Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền của người biểu diễn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Các công ước quốc tế và pháp luật quốc gia đã công nhận và quy định về quyền của người biểu diễn. Theo đó, những người tham gia thể hiện cuộc biểu diễn mà phổ biến là những người tham gia trình bày các tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học mới được hưởng các quyền của người biểu diễn. Để xác định thế nào là một tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học lại cần đối chiếu với khái niệm tác phẩm theo quy định của pháp luật từng nước. Theo luật Việt Nam, tác phẩm là “sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào ” [16, Điều 4, khoản 7]. Do đó, mọi thành quả của quá trình sáng tạo trong văn học, nghệ thuật hay khoa học đã được định hình đều có thể trở thành đối tượng để biểu diễn và khi các thành quả của quá trình sáng tạo này được biểu diễn sẽ trở thành đối tượng được bảo hộ quyền liên quan còn người biểu diễn các thành quả đó sẽ được hưởng các quyền của người biểu diễn theo quy định của pháp luật.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định cuộc biểu diễn được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  1. Cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài;
  2. Cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam
  3. Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo quy định tại Điều 30 của Luật này;
  4. Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã phát sóng được bảo hộ theo quy định tại Điều 31 của Luật này;
  5. Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên [16, Điều 17, Khoản 1].

Như vậy, để một cuộc biểu diễn được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì nó phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, theo nguyên tắc hiệu lực lãnh thổ của quyền tác giả thì nơi thực hiện cuộc biểu diễn cũng là một trong những điều kiện bảo hộ cuộc biểu diễn. Pháp luật các nước thường chỉ bảo hộ cuộc biểu diễn của công dân nước mình, cuộc biểu diễn được thực hiện trên phạm vi lãnh thổ quốc gia mình và các trường hợp khác tùy thuộc vào các Hiệp định song phương hoặc đa phương về các vấn đề có liên quan mà quốc gia tham gia hoặc ký kết. Ngoài các nguyên tắc được quy định trong các Điều ước quốc tế như nguyên tắc đối xử công dân, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Hiệp định TRIPS) tại Khoản 1 Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định với các cuộc biểu diễn mà người biểu diễn là công dân Việt Nam dù được thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài đều được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Ngoài ra, cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam cũng được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam và một số trường hợp cụ thể khác theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, một trong các điều kiện để cuộc biểu diễn được bảo hộ là cuộc biểu diễn đó được thực hiện lần đầu hoặc được định hình lần đầu (điều kiện về hình thức hoặc thực hiện). Quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả. Như vậy, kể từ thời điểm cuộc biểu diễn được định hình hoặc thực hiện thì sẽ làm phát sinh quyền của người biểu diễn.

Theo quy định tại điểm c Điều 2 Hiệp ước WPPT thì định hình là: “sự biểu hiện các âm thanh, hoặc sự tái hiện lại biểu hiện này, từ đó các âm thanh có thể được cảm nhận, được sao chép hoặc truyền đạt qua một thiết bị nào đó”. Tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan thì định hình được hiểu là: “sự biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt” [16]. Như vậy, định hình cuộc biểu diễn là sự biểu hiện bằng đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt. Việc thực hiện cuộc biểu diễn thông qua chính hoạt động sáng tạo của người biểu diễn hoặc có sự kết hợp với một số các yếu tố có liên quan như màu sắc, bố cục, đường nét, hình khối, âm thanh để tạo nên cuộc biểu diễn. Tính chất sáng tạo trong hoạt động biểu diễn của người biểu diễn là yếu tố quan trọng để hình thành nên hình tượng người biểu diễn, một trong các quyền nhân thân quan trọng mà pháp luật bảo hộ cho người biểu diễn.

Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo cơ chế tự động khi nó được định hình hay thực hiện mà không gây phương hại gì đến quyền tác giả. Tức là việc làm phát sinh quyền của chủ thể người biểu diễn không ảnh hưởng tới quyền của tác giả trong việc khai thác, sử dụng tác phẩm có liên quan tới cuộc biểu diễn.

2.2. Chủ thể Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

2.2.1. Người biểu diễn

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này thì người biểu diễn chính là đối tượng trung tâm mà pháp luật hướng tới để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trước mọi hành vi xâm hại của các chủ thể khác. Người biểu diễn là những người thực hiện cuộc biểu diễn hoặc trình bày, thể hiện tác phẩm văn học, nghệ thuật một cách sáng tạo. Theo quan điểm cá nhân của tác giả thì người biểu diễn có thể được phân loại dựa trên hai tiêu chí. Tiêu chí thứ nhất là phân loại dựa vào loại hình nghệ thuật biểu diễn mà theo đó người biểu diễn bao gồm: diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học nghệ thuật. Có thể thấy người biểu diễn là những người hoạt động nghệ thuật chủ yếu trên ba lĩnh vực gồm múa, âm nhạc và điện ảnh. Họ không những là người trực tiếp thể hiện nội dung tác phẩm, khiến tác phẩm sống động hơn, đến gần hơn với công chúng mà qua các vai diễn, các buổi trình diễn họ còn thể hiện được những sáng tạo riêng của mình khiến tác phẩm trở nên ấn tượng hơn, có sức sống lâu hơn trong lòng công chúng.Tiêu chí thứ hai là dựa vào việc đầu tư tài chính và cơ sở vật chất, kỹ thuật để thực hiện cuộc biểu diễn thì có thể phân thành người biểu diễn đồng thời là chủ sở hữu cuộc biểu diễn và người biểu diễn chỉ đơn thuần là người thực hiện cuộc biểu diễn.

2.2.2. Chủ sở hữu cuộc biểu diễn

Chủ sở hữu cuộc biểu diễn là các tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất, kỹ thuật của mình để thực hiện cuộc biểu diễn. Chủ sở hữu cuộc biểu diễn có thể đồng thời là người biểu diễn cũng có thể chỉ là người đầu tư về mặt vật chất cho việc thực hiện cuộc biểu diễn. Nếu chủ sở hữu cuộc biểu diễn đồng thời là người biểu diễn thì họ sẽ được pháp luật bảo hộ cả quyền nhân thân và quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn. Nếu người biểu diễn chỉ đơn thuần là người thực hiện cuộc biểu diễn thì họ được pháp luật bảo hộ quyền nhân thân đối với cuộc biểu diễn. Thông thường đối với những cuộc biểu diễn đòi hỏi sự đầu tư lớn về tài chính, cơ sở vật chất và thời gian thực hiện như các dự án phim truyền hình dài tập thì diễn viên chỉ là người tham gia thể hiện một vai diễn nhất định còn nhà đầu tư hay chính là chủ sở hữu bộ phim đó lại là một chủ thể khác (như hãng phim đầu tư sản xuất bộ phim). Tuy nhiên, đối với những ca khúc do các ca sĩ trình bày và ghi lại ngay trong phòng thu của mình thì người ca sĩ vừa là người biểu diễn đồng thời là chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn đó.

2.2.3. Chủ thể khác Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

  • Nhóm chủ thể được sử dụng tự do cuộc biểu diễn đã định hình

Bên cạnh các chủ thể là người biểu diễn và chủ sở hữu cuộc biểu diễn tác giả xin đưa ra phân tích về nhóm chủ thể được sử dụng tự do cuộc biểu diễn đã được định hình. Điểm chung của nhóm chủ thể này là việc sử dụng quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn không phải xin phép người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn tuy nhiên việc sử dụng đó không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng. Nhóm chủ thể này bao gồm:

Những chủ thể sử dụng quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn không phải xin phép, không phải trả tiền thù lao đó là: Các trường hợp cá nhân tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học; tự sao chép một bản nhằm mục đích giảng dạy, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đã được công bố để giảng dạy; trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thông tin.

Những chủ thể sử dụng quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn không phải xin phép nhưng phải trả tiền thù lao đó là các trường hợp tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng (hay chỉ đơn thuần là sử dụng các bản ghi này trong hoạt động kinh doanh, thương mại) có hoặc không có tài trợ, quảng cáo, thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn.

  • Nhóm chủ thể bảo hộ

Việc bảo hộ quyền và lợi ích của người biểu diễn có thể được thực hiện bởi chính chủ thể quyền hoặc được bảo hộ bởi những chủ thể khác được pháp luật trao quyền. Nhóm chủ thể này bao gồm những cơ quan, tổ chức với hoạt động chính nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người biểu diễn khi cuộc biểu diễn do họ sáng tạo bị xâm phạm hay giúp thực thi quyền và hạn chế hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn. Theo tác giả nhóm chủ thể này có thể được phân ra gồm các cơ quan nhà nước và chủ thể quản lý tập thể quyền liên quan.

  • Cơ quan nhà nước

Một số cơ quan nhà nước là những chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người biểu diễn khi cuộc biểu diễn do họ sáng tạo bị xâm phạm. Nhóm chủ thể này bao gồm nhiều cơ quan khác nhau đó là: Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp.

Tòa án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự, hình sự. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Cơ quan Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền áp dụng biện pháp hành chính. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.

  • Chủ thể quản lý tập thể quyền liên quan

Theo kinh nghiệm của các quốc gia khẳng định rằng, tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có vị trí quan trọng trong hệ thống thực thi và có vai trò đặc biệt trong hoạt động tự bảo vệ quyền lợi của các chủ thể quyền. Đây là tổ chức phi chính phủ, bảo vệ quyền và lợi ích của các hội viên, hoạt động không vì mục đích sinh lợi. Thông qua hợp đồng ủy thác của những người có quyền, tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện các hoạt động cấp giấy phép sử dụng, khai thác tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng, thu tiền sử dụng và phân phối cho những người có quyền lợi theo quy định của pháp luật và Điều lệ của tổ chức. Với hoạt động đó, tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là cầu nối giữa các nhà sáng tạo là Hội viên với các tổ chức, cá nhân sử dụng đối tượng quyền liên quan; tạo thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác có hiệu quả các quyền của hội viên.

Trên cơ sở pháp luật quốc tế, hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền tác giả, quyền liên quan từng bước được hình thành và hoàn thiện. Việt Nam đã tham gia các Công ước quốc tế, nhu cầu về một tổ chức ra đời để hoạt động quản lý tập thể đã trở nên bức thiết, đặc biệt đối với lĩnh vực âm nhạc. Vì vậy, với sự đỡ đầu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các công việc liên quan đến chuẩn bị các văn kiện thành lập tổ chức quản lý tập thể đã được xúc tiến và hoàn thiện.

Trên cơ sở sự ghi nhận và cho phép của các quy định pháp luật, hiện nay Việt Nam có bốn tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm: Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam – VCPMC, Trung tâm Quyền tác giả văn học Việt Nam  – VLCC; Hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam – RIAV; Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam – VIETRRO. Các tổ chức quản lý tập thể đang từng bước phát huy và khẳng định vai trò không thể thiếu của mình đối với các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan. Trong số các tổ chức này, Hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam- RIAV được biết đến với vai trò bảo hộ quyền của người biểu diễn, các nhà sản xuất băng điã âm thanh tại Việt Nam. Hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam được thành lập năm 2003 có các hoạt động chính là: Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Tập hợp các đơn vị sản xuất bản ghi âm, ghi hình vào một tổ chức Hiệp hội nhằm hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau để thúc đẩy phát triển sản phẩm bản ghi âm, ghi hình góp phần thúc đẩy sáng tạo, phổ biến các giá trị âm nhạc, các loại hình nghệ thuật dân tộc khác và tinh hoa âm nhạc thế giới tới công chúng.

Quản lý tập thể đối với quyền tác giả, quyền liên quan của các hội viên. Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà sản xuất đối với các chương trình băng đĩa ghi âm, của người biểu diễn đối với buổi biểu diễn được định hình. Chống lại các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong lĩnh vực công nghiệp ghi âm.

  • Hỗ trợ phát hành để đưa tác phẩm tới công chúng một cách thuận lợi.
  • Tham gia tư vấn về việc hoạch định cơ chế, chính sách về bản quyền và các chính sách liên quan đối với cơ quan quản lý nhà nước.
  • Hợp tác, giao lưu với các tổ chức tương ứng của quốc tế và các quốc gia trong việc sản xuất và quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan trong lĩnh vực công nghiệp ghi âm theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức của Hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam bao gồm: trung ương Hiệp hội, các hội thành viên thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập theo quy định của pháp luật và tổ chức cơ sở của Hiệp hội là các chi hội do Hiệp hội thành lập. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hiệp hội là Đại hội đại biểu toàn quốc của Hiệp hội. Đại hội được tiến hành 3 năm một lần, do Ban chấp hành triệu tập. Đại hội toàn quốc có thể họp bất thường theo quyết định của hai phần ba (2/3) tổng số ủy viên Ban chấp hành hoặc theo đề nghị của hơn một phần hai (1/2) tổng số hội viên chính thức [32].

2.3. Quyền và nghĩa vụ của người biểu diễn

Loại hình của tác phẩm văn học, nghệ thuật nói chung hết sức đa dạng và phong phú. Trong đó có những loại hình tác phẩm đến với công chúng một cách trực tiếp như tác phẩm văn học, hội họa hay điêu khắc. Mỗi người đều có thể trực tiếp đọc một cuốn truyện, một bài thơ và cảm nhận cái hay của nó hay trực tiếp thưởng thức một bức tranh, một pho tượng và cảm nhận vẻ đẹp của nó. Mặt khác, có nhiều loại hình tác phẩm chỉ có thể đến được với công chúng khi có người chuyển tải tác phẩm đó thông qua loại hình nghệ thuật nhất định. Người biểu diễn là người chuyển tải tác phẩm đến đông đảo công chúng thông qua các loại hình nghệ thuật khác nhau. Việc sử dụng tác phẩm thông qua hình thức biểu diễn luôn đòi hỏi sự sáng tạo của người biểu diễn, cái hay, cái đẹp của tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật phải thông qua biểu diễn và tác phẩm đó được công chúng cảm nhận ở mức nào phần nhiều phụ thuộc vào tài năng và sự sáng tạo trong quá trình chuyển tải của người biểu diễn. Vì vậy, tùy theo từng phương tiện nhất định, hình thức nghệ thuật mà họ thực hiện để biểu diễn tác phẩm cũng mang dấu ấn cá nhân theo phong cách sáng tạo nên họ có quyền được hưởng các quyền lợi riêng dành cho mình. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền của người biểu diễn bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

2.3.1. Quyền nhân thân của người biểu diễn Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

  • Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn

Đây là quyền năng được ghi nhận đầu tiên trong nhóm quyền nhân thân của người biểu diễn. Sự ghi nhận quyền năng này trong Luật Sở hữu trí tuệ đã thể hiện sự tôn trọng của pháp luật nói riêng và của nhà nước nói chung đối với các thành quả sáng tạo của người biểu diễn. Người biểu diễn tuy không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội nhưng lại đem đến cho công chúng những giá trị tinh thần mà không phải lúc nào các giá trị đó cũng có thể đo bằng thước đo vật chất. Chính vì giá trị sáng tạo và truyền đạt cảm hứng đến công chúng từ các cuộc biểu diễn nên việc xướng tên người biểu diễn khi một cuộc biểu diễn bắt đầu, hay khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn đã trở thành hiển nhiên và được ghi nhận trong các quy định của pháp luật. Đây chính là một sự tôn vinh những giá trị tinh thần được tạo ra bởi những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật.

Danh tiếng của một diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và các nghệ sĩ khác chỉ được công chúng biết đến khi tên của họ được giới thiệu thông qua các cuộc biểu diễn. Vì vậy, việc nêu tên người biểu diễn không chỉ nhằm để cá biệt hóa hình tượng biểu diễn mà còn có tác dụng cung cấp thông tin về cá nhân người biểu diễn tới công chúng thưởng thức. Chắc hẳn mỗi chúng ta khi nghe một bài hát hay xem một bộ phim hay đều có nhu cầu muốn biết tên người ca sĩ thể hiện bài hát đó hay tên người diễn viên nhập vai cho vai diễn gây ấn tượng. Đây hoàn toàn là một nhu cầu bình thường của người nghe, người xem. Nó thỏa mãn nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của mỗi người, giúp họ biết được tác phẩm mình vừa được theo dõi do ai thể hiện. Từ đó nó có thể hình thành trong lòng công chúng những tình cảm, thái độ yêu mến đối với những tiết mục, những vai diễn mà họ thực sự ấn tượng. Đây cũng chính là con đường giúp hình thành nên những hình tượng biểu diễn trong lòng công chúng (ví dụ trong thế giới giải trí công chúng vẫn thường tung hô “Ông hoàng nhạc Việt” – Đàm Vĩnh Hưng hay “Nữ hoàng nhạc Dance” – Thu Minh…). Đó cũng là một lý giải cho việc tại sao có những buổi biểu diễn ca nhạc, âm nhạc hay những bộ phim lần đầu được công chiếu chỉ cần giới thiệu tên những người biểu diễn nổi tiếng tham gia trình diễn đã bán hết vé. Còn có những buổi biểu diễn mà toàn bộ số lượng vé được đem mời miễn phí nhưng số lượng người đến thưởng thức vẫn rất hạn chế.

Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Hình tượng biểu diễn là khái niệm trừu tượng và có nội hàm khá rộng được tạo nên bởi nhiều yếu tố khác nhau như phong cách biểu diễn, âm giọng, thái độ, cử chỉ… Sự sáng tạo riêng, phong cách biểu diễn của mỗi người tạo nên hình tượng biểu diễn và gắn liền với tên tuổi của họ. Vì vậy, người biểu diễn cần được bảo hộ về hình tượng biểu diễn để tránh việc người khác lợi dụng hoặc xuyên tạc. Mặt khác, danh dự, uy tín của người biểu diễn thường được thể hiện trong toàn bộ cuộc biểu diễn với hàng loạt các động thái khác nhau theo trình tự nhất định. Nếu bản định hình hoặc chương trình phát sóng cuộc biểu diễn bị cắt xén hoặc thay đổi trình tự của các động thái đó sẽ gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của người biểu diễn . Mặt khác, khi một tác phẩm đi ện ảnh hay âm nhạc được truyền tải tới công chúng thông qua các diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công… mà bị cắt xén, xuyên tạc thì điều này không những ảnh hưởng tới hình tượng của người biểu diễn mà còn trực tiếp ảnh hưởng tới chính tác giả của tác phẩm được biểu diễn. Điều này cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng quyền được thưởng thức một tác phẩm nguyên gốc của công chúng, khiến công chúng có những nhận định thiếu khách quan về nội dung tác phẩm được truyền tải cũng như các giá trị sáng tạo mà người biểu diễn mang lại.

2.3.2. Quyền tài sản của người biểu diễn

  • Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình

Tại Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan thì định hình được hiểu là: “sự biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt” [1, Điều 4 , Khoản 5].

Quyền này được hiểu là quyền được ghi âm, ghi hình trực tiếp các cuộc biểu diễn. Nói cách khác, định hình cuộc biểu diễn chính là đặt cuộc biểu diễn vào một hình thức vật chất nhất định. Với tư cách là quyền tài sản nên quyền này luôn thuộc về chủ sở hữu cuộc biểu diễn. Theo đó, chủ sở hữu quyền liên quan có thể tự mình thực hiện việc ghi âm, ghi hình, có thể thông qua người khác thực hiện công việc này theo mục đích và lợi ích của mình hoặc có quyền cho hay không cho phép người khác ghi âm, ghi hình trực tiếp cuộc biểu diễn đó. Định hình cuộc biểu diễn có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là bước ghi lại những giá trị sáng tạo tinh thần của người biểu diễn. Đây chính là bước đầu tiên để thực hiện bước tiếp theo là sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn.

  • Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình trên bản ghi âm, ghi hình

Sao chép cuộc biểu diễn là việc tạo ra các bản sao ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn. Trong đó được coi là sao chép trực tiếp nếu bản ghi âm, ghi hình được tạo ra từ bản định hình lần đầu tiên về âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn (còn gọi là băng gốc, đĩa gốc), được coi là sao chép gián tiếp nếu bản ghi âm, ghi hình không được tạo ra từ chính bản ghi âm, ghi hình gốc. Đây là một trong những quyền độc quyền của người biểu diễn. Với quyền sao chép này người biểu diễn sẽ tạo ra các bản sao cuộc biểu diễn của mình để từ đó thực hiện một quyền khác mà pháp luật cho phép đó là phân phối tới công chúng bản sao cuộc biểu diễn của mình. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Phát sóng hoặc truyền theo cách khác tới công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng.

Phát sóng là việc truyền âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đến tới công chúng bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả truyền qua vệ tinh để công chúng có thể tiếp nhận được.

Truyền theo cách khác là việc phổ biến cuộc biểu diễn chưa được định hình đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngoài phát sóng [1, Điều 31, Khoản 3].

Luật Sở hữu trí tuệ đã xác định quyền phát sóng là quyền tài sản luôn thuộc về chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn. Trừ trường hợp cuộc biểu diễn được thực hiện với mục đích để phát sóng.

Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.

Quyền phân phối đến công chúng bản gốc, bản sao cuộc biểu diễn chính là quy định của pháp luật cho phép người biểu diễn hoặc chủ sở hữu cuộc biểu diễn được thu về các giá trị vật chất từ các giá trị tinh thần mà cuộc biểu diễn và người biểu diễn mang lại. Đây chính là phương thức đền bù xứng đáng công sức hoạt động nghệ thuật của người biểu diễn, đồng thời cũng tạo cơ sở cho người biểu diễn thúc đẩy hoạt động đầu tư sáng tạo các tác phẩm mới. Khi xác định người biểu diễn được hưởng các quyền nào trong các quyền nói trên cần phải căn cứ vào tư cách chủ thể của họ đối với cuộc biểu diễn. Người biểu diễn có thể mang một trong hai tư cách chủ thể: hoặc là chủ sở hữu quyền liên quan hoặc là chỉ mang tư cách người biểu diễn. Nếu được xác định là chủ sở hữu quyền liên quan thì người biểu diễn có tất cả các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn của mình. Nếu chỉ là người biểu diễn mà không đồng thời là chủ sở hữu quyền liên quan thì người biểu diễn chỉ có các quyền nhân thân. Tuy nhiên, trong trường hợp này, ngoài các quyền nhân thân, người biểu diễn được hưởng một khoản tiền thù lao khi người khác sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được công bố nhằm mục đích thương mại để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất cứ hình thức nào hoặc sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại. Việc hưởng tiền thù lao của người biểu diễn trong các trường hợp này tùy thuộc vào thỏa thuận giữa người biểu diễn với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình khi thực hiện chương trình ghi âm, ghi hình.

2.3.3. Nghĩa vụ của người biểu diễn Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Bên cạnh việc được hưởng các quyền tài sản và quyền nhân thân như phân tích trên, người biểu diễn với tư cách là người sử dụng tác phẩm của người khác còn phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Các nghĩa vụ mà người biểu diễn phải thực hiện bao gồm:

Phải xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả trước khi sử dụng tác phẩm của họ để trình diễn, chỉ được biểu diễn khi có sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì biểu diễn tác phẩm trước công chúng là quyền độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Nghị định 100/2006/NĐ-CP, ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ cũng quy định chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được. Chính vì vậy mà khi người biểu diễn muốn thể hiện một tác phẩm nào đó thì họ phải xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Quy định này thể hiện sự tôn trọng của người biểu diễn đối với những người sáng tạo ra tác phẩm. Tuy nhiên, pháp luật Sở hữu trí tuệ cũng ghi nhận một số trường hợp ngoại lệ cho phép sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép không phải trả tiền thù lao bao gồm: biểu diễn tác phẩm sân khấu hoặc loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào và ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy. Ngoài các trường hợp ngoại lệ việc xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả là một trong những điều kiện để cuộc biểu diễn được công nhận một cách hợp pháp.

Phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả trừ trường hợp biểu diễn các tác phẩm sân khấu và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động nơi công cộng. Trong trường hợp người biểu diễn đồng thời là chủ sở hữu cuộc biểu diễn thì khi thực hiện cuộc biểu diễn người biểu diễn phải thực hiện nghĩa vụ xin phép và trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Đối với trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ sở hữu cuộc biểu diễn thì nghĩa vụ xin phép và trả thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thuộc về chủ sở hữu cuộc biểu diễn đó, còn người biểu diễn chỉ đơn thuần là người thực hiện cuộc biểu diễn và được pháp luật bảo hộ quyền nhân thân. Đây là nghĩa vụ của người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn, cũng là quy định mà pháp luật đặt ra với ý nghĩa nhằm bảo vệ quyền lợi về mặt kinh tế cho tác giả.

2.4. Giới hạn quyền của người biểu diễn Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

2.4.1. Các nguyên tắc giới hạn quyền của người biểu diễn

Ngoài việc đặt ra các quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người biểu diễn trước mọi hành vi xâm phạm, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đưa ra các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả tiền như những ngoại lệ trong việc khai thác, sử dụng quyền liên quan. Có thể thấy trong việc đưa ra các trường hợp ngoại lệ này nhà làm luật đã dựa trên hai nguyên tắc sau:

Nguyên tắc thứ nhất là việc sử dụng không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn. Để thực hiện một cuộc biểu diễn, người biểu diễn phải đầu tư rất nhiều thời gian, tài chính, cơ sở vật chất và mục đích của họ khi tạo ra các cuộc biểu diễn phục vụ công chúng nhằm thu lại các giá trị kinh tế cho bản thân. Chính vì vậy, khi khai thác cuộc biểu diễn trong các trường hợp ngoại lệ mà các chủ thể sử dụng làm ảnh hưởng tới việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn thì quyền lợi của người biểu diễn không được đảm bảo, gây thiệt hại cho người biểu diễn và từ đó sẽ ảnh hưởng tới việc khuyến khích đầu tư, sáng tạo đối với những cá nhân, tổ chức hoạt động nghệ thuật.

Nguyên tắc thứ hai là trong quá trình sử dụng các chủ thể phải tôn trọng quyền của người biểu diễn như thông tin về người biểu diễn, thông tin về cuộc biểu diễn… Việc tôn trọng quyền của người biểu diễn khi sử dụng cuộc biểu diễn do họ tạo ra là thái độ của người thụ hưởng đối với người tạo ra các giá trị nghệ thuật. Không những thế, tôn trọng quyền của người biểu diễn còn là sự tôn trọng pháp luật, thực hiện tốt nguyên tắc này cũng góp phần vào việc nâng cao sự bảo đảm về quyền lợi cho người biểu diễn.

2.4.2. Các trường hợp giới hạn quyền của người biểu diễn Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

  • Các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn không phải xin phép nhưng phải trả tiền thù lao

Trên cơ sở các nguyên tắc giới hạn quyền của người biểu diễn, Luật Sở hữu trí tuệ quy định về các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả tiền bao gồm:

  1. Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học của cá nhân;
  2. Tự sao chép một bản nhằm mục đích giảng dạy , trừ trường hợp cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được công bố để giảng dạy;
  3. Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thông tin;
  4. Tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm thời để phát sóng khi được hưởng quyền phát sóng [16, Điều 32].

Tại điểm 10 khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ thì “Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử” [18, Điều 1]. Theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền sao chép là quyền độc quyền của người biểu diễn hoặc chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn. Các chủ thể này có thể tự mình hoặc cho phép người khác thực hiện quyền sao chép. Tuy nhiên Điều 32 Luật Sở hữu trí tuệ đã dành ra một số trường hợp ngoại lệ đối với quyền sao chép đó là: Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học của cá nhân; hoặc nhằm mục đích giảng dạy, trừ trường hợp cuộc biểu diễn, bản ghi âm ghi hình đã được công bố để giảng dậy. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, trường hợp sao chép với số lượng lớn hơn một bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng để phục vụ mục đích sử dụng cá nhân, phi thương mại vẫn phải xin phép, vẫn phải trả tiền cho chủ sở hữu quyền liên quan. Tuy nhiên, việc bắt buộc các trường hợp khi sao chép (với số lượng lớn hơn một bản) bản ghi âm, ghi hình để sử dụng cá nhân, phi thương mại phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền liên quan khó có thể thực hiện được trên thực tế. Ngày nay, với sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất và kinh doanh các thiết bị và phương tiện để sao chép, mỗi cá nhân đều dễ dàng có cơ hội sở hữu cũng như sử dụng các phương tiện như máy ghi âm, máy tính, máy photocopy, máy fax, máy ghi đĩa CD, VCD… ngay tại gia đình dẫn đến việc sao chép cá nhân không thể kiểm soát, quản lý được.

Bên cạnh đó, có một số môi trường thường xuyên có hoạt động sao chép với số lượng lớn nhưng không vì mục đích thương mại như các cơ sở nghiên cứu, đào tạo… Vì vậy, nhiều quốc gia đã sửa đổi quy định về sao chép cho phù hợp hơn, vừa bảo vệ được quyền lợi của người sáng tạo, tạo điều kiện bù đắp những công sức, chi phí mà họ phải bỏ ra đồng thời tạo cơ chế thực thi hiệu quả. Cụ thể, pháp luật về bản quyền của nhiều quốc gia cho phép nhưng kết hợp chặt chẽ với cơ chế “trả phí đền bù bản quyền” (remuneration) cho chủ sở hữu quyền, như Điều 20.3 Đạo luật quyền tác giả Thụy Sĩ quy định việc trả phí đền bù bản quyền của những người sản xuất vật ghi và thiết bị ghi. Thiết nghĩ, Điều 32 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam nên mở rộng hơn ngoại lệ cho việc sao chép với mục đích sử dụng cá nhân, phi thương mại, cụ thể, thay vì buộc các chủ thể này khi sao chép (với số lượng lớn) phải xin phép, trả tiền cho chủ sở hữu quyền liên quan, chúng ta có thể thu một khoản tiền đền bù bản quyền của những nhà sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu các thiết bị và vật ghi.

Một trường hợp sử dụng quyền liên không phải xin phép không phải trả tiền thù lao khác được Luật Sở hữu trí tuệ quy định là “Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thông tin”. Vậy, hiểu “trích dẫn hợp lý” thế nào cho đúng? Theo quy định tại Điều 33 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 thì trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thông tin quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc sử dụng các trích đoạn nhằm mục đích thuần túy đưa tin và phải phù hợp với các điều kiện sau: Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

  • Phần trích chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề trong việc cung cấp thông tin;
  • Số lượng và thực chất của phần trích dẫn từ cuộc biểu diễn, không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn, phù hợp với tính chất, đặc điểm của cuộc biểu diễn được sử dụng để trích dẫn.

Như vậy, một cuộc biểu diễn được trích dẫn một cách phù hợp với mục đích thuần túy đưa tin trong các chương trình thời sự hoặc các kênh truyền thông và các phương tiện thông tin đại chúng khác thì sẽ được hưởng ngoại lệ của quyền liên quan là không phải xin phép, không phải trả thù lao đối với chủ sở hữu cuộc biểu diễn. Suy cho cùng việc trích dẫn cuộc biểu diễn nhằm cung cấp thông tin ngoài việc đáp ứng nhu cầu cập nhật thông tin của đông đảo công chúng còn có ý nghĩa trong việc giới thiệu, quảng bá tác phẩm và hình ảnh của người biểu diễn đến quần chúng nên trường hợp này được quy định 1à ngoại lệ của việc sử dụng quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn là hoàn toàn hợp lý.

Bên cạnh các trường hợp trên pháp luật còn quy định một trường hợp ngoại lệ nữa của việc sử dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao đó là: “Tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm thời để phát sóng khi được hưởng quyền phát sóng”. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền tạo bản sao cuộc biểu diễn là quyền độc quyền của người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn. Tuy nhiên, theo trường hợp ngoại lệ này khi tổ chức phát sóng được hưởng quyền phát sóng thì có thể tự làm bản sao tạm thời cuộc biểu diễn để phát sóng mà không phải xin phép và trả thù lao cho người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn. Tại Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 có giải thích:

Bản sao tạm thời của tổ chức phát sóng được hưởng quyền phát sóng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ là bản định hình có thời hạn, do tổ chức phát sóng thực hiện bằng các phương tiện thiết bị của mình, nhằm phục vụ cho buổi phát sóng ngay sau đó của chính tổ chức phát sóng. Trong trường hợp đặc biệt thì bản sao đó được lưu trữ trong trung tâm lưu trữ chính thức [1, Điều 34].

Như vậy , việc tạo ra bản sao tạm thời để phát sóng và được hưởng ngoại lệ này của tổ chức phát sóng phải đáp ứng được hai điều kiện đó là bản sao tạm thời đó phải là bản định hình có thời hạn và phải nhằm phục vụ cho buổi phát sóng ngay sau đó của chính tổ chức phát sóng. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

  • Các trường hợp sử dụng cuộc biểu diễn không phải xin phép nhưng phải trả tiền thù lao

Ngoài các trường hợp ngoại lệ được quy định tại Điều 32 của Luật Sở hữu trí tuệ, nhà làm luật còn có quy định riêng các trường hợp sử dụng quyền của người biểu diễn không phải xin phép nhưng phải trả tiền thù lao theo Điều 33 luật này. Theo đó các trường hợp tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng (hay chỉ đơn thuần là sử dụng các bản ghi này trong hoạt động kinh doanh, thương mại) có hoặc không có tài trợ, quảng cáo, thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật. Đây là ngoại lệ dành riêng cho những trường hợp mà do đặc thù của lĩnh vực hoạt động, những chủ thể này thường xuyên sử dụng bản ghi âm, ghi hình để phục vụ cho nhu cầu giải trí của công chúng như: các tổ chức phát sóng, chủ thể khác sử dụng tác phẩm, bản ghi để phát sóng; các chủ thể sử dụng bản ghi âm trong hoạt động kinh doanh, thương mại như vũ trường, nhà hàng, khách sạn, quán karaoke, các trang web nhạc… Để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể này trong quá trình sử dụng quyền liên quan pháp luật quy định họ không phải xin phép chủ thể của quyền liên quan nhưng vẫn phải trả thù lao khi sử dụng. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra ở đây là người sử dụng sẽ phải trả tiền cho tất cả các chủ thể được liệt kê trong điều luật hay chỉ một hoặc một số chủ thể nhất định?

Nếu theo Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ thì trong trường hợp người biểu diễn không phải là chủ đầu tư thực hiện cuộc biểu diễn thì họ chỉ có các quyền nhân thân đối với cuộc biểu diễn; chủ đầu tư sẽ có các quyền tài sản, trong đó có quyền định hình, sao chép, phát sóng bản ghi cuộc biểu diễn. Tuy nhiên, nếu theo quy định của Điều 33 thì cả người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi đều được trả thù lao khi bản ghi được phát sóng hoặc được sử dụng trong hoạt động kinh doanh, thương mại. Liên quan đến vấn đề này , Công ước Rome quy định:

Nếu một bản ghi âm được công bố vì mục đích thương mại hoặc một bản sao của bản ghi âm như vậy được sử dụng trực tiếp để phát sóng hoặc cho bất  kì sự truyền đạt nào đến công chúng thì một khoản tiền thù lao hợp lý phải được người sử dụng trả cho người biểu diễn hoặc cho nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình hoặc cho cả hai [10, Điều 12].

Như vậy, Công ước Rome đã đưa ra quy định mở cho các quốc gia khi quy định về vấn đề này. Trên thực tế, việc ai sẽ được hưởng thù lao khi bản ghi được sử dụng để phát sóng hoặc sử dụng trong hoạt động kinh doanh sẽ do các chủ thể của quan hệ này tự do thỏa thuận. Tuy nhiên, trong thực tế ở Việt Nam, khi ghi âm, ghi hình hầu như các nhà sản xuất và người biểu diễn chỉ thỏa thuận về thù lao biểu diễn mà không hề thỏa thuận về quyền hưởng thù lao khi bản ghi đó được sử dụng dưới các hình thức khác. Để tránh tranh chấp về quyền lợi giữa những chủ thể , Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ nên quy định rõ tiền thù lao sẽ được trả cho chủ sở hữu bản ghi âm, ghi hình được sử dụng. Tùy từng trường hợp, chủ sở hữu bản ghi có thể là người biểu diễn hoặc nhà sản xuất bản ghi hoặc tổ chức phát sóng hoặc họ có thể thỏa thuận là đồng chủ sở hữu và được hưởng thù lao theo thỏa thuận.

2.5. Thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Theo quy định tại Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình. Pháp luật sở hữu trí tuệ quy định các quyền của chủ thể liên quan có thời hạn bảo hộ chung là năm mươi năm, không phân biệt đó là quyền nhân thân hay quyền tài sản. Đây là điểm khác biệt cơ bản nếu so sánh quyền của người biểu diễn nói riêng, quyền liên quan nói chung với quyền tác giả vì trong quyền tác giả thì thời hạn bảo hộ quyền nhân thân không chuyển dịch của tác giả là vô thời hạn.

  • Quyền của người biểu diễn bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.

Các quyền của người biểu diễn được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ “Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình” [16]. Tuy nhiên, cả hai quyền này pháp luật hiện hành quy định thời hạn bảo hộ cùng là năm mươi năm (khoản 1 Điều 34). Khi người biểu diễn chỉ có quyền nhân thân mà không có quyền tài sản thì cũng chỉ có thể áp dụng thời hạn bảo hộ quy định tại khoản 1 Điều 34. Thời hạn bảo hộ quyền liên quan không có sự phân biệt như trong các quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả. Đây là điểm khác biệt so với quyền tác giả vì trong quyền tác giả thời hạn bản hộ quyền nhân thân là không chuyển dịch vô thời hạn (khoản 1 Điều 27). Việc quy định quyền nhân thân của người biểu diễn chỉ được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo cuộc biểu diễn được định hình nhằm tạo sự phù hợp với quy định về thời hạn bảo hộ trong Thoả thuận TRIPS góp phần đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả quy định này chưa thực sự phù hợp với thực tiễn hiện nay. Chỉ cần so sánh với quyền nhân thân trong quyền tác giả, cùng một quyền được nêu tên khi tác phẩm hay cuộc biểu diễn được sử dụng (khoản 2 Điều 19 và điểm a khoản 2 Điều 29), trong khi quyền tác giả được bảo hộ vô thời hạn thì quyền liên quan của người biểu diễn lại chỉ được bảo hộ là năm mươi năm.

Cũng có quan điểm cho rằng việc xác định thời hạn bảo hộ quyền liên quan chỉ trong thời hạn là năm mươi năm (mà không phải là vô thời hạn) vì các quyền nhân thân đó chỉ được thực hiện và đảm bảo khi bản định hình cuộc biểu diễn còn tồn tại, trong khi do đặc tính kỹ thuật, các bản định hình cuộc biểu diễn chỉ có thể bảo quản được trong thời hạn nhất định. Hơn nữa, với thời hạn bảo hộ năm mươi năm cũng đủ để người biểu diễn khai thác hết các giá trị kinh tế đối với cuộc biểu diễn của mình, đồng thời cũng bảo đảm lợi ích cho các chủ thể khác trong xã hội khi sử dụng các tác phẩm có sự bảo hộ này.

Tuy nhiên, về bản chất quyền nhân thân trong quyền tác giả và quyền liên quan là tương đối giống nhau. Hơn nữa quyền liên quan còn là quyền kề cận với quyền tác giả nên việc quy định thời hạn bảo hộ là năm mươi năm là chưa phù hợp, ví dụ như các cuộc biểu diễn của ông vua nhạc Pop Micheal Jackson sau năm mươi năm nữa sẽ bị người khác đổi tên thành tên khác khi được sử dụng, khai thác. Hay giả sử bản ghi âm, ghi hình có sử dụng cuộc biểu diễn của người biểu diễn, sau năm mươi năm nữa khi bản ghi âm, ghi hình được sử dụng, phát sóng thì có thể thay đổi tên của người biểu diễn đó được.

2.6. Bảo vệ quyền của người biểu diễn Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Quyền của người biểu diễn là quyền đối với những thành quả sáng tạo nghệ thuật do họ tạo ra. Việc bảo vệ quyền của người biểu diễn là bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn và được hiểu dưới hai phương diện sau đây:

  • Theo phương diện khách quan: Bảo vệ quyền của người biểu diễn là tổng hợp các quy định của pháp luật công nhận các chủ thể quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với cuộc biểu diễn của chủ sở hữu được pháp luật thừa nhận.
  • Theo phương diện chủ quan: Bảo vệ quyền của người biểu diễn là biện pháp cụ thể được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với cuộc biểu diễn tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm.

Dù xem xét dưới phương diện khách quan hay phương diện chủ quan thì trước hết khi nghiên cứu về Bảo vệ quyền của người biểu diễn ta phải tìm hiểu các hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn.

2.6.1. Các dạng hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn

Người biểu diễn là người đầu tư nhiều thời gian, công sức để sáng tạo ra các giá trị nghệ thuật trong một cuộc biểu diễn. Trong nhiều trường hợp, bên cạnh vai trò là người tham gia biểu diễn họ còn tự mình đầu tư tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện cuộc biểu diễn nên đồng thời họ còn là chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn đó. Chính vì vậy, pháp luật sở hữu trí tuệ đã trao cho họ những quyền năng nhất định của người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn. Tuy nhiên, những quyền năng của họ đối với cuộc biểu diễn luôn có nguy cơ bị xâm phạm bởi những hành vi trái pháp luật. Các dạng hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn được quy định tại Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ. Dựa vào nội dung bảo hộ quyền liên quan thì các dạng hành vi này có thể chia thành hai nhóm như sau:

  • Các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của người biểu diễn

Căn cứ vào Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ thì các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của người biểu diễn bao gồm:

  • Hành vi mạo danh người biểu diễn Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Hành vi mạo danh người biểu diễn là hành vi dùng tên người khác (người mạo danh) để thay thế tên của người biểu diễn thực sự trong một cuộc biểu diễn. Hành vi mạo danh người biểu diễn sẽ khiến cho người mạo danh nhanh chóng tận dụng được sự quan tâm của đông đảo quần chúng đối với tên tuổi của mình hay nói cách khác là người mạo danh sẽ được công chúng biết đến nhanh hơn và rộng hơn. Tuy nhiên, đối với người biểu diễn hành vi mạo danh này sẽ làm ảnh hưởng tới hình ảnh của người biểu diễn, tới các giá trị nghệ thuật mà người biểu diễn đã tạo nên trong một cuộc biểu diễn. Trong những năm gần đây, hành vi mạo danh người biểu diễn diễn ra khá phổ biến. Một ví dụ về việc mạo danh người biểu diễn đó là sự việc một người nghệ sĩ có khả năng giả giọng rất nhiều tiếng kêu của các loài động vật hoang dã đi biểu diễn ở nhiều nơi để phục vụ quần chúng. Tuy nhiên, các tiết mục biểu diễn của người nghệ sĩ này nhanh chóng được ghi âm lại và được truyền phát trong các buổi biểu diễn sau đó mà người thể hiện tại các buổi biểu diễn này lại là người khác (người không có khả năng giả giọng tiếng kêu của các loài động vật). Hậu quả là tiết mục biểu diễn của người nghệ sĩ có khả năng giả giọng thực sự đã không còn được đông đảo công chúng đón nhận vì họ cho rằng nó không còn đặc sắc nữa do có quá nhiều người biểu diễn được như vậy. Hay trong các buổi biểu diễn âm nhạc hiện nay hiện tượng mạo danh ca sĩ mà công chúng vẫn gọi là “hát nhép” diễn ra rất nhiều. Trong các trường hợp này, người biểu diễn chỉ làm động tác, điệu bộ như đang diễn còn giọng hát và phần trình bày thật sự đã được thu phát từ đĩa là do một ca sĩ khác thể hiện chứ không phải người đang biểu diễn thể hiện.

  • Sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào đối với cuộc biểu diễn gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

Hành vi sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc dưới bất ký hình thức nào đối với cuộc biểu diễn một cách bất hợp pháp sẽ làm mất đi những giá trị nghệ thuật ban đầu mà người biểu diễn muốn truyền đạt tới công chúng. Vì vậy, nếu một cuộc biểu diễn bị sửa chữa, cắt xén xuyên tạc truyền tới công chúng sẽ khiến công chúng có những nhận định không đúng với những giá trị nghệ thuật mà người biểu diễn muốn truyền tải đồng thời nó sẽ làm ảnh hưởng tới danh dự và uy tín của người biểu diễn.

  • Hành vi xâm phạm quyền tài sản của người biểu diễn

Hành vi chiếm đoạt quyền của người biểu diễn. Theo quan điểm của tác giả thì hành vi chiếm đoạt quyền của người biểu diễn là hành vi dịch chuyển các quyền mà pháp luật trao cho người biểu diễn sang cho người chiếm đoạt một cách bất hợp pháp. Mục đích của chiếm đoạt quyền là sử dụng và khai thác các quyền năng lẽ ra thuộc về người biểu diễn để mang lại lợi ích cho người chiếm đoạt. Hành vi chiếm đoạt quyền liên quan nói chung và quyền của người biểu diễn nói riêng chủ yếu là chiếm đoạt quyền sử dụng. Việc chiếm đoạt quyền sử dụng đối với cuộc biểu diễn được hiểu là việc sao chép cuộc biểu diễn đã công bố bằng bất kỳ phương tiện nào để phân phối công cộng mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu và việc định hình bất hợp pháp cuộc biểu diễn trực tiếp mà theo cách thông thường vẫn được gọi là “làm lậu”.

Công bố, sản xuất và phân phối cuộc biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không được phép của người biểu diễn. Đây là các quyền độc quyền của người biểu diễn hoặc chủ sở hữu cuộc biểu diễn. Tuy nhiên, khi các quyền này không được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền mà thực hiện bởi các chủ thể xâm phạm quyền thì sẽ gây thiệt hại cho người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Sao chép, trích ghép đối với cuộc biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không được phép của người biểu diễn. Việc tạo ra các bản sao trái phép hay việc trích ghép làm mất tính nguyên gốc ban đầu của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình đều là các hành vi gây thiệt hại về kinh tế và các giá trị nghệ thuật của cuộc biểu diễn. Theo khoản 3 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ việc bản sao cuộc biểu diễn được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền bị coi là hành vi tạo ra hàng hóa sao chép lậu. Khái niệm hàng giả theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng bao gồm bốn trường hợp đó là hàng giả về nội dung; hàng giả về hình thức; trường hợp giả mạo về sở hữu trí tuệ và các trường hợp là tem, nhãn, bao bì giả. Như vậy, trường hợp bản sao, bản định hình cuộc biểu diễn được tạo ra một cách trái phép hoặc một phần hay toàn bộ cuộc biểu diễn đã được định hình bị sao chép, trích ghép trái phép thuộc trường hợp hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ. Hiện nay, tình trạng hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ mà cụ thể chính là băng đĩa sao chép lậu đã và đang được bày bán tràn lan trên thị trường gây thiệt hại cho chủ thể quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn và gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như xử lý hành vi vi phạm của các cơ quan chức năng. Trong công tác đấu tranh chống hàng giả đặc biệt là hàng hóa sao chép lậu nhà làm luật muốn đề cao vai trò pháp lý của chính các chủ thể có quyền sở hữu trí tuệ bị xâm hại.

Phát sóng, phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng cuộc biểu diễn, bản sao cuộc biểu diễn đã được định hình khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử đã bị dỡ bỏ hoặc đã bị thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan. Đây là trường hợp xâm hại quyền của người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn khi biết được các thông tin điện tử bảo mật đối với cuộc biểu diễn đó bị dỡ bỏ hoặc bị thay đổi. Trường hợp này có lẽ thường xảy ra từ những người có độ thân tín nhất định với người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn bị xâm phạm.

2.6.2. Xác định hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn

Một hành vi bị xem xét và bị coi là hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn khi có đủ các căn cứ sau đây:

  • Đối tượng bị xem xét (cuộc biểu diễn) thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền liên quan.

Việc xác định đối tượng được bảo hộ được thực hiện bằng cách xem xét các tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ phát sinh, xác lập quyền theo quy định tại Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền (Cục Bản quyền hoặc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thì cuộc biểu diễn được bảo hộ được xác định theo Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan mà cơ quan đã cấp cho chủ sở hữu cuộc biểu diễn đó. Trường hợp quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì quyền này được xác định trên có sở bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn và các tài liệu liên quan (nếu có). Trường hợp bản định hình đầu tiên của cuộc biểu diễn và các tài liệu liên quan không còn tồn tại thì quyền của người biểu diễn được xem là có thực trên cơ sở thông tin về người biểu diễn và về cuộc biểu diễn tương ứng được thể hiện thông thường trên các bản sao được công bố hợp pháp.

  • Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Yếu tố xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn có thể thuộc một trong các dạng sau đây: Bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn được tạo ra một cách trái phép; Bản sao bản định hình cuộc biểu diễn được tạo ra một cách trái phép; Một phần hoặc toàn bộ cuộc biểu diễn đã được định hình bị sao chép, trích ghép trái phép; Sản phẩm có gắn thiết bị kỹ thuật bảo vệ quyền liên quan bị vô hiệu hóa trái phép, bản định hình cuộc biểu diễn bị dỡ bỏ hoặc bị thay đổi một cách trái phép thông tin về quản lý quyền liên quan. Sản phẩm có chứa yếu tố xâm phạm này bị coi là sản phẩm xâm phạm quyền liên quan.

Căn cứ xác định yếu tố xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn là phạm vi bảo hộ quyền liên quan đã được xác định theo hình thức thể hiện bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn. Để xác định một bản định hình cuộc biểu diễn có phải là yếu tố xâm phạm quyền liên quan hay không cần so sánh bản sao cuộc biểu diễn với bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn đó. Bản sao bản định hình cuộc biểu diễn bị coi là yếu tố xâm phạm trong các trường hợp sau đây: Bản sao là bản sao chép một phần hoặc toàn bộ bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn đang được bảo hộ của người khác.

  • Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 32, 33 của Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam. Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam.

Đồng thời với việc nghiên cứu lý luận về các hành vi xâm phạm và phương thức xác định hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn tác giả xin đưa ra và phân tích một ví dụ điển hình cho việc xâm phạm quyền của người biểu diễn trong thời gian qua đó là vụ việc ca sĩ Mỹ Tâm khởi kiện nhiều công ty viễn thông và hàng chục website nhạc số đã kinh doanh các bản nhạc chuông, nhạc chờ có sử dụng các bài hát do Mỹ Tâm thể hiện mà không trả tiền. Trong sự việc này đã có nhiều quan điểm khác nhau của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với quyền liên quan của người biểu diễn.

Các công ty sử dụng bài hát của Mỹ Tâm tỏ ra lúng túng và cho rằng mình không phải trả tiền cho người biểu diễn vì đã trả tiền đầy đủ cho Hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam – RIAV (đơn vị đại diện đã được các nhà sản xuất bản ghi âm ủy thác quyền) và toàn bộ các bản ghi âm đó được cung cấp bởi RIAV.

Về phía RIAV, căn cứ vào khoản 1 Điều 29; Điều 30; Điều 44 Luật Sở hữu trí tuệ, RIAV cho rằng tất cả các bản ghi âm , ghi hình do hội viên RIAV đầu tư toàn bộ, họ chỉ mời Mỹ Tâm đến để ghi âm , ghi hình và đã trả đủ tiền thù lao, vì vậy, các bản ghi âm, ghi hình thuộc sở hữu của các nhà sản xuất là hội viên RIAV, họ có quyền tài sản đối với những bản ghi âm đó, Mỹ Tâm chỉ còn quyền nhân thân. Do đó họ là chủ thể duy nhất được tự do kinh doanh và thu tiền từ những cá nhân, tổ chức sử dụng bản ghi của họ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Về phía Công ty TNHH dịch vụ giải trí Mỹ Tâm: Họ cho rằng trong quá trình hợp tác ghi âm với các hãng băng đĩa, Mỹ Tâm chưa bao giờ thỏa thuận hay ký hợp đồng về chuyển giao quyền của người biểu diễn của mình cho bất kỳ hãng nào. Công ty của Mỹ Tâm cho rằng các nhà sản xuất băng đĩa có quyền liên quan đối với các bản ghi âm, ghi hình vì vậy họ yêu cầu các tổ chức, cá nhân sử dụng quyền liên quan phải thanh toán tiền thù lao là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ, các đơn vị kinh doanh phải trả tiền cho nhà sản xuất bản ghi (thông qua RIAV) và trả tiền sử dụng quyền liên quan của người biểu diễn cho Mỹ Tâm. Chính từ căn cứ này Mỹ Tâm đã thông báo về việc vi phạm bản quyền và yêu cầu các đơn vị kinh doanh liên quan phải trả tiền thù lao bồi thường khi họ cung cấp nội dung số các bài hát do Mỹ Tâm thể hiện để làm nhạc chuông, nhạc chờ điện thoại.

Nguyên nhân của việc tranh chấp trên xuất phát từ chính sự hiểu biết pháp luật không thống nhất giữa các chủ thể liên quan mặc dù các quy định của pháp luật đã khá cụ thể, rõ ràng. Phía chủ thể sử dụng các ca khúc của Mỹ Tâm thì cho rằng mình không phải trả tiền cho người biểu diễn vì đã trả tiền cho Hiệp hội công nghiệp ghi âm RIAV. Phía RIAV thì lại cho rằng khi mời Mỹ Tâm đến biểu diễn để ghi âm, ghi hình họ đã trả thù lao cho cô. Vì vậy, toàn bộ các bản ghi này đều thuộc quyền sở hữu của các hãng ghi âm, ghi hình và ca sĩ Mỹ Tâm chỉ còn lại các quyền nhân thân. Tuy nhiên, các chủ thể này lại bỏ qua quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ đó là: “Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền quy định tại khoản 3 Điều này phải trả thù lao cho người biểu diễn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật không quy định” [16, Điều 29, Khoản 4]. Có thể thấy, với tư cách là chủ sở hữu cuộc biểu diễn phía RIAV đã nhầm lẫn giữa toàn bộ quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn mà họ được hưởng theo khoản 3 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ với quyền được hưởng thù lao của ca sĩ Mỹ Tâm. Mỹ Tâm không những được hưởng thù lao khi tham gia ghi âm, ghi hình theo lời mời của RIAV mà còn được hưởng thù lao theo khoản 4 Điều 29 khi cuộc biểu diễn đó được khai thác, sử dụng vào mục đích kinh doanh bởi các cá nhân, tổ chức khác và quyền được hưởng thù lao này hoàn toàn độc lập với quyền tài sản theo khoản 3 Điều 29. Như vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 33 và quy định tại khoản 4 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ, việc các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng các ca khúc của Mỹ Tâm để làm nhạc chuông, nhạc chờ phải trả thù lao cho cô là hoàn toàn có cơ sở. Chính vì vậy, mặc dù có nhiều quan điểm trái ngược từ phía các chủ thể liên quan nhưng cuối cùng Mỹ Tâm đã nhận được thù lao xứng đáng từ phía các công ty viễn thông và rất nhiều website nhạc số mà chưa phải đưa vụ việc ra tòa.

2.6.3. Các biện pháp bảo vệ quyền của người biểu diễn Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Trong những năm gần đây tình trạng chiếm đoạt quyền của người biểu diễn ngày càng diễn ra phổ biến với tính chất ngày càng nghiêm trọng. Đứng trước tình trạng này, có rất nhiều lý do để bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thực hiện những biện pháp hữu hiệu để chống lại các hành vi chiếm đoạt.

Lý do đầu tiên và có lẽ là lý do quan trọng nhất là các quyền của người biểu diễn bị xâm phạm, điều này có nghĩa là người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn phải chịu thiệt hại đáng kể về mặt kinh tế. Điều này không chỉ gây thiệt hại tới lợi ích kinh tế cá nhân của những người hưởng quyền mà còn thiệt hại tới toàn xã hội bởi nó cản trở tính sáng tạo và đi ngược lại với lợi ích mà pháp luật về sở hữu trí tuệ đặt ra.

Trên thực tế việc chiếm đoạt thường xâm hại đến các sản phẩm đang thành công; chúng là những sản phẩm mà những kẻ chiếm đoạt quan tâm. Trong ngành công nghiệp thu thanh chỉ có một phần nhỏ các tác phẩm là thành công về mặt kinh tế và chính nguồn thu nhập từ các tác phẩm này khiến cho ngành công nghiệp có thể hỗ các tác phẩm ít thành công hơn. Nếu sự khích lệ này mất đi, ngành công nghiệp không thể tiếp tục sản xuất và chất lượng đầu ra sẽ thấp hơn, điều này về lâu dài sẽ gây thiệt hại tới lợi ích của người tiêu dùng và toàn xã hội nói chung.

Những lý do của việc đấu tranh với nạn chiếm đoạt nên được xem xét ở nhiều khía cạnh. Đôi khi người ta nói rằng nạn chiếm đoạt không chỉ là một hiện tượng xấu bởi nó cung cấp cho thị trường những sản phẩm phổ thông với giá rẻ. Hơn nữa việc chiếm đoạt còn tạo ra công ăn việc làm cho một lực lượng lao động đáng kể và vì thế càng tạo ra những cơ hội công việc. Người ta cũng cho rằng trong xã hội có nhiều vấn đề ưu tiên cấp bách hơn là chống lại nạn chiếm đoạt. Những căn cứ này sẽ thường vô giá trị nếu một quốc gia muốn duy trì thanh danh quốc tế của mình và tham gia vào việc trao đổi quốc tế về văn hóa, thông tin và giải trí.

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền liên quan nói chung và người biểu diễn nói riêng có thể lựa chọn các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình:

  • Biện pháp tự bảo vệ
  • Biện pháp dân sự
  • Biện pháp hành chính, hình sự
  • Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại biên giới.
  • Biện pháp tự bảo vệ

Pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trao cho các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ quyền tự bảo vệ trước các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình. Quyền tự bảo vệ được quy định tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ và hướng dẫn chi tiết tại Điều 21 Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Theo đó, chủ sở hữu cuộc biểu diễn có thể lựa chọn nhiều biện pháp khác nhau để tự bảo vệ quyền của mình đối với cuộc biểu diễn như:

  • Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

Các biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: Đưa các thông tin chỉ dẫn về căn cứ phát sinh, Văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu, phạm vi, thời hạn bảo hộ và các thông tin khác về quyền sở hữu trí tuệ lên sản phẩm, phương tiện dịch vụ, bản gốc và bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng (gọi chung là sản phẩm) nhằm thông báo rằng sản phẩm là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ đang được bảo hộ và khuyến cáo người khác không được xâm phạm; Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại. Việc yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm do chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện bằng cách thông báo bằng văn bản cho người xâm phạm. Trong văn bản thông báo phải có các thông tin chỉ dẫn về căn cứ phát sinh, Văn bằng bảo hộ, phạm vi, thời hạn bảo hộ và phải ấn định một thời hạn hợp lý để người xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm.

Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Để thực hiện biện pháp tự bảo vệ này người yêu cầu phải làm Đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm nộp tới cơ quan có thẩm quyền. Cùng với đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm người yêu cầu phải nộp kèm theo các tài liệu, chứng cứ, hiện vật có liên quan đến nội dung yêu cầu như: Chứng cứ chứng minh là chủ thể quyền nếu người yêu cầu là chủ sở hữu hoặc người được chuyển giao, được thừa kế quyền sở hữu trí tuệ; Chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm đã xảy ra và các tài liệu chứng cứ khác để chứng minh yêu cầu của mình.

Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trình tự, thủ tục để thực hiện biện pháp này phải tuân theo các quy định của pháp luật về tố tụng.

  • Biện pháp dân sự

Trong số các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và biện pháp bảo vệ quyền của người biểu diễn nói riêng thì biện pháp dân sự là biện pháp được quan tâm hơn cả. Đây là biện pháp được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của chủ thể quyền hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự. Nghiên cứu về biện pháp này tác giả xin trình bày những vấn đề cụ thể sau:

  • Thứ nhất, quy định về điều kiện và trình tự khởi kiện, quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự và thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Quyền khởi kiện, điều kiện và trình tự khởi kiện

Cá nhân, tổ chức quy định tại Điều 44 của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm chủ sở hữu cuộc biểu diễn; người thừa kế hợp pháp của chủ sở hữu cuộc biểu diễn; cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền của người biểu diễn và người biểu diễn có quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn bị xâm phạm tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Khi xem xét điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn Tòa án sẽ dựa vào: căn cứ phát sinh quyền của người biểu diễn và thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn bị xâm phạm. Quyền của người biểu diễn phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả. Khi có tranh chấp về quyền của người biểu diễn mà đương sự khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì Tòa án phải xem xét mà không phân biệt việc họ đã có giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan hoặc họ đã nộp đơn đăng ký quyền liên quan hay chưa. Bên cạnh đó Tòa án cũng cần xem xét quyền của người biểu diễn bị xâm phạm có đang trong thời hạn được bảo hộ hay không để xem xét điều kiện khởi kiện của vụ án. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Người khởi kiện (người có quyền khởi kiện theo phân tích trên) phải làm đơn khởi kiện đáp ứng được các nội dung quy định tại Điều 164 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 (Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; tên, địa chỉ của người khởi kiện; tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ nếu có; tên, địa chỉ của người bị kiện; tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu có; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; họ tên, địa chỉ của người làm chứng nếu có) nộp tới Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện phải cung cấp tài liệu , chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đơn khởi kiện được nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện. Khi nhận được đơn, Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xem xét và có một trong các quyết định sau: tiến hành thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình; chuyển đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện biết, nếu vụ án không thuộc thẩm quyền của tòa án.

  • Quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự

Các tranh chấp dân sự về quyền sở hữu trí tuệ là một trong các loại tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, nguyên đơn, bị đơn có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 79 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quy định tại Điều 203 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Do tính chất đặc thù của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền của người biểu diễn nói riêng, tùy từng loại tranh chấp và yêu cầu cụ thể, nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh như sau:

Nguyên đơn chứng minh mình là chủ sở hữu cuộc biểu diễn bằng một trong các chứng cứ sau: Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; bản trích lục sổ đăng ký quốc gia về quyền liên quan; chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; bản sao hợp đồng sử dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền liên quan.

Đối với trường hợp tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, để chứng minh quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn của mình bị xâm phạm nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Khi xem xét có hay không hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn mà nguyên đơn khai trong đơn khởi kiện Tòa án căn cứ vào Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về hành vi xâm phạm quyền liên quan, xác định yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và các trường hợp ngoại lệ của việc sử dụng quyền của người biểu diễn được quy định tại Điều 32,33 Luật Sở hữu trí tuệ để xác định có hay không hành vi xâm phạm. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc bên kiểm soát chứng cứ phải đưa ra chứng cứ đó theo quy định tại khoản 5 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại đã xảy ra đối với mình; phải xuất trình các chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra (các loại thiệt hại, trong mỗi loại thiệt hại bao gồm các tổn thất gì …) và nêu cụ thể các căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ.

  • Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Tòa án là cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự. Khi bị xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 25, 27, 33, 34), thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sở hữu trí tuệ được xác định như sau:

  • Nếu tranh chấp sở hữu trí tuệ thuần túy là tranh chấp dân sự, thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện;
  • Nếu tranh chấp sở hữu trí tuệ thuần túy là tranh chấp dân sự nhưng có đương sự hoặc đối tượng sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, thuộc quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh;
  • Nếu tranh chấp sở hữu trí tuệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được coi là tranh chấp thương mại, kinh doanh và thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Bên cạnh sự phân định thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, tại khoản 2 Mục I của Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/04/2008 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân có đưa ra các tranh chấp cụ thể về quyền của người biểu diễn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như sau:

Tranh chấp giữa chủ đầu tư với người biểu diễn về quyền nhân thân và quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; tranh chấp giữa người biểu diễn với người khai thác sử dụng quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn về tiền thù lao;

Tranh chấp giữa người biểu diễn với người sử dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao vì lý do việc sử dụng làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn và gây phương hại đến quyền của người biểu diễn. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Tranh chấp giữa người biểu diễn với người sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao, vì lý do người sử dụng không phải trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn và gây phương hại đến quyền của người biểu diễn.

  • Tranh chấp về quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn (tranh chấp ai là chủ sở hữu cuộc biểu diễn…)
  • Tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn;
  • Tranh chấp về thừa kế, kế thừa quyền của người biểu diễn;
  • Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ chủ sở hữu cuộc biểu diễn có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện vụ án dân sự về quyền của người biểu diễn. Việc yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời diễn ra khi chủ sở hữu cuộc biểu diễn phát hiện có hành vi xâm phạm và muốn có ngay các biện pháp hữu hiệu cần thiết, nhanh chóng để ngăn chặn một cách kịp thời, có hiệu quả các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng của mình, tức là muốn hành động để chấm dứt ngay lập tức hành vi xâm phạm quyền đối với cuộc biểu diễn. Luật Sở hữu trí tuệ quy định:

Khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện, chủ thể quyền Sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp sau đây: a) đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại không thể khắc phục được cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ; b) hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ bị tẩu tán hoặc bị tiêu hủy nếu không được bảo vệ kịp thời [16, Điều 206].

Theo quy định tại Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự, có 12 biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng như sau:

  1. Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
  2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.
  3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.
  4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
  5. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động.
  6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.
  7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
  8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
  9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác.
  10. Phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ.
  11. Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ.
  12. Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định [14].

Trong số 12 biện pháp nêu trên thì trong quan hệ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ có thể yêu cầu Tòa án áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời sau: kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài sản của người có nghĩa vụ; cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Tại khoản 1 Điều 207 Luật Sở hữu trí tuệ nhà làm luật còn có quy định riêng các biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hoá đó, bao gồm: Thu giữ; Kê biên; Niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển; Cấm chuyển dịch quyền sở hữu.

Từ những phân tích trên cho thấy các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật hiện hành có thể áp dụng trong các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ là tương đối ít, đặc biệt là các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự chưa được cụ thể hóa đối với các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, còn mang tính chung chung. Điều này đã gây không ít khó khăn cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trong việc yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Các quy định của pháp luật hiện hành về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa góp phần làm ngăn chặn một cách nhanh chóng, kịp thời các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc ưu thế về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của biện pháp dân sự chưa được phát huy trên thực tiễn. Thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ trong những năm qua cho thấy rất ít trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nào từ phía các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

  • Thứ ba, bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại trong sở hữu trí tuệ là việc Tòa án đưa ra quyết định yêu cầu bên gây thiệt hại phải bồi thường các tổn thất thực tế cho bên bị thiệt hại khi bên bị thiệt hại chứng minh được các tổn thất thực tế đó là do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của bên kia gây ra. Các quy định về bồi thường thiệt hại được Luật Sở hữu trí tuệ đề cập tại Điều 204 và Điều 205 và được giải thích cụ thể tại các Điều 16,17,18,19,20 của Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Trên cơ sở các quy định này tác giả xin phân tích về nguyên tắc xác định thiệt hại và căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn.

Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền của người biểu diễn

  • Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn bao gồm các thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.

Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại; Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Trong đó, tổn thất về tài sản được xác định theo mức độ giảm sút hoặc bị mất về giá trị tính được thành tiền của cuộc biểu diễn được bảo hộ. Giá trị tính được thành tiền của cuộc biểu diễn được bảo hộ được xác định theo một hoặc các căn cứ sau đây: giá chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng đối với cuộc biểu diễn được bảo hộ; giá trị đầu tư cho việc tạo ra cuộc biểu diễn được bảo hộ…

Giảm sút về thu nhập, lợi nhuận thu được do sử dụng, khai thác trực tiếp, cho thuê hoặc chuyển giao quyền sử dụng cuộc biểu diễn được bảo hộ. Mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận được xác định theo một hoặc các căn cứ sau: so sánh trực tiếp mức thu nhập, lợi nhuận thực tế trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm; so sánh giá bán thực tế trên thị trường của sản phẩm (các sao cuộc biểu diễn) trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm.

Tổn thất về cơ hội kinh doanh chính là các tổn thất về khả năng thực tế sử dụng, khai thác trực tiếp, cho thuê hay chuyển giao quyền sử dụng cuộc biểu diễn được bảo hộ, cơ hội kinh doanh khác bị mất. Tổn thất về cơ hội kinh doanh là thiệt hại về giá trị tính được thành tiền của khoản thu nhập đáng lẽ chủ sở hữu cuộc biểu diễn có thể có được khi thực hiện việc khai thác sử dụng trực tiếp, cho thuê hay chuyển giao quyền sử dụng cuộc biểu diễn nhưng trên thực tế chủ sở hữu không có được khoản thu nhập đó do hành vi xâm phạm gây ra.

Chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại gồm chi phí cho việc tạm giữ, bảo quản, lưu kho, lưu bãi đối với hàng hóa xâm phạm, chi phí thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chi phí hợp lý để thuê dịch vụ giám định, ngăn chặn khắc phục hành vi xâm phạm và chi phí cho việc thông báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm.

Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho người biểu diễn.

Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ sở hữu cuộc biểu diễn phải chịu do hành vi xâm phạm quyền gây ra. Được coi là có tổn thất thực tế nếu có đủ các căn cứ sau: lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại; người bị thiệt hại có khả năng đạt được các lợi ích đó; có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm và hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó. Mức độ thiệt hại được xác định phù hợp với yếu tố xâm phạm quyền đối với cuộc biểu diễn bị xâm phạm. Việc xác định mức độ thiệt hại dựa trên chứng cứ về thiệt hại do các bên cung cấp, kể cả kết quả trưng cầu giám định và bản kê khai thiệt hại, trong đó làm rõ các căn cứ để xác định và tính toán mức thiệt hại.

  • Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:

Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất.

Giá chuyển giao quyền sử dụng cuộc biểu diễn với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng cuộc biểu diễn đó theo hợp đồng về quyền sử dụng trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện.

Trong trường hợp không thể xác định mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các quy định trên thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Tòa án ấn định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại nhưng không quá năm trăm triệu đồng.

Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng tùy thuộc vào mức độ thiệt hại.

Ngoài ra chủ sở hữu cuộc biểu diễn còn có quyền yêu cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền phải thanh toán các chi phí hợp lý để thuê luật sư.

  • Thứ tư, các biện pháp dân sự được áp dụng

Theo quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ, để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn nói riêng, tòa án có quyền áp dụng các biện pháp dân sự bao gồm: buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án có thể áp dụng một hoặc nhiều hoặc tất cả các biện pháp dân sự đồng thời cùng lúc trong quá trình giải quyết một vụ án dân sự về quyền sở hữu trí tuệ.

  • Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Theo yêu cầu của người khởi kiện, Tòa án quyết định buộc người có hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn chấm dứt ngay hành vi xâm phạm. Quyết định này có thể được tuyên trong bản án hoặc trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 206 và khoản 2 Điều 207 Luật Sở hữu trí tuệ và quy định tại khoản 12 Điều 102 và Điều 115 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong bản án, quyết định, Tòa án nêu cụ thể các quyền của người biểu diễn bị xâm phạm và các hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn. Đồng thời, Tòa án cũng quy định rõ những việc người có hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn phải thực hiện và không được thực hiện để thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay. Do đó, nếu người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khiếu nại quyết định đó, thì trong thời hạn khiếu nại, giải quyết khiếu nại theo quy định tại các điều 124 và 125 Bộ luật Tố tụng dân sự, họ vẫn phải thi hành quyết định đó. Đối với trường hợp Tòa án quyết định trong bản án việc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn mà bản án đó bị kháng cáo, kháng nghị, thì theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự “Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được thi hành, trừ trường hợp pháp luật cho thi hành ngay” [14, Điều 245, Khoản 1]. Do đó, cần căn cứ vào quy định cụ thể của văn bản quy phạm pháp luật cho thi hành ngay phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị và quy định nêu trên của Bộ luật tố tụng dân sự để tuyên trong bản án, quyết định là: “Quyết định buộc chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thi hành ngay mặc dù bị kháng cáo, kháng nghị”.

  • Buộc xin lỗi, cải chính công khai

Buộc xin lỗi, cải chính công khai cũng là một biện pháp được quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ. Đây là biện pháp do Tòa án quyết định trong bản án, quyết định về việc buộc người có hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn phải xin lỗi, cải chính công khai nhằm khôi phục danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng… cho người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn bị xâm phạm. Việc buộc xin lỗi, cải chính công khai nhằm mục đích bảo vệ quyền nhân thân của người biểu diễn và khôi phục danh dự, uy tín cho người biểu diễn. Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức xin lỗi, cải chính công khai và chi phí để thực hiện việc xin lỗi, cải chính đó mà thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì tòa án công nhận sự thỏa thuận của họ. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện thì Tòa án căn cứ vào tính chất hành vi xâm phạm và mức độ, hậu quả do hành vi đó gây ra quyết định về nội dung, thời lượng xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện. Việc xin lỗi, cải chính công khai có thể được thực hiện tại nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại hoặc đăng công khai trên báo hàng ngày của cơ quan trung ương, báo địa phương nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại trong ba số liên tiếp.

  • Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (gọi chung là chủ thể có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp được Tòa án quyết định áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nghĩa vụ mà theo đó họ phải thực hiện nghĩa vụ đã vi phạm với chủ sở hữu cuộc biểu diễn. Đây là biện pháp dân sự được áp dụng khi người có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng và phải chịu trách nhiệm dân sự đối với chủ sở hữu cuộc biểu diễn. Khi áp dụng biện pháp này cần căn cứ vào các quy định tương ứng tại các mục 2 và 3 Chương XVII, phần thứ ba của Bộ luật dân sự 2005.

  • Buộc bồi thường thiệt hại

Một biện pháp dân sự quan trọng khác được sử dụng khi có hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn đó là biện pháp buộc bồi thường thiệt hại. Theo đó, người có hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn mà gây thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần cho chủ sở hữu cuộc biểu diễn thì phải bồi thường. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn theo quy định của pháp luật Việt Nam được xác định theo các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 604 của Bộ luật dân sự và hướng dẫn tại mục 1 phần 1 của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Do Bộ luật dân sự có quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại, xác định thiệt hại và cách thức bồi thường thiệt hại khác với quy định của Luật sở hữu trí tuệ; do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật Sở hữu trí tuệ khi giải quyết yêu cầu về bồi thường thiệt hại phải áp dụng các quy định tại các Điều 204, 205 của Luật Sở hữu trí tuệ, các điều 16, 17, 18, 19, 20 của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dấn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Các quy định về bồi thường thiệt hại này đã được phân tích và làm rõ trong mục Bồi thường thiệt hại của luận văn.

Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa (bản sao cuộc biểu diễn) xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn. Tòa án xem xét, quyết định buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện nêu trên mà không phụ thuộc vào chủ thể quyền có yêu cầu hay không có yêu cầu. Đồng thời với quyết định buộc tiêu hủy, Tòa án sẽ quyết định trách nhiệm của người có hành vi xâm phạm phải chịu chi phí cho việc tiêu hủy đó.

  • Biện pháp hành chính, hình sự
  • Biện pháp hành chính

Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn bằng biện pháp hành chính.

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nhất định để xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn của cá nhân, tổ chức mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo khoản 3 Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

  • Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt hành chính

Theo quy định tại Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 thì tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn sau đây sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính:

Xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn dẫn đến gây thiệt hại cho chủ sở hữu;

Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ (hàng hóa sao chép lậu hay chính là những bản sao cuộc biểu diễn được sản xuất mà không được phép của chủ sở hữu cuộc biểu diễn) [18, Điều 211, Khoản 1].

  • Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính

Đối với biện pháp hành chính, cách thức bảo vệ quyền của chủ thể bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ rất phong phú. Cụ thể bao gồm các hình thức xử phạt hành chính (trong đó có hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung) và các biện pháp khắc phục hậu quả. Cảnh cáo và phạt tiền là hai hình thức xử phạt chính. Bên cạnh đó, tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, người xâm phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung như sau:

  • Tịch thu hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ;
  • Đình chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm trong một thời hạn nhất định.

Các biện pháp xử phạt hành chính nêu trên thường được áp dụng khá phổ biến trong việc xử lý những hành vi sản xuất hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ như sản xuất băng đĩa lậu. Trên thực tế nhiều cơ sở sản xuất băng đĩa một cách trái phép đã bị đình chỉ hoạt động, hàng loạt băng đĩa lậu bị tịch thu và tiêu hủy để hạn chế việc bán ra thị trường.

Tùy từng trường hợp tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn phải chịu áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như sau: buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hóa quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hóa.

Để bảo đảm việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính đạt hiệu quả. Luật Sở hữu trí tuệ cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính. Các biện pháp cụ thể là: tạm giữ người, tạm giữ hàng hóa, tang vật, phương tiện vi phạm; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật, khám nơi cất giấu hàng hóa, tang vật, phương tiện vi phạm về sở hữu trí tuệ; một số biện pháp khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính trong những trường hợp nhất định theo quy định tại điểm a,b,c khoản 1 Điều 215 Luật Sở hữu trí tuệ.

  • Biện pháp hình sự Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn bằng biện pháp hình sự: khi hành vi xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn là hành vi nguy hiểm cho xã hội cấu thành tội phạm thì cá nhân, tổ chức đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc áp dụng biện pháp hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Bộ luật hình sự quy định các tội danh và hình phạt tương ứng nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Để bảo vệ quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn tại Điều 170a Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 có quy định về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm:

  • Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
  • Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

  • Có tổ chức;
  • Phạm tội nhiều lần.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm [17].

Căn cứ vào quy định trên ta thấy nếu người nào không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn mà thực hiện các hành vi như sao chép cuộc biểu diễn, phân phối đến công chúng bản sao cuộc biểu diễn với quy mô thương mại thì bị phạt tù từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm. Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp như có tổ chức hoặc phạm tội nhiều lần thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Ngoài ra người phạm tội này còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Về trình tự thủ tục áp dụng biện pháp hình sự: việc xử lý hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn bằng biện pháp hình sự được áp dụng theo trình tự, thủ tục chung được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ

Thẩm quyền áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ

Theo quy định tại khoản 4 Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ thì: việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc quyền của cơ quan hải quan, cụ thể như sau:

Chi cục Hải quan có thẩm quyền tiếp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm tra, giám sát hoặc tạm dừng làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục Hải quan đó.

Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền tiếp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm tra, giám sát hoặc tạm dừng làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu thuộc thẩm quyền quản lý của Cục hải quan đó.

Tổng cục Hải quan có thẩm quyền tiếp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm tra, giám sát hoặc tạm dừng làm thủ tục hải quan tại các cửa khẩu thuộc thẩm quyền quản lý của từ hai Cục hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.

  • Trình tự, thủ tục áp dụng Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Chủ sở hữu cuộc biểu diễn có quyền trực tiếp hoặc thông qua người đại diện nộp đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có dấu hiệu xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn (ví dụ xuất nhập khẩu các bản sao cuộc biểu diễn khi chưa được phép của chủ sở hữu) hoặc đơn đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bị nghi ngờ xâm phạm quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn.

Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc trong thời hạn hai mươi tư giờ làm việc, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan có trách nhiệm xem xét, ra thông báo chấp nhận đơn, nếu người nộp đơn đã thực hiện các nghĩa vụ của người yêu cầu áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ. Trong trường hợp từ chối đơn, cơ quan hải quan phải trả lời bằng văn bản cho người nộp đơn yêu cầu, nêu rõ lý do.

  • Nghĩa vụ của người yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ

Người yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ có các nghĩa vụ sau đây:

Chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ mà trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này chính là chứng minh mình là chủ sở hữu cuộc biểu diễn bằng các chứng cứ như: Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn; chứng cứ chứng minh căn cứ phát sinh quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn; bản sao hợp đồng sử dụng cuộc biểu diễn trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.

Cung cấp đầy đủ thông tin để xác định hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

Nộp đơn cho cơ quan hải quan và nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;

Bồi thường thiệt hại và thanh toán các chi phí phát sinh cho người bị áp dụng biện pháp kiểm soát trong trường hợp hàng hóa bị kiểm soát không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này người yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan phải nộp khoản bảo đảm bằng một trong các hình thức như: Nộp khoản tiền bằng 20% giá trị lô hàng cần áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan hoặc tối thiểu hai mươi triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị lô hàng đó; Nộp chứng từ bảo lãnh của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng khác.

  • Các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ được áp dụng

Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đây là biện pháp được tiến hành theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

Thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan được tiến hành như sau: Khi người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định nêu trên thì cơ quan hải quan ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng. Thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan là mười ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp người yêu cầu tạm dừng có lý do chính đáng thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không được quá hai mươi ngày làm việc với điều kiện người yêu cầu tạm dừng thủ tục hải quan phải nộp thêm khoản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Khi kết thúc thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan mà người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không khởi kiện dân sự và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính đối với người xuất khẩu, nhập khẩu lô hàng thì cơ quan hải quan có trách nhiệm sau đây:

  • Tiếp tục làm thủ tục hải quan cho lô hàng;

Buộc người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan phải bồi thường cho chủ lô hàng toàn bộ thiệt hại do yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng gây ra và phải thanh toán các chi phí lưu kho bãi, bảo quản hàng hóa và các chi phí phát sinh khác cho cơ quan hải quan và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan theo quy định của pháp luật về hải quan.

Hoàn trả cho người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan khoản tiền bảo đảm còn lại sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường và thanh toán các chi phí nêu trên.

Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đây là biện pháp được tiến hành theo đề nghị của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nói chung và chủ sở hữu cuộc biểu diễn nói riêng nhằm thu thập thông tin để thực hiện quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan. Trong trường hợp chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có đề nghị kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì khi phát hiện lô hàng có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, cơ quan hải quan phải thông báo ngay cho người đó. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày được thông báo, nếu người đề nghị không yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng bị phát hiện và cơ quan hải quan không quyết định xem xét việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định thì cơ quan hải quan có trách nhiệm tiếp tục làm thủ tục hải quan cho lô hàng. Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn bảo hộ quyền của người biểu diễn ở Việt Nam

One thought on “Luận văn: Pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền của người biểu diễn

  1. Pingback: Luận văn: Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464