dấu vết, vật chứng của tội phạm, góp và biên giới; c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.”
Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp về cơ bản cũng được BLTTHS quy định và áp dụng tương tự như thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam nhưng có một số điểm khác: (1) Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp không cần sự phê chuẩn của VKSND cùng cấp trước khi thi hành. (2) Sau khi đã bắt người, việc bắt khẩn cấp phải báo ngay cho nạn giao thông có người chết tại hiện trường hoặc gây hậu quả từ nghiêm trọng VKSND không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt (thời hạn xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp quy định cho VKSND là 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp). (2) Trong trường hợp khẩn cấp được bắt người vào bất kỳ lúc nào, không kể ban ngày hay ban đêm.
Quyền và trách nhiệm của công dân về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Mặc dù các trường hợp khẩn cấp mang tính chất rất cấp bách, cần phải nạn giao thông có người chết tại hiện trường hoặc gây hậu quả từ nghiêm trọng tội nhưng việc nhận biết các hành vi đó không dễ dàng, thường phải tiến hành theo dõi, thẩm tra, tham gia khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông quy định công dân không được quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp nhưng có trách nhiệm giúp đỡ CQĐT kịp thời phát hiện và bắt ngay những kẻ phạm tội để bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích chính đáng của công dân.
- Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82 BLTTHS năm 2003)
Khái niệm: Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc đuổi bắt. Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi phạm tội cụ thể, rõ ràng không cần phải điều tra, xác minh. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Các trường hợp phạm tội quả tang: Điều 82 BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể ba trường hợp phạm tội quả tang sau đây: (1) Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. (2) Ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. (3) Đang bị đuổi bắt.
Việc bắt người đang bị truy nã: Bắt người đang bị truy nã không nằm trong các trường hợp bắt người phạm tội quả tang, vì hành vi của người đang bị truy nã là hành vi bỏ trốn sau khi đã thực hiện tội phạm. Tuy vậy, trong thực tế việc ngăn chặn rõ về diễn biến của vụ tai nạn giao thông phục vụ cho yêu cầu điều tra, xử lý tai với việc ngăn chặn người phạm tội quả tang nên BLTTHS quy định thẩm quyền, thủ tục bắt người đang bị truy nã cũng được áp dụng như bắt người phạm tội quả tang.
Thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã: BLTTHS năm 2003 quy định bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động điều tra và kiểm tra từng giả thuyết trong bản kế hoạch chúng Nhân trong đấu tranh PCTP, kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội và hành vi lấy lời khai người bị hại, xem xét những dấu vết ích của Nhà nước, tính mạng, sức khỏe và các lợi ích hợp pháp của công dân.
Thủ tục bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã: Việc bắt người trong trường hợp này không cần lệnh của cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nào, bất kỳ cá nhân nào cũng có thể bắt đối tượng. Mọi công dân đều có quyền bắt và có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt. Sau khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã, công dân phải giải ngay đến cơ quan công an, VKS hoặc UBND nơi gần nhất để các cơ quan này thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền luật định, tuyệt đối không được đánh đập, tra tấn hay giam giữ họ. Các cơ quan sau khi tiếp nhận người bị bắt phải lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hoặc biên bản bắt người đang bị truy nã, giải ngay người bị bắt đến CQĐT có thẩm quyền.
Ngoài các các quy định về bắt người nói chung, khi tiến hành bắt người là các đối tượng đặc biệt, các cơ quan chức năng còn phải căn cứ vào một số quy định khác của pháp luật. Ví dụ: Việc bắt người phạm tội là người thuộc các cơ quan dân cử như đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải đảm bảo một số thủ tục được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quy định ở các Điều 80, 81 và 82 BLTTHS năm 2003, đồng thời còn phải đảm bảo một số thủ tục được quy định trong các đạo luật khác.
Tiểu kết Chương 1
Trong chương 1 luận văn đã tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về biện pháp bắt người và quy định theo pháp luật TTHS Việt Nam. Trong đó, luận văn làm rõ ý luận về biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS Việt Nam trên các phương diện: phân tích khái niệm biện pháp bắt người, những yêu cầu và vai trò của BPNC bắt người, bản chất pháp lý biện pháp bắt người và mối quan hệ giữa biện pháp bắt người với các BPNC khác trong TTHS. Đồng thời, chương 1 luận văn cũng đã trình bày lược sử quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về biện pháp bắt người cụ thể theo hai giai đoạn. Giai đoạn đầu từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành BLTTHS năm 1988. Giai đoạn hai từ BLTTHS năm 1988 đến BLTTHS sự năm 2003. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả nghiên cứu các quy định hiện hành và thực trạng áp dụng biện pháp bắt người trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ở chương 2 luận văn. Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự