Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện
2.1.1 Khái quát chung về thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí trên toàn thế giới
Hiện nay, đa số người già trên thế giới đang sống ở các nước đang phát triển, nơi mà việc hưởng lương hưu là một đặc quyền của người lao động trong nền kinh tế chính thức ở khu vực công và tư nhân. Trên toàn cầu, phần lớn những người lớn tuổi không được hưởng lợi từ việc cung cấp thu nhập tối thiểu, để tồn tại, họ vẫn phải làm việc cho đến khi nào họ vẫn còn khả năng về thể chất, và họ phải dựa trên quan hệ họ hàng hoặc các tổ chức từ thiện để có nguồn thu nhập mà những nơi này thường không đủ cung cấp thu nhập, thậm chí là thu nhập tối thiểu. Tình trạng này hoàn toàn trái ngược với các nội dung được thể hiện trong các văn bản pháp luật quốc tế về nhân quyền và tiêu chuẩn lao động quốc tế, theo đó tất cả mọi người đều có quyền được hưởng ít nhất là an sinh thu nhập tối thiểu trong tuổi già.
Theo thống kê trong khoảng thời gian gần đây, trên toàn thế giới, có khoảng 42,2% dân số trong độ tuổi lao động có khả năng được bao phủ bởi pháp luật trong việc cung cấp bảo hiểm hưu trí tuổi già thông qua chương trình đóng góp hoặc không đóng góp hiện có (bao gồm cả bảo hiểm tự nguyện). Số dân số này dự kiến có thể được nhận lương hưu khi đến tuổi quy định nếu các quy định của pháp luật được thực hiện và thi hành đúng cách. Tỷ lệ bảo hiểm hưu trí cho phụ nữ so với nam giới là thấp hơn: chỉ có một phần ba số phụ nữ trong độ tuổi lao động là đối tượng tham gia các hình thức bảo hiểm được pháp luật quy định. Trên quy mô toàn cầu, chỉ có hơn một nửa số người già trên tuổi hưu theo luật định (51,5%) nhận được lương hưu tuổi già bằng lợi ích tiền mặt định kỳ. Mặc dù bảo hiểm hưu trí ở nhiều nước đã có sự mở rộng đáng kể nhưng bất bình đẳng vẫn tồn tại. Tại tiểu vùng châu Phi Sahara, ít hơn một trong năm người (16,9%) được nhận lương hưu ở mức độ nhất định khi về già. Tại Trung Đông, 29,5% của số người cao tuổi được nhận lương hưu; con số này là 36,7% ở Bắc Phi, 47,0% ở châu Á và Thái Bình Dương, 56,1% ở châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, chỉ có ở Bắc Mỹ và châu Âu thì tỷ lệ này mới đạt hơn 90%.
Có nhiều cách để hướng tới bảo hiểm hưu trí phổ quát. Hầu hết các nước đang phát triển thường kết hợp hệ thống lương hưu đóng góp với lương hưu xã hội tối thiểu cho những người già không có lương hưu đóng góp (ví dụ như Lesotho, Thái Lan), các nước khác cung cấp tiền trợ cấp xã hội cho tất cả (ví dụ như Botswana, Timor-Leste). Một số quốc gia chọn cách thực hiện dần dần và tiến bộ (ví dụ như Brazil, Nam Phi) và những nước khác nhanh chóng phổ cập lương hưu tức thời (ví dụ như Bolivia, Trung Quốc, Kiribati). Có những con đường khác nhau và không đồng nhất trong việc thiết kế và thực hiện đề án phổ cập lương hưu, các quốc gia đã thiết lập rộng rãi các tùy chọn để đạt được bảo hiểm xã hội phổ quát.
Trong những hình thức nêu trên thì việc thực hiện chế độ hưu trí bằng loại hình BHXH tự nguyện là một cách thức góp phần nâng cao tỷ lệ người già được hưởng lương hưu, cho thấy chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện vẫn có vai trò nhất định, cần được pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia quan tâm xây dựng và hoàn thiện.
2.1.2 Quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Quyền ASXH của người già được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế như: Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217 (III) ngày 10/12/1948; Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966. Nội dung quyền này được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cụ thể hóa thành các tiêu chuẩn được quy định tại các Công ước và Khuyến nghị gồm: Công ước số 102 năm 1952 về Quy phạm tối thiểu về ASXH; Công ước số 128 năm 1967 về Trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền tuất; Khuyến nghị số 131 năm 1967 về Trợ cấp cho người khuyết tật, người già và người sống sót; Khuyến nghị số 202 năm 2012 về Sàn ASXH. Các văn bản này đã cung cấp sự hướng dẫn cho các quốc gia thực hiện trợ cấp tuổi già từ cấp độ cơ bản cho đến cấp độ đầy đủ, toàn diện. Việc thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện cũng tuân theo các nguyên tắc, các tiêu chuẩn tối thiểu được quy định tại các văn bản này.
Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 đã quy định quyền được hưởng ASXH của mọi người, trong đó có người già như sau: “Với tư cách là một thành viên của xã hội, mọi người đều có quyền được hưởng ASXH” (Điều 22). Quyền này biểu hiện thành các nội dung cụ thể như sau: “quyền hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được hưởng bảo hiểm trong trường hợp già nua…” (Điều 25). Cho đến nay, các nội dung được quy định tại Điều 25 vừa nêu vẫn là cơ sở quan trọng để xây dựng các loại trợ cấp trong chế độ hưu trí dành cho người già, đặc biệt là việc được hưởng một mức sống thích đáng và được chăm sóc y tế. Những nội dung này đều được pháp luật các quốc gia trên thế giới ghi nhận, quy định cho chế độ hưu trí trong BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng. Tiếp sau đó, Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 cũng ghi nhận quyền được hưởng ASXH, BHXH của mọi người nói chung, người già nói riêng: “Các quốc gia thành viên công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng ASXH, kể cả BHXH” (Điều 9).
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với tư cách là tổ chức quy định các tiêu chuẩn lao động quốc tế ghi nhận trong Hiến pháp năm 1919 của mình trách nhiệm thực hiện các quyền ASXH, trong đó có quyền của người già như sau: “bảo vệ người lao động chống lại bệnh tật, dịch bệnh và chấn thương phát sinh từ việc làm của mình, bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên và phụ nữ, cung cấp cho tuổi già và thương tật”. Từ đó, ILO đã cụ thể hóa quyền ASXH của người già thành các quy định tại các Công ước và Khuyến nghị như đã nêu. Trong đó, Công ước số 102 năm 1952 quy định ở mức độ tối thiểu việc thiết lập các tiêu chuẩn cho trợ cấp tuổi già; Công ước số 128 năm 1967 và Khuyến nghị số 131 năm 1967 quy định ở mức độ cao hơn; còn Khuyến nghị số 202 năm 2012 quy định mức độ bảo trợ cơ bản, phổ quát đối với toàn thể người già trong xã hội. Các Công ước khi được các quốc gia phê chuẩn sẽ tạo ra nghĩa vụ nghĩa vụ ràng buộc về mặt pháp lý từ việc phê chuẩn của quốc gia. Các Khuyến nghị thì không đặt ra cho việc phê chuẩn mà chỉ cung cấp hướng dẫn hoặc kỹ thuật và thường xuyên bổ sung cho Công ước tương ứng. Do vậy, việc phân tích quy định quốc tế liên quan đến chế độ hưu trí cũng phân tích cả các nội dung của các Khuyến nghị của ILO, để thấy được nội dung hướng dẫn, bổ sung của ILO cho các Công ước có liên quan.
Các văn bản trên của ILO đã xây dựng một khung tham chiếu quốc tế về phạm vi và mức độ lợi ích ASXH một cách cần thiết và phù hợp để bảo đảm duy trì an sinh thu nhập cũng như tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người già. Việc mở rộng vùng phủ sóng đến tất cả người già trong xã hội là mục tiêu cơ bản của các tiêu chuẩn này. Các quy định liên quan đến chế độ hưu trí có thể phân tích ở năm khía cạnh sau: trường hợp bảo vệ; người được bảo vệ; trợ cấp được cung cấp; điều kiện hưởng trợ cấp; thời hạn hưởng trợ cấp. Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
- Thứ nhất, trường hợp bảo vệ:
Trường hợp được bảo vệ trong trợ cấp tuổi già nói chung là sự sống của con người lâu hơn một độ tuổi được quy định. Các Công ước, Khuyến nghị của ILO có sự quy định khác nhau về độ tuổi này.
Công ước số 102 năm 1952 của ILO định nghĩa trường hợp được bảo vệ là tình trạng sống lâu hơn một độ tuổi quy định, cụ thể là 65 tuổi hoặc cao hơn tùy theo năng lực làm việc của người già trong cả nước (khoản 1, 2 Điều 26). Công ước số 128 năm 1967 của ILO quy định tương tự như Công ước số 102 năm 1952 nhưng bổ sung thêm căn cứ xác định độ tuổi cao hơn là theo các chỉ tiêu về nhân khẩu, kinh tế và xã hội thích hợp được số liệu thống kê chứng minh (khoản 1, 2 Điều 15), đồng thời quy định độ tuổi thấp hơn tuổi 65 cho người làm công việc được pháp luật quốc gia coi là nặng nhọc hoặc độc hại (khoản 3 Điều 15). Khuyến nghị số 131 năm 1967 của ILO quy định trường hợp bảo vệ và độ tuổi tương tự Công ước số 102 năm 1952 nhưng chỉ ra rằng: tuổi quy định nên được hạ thấp dựa trên căn cứ xã hội, cụ thể: “Nếu phù hợp, độ tuổi được hưởng lương hưu nên thấp hơn, theo các điều kiện quy định, đặc biệt về các nhóm người khác nhau mà biện pháp này được kiểm chứng bằng các căn cứ xã hội” (khoản 7 Phần III). Còn Khuyến nghị số 202 năm 2012 của ILO không quy định độ tuổi để hưởng trợ cấp tuổi già nhưng cho phép mỗi quốc gia tự xác định trường hợp bảo vệ như sau: An sinh thu nhập cơ bản, tối thiểu theo mức xác định ở mỗi quốc gia dành cho người già (điểm d khoản 5 Phần II).
Như vậy, các văn bản nêu trên đều thống nhất về độ tuổi 65 để bắt đầu hưởng trợ cấp hưu trí nhưng các văn bản được ban hành sau này có xu hướng bổ sung thêm các trường hợp mà độ tuổi được nâng lên hay hạ xuống để phù hợp hơn với cơ sở kinh tế – xã hội và để bảo đảm ASXH tốt hơn cho người già.
- Thứ hai, người được bảo vệ: Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Nhóm người và tỷ lệ người được hưởng chế độ hưu trí theo các văn bản của ILO được mở rộng dần dần nhằm hướng tới một sàn ASXH cho tất cả. Ban đầu, Công ước số 102 năm 1952 của ILO quy định trợ cấp hưu trí phải được triển khai cho ít nhất 50% của toàn bộ những người làm công ăn lương; hoặc nhóm dân số hoạt động kinh tế được quy định (tạo thành không ít hơn 20% của tất cả những người thường trú); hoặc tất cả những người thường trú với phương tiện sinh sống trong trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định về mức trợ cấp định kỳ tại Điều 6 (Điều 27). Công ước số 128 năm 1967 của ILO nâng tỷ lệ này lên thành: Tất cả các nhân viên, kể cả người học nghề; hoặc nhóm dân số hoạt động kinh tế (tạo thành không ít nhất 75% của toàn bộ dân số hoạt động kinh tế); hoặc tất cả những người thường trú hay tất cả những người thường trú với phương tiện dưới ngưỡng quy định (khoản 1 Điều 16). Khuyến nghị số 131 năm 1967 của ILO bổ sung quy định về việc bảo hiểm cần được mở rộng cho người già theo từng giai đoạn nếu cần, và theo các điều kiện phù hợp đối với những người mà việc làm của họ có tính chất thất thường hoặc tất cả những người hoạt động kinh tế (khoản 2 Phần 2). Trong khi đó, Khuyến nghị số 202 năm 2012 của ILO mở rộng phạm vi người được bảo vệ đến mức lớn nhất: Ít nhất đối với toàn bộ công dân trong một tuổi quy định của quốc gia (khoản 6 Phần II).
- Thứ ba, trợ cấp được cung cấp:
Các quy định về lợi ích hưu trí được đặt ra nhằm bảo đảm người thụ hưởng nhận được khoản trợ cấp định kỳ có tỷ lệ tương ứng với một tiêu chuẩn sống phù hợp trong thời gian thụ hưởng cho đến khi xảy ra cái chết của người thụ hưởng. Công ước số 102 năm 1952 của ILO quy định trợ cấp được thanh toán định kỳ với tỷ lệ ít nhất 40% tiền lương tham chiếu (khoản 1 Điều 65), tỷ lệ này được điều chỉnh sau những thay đổi đáng kể trong mức độ chung của thu nhập và/ hoặc chi phí sinh hoạt (khoản 10 Điều 65). Công ước số 128 năm 1967 của ILO đã nâng tỷ lệ thanh toán định kỳ lên ít nhất 45% tiền lương tham chiếu (khoản 1 Điều 26) và cũng cho phép điều chỉnh sau những thay đổi đáng kể trong mức độ chung của thu nhập và/ hoặc chi phí sinh hoạt (khoản 9 Điều 26). Khuyến nghị số 131 năm 1967 của ILO lại nâng tỷ lệ này lên ít nhất 55% tiền lương tham chiếu (khoản 22 Phần IV). Trong khi đó, với mục đích thiết lập một sàn ASXH với những cam kết an sinh cơ bản, Khuyến nghị số 202 năm 2012 của ILO lại không quy định một tỷ lệ xác định mà chỉ đưa ra các loại trợ cấp được cung cấp là: an sinh thu nhập cơ bản, tối thiểu và dịch vụ y tế thiết yếu (khoản 4 Phần 5, điểm a, d khoản 5 Phần II), các loại trợ cấp này cần thường xuyên được xem xét lại thông qua một cơ chế minh bạch theo quy định của pháp luật và chính sách quốc gia khi phù hợp (điểm c khoản 8 Phần II).
Việc tỷ lệ trợ cấp hưu trí được quy định theo xu hướng tăng lên cho thấy sự tăng lên về tiêu chuẩn lợi ích nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người hưởng lương hưu. Còn việc điều chỉnh trợ cấp hưu trí khi có sự thay đổi đáng kể về thu nhập chung và chi phí sinh hoạt là để duy trì giá trị của trợ cấp hưu trí, bảo đảm cho người hưởng lương hưu có cuộc sống ổn định, lương hưu không bị mất ý nghĩa và giá trị thực sự.
- Thứ tư, điều kiện hưởng trợ cấp: Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Người được bảo vệ muốn nhận được trợ cấp tuổi già phải đáp ứng hai điều kiện cơ bản: thứ nhất là điều kiện về độ tuổi như đã nêu trong phần trường hợp bảo vệ nêu trên; thứ hai là đã hoàn thành giai đoạn vòng loại về thời gian đóng góp hoặc cư trú. Giữa các Công ước, Khuyến nghị có sự quy định khác nhau về điều kiện của giai đoạn vòng loại. Công ước số 102 năm 1952 của ILO quy định: Người được bảo vệ mà trước khi trường hợp bảo vệ xảy ra và theo những quy tắc được quy định, đã có 30 năm đóng góp hay làm việc (đối với các đề án đóng góp) hoặc 20 năm cư trú (đối với đề án không đóng góp) (khoản 1 Điều 29), đồng thời, người được bảo vệ được hưởng một trợ cấp giảm bớt sau 15 năm đóng góp hoặc làm việc (khoản 2 Điều 29).
Công ước số 128 năm 1967 của ILO tại khoản 1, 2 Điều 18 cũng quy định giai đoạn vòng loại tương tự nội dung Công ước số 102 năm 1952 vừa nêu. Còn Khuyến nghị số 131 năm 1967 thì quy định giai đoạn vòng loại với tiêu chuẩn thấp hơn, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người già, cụ thể là: 20 năm đóng góp hay làm việc (đối với các đề án đóng góp) hoặc 15 năm cư trú (đối với đề án không đóng góp) (khoản 16 Phần III). Khuyến nghị số 202 năm 2012 của ILO không quy định cụ thể về giai đoạn vòng loại mà cho phép các quốc gia xác định trong các quy định pháp luật (khoản 7 Phần II), nhằm mục đích hướng tới hưu trí phổ quát.
- Thứ năm, thời hạn hưởng trợ cấp:
Các Công ước và Khuyến nghị được phân tích đều ghi nhận trợ cấp tuổi già được cung cấp từ độ tuổi quy định đến khi xảy ra cái chết của người thụ hưởng (Điều 30 Công ước số 102 năm 1952 của ILO, Điều 19 Công ước số 128 năm 1967 của ILO). Như vậy, trợ cấp tuổi già được cung cấp định kỳ, kéo dài trong suốt phần đời còn lại kể từ thời điểm người được bảo vệ đủ điều kiện hưởng lương hưu.
Tóm lại, việc phân tích các quy định liên quan đến chế độ hưu trí nói chung như nêu trên cho thấy các quy định này cũng điều chỉnh đến việc thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện, bởi vì đây cũng là một trong những cách thức thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH, thuộc về ASXH. Tuy rằng, việc phân tích các quy định pháp luật quốc tế chủ yếu dựa trên các văn bản của ILO, nhưng thông qua đó cũng chính là phân tích nội dung của các văn bản quốc tế khác liên quan đến chế độ hưu trí. Bởi các nội dung này của ILO đã góp phần: Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Mang lại ý nghĩa và định nghĩa cho các nội dung của quyền ASXH đã được nêu trong các văn kiện nhân quyền quốc tế (đặc biệt là Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966), qua đó cấu thành các công cụ cần thiết cho việc thực hiện các quyền này và việc thực hiện có hiệu quả của một phương pháp tiếp cận dựa trên quyền để bảo vệ xã hội.
Thực vậy, với tư cách là tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc, ILO không chỉ đưa ra tiêu chuẩn về các vấn đề mà ILO thực hiện, trong đó có ASXH, mà ILO còn ghi nhận và quy định cụ thể các quy định của Liên Hợp Quốc, từ đó, tạo thành hệ thống các văn bản pháp luật quốc tế về ASXH, trong đó có chế độ hưu trí, góp phần tạo nên tiêu chuẩn chung trên toàn thế giới trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu.
Kể từ khi được ban hành cho đến nay thì có thể khẳng định rằng “các tiêu chuẩn về ASXH của ILO cung cấp một tập hợp toàn diện các tài liệu tham khảo và khuôn khổ cho việc xây dựng, phát triển và bảo trì các hệ thống hưu trí tuổi già ở cấp quốc gia”. Trong đó, Công ước số 102 năm 1952 của ILO là văn bản duy nhất trong số các tiêu chuẩn quốc tế có tập hợp chín trường hợp dự phòng ASXH cơ bản, trong đó có trợ cấp tuổi già, tạo thành công cụ toàn diện và ràng buộc pháp lý duy nhất thiết lập các tiêu chuẩn và định lượng cho từng trường hợp dự phòng, xác định các tiêu chuẩn tối thiểu về ASXH được thực hiện bởi các chương trình của ASXH. Qua thời gian, đã có nhiều nghiên cứu đánh giá giá trị của Công ước số 102 năm 1952 của ILO. Kết luận của các cuộc nghiên cứu này đều hướng đến ghi nhận rằng:
Công ước số 102 tiếp tục phục vụ như là một tiêu chuẩn so sánh và tham khảo trong sự phát triển dần dần của ASXH toàn diện ở cấp quốc gia và là phương tiện để ngăn chặn sự thụt lùi của các hệ thống ASXH trên toàn thế giới, có xác nhận của Hội nghị Lao động Quốc tế năm 2011. Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Hiện nay, Công ước số 102 năm 1952 của ILO vẫn được tích cực sử dụng như một tài liệu tham khảo liên quan đến các nguyên tắc ASXH cơ bản, tầm quan trọng của nó không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ hoạt động xây dựng tiêu chuẩn cuối cùng. Việc phân tích Công ước này cùng với các Công ước khác, các Khuyến nghị của ILO có liên quan đến chế độ hưu trí là cần thiết, để chỉ ra các tiêu chuẩn quốc tế hiện nay, so sánh để hoàn thiện pháp luật quốc gia liên quan đến chế độ hưu trí, trong đó có chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện. Tính đến ngày 11/11/2014, Công ước số 102 năm 1952 của ILO đã được phê chuẩn bởi 50 quốc gia, trong đó có 32 nước ở châu Âu, 10 nước ở Mỹ Latin, 6 nước ở châu Phi và 2 nước ở châu Á. Tuy nhiên, tác động của các Công ước của ILO nói chung, của Công ước số 102 năm 1952 nói riêng không chỉ được đo bằng số lượng phê chuẩn. Trong những năm qua, Công ước số 102 năm 1952 đã có, và tiếp tục ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển ASXH ở các vùng, các quốc gia khác nhau trên thế giới. Nhiều nước như Trung Quốc, Latvia hoặc Lebanon đã đưa nội dung Công ước số 102 năm 1952 của ILO vào điều khoản khi soạn thảo quy định, ngay cả khi các quốc gia này chưa phê chuẩn. Hệ thống ASXH của gần như tất cả các nước châu Âu và nhiều nước châu Mỹ Latin và Caribean đã dựa theo mô hình quy định trong Công ước số 102 năm 1952 và cả các tiêu chuẩn ASXH cao hơn. Sự ảnh hưởng của các tiêu chuẩn này cũng thấy ở Nhật Bản và Hàn Quốc, cũng như ở Tunisia và Morocco. Hơn nữa, Công ước số 102 năm 1952 của ILO cũng đã ảnh hưởng đến sự phát triển của các hệ thống ASXH chính thức ở các nước có thu nhập thấp: hơn ba mươi quốc gia châu Phi đã thiết lập các chương trình trợ cấp hưu trí theo mô hình của Công ước. Mặc dù hệ thống ASXH chính thức của các nước này chỉ chiếm một phần nhỏ dân số, nhưng Công ước số 102 năm 1952 của ILO đã tạo thành một mục tiêu phát triển và là một tài liệu tham khảo được sử dụng trong các văn bản thiết lập các mục tiêu dài hạn đối với các mức độ bảo vệ mà ASXH cần thiết phải đạt được. Thêm một dẫn chứng để thấy rằng các tiêu chuẩn về ASXH của ILO đã có tác động bên ngoài tổ chức, đó là việc Hiến chương Xã hội châu Âu mà các bên ký kết đã cam kết duy trì một mức độ bảo vệ ít nhất là tương đương với yêu cầu cho việc phê chuẩn Công ước số 102 năm 1952 của ILO. Hơn nữa, Bộ luật châu Âu về ASXH được thông qua dưới sự bảo trợ của Hội đồng châu Âu với sự công tác của ILO đã tái tạo nội dung quy định của Công ước số 102 này của ILO. Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Việt Nam hiện nay tuy là thành viên của ILO nhưng lại chưa phê chuẩn các Công ước về ASXH của ILO. Nhưng khi so sánh tiêu chuẩn quốc tế với các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến chế độ hưu trí, thấy rằng có sự tương ứng về nội dung giữa các quy định. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, các chính sách về ASXH của Việt Nam nói chung, về chế độ hưu trí nói riêng đã ngày càng phù hợp với nội dung của các tiêu chuẩn quốc tế, như về mức độ bao phủ của chế độ hưu trí. Ảnh hưởng của các quy định của ILO về ASXH nói chung, về chế độ hưu trí nói riêng đối với Việt Nam là không thể phủ nhận. Việc ảnh hưởng từ các văn bản của ILO như nêu trên đã chứng minh, các tiêu chuẩn về ASXH của ILO là thước đo để các quốc gia xây dựng chế độ hưu trí. Ngay cả trong trường hợp quốc gia không phê chuẩn Công ước số 102 năm 1952 và Công ước số 128 năm 1967 của ILO thì các Công ước này vẫn là những tiêu chuẩn vô giá trong luật so sánh quốc tế về ASXH nói chung, chế độ hưu trí nói riêng. Các văn bản nêu trên của ILO dễ dàng được các quốc gia sử dụng trong việc nghiên cứu để xây dựng pháp luật quốc gia, bởi các văn bản này chỉ đặt mục tiêu phía trước để đáp ứng hơn là mô tả các kỹ thuật được áp dụng, đồng thời diễn đạt một cách linh hoạt các quy định đủ để thích nghi với các hệ thống, các chương trình hưu trí khác nhau được sử dụng bởi các nước thành viên, cũng như các nước chưa tham gia Công ước trong quá trình phát triển. Bên cạnh đó, các quy định của ILO về ASXH nói chung, về chế độ hưu trí nói riêng không chỉ có ý nghĩa để các quốc gia nghiên cứu, đối chiếu trong việc xây dựng quy định pháp luật quốc gia, mà còn có ý nghĩa trong việc hợp tác quốc tế về ASXH, trong đó có chế độ hưu trí. Bởi lẽ, quy định của ILO là công cụ hữu ích để phân tích và là thước đo cho việc xác định mẫu số chung giữa các quốc gia, tạo thành cơ sở chung để các quốc gia có thể hợp tác với nhau, cùng nhau phát triển trong lĩnh vực ASXH, trong đó có chế độ hưu trí.
2.2. Quy định của pháp luật của một số quốc gia trên thế giới liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Để xây dựng pháp luật phù hợp thì việc xem xét kinh nghiệm thành công của các nước khác trong lĩnh vực tương tự là điều cần thiết. Kinh nghiệm trước đó của chính quốc gia thường chưa tạo thành cơ sở vững chắc để quốc gia đưa ra quyết định trong hiện tại. “Một quyết định phù hợp có thể đến từ đánh giá thực tế đối với các quốc gia khác đã thực hiện, thay đổi ứng dụng của các đánh giá này vào hoàn cảnh cụ thể và lịch sử của quốc gia dự tính cải cách”. Từ đó, quốc gia không phải mất nhiều công sức, thời gian để xây dựng pháp luật và kiểm chứng tính khả thi của nó trong thực tế mà vẫn có được những quyết định, chính sách có giá trị.
Việc phân tích quy định của pháp luật của một số quốc gia dưới đây dựa vào các đánh giá tích cực đến từ các công trình nghiên cứu mang tính quốc tế, được kiểm tra và xuất bản bởi các tổ chức quốc tế như Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Hiệp hội An sinh xã hội Quốc tế (ISSA). Từ các công trình nghiên cứu này, các quốc gia được lựa chọn phân tích trong luận văn là Philippines và Ecuador. Đây là hai quốc gia đang phát triển được đánh giá là có những kinh nghiệm tương đối thành công trong việc cung cấp bảo hiểm cho người lao động độc lập (independent workers). Người lao động độc lập theo các công trình nghiên cứu này được hiểu là người lao động tự làm chủ, là hình thức lao động chủ yếu hoạt động trong khu vực phi chính thức, nông nghiệp, do đó có nhiều điểm tương đồng với đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện tại Việt Nam. Như vậy, việc lựa chọn Philippines và Ecuador để phân tích là do đối tượng áp dụng BHXH có điểm tương tự với Việt Nam. Việc giới thiệu nội dung quy định của pháp luật của hai quốc gia này sẽ rút ra kinh nghiệm có thể xem xét để bổ sung, hoàn thiện quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện tại Việt Nam.
- Philippines Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Quy định chung của pháp luật về chế độ hưu trí của Philippines Văn bản pháp luật đầu tiên ở Philippines liên quan đến chế độ hưu trí được ban hành từ năm 1954 và đến nay vẫn được duy trì hiệu lực, trong đó quy định về hệ thống BHXH. Ở Philippines, có hai loại bảo hiểm theo Chương trình An sinh xã hội (Social Security Programme – SS) là bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện. Bên cạnh đó, còn có một hệ thống bảo hiểm đặc biệt dành cho nhân viên chính phủ và cán bộ quân đội. Do đó, Hệ thống Dịch vụ Bảo hiểm Chính phủ (the Government Service Insurance System – GSIS) và Hệ thống An sinh xã hội (the Social Security System – SSS) là những tổ chức chính quản lý ASXH ở Philippines.
Bảo hiểm bắt buộc áp dụng cho người sử dụng lao động (Employers), người lao động (Employees), người lao động tự làm chủ (Self-Employed Persons). Người sử dụng lao động gồm các đối tượng sau: người làm chủ hoặc người nào sử dụng sự phục vụ của người khác trong kinh doanh, thương mại, công nghiệp hay bất kỳ công việc nào; tổ chức xã hội, dân sự, chuyên nghiệp, từ thiện và các tổ chức phi lợi nhuận khác có thuê sự phục vụ của người lao động cũng được coi là “người sử dụng lao động”; Chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế hay toàn bộ các cơ sở thuộc các cơ quan này như đại sứ quán ở Philippines, có thể xác nhận một thỏa thuận hành chính với SSS để bảo hiểm cho người lao động Philippines. Người lao động gồm các đối tượng sau: người lao động thuộc khu vực tư nhân, dù là lâu dài, tạm thời hoặc nhất thời, và không quá 60 tuổi; người giúp việc hộ gia đình (household-help) (ví dụ như người giúp việc, người làm vườn, người nấu ăn, người giữ trẻ… mà không phải là thành viên trong gia đình hoặc là vợ/chồng của người sử dụng lao động hộ gia đình) có thu nhập ít nhất 1.000 Peso/tháng, họ bắt buộc tham gia bảo hiểm kể từ ngày 01 tháng 09 năm 1993; thủy thủ Philippines khi triển khai thực tế bằng đại lý cung cấp nhân công mà cùng với chủ tàu nước ngoài, đại lý hoạt động như người sử dụng lao động; nhân viên của chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế hoặc toàn bộ các cơ sở thuộc các cơ quan này tại Philippines, trong đó có thỏa thuận hành chính với SSS để bảo hiểm cho người lao động Philippines tại các cơ quan này. Người lao động tự làm chủ là người bất kể trong thương mại, kinh doanh hay nghề nghiệp có mức thu nhập tối thiểu là 1.000 Peso/tháng và không quá 60 tuổi, phải đăng ký với SSS, bao gồm nhưng không giới hạn ở những người lao động sau đây: i. Chuyên gia tự làm chủ; ii. Cộng sự, chủ duy nhất của doanh nghiệp, giám đốc hội đồng quản trị có đăng ký hợp lệ với các cơ quan chính phủ phù hợp; iii. Diễn viên, nữ diễn viên, đạo diễn, biên kịch và phóng viên tin tức, là người không nằm trong định nghĩa của thuật ngữ “người lao động”; iv. Vận động viên chuyên nghiệp, huấn luyện viên, đào tạo viên và nài ngựa; v. Nông dân và ngư dân; vi. Lao động trong khu vực phi chính thức như là buôn bán và người bán dạo, người điều khiển phương tiện giao thông công ích, người làm việc trong ngành công nghiệp liên quan đến du lịch và những người khác có hoàn cảnh tương tự. Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Bảo hiểm tự nguyện áp dụng cho thành viên riêng biệt (Separated Members), người lao động Philippines ở nước ngoài (Overseas Filipino Workers – OFWs), người hôn phối không làm việc của thành viên SSS (Non-Working Spouse of SSS Members). Thành viên riêng biệt là người tách khỏi từ việc làm hoặc đã không còn là người lao động tự làm chủ, người lao động Philippines ở nước ngoài, người hôn phối không làm việc có thể lựa chọn để trở thành một thành viên tự nguyện (Voluntary Member) và tiếp tục đóng góp cho SSS trên tài khoản của họ. Người lao động Philippines ở nước ngoài là người Philippines được tuyển dụng ở Philippines bởi một nhà tuyển dụng nước ngoài để làm việc ở nước ngoài, có nguồn thu nhập ở nước ngoài và thường xuyên cư trú ở nước ngoài. Người hôn phối không làm việc của thành viên SSS là người kết hôn hợp pháp với thành viên của SSS hiện đang làm việc và chủ động thanh toán, họ dành trọn thời gian để quản lý gia đình và làm việc gia đình, họ có thể tham gia bảo hiểm trên cơ sở tự nguyện như là người hôn phối không làm việc (Non-Working Spouse), với điều kiện là có sự chấp thuận của người hôn phối có việc làm. Người hôn phối không làm việc nên chưa bao giờ là thành viên của SSS và đóng góp của người này sẽ được dựa trên 50% của tín dụng tháng gửi cuối cùng của người hôn phối làm việc, nhưng không được thấp hơn 1.000 Peso.
Nguồn tài chính thực hiện chế độ gồm: thứ nhất là từ người được bảo hiểm: đóng góp 3,63% tổng thu nhập hàng tháng, theo 31 lớp thu nhập. Người tự nguyện tham gia bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm kết hợp với tỷ lệ của người sử dụng lao động nên họ đóng góp 11% tổng thu nhập hàng tháng, theo 31 lớp thu nhập. Đóng góp của người hôn phối không làm việc của thành viên SSS do tự nguyện tham gia bảo hiểm được dựa trên 50% tổng thu nhập hàng tháng của người hôn phối có làm việc. Người lao động tự làm chủ đóng góp % trên tổng thu nhập hàng tháng, theo 31 lớp thu nhập. Khoản thu nhập tối thiểu hàng tháng được sử dụng để tính toán các khoản đóng góp là 1.000 Peso, còn người lao động Philippines làm việc ở nước ngoài tự nguyện tham gia bảo hiểm là 5.000 Peso. Các khoản thu nhập hàng tháng tối đa được sử dụng để tính toán các khoản đóng góp là 16.000 peso. Khoản đóng góp này của người được bảo hiểm cũng tài trợ cho tiền trợ cấp ốm đau và tiền trợ cấp thai sản. Thứ hai là từ người sử dụng lao động: đóng góp 7,37% thu nhập hàng tháng của người lao động. Khoản thu nhập tối thiểu hàng tháng được sử dụng để tính toán các khoản đóng góp là 1.000 Peso, tối đa là 16.000 Peso. Các khoản đóng góp của người sử dụng lao động cũng tài trợ cho tiền trợ cấp ốm đau và tiền trợ cấp thai sản. Thứ ba là từ Nhà nước: tài trợ cho bất kỳ khoản thâm hụt nào. Các khoản thu nhập hàng tháng tối thiểu và tối đa được sử dụng để tính toán các khoản đóng góp theo định kỳ được điều chỉnh bởi Ủy ban an sinh xã hội (Social Security Commission), với sự chấp thuận của Chủ tịch Philippines (President of the Philippines).
- Bảng thể hiện 31 lớp thu nhập để tính tỷ lệ đóng góp của Philippines Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Điều kiện vòng loại để được hưởng trợ cấp hưu trí: thứ nhất, thành viên 60 tuổi, đã tách biệt với việc làm hoặc không còn tự làm chủ, và đã có ít nhất 120 tháng đóng góp trước kỳ nghỉ hưu (prior to the semester of retirement). Thứ hai, thành viên 65 tuổi, dù có làm việc hay không, đã có ít nhất 120 tháng đóng góp trước kỳ nghỉ hưu. Thứ ba, đối với thợ mỏ làm việc dưới lòng đất, tuổi từ 55 tuổi và đã có ít nhất 5 năm làm thợ mỏ dưới lòng đất (liên tục hoặc tích lũy), trước kỳ nghỉ hưu nhưng ngày nghỉ hưu thực tế không được sớm hơn ngày 13 tháng 3 năm 1998, và đã có ít nhất 120 tháng đóng góp trước kỳ nghỉ hưu; hoặc thợ mỏ làm việc dưới lòng đất từ 60 tuổi, dù có làm việc hay không, và có ít nhất 120 tháng đóng góp trước kỳ nghỉ hưu.
Có hai loại trợ cấp hưu trí là lương hưu hàng tháng và trợ cấp một lần. Lương hưu hàng tháng là trợ cấp suốt đời bằng tiền mặt được trả cho người về hưu khi người đó có ít nhất 120 tháng đóng góp cho SSS trước kỳ nghỉ hưu. Khoản trợ cấp một lần được cấp cho người nghỉ hưu khi họ không đáp ứng yêu cầu ít nhất 120 tháng đóng góp, bằng với tổng số khoản đóng góp của thành viên và của người sử dụng lao động, bao gồm cả lãi suất. Mức lương hưu hàng tháng phụ thuộc vào khoản đóng góp của thành viên, số năm ghi nhận dịch vụ (credited years of service – CYS) và số lượng trẻ em phụ thuộc nhưng không quá năm trẻ. Số tiền lương hưu hàng tháng sẽ là số tiền cao nhất theo một trong ba cách tính sau: i/ 300 Peso cộng với 20% bình quân thu nhập hàng tháng của người được bảo hiểm và 2% mức bình quân thu nhập hàng tháng cho mỗi năm ghi nhận dịch vụ (CYS) vượt quá 10 năm; hoặc là; ii/ 40% bình quân thu nhập hàng tháng của người được bảo hiểm; hoặc là; iii/ 1.200 Peso nếu số năm ghi nhận dịch vụ (CYS) ít nhất là 10 năm nhưng ít hơn 20 năm; hoặc 2.400 Peso nếu số năm ghi nhận dịch vụ (CYS) là 20 năm hoặc nhiều hơn.
Trợ cấp phụ thuộc (Dependents Allowance) được cung cấp nếu thành viên có con nhỏ phụ thuộc được hình thành vào hoặc trước ngày nghỉ hưu, trợ cấp phụ thuộc tương đương với 10% mức lương hưu hàng tháng của thành viên hoặc 250 Peso, tùy theo mức nào là cao hơn. Chỉ có năm (5) con chưa thành niên, bắt đầu từ người trẻ nhất, được hưởng trợ cấp phụ thuộc. Việc thay thế không được cho phép. Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Thành viên nghỉ hưu có thể nhận 18 tháng lương hưu đầu tiên thành khoản tiền được trả một lần (không gồm trợ cấp phụ thuộc và tháng lương hưu thứ 13 của năm đầu tiên nghỉ hưu), được chiết khấu theo tỷ lệ ưu đãi của lãi suất được xác định bởi SSS. Người nghỉ hưu sẽ nhận lương hưu vào tháng thứ 19 và mỗi tháng sau đó. Ngoài ra, người nghỉ hưu được hưởng một tháng lương hưu thứ 13 vào tháng 12 mỗi năm. Trường hợp người về hưu dưới 65 tuổi lại tiếp tục làm việc hoặc tự tạo việc làm để tự làm chủ thì khoản tiền trợ cấp hàng tháng sẽ bị đình chỉ và họ phải đóng bảo hiểm bắt buộc một lần nữa. Nếu người về hưu từ 65 tuổi trở lên thì có thể tiếp tục việc làm hoặc tự tạo việc làm để tự làm chủ mà không ảnh hưởng đến lương hưu hàng tháng được hưởng và không cần thiết phải đóng bảo hiểm bắt buộc.
- Cơ chế để mở rộng phạm vi bảo hiểm cho người lao động tự làm chủ
Quy định nêu trên cho thấy Philippines đã nỗ lực đáng kể để mở rộng phạm vi BHXH, bao gồm cả người lao động tự làm chủ (còn được gọi là người lao động độc lập). Việc bắt buộc người lao động tự làm chủ tham gia BHXH là sự phát triển so với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á, là kinh nghiệm có giá trị để tham khảo, bởi việc đăng ký ở những quốc gia khác của đối tượng này thường là tự nguyện. Việc mở rộng phạm vi bảo hiểm cho người lao động độc lập đến năm 2009 đạt được khoảng 15% dân số hoạt động kinh tế độc lập, tương đương 1,8 triệu người lao động độc lập được bảo hiểm. Đến năm 2012, có khoảng 4,4 triệu người lao động độc lập đăng ký tại các cơ quan. Đây là sự nỗ lực đáng kể của Philippines, được phát triển bởi những đổi mới của nền quản trị ASXH Philippines (the Philippines social security administration), đặc biệt là đổi mới trong quản lý, gồm: i. lập danh mục phân biệt các loại thu nhập; ii. sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông như: thẻ nhận dạng cho người đăng ký, thông tin và tự phục vụ/dịch vụ thiết bị đầu cuối và một nền tảng web để các thành viên sử dụng; iii. kết hợp với các tổ chức ngân hàng để tạo điều kiện thanh toán đóng góp; iv. cung cấp các khoản vay cá nhân và các lợi ích khác. Trong các đổi mới này, đáng chú ý là việc sử dụng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, công cụ cực kỳ mạnh mẽ này cho phép nâng cao hiệu quả thông tin, chất lượng trong việc quản lý các tổ chức BHXH, góp phần nâng cao tỷ lệ bao phủ của BHXH.
Qua các nội dung về BHXH nói chung, thực hiện lương hưu nói riêng của Philippines, kinh nghiệm mà Việt Nam có thể xem xét là: thứ nhất, tham khảo việc Philippines xây dựng bảng thể hiện 31 lớp thu nhập để tính tỷ lệ đóng góp, từ đó xây dựng bảng đóng tiền BHXH tự nguyện theo mức đóng từ thấp nhất đến cao nhất tại Việt Nam. Khi có loại bảng này thì các đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện sẽ dễ dàng theo dõi và quyết định tham gia BHXH tự nguyện theo lớp thu nhập nào để sau này được hưởng lương hưu; thứ hai, qua việc Philippines xây dựng nền tảng công nghệ thông tin, từ đó góp phần thực hiện tốt việc vận hành, quản lý BHXH, tạo cơ sở để đưa người lao động độc lập thành đối tượng áp dụng của BHXH bắt buộc thì Việt Nam nên xem đây là bài học thực tế để phát triển đối tượng BHXH bắt buộc trong tương lai. Theo đó, Việt Nam cần xây dựng nền tảng công nghệ thông tin phù hợp để quản lý đối tượng và thực hiện các chế độ BHXH, từng bước thu hẹp dần phạm vi đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện, mở rộng phạm vi áp dụng của BHXH bắt buộc, hướng tới mục tiêu mở rộng chế độ hưu trí đến đa số người lao động trong xã hội. Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
- Ecuador
Quy định chung của pháp luật về chế độ hưu trí của Ecuador Văn bản pháp luật đầu tiên của Ecuador về ASXH ra đời năm 1928, luật hiện hành là Luật ASXH năm 2001, liên quan đến trợ cấp tuổi già thì có quy định về BHXH và trợ giúp xã hội. Tuy nhiên, việc cung cấp một hệ thống tài khoản cá nhân để bổ sung cho chương trình hưu trí trong BHXH và các chương trình trợ giúp xã hội cho người nghèo cao tuổi và người khuyết tật theo Luật BHXH năm 2001 không được thực hiện. Hệ thống BHXH có một chương trình đặc biệt để cung cấp trợ cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất cho các gia đình lao động ở nông thôn và ngư dân. Chương trình được tài trợ bởi sự đóng góp đáng kể từ người đứng đầu của gia đình và đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Bảo hiểm được dành cho tất cả mọi người có nguồn thu nhập từ công việc. Trong đó, bảo hiểm tự nguyện dành cho người không được bao phủ bởi BHXH bắt buộc, bao gồm cả công dân Ecuador sống ở nước ngoài. Ngoài ra, có một hệ thống bảo hiểm đặc biệt dành cho người lao động nông nghiệp và ngư dân quy mô nhỏ.
Nguồn tài chính thực hiện chế độ của BHXH gồm: thứ nhất là từ người được bảo hiểm: đóng góp 6,64% và 8,64% trên tổng thu nhập tương ứng với khu vực công và khu vực tư nhân; 9,74% trên tổng thu nhập đối với người được bảo hiểm tự nguyện. Thứ hai là từ người lao động tự do: đóng góp 9,74% trên tổng thu nhập được công bố. Thứ ba là từ người sử dụng lao động: đóng góp 3,10% và 1,10% tương ứng cho khu vực công và khu vực tư nhân. Trong ba nguồn tài chính này thì khoản thu nhập tối thiểu được sử dụng để tính toán khoản đóng góp đều là 318$ và không giới hạn khoản thu nhập tối đa. Thứ tư là Nhà nước (Chính phủ): đóng góp 40% chi phí cho trợ cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất, việc đóng góp như người sử dụng lao động.
Điều kiện vòng loại để được hưởng trợ cấp hưu trí là ở bất kỳ độ tuổi với ít nhất là 480 tháng đóng góp; 60 tuổi với ít nhất là 360 tháng đóng góp; 65 tuổi với ít nhất là 180 tháng đóng góp; hoặc 70 tuổi với ít nhất là 120 tháng đóng góp. Mức trợ cấp hưu trí được nhận là một tỷ lệ của thu nhập bình quân hàng tháng trong năm năm có thu nhập tốt nhất được chi trả của người được bảo hiểm, theo tổng số năm đóng góp (50% trong 10 năm, 75% trong 30 năm, 81,25% trong 35 năm , 100% trong 40 năm, và 125% trong hơn 40 năm). Mức lương hưu hàng tháng tối thiểu là 159$, mức tối đa là 1,749$. Người về hưu có thể tiếp tục làm việc và được nhận lương hưu, ngoại trừ trong năm đầu tiên được nhận lương hưu, nếu người sử dụng lao động là người chủ cuối cùng của người về hưu. Tiến độ thanh toán: 12 khoản thanh toán hàng tháng cộng với hai khoản tiền thưởng một năm. Điều chỉnh lợi ích: lợi ích được điều chỉnh hàng năm. Điều chỉnh dao động từ 4,31% đến 16,16% và tỉ lệ nghịch với số tiền trợ cấp.
- Chương trình BHXH Nông dân ở Ecuador Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
BHXH ở Ecuador được đặc trưng bởi tầm quan trọng của nông nghiệp trong thị trường lao động, bởi những vai trò nổi bật của BHXH Nông dân (Peasants’ Social Insurance – SSC) trong cơ sở hạ tầng ASXH của quốc gia. Hệ thống ASXH của Ecuador bao gồm các tổ chức sau đây: Viện ASXH Ecuador (Ecuadorian Institute of Social Security – IESS); Viện Quân lực ASXH (Armed Forces Social Security Institute – ISSFA); Viện Cảnh sát Quốc gia ASXH (Nation Police Social Security Institute – ISSPOL). Các tổ chức này tạo ra một nhóm các chương trình ASXH điển hình trong 9 nhánh của ASXH được quy định tại Công ước số 102 năm 1952 của ILO. IESS là tổ chức ASXH chính của Ecuador, viện này quản lý những loại bảo hiểm và các trợ cấp ngắn hạn sau đây: BHXH Nông dân – SSC (y tế và hưu trí); bảo hiểm y tế cho cá nhân và gia đình (phòng ngừa và phục hồi), bao gồm cả trợ cấp tiền mặt; bảo hiểm nói chung cho người khuyết tật, người già; quỹ dự phòng; quỹ bảo vệ tình trạng thất nghiệp và một số những trợ cấp tiền mặt ngắn hạn khác. Trong danh mục của các loại bảo hiểm này, điểm nhấn là SSC. Với sự hỗ trợ của ILO, Chính phủ Ecuador đang làm việc trên một dự thảo cải cách hệ thống ASXH, trong đó bao gồm các cơ chế bảo vệ chuyển hướng đến bảo hiểm toàn dân. SSC là một khía cạnh thiết yếu của hệ thống ASXH hiện nay. Tình trạng này được củng cố trong Hiến pháp mới của Ecuador, trong đó viện IESS và SSC là cơ quan duy nhất có tên được liệt kê.
Hiện nay, dù có thành tích nổi bật nhưng SSC đang bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cho thấy vẫn còn thách thức phía trước, sự đăng ký trong những năm đã không đạt như mong muốn và một lượng lớn người dân sống ở khu vực nông thôn vẫn không có bảo hiểm. Tuy nhiên, SSC vẫn là một “pháo đài” ASXH ở Ecuador. Năm 2009, SSC có 917.417 người được bảo vệ, 227.694 gia đình và tổng cộng 34.729 người về hưu. Trên diễn đàn quốc tế về sáng kiến nhằm phổ cập ASXH, SSC vẫn là một ví dụ để các quốc gia học tập trong việc mở rộng ASXH cho các nhóm dễ bị tổn thương nhất. SSC là một chương trình ASXH thay thế được tạo ra với mục tiêu mở rộng phạm vi bảo hiểm thông qua các tổ chức nông nghiệp. Các đổi mới chính của SSC bao gồm:
Thứ nhất là tập trung vào bảo hiểm cư dân nông thôn. Từ khi bắt đầu, SSC đã và đang là sự lựa chọn BHXH trực tiếp cho người dân nông thôn, trên giả định rằng sự đoàn kết quốc gia cần hướng đến những người dân dễ bị tổn thương nhất với mục đích cung cấp giải pháp cho các nhu cầu của họ. SSC được xây dựng dựa trên nguyên tắc phổ quát, theo đó ASXH phải được mở rộng đến toàn bộ dân số của Ecuador. Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Thứ hai là thiết lập mô hình tài chính bao cấp ở mức độ cao. Cấu trúc tài chính của SSC dựa trên nguyên tắc đoàn kết, đó là lý do tại sao đóng góp của người đăng ký là tối thiểu khi so sánh với các nguồn lực khác trong tài chính của bảo hiểm. Cơ cấu tài chính của SSC được bao cấp ở mức độ rất cao, bao gồm các khoản đóng góp đoàn kết của những người sử dụng lao động và của những người đăng ký bảo hiểm bắt buộc chung, cả hai có và không có mối quan hệ phụ thuộc, sự đóng góp bắt buộc của bảo hiểm công cộng và tư nhân tích hợp trong hệ thống ASXH quốc gia, đóng góp của các gia đình được bảo vệ bởi bảo hiểm nông thôn và đóng góp của Nhà nước.
Thứ ba là về cơ cấu quản lý. SSC là một chương trình đặc biệt được quản lý bởi IESS, mặc dù SSC có đủ sự độc lập hành chính trong cơ cấu quản lý ASXH quốc gia. Đây là điều hữu ích trong việc bảo đảm sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý ASXH.
Thứ tư là xác định tầm quan trọng của SSC trong bối cảnh quốc gia. Trong quá trình phát triển, SSC có vai trò thúc đẩy việc xây dựng ASXH đi vào các lĩnh vực trong xã hội Ecuador, tạo thuận lợi cho việc tăng cường vai trò lãnh đạo của các tổ chức nông thôn trong lĩnh vực chính trị. Xung quanh SSC là một loạt các tổ chức nông thôn và liên đoàn được xây dựng, đóng vai trò dẫn đầu trong việc đại diện chính trị cho người dân ở nông thôn và cả nước nói chung. Liên đoàn thống nhất của BHXH nông dân và của Liên đoàn quốc gia BHXH nông dân (Unified Federation of the Peasants‘ Social Insurance and of the National Confederation of the Peasants‘ Social Insurance) là nổi bật. Hai tổ chức này kết hợp với đại đa số người nông dân. Các tổ chức nông dân khác cũng được kể đến, như Liên đoàn Quốc gia của các Tổ chức Nông thôn (the National Federation of Rural Organizations), Liên đoàn Quốc gia của các Tổ chức Nông thôn Bản địa (the National Federation of Native Rural Organizations), Liên đoàn Bản địa Ecuador (the Ecuadorian Native Federation), Liên đoàn Quốc gia của Nông dân Ecuador Tự do (the National Federation of Free Ecuadorian Farmers). Các tổ chức này đã đấu tranh cho lý tưởng kết nối với SSC, bao gồm các phần mở rộng và tăng cường các quyền. Hơn nữa, các tổ chức này đã cùng nhau bảo vệ và giải quyết nhiều vấn đề khác có ảnh hưởng đến dân cư nông thôn.
Thông qua nội dung về BHXH tại Ecuador, Việt Nam có thể xem xét kinh nghiệm sau: Tập trung triển khai BHXH tự nguyện, nhất là nội dung về chế độ hưu trí cho đối tượng xác định, đó có thể là nông dân hoặc các đối tượng áp dụng khác. Khi xác định được đối tượng cần tập trung triển khai BHXH tự nguyện thì xác định các biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu bao phủ BHXH, như xác định cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện triển khai BHXH tự nguyện; xác định các tổ chức có thể liên kết để thực hiện BHXH tự nguyện tốt hơn; nếu có thể, nên xác định cách thức hỗ trợ và mức độ hỗ trợ cho các đối tượng áp dụng cụ thể này.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
Thông qua các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia liên quan đến chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện, thấy rằng: trong quá trình xây dựng và hoàn thiện quy của định pháp luật liên quan đến chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện, Việt Nam nên có sự xem xét, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật quốc tế và quy định của pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về cùng nội dung tương tự. Bởi các quy định này qua quá trình áp dụng và nghiên cứu, đánh giá từ các nhà chuyên môn đã cho thấy giá trị để các quốc gia khác có thể tham khảo, xem xét. Trong phạm vi so sánh của đề tài được nêu tại chương 2 này, các kinh nghiệm mà Việt Nam nên ghi nhận là: xem xét các tiêu chuẩn liên quan đến chế độ hưu trí của ILO, trong đó có nội dung quy định về trường hợp bảo vệ của chế độ hưu trí; xây dựng bảng đóng tiền BHXH tự nguyện; quy định cụ thể để tập trung phát triển BHXH tự nguyện cho một số đối tượng nhất định để những đối tượng này được hưởng chế độ hưu trí. Việc đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật tại Việt Nam liên quan đến các kinh nghiệm vừa nêu sẽ được phân tích cụ thể hơn tại chương 3 của luận văn này. Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
