Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đương sự tại tòa án tỉnh lạng sơn và một số kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐƯƠNG SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

3.1.1. Những kết quả đạt được

Trong thời gian qua, số lượng VVDS mà các TA trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thụ lý và giải quyết ngày càng tăng (xem bảng phụ lục thống kê số liệu tình hình giải quyết các VVDS của TAND hai cấp tỉnh Lạng Sơn). Tuy nhiên, do chủ động nắm bắt tình hình và đề ra nhiều biện pháp hữu hiệu, đồng thời tổ chức thực hiện nghiêm túc, quyết liệt trong toàn tỉnh, như việc tăng cường cán bộ, Thẩm phán cho các đơn vị còn thiếu so với yêu cầu công tác; chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm và kỷ luật công vụ cho cán bộ, công chức; tăng cường công tác kiểm tra; phát động các phong trào thi đua gắn với việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn; yêu cầu thường xuyên rà soát, nắm bắt, có kế hoạch khắc phục ngay và xác định trách nhiệm, xử lý nghiêm đối với những trường hợp để vụ án quá thời hạn xét xử hoặc viêc tuyên các bản án không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự…, nên công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án trong thời gian qua tiếp tục có sự chuyển biến tích cực. Hầu hết các vụ án đều được giải quyết, xét xử trong thời hạn luật định; tỷ lệ giải quyết các vụ án dân sự đều đạt và vượt chỉ tiêu xét xử đã đề ra. Việc đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà tiếp tục được triển khai thực hiện trong tất cả các phiên tòa xét xử các loại vụ án. Quá trình giải quyết các vụ án, Tòa án đã đảm bảo cho mọi công dân thực hiện đầy đủ các quyền mà pháp luật quy định, như đảm bảo sự có mặt tại phiên tòa, quyền cung cấp chứng cứ, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, quyền tranh luận tại phiên tòa… Do đó, chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án tiếp tục được đảm bảo và có những tiến bộ nhất định, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa đều giảm hơn so với cùng kỳ năm trước. Việc giải quyết các vụ việc dân sự cơ bản đã bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Để đương sự thực hiện tốt việc khởi kiện hay việc yêu cầu giải quyết các VVDS, TAND hai cấp tỉnh Lạng Sơn đã cho niêm yết các mẫu đơn khởi kiện, đơn yêu cầu kèm theo hướng dẫn việc viết đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cũng như cách thức và thời gian nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, đồng thời thông báo về yêu cầu giao nộp những tài liệu, chứng cứ cần thiết kèm theo đơn đối với những vụ việc cụ thể. Ngoài ra, lãnh đạo các TA cũng thường xuyên tiến hành việc kiểm tra công vụ, giao ban hàng tuần, tháng để đôn đốc các Thẩm phán và các cán bộ TA thực hiện các công việc nhận đơn, hướng dẫn đương sự sửa đổi, bổ sung đơn trực tiếp hoặc có văn bản trả lời, hướng dẫn gửi qua bưu điện; tiến hành xem xét thụ lý, trả lời đơn cho đương sự, tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét xử khẩn trương đúng thủ tục và thời hạn. Vì vậy, tỷ lệ số vụ việc được TA thụ lý giải quyết trên tổng số các vụ việc mà TA vào sổ nhận đơn rất cao. Thông thường, nếu các đương sự nộp đơn trực tiếp đến TA hoặc gửi qua đường bưu điện thì về nguyên tắc TA phải vào sổ nhận đơn và sau đó xem xét: Nếu thấy đủ điều kiện thì TA tiến hành việc thụ lý, nếu thấy cần sửa đổi, bổ sung thì yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung hoặc thấy không đủ điều kiện thụ lý thì trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, trong thực tiễn khi TA trực tiếp nhận đơn, trước hết TA tiến hành xem xét: nếu thấy việc nộp đơn không đúng, không đầy đủ thì TA sẽ giải thích, hướng dẫn cho đương sự và khi đương sự đã thực hiện theo yêu cầu TA thì TA tiến hành vào sổ nhận đơn và thụ lý vụ việc. Vì vậy, phần lớn những trường hợp TA đã vào sổ nhận đơn thì TA cũng tiến hành thụ lý giải quyết.

Bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình giải quyết các VVDS vẫn còn những thiếu sót, những vi phạm của TA hay của đương sự hoặc của người tham gia tố tụng khác trong việc thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về đương sự. Những hạn chế này cần phải nghiêm túc nhìn nhận rút kinh nghiệm từ thực tiễn giải quyết các VVDS để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng nói chung và các quy định của pháp luật TTDS về đương sự nói riêng và tìm ra các giải pháp nhằm bảo đảm đương sự được tham gia tố tụng và thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời bảo đảm hoạt động thực hiện pháp luật tại các cấp TA đúng đắn, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

3.1.2. Những tồn tại, hạn chế Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

  • Trong việc xác định thành phần, tư cách đương sự

Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy, trong số những sai lầm, vi phạm của TA khi giải quyết các VVDS mặc dù có nhưng không nhiều những sai lầm, vi phạm trong việc thực hiện các quy định về đương sự như: xác định sai thành phần, tư cách của đương sự, quyền và nghĩa vụ của đương sự không được bảo đảm đã dẫn đến hậu quả là các bản án, quyết định giải quyết vụ việc đó bị TA cấp trên huỷ bỏ. Qua kết quả giải quyết xét xử cho thấy, năm 2010 trong số 15 bản án giải quyết VVDS bị huỷ bỏ thì có 8 bản án bị huỷ do việc thực hiện không đúng quy định về đương sự (chiếm tỷ lệ 53%); năm 2011 trong số 12 bản án giải quyết VVDS bị huỷ bỏ thì có 5 bản án bị huỷ bỏ do thực hiện không đúng quy định về đương sự (chiếm tỷ lệ 42%), năm 2012 trong số 10 bản án giải quyết VVDS bị TAND tỉnh Lạng Sơn huỷ thì có đến 6 bản án bị huỷ bỏ do nguyên nhân xác định thiếu đương sự, xác định sai tư cách đương sự, không bảo đảm thực hiện quyền tố tụng của đương sự (chiếm tỷ lệ 60%), năm 2013 trong số 11 bản án giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình bị huỷ thì có 9 bản án là do nguyên nhân liên quan đến việc thực hiện không đúng quy định về đương sự (chiếm tỷ lệ 82%).

Qua tìm hiểu công tác kiểm tra xét xử, công tác xét xử án phúc thẩm và giám đốc thẩm đã cho thấy việc giải quyết các VVDS của các TA cũng còn nhiều thiếu sót, trong đó có những thiếu sót liên quan đến việc thực hiện các quy định về đương sự. Mặc dù là những thiếu sót, sai lầm không mang tính phổ biến, nhưng hàng năm các thiếu sót này đều được kết luận và rút kinh nghiệm trong các Báo cáo tổng kết của ngành TA và trong các Báo cáo tham luận của các Toà chuyên trách trực thuộc TAND tỉnh Lạng Sơn tại Hội nghị tổng kết công tác hàng năm. Cụ thể: Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Trong Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 [1] đã kết luận như sau: Trong công tác giải quyết, xét xử các VVDS… TA xác định sai tư cách hoặc thiếu người tham gia tố tụng dẫn đến quyết định sai lầm hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên TA tỉnh phải hủy, sửa án.

Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 [2] có nêu: Trong công tác giải quyết, xét xử các VVDS còn những sai lầm, vi phạm như: trong nhiều trường hợp còn vi phạm pháp luật tố tụng về thụ lý VA; xác định sai tư cách hoặc thiếu người tham gia tố tụng;…

Trong Báo cáo công tác năm 2012 [3] khi đề cập đến những hạn chế của công tác giải quyết các VVDS trong năm 2012, những hạn chế trong việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng và các quy định của pháp luật TTDS về đương sự trong TTDS còn phổ biến. Cụ thể: Trong công tác giải quyết các VVDS vẫn còn một số sai phạm như: Xác định sai tư cách người tham gia tố tụng hoặc bỏ sót người tham gia tố tụng; xác định sai thời hiệu khởi kiện; Việc lập hồ sơ VA không đầy đủ, đánh giá chứng cứ thiếu toàn diện, chưa chính xác dẫn đến quyết định giải quyết VA không đúng.

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 [4]của TAND tỉnh Lạng Sơn, Tòa dân sự trong tham luận đã chỉ ra những vấn đề cần rút kinh nghiệm về tố tụng đều là khắc phục những thiếu sót trong việc thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về đương sự. Bao gồm: sai sót do không đưa đầy đủ người tham gia tố tụng như bỏ sót người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; TA cấp sơ thẩm bỏ sót người tham gia tố tụng, TA cấp phúc thẩm phát hiện ra việc này đưa họ vào tham gia tố tụng và buộc người đó phải chịu nghĩa vụ là vi phạm nghiêm trọng tố tụng về phạm vi xét xử phúc thẩm; bị đơn chết, TA không đưa người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn vào tham gia tố tụng; TA giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự.

Báo cáo tổng kết năm 2014 [5] vừa qua, những sai lầm, vi phạm của TA trong việc thực hiện các quy định về đương sự trong tố tụng lại được đề cập là một trong những vi phạm mà ngành TA vẫn mắc phải cần phải được khắp phục, hạn chế như: còn để các vụ án quá hạn luật định, TA cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm khi chưa có căn cứ xác định đương sự đã nhận được giấy triệu tập hợp lệ mà không đến phiên toà; tài sản của hộ gia đình, nhưng khi giải quyết lại không đưa các thành viên của hộ gia đình vào tham gia tố tụng; không đảm bảo quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.

Như vậy, qua các Báo cáo tổng kết của TAND tỉnh Lạng Sơn hàng năm, một số Báo cáo tham luận của các Tòa chuyên trách trong thời gian từ năm 2010 đến 2014 chúng ta có thể thấy trong thời gian qua trong quá trình giải quyết VVDS, các TA đã có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trong đó một trong những vi phạm tố tụng khá phổ biến là xác định sai thành phần, tư cách đương sự hoặc có sự xâm phạm tới việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Đặc biệt, những vi phạm này mặc dù năm trước đã được tổng kết rút kinh nghiệm nhưng năm sau các vi phạm đó lại tiếp tục mắc phải.

Trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự: Số lượng các vụ án dân sự để quá thời hạn giải quyết còn nhiều; còn có những bản án tuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự. Việc đánh giá chứng cứ trong một số trường hợp thiếu khách quan, toàn diện. Xác định không đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp. Đánh giá không đúng mức độ lỗi của các bên trong quá trình giải quyết các tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Quyết định giải quyết hợp đồng vô hiệu không đúng quy định của pháp luật. Có Tòa án chưa xem xét đầy đủ yêu cầu của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, dẫn tới giải quyết không đủ hoặc vượt quá yêu cầu của đương sự. Sai sót trong việc xử lý tài sản đảm bảo đối với khoản vay của hợp đồng tín dụng trong trường hợp tài sản đảm bảo là tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản của hộ gia đình. Sai sót trong việc tính lãi xuất đối với tranh chấp hợp đồng tín dụng. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự không đúng với nội dung các đương sự đã thỏa thuận. Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Không đưa đầy đủ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng hoặc xác định sai tư cách người tham gia tố tụng. Vi phạm về thẩm quyền giải quyết vụ án. Vi phạm về xem xét điều kiện khởi kiện vụ án dân sự. Trong việc giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, có Thẩm phán cho rằng cây lâu năm, giếng nước, sân gạch, nhà tạm chỉ là những tài sản có giá trị nhỏ (so với giá trị quyền sử dụng đất), nên đã bỏ qua không xem xét trong quá trình giải quyết vụ án. Sai sót trong việc trưng cầu giám định khi giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng. Một số Tòa án còn sai sót trong việc chưa thực hiện đầy đủ, đúng quy định việc xác minh, thu thập chứng cứ để tìm địa chỉ của bị đơn đã mở phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn.

Trong việc bỏ sót người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã không triệu tập hết những người tham gia tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của họ.

Ví dụ: Trong vụ án“Ly hôn” giữa: Nguyên đơn: Anh Lương Văn S – sinh năm: 1976 và bị đơn: Chị Trần Thị T. D – sinh năm: 1976; Cùng trú: Khu An Ninh, thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Lạng Sơn chi nhánh huyện Hữu Lũng; Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.

Cụ thể: Theo nội dung Đơn khởi kiện vụ án “Ly hôn” của anh S thì thấy anh yêu cầu giải quyết các vấn đề sau: Về QHHN: Anh S yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh S được ly hôn với chị D; Về con chung: Nguyên đơn anh S xác định có 02 con chung (không đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ con chung); Về tài sản chung: Anh S xác định có nhà và đất tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (không đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản chung); Nguyên đơn không đề cập đến quan hệ nợ chung. Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Trong vụ án này: Anh S có tranh chấp với chị D về tài sản chung là nhà và đất tại thị trấn Hữu Lũng. Vì theo anh S đó là tài sản chung của vợ chồng, được mua cùng và sau đó là mua lại thêm phần đất của vợ chồng em gái chị D là chị Trần Thị T.O và anh Trần Quang G. Nguồn tiền mua là do của vợ chồng tự có, vay mượn thêm và của cha mẹ vợ cho cho 45.000.000đ.

Còn theo chị D xác định nhà và đất trên là tài sản riêng của chị vì chị được chị Trần Thị T.O và anh Trần Quang G lập Hợp đồng tặng cho nhà và đất trên theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại Biên bản hòa giải ngày 20/4/2012, chị D đã xác định:“Việc vợ chồng chị O cho vợ chồng tôi nhà đất này để ở thì anh S và tất cả mọi người ai cũng biết nhưng khi làm Hợp đồng tặng cho thì vợ chồng chị O không cho anh S biết”.

Như vậy, mặc dù việc tặng cho nhà đất của chị Trần Thị Thùy O và anh Trần Quang G cho chị Trần Thị T.D được thực hiện theo đúng các thủ tục của pháp luật nhưng để có cơ sở đánh giá đúng bản chất của vấn đề, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, tránh việc khiếu kiện kéo dài… thì Thẩm phán cần đưa chị Trần Thị T.O và anh Trần Quang G và mẹ của chị D vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán không đưa những người trên vào tham gia tố tụng. Như vậy, đã bỏ sót người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án. Vì vậy, khi xét xử vụ án đã bị bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử hủy, để về giải quyết lại theo thủ tục chung.

  • Không xác định rõ tư cách người tham gia tố tụng:
  • Xác định người đại diện không đúng theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: Trong vụ án TCDS về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” giữa: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P.Đ; Thành phố Lạng Sơn. Bị đơn: Ông Phạm Văn T – sinh năm: 1978. Trú tại: Khu Thống Nhất II, thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn Th, sinh năm: 1948. Trú tại: Thôn Làng Đồn, xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì: Bà Lê Thị B được Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng P.Đ ủy quyền khởi kiện theo Giấy ủy quyền số 21/2010/GUQ – NHPĐ ngày 11/11/2010. Bà B ủy quyền lại cho ông Bùi Văn T là nhân viên KHCN – Chi nhánh T.V theo Giấy ủy quyền số 243/GUQ – CNTV.12 ngày 17.5.2014. Như vậy, ông Bùi Văn T tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP P.Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 142 BLDS nhưng trong thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên hòa giải, các biên bản hòa giải không được và quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán xác định chung chung ông T là người đại diện chứ không ghi rõ quan hệ đại diện được xác lập theo ủy quyền là vi phạm khoản 3 Điều 139 BLDS.

  • Xác định tư cách nguyên đơn không chính xác:

Trong vụ án TCDS về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” giữa: Nguyên đơn: Ngân hàng Đồng Bằng Sông Cửu Long, chi nhánh Lạng Sơn. Bị đơn: Bà Phạm Thị T.T và bà Trần Thị N.H ; Đều trú tại : Khu Tân Mỹ I, thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Qua nghiên cứu hồ sơ, trong Đơn khởi kiện không ghi ngày tháng khởi kiện và trong Đơn khởi kiện xác định người khởi kiện (nguyên đơn) là Ngân hàng Đồng Bằng sông Cửu Long – Chi nhánh Lạng Sơn là không chính xác.

Vì theo quy định tại Điều 84, 91 BLDS thì nguyên đơn trong vụ án phải là Ngân hàng Đồng Bằng Sông Cửu Long và ông Nguyễn Ngọc N- Giám đốc chi nhánh Lạng Sơn chỉ là người đại diện cho theo ủy quyền làm thủ tục khởi kiện. Đáng lẽ ra, sau khi xem xét Đơn khởi kiện, nếu thấy xác định chưa đúng người khởi kiện và ghi đầy đủ nội dung theo Điều 164 BLTTDS thì Thẩm phán phải có Văn bản thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa chữa, bổ sung nhưng Thẩm phán vẫn thụ lý vụ án.

Việc làm này của Thẩm phán vi phạm Khoản 1 Điều 169 BLTTDS.

  • Xác định không đúng tư cách của bị đơn. Cụ thể: Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Trong vụ án tranh chấp lao động về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động giữa”: Nguyên đơn: Anh Nguyễn Cảnh T – sinh năm: 1978;Trú tại: Thành phố Lạng Sơn. Bị đơn: Ông Ngô Văn Đ Địa chỉ: Thành phố Lạng Sơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn N, sinh năm 1964.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì Cơ sở mộc N.V.Đ là Hộ kinh doanh cá thể theo GCNĐKKD số 32C8000605 ngày 15/7/2003 do ông Ngô Văn Đ là người đứng tên nên ông Ngô Văn Đ phải là người đại diện cho Cơ sở mộc và tham gia tố tụng với tư cách bị đơn.

Tuy nhiên, trong một số Thông báo, Biên bản như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải, Thông báo về việc tiếp tục giải quyết vụ án và tại Biên bản hòa giải các ngày 06/01/2012 và 18/5/2012, Thẩm phán lại xác định Cơ sở mộc N.V.Đ là bị đơn trong vụ án.

  • Không triệu tập đầy đủ người tham gia tố tụng để tham dự vào quá trình giải quyết vụ án:

Vụ án TCDS về việc “Đòi nhà và đất” giữa: Nguyên đơn: Ông Trần K – sinh năm: 1984. Trú tại: Số 352, đường Chi Lăng, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Q – sinh năm: 1957 và ông Đỗ Xuân T (sinh năm: 1955). Cùng trú tại: Thôn 4, xã Đình Lập, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.

Trong vụ án, ngay từ đầu bà Trần Thị Thu T đã được Thẩm phán đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án không thể hiện việc Thẩm phán triệu tập bà T tham gia các phiên hòa giải (ngày 29/11/2013, ngày 27/12/2013, ngày 09/4/2014). Đồng thời, trong một số văn bản tố tụng Thẩm phán lại không xác định bà T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên không cấp tống đạt cho bà T các văn bản tố tụng như: Quyết định thay đổi Thẩm phán giải quyết vụ án, Thông báo thay đổi Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc làm trên của Thẩm phán là vi phạm Điểm g Khoản 1 Điều 58 BLTTDS.

Ngoài ra còn rất nhiều các bản án dân sự khác của TAND hai cấp tỉnh Lạng Sơn bị sửa một phần, hoặc toàn bộ cũng đều do lỗi chủ quan của Thẩm phán trong việc xác định thành phần, tư cách của đương sự trong VVDS, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng công tác xét xử, làm giảm lòng tin trong quần chúng nhân dân khi đến Tòa án yêu cầu giải quyết công việc.

3.1.3. Nguyên nhân Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

  • Nguyên nhân chủ quan

Do thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự: Qua thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng về đương sự trong TTDS có thể khẳng định rằng các TA trong quá trình giải quyết các VVDS đã xác định được đầy đủ thành phần, tư cách tố tụng của đương sự, bảo đảm cho các đương sự tham gia tố tụng và thực hiện được đầy đủ, thuận lợi nhất các quyền và nghĩa vụ tố tụng, bảo đảm quá trình giải quyết các VVDS được khách quan và nhanh chóng. Tuy nhiên, trong thực tiễn còn xuất hiện một số hạn chế, vi phạm do việc hướng dẫn áp dụng pháp luật còn chưa thống nhất nên đi đến những cách hiểu khác nhau. Vì vậy, để xác định được những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật các quy định của pháp luật TTDS về đương sự đòi hỏi phải xác định được các nguyên nhân của những hạn chế đó.

Nguyên nhân từ phía Toà án: Đây có thể được hiểu là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tồn tại trong thực tiễn giải quyết VVDS của TA. Do trong quá trình giải quyết VVDS TA xác định sai thành phần và tư cách tố tụng hoặc có hành vi xâm phạm hoặc không bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự trước hết do Thẩm phán đã nhận thức chưa đầy đủ được những vấn đề lý luận cơ bản về đương sự như khái niệm chung về đương sự, đặc điểm, vai trò, thành phần, tư cách và căn cứ xác định thành phần, tư cách tố tụng của đương sự cũng như các quy định của pháp luật hiện hành về các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Việc nhận thức không đầy đủ, không đúng này trước hết là do trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán còn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra. Do việc tổ chức công tác xét xử, quản lý, điều hành các công tác khác ở một số TA chưa khoa học, chưa kịp thời và chủ động đề ra các biện pháp có hiệu quả để nâng cao chất lượng công tác, chậm rút kinh nghiệm, khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, nhất là trong công tác xét xử, đã làm ảnh hưởng không tốt đến uy tín của ngành TAND. Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

  • Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân từ phía đương sự: Lạng Sơn là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn nên trình độ hiểu biết pháp luật của phần lớn các đương sự còn hạn chế. Do vậy, khi quyền lợi bị vi phạm hoặc có tranh chấp họ có thể không nhận thức được hoặc nhận thức không đầy đủ về sự vi phạm hoặc tranh chấp đó và khi nhận thức được thì cũng không biết được cần yêu cầu giải quyết ở đâu? theo thủ tục như thế nào? để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ý thức pháp luật của người dân nói chung và của đương sự nói riêng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng không tốt hoặc cố tình thực hiện sai hay có những hành vi cản trở việc giải quyết VVDS của TA. Có rất nhiều trường hợp đương sự cố tình bằng nhiều hành vi khác nhau cản trở việc đương sự khác thực hiện quyền, nghĩa vụ, cản trở việc TA giải quyết vụ việc như đe doạ, ép buộc người khác không được khởi kiện hoặc yêu cầu hoặc ép buộc rút đơn khởi kiện, rút đơn yêu cầu hay ép buộc các đương sự khác phải hoà giải hoặc hoà giải giả tạo nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với người khác. Hành vi cản trở của đương sự đối với việc giải quyết vụ việc của TA có thể gây khó khăn cho TA trong việc tiến hành các biện pháp xem xét thẩm định tại chỗ đối với các tài sản tranh chấp là nhà, quyền sử dụng đất như khoá cửa không để cán bộ TA vào nhà, cố tình không nhận giấy triệu tập, không ký vào các biên bản làm việc, phân tán hoặc huỷ hoại tài sản, vật chứng quan trọng của vụ việc. Đặc biệt, hành vi phổ biến nhất cản trở hoạt động tố tụng là việc đương sự cố tình viện đủ lý do vắng mặt để TA không thể xét xử mà phải nhiều lần hoãn các buổi làm việc để xác minh, thu thập chứng cứ hoặc phải hoãn buổi hoà giải, hoãn phiên toà, phiên họp giải quyết các VVDS [1]. Ngoài ra, một số trường hợp đương sự có hành vi đe doạ, mua chuộc người làm chứng làm cho lời khai của họ không đúng sự thật; gây rối trật tự tại trụ sở TA [4] hoặc khi TA tiến hành các thủ tục tố tụng ngoài TA. Thậm chí đương sự và những người thân của đương sự còn có hành vi xúc phạm, hành hung, trả thù Thẩm phán và cán bộ TA [3] hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để khiếu nại, tố cáo không có căn cứ v.v… Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

  • Nguyên nhân từ những hạn chế của các quy định pháp luật tố tụng hiện hành về đương sự

Một số quy định của pháp luật hiện hành về đương sự còn thiếu hoặc có nhưng chưa rõ ràng, chưa đầy đủ hoặc còn bất cập cũng là một nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về đương sự [6]. Điều đó thể hiện, mặc dù BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 được ban hành và TANDTC đã ban hành rất nhiều các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhưng qua hơn 10 năm thi hành, pháp luật TTDS đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Những hạn chế này được thể hiện ở những điểm như sau:

Chưa có khái niệm chung về đương sự trong VVDS; chưa có quy định về tư cách của đương sự trong VDS; không có quy định phân biệt giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bị đơn; không có quy định về đồng nguyên đơn, đồng bị đơn. Hạn chế này của pháp luật cũng đã dẫn đến nhận thức chung về đương sự trong TTDS chưa được đầy đủ, không thống nhất. Đồng thời, thiếu những cơ sở pháp lý quan trọng để xác định thành phần và tư cách tố tụng của đương sự trong TTDS.

Quy định về năng lực hành vi tố tụng của đương sự chưa hợp lý; một số quyền và nghĩa vụ của đương sự chưa được quy định hoặc có quy định nhưng chưa hợp lý, thiếu cụ thể hoặc có mâu thuẫn dẫn đến việc hiểu và thực hiện trên thực tế có nhiều ý kiến khác nhau dẫn đến đương sự rất khó khăn khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình và TA cũng rất lúng túng khi thực hiện việc bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.

Thiếu các quy định để xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng [31]; thiếu những quy định pháp luật về bảo đảm sự hỗ trợ của Toà án, của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác đối với việc đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ v.v… là một nguyên nhân dẫn đến việc đương sự không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng các quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.

Tóm lại, việc thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về đương sự trong thực tiễn Tòa án tại tỉnh Lạng Sơn thời gian qua đã xuất hiện nhiều vi phạm tố tụng, trong đó có những vi phạm như: xác định sai thành phần, tư cách tố tụng của đương sự; vi phạm quyền, nghĩa vụ của đương sự… Những vi phạm này, một mặt do trong quá trình thực hiện các TA đã có những nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về đương sự hoặc do TA thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện, mặt khác do các quy định của pháp luật chưa đầy đủ, thiếu chi tiết, một số quy định không phù hợp, đồng thời chưa có văn bản hướng dẫn kịp thời cho việc thực hiện. Để khắp phục và hạn chế những vi phạm trong thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về đương sự trên đây, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp như: nâng cao trình độ chuyên môn của Thẩm phán bằng việc thường xuyên tổ chức các hoạt động tập huấn chuyên đề trao đổi và rút kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ định kỳ; xác định rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm khắc khi Thẩm phán có hành vi vi phạm; nâng cao vai trò của Luật sư và các tổ chức hỗ trợ tư pháp trong việc bảo đẩm thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự; sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật TTDS về đương sự. Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của luân văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến phương hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật TTDS về đương sự.

3.2. KIẾN NGHỊ Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đương sự

Bộ luật Tố tụng Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 và được sửa đổi, bổ sung vào ngày 29/3/2011 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 đến nay. Sau 10 năm thi hành BLTTDS, cho thấy BLTTDS đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đảm bảo tính trình tự và thủ tục TTDS dân chủ, công khai, đơn giản, tạo điều kiện cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động TTDS.

Tuy nhiên, qua tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành các quy định của BLTTDS cho thấy có nhiều quy định của BLTTDS đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: Một số quy định trong BLTTDS chưa rõ ràng, thiếu cụ thể làm cho người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khó hiểu hoặc hiểu khác nhau, Hội đồng Thẩm phán TANDTC phải ban hành nhiều nghị quyết, TANDTC phối hợp với VKSNDTC ban hành nhiều thông tư hướng dẫn nhưng đến nay vẫn còn nhiều vướng mắc, khó thực hiện. Quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, nhất là quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS chưa được quy định đầy đủ như quyền và nghĩa vụ trong việc chứng minh, thu thập chứng cứ, quyền tiếp cận chứng cứ… nhằm thể hiện tính công khai, dân chủ công bằng trong quá trình tố tụng; đồng thời trách nhiệm của đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ, những yêu cầu của Tòa án chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng, nhiều trường hợp đương sự trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, cố tình gây khó khăn nhằm kéo dài việc giải quyết vụ án thì Tòa án gặp khó khăn vì thiếu quy định cụ thể để xử lý hành vi đó.

Vấn đề trình tự, vai trò của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phiên tòa chủ yếu là theo mô hình xét hỏi, yếu tố tranh tụng chưa được rõ cho nên việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa thực hiện rất khó; trình tự thủ tục giám đốc thẩm còn rườm rà, lòng vòng, căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm chưa rõ ràng, làm cho việc giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm chậm, hiện tượng tràn lan vẫn còn… Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Đề hoàn thiện pháp luật TTDS trong giai đoạn hiện nay, phải quán triệt chỉ đạo và thực hiện những yêu cầu sau:

Tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW; Nghị quyết số 49-NQ/TW; Kết luận số 79- KL/TW; Kết luận số 92-KL/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI; trong đó, xác định yêu cầu đổi mới tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; đẩy mạnh và coi việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là khâu đột phá của hoạt động xét xử; tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định; khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp trong qua thương lượng, hòa giải, trọng tài, Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó.

Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Tổ chức TAND năm 2012 và các đạo luật có liên quan. Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Việc xây dựng dự án BLTTDS (sửa đổi) phải được tiến hành trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành các quy định của BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc, bất cập, kế thừa những quy định còn phù hợp; đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về TTDS

Bảo đảm trình tự và thủ tục TTDS có tính khả thi, dân chủ, công khai, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động TTDS. Đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành.

Bảo đảm các quy định của BLTTDS (sửa đổi) không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên…

3.2.2. Kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện các quy định về đương sự trong tố tụng dân sự

Để việc giải quyết vụ án dân sự một cách đúng đắn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và lợi ích của nhà nước, trong phạm vi luận văn chỉ đề cập đến những vấn đề cần hoàn thiện đối với quá trình giải quyết vụ án cụ thể như sau:

Trong việc xác định thành phần tư cách đương sự: BLTTDS chưa định nghĩa rõ “Đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”. Đối với các chủ thể đưa ra các yêu cầu trong việc dân sự trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hiện hành chưa xác định và quy định rõ họ có được coi là “đương sự” không. Quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể trên được ghi nhận và bảo vệ như thế nào so với các đương sự trong vụ án dân sự. Do đó, cần có những quy định rõ hơn để việc xác định tư cách của đương sự được chính xác, tránh tình trạng thiếu sót. Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Chưa có khái niệm làm rõ “Đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”. Đối với các chủ thể đưa ra các yêu cầu trong việc dân sự trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hiện hành chưa xác định và quy định rõ họ có được coi là “đương sự” không. Quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể trên được ghi nhận và bảo vệ như thế nào so với các đương sự trong vụ án dân sự. Do đó, cần có những quy định rõ hơn để việc xác định tư cách của đương sự được chính xác, tránh tình trạng thiếu sót.

Đối với các trường hợp bỏ sót người tham gia tố tụng: Cần có các quy định cụ thể về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn là người tham gia vào vụ án để bảo vệ quyền lợi của mình, yêu cầu của họ phụ thuộc vào yêu cầu hay phản yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập là người tham gia vào vụ án đã xảy ra giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền lợi của mình, yêu cầu của họ độc lập với yêu cầu cảu nguyên đơn, bị đơn.

Trong các trường hợp không xác định rõ tư cách người tham gia tố tụng: Các nhà làm luật cần quy định rõ hơn trong trường hợp các vụ án dân sự có nhiều nguyên đơn, bị đơn, nếu quyền và lợi ích giữa các nguyên đơn và bị đơn không mâu thuẫn thì họ là đồng nguyên đơn và bị đơn. Nếu quyền và lợi ích mâu thuẫn với nhau thì họ là những nguyên đơn và bị đơn độc lập.

Trường hợp không triệu tập đầy đủ người tham gia tố tụng để giải quyết vụ án pháp luật cần quy định cụ thể hơn đương sự là người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ do người đại diện của họ thực hiện. Đối với các trường hợp đương sự là người dưới 18 tuổi nhưng không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng, đương sự là người dưới 18 tuổi nhưng vẫn có năng lực hành vi tố tụng đầy đủ. Và trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì năng lực hành vi TTDS của họ chỉ bị hạn chế trong lĩnh vực bị cấm. Ngoài ra đối với các trường hợp đương sự cố tình trốn tránh, không đến Tòa án để giải quyết theo giấy triệu tập, việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án gặp nhiều khó khăn do đương sự không hợp tác. Do đó, Tòa án không thể triệu tập được đầy đủ các đương sự cũng cần phải xây dựng chế tài đối với những hành vi đó, để có căn cứ giải quyết vụ án được nhanh chóng hơn, đảm bảo đúng thời gian quy định.

Bên cạnh đó, cần thiết phải nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ thẩm phán cả về số lượng và chất lượng song song với công tác tuyên truyền pháp luật để khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có sự hiểu biết để bảo vệ quyền, lợi ích của mình và nhà nước.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Thực tiễn xét xử tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy việc thực hiện pháp luật TTDS nói chung và thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về đương sự trong TTDS nói riêng trong thực tiễn ở các TA thời gian qua đã xuất hiện nhiều vi phạm tố tụng, trong đó có những vi phạm như: Xác định sai thành phần, tư cách tố tụng của đương sự; vi phạm quyền, nghĩa vụ của đương sự, giải quyết thiếu người tham gia tố tụng.

Đồng thời, đương sự không thực hiện được hoặc không thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình hay có những hành vi cản trở hoạt động tố tụng.

Nguyên nhân của những vi phạm liên quan đến thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về đương sự, một mặt do các quy định của pháp luật chưa đầy đủ, thiếu chi tiết cũng như chưa phù hợp, nhưng chủ yếu là do Thẩm phán nhận thức những vấn đề lý luận về đương sự chưa được đầy đủ bởi sự yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm của một bộ phận Thẩm phán, cán bộ Đồng thời, do đương sự còn thiếu hiểu biết hoặc thiếu ý thức khi tham gia tố tụng. Ngoài ra, việc kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tố tụng nói chung và việc giải quyết các VVDS nói riêng tại các TA được thực hiện chưa thường xuyên, chưa hiệu quả v.v…

Trước thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, để đáp ứng những đòi hỏi của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội hiện nay, chúng ta cần phải nghiêm túc nghiên cứu các quy định của pháp luật TTDS hiện hành và thực tiễn thực hiện để từ đó hoàn thiện các quy định của pháp luật TTDS, trong đó có các quy định về đương sự trong VVDS. Đồng thời, hoàn thiện các quy định pháp luật TTDS có liên quan để bảo đảm việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự thì đương sự mới có thể thực hiện được đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Với đề xuất hoàn thiện được nêu ra trong luận văn này, tác giả hy vọng góp phần làm rõ một số quy định của BLTTDS để cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung BLTTDS trong thời gian tới./.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Việt Nam đang xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với quan điểm tất cả vì con người và hướng tới con người, đồng thời chúng ta cũng đang hội nhập sâu, rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, vì vậy đòi hỏi chúng ta không ngừng đổi mới chính sách, hoàn thiện thể chế. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm đó là cải cách nền tư pháp, sao cho nền tư pháp đó trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Trên tinh thần đó chúng ta đã tiến hành sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự. Để xây dựng một thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, gần dân, thân thiện với dân thì ngay từ khi chắp bút soạn thảo pháp luật, nhà lập pháp đã phải ý thức được sứ mệnh cao cả và bổn phận thiêng liêng của mình với xã hội. Pháp luật tố tụng dân sự được xây dựng không phải là những định lệ phiền toái mà phải là phương tiện hữu hiệu để người dân có thể sử dụng trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

Hiện nay, trong thực tiễn giải quyết các VVDS đương sự là chủ thể có vai trò đặc biệt quan trọng trong pháp luật TTDS. Việc phân tích, luận giải để có nhận thức lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò của đương sự; khái niệm về các tư cách tố tụng của đương sự, năng lực chủ thể và các cơ sở quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự là vô cùng cần thiết cho việc phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về đương sự và thực trạng thực hiện các quy định này.

Xác định thành phần của đương sự cần phải dựa trên những cơ sở nhất định, đó là số lượng các QHPL mà TA cần giải quyết trong VVDS hoặc có liên quan đến sự kiện pháp lý hoặc quyền và nghĩa vụ mà TA phải xác định, trên cơ sở đó xác định được đầy đủ các chủ thể tham gia các QHPL và các chủ thể có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan tới việc giải quyết các QHPL này. Thành phần của đương sự phụ thuộc vào phạm vi các chủ thể của các QHPL mà TA giải quyết trong mỗi VVDS. Sau khi đã xác định được đầy đủ thành phần của đương sự, cần xác định rõ tư cách của đương sự – tức là xác định đương sự ở vị trí tố tụng nào? Việc xác định rõ tư cách của đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…) có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc đảm bảo cho những người này tham gia tố tụng thực hiện đúng và hiệu quả các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, từ đó việc giải quyết VVDS được chính xác. Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

Pháp luật TTDS hiện hành đã quy định khá đầy đủ, chi tiết về thành phần, tư cách; năng lực chủ thể; quyền, nghĩa vụ chung của đương sự; quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v.v… Các quy định này là cơ sở pháp lý cho TA giải quyết các VVDS, đồng thời là cơ sở để các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu và việc thực hiện đã cho thấy, các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về đương sự còn chưa đầy đủ, thiếu chi tiết nhiều quy định còn chung chung, do đó có thể dẫn đến cách hiểu và thực hiện khác nhau. Bên cạnh đó một số quy định lại mâu thuẫn với nhau giữa quy định trong điều luật này với quy định trong điều luật khác; đặc biệt chưa bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các đương sự ở các tư cách tố tụng khác nhau. Đồng thời, còn thiếu một số quy định nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự đòi hỏi phải được bổ sung và hoàn thiện. Do đó, việc sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự là việc làm cần thiết góp phần vào quá trình cải cách tư pháp trong điều kiện hiện nay.

Thực tiễn giải quyết VVDS tại TAND tỉnh Lạng Sơn trong thời gian qua cho thấy việc giải quyết của TAND tỉnh Lạng Sơn vẫn còn những vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, trong đó có những vi phạm như: TA xác định sai thành phần, tư cách tố tụng của đương sự; vi phạm quyền, nghĩa vụ của đương sự…, đồng thời đương sự thực hiện không đúng, không đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Nguyên nhân của những vi phạm liên quan đến thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về đương sự, một mặt do các quy định của pháp luật chưa đầy đủ, thiếu chi tiết cũng như chưa phù hợp. Ngoài ra, nguyên nhân chủ yếu là do sự yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm của một bộ phận Thẩm phán, cán bộ TA. Sự thiếu hiểu biết của đương sự về pháp luật hoặc thiếu ý thức trong việc tuân thủ pháp luật cũng được coi là nguyên nhân của những vi phạm liên quan đến thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về đương sự.

Hoàn thiện các quy định của pháp luật TTDS về đương sự là cơ sở pháp lý để đương sự có thể tham gia tố tụng và thực hiện tốt nhất các quyền và nghĩa vụ TTDS, đồng thời là cơ sở cho việc TA thực hiện xác định thành phần và tư cách đương sự, bảo đảm đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ. Ngoài ra, bên cạnh việc hoàn thiện quy định pháp luật về đương sự trong TTDS thì việc hoàn thiện các quy định pháp luật TTDS nhằm bảo đảm cho đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ TTDS là giải pháp vô cùng cần thiết. Các giải pháp này phải được thực hiện một cách đồng bộ mới đem lại hiệu quả cao trong việc giải quyết các VVDS./. Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

One thought on “Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464