Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam và những kiến nghị hoàn thiện pháp luật dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo, phát triển kinh tế, văn hóa và trở thành điều kiện tiên quyết trong hội nhập quốc tế của mỗi quốc gia. Việt Nam đã tham gia và thực hiện Công ước Rome 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng; Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ; Hiệp định Trip 1994 về những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ… . Tại Việt Nam, nhiều năm qua Nhà nước cũng đặc biệt quan tâm đến công tác bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, nhiều văn bản pháp lý liên quan được xây dựng và đưa vào thực thi. Mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực song cần phải nhìn nhận một thực tế đó là công tác bảo hộ quyền liên quan nói chung và quyền của người biểu diễn nói riêng ở Việt Nam đến nay vẫn còn nhiều bất cập. Trong phần này, tác giả xin trình bày thực tiễn các vấn đề về đăng ký và khai thác quyền, vấn đề xâm phạm quyền và bảo vệ quyền của người biểu diễn.

3.1.1. Thực tiễn đăng ký và khai thác quyền của người biểu diễn

Hoạt động đăng ký và khai thác quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn là hoạt động diễn ra phổ biến và đem lại nhiều lợi ích nhất cho người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn. Khi nghiên cứu thực tiễn của các hoạt động này, tác giả đã tổng hợp các số liệu trên cơ sở sự thống kê từ các bài viết trên các website uy tín cụ thể như sau:

  • Về đăng ký, chuyển giao quyền liên quan

Sau khi Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được ban hành, số lượng tác phẩm, đối tượng quyền liên quan được chuyển giao phổ biến đến công chúng được tăng lên theo từng năm. Theo số liệu thu được từ bài viết Thực trạng giải quyết tranh chấp về quyền tác giả tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012 và một số để xuất tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thực thi về sở hữu trí tuệ của nhóm tác giả TS. Nguyễn Hợp Toàn; PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Thủy; PGS.TS Trần Văn Nam – Đại học Kinh tế Quốc dân đăng trên website thongtinphapluatdansu.edu.vn thì năm 2007, có 3230 tác phẩm và đối tượng quyền liên quan (trong đó có quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn) được đăng ký cấp Giấy chứng nhận. Năm 2008 có 4922 tác phẩm và đối tượng quyền liên quan được đăng ký cấp Giấy chứng nhận. Số lượng tác phẩm, đối tượng quyền liên quan được chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan đến đăng ký ước tính chiếm khoảng 70%. Các tác phẩm đã và đang được khai thác, chuyển giao một cách có hiệu quả, thông qua đó mang lại lợi ích đáng kể cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan, tổ chức cá nhân khai thác sử dụng và công chúng hưởng thụ, góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa phát triển.

  • Việc ủy thác của chủ sở hữu quyền cho các tổ chức đại diện quyền liên quan:

Hiện nay, hệ thống tổ chức đại diện quyền liên quan ở Việt Nam đã được hình thành và đang đi vào hoạt động có hiệu quả. Hiện có các tổ chức đại diện quyền liên quan đáng chú ý là: Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam. Đến năm 2009, Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam đã có 1300 thành viên uỷ thác cho Trung tâm quản lý, thu tiền bản quyền từ việc khai thác sử dụng các tác phẩm của thành viên. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam đã có 35 thành viên uỷ thác cho Hiệp hội quản lý, thu tiền bản quyền từ việc khai thác sử dụng các bản ghi âm, ghi hình của thành viên.

3.1.2. Thực tiễn xâm phạm quyền của người biểu diễn Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

Cho đến nay, Việt Nam đã có được hệ thống các quy định pháp luật đáp ứng yêu cầu bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan tại quốc gia và hội nhập quốc tế. Hoạt động tự bảo vệ quyền đã có những chuyển biến tích cực với sự ra đời và hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan. Nhiều cá nhân khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã thực hiện nghĩa vụ xin phép, thanh toán nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất cho chủ sở hữu. Các cam kết tham gia WTO của Việt Nam, các điều ước quốc tế có hiệu lực tại Việt Nam đã và đang từng bước được thực hiện có kết quả, bảo vệ quyền lợi của công dân và thực hiện nghĩa vụ pháp lý khi sử dụng tác phẩm của công dân, pháp nhân các nước thành viên. Các thành tựu đạt được rất đáng trân trọng, nó là kết quả của hoạt động lập pháp, thực thi và chính sách hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, hoạt động thực thi vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn. Tình trạng xâm phạm quyền liên quan vẫn tiếp tục diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực từ báo chí, xuất bản, điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, âm nhạc, tạo hình, kiến trúc, chương trình máy tính đến phát thanh, truyền hình. Việc sao chép bất hợp pháp, bản ghi âm, ghi hình đang là vấn đề rất đáng báo động. Tình trạng xâm phạm quyền liên quan nói chung và quyền của người biểu diễn nói riêng đã và đang ảnh hưởng tới môi trường sáng tạo và đầu tư và được thể hiện ở những mặt sau:

Một mặt, tình trạng xâm phạm quyền của người biểu diễn ngày càng mang tính chất phức tạp và có dấu hiệu phổ biến với mức độ nghiêm trọng ngày càng gia tăng. Các cuộc biểu diễn nghệ thuật, các bản ghi âm, ghi hình, các bản định hình phim ảnh, các chương trình biểu diễn ca nhạc, chương trình truyền hình đã bị sao chép rất nhiều (như các bộ phim do Trung tâm truyền hình Việt Nam, Chương trình “Gặp nhau cuối tuần” bị in bán tràn lan trên thị trường, nguy hiểm hơn đã có nhiều phim và chương trình truyền hình của VTV bị đánh cắp, biên tập lại và phát hành băng đĩa lậu tại Việt Nam, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, châu Âu…). Cùng với sự phát triển của công nghệ, phương tiện và công nghệ sao chép, bắt chước ngày càng được cải tiến và có mặt tại Việt Nam ngày một nhiều, nên sản phẩm vi phạm được sản xuất với số lượng lớn và tốc độ tăng nhanh. Thực tế nhiều người buôn bán, nhiều cửa hàng băng đĩa ở các thành phố lớn đều bán băng đĩa sao chép lậu, thậm chí tỷ lệ còn lớn hơn băng đĩa có bản quyền.

Về cơ bản vấn đề xâm phạm quyền của người biểu diễn là những hành vi trái phép được tiến hành vì lợi nhuận kinh doanh và thường được tiến hành một cách có tổ chức. Tính có tổ chức được thể hiện ở chỗ các hành vi xâm phạm không chỉ dừng lại ở việc sao chép trái phép một tác phẩm liên quan mà còn là việc bán hoặc phân phối một tác phẩm được sao chép bất hợp pháp, đòi hỏi phải có mạng lưới phân phối có tổ chức hay mạng lưới giao dịch với người mua tiềm năng. Đối với người tiêu dùng, có thể thường chỉ được thấy mắt xích cuối cùng của mạng lưới phân phối như vậy qua hình thức một cửa hàng bán lẻ các sản phẩm ăn cắp bản quyền. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, đặc biệt khi đặt vấn đề phương thức xử lý, một cách có hiệu quả nạn sao chép trái phép (ăn cắp), luôn phải nghĩ rằng đằng sau một cửa hàng như thế có một công ty bất hợp pháp được tổ chức một cách có hệ thống nhằm sao chép trái phép tác phẩm được luật bản quyền bảo hộ và phân phối tác phẩm tới công chúng thông qua các kênh bán lẻ như vậy. Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

Mặt khác, tình trạng xâm phạm quyền của người biểu diễn mà rõ nhất là tình trạng sao chép trái phép cuộc biểu diễn đã lên tới mức đáng báo động do sự phát triển của các phương tiện truyền tải và sự mở rộng phạm vi đối tượng được bảo vệ quyền cụ thể như sau:

Do tiến bộ của các phương tiện truyền tải tác phẩm trí tuệ như các phương tiện in đã được bổ sung thêm không ngừng bằng các phương tiện ghi âm và thu hình dưới hình thức các bản ghi như đĩa, băng cassette, phim và chương trình video. Tương tự như vậy, việc thương mại hóa máy tính một cách rộng rãi đã bổ sung thêm phương tiện ghi, lưu trữ và truyền tải thông tin. Gần đây nhất, sự phát triển của kỹ thuật số đã có tác động to lớn tới việc sáng tạo, phổ biến và sử dụng tác phẩm.

Song song với sự phát triển này là sự mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ quyền. Tuy nhiên, những tiến bộ này cũng đã làm tăng thêm cơ hội tạo ra các bản sao trái phép gây cản trở cho việc thực hiện quyền kiểm soát của người biểu diễn đối với việc phổ biến và sử dụng tác phẩm trong công chúng.

Bên cạnh đó sự phát triển của các phương tiện sao chép băng đĩa những sản phẩm vật chất thể hiện những tác phẩm này. Những sự phát triển mới nhất trong số đó là: Việc sáng chế ra băng từ, sự xuất hiện của đĩa compact và sự phát triển những máy thu cassette chất lượng cao và rẻ, không chỉ để nghe được băng cassette đã ghi sẵn mà còn có thể ghi âm từ các buổi biểu diễn trực tiếp, các chương trình radio và từ các vật phẩm mang chương trình âm nhạc được ghi sẵn. Việc sáng chế máy quay video làm phong phú thêm các phương tiện ghi phim và chủ yếu các tác phẩm nghe nhìn cơ bản khác.

Một hệ quả của những tiến bộ về công nghệ nêu trên là sự khác biệt về giá cả giữa một bên là việc sản xuất băng đĩa gốc của tác giả với đối tác kinh doanh và bên kia là việc sao chép các băng đĩa gốc đó do những người khác thực hiện. Trong trường hợp một bộ phim, một nhà sản xuất, bằng sự đầu tư của chính mình và cùng các đối tác của họ phải trả thù lao cho người viết kịch bản và bất kỳ tác giả văn học nào liên quan, nhà soạn nhạc, diễn viên, người phân cảnh, chịu chi phí thuê địa điểm, phương tiện và việc sử dụng những thiết bị ghi âm, ghi hình phức tạp. Tuy nhiên, khi bản ghi về một bộ phim được thực hiện, đặc biệt nếu là băng video, thì các bản ghi khác có thể sao chép dễ dàng với chi phí vô cùng thấp. Vì vậy, những tiến bộ trong công nghệ ghi âm đã tạo ra các phương tiện mà nhờ đó người xâm phạm quyền có thể dễ dàng sản xuất các phiên bản từ bản định hình một cách bất hợp pháp. Bởi lẽ trên xâm phạm quyền không phải thu hồi chi phí đầu tư vào việc sản xuất bản gốc nên cũng không cần phải thu hồi chi phí đầu tư vào việc làm bản gốc do đó các bản sao ăn cắp bản quyền thường được bán với giá thấp. Điều này đã suy giảm cơ hội khả năng của tác giả, người biểu diễn, các nhà phân phối và đầu tư trong việc thu lại sự đền bù thỏa đáng về mặt tinh thần và vật chất đối với tác phẩm và sự đầu tư của họ. Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

Có thể thấy tình trạng xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn đã ảnh hưởng không nhỏ tới người tiêu dùng và chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn. Trong khi người tiêu dùng chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt trong việc có được các sản phẩm vi phạm quyền liên quan rẻ tiền, thì chất lượng của các bản sao chép do ăn cắp bản quyền thường thấp hơn rất nhiều. Việc sao chép trái phép cũng có thể làm tổn hại tới người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn do thực tế của việc xâm phạm này là không trả thù lao cho tác giả và người biểu diễn cũng như đã cướp đoạt phần lợi nhuận của nhà sản xuất. Việc chuyển sai địa chỉ lợi ích kinh tế của chủ sở hữu cuộc biểu diễn và đối tác kinh doanh của họ vào túi những kẻ xâm phạm cũng đồng thời làm mất đi sự khuyến khích, kích thích độ đầu tư vào thời gian, công sức, kinh nghiệm – kiến thức hiểu biết và các nguồn lực để sáng tạo nên những tác phẩm mới.

Bên cạnh đó, lợi nhuận thu được từ hoạt động phân phối các sản phẩm sao chép lậu không phải chịu thuế nên dẫn tới hậu quả bất lợi từ việc thất thu thuế của chính phủ từ đó có thể dẫn tới việc giảm mức tài trợ của Chính phủ cho nghệ thuật mà mức tài trợ này được xem xét vào mức đóng góp vào ngân sách chính phủ từ các khoản thuế thu được từ việc phân phối, bán, kinh doanh các sản phẩm được bảo hộ.

3.1.3. Thực tiễn bảo vệ quyền của người biểu diễn

Trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực thì hoạt động đăng ký xác lập quyền liên quan đã và đang ngày càng nhận được sự quan tâm của các chủ sở hữu quyền. Tuy nhiên, bên cạnh đó tình trạng xâm phạm quyền vẫn diễn ra phổ biến gây ảnh hưởng xấu và xâm hại đến quyền lợi của chủ sở hữu quyền liên quan. Các vụ việc tranh chấp về quyền liên quan ngày càng gia tăng với mức độ xâm phạm ngày càng nghiêm trọng. Đứng trước thực trạng này, vấn đề bảo vệ quyền liên quan nói chung và quyền của người biểu diễn nói riêng ngày càng trở nên quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ quyền của người biểu diễn trên thực tế diễn ra như thế nào? Sau đây, tác giả xin trình bày thực tiễn về bảo vệ quyền của người biểu diễn qua việc áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính, hình sự và biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ.

  • Thực tiễn bảo vệ quyền của người biểu diễn bằng biện pháp dân sự

Trên thế giới hiện nay, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự được đánh giá là cơ chế bảo vệ quyền phổ biến và hữu hiệu nhất. Trong pháp luật Việt Nam, biện pháp dân sự cũng thể hiện được những ưu thế riêng so với biện pháp hành chính và biện pháp hình sự. Nếu như biện pháp hành chính và biện pháp hình sự chỉ có ý nghĩa ngăn chặn hành vi xâm phạm, áp dụng các chế tài hành chính hoặc hình sự nhằm răn đe, giáo dục các đối tượng vi phạm thì trong biện pháp dân sự, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bên cạnh quyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại thực tế do hành vi xâm phạm gây ra cả về vật chất lẫn tinh thần. Mặc dù vậy, thực tiễn xét xử trong những năm qua cho thấy có rất ít tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ được đưa ra giải quyết tại Tòa án, điều này không phản ánh đúng diễn biến tình hình tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ trong đời sống xã hội đang ngày càng đa dạng và phức tạp.

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, việc giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ từ năm 2000 đến năm 2005 (giai đoạn trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ) của toàn ngành Tòa án như sau: thụ lý 93 vụ án, đã giải quyết 61 vụ án, trong đó: đình chỉ, tạm đình chỉ là 16 vụ án; hòa giải thành 12 vụ án; đưa ra xét xử 33 vụ án (bao gồm 11 vụ án tranh chấp quyền tác giả và quyền liên quan, 22 vụ án tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp). Kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực thi hành (từ ngày 01-7-2006) thì tình hình giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án cũng không có sự chuyển biến đáng kể, theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao từ 01-7-2006 cho đến ngày 22-6-2009 thì toàn ngành Tòa án chỉ thụ lý được 108 vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ (trong đó chiếm đa số là tranh chấp về quyền tác giả với 90 vụ; tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp chiếm 10 vụ; tranh chấp về hợp đồng sử dụng tác phẩm chiếm 5 vụ; tranh chấp về hợp đồng chuyển giao công nghệ chiếm 3 vụ). Nếu chỉ tính riêng đối với Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội thì từ ngày 01-7-2006 đến nay, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mới chỉ thụ lý giải quyết có 7 vụ án, nhưng thực chất chỉ là 5 vụ án, vì có 2 vụ án phải xét xử xử phúc thẩm lần 2. Với sự thống kê này, tuy Tòa án nhân dân tối cao không nêu chi tiết số vụ tranh chấp về quyền của người biểu diễn nhưng qua xem xét một cách tổng quát các số liệu nêu trên ta có thể nhận thấy số lượng vụ việc tranh chấp về quyền của người biểu diễn được giải quyết tại Tòa án là rất thấp nên con số vụ việc được giải quyết trên thực tế chưa được nhắc đến mà chỉ được thống kê chung với các vụ tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan.

Vậy nguyên nhân gì dẫn đến tình trạng bất cập giữa thực tiễn tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ với số lượng vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ nói chung được giải quyết tại Tòa án? Qua nghiên cứu thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án những năm vừa qua tác giả xin đưa ra một số hạn chế, bất cập trong thủ tục giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ và một số khó khăn, vướng mắc của việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án hiện nay. Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

  • Thứ nhất, thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài

Theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với vụ án dân sự là 4 tháng, đối với các vụ án kinh doanh – thương mại là 2 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án; đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì có thể gia hạn nhưng không quá 2 tháng đối với vụ án dân sự và 1 tháng đối với vụ án kinh doanh thương mại. Trên thực tế, qua công tác nghiên cứu các hồ sơ vụ án cho thấy đa số các vụ án giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án thường bị kéo dài. Điều này xuất phát từ tính đặc thù của các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ là loại việc tương đối phức tạp, đòi hỏi trong quá trình giải quyết vụ án, các Tòa án thường phải trưng cầu ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và các cơ quan chức năng có liên quan để có kết luận đối với hành vi xâm phạm nên trong nhiều trường hợp Tòa án phải gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử. Thậm chí có trường hợp Tòa án còn phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do cần chờ kết quả trả lời của các cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và các cơ quan chuyên môn.

Có thể nói, thời gian giải quyết kéo dài là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ e ngại trong việc khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước các hành vi xâm phạm. Thay vào đó, họ yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính đối với các hành vi xâm phạm để đảm bảo việc chấm dứt kịp thời, nhanh chóng các hành vi xâm phạm đó.

  • Thứ hai, năng lực giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng được yêu cầu

Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là lĩnh vực pháp luật còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Mặc dù trong thời gian qua ngành Tòa án cũng đã có sự quan tâm đúng mức đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về pháp luật sở hữu trí tuệ cho đội ngũ cán bộ Thẩm phán, song do tính phức tạp và đa dạng của các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ nên một số Thẩm phán vẫn gặp không ít khó khăn trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ vì chưa đủ trình độ chuyên sâu về sở hữu trí tuệ.

Vì vậy, trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ thì kết quả trưng cầu giám định hoặc kết luận các yếu tố vi phạm của cơ quan có thẩm quyền về việc có hay không có hành vi xâm phạm quyền quyền sở hữu trí tuệ có giá trị quan trọng để Tòa án dùng làm căn cứ giải quyết các vụ án về sở hữu trí tuệ được chính xác, đúng pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự.

Bên cạnh đó, việc nhìn nhận, đánh giá về các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của các cơ quan chức năng nhiều khi không thống nhất được quan điểm. Chính vì thế đã dẫn tới nhiều trường hợp, sau khi có phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với vụ án rồi nhưng các bên đương sự vẫn viện dẫn các ý kiến đối lập với loại ý kiến được tham khảo để ra phán quyết để tiếp tục khiếu nại, yêu cầu xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, gây ra khiếu kiện kéo dài, ảnh hưởng đến ổn định xã hội. Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

  • Thứ ba, khó khăn trong việc xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra

Trước khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành, hầu như không có văn bản nào quy định về các căn cứ pháp lý để xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Do đó, đại đa số các trường hợp nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại của mình hoặc xác định không chính xác mức bồi thường thiệt hại và không được Tòa án chấp nhận.

Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành đã bổ sung các quy định quan trọng về nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điều 204) và căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điều 205), tuy nhiên do tính chất đặc thù của loại tài sản “quyền sở hữu trí tuệ” nên nhiều trường hợp nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại hoặc xác định không đầy đủ về những thiệt hại đã xảy ra trên thực tế (có thể nhiều hơn hoặc ít hơn thiệt hại thực tế xảy ra). Các căn cứ để xác định thiệt hại về vật chất như mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại hoặc các thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ mà trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này là cho người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ trên thực tế là rất khó để xác định một cách chính xác và đầy đủ. Do vậy, khi giải quyết những vấn đề này Tòa án đã gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc xác định thiệt hại để có được phán quyết chính xác, đúng pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự.

Thực tiễn bảo vệ quyền của người biểu diễn bằng biện pháp hành chính, hình sự

  • Đối với biện pháp hành chính

Các quy định xử phạt hành chính về quyền liên quan được quy định trong Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ. Nội dung nghị định này có quy định rất cụ thể về các hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn bị xử phạt hành chính và mức phạt đối với từng hành vi. Tuy nhiên, trên thực tế các hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn bị xử phạt hành chính phổ biến thường là một số hành vi như hành vi xâm phạm quyền sao chép cuộc biểu diễn và hành vi xâm phạm quyền phân phối đến công chúng bản gốc hoặc bản sao cuộc biểu diễn. Các hành vi vi phạm này thường diễn ra trong lĩnh vực âm nhạc và điện ảnh nhất là trong môi trường kỹ thuật số hiện nay.

Thông thường, vấn đề bản quyền trong lĩnh vực điện ảnh, truyền hình ít được lưu tâm hơn bản quyền âm nhạc trong môi trường kỹ thuật số. Chính vì vậy mà việc vi phạm trong lĩnh vực này ngày càng trở nên phổ biến. Kéo theo đó là việc xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm này ngày càng nhiều. Theo thống kê của luật sư Phan Vũ Tuấn, Chánh Văn phòng Hội Sở hữu trí tuệ TP. Hồ Chí Minh, hiện có trên 180 trang mạng có đăng tải phim (trong đó có phim của điện ảnh Hoa Kỳ). Tuy nhiên, trong một lần trao đổi với đại diện Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ – MPA, luật sư Tuấn cho biết MPA chưa cung cấp bản quyền phim cho bất cứ trang mạng nào của Việt Nam. Trong năm 2013, Hiệp hội Điện ảnh Mỹ đã gửi đơn đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm bản quyền đối với các tác phẩm điện ảnh của MPA tại ba trang mạng: http://phim47.cm/; http://v1vn.cm/ và http://pub/. Tuy nhiên, sau khi thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vào cuộc, yêu cầu chủ ba trang mạng trên dỡ bỏ ngay các bản sao tác phẩm điện ảnh xử lý vi phạm hành chính thì các trang mạng này đã đổi hoặc giữ tên miền như cũ và tiếp tục vi phạm. Cụ thể như trang mạng http://phim47.cm/ đã đổi thành phimhh.cm, hai trang còn lại vẫn đăng tải những phim mới nhất chưa chiếu trên truyền hình hoặc rạp. Không chỉ đối với phim nước ngoài, tình trạng phân phối các tác phẩm điện ảnh đến công chúng qua môi trường kỹ thuật số mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu, không trả tiền tác quyền diễn ra phổ biến với cả phim trong nước thậm chí là đối với cả những phim chưa phát hành. Công ty Cổ phần phim Thiên Ngân là một trong những hãng phim luôn có đội ngũ nhân viên chú ý quan sát để tránh việc quay phim, chụp ảnh phim khi trình chiếu phim ngoài rạp. Không những thế, công ty này còn có đội ngũ riêng chuyên theo dõi trên mạng để phát hiện các trang mạng vi phạm để bắt buộc gỡ phim khỏi trang mạng sau đó họ sẽ thông báo ngay trang mạng vi phạm để bắt buộc gỡ phim khỏi trang mạng. Tuy chặt chẽ là vậy nhưng bản nháp bộ phim Bụi đời Chợ Lớn của hãng phim Thiên Ngân vẫn bị tuồn ra thị trường băng đĩa lậu và trên mạng. Hay trước đó, bộ phim Cánh đồng bất tận, chưa công chiếu ra rạp đã có bản lậu ở thị trường băng đĩa lậu và Internet. Và cả hai trường hợp này nhà sản xuất, phát hành vẫn chưa tìm ra được thủ phạm để xử lý.

Không chỉ đối với lĩnh vực điện ảnh, tình trạng sao chép, kinh doanh băng đĩa mà không được phép của chủ sở hữu trong lĩnh vực âm nhạc cũng diễn tràn lan trên thị trường. Do giá thành của một chiếc băng đĩa lậu thường chỉ bằng một phần mười (1/10) so với giá thành của băng đĩa gốc nên luôn thu hút được người tiêu dùng. Bên cạnh đó, việc kinh doanh, buôn bán băng đĩa lậu đòi hỏi ít vốn mà tiền lời thu được cũng khá nên mặc dù biết là vi phạm pháp luật song nhiều người vì miếng cơm manh áo vẫn bất chấp, làm liều. Chính vì vậy, tuy các cơ quan chức năng đã xử lý hành chính rất nhiều trường hợp vi phạm song tình trạng sản xuất, kinh doanh băng đĩa lậu vẫn không hề giảm đi. Theo ông Trần Quang Toại, Phó Giám đốc Sở Văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh Đồng Nai thì thời gian qua, thanh tra ngành văn hóa trong tỉnh đã nỗ lực rất lớn nhằm chấn chỉnh tình trạng băng đĩa lậu tràn lan. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh băng đĩa lậu đang diễn biến phức tạp với nguồn cung ứng dồi dào cùng với hệ thống phân phối sản phẩm bằng nhiều hình thức đa dạng. Lực lượng chức năng dù cố gắng nhưng cũng chỉ có thể kiểm tra, giám sát tại các điểm bán cố định, còn những điểm bán di động thì hầu như rất ít và rất khó để kiểm tra. Trước tình hình này, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử phạt hành chính tịch thu sản phẩm lậu của các cá nhân, đơn vị vi phạm, sở đang kết hợp cùng các cơ quan chức năng báo chí thực hiện công tác tuyên truyền nhằm từng bước nâng cao ý thức của người tiêu dùng trong sử dụng sản phẩm lậu, tránh tiếp tay cho các cơ sở, đối tượng làm ăn bất chính.

  • Đối với biện pháp hình sự Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

Trước khi Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 ra đời Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa có quy định về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự ra đời đã quy định một số hành vi trước đây không bị coi là tội phạm, không được quy định trong Bộ luật Hình sự thì nay đã bị coi là tội phạm trong đó có Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 và đến nay luật này mới có hiệu lực 4 năm tức là hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan mới được coi là tội phạm 4 năm trở lại đây. Có lẽ vì vậy mà hiện nay chưa có một sự thống kê chính thức nào từ phía các cơ quan có thẩm quyền về số lượng vụ việc bị xử lý hình sự đối với Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Vì lý do đó nên tác giả chưa thể có sự đánh giá nào về hiệu quả áp dụng biện pháp hình sự trong việc xử lý các hành xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.

  • Thực tiễn bảo vệ quyền của người biểu diễn bằng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ

Trong bối cảnh gia tăng hoạt động xuất nhập khẩu và xuất hiện ngày càng nhiều thủ đoạn vi phạm quyền sở hữu trí tuệ qua biên giới, Hải quan Việt Nam đang đứng trước những thách thức trong thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan vào năm 2006 cho thấy, hiện chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu về sở hữu trí tuệ để cập nhật thông tin, phản ánh thông lệ quốc tế về kiểm soát biên giới. Hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng đa dạng, khó phân biệt, hoạt động buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng vi phạm nhãn hiệu diễn ra ngày càng phức tạp và tinh vi trong khi đó cơ quan Hải quan đang chịu áp lực phải đẩy mạnh cải cách thủ tục, đơn giản hóa thủ tục thông quan. Bên cạnh đó việc kiểm soát của hải quan thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đảm bảo vừa quản lý hiệu quả vừa tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại hợp pháp cũng là thách thức lớn đối với hải quan trong thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi đó, trình độ nhận thức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức hải quan về tầm quan trọng của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn thấp. Hầu hết cán bộ công chức đều có kiến thức hạn chế về việc phát hiện hành vi xuất nhập khẩu hàng hóa có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, phân biệt hàng thật với hàng giả…

Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhưng toàn ngành Hải quan vẫn luôn cố gắng trong mọi hoạt động đặc biệt là trong công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại. Tuy không có số liệu phản ánh hoạt động của toàn ngành trong công tác này nhưng theo thông tin thu được trên website baodienbienphu.info. thì năm 2013 Cục Hải quan Điện Biên phối hợp với các lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ và xử lý 28 vụ vi phạm nói chung trong đó xử lý hành chính 17 vụ và tịch thu 113 đĩa ghi hình trái phép. Trong 5 tháng đầu năm 2014, lực lượng Hải quan Điện Biên đã tịch thu và tiêu hủy 104 đĩa CD không rõ nguồn gốc, phạt hành chính số tiền 500.000 đồng. Nhằm phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với các hành vi gian lận thương mại, buôn bán ma túy qua biên giới, Cục Hải quan Điện Biên đã chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ lên danh sách các đối tượng thường xuyên tham gia xuất nhập cảnh có dấu hiệu nghi vấn; chủ động phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức tuần tra, kiểm soát trong và ngoài địa bàn; phối hợp với lực lượng an ninh nước bạn tại các cửa khẩu nắm bắt thông tin, kịp thời xử lý.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền của người biểu diễn Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện tại đã phần nào đáp ứng được vấn đề bảo hộ quyền liên quan nói chung và bảo hộ quyền của người biểu diễn nói riêng. Tuy nhiên, để các quy định của pháp luật thực sự đi vào đời sống, người biểu diễn thực sự được thụ hưởng các quyền và lợi ích chính đáng thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật sao cho đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi ích này của người biểu diễn luôn là vấn đề cần thiết. Sau quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả xin đưa ra một vài kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền của người biểu diễn bao gồm:

Thứ nhất, tác giả xin kiến nghị đối với quy định về thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn trong luật Sở hữu trí tuệ. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, thời hạn bảo hộ quyền liên quan của người biểu diễn là năm mươi năm tính từ năm tiếp theo cuộc biểu diễn được định hình. Quyền của người biểu diễn được bảo hộ bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản của người biểu diễn. Việc quy định thời hạn bảo hộ chung là năm mươi năm cho cả quyền nhân thân và quyền tài sản của người biểu diễn là chưa thực sự phù hợp với thực tiễn đời sống và chưa thực sự bảo vệ tốt nhất quyền của người biểu diễn. Trong mối quan hệ với quyền tác giả, quyền liên quan có mối quan hệ mật thiết, luôn tồn tại song song với quyền tác giả. Quyền nhân thân trong quyền liên quan về bản chất cũng tương tự như quyền nhân thân trong quyền tác giả. Tuy nhiên, trong quyền tác giả, quyền nhân thân của tác giả được bảo hộ vô thời hạn, trong khi quyền nhân thân của người biểu diễn trong quyền liên quan lại chỉ được bảo hộ có thời hạn là năm mươi năm. Chẳng hạn, cùng là quyền nhân thân, trong quyền tác giả có quyền “đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng” được bảo hộ vô thời hạn, trong khi quyền nhân thân của người biểu diễn là quyền “được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn” lại chỉ được bảo hộ có thời hạn năm mươi năm tính từ năm tiếp theo cuộc biểu diễn được định hình. Việc quy định như vậy đã làm hạn chế bớt quyền của người biểu diễn, dễ dẫn tới các hành vi làm ảnh hưởng tới quyền cũng như uy tín, danh dự của người biểu diễn sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ đối với cuộc biểu diễn. Không lẽ mặc nhiên sau năm mươi năm tính từ ngày cuộc biểu diễn được bảo hộ thì người biểu diễn không còn được giới thiệu tên khi phát hành bản ghi âm, ghi hình có chứa cuộc biểu diễn hay phát sóng chương trình phát sóng cuộc biểu diễn và bất cứ ai cũng được quyền xuyên tác, cắt xén, sửa chữa sự vẹn toàn hình tượng của người biểu diễn làm ảnh hưởng tới danh dự và uy tín của người biểu diễn.

Để khắc phục được những hạn chế bất cập như trên, chúng ta cần sửa đổi các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ theo hướng bảo hộ quyền nhân thân của người biểu diễn giống với bảo hộ quyền nhân thân trong quyền tác giả về mặt thời hạn. Cụ thể, sửa đổi khoản 1 Điều 34 Luật sở hữu trí tuệ theo hướng bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản có sự tách biệt về thời gian. Quyền tài sản vẫn được bảo hộ có thời hạn là năm mươi năm, còn quyền nhân thân có thời hạn bảo hộ là vô thời hạn. Có như vậy mới đảm bảo được tốt nhất quyền của người biểu diễn, cũng phù hợp với bản chất của quyền nhân thân trong quyền sở hữu trí tuệ, góp phần hạn chế các hành vi xâm phạm quyền làm ảnh hưởng tới uy tín, danh dự của người biểu diễn, thúc đẩy hơn nữa hoạt động sáng tạo nghệ thuật của người biểu diễn để tạo ra nhiều cuộc biểu diễn chất lượng nghệ thuật cao phục vụ công chúng.

Thứ hai, kiến nghị về việc nâng cao mức phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quyền của người biểu diễn. Hiện nay, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan được thực hiện theo Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan.Tuy nhiên, theo quy định của Nghị định này thì mức phạt cao nhất trong số các hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn là mức 40.000.000 đồng được quy định tại Điều 25 đối với hành vi xâm phạm quyền phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình. Thiết nghĩ, đây là mức phạt chưa đủ sức răn đe vì so với lợi nhuận mà các đối tượng xâm phạm quyền của người biểu diễn thu được thì mức phạt như vậy còn quá nhẹ. Do đó, cần nghiên cứu điều chỉnh cách tính mức phạt cao hơn, nghiêm khắc hơn đối với hành vi vi phạm sao cho mức phạt tối thiểu cũng phải cao hơn lợi nhuận xác định được do hành vi vi phạm gây ra. Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

Thứ ba, tác giả xin đưa ra kiến nghị về việc thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền của người biểu diễn. Quyền của người biểu diễn có thể được thực hiện trực tiếp bởi từng nghệ sỹ nhưng một cá nhân riêng lẻ, đặc biệt trong điều kiện môi trường kỹ thuật số khó có thể kiểm soát và quản lý toàn bộ việc khai thác, sử dụng cuộc biểu diễn và bản ghi âm cuộc biểu diễn của mình. Vì vậy, việc thành lập một tổ chức nghề nghiệp hay hiệp hội chịu trách nhiệm quản lý tập thể quyền của người biểu diễn góp phần tăng cường hiệu quả công tác bảo hộ loại hình quyền này. Với thực trạng người biểu diễn ở Việt Nam có thể là một lao động trong biên chế nhà nước, là lao động của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh hay một lao động tự do, cần thiết thành lập một tổ chức quản lý tập thể quyền của người biểu diễn, tổ chức này có thể đại diện và quản lý quyền cho người biểu diễn thuộc mọi thành phần kinh tế và hoạt động biểu diễn trong mọi lĩnh vực.

  • Một số kiến nghị khác

Để việc giải quyết các tranh chấp về quyền của người biểu diễn tại Tòa án được diễn ra nhanh chóng, hiệu quả và công minh thì một trong những kiến nghị mà tác giả đưa ra là không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán theo hướng chuyên sâu về sở hữu trí tuệ. Hiện nay, đa số cán bộ, Thẩm phán của các Tòa án còn thiếu kiến thức chuyên sâu về sở hữu trí tuệ, rất ít cán bộ, Thẩm phán được đào tạo về sở hữu trí tuệ. Do vậy, cần chú trọng xây dựng các mục tiêu và chương trình đào tạo có hệ thống để đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về sở hữu trí tuệ cho đội ngũ cán bộ, Thẩm phán ở các Tòa án hiện nay, tiến tới mô hình có các Thẩm phán chuyên xét xử các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ. Cần chú trọng công tác bồi dưỡng theo chuyên đề kết hợp với việc tổ chức nhiều cuộc hội thảo trong nước và quốc tế về sở hữu trí tuệ và triển khai các công tác này một cách rộng khắp để cho đông đảo các cán bộ Thẩm phán có thể tiếp cận được. Tòa án nhân dân tối cao cũng cần thường xuyên thực hiện việc tổng kết công tác thực tiễn, công tác xét xử các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, trên cơ sở đó tổ chức rút kinh nghiệm về nghiệp vụ giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ để phổ biến cho Tòa án nhân dân các cấp.

Bên cạnh đó, việc tiếp tục tăng cường sự hợp tác, thi hành các điều ước quốc tế đa phương và song phương về quyền tác giả, quyền liên quan đang có hiệu lực tại Việt Nam cũng là vấn đề cần được chú trọng. Chúng ta phải bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, pháp nhân Việt Nam, đảm bảo cho công chúng được thưởng thức các giá trị văn học, nghệ thuật và khoa học tiên tiến của các nước trên thế giới, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Mặt khác, chúng ta cũng phải từng bước thực hiện nghĩa vụ pháp lý với các nước, mở rộng quan hệ quốc tế thông qua các giao dịch về việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng với tổ chức, pháp nhân các quốc gia trên thế giới.

Theo chủ trương hội nhập quốc tế, chúng ta sẽ tiếp tục chủ động tham gia đàm phán các hiệp định song phương và đa phương về kinh tế, đầu tư, thương mại, dịch vụ, trong đó có các nội dung liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng. Là quốc gia đang phát triển, vì vậy chúng ta phải tận dụng kinh nghiệm của các quốc gia có nền công nghiệp bản quyền phát triển, chủ động tạo ra cơ hội để nhận sự hợp tác, hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia.

Đối với các cơ quan có thẩm quyền từ Trung ương đến địa phương cần phải tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm, đặc biệt là hành vi xâm phạm quyền tác giả trên internet, trong môi trường kỹ thuật số, ở lĩnh vực xuất bản, đối với chương trình máy tính, bản ghi âm, ghi hình và việc thu phát tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Tình trạng các loại hình từ tác phẩm viết, điêu khắc, hội họa, sân khấu, âm nhạc, chương trình phát thanh truyền hình đến trò chơi trí tuệ, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng… đang được truyền phát trên internet bất hợp pháp, ở rất nhiều địa chỉ, tên miền khác nhau, phải được kiểm tra và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Vì vậy, các cơ quan bảo vệ pháp luật cần lựa chọn một số vụ việc xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tác giả, quyền liên quan để đưa ra xét xử như trong vụ án trọng điểm nhằm giáo dục, răn đe.

Để các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể hoàn thành nhiệm vụ quản lý và thực thi, các bộ, ngành, địa phương cần quan tâm đến việc bổ sung nguồn nhân lực quản lý và thực thi quyền tác giả, quyền liên quan cũng như các trang thiết bị và các điều kiện vật chất liên quan khác. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với sự đoàn kết, sáng tạo, chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan tại quốc gia và trong hội nhập những năm tới.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

Trong thời đại phát triển nhanh chóng của nền công nghiệp ghi âm, công nghiệp điện ảnh và đặc biệt gần đây là Internet đã dẫn đến tình trạng sao chép và phân phối bản sao cuộc biểu diễn một cách bất hợp pháp đến đông đảo quần chúng trở nên phổ biến. Điều này làm ảnh hưởng tới việc khai thác quyền của người biểu diễn gây ảnh hưởng đến các lợi ích kinh tế của người biểu diễn. Ở một khía cạnh khác, các hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn còn gây ảnh hưởng xấu đến việc khuyến khích đầu tư, sáng tạo đối với người biểu diễn. Chính vì vậy, vấn đề bảo hộ quyền của người biểu diễn được đặt ra hết sức cần thiết và quan trọng. Các quy định về quyền liên quan nói chung và quyền của người biểu diễn nói riêng trong hệ thống các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam về cơ bản đã phần nào đáp ứng được các yêu cầu bảo hộ cho chủ thể quyền. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm hợp lý một số các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ vẫn tồn tại những bất cập như đã phân tích trong chương 3 của luận văn. Chính vì vậy, để bảo hộ quyền của người biểu diễn ngày càng đạt hiệu quả cao trong thực tiễn thì việc nghiên cứu sửa đổi các quy định chưa phù hợp của pháp luật hiện hành là hết sức cần thiết.

Với ý nghĩa như trên, trong phạm vi luận văn này, trước hết tác giả mong muốn cung cấp một cái nhìn toàn diện về các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc bảo hộ quyền của người biểu diễn. Qua đó phân tích các nội dung pháp lý cơ bản để thấy được những mặt ưu cũng như hạn chế của một số quy định. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị quan trọng như kiến nghị về thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn, kiến nghị về việc nâng cao mức phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quyền của người biểu diễn và kiến nghị về việc thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền của người biểu diễn. Theo quan điểm của cá nhân tác giả, việc đưa ra các kiến nghị này nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp lý về việc bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay. Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464