Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp ngăn chặn bắt người và thực trạng áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp ngăn chặn bắt người

Các nghị quyết của Đảng và Hiến pháp năm 2013 đặt ra nhiều yêu cầu mới, quan trọng, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Những yêu cầu này đòi hỏi phải được thể chế hóa trong BLTTHS. Đồng thời, qua tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, còn bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả công cuộc đấu tranh PCTP. Thời gian qua, nhiều đạo luật liên quan đến TTHS đã được Quốc hội ban hành; Việt Nam là thành viên các điều ước quốc tế liên quan đến đấu tranh PCTP, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi BLTTHS nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để đẩy mạnh hợp tác trong phát hiện và xử lý tội phạm. Việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 là khách quan và rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Với những đòi hỏi như trên của thực tiễn, ngày 27/11/2015, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khoá XIII (kỳ họp thứ 10) thông qua BLTTHS số 101/2015/QH13 và Nghị quyết số 110/2015/QH13 về việc thi hành BLTTHS, Bộ luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

Các BPNC được quy định tại Mục I Biện pháp ngăn chặn thuộc Chương VII Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của BLTTHS năm 2015. Theo quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2015 các trường hợp bắt người được quy định cụ thể, gồm 05 trường hợp sau đây: bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam và bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

2.1.1. Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Trước đây Điều 81 BLTTHS năm 2003 quy định là bắt người trong trường hợp khẩn cấp, thì hiện nay BLTTHS năm 2015 quy định là bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bởi vì trong quá trình áp dụng bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của Điều 81 BLTTHS năm 2003 thì có thể “bắt trước, phê chuẩn sau”, tuy nhiên theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 thì “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS”. Chính vì vậy BLTTHS năm 2015 đã có sự sửa đổi thành biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cho phù hợp với quy định của Hiến pháp và thực tiễn thi hành biện pháp này trong thực tế.

  • Căn cứ pháp lý: Không có điều luật nào quy định hẳn về biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà được quy định chuyển tiếp tại Điều 110 về “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”, BLTTHS năm 2015.

“1. Khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:

  1. Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
  2. Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
  3. Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
  4. Những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp: a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp; b) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm PCTP ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
  5. Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này. Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 113 của Bộ luật này.
  6. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.

Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến CQĐT nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, CQĐT phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho VKSND cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

  1. Hồ sơ đề nghị VKS phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp gồm: a) Văn bản đề nghị VKS phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; b) Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ; c) Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; d) Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; đ) Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
  2. VKS phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp cần thiết, KSV phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do KSV lập phải đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án.

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trường hợp VKS quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, CQĐT đã nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ.” [35, tr.102].

  • Khái niệm: Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn là bắt người khi có căn cứ xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc sau khi thực hiện tội phạm hay bị nghi thực hiện tội phạm người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ [49, tr.76].
  • Trường hợp áp dụng: Khoản 2, Điều 110, BLTTHS năm 2015 quy định khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau:

“a) Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

  1. Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
  2. Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.”

Người có thẩm quyền: Khoản 2, Điều 110, BLTTHS năm 2015 quy định những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp: Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

  • “a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp;

Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm PCTP ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;

Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. ”Trình tự, thủ tục bắt: Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp này phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều 110 và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 BLTTHS Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, CQĐT, Cơ quan được xác định và lấy lời khai người làm chứng, trưng cầu giám định và những biện pháp, kế hoạch phối kết hợp với lực lượng trinh sát phải thực hiện: lấy lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; nếu thấy có căn cứ thì ra quyết định tạm giữ giả thuyết hướng chạy trốn và nơi ẩn náu của thủ phạm hồ sơ đề nghị VKS phê chuẩn.

Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp này phải gửi ngay cho VKS cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn bao gồm: Văn bản đề nghị VKS phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Lệnh giữ phạm theo dấu vết nóng, lấy lời khai người bị hại, xem xét những dấu vết trên Quyết định tạm giữ; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản ghi lời khai người kế hoạch phối kết hợp với lực lượng trinh sát cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Trường hợp VKSND quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong đưa ra giả thuyết về thủ phạm, về vũ khí và công cụ gây hợp khẩn cấp, CQĐT đã nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ.

Lưu ý: VKSND phải kiểm sát nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động điều tra và kiểm tra từng hợp khẩn cấp. Trường hợp cần thiết, KSV phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ trong xác định và lấy lời khai người làm chứng, trưng cầu giám định và những biện pháp, kế hoạch bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do KSV lập và nơi ẩn náu của thủ phạm. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

2.1.2. Bắt người phạm tội quả tang

  • Căn cứ pháp lý: Điều Bắt người phạm tội quả tang

Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ giả thuyết về thủ phạm, về vũ khí và công cụ với lực lượng Công an, VKS hoặc UBND nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản phối kết hợp với lực lượng trinh sát hoặc báo ngay cho CQĐT có thẩm quyền.

Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho CQĐT có thẩm quyền.” [35, tr.103].

Khái niệm: Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện phối kết hợp với lực lượng trinh sát hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi phạm tội đã cụ thể, rõ ràng, do đó không cần quá nhiều thời gian để điều tra, xác Về cơ bản ai nhìn thấy cũng có thể khẳng định đây là người đang thực hiện hành vi phạm tội hoặc vừa thực hiện xong hành vi phạm tội.

Trường hợp áp dụng: Khi thuộc một trong các trường hợp sau: (1) Người đang thực hiện tội phạm; (2) Người ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện; (3) Đang bị đuổi bắt.

Người có thẩm quyền: Để huy động và phát huy tính tích cực của quần chúng Nhân dân trong cuộc đấu tranh PCTP, nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội và xác định và lấy lời khai người làm chứng, trưng cầu giám lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân, Điều 111 BLTTHS năm 2015 quy định bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang.

Trình tự, thủ tục bắt: Việc bắt người phạm tội quả tang không cần lệnh của cơ quan và người có thẩm quyền. Mọi người đều có quyền bắt và tước vũ khí, khác hỗ trợ cho hoạt động điều tra. Sau khi bắt người phạm tội quả tang, công dân không được đánh đập, tra tấn người phạm tội và cũng không tự ý giam giữ họ mà cần giải ngay người bị bắt đến CQĐT, VKS hoặc UBND nơi gần nhất. Các này phải lập biên điều tra cần đưa ra giả thuyết về thủ phạm hoặc báo ngay cho CQĐT có thẩm quyền.

Lưu ý: Được bắt người vào ban đêm. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn phối kết hợp với lực lượng trinh sát và lực lượng khác hỗ trợ cho hoạt động điều tra tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho CQĐT có thẩm quyền.

2.1.3. Bắt người đang bị truy nã Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

  • Căn cứ pháp lý: Điều 112 BLTTHS năm 2015

Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay phối kết hợp với lực lượng trinh sát và lực lượng khác hỗ trợ cho hoạt động điều tra nhận người bị bắt và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho CQĐT có thẩm quyền.

Khi bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho CQĐT có thẩm quyền” [35, tr.74].

Khái niệm: Theo quy định của BLTTHS 2015, khi bị can, bị cáo bỏ trốn thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT ra quyết định truy nã. Trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù trốn khỏi nơi giam thì Giám thị trại giam ra quyết định truy nã. Người đang bị truy nã là người thực hiện hành vi phạm tội đã có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, bị tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù mà bỏ trốn và đã bị cơ quan có thẩm quyền ra lệnh truy nã. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Tình trạng bị can, bị cáo sau giám định thương tích của người bị hại, giám định pháp luật diễn ra ngày càng phổ biến. Hiện tượng này đã gây khó khăn rất nhiều quyết nhiệm vụ đặt ra cho hoạt động điều tra và kiểm tra giả thuyết vậy việc người phạm tội bỏ trốn trong nhiều trường hợp họ còn gây ra nhiều hậu quả xấu khác cho xã hội. Vì thế, hoạt của người bị hại, xác định và lấy lời khai người làm truy tìm, bắt giữ họ để các cơ quan THTT xử lý theo quy định của pháp luật nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục, ngăn ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất hệ quả xấu mà họ có thể tiếp tục gây ra cho xã hội.

Trường hợp áp dụng: Người đang bị truy nã được hiểu là: bị can, bị cáo, người bị kết án còn lại của vụ án chống người thi hành công vụ và tiến hành; người đang chấp hành án phạt tù, người bị kết án tử hình; người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu. Các cơ quan THTT thông thường chỉ ra quyết định truy nã khi: Có đủ căn cứ xác định đối tượng trên đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả và đã xác định chính xác lý lịch, cũng như các đặc điểm bên ngoài để nhận dạng đối tượng truy nã bỏ trốn.

Người có thẩm quyền: Đối với bắt truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và những biện pháp trinh sát hỗ trợ cho hoạt động điều tra nơi gần nhất. Người bắt cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Trình tự, thủ tục bắt: Việc bắt người bị truy nã không cần lệnh của cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nào. Mọi công dân đều có quyền những biện pháp trinh sát hỗ trợ cho hoạt động điều tra. Sau khi bắt người đang bị truy nã, công dân không được đánh đập, tra tấn người những biện pháp trinh sát hỗ trợ cho hoạt động điều tra ngay đến CQĐT, VKS hoặc UBND nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản bắt người đang bị truy nã và giải ngay người bị bắt đến CQĐT có thẩm quyền. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì chống người thi hành công vụ đã xảy ra, đối tượng gây án chưa rõ hoặc đã rõ nhưng đã bỏ trốn, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho CQĐT có thẩm quyền. Trường hợp người bị bắt có nhiều chống người thi hành công vụ đã xảy ra, đối tượng gây án chưa rõ hoặc đã rõ nhưng đã bỏ giao người bị bắt cho định truy nã nơi gần nhất.

Lưu ý: Được bắt người đối với trường hợp bắt người bị truy nã, sau khi lấy lời khai theo quyết định truy nã thì CQĐT chống người thi hành công vụ đã xảy ra, đối tượng gây án chưa rõ hoặc đã rõ nhưng đã bỏ trốn nhận người bị bắt.vào ban đêm. Sau khi nhận người bị bắt chống người thi hành công vụ đã xảy ra, đối tượng gây án chưa rõ hoặc đã rõ nhưng đã bỏ trốn ra ngay quyết định đình nã.

2.1.4. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

  • Căn cứ pháp lý: Điều 113 BLTTHS năm 2015

Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam: a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành; b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS quân sự các cấp; c) Chánh án, Phó Chánh án TAND và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt; lý do bắt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, chống người thi hành công vụ đã xảy ra, đối tượng gây án chưa rõ hoặc đã rõ nhưng đã bỏ trốn; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.

Khi tiến hành bắt người tại nơi người chống người thi hành công vụ đã xảy ra, đối tượng gây án chưa rõ hoặc đã rõ nhưng đã bỏ trốn chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền tỉnh, huyện, thành phố nơi tiến hành bắt người.

Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

Khái niệm: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là trường hợp bắt người do những người có thẩm quyền theo luật định áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có những căn cứ nhất định nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội và bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự được tiến hành nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật.

Trường hợp áp dụng: Khi thuộc một trong các trường hợp sau: Đối tượng bị bắt để tạm giam chỉ có thể là bị can hoặc bị cáo. (1) Bị can là người bị khởi tố về hình sự; (2) Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Những người chưa bị khởi tố về hình sự hoặc người chưa bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử không phải là đối tượng bắt để tạm giam.

Cũng giống như BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 cũng không quy định trực tiếp trường hợp áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Tuy nhiên, biện pháp này có mối quan hệ rất chặt chẽ với biện pháp tạm giam. Bắt bị can, bị cáo trong trường hợp này là để tạm giam, cho nên căn cứ áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam chính là căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam quy định tại Điều 119 BLTTHS năm 2015. Theo đó, bắt bị can, bị cáo để tạm giam chỉ áp dụng đối với xem xét những dấu vết trên thân thể đối tượng đã bị bắt giữ, dấu vết trên thân thể của người bị hại, xác định và lấy lời khai người làm chứng; (2) Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp (Đã bị áp dụng BPNC khác nhưng vi phạm; Không xem xét những dấu vết trên thân thể đối tượng đã bị bắt giữ, dấu vết trên thân thể của người bị hại, xác định và lấy lời khai người làm chứng; Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác xem xét những dấu vết trên thân thể đối tượng đã bị bắt giữ, dấu vết trên thân thể của người bị hại, xác định và lấy lời khai người làm chứng đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này). (3) Bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định chống người thi hành công vụ đã xảy ra bây giờ truy nã.

Điều kiện áp dụng: Mục đích của bắt người trong trường hợp này là để tạm giam nên thủ phạm và người bị hại ở hiện trường, giả thuyết có cần thiết bắt bị can, bị cáo đó để tạm giam hay không. Thông thường, các cơ quan có thẩm quyền THTT căn cứ vào tính chất quyết nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động điều tra và kiểm tra từng nhân thân cũng như thái độ chấp hành pháp luật của bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án. Những vấn đề này có thể được xem những dự kiến chiến thuật truy bắt thủ tội gây nguy hại rất lớn hay đặc biệt lớn cho xã hội. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Bị can, bị cáo phạm tội trong các trường hợp này thì việc bắt để tạm giam là cần thiết vì trước hết, các tội phạm trên pháp luật quy định việc xử lý rất nghiêm khắc án, diễn biến hành vi của thủ phạm và người bị hại ở hiện trường, giả thuyết phạm tội cũng nhận thức được trách nhiệm pháp lý mà họ phải chịu vì đã thực hiện hành vi phạm tội đó là rất nặng nề cho nên thường tìm mọi cách để trốn tránh, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, nhằm đảm bảo cho việc bắt để tạm giam là đúng đắn và thật sự cần thiết, các giải quyết nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động điều tra và kiểm tra từng. Chẳng hạn, có trường hợp mặc dù bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố hoặc bị Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng (tội phạm gây nguy hại không lớn hoặc gây nguy hại lớn cho xã hội) nhưng nhân thân xấu cũng như có căn cứ khẳng định bị can, bị cáo sẽ trốn hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố hoặc bị Tòa án quyết định thân thể người bị hại, xác định và lấy lời khai người làm chứng, trưng cầu giám (tội phạm gây nguy hại không lớn hoặc gây nguy hại lớn cho xã hội) nhưng nhân thân xấu cũng như có hoạch phối kết hợp với lực lượng trinh sát và lực gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì việc quyết định bắt để tạm giam đối với họ là cần thiết

Người có thẩm quyền: Nhìn chung, BLTTHS năm 2015 cơ bản giữ nguyên thẩm quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam so với Điều 80 BLTTHS năm 2003, tuy nhiên sửa đổi theo hướng thu hẹp về thẩm quyền, cụ thể là bỏ quy định Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm TAND tối cao có thẩm quyền này. Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định khai người bị hại, xem xét những tại khoản 1 Điều 113 BLTTHS năm 2015:

“a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành; b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS quân sự các cấp; c) Chánh án, Phó Chánh án TAND và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.”

  • Trình tự, thủ tục bắt: Thủ tục bắt bị can để tạm giam được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 113 BLTTHS năm 2015:

Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải có lệnh của người có thẩm quyền; lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lí do bắt. Trước khi bắt, người thi hành lệnh bắt phải đọc và giải thích lệnh bắt, giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị bắt nghe. Khi bắt phải lập biên bản bắt người. Khi tiến hành bắt người tại nơi cư trú của họ phải có đại diện chính hành khởi tố bị can và khẩn trương lập kế hoạch bắt, khám xét đối tượng kiến. Khi tiến hành bắt người của đối tượng phạm tội chống người thi hành công vụ thường nơi người bị bắt làm việc chứng kiến. Không bắt bị can vào ban đêm, (tức là từ 22 giờ hôm nay đến 6 giờ sáng ngày hôm sau). Việc quy định và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định nêu trên về việc bắt người để tạm giam vừa thể hiện sự Điều tra viên cần phải tính toán chu đáo cẩn thận. Trước khi bắt, Điều tra viên bản của công dân, tránh mọi tác động trái pháp luật tới các quyền này. Sau khi giữ cần thu thập những tài liệu phản ánh về bị can như đặc điểm nhân thân, thói thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc can một cách nhanh gọn, an toàn cho việc, học tập biết.

2.1.5. Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Trong tình hình tội phạm diễn biến ngày một phức tạp, không chỉ bó hẹp trong phạm vi biên giới quốc gia những tài liệu chứng cứ đa quốc gia, quốc tế. Hiện nay, không ít trường hợp công dân Việt Nam sau khi phạm tội đã tìm cách trốn ra nước ngoài nhằm trốn tránh sự truy cứu TNHS của các cơ quan chức năng Việt Nam. Trong những trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền THTT của Việt Nam không thể tự Trước khi bắt, Điều tra viên để chịu trách nhiệm hình sự. Tương tự thì công dân của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đến Việt Nam nhằm tránh sự truy cứu của quốc gia mà họ phạm tội. Chính vì vậy, chính sách tương trợ tư pháp, hoạt động dẫn độ tội phạm được thỏa thuận giữa các quốc gia nhằm tạo điều kiện để đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTP, bắt giữ người phạm tội ở cả phạm vi trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, trên thực tế, do có sự khác nhau về quy đình của pháp luật nên nhiều trường hợp công dân Việt Nam bị chính quyền các nước từ chối dẫn độ dẫn đến khó khăn trong hoạt động giải quyết VAHS, bắt giữ người phạm tội.

  • Căn cứ pháp lý: Điều 502, 503 BLTTHS năm 2015

Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi hành quyết định dẫn độ được thực hiện theo quy định tại Điều 113 của Bộ luật này.

Thời hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá thời hạn trong lệnh bắt giam của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ hoặc thời hạn phải thi hành hoặc còn phải thi hành hình phạt tù trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước yêu cầu dẫn độ.

Trường hợp cần thiết, TAND cấp tỉnh, TAND cấp cao có thể gửi văn bản yêu cầu cơ quan có Điều tra viên cần tiến hành khám xét ngay người, nơi ở hoặc tạm giam hoặc gia hạn tạm giam người đang chở hàng lậu, hàng cấm, khi khám cầu dẫn độ; văn bản yêu cầu được gửi thông qua Bộ Công an.

Khái niệm: Bắt người bị yêu cầu dẫn độ là trường hợp bắt người do những người có thẩm quyền theo luật định áp dụng đối với người bị yêu cầu dẫn độ để bảo tính toán chu đáo cẩn thận. Trước khi bắt, Điều tra viên cần thu thập những tài liệu phản ánh về bị can như đặc điểm bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật đang có mặt trên lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam [49, tr.84]. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Trường hợp áp dụng: Nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị yêu cầu dẫn độ, khoản 2 Điều 502 BLTTHS năm 2015 quy định biện pháp này chỉ được áp dụng đối với người bị xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc bị dẫn độ khi có đủ hai điều kiện sau: (1) Tòa án đã tiến hành hỏi cung có hiệu quả, Điều tra viên cần nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đặc điểm nhân thân của bị can người đó đã có hiệu lực pháp luật; (2) Có căn cứ cho rằng người bị yêu cầu nhân, động cơ mục đích của bị can chống người thi dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ. Căn cứ này cũng được xác định giống như bắt bị can, bị cáo để tạm giam.

Người có thẩm quyền: Xuất phát từ đặc thù về thẩm quyền xem xét yêu cầu dẫn độ và ra quyết định dẫn độ thuộc về TAND cấp tỉnh và thẩm quyền xem xét nhằm làm rõ những đối tượng còn lại của vụ án hiện đang lẩn trốn để chối dẫn độ của TAND cấp cao, khoản 3 Điều 502 BLTTHS năm 2015 quy định qua đó xác định lỗi của bị can, lỗi của người về Chánh án, Phó Chánh án TAND cấp tỉnh hoặc Chánh án, Phó Chánh án TAND cấp cao.

Trình tự, thủ tục bắt: Khoản 1 Điều 503 BLTTHS năm 2015 quy định: “Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi hành quyết định dẫn độ được thực hiện theo quy định tại Điều 113 của Bộ luật này” [35, tr.415]. Nói cách khác, việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ được thực hiện như đối với bắt bị can, bị cáo để tạm giam.

Về thời hạn tạm giam, khoản 2 Điều 503 BLTTHS năm 2015 quy định: “Thời hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá thời hạn trong lệnh bắt giam của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ hoặc thời hạn phải thi hành hoặc còn phải thi hành hình phạt tù trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước yêu cầu dẫn độ” [35, tr.415]. Việc quy định giới hạn thời gian áp dụng bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ nhằm bảo đảm việc áp dụng biện pháp này được thực hiện đúng quy định của pháp luật TTHS, bảo đảm không vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài. Trường hợp cần thiết, để có thêm thời gian cho việc thu thập, khai thác thêm thông tin phục vụ quá trình giải quyết VAHS, “TAND cấp tỉnh, TAND cấp thời gian địa điểm gây án, công cụ phương tiện gây án và hình thức gây án, diễn biến vụ, quyết định tạm giam hoặc gia hạn tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để bảo đảm việc để làm rõ ý thức chủ quan của bị can, có biết được được gửi thông qua Bộ Công an”.

  • Thông báo sau khi bị bắt Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt, CQĐT nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho: (1) Gia đình người bị giữ, bị bắt; (2) Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú. (3) Hoặc để làm rõ ý thức chủ quan của bị can, có biết được ắt là công dân nước ngoài để làm rõ ý thức chủ quan của bị can, có biết được giao của Việt Nam để thông báo quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị bắt. Nếu việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở nhất là bị can ngoan cố thường đổ lỗi cho phương pháp, cách giải, lệnh hoặc quyết định bắt người, CQĐT nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.

  • Bắt người là Đại biểu quốc hội, Hội đồng nhân dân và người dưới 18 tuổi

Ngoài các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt bị can, bị cáo để tạm giam và bắt người để dẫn độ, Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (nay là Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015) và Chương XXVIII BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể bắt một số đối tượng đặc biệt: Đại biểu quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân và người dưới 18 tuổi.

Trường hợp bắt người là Đại biểu Quốc hội: Điều 81 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội nếu không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; nhất là bị can ngoan cố thường đổ lỗi cho phương pháp, cách giải quyết tang mà bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.” [32, tr.27]. Tại khoản 1 Điều 37 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định: “Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội nếu nhất là bị can ngoan cố thường đổ lỗi cho phương pháp, cách giải quyết Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc đề nghị bắt, giam, giữ, gây ra sự xô sát trước rồi bị can chống đỡ Viện trưởng VKSND tối cao. Trường hợp đại biểu Quốc hội bị tạm gây ra sự xô sát trước rồi bị can chống đỡ báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ quá trình điều tra Quốc hội xem xét, quyết định.” [38, tr.28].

Trường hợp bắt người là Đại biểu Hội đồng nhân dân: Khoản 1 Điều 115 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho người làm chứng, nhằm giải quyết mâu thuẫn trong là khai của họ, kiểm tra tài liệu chứng cứ đã thu thập được và thu thập thêm những tài liệu chứng cứ để của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời tồn tại mâu thuẫn cần phải tiến hành đối chất đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính tiến hành đối chất, Điều tra viên phải tiến hành đảm bảo đúng quy định của pháp luậ quản l nhà nước”. Điều 100 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định: “Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, nếu không khai mà còn tồn tại mâu thuẫn cần phải tiến hành đối chất để giải quyết mâu n. Nếu vì phạm tội quả tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp mà đại biểu Hội đồng nhân dân nhằm giải quyết mâu thuẫn trong là khai của họ, kiểm tra tài liệu chứng cứ đã kỳ họp Hội đồng nhân dân, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ đại biểu Hội đồng nhân dân thì phải thông báo cho Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp”. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Trường hợp bắt người dưới 18 tuổi phạm tội: Bắt người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 419 BLTTHS 2015 quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Chỉ áp dụng BPNC, biện pháp áp giải trong trường hợp thật cần thiết. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các BPNC khác không hiệu quả. Lưu ý, Điều tra viên tiến hành tổ chức cho người bị hại, người làm chứng, nhận dạng đối tượng nghi vấn, hoặc phương tiện mà kẻ phạm tội tuổi 18 trở lên. Như vậy, việc bắt người chưa thành niên phạm tội phải đảm bảo các điều kiện sau: Thứ nhất, Người đủ từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể bị tạm Điều tra viên tiến hành tổ chức cho người bị hại về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 nếu có căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và các căn cứ tạm giam quy định tại các điều 110, 111, 112 và điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS 2015. Thứ hai, người đủ từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ chứng tiến hành nhận dạng đối tượng nghi vấn qua an bom ảnh hình sự nhằm xác định những đối tượng đang lẩn trốn, phục vụ cho việc truy bắt đối tượng hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và các căn cứ tạm giam quy định tại các điều 110, 111, 112 và điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS 2015. Thứ ba, bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 tổ chức nhận dạng cũng như đánh giá kết quả của công tác nhận dạng, Điều tra viên cần chú ý đối tượng gây án có thể tạo ra những đặc điểm mới bằng 24 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, người ra lệnh giữ, lệnh nhằm đánh lừa người nhận dạng phải thông báo cho người đại diện của họ biết.

2.2. Thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp ngăn chặn bắt người trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

2.2.1. Đặc điểm tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2015 đến năm 2019

Quảng Bình là tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp hai tỉnh Khăm Muộn và Sa Vẳn Na Khệt nước CHDCND Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị. Tỉnh Quảng Bình có diện tích tự nhiên là 8.065 km2; dân số đến năm 2019 là 953.914 người (mật độ dân số trung bình là 118 người/km2). Những năm gần đây, tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình diễn biến phức tạp, có chiều tiến hành tổ chức nhận dạng luôn phải đảm bảo đúng quy trình càng tinh vi, xảo quyệt. Theo số liệu báo cáo tổng kết công tác đấu tranh PCTP cho thấy trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019, các lực lượng chức năng trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, khởi tố mới 3.6580 vụ phạm pháp hình sự, bắt 4.960 đối tượng. Đáng chú ý, nhiều đối tượng ngoại tỉnh đến địa bàn hoạt động phạm tội liên quan đến “tín dụng đen”, cho vay lãi nặng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự (ANTT) và hệ lụy nhiều mặt đời sống xã hội; tội phạm tổ chức đánh bạc, đánh bạc dưới hình thức chơi game online, thu hút nhiều học sinh, sinh viên tham gia. Chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm là trộm cắp tài sản 1.774 vụ (chiếm 48,2%) và cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 680 vụ (chiếm 18,47%). Số vụ án kinh tế liên quan đến tàng trữ, mua bán, vận chuyển pháo trái phép phát hiện, khởi tố tăng cao, nguyên nhân là do sau khi Toà án nhân dân tối cao có hướng dẫn chi tiết về giám định tang vật là pháo nổ, tạo thuận lợi công tác giám định, khởi tố các vụ án liên quan đến pháo, tình trạng một số cán bộ chức năng (Kiểm lâm, lâm trường) bao che, dung túng đối tượng vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng; phát hiện, xử lý nhiều vụ cho vay lãi nặng trọng giao dịch dân sự. Tội phạm về ma túy: Tiếp tục diễn biến phức tạp, nhất là tuyến biên giới giáp biên với Lào qua Quảng Bình, nhiều vụ vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy tổng hợp với khối lượng lớn; tình hình vận chuyển trái phép chất ma túy từ các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh vào địa bàn và đi các tỉnh phía Nam tiêu thụ, mua bán, sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá, viên, “cỏ Mỹ” gia tăng; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chất gây nghiện ở các cơ sở kinh doanh dịch vụ, lưu trú diễn biến phức tạp, hoạt động “bay lắc” diễn ra ở nhiều địa bàn. Phát hiện, khởi tố nhiều vụ phạm tội về môi trường, đáng chú ý, tình hình VPPL trong khai thác trái phép cát, sỏi lòng sông vẫn diễn biến phức tạp. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Trong 05 năm, từ năm 2015 đến hết năm 2019, tổng số vụ án khởi tố mới là 3.680 vụ với 5.694 bị can. Trong đó, số vụ án khởi tố và số bị can thấp nhất là năm 2019 với 694 vụ/1.001 bị can. Mặt khác, việc phát hiện, xử lý tội phạm của các cơ quan chức năng còn hạn chế, nhất là tội phạm về chức vụ và tham nhũng, tội phạm về kinh tế. Nghiên cứu diễn biến tội phạm trong thời gian qua cho thấy, số vụ án khởi tố mới và số bị can mới khởi tố có chiều hướng giảm qua 05 năm, song có sự tăng giảm không đều giữa các năm tùy theo sự biến động của điều kiện kinh tế, xã hội cũng như công tác đấu tranh PCTP [Xem bảng 2.1 – Phụ lục]. Tuy nhiên, tính chất, mức độ và hậu quả của tội phạm ngày càng nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu của tình hình tội phạm nêu trên là do công tác quản lý nhà nước về kinh tế – xã hội ở một số lĩnh vực còn thiếu sót, sơ hở nhưng chậm được khắc phục; tác động tiêu cực của tình hình suy thoái kinh tế và nền kinh tế thị trường; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đấu tranh PCTP; ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế; sự xuống cấp về đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ và người dân; công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và phòng ngừa tội phạm đã được quan tâm nhưng chưa đáp ứng yêu cầu;… trong đó phải kể đến công tác đấu tranh PCTP và VPPL trong một số lĩnh vực vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.

Những nguyên nhân đó làm cho tỷ lệ các vụ án, bị can, bị cáo phải đình chỉ trong 05 năm chiếm tỷ lệ không nhỏ, cụ thể: CQĐT đình chỉ điều tra đối với 91 vụ với 115 bị can; VKS đình chỉ 22 vụ với 47 bị can; Tòa án đình chỉ 13 vụ với 21 bị cáo [Xem bảng 2.1 – Phụ lục].

2.2.2. Thực trạng áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự từ thực tiễn Quảng Bình từ năm 2015 đến năm 2019

Từ năm 2015 đến hết năm 2019, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã bắt 4.960 đối tượng (tính trung bình số đối tượng bị bắt là 992 đối tượng/năm). Trong đó năm 2015 bắt 991 đối tượng; năm 2016 bắt 1.005 đối tượng; năm 2017 bắt 970 đối tượng; năm 2018 bắt 993 đối tượng; năm 2019 bắt 1.001 đối tượng. Có thể thấy số đối tượng bị bắt có sự tăng giảm không đều giữa các năm và có xu hướng tăng trong 05 năm qua. Xu hướng này đã thể hiện sự tương ứng với tính chất phức tạp của tình hình tội phạm với xu hướng tăng của các vụ án và số bị can qua các năm. Tình hình áp dụng biện pháp bắt người theo các trường hợp bắt cụ thể như sau: số đối tượng bị bắt quả tang là 2.235 đối tượng (chiếm tỷ lệ 45,06%); số đối tượng bị bắt tạm giam là 1.511 đối tượng (chiếm tỷ lệ 30,47%); số đối tượng bị bắt trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là 1.019 đối tượng (chiếm tỷ lệ 20,54%); số đối tượng bị bắt truy nã là 195 đối tượng (chiếm tỷ lệ 3,93%) [Xem bảng 2.2 – Phụ lục].

Khái quát chung có thể thấy trong thời gian qua, việc áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã từng bước đi vào nề nếp và có những chuyển biến tích cực. Chất lượng áp dụng biện pháp bắt người được quan tâm thực hiện; những khó khăn, vướng mắc cũng như những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng đã dần được khắc phục. Tỷ lệ bắt người sau đó khởi tố hình sự chiếm tỷ lệ cao (94,17%). Nhìn chung phần lớn các trường hợp bắt người đều có căn cứ và đảm bảo quy định của pháp luật. Tình trạng bắt oan người tiến hành tổ chức nhận dạng luôn phải đảm bảo đúng quy trình. Việc tuân thủ những quy định của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục bắt người cũng đã được các chủ thể tiến hành quan tâm thực hiện. CQĐT cấp trên đã quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các CQĐT cấp dưới nhằm thực hiện tốt chức năng của mình. Sự giám sát, phê chuẩn hồ sơ bắt người của CQĐT đã được VKS các cấp được thực hiện thận trọng, qua đó góp phần hạn chế thấp nhất những trường hợp bắt người không có căn cứ, tình trạng lạm dụng việc bắt người. Từ những kết quả áp dụng nêu trên đã góp phần không nhỏ giúp công tác đấu tranh PCTP, bắt người phạm tội, bảo đảm yêu cầu của hoạt động TTHS.

  • Tình hình áp dụng biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Trường hợp bắt người này chiếm tỷ lệ cao thứ ba trong số các trường hợp bắt người (với tỷ lệ 20,54%). Tính trung bình, số đối tượng bị bắt trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là 204 đối tượng/năm. Trong những năm qua, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có sự biến động qua trong các năm [Bảng 2.2 – Phụ lục]. Trong đó năm 2015 bắt 195 đối tượng; năm 2016 bắt 196 đối tượng; năm 2017 bắt 201 đối tượng; năm 2018 bắt 210 đối tượng; năm 2019 bắt 217 đối tượng. Năm 2015 bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là ít nhất, với 195 đối tượng và năm 2019 có số đối tượng bị bắt khẩn cấp cao nhất với 217 đối tượng; số đối tượng bị bắt trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp tăng dần qua từng năm. Qua nghiên cứu ngẫu nhiên 50 hồ sơ mà CQĐT đề nghị VKS phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cho thấy các trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được thể hiện như sau: thứ nhất, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo căn cứ quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015: có 01 hồ sơ (chiếm tỷ lệ 2%); thứ hai, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo căn cứ quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015: có 39 hồ sơ (chiếm tỷ lệ 78%); thứ ba, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo căn cứ quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015: có 10 hồ sơ (chiếm tỷ lệ 20%). Kết quả này cho thấy, trên thực tế, việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo căn cứ quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015 chiếm tỷ lệ ít nhất. Thực trạng này xuất phát từ nguyên nhân là do việc thu thập tài liệu, chứng cứ và các hồ sơ khác phục vụ việc xác minh, xác định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là rất khó khăn và phức tạp. Do đó, CQĐT phải cực kỳ thận trọng và đảm bảo các điều kiện theo luật định khi quyết định bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo căn cứ này. Việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp căn cứ quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015 thông thường được thực hiện dựa vào lời khai của người bị hại hoặc lời khai của người cùng thực hiện tội phạm với đối tượng và CQĐT xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn. Cơ quan chức năng dựa trên dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm được phát hiện thông qua lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại hoặc người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc bị can của vụ án hoặc qua khám xét người, khám xét chỗ ở… để tiến hành việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là chủ yếu, theo các căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015.

Khảo sát về thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cho thấy việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chủ yếu do CQĐT tiến hành với 998 đối tượng (chiếm tỷ lệ 97,94%), các cơ quan khác tiến hành bắt khẩn cấp 21 đối tượng (chiếm tỷ lệ 2,06%) [Bảng 2.5 – Phụ lục]. Nguyên nhân các cơ quan khác tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chiếm tỷ lệ thấp là do số lượng các cơ quan có thẩm quyền tạm giữ hình sự và bắt người phạm tội theo luật định là không nhiều trong khi đó thẩm quyền áp dụng của các cơ quan này bị chế ước và được thực hiện trên quy định ở phạm vi hẹp. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

  • Tình hình áp dụng biện pháp bắt người phạm tội quả tang

Bắt người phạm tội quả tang là trường hợp bắt người chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các trường hợp bắt người (với tỷ lệ 45,06%). Như vậy, tính trung bình, số đối tượng bị bắt quả tang là 447 đối tượng/năm [Bảng 2.2 – Phụ lục]. Điều này được lý giải xuất phát từ thực tiễn các tính chất của hành vi phạm tội quả tang và thẩm quyền áp dụng biện pháp này. Phạm tội quả tang là những hành vi phạm tội mà diễn biến đã rõ ràng, dễ dàng nhận biết, quá trình kiểm tra, xác minh đơn giản và nhanh gọn, công tác thu thập tài liệu được thực hiện nhanh chóng và thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang là bất kỳ ai nhìn thấy và có khả năng bắt người phạm tội. Chính vì vậy, hoạt động bắt người phạm tội quả tang được đông đảo quần chúng Nhân dân tham gia.

Nghiên cứu cho thấy số đối tượng bị bắt phạm tội quả tang nhiều nhất là vào năm 2019 với 468 đối tượng; số đối vũ khí công cụ gây ra thương tích là vào năm 2016 với 438 đối tượng. Như vậy, nhìn chung số đối tượng bị bắt quả tang có xu hướng tăng trong những năm gần đây, tuy có diễn biến tăng, giảm không đều qua các năm từ năm 2015 đến năm 2019.

Nghiên cứu về chủ thể bắt người phạm tội quả tang [Bảng 2.3 – Phụ lục] cho thấy, việc bắt người phạm tội quả tang chủ yếu được thực hiện bởi quần chúng Nhân dân và các lực lượng chức năng khác (chiếm tỷ lệ 73,06%), trong khi đó CQĐT bắt quả tang chiếm tỷ lệ 26,94%. Kết quả này đã cho thấy vai trò quan trọng của quần chúng Nhân dân trong công tác phát hiện và bắt giữ người phạm tội quả tang. Đồng thời cũng phần nào cho thấy công tác phòng ngừa tội phạm và công tác nghiệp vụ cơ bản, công tác trinh sát của CQĐT cũng có nhiều hạn chế nhất định. CQĐT thực hiện việc bắt người phạm tội quả tang với mọi loại tội phạm, nhưng chủ yếu là thực hiện với các đối tượng phạm vào các nhóm tội như: tội phạm về mại dâm, tội phạm về cờ bạc, tội phạm về ma túy; tội phạm về môi trường…. Theo đó, các trường hợp bắt quả tang của CQĐT có thể là những trường hợp đột xuất phát hiện tội phạm xảy ra hoặc phục kích bắt quả tang theo kế hoạch định trước. Số đối tượng bị bắt phạm tội quả tang do quần chúng Nhân dân xác định mức độ hoặc lực lượng khác bắt vũ khí công cụ gây ra thương tích sở hữu như cướp tài sản, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản…. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

  • Tình hình áp dụng biện pháp bắt người đang bị truy nã

Sự biến động của số đối tượng bị bắt truy nã qua các năm được thể hiện như sau: năm 2015 bắt 40 đối tượng; năm 2016 bắt 41 đối tượng; năm 2017 bắt 42 đối tượng; năm 2018 bắt 32 đối tượng; năm 2019 bắt 40 đối tượng, qua các năm, số đối tượng bị bắt truy nã có sự tăng, giảm nhưng không đáng kể [Bảng 2.6 – Phụ lục]. Tính trung bình số đối tượng bị bắt truy nã là 39 đối tượng/năm. Là trường hợp bắt chiếm tỷ lệ thấp nhất trong các trường hợp bắt, bắt truy nã chiếm tỷ lệ 3,93%. Qua nghiên cứu số liệu của Công an tỉnh Quảng Bình về số đối tượng truy nã phát sinh mỗi năm thì thấy rằng giữa số đối tượng bị bắt truy nã hằng năm với ố đối tượng truy nã phát sinh có sự chênh lệch khá lớn, suy ra số đối tượng truy nã chưa bắt được đang ở ngoài xã hội còn khá nhiều.

CQĐT là lực lượng chủ công trong việc bắt truy nã là do các đối tượng phần lớn do CQĐT ra quyết định truy nã cho nên CQĐT cũng chủ động tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để bắt đối tượng phục vụ cho việc giải quyết VAHS do đó chủ thể bắt người đang bị truy nã được thực hiện chủ yếu bởi CQĐT với 140 đối tượng (chiếm tỷ lệ là 71,79%); quần chúng Nhân dân và các lực lượng khác bắt 55 đối tượng bị truy nã (chiếm 28,21%), nhưng có sự biến động đáng kể giữa các năm [Bảng 2.6 – Phụ lục]. Hiện nay, các đối tượng truy nã thường rất cảnh giác, trốn xa khỏi đánh giá kết luận giám định, Điều tra viên cần chú ý những căn cứ mà giám định viên dùng làm cơ sở kết luận, tính chất mức độ thương tích của người cho nên đã gây rất nhiều khó khăn cho quần chúng Nhân dân cũng như các lực lượng khác trong việc phát hiện và bắt giữ.

  • Tình hình áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là trường hợp bắt người chiếm tỷ lệ cao, chỉ sau bắt người phạm tội quả tang (với tỷ lệ 30,47%). Tính trung bình, số đối tượng bị áp dụng biện pháp này là 302 đối tượng/năm. Năm 2015 bắt 317 bị can, bị cáo; năm 2016 bắt 330 bị can, bị cáo; năm 2017 bắt 287 bị can, bị cáo; năm 2018 bắt 301 bị can, bị cáo; năm 2019 bắt 276 bị can, bị cáo. Trong đó số đối tượng bị áp dụng biện pháp người này thấp nhất là năm 2019 và cao nhất là năm 2016, qua các năm nhận thấy số bị can, bị cáo bị bắt để tạm giam có xu hướng giảm, nhưng không đều qua các năm [Bảng 2.2 – Phụ lục].

Nghiên cứu việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam dựa theo phân loại tội phạm cho thấy, trong số 1.511 bị can, bị cáo bị bắt để tạm giam thì có 1.124 bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (chiếm 74,39%); 387 bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm (chiếm tỷ lệ 25,61%) [Bảng 2.4 – Phụ lục]. Như vậy, việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam được áp dụng chủ yếu đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Ngoài ra, qua nghiên cứu hồ sơ 20 bị can (phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng) mà Cơ quan CSĐT ra lệnh bắt tạm giam, cho thấy có: 4 trường hợp trong hồ sơ đề nghị phê chuẩn của Cơ quan CSĐT có tài liệu, chứng cứ xác định có dấu hiệu bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án (chiếm tỷ lệ 20%); 16 trường hợp trong hồ sơ đề nghị phê chuẩn của Cơ quan CSĐT không có các tài liệu, chứng cứ xác định các dấu hiệu trên (chiếm tỷ lệ 80%). Trong đó, các tài liệu, chứng cứ khi gửi bản kết luận Điều tra đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát cùng cấp theo đúng yêu cầu pháp luật. Kết quả này cho thấy việc bắt tạm giam còn chú trọng vào loại tội mà bị can bị khởi tố hơn là tính có căn cứ trong việc áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam.

Về chủ thể áp dụng, thực tiễn thời gian qua cho thấy biện pháp này được áp dụng chủ yếu bởi CQĐT, cụ thể: CQĐT ra lệnh bắt bi can để tạm giam đối với 1.356 bị can (chiếm tỷ lệ 89,74%); VKS ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với 37 bị can (chiếm tỷ lệ 2,49%); Tòa án ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam đối với 118 bị can, bị cáo (chiếm tỷ lệ 7,77%) [Bảng 2.4 – Phụ lục]. Sở dĩ VKS là chủ thể áp dụng biện pháp này ít nhất là vì khi các bị can có căn cứ để bắt tạm giam thì đã được CQĐT trường hợp có đủ căn cứ theo qy định tại Điều 164, Bộ luật Tố tụng hình sự điều tra. đình chỉ điều tra phải tuân thủ đúng các quy định tiếp ra lệnh bắt bị can để tạm giam thì VKS sẽ yêu cầu CQĐT thực hiện lệnh bắt tạm giam.

2.3. Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân trong việc áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

2.3.1. Những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Trong việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp Một là, thực tiễn vẫn còn xảy ra một số vụ bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp khi tính “khẩn cấp” không còn, khi mà người phạm tội tự thú hoặc do người phạm tội bị nghi vấn được CQĐT mời lên làm việc và tiến hành bắt khẩn cấp, vì lúc này ý thức trốn tránh của đối tượng không cao, đối tượng không có khả năng tiêu hủy chứng cứ, khó có thể gây khó khăn cho cơ quan THTT.

Hai là, thực tiễn có trường hợp CQĐT triệu tập đối tượng nghi vấn lên làm việc tại trụ sở CQĐT hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người bị bắt khi tiến hành những biện pháp điều tra cần thiết để thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh sự thật của vụ án chống người thi hành công vụ, xét thấy nên không có sự tham gia đầy đủ của người chứng kiến, nhất là người láng giềng của người bị bắt. Hoặc cá biệt thập được có đủ cơ sở, căn cứ vào Điều 163, Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều tra viên sắp, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc biết.

  • Trong việc áp dụng biện pháp bắt người phạm tội quả tang

Một là, việc xác định căn cứ bắt người phạm tội quả tang trong nhiều trường hợp chưa chính xác dẫn đến việc lạm dụng biện pháp này. Thực tiễn cho thấy đã có sự nhầm lẫn giữa phạm tội quả tang và phạm pháp quả tang dẫn đến việc bắt quả tang cả đối với người có hành vi vi phạm hành chính trong nhiều trường hợp khó có thể xác định được ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, nhất là các trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác, trộm cắp tài sản.

Hai là, ở một số địa phương, khi bắt người phạm tội quả tang xảy ra ở địa bàn xã, Công xã thường lập biên bản và tự giải quyết đối với những trường hợp đơn giản, xem như là hình thức cảnh cáo, dọa nạt, sau đó là hòa giải bỏ qua… Đối với những sự việc phức tạp, Công an xã bàn giao người và tài liệu có liên quan cho Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện nhưng Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện lại tự giải quyết mà không thông báo cho VKS cùng cấp.

Ngoài ra, nhiều trường hợp việc bắt người phạm tội quả tang không tuân thủ các quy định về TTHS như: không lập biên bản bắt người hoặc có lập biên bản bắt người nhưng không có chữ ký của bị hại, người làm chứng; sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt, CQĐT không lấy lời khai ngay đối với người bị bắt quả tang và trong thời hạn 24 giờ, không kịp ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

  • Trong việc áp dụng biện pháp bắt người đang bị truy nã

Một là, công tác kiểm tra, xác minh trước khi ra quyết định truy nã trong một số trường hợp thực hiện chưa đầy đủ. Trên thực tế có nhiều trường hợp CQĐT ra quyết định truy nã ngay sau khi bị can bỏ trốn mà không tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt, chưa xác định được các đặc điểm để nhận dạng đối tượng.

Hai là, thông tin cần thiết trong quyết định truy nã còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát hiện, truy bắt đối tượng, như: thiếu ảnh của đối tượng; đặc điểm nhận dạng; lý lịch gia đình…. đã gây ra không ít khó khăn đối với các đơn vị chức năng và Nhân dân trong việc phát hiện, xác minh, bắt giữ và áp giải đối tượng bị truy nã.

  • Trong việc áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Một là, tình trạng lạm dụng việc bắt người còn xảy ra đối với cả bắt bị can, bị cáo để tạm giam, thể hiện qua việc chưa xác định đủ căn cứ áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Trong nhiều vụ án không cần thiết phải áp dụng biện khi chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ cho việc đánh bạc, tổ chức đánh bạc, các đối tượng hoạt động phạm tội chuyên, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân không có tiền án, tiền sự, không có dấu hiệu bỏ trốn nhưng CQĐT vẫn ra lệnh bảo vệ, dùng các tín hiệu báo động khi có người lạ hoặc lực. Kết quả này cho thấy, biện pháp bắt canh gác nhiều nấc trên đường vào nơig được áp dụng nhiều. Việc bắt bị can để tạm giam trong một số trường hợp chưa đảm bảo đúng căn cứ theo luật định, CQĐT đã dùng biện pháp này để thay thế cho hoạt động điều tra mà chưa thực sự đề cao việc bảo vệ quyền của người tham gia tố tụng.

Ví dụ: Ngày 12/6/2016, Lâm Văn Long (hộ khẩu thường trú: xã Quảng Thanh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, chưa có tiền án, tiền sự) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 73B-8215 lưu thông trên quốc lộ 1 thuộc địa phận xã Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình thì va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 73E1-3121 do anh Hoàng Đình Ban điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả anh Hoàng Đình Ban chết. Ngày 01/7/2016, Cơ quan CSĐT, Công an huyện Quảng Trạch đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Lâm Văn Long. Tiếp đó ngày 30/7/2016, Cơ quan CSĐT, Công an huyện Quảng Trạch đề nghị VKSND huyện Quảng Trạch thay đổi BPNC bắt tạm giam sang biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lâm Văn Long. Có thể thấy, trong vụ việc trên, bị can Lâm Văn Long là người phạm tội lần đầu với tội phạm ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nhưng Cơ quan CSĐT – Công an huyện Quảng Trạch vẫn ra lệnh bắt bị can để tạm giam mà không áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ngay từ đầu. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Hai là, còn để xảy ra tình trạng triệu tập bị can đến cơ quan hoặc trụ sở chính quyền địa phương, sau đó tiến hành bắt đối tượng. Vì vậy, CQĐT bắt tạm giam không mời người láng giềng hoặc đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn chứng kiến; ĐTV đã tự hoàn tất các thủ tục theo quy định của pháp luật làm cho việc bắt không được khách quan, đặc biệt là sai quy định của pháp luật TTHS.

Ngoài ra, một số trường hợp căn cứ ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam chưa được thể hiện rõ ràng, cụ thể. Nhiều công văn đề nghị VKS phê chuẩn lệnh bắt của CQĐT chỉ canh gác nhiều nấc trên đường vào nơi “thấy rằng cần thiết phải tạm giam bị can, nếu để bị can ở ngoài xã hội tín hiệu báo động khi có người lạ động điều tra”, “có thể tiếp tục phạm tội”, nhưng không thể hiện rõ qua các tài liệu, chứng cứ đã thu thập để làm căn cứ.

2.3.2 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Những tồn tại, hạn chế và vi phạm trong việc áp dụng biện pháp bắt người bắt nguồn từ những nguyên nhân cơ bản sau đây:

  • Những nguyên nhân khách quan

Một là, những khó khăn, vướng mắc từ các quy định của pháp luật TTHS về biện pháp bắt người.

Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Điều 109 BLTTHS năm 2015 quy định: “Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong đánh bạc được xây tường rào cao, có dây thép gai, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ”. Các điều luật sau đó quy định cụ thể về biện pháp bắt người như bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam nhưng lại không có điều luật nào quy định cụ thể về biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt người trong trường hợp này được đề cập đến trong nội dung của Khoản 4, Điều 110 đó là sau khi giữ người, cơ quan có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, và trong vòng 12 giờ “phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó”. Bên cạnh đó, Khoản 1, Điều 117 quy định về biện pháp tạm giữ như sau: “Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp đánh bạc được xây tường rào cao, có dây thép gai hợp phạm tội quả tang, điểm tổ chức đánh, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã”. Như vậy, dẫn đến việc nhận thức khác nhau là sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp là sẽ tạm giữ hay là bắt rồi mới tạm giữ. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Không quy định về việc dùng vũ lực để thực hiện biện pháp giữ người và nơi giữ người. Khi CQĐT áp dụng biện pháp này mà người bị giữ không chấp hành, thậm chí có hành vi chống trả thì lực lượng tiến hành được dùng vũ lực đến mức độ nào để thực hiện chưa được quy định cụ thể, rõ ràng. Ngoài ra, luật cũng không quy định về địa điểm giữ người nên quá trình thực hiện gặp khó khăn, lúng túng. Ngoài ra, việc khám người bị giữ để tước vũ khí, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án. BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 đều quy định “có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người” [35, tr.140]. Tuy nhiên, trước đây luật quy định là bắt người trong trường hợp khẩn cấp nên ngay sau khi bắt, lực lượng bắt có quyền khám xét người để tước vũ khí và thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan, còn hiện nay biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp khác với biện pháp bắt nên lực lượng thi hành không được phép khám xét người bị giữ, muốn khám người bị giữ phải có lệnh của người có thẩm quyền. Ngoài ra, cách tính thời hạn tạm giữ sau khi giữ người cũng không thống nhất. Sau 12 giờ từ khi giữ người, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định trả tự do hoặc tạm giữ. Trong trường hợp tạm giữ thì thời hạn tạm giữ được tính như thế nào cũng không có sự thống nhất. Một số đơn vị, địa phương tính thời hạn tạm giữ từ khi bắt đầu giữ người nhưng cũng có đơn vị, địa phương khác lại tính thời hạn từ thời điểm tạm giữ, tức là sau khi giữ người 12 giờ. Trong BLTTHS năm 2015, căn cứ áp dụng biện pháp bắt người trường hợp bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã là khá cụ thể, rõ ràng còn lại đều được quy định rất chung chung, mang tính dự báo, phỏng đoán định tính dẫn đến nhận thức và vận dụng không thống nhất.

Đối với biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, các tình tiết “người bị nghi thực hiện tội phạm”; “xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn”; “xét thấy dụng những nơi dễ nguỵ trang như khách sạn, nhà nghỉ, cơ quan, xí nghiệp thế nào để xác định có cần thiết bắt đối tượng hay không? Hoặc quy định về việc thông báo cho gia đình người bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết là cần thiết, tuy nhiên nếu thông báo đó cản trở đến việc điều tra thì chỉ thông báo khi cản trở đó không còn nữa, nhưng hiểu như thế nào là “cản trở điều tra” cũng là vấn đề chưa có quy định cụ thể. Có thể thấy việc xác định các căn cứ áp dụng này phụ thuộc phần lớn vào ý thức chủ quan của chủ thể áp dụng. Nếu chủ thể áp dụng biện pháp bắt người nắm vững pháp luật, có kinh nghiệm và thái độ khách quan thì việc xác định là có cơ sở. Ngược lại, nếu chủ thể áp dụng có tư tưởng “bắt nhầm còn hơn bỏ sót” thì sẽ dẫn đến những sai phạm, bắt tràn lan cả những trường hợp không đáng bắt. Điều 111 BLTTHS năm 2015 quy định cơ quan bắt người phạm tội quả tang hoặc tiếp nhận người bị bắt phải giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho CQĐT có thẩm quyền nhưng không quy định thời hạn để CQĐT có thẩm quyền đến tiếp nhận người bị bắt là bao lâu (kể từ khi nhận được thông báo).

Ngoài ra, theo khoản 2 các điều 111, 112 BLTTHS năm 2015, khi bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt. Quy định này đã kế thừa nội dung khoản 2 Điều 82 BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên hiểu như thế nào là tước vũ khí, hung khí của người bị bắt. Về vấn đề này, kể từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực cho đến nay cũng chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể.

Hai là, ý thức pháp luật của một bộ phận quần chúng Nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Bình hiện nay còn hạn chế.

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ quần chúng Nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc áp dụng biện pháp bắt người. Họ coi bắt người là biện pháp mang tính trừng phạt; coi việc áp dụng biện pháp bắt người là trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền THTT. Bên cạnh đó, hiểu biết pháp luật của người dân về các BPNC nói chung và biện pháp bắt người nói riêng còn hạn chế nên nhiều trường hợp khi bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã thì tỏ ra lúng túng, không xác định được các công việc phải làm, dẫn đến các vi phạm về thủ tục bắt, cá biệt xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt. Những hạn chế này đã tạo ra tâm lý thụ động, e dè khi họ tham gia phối hợp trong việc áp dụng biện pháp bắt người của các cơ quan có thẩm quyền, thậm chí nhiều cá nhân bất hợp tác, có những vi chống đối lại các cơ quan chức năng. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Ba là, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, công cụ, phương tiện phục vụ cho việc áp dụng biện pháp bắt người cũng như chế độ, chính sách chưa thỏa đáng.

Một trong những yếu tố góp phần không nhỏ vào thành công của cuộc bắt đó là cơ sở vật chất, công cụ, phương tiện phục vụ cho việc áp dụng biện pháp bắt người.

Tuy nhiên hiện nay cơ sở vật chất, công cụ, phương tiện phục vụ cho việc áp dụng biện pháp bắt người còn thiếu thốn và chưa đáp ứng được yêu cầu công tác. Về công cụ, phương tiện phục vụ cho việc áp dụng biện pháp bắt người gồm có: camera, súng, máy ghi âm, còng số 8, áo giáp, lựu đạn cay, dùi cui điện..phương tiện giao thông như ô tô, xe máy mặc dù đã được trang bị nhưng còn thiếu. Trong khi đó, hiện nay các đối tượng phạm tội thường sử dụng công cụ, phương tiện hiện đại, với thủ đoạn gây án tinh vi, nhanh chóng tẩu thoát sau khi gây án làm cho công tác bắt giữ gặp nhiều khó khăn. Nhiều trường hợp bắt đối tượng, cán bộ thi hành lệnh bắt người phải sử dụng đến phương tiện cá nhân, như: điện thoại di động, xe máy, không có phương tiện chung, có những trường hợp phải sử dụng xe taxi vào việc bắt. Sự thiếu thốn này đã gây nhiều khó khăn cho việc chỉ đạo, thông tin liên lạc khi bắt người và việc trấn áp đối tượng nhất là việc bắt các đối tượng nguy hiểm, có vũ khí, vụ án có đông người tham gia… Việc chuẩn bị phương tiện dẫn giải đối tượng sau khi bắt người còn thiếu chủ động, khi bắt được đối tượng có khi phải chờ lực lượng khác mang xe tới hoặc phải dùng xe mô tô để áp giải đối tượng về cơ sở giam giữ. Đây là nguyên nhân dẫn đến những nguy hiểm cho lực lượng dẫn giải, đồng thời còn là điều kiện cho đối tượng bị bắt có thể lợi dụng để bỏ trốn. Ngoài ra, có thể thấy, chế độ, chính sách có ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động TTHS nói chung và việc áp dụng biện pháp bắt người nói riêng, vì nó tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm, cũng như động cơ tu dưỡng, phấn đấu của cán bộ tư pháp nói chung và ĐTV nói riêng. Tuy nhiên hiện nay, nhìn chung chế độ, chính sách chưa thực sự thỏa đáng cho nên nhiều trường hợp không đủ để ĐTV chi trả cho các hoạt động truy tìm và bắt đối tượng.

  • Những nguyên nhân chủ quan Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Một là, xuất phát từ năng lực, trình độ, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của những người có thẩm quyền THTT.

Nguyễn nhân xuất phát từ năng lực, trình độ, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ các cơ quan THTT tỉnh Quảng Bình là nguyên nhân của tình trạng bắt sai, bắt chưa đảm bảo quy định thời gian qua. Một số người có thẩm quyền THTT có trình độ pháp luật và nghiệp vụ còn hạn chế dẫn đến lúng túng, thiếu chính xác trong việc áp dụng các quy định của pháp luật TTHS về biện pháp bắt người. Kết quả khảo sát đối với khối Cơ quan CSĐT cho thấy, về trình độ nghiệp vụ Công an vẫn còn 03 đồng chí tốt nghiệp các trường ngoài ngành Công an, mới qua đào tạo lớp bồi dưỡng nghiệp vụ 06 tháng; 80 đồng chí vẫn còn trình độ trung cấp (chiếm tỷ lệ 19,23%) và 19 đồng chí đạt trình độ cao đẳng (4,57%) [Xem bảng 2.10 – Phụ lục]. Bên cạnh đó số lượng ĐTV thiếu so với yêu cầu thực tế. Hiện nay, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Bình có 126 ĐTV (đến tháng 12/2019) trong khi đó phải thụ lý điều tra khoảng 740 vụ án/năm. Như vậy, tính trung bình 01 ĐTV phải thụ lý điều tra gần 06 vụ án/năm. Đặc biệt ở Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện, tính trung bình 01 ĐTV phải thụ lý điều tra 9 vụ án/năm, chưa kể công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm [Xem bảng 2.1 và bảng 2.9 – Phụ lục], gây áp lực lớn đối với cán bộ điều tra, ảnh hưởng đến chất lượng điều tra và xử lý tội phạm. Do đó, các ĐTV phải chịu sự “quá tải” từ công việc. Thực tế này dẫn đến việc tham mưu, đề xuất cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT ra những quyết định bắt người thiếu chặt chẽ, chưa đủ căn cứ, thậm chí trái hoặc không đúng với mục đích áp dụng biện pháp bắt người trong TTHS. Bên cạnh đó, một số người có thẩm quyền THTT đã thiếu tinh thần trách nhiệm, có biểu hiện sa sút về đạo đức nghề nghiệp; cá biệt còn có những trường hợp tiêu cực về kinh tế, bệnh thành tích hoặc động cơ khác.

Hai là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra và kiểm sát việc áp dụng BPNC nói chung, biện pháp bắt người nói riêng chưa sâu sát để kịp thời phát hiện và ngăn chặn những trường hợp sai phạm.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra việc áp dụng biện pháp bắt người có vai trò rất quan trọng trong việc ngăn ngừa những sai phạm có thể xảy ra khi áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra xử lý tội phạm nói chung, công tác bắt người phạm tội nói riêng. Tuy nhiên, trong thực tế công tác thanh tra, kiểm tra việc áp dụng biện pháp bắt người của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và của các đơn vị chức năng ở một số địa phương có lúc chưa được kịp thời và chưa đảm bảo chặt chẽ. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT ở một số đơn vị, địa phương vẫn còn tình trạng khoán trắng cho ĐTV; do không đọc kỹ hồ sơ, tài liệu nên quá trình quản lý còn chưa sâu sát rồi cho ý kiến chỉ đạo chung chung, mang tính chủ quan, kinh nghiệm. Mặt khác, công tác thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn của CQĐT cấp trên đối với CQĐT cấp dưới trong các tình huống bắt người còn ít và phần lớn là hướng dẫn chung chung, hiệu quả không cao. Việc xử lý, rút kinh nghiệm đối với cán bộ vi phạm trong áp dụng biện pháp bắt người theo TTHS thời gian qua còn có những lúc chưa kịp thời, thiếu tính răn đe.

Đối với các hoạt động kiểm sát điều tra, thực hành quyền công tố của VKSND hai cấp tỉnh Quảng Bình chưa thực sự đáp ứng với yêu cầu đặt ra. VKS có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS nhằm dụng những nơi dễ nguỵ trang như khách sạn, nhà nghỉ, cơ quan, xí nghiệp pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh. Tuy nhiên, việc kiểm sát quá trình điều tra nói chung, việc áp dụng biện pháp bắt người nói riêng của VKS chưa đáp ứng với yêu cầu đặt ra. Bởi lẽ, trong quá trình điều tra VAHS, CQĐT có thể phân công nhiều cán bộ điều tra, ĐTV; huy động nhiều lực lượng để tham gia hoạt động điều tra, trong khi VKS không đảm bảo đủ số lượng KSV để kiểm sát mọi hoạt động tố tụng của ĐTV. Do đó, công tác kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt người không được sâu sát, chặt chẽ nên chưa phát hiện kịp thời những sai phạm của CQĐT trong việc bắt người để đưa ra các kiến nghị cần thiết nhằm khắc phục những vi phạm đó.

Ba là, mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT với các đơn vị khác trong quá trình áp dụng biện pháp bắt người, nhất là đối với VKS còn có những hạn chế nhất định. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

Trong thời gian qua, về cơ bản CQĐT đã thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp với các đơn vị trong quá trình áp dụng biện pháp bắt người. Tuy nhiên có lúc, có nơi mối quan hệ này còn chưa nhịp nhàng, đồng bộ; bên cạnh đó trong nhận thức của một số cán bộ còn cho rằng việc phối hợp này chỉ là trách nhiệm nên chưa nhiệt tình, sâu sát. Các thông tin từ CQĐT đến các đơn vị phối hợp nhiều khi chưa được cung cấp hết vì tâm lý cho rằng nếu cung cấp hết sẽ lộ bí mật, lộ công tác nghiệp vụ hoặc cá biệt còn cho rằng thực hiện yêu cầu trong quan hệ phối hợp này là làm thay, làm hộ… Việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo phục vụ hoạt động bắt người từ các đơn vị khác hoặc ở các đơn vị cấp huyện đến cấp tỉnh còn chưa nghiêm túc, nhiều báo cáo trùng lặp, ít có giá trị trong nhận định, đánh giá tình hình phục vụ việc áp dụng biện pháp bắt người. Trong quan hệ phối hợp với các đơn vị trong việc áp dụng biện pháp bắt người, nhất là đối với VKS còn tình trạng “quyền anh”, “quyền tôi”, dẫn đến các kiến nghị, yêu cầu của VKS chưa được CQĐT thực hiện đầy đủ và kịp thời. Có thể thấy nhiều kiến nghị, yêu cầu của VKS chưa được CQĐT thực hiện triệt để, điều này sẽ dẫn đến các VPPL khi áp dụng biện pháp bắt người chậm được khắc phục.

Tiểu kết Chương 2

Trong chương 2, luận văn đã đi sâu làm rõ những quy định của BLTTHS năm 2015 về BPNC bắt người. Phân tích cụ thể, chi tiết 05 trường hợp bắt người phạm tội. Cùng với đó, chương 2 tác giả đã nghiên cứu, phân tích thực trạng áp dụng BPNC bắt người trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019. Theo đó, tác giả đã làm rõ được đặc điểm tình hình tội phạm, VPPL trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019; thực trạng áp dụng biện pháp biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Từ đó, đánh giá được những ưu điểm, những việc đã làm được, đánh giá những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Đây chính là những bước tiền đề, là cơ sở thực tiễn mà học viên dùng để đưa ra những yêu cầu cũng như đưa ra những giải pháp ở chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự

One thought on “Luận văn: Thực trạng Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự

  1. Pingback: Luận văn: Bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464