Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện. Hạn chế trong việc áp dụng các quy định này và đề xuất sửa đổi, bổ sung dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Tại Việt Nam, Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 do Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014 (viết tắt là Luật BHXH năm 2014) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, trừ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này quy định về việc tham gia BHXH bắt buộc của người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng và người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018. Việc ban hành Luật BHXH năm 2014 là bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách BHXH, pháp điển hóa các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách BHXH phù hợp với quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng đông đảo người lao động, bảo đảm ASXH và hội nhập quốc tế.

Việc phân tích nội quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện dưới đây sẽ vừa nêu nội dung, vừa phân tích các điểm mới của Luật BHXH năm 2014, từ đó chỉ ra các điểm còn hạn chế trong việc áp dụng quy định của pháp luật nhằm đưa các đề xuất sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục các điểm hạn chế này.

3.1. Quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

3.1.1 Về đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội tự nguyện để được hưởng chế độ hưu trí

Luật BHXH năm 2014 đã sửa đổi quy định về đối tượng áp dụng BHXH tự nguyện phù hợp hơn theo hướng người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc.

Từ quy định trên thì Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 18 tháng 02 năm 2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện (gọi tắt là Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH năm 2016) đã quy định chi tiết như sau:

  1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng trước ngày 01 tháng 01 năm 2018; người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi;
  2. Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, ấp, bản, sóc, làng, tổ dân phố, khu, khu phố;
  3. Người lao động giúp việc gia đình;
  4. Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương;
  5. Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;
  6. Người nông dân, người lao động tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân và gia đình;
  7. Người lao động đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
  8. Người tham gia khác.

Các đối tượng quy định trên sau đây gọi chung là người tham gia BHXH tự nguyện.

Quy định trên đã bỏ đi mức tuổi trần của người tham gia BHXH tự nguyện so với quy định trước đây. Về mặt pháp lý, việc sửa đổi như vậy là thống nhất với quy định về độ tuổi người lao động trong Bộ luật Lao động năm 2012 và với quy định về việc không giới hạn độ tuổi tối đa của người tham gia BHXH tự nguyện. Về mặt thực tiễn, sửa đổi như vậy là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của người tham gia BHXH tự nguyện, vì có một bộ phận người lao động mặc dù đã bước vào tuổi nghỉ hưu nhưng họ vẫn có nhu cầu tham gia BHXH để hưởng chế độ hưu trí, đặc biệt là người lao động trước đây thuộc đối tượng áp dụng của BHXH bắt buộc đến tuổi nghỉ hưu mà chưa đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH. Thực tế cũng cho thấy, những người đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật thì một bộ phận vẫn tiếp tục tìm kiếm việc làm không chính thức để bảo đảm cuộc sống, khi đó họ vẫn có điều kiện về thu nhập và có nhu cầu tham gia BHXH. Do đó, pháp luật cần tạo cơ hội cho những đối tượng này được tiếp tục đóng BHXH để đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH, từ đó được hưởng lương hưu hàng tháng sau này. Quy định này góp phần nâng cao tỷ lệ người hưởng lương hưu hàng tháng, làm hạn chế tỷ lệ hưởng BHXH một lần, bảo đảm tốt hơn cuộc sống của người tham gia BHXH khi về hưu.

Bên cạnh đó, so với quy định của Luật BHXH năm 2006 thì những người lao động sau đây sẽ không còn là đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện mà trở thành đối tượng áp dụng của BHXH bắt buộc: i) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 3 tháng; ii) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Trường hợp đầu tiên được quy định để tránh việc người sử dụng lao động dùng hình thức ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng để không phải thực hiện nghĩa vụ BHXH, từ đó không bảo đảm quyền lợi được hưởng chế độ hưu trí về sau cho người lao động. Quy định này còn góp phần nâng cao trách nhiệm thực hiện BHXH cho người lao động của người sử dụng lao động, nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc tham gia BHXH, tạo nên ý thức về ASXH cho người lao động. Còn việc đưa người lao động hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc là vì đặc điểm của nhóm phù hợp với loại hình BHXH này. Nhóm lao động này có thời gian làm việc ổn định, đảm nhận nhiều công việc khác nhau và trực tiếp triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trên thực tế thì họ làm việc như công chức. Do đó, việc quản lý của Nhà nước đối với nhóm đối tượng này dễ dàng nên việc triển khai BHXH bắt buộc cho họ là khả thi. Tóm lại, việc quy định các nhóm lao động này tham gia BHXH bắt buộc là phù hợp với tiến trình mở rộng đối tượng áp dụng của BHXH bắt buộc, thu hẹp đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện. Đây là tiến trình phát triển chung của chính sách BHXH, có như vậy mới mở rộng được phạm vi tác động của BHXH, góp phần thực hiện được các mục tiêu của chính sách ASXH. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Ngay từ phần những quy định chung thì Luật BHXH năm 2014 đã có sự sửa đổi cơ bản quy định về đối tượng áp dụng BHXH tự nguyện để tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật và phù hợp với tình hình thực tế, từ đó có sự ảnh hưởng tích cực đến phạm vi đối tượng tham gia và hưởng chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

3.1.2 Về quỹ bảo hiểm xã hội để thực hiện chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

  • Nguồn hình thành quỹ BHXH

Luật BHXH năm 2014 đã hợp nhất quỹ hưu trí và tử tuất trong BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc thành một quỹ thống nhất được quy định tại Chương V về quỹ BHXH. Việc quy định quỹ BHXH tự nguyện riêng biệt như Luật BHXH năm 2006 đã làm nảy sinh nhiều khó khăn do phần lớn đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là những người đã có quá trình đóng BHXH bắt buộc, nên việc phân bổ giữa quỹ BHXH bắt buộc và quỹ BHXH tự nguyện trong trách nhiệm chi trả là rất khó khăn, phức tạp và không có nhiều ý nghĩa. Mặt khác, việc tách quỹ BHXH tự nguyện độc lập với quỹ BHXH bắt buộc chỉ mang tính tương đối chứ chưa tách bạch hoàn toàn, do chi phí quản lý BHXH tự nguyện và bắt buộc chưa tách bạch được. Vì vậy, việc thống nhất hai loại quỹ BHXH như Luật BHXH năm 2014 là phù hợp.

Luật BHXH năm 2014 quy định quỹ BHXH được hình thành từ đóng góp của người sử dụng lao động, đóng góp của người lao động, từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ, từ sự hỗ trợ của Nhà nước và từ các nguồn thu hợp pháp khác. Tuy nhiên, đối với loại hình BHXH tự nguyện thì không có nguồn hình thành từ đóng góp của người sử dụng lao động. Do đó, nguồn tài chính để thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện là từ sự đóng góp của người lao động, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ, hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Sự hỗ trợ của Nhà nước hiện nay đã được quy định cụ thể hơn trước đây, không chỉ được nêu trong phần giải thích thuật ngữ tại khoản 3 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 mà còn được quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này về mức đóng như sau: “Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người lao động tham gia BHXH tự nguyện”. Việc hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện như vừa nêu được quy định cụ thể tại Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện (gọi tắt là Nghị định số 134/2015/NĐ-CP năm 2015) như sau:

Người tham gia BHXH tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định này, cụ thể: a) Bằng 30% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo; b) Bằng 25% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ cận nghèo; c) Bằng 10% đối với các đối tượng khác.

Khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người tham gia BHXH tự nguyện. Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ sẽ xem xét điều chỉnh mức hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia BHXH tự nguyện cho phù hợp. Thời gian hỗ trợ tùy thuộc vào thời gian tham gia BHXH tự nguyện thực tế của mỗi người nhưng không quá 10 năm (120 tháng).

Việc Nhà nước hỗ trợ tiền đóng BHXH như trên là phù hợp yêu cầu thực tế. Thời gian thực hiện Luật BHXH năm 2006 đã chỉ ra rằng để làm tăng tính khả thi, sự hấp dẫn của loại hình BHXH tự nguyện thì cần sự hỗ trợ của Nhà nước để tạo điều kiện ban đầu, kích thích một bộ phận lớn người lao động bị hạn chế về thu nhập, để họ có thể tham gia BHXH tự nguyện, từ đó được hưởng chế độ hưu trí khi về già. Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy để thúc đẩy người lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện phải có chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Việc hỗ trợ này cũng góp phần thể chế hóa quan điểm “xây dựng chính sách khuyến khích nông dân, lao động trong khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện” được nêu tại Nghị quyết số 15-NQ-TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

  • Phương thức đóng Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Về phương thức đóng BHXH, Luật BHXH năm 2014 có sự sửa đổi, bổ sung theo hướng linh hoạt hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người tham gia BHXH tự nguyện, không chỉ cho phép đóng hằng tháng, 03 tháng một lần, 06 tháng một lần như quy định trước đây mà còn cho phép đóng 12 tháng một lần hoặc một lần cho nhiều năm về sau với mức thấp hơn mức hằng tháng hoặc một lần cho những năm còn thiếu với mức cao hơn mức đóng hằng tháng.

Việc đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng cho đủ 20 năm để hưởng lương hưu. Trường hợp người tham gia BHXH đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định mà thời gian đã đóng BHXH còn thiếu trên 10 năm, nếu có nguyện vọng thì tiếp tục đóng BHXH tự nguyện cho đến khi thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm thì được đóng một lần cho những năm còn thiếu để hưởng lương hưu theo quy định. Mức đóng một lần cho những năm còn thiếu được tính bằng tổng mức đóng của các tháng còn thiếu, áp dụng lãi gộp bằng lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân tháng do Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng.

Việc đóng một lần cho nhiều năm về sau thì không quá 5 năm một lần. Mức đóng một lần cho nhiều năm về sau được tính bằng tổng mức đóng của các tháng đóng trước, chiết khấu theo lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân tháng do Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện đã đóng theo phương thức đóng 03 tháng hoặc 06 tháng hoặc 12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho nhiều năm về sau mà trong thời gian đó Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn thì không phải điều chỉnh mức chênh lệch số tiền đã đóng. Quy định góp phần bảo vệ quyền lợi tốt hơn cho người tham gia BHXH tự nguyện.

Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện đã đóng theo phương thức đóng 03 tháng hoặc 06 tháng hoặc 12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho nhiều năm về sau mà trong thời gian đó thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ được hoàn trả một phần số tiền đã đóng trước đó: a) Dừng tham gia BHXH tự nguyện và chuyển sang tham gia BHXH bắt buộc; b) Hưởng BHXH một lần theo quy định; c) Bị chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết. Số tiền được hoàn trả cho người tham gia BHXH tự nguyện trong trường hợp quy định tại điểm a và điểm b vừa nêu hoặc hoàn trả cho thân nhân người lao động trong trường hợp quy định tại điểm c vừa nêu được tính bằng số tiền đã đóng tương ứng với thời gian còn lại so với thời gian đóng theo phương thức đóng và không bao gồm tiền hỗ trợ đóng của Nhà nước (nếu có).

Người đang tham gia BHXH tự nguyện được thay đổi phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện. Việc thay đổi này được thực hiện ít nhất là sau khi thực hiện xong phương thức đóng đã chọn trước đó.

Thời điểm đóng BHXH đối với các phương thức đóng đã nêu được thực hiện như sau: a) Trong tháng đối với phương thức đóng hằng tháng; b) Trong 03 tháng đối với phương thức đóng 03 tháng một lần; c) Trong 04 tháng đầu đối với phương thức đóng 06 tháng một lần; d) Trong 07 tháng đầu đối với phương thức đóng 12 tháng một lần; trường hợp đóng một lần cho nhiều năm về sau hoặc đóng một lần cho những năm còn thiếu được thực hiện tại thời điểm đăng ký phương thức đóng và mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng.

  • Mức đóng Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Về mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH, Luật BHXH năm 2014 quy định mức thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở. Mức đóng hằng tháng được tính theo công thức như sau: Mdt = 22% x Mtnt.

Trong đó:

  • Mdt: Mức đóng BHXH hằng tháng.
  • Mtnt: mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn.
  • Mtnt = CN + m x 50.000 (đồng/tháng).

Trong đó, CN là mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn tại thời điểm đóng (đồng/tháng); m là tham số tự nhiên có giá trị từ 0 đến n.

Từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 12 năm 2020 mức đóng hằng tháng thấp nhất là 154.000 đồng/tháng; từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 4 năm 2016 mức đóng hằng tháng cao nhất là 5.060.000 đồng/tháng, từ tháng 5 năm 2016 trở đi mức đóng hằng tháng cao nhất là 5.324.000 đồng/tháng cho tới khi Chính phủ quy định mức lương cơ sở mới.

Nội dung vừa nêu đã có sự sửa đổi so với quy định trước đây về mức thấp nhất và mức cao nhất nhằm phù hợp với yêu cầu thực tế. Sự thay đổi mức đóng thấp nhất là để phù hợp với khả năng tài chính của đại đa số đối tượng áp dụng BHXH tự nguyện, làm tăng tính khả thi, hấp dẫn của loại hình BHXH này. “Việc lấy chuẩn nghèo bình quân để làm cơ sở cho việc xác định mức đóng tối thiểu cho người lao động khi tham gia BHXH tự nguyện là một phương án lựa chọn khả dĩ hiện nay và với sự điều chỉnh này sẽ tạo cơ hội tốt hơn cho hầu hết các đối tượng có nhu cầu tham gia loại hình BHXH tự nguyện”. Hiện nay, tỷ lệ đóng góp của người tham gia BHXH tự nguyện được tính bằng 22% mức thu nhập hằng tháng được lựa chọn, nếu lấy mức này bằng bằng mức tối thiểu theo quy định của Luật BHXH năm 2006 thì mức đóng là quá cao so với khả năng tài chính của phần lớn người lao động trong khu vực phi chính thức, nông nghiệp. Còn nếu lấy thu nhập tháng đóng bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn thì sẽ tạo cơ hội cho nhiều đối tượng, kể cả đối tượng là người nghèo có thể tiếp cận được với loại hình BHXH này. Nếu người lao động có khả năng về thu nhập thì họ sẽ lựa chọn mức đóng cao hơn để sau này họ nhận được trợ cấp hưu trí với mức hưởng cao hơn.

  • Sử dụng quỹ BHXH Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Quỹ BHXH được sử dụng cho các hoạt động sau liên quan đến chế độ hưu trí: trả chế độ hưu trí cho người lao động; đóng bảo hiểm y tế cho người tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu; chi phí quản lý; đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định. Luật BHXH năm 2014 đã sửa đổi quy định về chi phí quản lý theo hướng cụ thể hơn về các khoản chi như sau: a) Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH; tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về BHXH; b) Cải cách thủ tục BHXH, hiện đại hóa hệ thống quản lý; phát triển, quản lý người tham gia, người thụ hưởng BHXH; c) Tổ chức thu, chi trả BHXH và hoạt động bộ máy của cơ quan BHXH các cấp. Nguồn kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ này hằng năm được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ. Định kỳ 03 năm, Chính phủ báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định về mức chi phí quản lý BHXH.

Do chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện vừa mới được đưa vào thực hiện, đồng thời đây là một chế độ lâu dài nên số thu trong năm thường không chi hết trong năm, quỹ luôn có số tiền tạm thời nhàn rỗi dùng để đầu tư tăng trưởng. Đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH là quá trình sử dụng một phần tiền tạm thời nhàn rỗi từ quỹ BHXH để đầu tư, nhằm tăng thêm tiềm lực tài chính cho quỹ BHXH, đáp ứng đầy đủ nhu cầu chi trả cho các chế độ BHXH và đảm bảo cho các hoạt động thường xuyên của BHXH. Tuy nhiên, để bảo đảm quỹ BHXH luôn được an toàn, bền vững thì hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH phải tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định và chỉ được đầu tư vào một số hoạt động theo quy định của pháp luật. Luật BHXH năm 2014 quy định hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được vốn đầu tư. Tuy nhiên, Luật BHXH năm 2014 có sự sửa đổi về phạm vi hình thức được đầu tư so với quy định trước đây, cụ thể như sau: 1. Mua trái phiếu Chính phủ; 2. Gửi tiền, mua trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi tại các ngân hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt theo xếp loại tín nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 3. Cho ngân sách nhà nước vay.

3.1.3 Về điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Người tham gia BHXH tự nguyện muốn nhận được trợ cấp hưu trí (được hiểu là trợ cấp được chi trả định kỳ, còn được gọi là lương hưu) thì phải đáp ứng hai điều kiện cơ bản là về độ tuổi hưởng lương hưu và về thời gian đóng góp BHXH.

Về độ tuổi hưởng lương hưu, Luật BHXH năm 2014 quy định người lao động được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi và nữ đủ 55 tuổi. So với quy định trước đây thì Luật BHXH năm 2014 đã có sự sửa đổi quy định về độ tuổi tối đa (hay còn gọi là tuổi trần) trong trường hợp đóng BHXH tự nguyện tiếp tục để được hưởng chế độ hưu trí, theo đó, người lao động đã đủ điều kiện về tuổi theo quy định (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) nhưng thời gian đóng BHXH chưa đủ 20 năm thì được đóng cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu. Đây là một sửa đổi hợp lý, nhằm hạn chế việc người lao động nhận BHXH một lần và tạo cơ hội cho họ tiếp tục tham gia BHXH để đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng.

Về thời gian đóng góp BHXH, Luật BHXH năm 2014 quy định người tham gia BHXH tự nguyện có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên thì được hưởng lương hưu. Tuy nhiên, do tính liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện mà trong trường hợp người lao động có thời gian tham gia BHXH bắt buộc thì pháp luật quy định thời gian tính hưởng chế độ hưu trí là tổng thời gian đã đóng BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, không bao gồm thời gian đã tính hưởng BHXH một lần. Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên thì điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu thực hiện theo các quy định về điều kiện hưởng lương hưu của BHXH bắt buộc. Riêng đối tượng là lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc, khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH bắt buộc và đủ 55 tuổi thì đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định về BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, họ lại bảo lưu thời gian đã đóng BHXH và tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện thì được hưởng lương hưu khi có yêu cầu.

3.1.4 Về việc thực hiện hưởng trợ cấp hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

Tùy thuộc vào điều kiện về độ tuổi và thời gian đóng góp BHXH mà người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng các loại trợ cấp khác nhau như: lương hưu hằng tháng trong trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện được nêu ở tiểu mục 3.1.3 – đây là loại trợ cấp thể hiện bản chất của chế độ hưu trí, chính là bảo đảm cuộc sống cho người già cho đến khi họ chết; trợ cấp một lần khi nghỉ hưu trong trường hợp thời gian đóng góp BHXH vượt quá thời gian được quy định. Ngoài ra, người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng BHXH một lần trong trường hợp không đáp ứng được các điều kiện để hưởng lương hưu hằng tháng. Trong đó, càng giải quyết nhiều trường hợp được nhận lương hưu hằng tháng thì càng bảo đảm được mục tiêu ASXH, càng phát huy được vai trò của chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

  • Lương hưu hằng tháng Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Lương hưu hằng tháng được tính bằng tỷ lệ phần trăm của mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ tính lương hưu hằng tháng theo Luật BHXH năm 2014 đã có sự sửa đổi để thực hiện theo từng giai đoạn như sau: giai đoạn thứ nhất, từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 (là ngày Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thi hành) cho đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện về độ tuổi và thời gian đóng BHXH được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH; sau đó cứ mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, mức tối đa bằng 75%. Cách tính này tương tự như quy định của Luật BHXH năm 2006 trước đây; giai đoạn thứ hai, từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện về độ tuổi và thời gian đóng BHXH được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH và tương ứng với số năm đóng BHXH như sau: lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm; lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2% đối với cả nam và nữ, mức tối đa bằng 75%. Như vậy, từ năm 2022 trở đi, lao động nam có đủ 20 năm đóng BHXH được tính mức lương hưu bằng 45%, còn đối với lao động nữ thì từ năm 2018 trở đi mức lương hưu được tính bằng 45% khi có đủ 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 2% cho cả nam và nữ, mức tối đa bằng 75%. Khi tính tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng nếu thời gian đóng BHXH có tháng lẻ từ 01 tháng đến 6 tháng thì tính là nửa năm; từ 7 tháng đến 11 tháng thì tính là một năm. Quy định về tăng thời gian đóng góp này nhằm tăng tính an toàn, bền vững cho quỹ BHXH, bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, khắc phục hạn chế của quy định trước đây về phân biệt cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu giữa lao động nam và lao động nữ, góp phần thực hiện nguyên tắc đóng – hưởng cân đối để bảo đảm quỹ hưu trí tồn tại dài hạn mà không cần tăng thêm mức đóng của các đối tượng tham gia.

Theo Luật BHXH năm 2014 thì mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian đóng. Thu nhập tháng đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH của người lao động được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

Người vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện thì mức lương hưu được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu nhân với mức bình quân tiền lương và thu nhập tháng đóng BHXH. Mức bình quân tiền lương và thu nhập tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần tính theo công thức sau:

Nếu người tham gia BHXH tự nguyện có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên (trừ đối tượng là người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc, khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH bắt buộc và đủ 55 tuổi được hưởng lương hưu) thì mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng lương hưu. Quy định này bảo đảm tính kết nối giữa hai loại hình BHXH, người tham gia BHXH tự nguyện nếu đủ điều kiện hưởng chế độ BHXH theo quy định của BHXH bắt buộc thì vẫn được bảo đảm các quyền lợi được quy định trong BHXH bắt buộc.

Ngoài ra, người được hưởng lương hưu hằng tháng còn được hưởng bảo hiểm y tế trong suốt thời gian hưởng lương hưu. Đây là điều đặc biệt quan trọng, vừa bảo đảm sức khỏe cho người hưởng lương hưu, mà còn có vai trò trong việc chống lại đói nghèo lên quan đến vấn đề sức khỏe, cho rằng người lớn tuổi thường có nhiều hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe và phải dựa trên sự chăm sóc dài hạn. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

  • Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện có thời gian đóng góp BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa theo quy định pháp luật thì phần thời gian vượt quá được tính thành trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Luật BHXH năm 2014 quy định người lao động có thời gian đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần. Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.

  • Bảo hiểm xã hội một lần

Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện không đủ điều kiện về độ tuổi và thời gian đóng BHXH thì không được hưởng trợ cấp định kỳ mà chỉ được nhận BHXH một lần. BHXH một lần không phản ánh được bản chất, mục đích của chế độ hưu trí bởi vì đây không phải là khoản trợ cấp được chi trả định kỳ nhằm bảo đảm cuộc sống ổn định cho người già. Người tham gia BHXH hưởng BHXH một lần tăng tức là mục tiêu bảo đảm ASXH trong dài hạn không đạt được.

Luật BHXH năm 2014 có sự sửa đổi về quy định hưởng BHXH một lần và mức hưởng. Nhưng tại thời điểm Luật BHXH năm 2014 chưa có hiệu lực thi hành thì Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 93/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015 về việc thực hiện chính sách hưởng BHXH một lần đối với người lao động, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 (trùng với ngày có hiệu lực thi hành của Luật BHXH năm 2014). Như vậy, việc hưởng BHXH một lần được thực hiện theo Luật BHXH năm 2014 và Nghị quyết số 93/2015/QH13. Theo đó, người tham gia BHXH tự nguyện được nhận BHXH một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Đủ điều kiện về độ tuổi theo quy định (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH mà không tiếp tục tham gia đóng BHXH; ii. Ra nước ngoài để định cư; iii. Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ trướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế; iv. Người tham gia BHXH tự nguyện sau một năm không tiếp tục đóng BHXH mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH khi có yêu cầu thì được nhận BHXH một lần.

Về mức hưởng BHXH một lần, Luật BHXH năm 2014 và Nghị quyết số 93/2015/QH13 quy định kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 thì mức hưởng BHXH một lần đối với người tham gia BHXH tự nguyện được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm được tính như sau: a) 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2014; b) 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi. Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng BHXH bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH126. Khi tính mức hưởng BHXH một lần trong trường hợp thời gian đóng BHXH có tháng lẻ thì từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm, từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm. Trường hợp có thời gian đóng BHXH cả trước và sau ngày 01 tháng 01 năm 2014 mà thời gian đóng trước ngày 01 tháng 01 năm 2014 có tháng lẻ thì những tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 trở đi để làm căn cứ tính hưởng BHXH một lần.

Mức hưởng BHXH một lần không bao gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, trừ trường hợp người hưởng BHXH một lần do đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ trướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế. Việc hưởng BHXH một lần phải trừ đi số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện. Số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện được tính bằng tổng số tiền Nhà nước hỗ trợ của từng tháng đã đóng BHXH tự nguyện. Mức hỗ trợ của từng tháng được tính theo công thức sau.

Sự sửa đổi mức hưởng BHXH một lần như trên là phù hợp. Bởi theo quy định tại Luật BHXH năm 2006 thì mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm (đủ 12 tháng) tính bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội, trong khi kể từ năm 2014, hàng tháng người lao động đóng với tỷ lệ 22%. Như vậy, mức hưởng BHXH một lần chưa đảm bảo được nguyên tắc đóng – hưởng, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế việc tham gia BHXH tự nguyện của người lao động. Vì vậy, việc sửa đổi tăng mức trợ cấp BHXH một lần cho thời gian đóng BHXH từ 2014 trở đi theo hướng mỗi năm đóng BHXH tương ứng 2 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH là để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi họ đã thực hiện tăng mức đóng góp vào quỹ hưu trí và tử tuất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, trường hợp người lao động tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư thì được giải quyết hưởng trợ cấp một lần. Mức trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu được tính theo thời gian đã đóng BHXH, mỗi năm đóng BHXH trước năm 2014 được tính bằng 1,5 tháng lương hưu đang hưởng, mỗi năm đóng BHXH từ năm 2014 trở đi được tính bằng 02 tháng lương hưu đang hưởng; sau đó mỗi tháng đã hưởng lương hưu thì mức trợ cấp một lần trừ 0,5 tháng lương hưu. Mức thấp nhất bằng 03 tháng lương hưu đang hưởng. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Bên cạnh đó, Luật BHXH năm 2014 còn sửa đổi quy định về việc điều chỉnh lương hưu. Theo đó, việc điều chỉnh lương hưu trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp với ngân sách nhà nước và quỹ BHXH, nhằm bảo đảm giá trị lương hưu trước những biến động về giá của thị trường, từ đó bảo đảm tốt hơn cuộc sống của người về hưu.

Luật BHXH năm 2014 còn sửa đổi quy định về thời điểm hưởng lương hưu theo hướng hợp lý hơn. Cụ thể, thời điểm hưởng lương hưu được tính kể từ tháng liền kề sau tháng người tham gia BHXH đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định. Thời điểm hưởng lương hưu là ngày 01 tháng liền kề sau tháng sinh của năm mà người tham gia BHXH đủ điều kiện hưởng lương hưu. Trường hợp tháng sinh là tháng 12 thì thời điểm hưởng lương hưu là ngày 01 của tháng 01 năm liền kề sau năm mà người tham gia BHXH đủ điều kiện hưởng lương hưu. Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh của người tham gia BHXH (chỉ có năm sinh) thì thời điểm hưởng lương hưu là ngày 01 tháng 01 của năm liền kề sau năm người tham gia BHXH đủ điều kiện hưởng lương hưu. Trường hợp người tham gia BHXH đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của BHXH bắt buộc được nêu tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP năm 2015 mà vẫn tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện thì thời điểm hưởng lương hưu là ngày 01 tháng liền kề sau tháng dừng đóng BHXH tự nguyện và có yêu cầu hưởng lương hưu. Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện đóng một lần cho những năm còn thiếu thì thời điểm hưởng lương hưu được tính từ tháng liền kề sau tháng đóng đủ số tiền cho những năm còn thiếu.

3.1.5 Về trình tự, thủ tục tham gia và giải quyết chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Các thủ tục liên quan đến việc thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện theo Luật BHXH năm 2014 gồm: i. thủ tục tham gia BHXH tự nguyện; ii. thủ tục cấp lại sổ BHXH do sổ BHXH bị hỏng hoặc mất; iii. thủ tục điều chỉnh thông tin tham gia BHXH; iv. thủ tục hưởng lương hưu hoặc BHXH một lần; v. thủ tục giải quyết cho người lao động tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư; vi. thủ tục giải quyết cho người xuất cảnh trái phép trở về nước định cư hợp pháp và người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về muốn hưởng tiếp lương hưu. Trước đây, quy định về thủ tục, hồ sơ tham gia và thụ hưởng chế độ của BHXH còn chưa thật thuận tiện. Hiện nay, quy định của Luật BHXH năm 2014 về các loại thủ tục vừa nêu đã có sự sửa đổi, bổ sung so với trước đây nhằm làm tăng tính phù hợp, khả thi và bao quát hơn các trường hợp có thể phát sinh.

Về thủ tục tham gia BHXH tự nguyện, Luật BHXH năm 2014 quy định người lao động có nguyện vọng tham gia BHXH tự nguyện thì nộp tờ khai tham gia BHXH cho cơ quan BHXH, thời gian cấp sổ thì rút ngắn lại chỉ còn 07 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với người tham gia BHXH tự nguyện lần đầu.

Sổ BHXH do BHXH Việt Nam ban hành để cấp cho các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện để theo dõi quá trình đóng BHXH. Mỗi người tham gia BHXH tự nguyện được cấp một sổ BHXH và được sử dụng chung cho cả thời gian tham gia BHXH bắt buộc và thời gian tham gia BHXH tự nguyện. Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện trước đó đã tham gia BHXH bắt buộc thì sử dụng sổ BHXH đã được cấp để theo dõi quá trình đóng BHXH. Ngoài ra, Luật BHXH năm 2014 còn quy định cụ thể là đến năm 2020, sổ BHXH sẽ được thay thế bằng thẻ BHXH.

Về thủ tục cấp lại sổ BHXH do sổ bị hỏng hoặc mất thì người lao động nộp hồ sơ cấp lại gồm: đơn đề nghị cấp lại sổ BHXH và sổ BHXH trong trường hợp bị hỏng. Cơ quan BHXH có trách nhiệm cấp lại sổ BHXH trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, trường hợp quá trình xác minh thời gian đóng BHXH phức tạp thì không quá 45 ngày. Trường hợp không cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Về thủ tục điều chỉnh thông tin tham gia BHXH thì người lao động nộp hồ sơ gồm: tờ khai điều chỉnh thông tin cá nhân; sổ BHXH; bản sao giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến việc điều chỉnh thông tin cá nhân theo quy định của pháp luật. Cơ quan BHXH có trách nhiệm cấp lại sổ BHXH trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định. Trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Về thủ tục hưởng lương hưu hoặc BHXH một lần thì Luật BHXH năm 2014 quy định hai thủ tục khác nhau để giải quyết hai loại trợ cấp này.

Trường hợp người lao động tham gia BHXH tự nguyện đủ điều kiện hưởng lương hưu thì nộp hồ sơ hưởng lương hưu như sau: sổ BHXH; đơn đề nghị hưởng lương hưu; giấy ủy quyền làm thủ tục giải quyết chế độ hưu trí và nhận lương hưu đối với người đang chấp hành hình phạt tù; văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc trở về nước định cư hợp pháp đối với trường hợp xuất cảnh trái phép; quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với trường hợp người mất tích trở về. Trong thời hạn 30 ngày tính đến thời điểm người lao động được hưởng lương hưu thì người tham gia BHXH tự nguyện nộp hồ sơ như vừa nêu cho cơ quan BHXH. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động, trường hợp không giải quyết thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Còn trong trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH một lần thì chuẩn bị hồ sơ như sau: sổ BHXH; đơn đề nghị hưởng BHXH một lần của người lao động. Đối với người ra nước ngoài để định cư phải nộp thêm bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong các giấy tờ sau đây: hộ chiếu do nước ngoài cấp; thị thực của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp có xác nhận việc cho phép nhận cảnh với lý do định cư ở nước ngoài; giấy tờ xác nhận về việc đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài, giấy tờ xác nhận hoặc thẻ thường trú, cư trú có thời hạn từ 05 năm trở lên của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp. Còn nếu người lao động thuộc trường hợp tại điểm c khoản 1 Điều 77 của Luật BHXH năm 2014 thì nộp thêm trích sao hồ sơ bệnh án. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động; nếu không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trường hợp người đang hưởng lương hưu chuyển đến nơi ở khác trong nước mà muốn được hưởng BHXH ở nơi mới thì người hưởng lương hưu phải có đơn gửi tổ chức BHXH nơi đang hưởng. Tổ chức BHXH có trách nhiệm giải quyết trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được đơn; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Về thủ tục giải quyết cho người lao động tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư thì người đang hưởng lương hưu nộp hồ sơ hưởng trợ cấp một lần như sau: đơn đề nghị hưởng BHXH một lần của người lao động; bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong các giấy tờ sau đây: hộ chiếu do nước ngoài cấp; thị thực của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp có xác nhận việc cho phép nhận cảnh với lý do định cư ở nước ngoài; giấy tờ xác nhận về việc đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài, giấy tờ xác nhận hoặc thẻ thường trú, cư trú có thời hạn từ 05 năm trở lên của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Về thủ tục giải quyết cho người xuất cảnh trái phép trở về nước định cư hợp pháp và người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về muốn hưởng tiếp lương hưu thì hồ sơ nộp cho cơ quan BHXH bao gồm: đơn đề nghị hưởng tiếp lương hưu; văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc trở về nước định cư hợp pháp đối với người xuất cảnh trái phép trở về nước định cư hợp pháp; quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với trường hợp Tòa án tuyên bố mất tích trở về đã có hiệu lực pháp luật. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết, trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Ngoài các thủ tục trên, Nghị định số 134/2015/NĐ-CP năm 2015 có quy định thêm về thủ tục đăng ký lại phương thức đóng và mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện và thủ tục hưởng hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện. Để đăng ký lại phương thức đóng và mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện thì người tham gia BHXH tự nguyện nộp hồ sơ bao gồm: Sổ BHXH và tờ khai tham gia BHXH cho cơ quan BHXH. Cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết trong ngày đối với trường hợp nhận đủ hồ sơ theo quy định. Trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Để hưởng hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện, người tham gia BHXH tự nguyện nộp hồ sơ gồm: Tờ khai tham gia BHXH tự nguyện đối với trường hợp đăng ký tham gia BHXH tự nguyện lần đầu hoặc tờ khai điều chỉnh thông tin cá nhân đối với trường hợp đã tham gia BHXH tự nguyện cho cơ quan BHXH. Cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết trong ngày đối với trường hợp nhận đủ hồ sơ theo quy định. Trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

3.1.6 Về khiếu nại, tố cáo liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

Việc khiếu nại, tố cáo liên quan đến chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện không có quy định riêng biệt mà được quy định chung trong phần quy định về khiếu nại, tố cáo về BHXH. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Chủ thể có quyền khiếu nại, chủ thể có quyền giải quyết khiếu nại và trường hợp được khiếu nại theo quy định của Luật BHXH năm 2014 như sau: Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH và những người khác có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về BHXH, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Quy định về khiếu nại về BHXH như nêu trên là phù hợp với cách giải thích thuật ngữ “khiếu nại” được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011, cho thấy sự thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật với nhau. Tuy Luật BHXH năm 2014 quy định “người sử dụng lao động” cũng là chủ thể có quyền khiếu nại nhưng họ không phải là đối tượng áp dụng và cũng không có vai trò trực tiếp nào trong việc thực hiện các nội dung của BHXH tự nguyện. Do đó, việc khiếu nại liên quan đến chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện thì không có người sử dụng lao động mà chỉ có các đối tượng sau: người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH và những người khác.

Về trình tự giải quyết khiếu nại thì Luật BHXH năm 2014 quy định thành hai trường hợp với hai trình tự khác nhau, tùy thuộc vào từng loại đối tượng khiếu nại. Trường hợp thứ nhất, nếu đối tượng khiếu nại là các quyết định, hành vi hành chính về BHXH thì việc giải quyết khiếu được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trường hợp thứ hai, nếu đối tượng khiếu nại không phải là các quyết định, hành vi hành chính về BHXH thì Luật BHXH năm 2014 có quy định cụ thể về trình tự giải quyết khiếu nại. Theo đó, người khiếu nại có quyền lựa chọn một trong hai hình thức sau đây: thứ nhất là khiếu nại lần đầu đến cơ quan, người đã ra quyết định hoặc người có hành vi vi phạm. Trường hợp cơ quan, người có quyết định, hành vi về BHXH bị khiếu nại không còn tồn tại thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có trách nhiệm giải quyết. Nếu người khiếu nại không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh. Nếu người khiếu nại vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án; thứ hai là khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật. Trong các trường hợp khiếu nại vừa nêu thì thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

Ngoài ra, theo Luật BHXH năm 2014 thì việc tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật được áp dụng theo quy định của pháp luật về tố cáo. Việc quy định như vậy là tạo sự phù hợp, thống nhất giữa các văn bản pháp luật.

Tóm lại, việc ban hành Luật BHXH năm 2014 đã kịp thời thể chế hóa các quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp về quyền được bảo đảm ASXH của công dân, khắc phục những bất cập của Luật BHXH năm 2006, đáp ứng nguyện vọng của người lao động và góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về ASXH phù hợp với quá trình phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm ASXH và hội nhập quốc tế.

3.2. Hạn chế trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

BHXH tự nguyện được thực hiện từ năm 2008 theo quy định của Luật BHXH năm 2006. Đến nay, BHXH tự nguyện đã góp phần làm chính sách BHXH đi vào cuộc sống, từng bước mở rộng đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH, phát huy tích cực việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, góp phần thực hiện mục tiêu ASXH của Nhà nước. Qua từng năm, số lượng người tham gia BHXH tự nguyện đều tăng dần. Trong năm 2008, số người tham gia là 6.110 người; năm 2009 là 41.193 người; năm 2010 là 81.319 người; năm 2011 là 96.400 người; đến năm 2012 là 139.643 người, tăng gấp 22,9 lần so với năm 2008. Năm 2013, đối tượng tham gia BHXH tự nguyện đạt 173.462 người. Năm 2014, có 196.254 người tham gia. Tính đến ngày 31/12/2015, đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là 254.643 người, tăng 31,71% so với cùng kỳ năm 2014. Các số liệu vừa nêu được lập thành bảng như sau: Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

  • Bảng: Số người tham gia BHXH tự nguyện giai đoạn 2008- 2015

Số thu BHXH tự nguyện cũng được tăng dần qua các năm: năm 2008 thu được 10,8 tỷ đồng; năm 2009 là 69,4 tỷ đồng; năm 2010 là 174,4 tỷ đồng; năm 2011 là 251,2 tỷ đồng; năm 2012 là 379,4 tỷ đồng; năm 2013 là 529 tỷ đồng. Năm 2014, thu BHXH tự nguyện là 742,71 tỷ đồng. Năm 2015, thu BHXH tự nguyện là 827,6 tỷ đồng, tăng 16,78% so với cùng kỳ năm 2014.

  • Bảng 8: Thu Quỹ BHXH tự nguyện từ đóng góp của người lao động 2008- 2015

Qua số liệu nêu trên, thấy rằng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn rất thấp so với số người thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện (mới chỉ chiếm khoảng 0,3% số người thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện). Hầu hết đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là những người đã có thời gian đóng BHXH bắt buộc, tham gia BHXH tự nguyện để đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định (chiếm trên 70% tổng số đối tượng tham gia) và những cán bộ bán chuyên trách cấp xã được chính quyền địa phương hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện. Điều này là chưa tương xứng với tiềm năng triển khai thực hiện loại hình BHXH tự nguyện để người lao động được hưởng chế độ hưu trí khi về hưu.

Năm 2010, lực lượng lao động của nước ta vào mức 48 triệu người, trong đó lao động khu vực chính thức chiếm 13 triệu người, lao động khu vực phi chính thức chiếm 11 triệu người, còn lại gần 24 triệu người làm việc trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp (chiếm 49% tổng việc làm trong nền kinh tế). Năm 2015, tổng lực lượng lao động đạt gần 55,9 triệu; đạt 60 triệu vào năm 2020; đạt 65,4 triệu vào năm 2050. Người lao động thuộc diện đóng BHXH bắt buộc sẽ tăng từ 16,3 triệu hiện nay lên trên 38,3 triệu vào năm 2050. Như vậy, đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện luôn chiếm khoảng 50% lực lượng lao động của cả nước. Nhưng số lượng người lao động tham gia BHXH tự nguyện quá thấp như trên thì việc bảo đảm an sinh tuổi già cho người lao động trong tương lai bằng chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện là không hiệu quả. Nếu không mở rộng diện bao phủ BHXH tới đông đảo người lao động thì trong tương lai, đất nước sẽ phải đối mặt với hàng triệu người lao động bước vào tuổi nghỉ hưu không có thu nhập từ lương hưu, gánh nặng này sẽ thuộc về Nhà nước, đó là phải trợ cấp xã hội cho hàng triệu người để hỗ trợ cuộc sống của họ.

Nguyên nhân của việc chưa thu hút được đông đảo người dân tham gia BHXH tự nguyện một phần là do các quy định của pháp luật về các chế độ, trong đó có chế độ hưu trí chưa hấp dẫn được người lao động. Tuy rằng, Luật BHXH năm 2014 đã có những sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện quy định của pháp luật về chế độ hưu trí nhưng khi đánh giá tính khả thi khi áp dụng vào thực tế và khi so sánh với quy định của pháp luật quốc tế, cũng như quy định của pháp luật của một số quốc gia trên thế giới thì Luật BHXH năm 2014 vẫn còn những điểm chưa hoàn thiện, có thể bổ sung, sửa đổi để hoàn thiện hơn. Phần nội dung tiếp theo sẽ phân tích, đánh giá về các điểm còn hạn chế của quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện trong Luật BHXH năm 2014, từ đó đưa ra đề xuất để khắc phục các điểm còn hạn chế này.

3.2.1 Về giải thích từ ngữ Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Hiện nay, Luật BHXH năm 2014 không có quy định để giải thích như thế nào là chế độ hưu trí, mà chỉ quy định “hưu trí” là một trong các chế độ của BHXH.

Việc không có sự giải thích về thuật ngữ chế độ hưu trí trong Luật BHXH dẫn tới việc hiểu không thống nhất về nội dung thuật ngữ này, thậm chí còn có thể hiểu sai lệch, cho rằng chế độ hưu trí là một đặc quyền của người lao động làm trong lĩnh vực công hoặc trong lĩnh vực tư nhân mà ở đó pháp luật quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động, còn người lao động trong khu vực phi chính thức và nông nghiệp thì không có quyền được tham gia và hưởng chế độ hưu trí. Mặt khác, khi triển khai thực hiện BHXH tự nguyện, nếu không có sự quy định thống nhất về khái niệm chế độ hưu trí trong BHXH thì sẽ khó tuyên truyền cho người lao động hiểu và tham gia, có trường hợp ở mỗi nơi thì cán bộ tuyên truyền theo mỗi cách khác nhau, từ đó không đạt hiệu quả trong việc phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện.

Trong khi đó, Công ước số 102 năm 1952 của ILO khi quy định về chín trường hợp dự phòng trong ASXH, trong đó có trợ cấp tuổi già, thì đều có điều khoản quy định nội dung của trường hợp dự phòng là gì. Đây là sự giải thích về mặt thuật ngữ để đưa đến cách hiểu thống nhất khi áp dụng trong thực tế. Theo Điều 25 và Điều 26 của Công ước này thì trợ cấp tuổi già là sự bảo đảm được nhận trợ cấp cho người sống lâu hơn một độ tuổi được quy định.

Nếu pháp luật Việt Nam có sự giải thích rõ ràng về “chế độ hưu trí trong BHXH” thì sẽ đưa ra cách hiểu thống nhất, cho thấy quyền được hưởng chế độ hưu trí trong BHXH là một trong những quyền con người được Nhà nước bảo đảm thực hiện cho tất cả mọi người. Theo nội dung được nêu tại tiểu mục 1.1.1 của luận văn này thì khái niệm về chế độ hưu trí trong BHXH phải thể hiện được bản chất và mục đích của khái niệm trợ cấp tuổi già theo tiêu chuẩn quốc tế. Đó là việc trợ cấp được cung cấp nhằm thay thế thu nhập cho người sống lâu hơn một độ tuổi được quy định.

Do Việt Nam thực hiện hai loại hình BHXH là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, sau này lại có thêm bảo hiểm hưu trí bổ sung nên việc định nghĩa chế độ hưu trí trong BHXH cần được quy định tại điều luật về giải thích từ ngữ ở phần những quy định chung của Luật BHXH. Theo quy định tại Điều 9 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 do Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008 (viết tắt là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008) thì việc bổ sung quy định đối với Luật BHXH sẽ do Quốc hội, là cơ quan có thẩm quyền ban hành Luật BHXH thực hiện. Mặt khác, do Việt Nam có cung cấp thêm bảo hiểm y tế cho người hưởng lương hưu nên khái niệm về chế độ hưu trí trong BHXH cần được phát biểu theo nghĩa rộng. Theo đó, đề xuất Luật BHXH nên được bổ sung quy định về giải thích từ ngữ như sau:“Chế độ hưu trí là quy định về việc cung cấp khoản trợ cấp nhằm thay thế thu nhập và lợi ích khác cho người sống lâu hơn một độ tuổi được quy định khi người đó tham gia bảo hiểm xã hội và đủ điều kiện để hưởng trợ cấp và lợi ích theo quy định về bảo hiểm xã hội”.

3.2.2 Về nguyên tắc bảo hiểm xã hội

Luật BHXH năm 2014 đã có sự sửa đổi, bổ sung nguyên tắc BHXH phù hợp hơn so với Luật BHXH năm 2006. Theo đó, các nguyên tắc để thực hiện BHXH gồm năm nguyên tắc sau: Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

  1. Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH;
  2. Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động tự chọn;

Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH. Thời gian đóng BHXH được tính hưởng BHXH một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH;

  1. Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định;
  2. Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.

Những nguyên tắc nêu trên đã góp phần quan trọng trong việc định hướng thực hiện BHXH, trong đó có việc thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, so với quy định của pháp luật quốc tế về ASXH nói chung, BHXH nói riêng, và dựa trên yêu cầu của thực tiễn thì pháp luật Việt Nam cần quy định thêm một số nguyên tắc để bảo đảm tính khả thi, hiệu quả trong việc thực hiện quy định của pháp luật về BHXH, trong đó có chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Nguyên tắc về BHXH mà Việt Nam cần bổ sung là nguyên tắc Nhà nước chịu trách nhiệm chung. Ngoài ra, cần bổ sung thêm nội dung về “đoàn kết xã hội” và “bảo đảm bền vững về tài chính, công bằng và bình đẳng” vào nội dung các nguyên tắc tương ứng.

Về mặt cơ sở pháp lý, các nguyên tắc hoặc nội dung của nguyên tắc được đề xuất bổ sung vào nguyên tắc BHXH tại Việt Nam là các nguyên tắc đã được pháp luật quốc tế ghi nhận. Đây là các nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện như đã được nêu tại mục 1.4 của luận văn này. So với các nguyên tắc khác được pháp luật quốc tế ghi nhận thì các nguyên tắc được đề xuất bổ sung có vai trò định hướng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện tại Việt Nam. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Trong các nguyên tắc được được đề xuất bổ sung, đáng chú ý là nguyên tắc Nhà nước chịu trách nhiệm chung. Trong các quy định về ASXH của ILO, nhất là sự khẳng định mạnh mẽ gần đây của Khuyến nghị số 202 năm 2012 của ILO cho thấy trách nhiệm chung của Nhà nước trong lĩnh vực này chắc chắn sẽ đóng vai trò quan trọng trong tương lai khi Nhà nước phải chịu trách nhiệm cho sự bền vững của hệ thống ASXH quốc gia. Trong thực tế, xu hướng hướng phát triển của ASXH ở các nước châu Âu cho thấy vai trò ngày càng tăng và có hiệu quả của Nhà nước từ giai đoạn đầu. Bài học này là một trong những điều quan trọng từ quan điểm hiện đại, nơi nhiều người được thuyết phục để nghĩ rằng Nhà nước tại các nước đang phát triển chưa có một vị trí để giải quyết toàn bộ các vấn đề liên quan đến ASXH cơ bản. Chính trong bối cảnh này mà sự chú ý đáng kể đã được trao cho vai trò của các nhân tố ngoài Nhà nước trong việc thực hiện một số khía cạnh của ASXH cơ bản. Điều này nghe có vẻ hợp lý trong điều kiện hiện nay, nhưng kinh nghiệm lịch sử cho thấy hầu như không có một sự thay thế hiệu quả cho vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp ASXH, đặc biệt là cho bộ phận dân số nghèo. Do đó, khi quy định về các nguyên tắc BHXH, trước hết phải kể đến nguyên tắc Nhà nước chịu trách nhiệm chung.

Còn việc bổ sung nội dung “đoàn kết xã hội” và “bảo đảm bền vững về tài chính, công bằng và bình đẳng” vào nội dung các nguyên tắc tương ứng là nhằm đáp ứng các yêu cầu trọng yếu mà BHXH nói chung, chế độ hưu trí nói riêng cần đạt được trong thời gian tới, tạo cơ sở để thực hiện tốt hơn chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện. Trong đó, yếu tố đoàn kết xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện ASXH nói chung, chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện nói riêng bởi vì đối tượng tham gia BHXH tự nguyện đa phần là những người không có thu nhập ổn định và là những người dễ bị tổn thương trước những biến động kinh tế – xã hội, nên sự trợ giúp cho họ tham gia BHXH tự nguyện, để họ được hưởng chế độ hưu trí trên cơ sở đoàn kết xã hội là cần thiết. Ngoài ra, suy cho cùng thì mục tiêu lớn nhất trong việc quản lý và hoạt động của quỹ BHXH chính là bảo đảm được sự bền vững về mặt tài chính để thực hiện các chế độ, nhất là chế độ hưu trí cho người lao động, đồng thời cũng phải bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về quyền lợi giữa các đối tượng tham gia và hưởng chế độ hưu trí. Do đó, việc pháp luật quy định sự bền vững về mặt tài chính, công bằng và bình đẳng vào nguyên tắc BHXH là phù hợp.

Qua những phân tích như đã nêu trên, để kịp thời định hướng thực hiện BHXH tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, tạo cơ sở để thực hiện tốt chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyên, thấy rằng pháp luật về BHXH của Việt Nam nên ghi nhận thêm một số nguyên tắc tại điều luật về nguyên tắc thực hiện BHXH. Việc bổ sung sẽ do Quốc hội, là cơ quan có thẩm quyền sửa đổi Luật BHXH thực hiện. Nội dung đề xuất bổ sung cụ thể như sau:

Trước hết, nên bổ sung nguyên tắc “Nhà nước chịu trách nhiệm chung về thực hiện BHXH” và sắp xếp nguyên tắc này là nguyên tắc đầu tiên trong các nguyên tắc BHXH. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Tiếp theo, nên bổ sung nội dung về “đoàn kết xã hội” vào khoản 1 Điều 5 Luật BHXH năm 2014 để tạo thành nguyên tắc về BHXH như sau: “Mức hưởng BHXH tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH, có sự chia sẻ giữa những người tham gia BHXH và đoàn kết xã hội”.

Bên cạnh đó, bổ sung thêm nội dung về “bền vững về mặt tài chính cùng với bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội” vào khoản 4 Điều 5 Luật BHXH năm 2014 để tạo thành nguyên tắc như sau: “Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch nhằm bảo đảm bền vững về tài chính, công bằng và bình đẳng; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định”.

Về nội dung quy định tại Điều 110 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về giải quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần và nội dung quy định tại khoản 5 Điều 109 về hồ sơ hưởng trợ cấp một lần trong trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư.

Hiện nay, Điều 110 Luật BHXH năm 2014 quy định về giải quyết hưởng lương hưu, BHXH một lần có nội dung cụ thể như sau:

  1. Trong thời hạn 30 ngày tính đến thời điểm người lao động được hưởng lương hưu, người sử dụng lao động nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 108 của Luật này cho cơ quan BHXH.
  2. Trong thời hạn 30 ngày tính đến thời điểm người lao động được hưởng lương hưu, người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH, người tham gia BHXH tự nguyện nộp hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 108 của Luật này cho cơ quan BHXH.
  3. Trong thời hạn 30 ngày tính đến thời điểm người lao động đủ điều kiện và có yêu cầu hưởng BHXH một lần nộp hồ sơ quy định tại Điều 109 của Luật này cho cơ quan BHXH. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.
  4. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với người hưởng lương hưu hoặc trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với trường hợp hưởng BHXH một lần, cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động; trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trong nội dung quy định nêu trên, có những đoạn quy định gây sự khó hiểu cho người đọc, không bảo đảm được tính rõ ràng, chính xác của quy định của pháp luật.

Đầu tiên, liên quan đến việc nộp hồ sơ của người tham gia BHXH tự nguyện thì khoản 2 Điều 110 Luật BHXH năm 2014 quy định các cụm từ chỉ chủ thể được đặt liên tiếp nhau mà không có các từ liên kết hay các từ chỉ mối quan hệ, từ đó gây sự khó hiểu, không rõ ràng khi áp dụng quy định của pháp luật vào thực tế.

Tiếp theo, khoản 4 Điều 110 Luật BHXH năm 2014 cũng quy định chưa được hợp lý. Bởi vì, cùng là trường hợp giải quyết hưởng trợ cấp trong chế độ hưu trí, nhưng đối với hồ sơ hưởng lương hưu thì quy định là “đối với người hưởng lương hưu”, còn đối với hồ sơ hưởng BHXH một lần thì quy định là “đối với trường hợp hưởng BHXH một lần” là không thống nhất. Mặt khác, hồ sơ hưởng lương hưu có thể không được giải quyết khi không đủ kiều kiện nên nếu chỉ mới nộp hồ sơ thì chưa nên gọi là “người hưởng lương hưu”. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Ngoài ra, khoản 5 Điều 109 Luật BHXH năm 2014 quy định về thành phần hồ sơ để giải quyết hưởng trợ cấp một lần đối với người tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư. Đồng thời, Điều 77 của Luật BHXH năm 2014 quy định việc thực hiện giải quyết trợ cấp một lần đối với người lao động tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư được thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Luật này. Điều này cho thấy, bản chất của khoản trợ cấp một lần cho người tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư khác với BHXH một lần, cũng khác với khoản trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Tuy nhiên, Luật BHXH năm 2014 lại không có quy định về thời hạn để cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho hưởng khoản trợ cấp một lần này. Đây là điểm thiếu sót trong quy định của pháp luật, bởi lẽ nếu chỉ quy định về trường hợp được hưởng, thành phần hồ sơ để giải quyết hưởng mà lại không có quy định về thời hạn giải quyết và tổ chức chi trả trợ cấp một lần cho người tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư thì sẽ tạo sự không thống nhất, không có căn cứ khi áp dụng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hưởng trợ cấp một lần của người đang hưởng lương hưu khi họ ra nước ngoài để định cư.

Bên cạnh đó, liên quan đến hồ sơ hưởng trợ cấp một lần trong trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư thì Luật BHXH năm 2014 quy định chung trong Điều 109 về hồ sơ hưởng BHXH một lần, nội dung tại khoản 5 Điều này như sau: “Đối với người lao động quy định tại Điều 65 và khoản 5 Điều 77 của Luật này thì hồ sơ hưởng trợ cấp một lần được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này”. Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 109 Luật BHXH năm 2014 thì hồ sơ bao gồm: i/ Đơn đề nghị hưởng BHXH một lần của người lao động (khoản 2 Điều 109 Luật BHXH năm 2014); ii/ Bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong các giấy tờ sau đây: hộ chiếu do nước ngoài cấp; thị thực của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp có xác nhận việc cho phép nhận cảnh với lý do định cư ở nước ngoài; giấy tờ xác nhận về việc đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài, giấy tờ xác nhận hoặc thẻ thường trú, cư trú có thời hạn từ 05 năm trở lên của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp (khoản 3 Điều 109 Luật BHXH năm 2014). Trong quy định vừa nêu, nội dung về “Đơn đề nghị hưởng BHXH một lần của người lao động” là điểm không phù hợp, do không thể hiện được trường hợp phải giải quyết chính xác mà hồ sơ hướng đến. Đây là quy định về hồ sơ để giải quyết “trợ cấp một lần” chứ không phải là “BHXH một lần”, đối tượng được hưởng khoản trợ cấp này là “người lao động tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư”, chứ không phải là “người lao động”. Như vậy, việc quy định về “Đơn đề nghị hưởng BHXH một lần của người lao động” trong trường hợp vừa phân tích như đã nêu là không đúng loại trợ cấp, không đúng đối tượng hưởng trợ cấp cũng như không đúng đối tượng có trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ, làm ảnh hưởng đến tính chính xác, chuẩn mực của quy định của pháp luật.

Qua các điểm hạn chế nêu trên, thấy rằng cần phải sớm sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng khi áp dụng vào thực tế. Tương ứng với từng điểm hạn chế đã được phân tích, tác giả đề xuất Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền ban hành, cũng là cơ quan có thẩm quyền sửa đổi Luật BHXH nên có sự sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về BHXH như sau:

Trước tiên, tại khoản 2 Điều 110 Luật BHXH năm 2014 thì nên bổ sung thêm từ ngữ để làm rõ nghĩa về mặt chủ ngữ của điều luật, cụ thể như sau: “Trong thời hạn 30 ngày tính đến thời điểm người lao động được hưởng lương hưu thì người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH, người tham gia BHXH tự nguyện nộp hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 108 của Luật này cho cơ quan BHXH”. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Tiếp theo, để tạo sự thống nhất trong quy định của pháp luật thì nên sửa đổi quy định tại khoản 4 Điều 110 Luật BHXH năm 2014 theo hướng: “Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với trường hợp hưởng lương hưu …”.

Ngoài ra, để có căn cứ thực hiện thủ tục và bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng trợ cấp một lần khi ra nước ngoài để định cư thì nên bổ sung thêm thời hạn để giải quyết trường hợp này vào nội dung khoản 4 Điều 110 Luật BHXH năm 2014. Đồng thời, để bảo đảm tính liên kết với các chế độ của BHXH bắt buộc thì nên quy định đây là thời hạn chung cho cả trường hợp về giải quyết trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng ra nước ngoài để định cư, cụ thể như sau: “… hoặc trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định đối với trường hợp hưởng BHXH một lần, trường hợp hưởng trợ cấp một lần khi người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng ra nước ngoài để định cư, cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động, trường hợp không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do”.

Sau cùng, nên sửa đổi nội dung quy định tại khoản 5 Điều 109 về hồ sơ hưởng trợ cấp một lần trong trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư. Do hồ sơ trong trường hợp này cũng được sử dụng trong trường hợp giải quyết trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng ra nước ngoài để định cư trong BHXH bắt buộc, nên để vừa bao quát các trường hợp, vừa thể hiện chính xác nội dung trợ cấp và đối tượng hưởng trợ cấp thì nên sửa đổi quy định của pháp luật theo hướng: “Đối với người lao động trường hợp quy định tại Điều 65 và khoản 5 Điều 77 của Luật này thì hồ sơ hưởng trợ cấp một lần gồm đơn đề nghị hưởng trợ cấp một lần và được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này”.

3.2.3 Về nội dung quy định tại Điều 64 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Luật BHXH năm 2014 quy định việc tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu đối với người tham gia BHXH tự nguyện được thực hiện theo quy định tại Điều 64 của Luật này. Nội dung Điều 64 Luật BHXH năm 2014 được quy định như sau:

  1. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng bị tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
  2. Xuất cảnh trái phép;
  3. Bị Tòa án tuyên bố là mất tích;
  4. Có căn cứ xác định việc hưởng BHXH không đúng quy định của pháp luật.
  5. Lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng được tiếp tục thực hiện khi người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp theo quy định của pháp luật về cư trú. Trường hợp có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích thì ngoài việc tiếp tục được hưởng lương hưu, trợ cấp còn được truy lĩnh tiền lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng kể từ thời điểm dừng hưởng.
  6. Cơ quan BHXH khi quyết định tạm dừng hưởng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tạm dừng hưởng, cơ quan BHXH phải ra quyết định giải quyết hưởng; trường hợp quyết định chấm dứt hưởng BHXH thì phải nêu rõ lý do.

Xem xét nội dung quy định nêu trên, thấy rằng khoản 1 có điểm không hợp lý, đó là cụm từ “hưởng tiếp” nằm trong đoạn “Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng bị tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:…”. Cụm từ này làm cho quy định của pháp luật trở nên không rõ nghĩa, thậm chí là mang lại cách hiểu trái ngược nhau, bởi vì khoản 1 Điều 64 nêu trên là quy định về trường hợp “tạm dừng”, còn trường hợp “hưởng tiếp” thì được quy định tại khoản 2 Điều luật này, nên trong khoản 1 Điều 64 vừa nêu mà có cả cụm từ “tạm dừng” và “hưởng tiếp” là không hợp lý. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Do đó, để tạo sự hợp lý, thống nhất trong quy định của pháp luật thì nên bỏ đi cụm từ “hưởng tiếp” tại khoản 1 Điều 64 Luật BHXH năm 2014, cụ thể nên sửa đổi nội dung quy định này thành: “1. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng bị tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:…”.

3.2.4 Về nội dung quy định về mức hưởng lương hưu thấp nhất trong trường hợp có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Hiện nay, điểm a khoản 1 Điều 71 Luật BHXH năm 2014 quy định như sau:

“1. Chế độ hưu trí và tử tuất đối với người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được thực hiện như sau:

Có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên thì điều kiện, mức hưởng lương hưu thực hiện theo chính sách BHXH bắt buộc; mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương cơ sở, trừ đối tượng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 của Luật này;

Tuy nhiên, khi quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH năm 2014 về BHXH tự nguyện thì Nghị định số 134/2015/NĐ-CP năm 2015 hướng dẫn quy định nêu trên tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này như sau:

“Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên, trừ đối tượng quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH và điểm c khoản 2 Điều này thì mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng lương hưu”.

Qua hai quy định nêu trên có thể thấy Nghị định số 134/2015/NĐ-CP năm 2015 khi hướng dẫn quy định của Luật BHXH năm 2014 thì đã bổ sung thêm trường hợp tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Nghị định này vào các trường hợp không được hưởng mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng lương hưu. Tuy nhiên, việc bổ sung của Nghị định số 134/2015/NĐ-CP năm 2015 là không hợp lý, trái với quy định của Luật BHXH năm 2014 và không bảo đảm tính liên kết với chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Sự không hợp lý và trái với quy định của Luật trong quy định của Nghị định là do trường hợp được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định số 134/2015/NĐ- CP năm 2015 là trường hợp về lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc, đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của BHXH bắt buộc (khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH bắt buộc và đủ 55 tuổi), nay bảo lưu thời gian đã đóng BHXH và tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện thì được hưởng lương hưu khi có yêu cầu. Xem xét quy định này thấy rằng, dù lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn có tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện thì số năm đóng BHXH bắt buộc của họ luôn dưới 20 năm. Do đó không thể xếp họ vào trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc nhưng không được hưởng lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương cơ sở.

Để quy định của Nghị định số 134/2015/NĐ-CP được phù hợp và thống nhất với quy định của Luật BHXH năm 2014 thì nên sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này. Theo đó, nên bỏ đi trường hợp tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Nghị định này trong quy định tại khoản 3 Điều 5 trong cùng Nghị định và quy định lại theo tinh thần nội dung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Luật BHXH năm 2014. Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền ban hành Nghị định nên Chính phủ cũng là cơ quan có thẩm quyền sửa đổi quy định trong Nghị định. Do đó, đề xuất cơ quan có thẩm quyền nên sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP theo hướng: “Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên, trừ đối tượng quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH và điểm c khoản 2 Điều này thì mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng lương hưu”.

3.2.5 Về xây dựng bảng đóng tiền bảo hiểm xã hội tự nguyện và tiền lương hưu tương ứng

Hiện nay, liên quan đến việc đóng BHXH để được hưởng chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện thì Luật BHXH năm 2014 chỉ quy định về mức đóng, mức hưởng mang tính áp dụng chung. Các văn bản hướng dẫn Luật BHXH năm 2014 về BHXH tự nguyện như Nghị định 134/2015/NĐ-CP năm 2015, Thông tư 01/2016/TT- BLĐTBXH năm 2016 khi hướng dẫn cụ thể về mức đóng, mức hưởng, mức hỗ trợ thì đưa ra các công thức tính toán cụ thể. Tuy nhiên, việc hiểu và áp dụng được các công thức này là điều không dễ dàng đối với đa số người dân vì cách tính toán, giải thích có phần phức tạp.

Trong khi đó, đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện chủ yếu là người lao động trong khu vực phi chính thức, nông nghiệp nên việc giải thích rõ ràng, nhanh chóng các vấn đề nêu trên để họ tham gia BHXH tự nguyện là điều không dễ thực hiện, nhất là trong trường hợp họ thường không có nhiều thời gian để nghe cán bộ BHXH hướng dẫn cụ thể. Do đó, người lao động có thể chưa hiểu hết sự bản chất về sự bảo đảm cuộc sống khi về già của chế độ hưu trí nói riêng, sự hỗ trợ, tạo điều kiện của Nhà nước để thực hiện BHXH tự nguyện nói chung. Điều này góp phần làm giảm tính hấp dẫn của chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện trong mắt người lao động. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Nhìn lại nội dung thực hiện BHXH của Philippines, tuy rằng pháp luật của quốc gia này về BHXH cũng có nhiều nội dung, có sự phân loại nhiều trường hợp khác nhau nhưng quốc gia này lại xây dựng được bảng thể hiện 31 lớp thu nhập để tính tỷ lệ đóng góp của người tham gia BHXH. Bảng tính này thể hiện giới hạn tối thiểu của thu nhập làm căn cứ đóng BHXH, từng lớp thu nhập tương ứng với mức đóng góp BHXH trong từng lớp thu nhập này của các đối tượng tham gia BHXH. Vì vậy, khi cần xem nhanh trường hợp về mức đóng góp tương ứng với mức thu nhập nào thì có thể căn cứ vào bảng tính này.

Việt Nam hiện đã có những quy định cụ thể về mức đóng, mức hưởng, mức hỗ trợ cũng như có quy định về mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và mức lương cơ sở. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Việt Nam xây dựng bảng đóng tiền BHXH tự nguyện và tiền lương hưu tương ứng. Bảng tính này sẽ có sự tính toán rõ ràng, đưa ra các con số cụ thể về mức đóng BHXH tự nguyện từ mức tối thiểu đến mức cao nhất, mức hỗ trợ và tiền lương hưu tương ứng với từng trường hợp. Việc xây dựng bảng tính này tại Việt Nam sẽ có tác dụng rất lớn trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn, thuyết phục người lao động tham gia BHXH tự nguyện để hưởng chế độ hưu trí khi về già vì có sự rõ ràng, trực quan, cụ thể, thuận tiện, giúp người lao động nhanh chóng nắm bắt được thông tin và dễ dàng đưa ra quyết định.

Do cần áp dụng thống nhất trong việc tuyên truyền, hướng dẫn người lao động tham gia BHXH tự nguyện tại Việt Nam nên việc tính toán, xây dựng nội dung và ban hành bảng đóng tiền BHXH tự nguyện và tiền lương hưu tương ứng nên do cơ quan Nhà nước quản lý về BHXH thực hiện, và nên chọn hình thức văn bản phù hợp để áp dụng trên toàn quốc.

Căn cứ vào các quy định chung về mức đóng, mức hưởng, mức hỗ trợ của các văn bản pháp luật hiện nay như: Luật BHXH năm 2014, Nghị định 134/2015/NĐ-CP năm 2015, Thông tư 01/2016/TT-BLĐTBXH năm 2016, Quyết định số 59/2015/QĐ- TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 (trong đó quy định chuẩn nghèo ở nông thông là 700.000 đồng/người/tháng), Nghị quyết số 99/2015/QH13 ngày 11/11/2015 của Quốc hội về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016 (trong đó quy định từ ngày 01/5/2015 thì mức lương cơ sở là 1.210.000 đồng/tháng) thì bảng đóng tiền BHXH tự nguyện và tiền lương hưu tương ứng có thể có nội dung như bảng được nêu dưới đây.

Thông qua bảng tính được nêu ở phần dưới này, có thể thấy ngay được những ưu điểm của chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện, đó là mức đóng linh hoạt và sự hỗ trợ rất lớn từ phía Nhà nước trong việc đóng tiền BHXH, nhất là đối với các đối tượng thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Điều này thể hiện sự quan tâm và quyết tâm của Nhà nước trong việc thực hiện loại hình BHXH tự nguyện nói chung, trong việc bảo đảm cuộc sống cho người già nói riêng, từ đó đạt được các mục tiêu trong việc thực hiện chế độ hưu trí, cũng như trong chính sách về BHXH, ASXH.

KẾT LUẬN Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

  • Sau quá trình nghiên cứu đề tài, có thể rút ra một số kết luận như sau:

Chế độ hưu trí là chế độ cơ bản, quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội nói chung, bảo hiểm xã hội nói riêng. Việc thực hiện chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện bảo đảm an sinh tuổi già cho người lao động không thuộc diện áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện, pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện đã bộc lộ một số điểm không phù hợp. Thậm chí cả khi Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 có hiệu lực thi hành thì vẫn tồn tại một số điểm hạn chế trong quy định của pháp luật. Để phát huy được vai trò quan trọng của chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện các quy định của pháp luật, tạo hành lang pháp lý phù hợp cho quá trình thực hiện chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trong đó, các đề xuất sửa đổi, bổ sung cần được xem xét là:

  • Giải thích nội dung của khái niệm về “chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội” để người tham gia hiểu được bản chất và lợi ích của chế độ hưu trí khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
  • Quy định thêm các nguyên tắc thực hiện bảo hiểm xã hội để góp phần định hướng đúng các hoạt động bảo hiểm xã hội, trong đó có việc thực hiện chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện.
  • Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật còn chưa hợp lý như quy định về giải quyết lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, hồ sơ hưởng trợ cấp một lần trong trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư; tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu; mức hưởng lương hưu thấp nhất trong trường hợp có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để làm tăng tính khả thi, hiệu quả của pháp luật khi áp dụng trong thực tế.
  • Xây dựng bảng đóng tiền bảo hiểm xã hội tự nguyện và tiền lương hưu tương ứng.

Tin rằng các đề xuất nêu trên có thể khắc phục được các bất cập đã nêu, góp phần làm tăng tính khả thi của quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, đưa bảo hiểm xã hội tự nguyện trở thành công cụ hiệu quả trong việc bảo đảm cuộc sống khi về già cho một bộ phận người lao động, góp phần làm vững chắc thêm hệ thống an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng của Việt Nam. Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện

One thought on “Luận văn: Quy định PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện

  1. Pingback: Luận văn: Thực tiễn PL về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464