Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đương sự là một chủ thể đặc biệt quan trong trong tố tụng dân sự. Đương sự có mối quan hệ chặt chẽ với Tòa án và là trung tâm của hoạt động tố tụng. Có thể khẳng định rằng không có đương sự thì không có vụ việc dân sự.
Trong vụ việc dân sự đương sự là chủ thể quan trọng nhất, nếu thiếu chủ thể này thì vụ án dân sự không thể phát sinh. Việc ban hành Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004 và được sửa đổi bổ sung năm 2011 thay thế cho Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế năm 1994, Phap lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996 là một bước tiến quan trọng đã đánh dấu sự ra đời của hệ thống các quy định về thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án, trong đó có các quy phạm quy định khá rõ ràng và toàn diện về đương sự. Điều này có ý nghĩa quan trọng của việc xác định thành phần, tư cách đương sự trong vụ việc dân sự, góp phần vào việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ và đây cũng là cơ sở quan trọng cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự được chính xác, khách quan.
Thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự tại địa phương vẫn còn tồn tại trong việc xác định tư cách của đương sự, việc hiểu các quy định của pháp luật về vấn đề này đôi khi không đúng đã dẫn đến quá trình xét xử tại Tòa án còn nhiều hạn chế, sai sót. Kết quả giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án chưa cao, vẫn còn nhiều trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới bị cấp trên sửa, hủy. Các vụ việc dân sự phải giải quyết lại nhiều lần làm lãng phí về thời gian, tiền bạc, gây khó khăn cho đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Do đó, để góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự tôi đã lựa chọn đề tài: “Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá toàn diện các Bộ luật, luật, văn bản quy phạm pháp luật trong nước quy định về đương sự và việc xác định tư cách của đương sự. Thông qua thực tiễn xét xử tại địa phương đưa ra một số phương hướng đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về đương sự và việc xác định tư cách của đương sự và giải pháp để thực thi một cách hiệu quả các quy định của pháp luật trong thực tiễn.
1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Từ khi có BLTTDS 2004 và BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011 đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu đầy đủ và chi tiết về đương sự trong TTDS. Việc nghiên cứu, tìm hiểu đương sự trong TTDS có thể kể đến như:
“Quyền khởi kiện với vấn đề xác định tư cách của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Lê Nguyễn Hồng Phúc ; “Một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng” của tác giả Lê Thị Thu Hà trên quyển Bình luận khoa học năm 2006; Bài viết “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong BLTTDS” của tác giả Nguyễn Thái Phúc đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10 năm 2005; Bài viết “Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần Anh Tuấn trên Tạp chí TAND, số 23 tháng 12 năm 2008; Luận án tiến sỹ luật học năm 2006 với đề tài “Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong TTDS Việt Nam” của tác giả Nguyễn Công Bình (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội). Bài báo “Đương sự trong vụ án dân sự” của Ths Nguyễn Việt Cường – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bài viết “Việc xác định tư cách đương sự trong việc giải quyết các vụ việc dân sự” của tác giả Thành Nhân – Tạp chí Tòa án nhân dân.
1.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
1.3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu, đánh giá dựa trên quá trình xét xử thực tế tại địa phương. Làm rõ tầm quan trọng của việc xác định đúng đương sự và tư cách của đương sự trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Đưa ra những yếu tố còn bất cập, qua đó đề xuất về mặt lý luận để góp phần hoàn thiện các quy định về đương sự trong pháp luật nước ta hiện nay.
1.3.2. Nhiệm vụ cụ thể
Nhiệm vụ cụ thể của đề tài này là phân tích về mặt lý luận, đối chiếu với những kết quả thực tiễn tại địa phương để thấy rõ hơn bản chất khoa học, một số bất cập còn tồn tại và đề xuất hướng hoàn thiện các quy định về đương sự trong vụ án dân sự từ đó nâng cao nhận thức về các quy định của pháp luật. Từ việc nhận thức chính xác các quy định của pháp luật việc áp dụng giải quyết các vụ án dân sự sẽ nhanh chóng, có chất lượng cao, nhằm hạn chế các trường hợp hủy, sửa do lỗi xác định không đúng tư cách của đương sự trong vụ án dân sự. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của để tài như đã dẫn giải trên đây sẽ tập trung vào việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đương sự trong các vụ việc dân sự tại tỉnh Lạng Sơn thời gian qua.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đương sự theo pháp luật TTDS hiện hành là một đề tài đề cập đến các khía cạnh khác nhau về đương sự trong vụ án dân sự và đương sự trong việc dân sự. Tuy nhiên, để nghiên cứu chuyên sâu nên tác giả chỉ giới hạn tập trung vào nghiên cứu các vấn đề khác nhau về đương sự trong vụ án dân sự cụ thể trên phạm vi tỉnh Lạng Sơn để đánh giá, phân tích và đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, trong đó vận dụng quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử khi xem xét, đáng giá từng vấn đề cụ thể. Đồng thời, đề tài cũng dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về các vấn đề có liên quan.
Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan và thực tế, đề tài đã sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp dựa trên các vụ án dân sự trên địa bàn nghiên cứu. Trên cơ sở các số liệu gốc và số liệu liên quan, cùng các văn bản luật và các văn bản quy phạm pháp luật, có khảo sát, đối chiếu và kết luận việc thực thi.
2. Nội dung, địa điểm nghiên cứu
2.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu các lý luận, các quy định của pháp luật về đương sự và việc xác định tư cách của đương sự.
Nghiên cứu các lý luận, các quy định của pháp luật đối với đương sự và việc xác định tư cách của đương sự.
Qua các vụ án dân sự trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nghiên cứu các lý luận, các quy định của pháp luật về đương sự và việc xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự. Từ kết quả thu được trên thực tiễn so sánh đối chiếu tìm ra những hạn chế bất cập và đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu chính của đề tài là địa bàn tỉnh Lạng Sơn, có tham khảo một số tỉnh, thành phố khác … Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc, có đường biên giới giáp với Trung Quốc, địa hình chủ yếu là đồi núi, có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Là tỉnh miền núi nên tại một số khu vực vùng sâu xa điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đi lại khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế. Vì vậy kết quả của việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
3. Dự kiến kết quả Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Phân tích đánh giá và tổng hợp được các quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam về đương sự, đề xuất xây dựng quan điểm thống nhất về đương sự cho phù hợp với tình hình.
Áp dụng lý luận và các quy định của pháp luật cùng với các phân tích đánh giá sẽ đề xuất phương án thực thi các quy định của pháp luật về đương sự và việc xác định tư cách của đương sự.
4. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đương sự trong vụ án dân sự Trong chương này làm rõ khái niệm của đương sự trong tố tụng dân sự nội hàm của khái niệm. Đặc điểm của đương sự trong tố tụng dân sự, vai trò của đương sự và cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc xác định thành phần, tư cách tố tụng của đương sự… Trong chương này cũng đã phân tích pháp luật của một số nước quy định về đương sự trong tố tụng dân sự
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đương sự trong tố tụng dân sự
Trong chương đã đưa ra các quy định về thành phần và tư cách của đương sự. Các quy định về năng lực chủ thể của đương sự. Quy định về quyền, nghĩa vụ và việc kế thừa quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự. Đánh giá những thành tựu và hạn chế của pháp luật Việt Nam trong những quy định này
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đương sự ở Tòa án tại tỉnh Lạng Sơn và một số kiến nghị.
Trong chương này, tác giả tập trung phân tích quan điểm, phương hướng của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề hoàn thiện khuôn khổ pháp luật. Đã đưa ra những quy định của pháp luật và việc áp dụng giải quyết các vụ án dân sự. Qua những vụ án cụ thể tại địa phương đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật.
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm đương sự trong tố tụng dân sự
Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự thông thường là các chủ thể độc lập trong một hoặc nhiều quan hệ đang được xem xét, giải quyết trong vụ việc hoặc quan hệ phát sinh từ việc xem xét, giải quyết vụ việc đó. Do đó, muốn xác định được đầy đủ đương sự trong vụ việc thì cần phải xác định được những mối quan hệ phải được giải quyết trong vụ việc đó và những mối quan hệ có liên quan đến việc giải quyết vụ việc. Một vụ việc mà có nhiều mối quan hệ đan xen của nhiều chủ thể thì vụ việc đó có thể có nhiều đương sự tham gia và ngược lại trong vụ việc đó chỉ phải giải quyết một mối quan hệ giữa hai chủ thể thì chỉ hai bên chủ thể đó được xác định là đương sự. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Ngoài ra, đương sự trong tố tụng dân sự phải là những chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc xem xét, giải quyết vụ việc đó. Vì vậy, để xác định được đầy đủ những ai là đương sự, trước hết cần xác định rõ bản chất của vụ việc mới có thể xác định được ai là chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc giải quyết vụ việc đó. Tùy thuộc vào từng vụ việc mà thành phần các chủ thể được xác định là đương sự sẽ khác nhau: có những vụ việc mà việc giải quyết vụ việc này có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhiều chủ thể, tuy nhiên có vụ việc thì việc giải quyết chỉ liên quan trực tiếp đến quyền lợi của hai bên chủ thể. Thông thường đương sự có quyền, lợi ích được giải quyết ngay trong vụ việc đó. Tuy nhiên, đương sự cũng còn bao gồm cả những người mà quyền và lợi ích không được giải quyết ngay trong vụ việc nhưng kết quả giải quyết vụ việc này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của họ. Vì vậy, họ cũng phải được tham gia vào việc giải quyết vụ việc.
Như vậy, có thể hiểu rằng, theo nghĩa rộng thì đương sự trong một vụ việc là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc vì có quyền, lợi ích liên quan đến việc giải quyết vụ việc. Theo quan niệm của các nhà luật học đương sự trong TTDS là gì ?
Trong Từ điển Luật học được xuất bản năm 1999 thì “đương sự là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một khiếu nại hoặc một vụ án”[38]. Ngoài ra, theo cuốn Từ điển Luật học của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thì đương sự được giải thích như sau:
“Cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động. Những người tham gia TTDS đó bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, VKS, người làm chứng, người phiên dịch” [41].
Qua đó, có thể thấy các nhà luật học đều có một quan niệm chung, đương sự là những người tham gia vào quá trình giải quyết VADS vì có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong VADS, bao gồm bên nguyên đơn, bên bị đơn. Tuy nhiên, các nhà luật học chưa đưa ra một khái niệm toàn diện về đương sự trong TTDS. Vì vậy, để có thể xây dựng được khái niệm đương sự trong TTDS thì trước hết chúng ta cần phải làm rõ TTDS là gì ? Những chủ thể nào có thể được xác định là đương sự ?
Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh [11]: “tố tụng” là việc thưa kiện (procès), “tố tụng pháp lý” là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng (code deprocédure)” Sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia [26], dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt (NXB Văn Nghệ TP HCM, 1999) giải thích chi tiết hơn: “Tố tụng” là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ “tố” là vạch tội; chữ “tụng” là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái”.
Hiểu một cách đơn giản: “Tố tụng” là việc thưa kiện ở tòa án hay được hiểu là “việc kiện cáo trước toà án” [26]. Vì vậy, TTDS được hiểu là những việc kiện cáo nhau ra TA về các quan hệ dân sự và yêu cầu TA giải quyết. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, khái niệm “tố tụng dân sự” cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, tuỳ theo mô hình tố tụng và pháp luật của mỗi quốc gia thuộc mỗi hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới [11]. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Trước khi có BLTTDS việc giải quyết các tranh chấp ở TA theo các thủ tục tố tụng khác nhau và được quy định trong các văn bản khác nhau. Việc giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình theo thủ tục giải quyết các VADS được quy định trong PLTTGQCVADS 1989 [14], giải quyết các tranh chấp kinh tế theo thủ tục giải quyết các VA kinh tế được quy định trong PLTTGQCVAKT 1994 [42], giải quyết các tranh chấp lao động theo thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động được quy định trong PLTTGQCTCLĐ 1996 [43]. Sở dĩ các loại tranh chấp này được giải quyết ở các thủ tục khác nhau vì trong hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này không phân chia hệ thống pháp luật thành hệ thống luật công và hệ thống luật tư như các nước theo hệ thống luật dân sự. Mỗi ngành luật được hiểu là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật. Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Kinh tế, Luật Lao động được xác định là các ngành luật độc lập và mỗi ngành luật này lại điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội riêng biệt. Luật Dân sự và các ngành luật khác như Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Kinh tế, Luật Lao động (các ngành luật nội dung) là các ngành luật có vị trí ngang nhau trong hệ thống pháp luật. Vì vậy, hệ thống luật tố tụng (luật hình thức) cũng có sự tách biệt để giải quyết các loại tranh chấp trong từng ngành luật nội dung và TTDS chỉ là thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, BLDS 2005 [8] ra đời đã đánh dấu một sự thay đổi rất lớn về vị trí của Luật Dân sự. Luật Dân sự được coi như là “luật gốc” trong hệ thống luật tư [11]. Các ngành luật thuộc hệ thống luật tư như Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Thương mại, Luật Lao động v.v… đã có sự thống nhất. Do vậy, TTDS, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động đã có sự tương đồng. BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 [31] đã thống nhất các trình tự tố tụng để giải quyết các tranh chấp, yêu cầu thuộc lĩnh vực tư giống như pháp luật tố tụng của các nước trong hệ thống luật dân sự. Như vậy, với quan niệm này, đương sự trong TTDS là người tham gia vào quá trình TA giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động.
Ngoài ra, pháp luật TTDS không chỉ điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết VVDS mà còn điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình THADS. Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến đương sự trong quá trình TA giải quyết VVDS. Vì vậy, chúng tôi không bình luận và đánh giá về vấn đề này.
Việc phân loại các đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS cũng có những quan niệm rất khác nhau và từ đó dẫn đến những quan niệm khác nhau về đương sự trong TTDS. Trước khi có BLTTDS, nhiều nhà khoa học pháp lý Việt Nam cho rằng đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS cũng chỉ là các VADS, trong đó TA giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình và cả các yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình [31]. Vì vậy, quan niệm thành phần đương sự trong VADS bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người dự sự (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập) [31]. Tại Điều 1 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 đã quy định đối tượng giải quyết theo thủ tục TTDS các VVDS, VVDS bao gồm: VADS và VDS. VADS là VVDS mà trong đó TA giải quyết các loại tranh chấp còn VDS là VVDS mà trong đó TA không giải quyết các tranh chấp mà TA giải quyết yêu cầu công nhận hoặc không công nhận về một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động hoặc TA giải quyết yêu cầu công nhận quyền dân sự, hôn nhân & gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Vì vậy, với cách phân loại đối tượng này, đương sự trong TTDS của Việt Nam được xác định bao gồm cả đương sự trong VADS và đương sự trong VDS.
Nhưng chủ thể được xác định là đương sự trong TTDS thì trước hết phải là chủ thể của các QHPL dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là các QHPL nội dung). Chủ thể của QHPL nội dung là cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác là những thực thể pháp lý nhưng không có tư cách pháp nhân vẫn có thể trở thành chủ thể của QHPL như hộ gia đình, tổ hợp tác v.v…Vì vậy, đương sự trong TTDS có thể là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quá trình TA giải quyết các VVDS. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể của QHPL nội dung đều có thể trở thành đương sự trong các quan hệ TTDS. Bởi vì, như nhận xét của một số nhà nghiên cứu: “Xét cho cùng, lợi ích chính là những phương thức, phương tiện tối ưu mà chủ thể lựa chọn nhằm đạt được các nhu cầu của mình, vì chủ thể giành lấy và sử dụng chúng tạo ra những điều kiện tốt nhất để trực tiếp thực hiện các nhu cầu cấp bách của bản thân” [21] hay “Quyền dân sự và chính trị không đơn thuần chỉ mang tính chất quyền cá nhân, chỉ bảo đảm mục đích cá nhân, mà còn có vai trò to lớn trong việc phục vụ mục đích toàn xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung” [21]. Đồng thời, lợi ích cũng lại là nguyên nhân, nguồn gốc của các tranh chấp giữa các quốc gia, các dân tộc, các cá nhân, các tổ chức và các chủ thể khác trong các quan hệ xã hội hay các QHPL. Khi mà các chủ thể trong các QHPL nội dung tôn trọng lợi ích của nhau, thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ pháp lý với nhau thì sẽ không dẫn đến việc khởi kiện, yêu cầu đến TA và không có hoạt động tố tụng giải quyết thì các chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung này không trở thành là đương sự trong TTDS. Nhưng khi chủ thể của các QHPL nội dung này không tôn trọng lợi ích của nhau hoặc vi phạm, tranh chấp với nhau về quyền, nghĩa vụ dẫn đến việc khởi kiện, yêu cầu TA giải quyết và TA thụ lý giải quyết theo thủ tục TTDS thì các chủ thể của của các QHPL nội dung trở thành đương sự trong TTDS vì có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết các VVDS.
Quá trình giải quyết VVDS nảy sinh nhiều QHPL giữa các chủ thể: TA, VKS, những người tham gia tố tụng và những người liên quan. Các chủ thể này tham gia vào QHPL TTDS với những động cơ và mục đích khác nhau. TA, VKS tham gia để thực hiện quyền tư pháp về dân sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác còn đương sự là chủ thể tham gia tố tụng là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình.
Tóm lại, đương sự trong tố tụng dân sự là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác có quyền, lợi ích tranh chấp hoặc cần phải xác định tham gia vào quá trình TA giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
1.1.2. Đặc điểm của đương sự trong tố tụng dân sự Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Đương sự trong TTDS là người tham gia TTDS. Do vậy, đương sự có đầy đủ các đặc điểm của người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, mục đích đương sự tham gia tố tụng là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình, những người tham gia tố tụng khác tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc để hỗ trợ cho hoạt động tố tụng. Vì vậy, so với những người tham gia tố tụng khác, đương sự còn có những đặc điểm khác biệt sau đây:
- Đương sự là chủ thể của QHPL nội dung có quyền, lợi ích tranh chấp, bị xâm phạm hoặc cần được xác định trong VVDS;
Trước khi trở thành đương sự trong TTDS, các chủ thể đã tham gia vào một QHPL nội dung như quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ kinh doanh thương mại, quan hệ lao động, họ đều có quyền, lợi ích gắn liền với các quan hệ đó. Lợi ích của các chủ thể có thể là lợi ích vật chất phát sinh từ tài sản hoặc là các lợi ích tinh thần phát sinh từ các giá trị nhân thân như danh dự, uy tín, nhân phẩm v.v… Khi có tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ các quan hệ nội dung, các chủ thể tham gia vì để bảo vệ quyền, lợi ích của mình đã đưa ra các yêu cầu thông qua việc khởi kiện hoặc nộp đơn yêu cầu TA giải quyết. Đương sự muốn khởi kiện hoặc yêu cầu thì trước hết họ phải chứng minh rằng họ có quyền, lợi ích cần được giải quyết trong vụ việc đó. Vì vậy, về nguyên tắc, cá nhân, tổ chức để trở thành đương sự của VVDS thì phải có quyền và lợi ích liên quan đến giải quyết VVDS.
- Đương sự là chủ thể được TA chấp nhận tham gia vào quá trình giải quyết VVDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình;
Đương sự có thể mong muốn tham gia hoặc buộc phải tham gia vào hoạt động tố tụng do việc “khởi động” vụ việc của nguyên đơn hoặc người yêu cầu và được TA thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, các đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng trước hết là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì để bảo vệ lợi ích của mình đương sự đưa ra yêu cầu, nêu ra các ý kiến đồng thời cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, ý kiến của mình là hợp pháp và có căn cứ với mong muốn để TA giải quyết bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết các VVDS. Các lợi ích mà đương sự hướng tới trong quá trình giải quyết VVDS có thể là lợi ích cá nhân, cũng có thể là lợi ích của pháp nhân hoặc lợi ích của những chủ thể đặc biệt không có tư cách pháp nhân như của hộ gia đình, tổ hợp tác hay doanh nghiệp tư nhân. Đối với các cá nhân, tổ chức hay các chủ thể khác mà khởi kiện hoặc yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì người khởi kiện, người yêu cầu tham gia với tư cách là đại diện của đương sự, còn đương sự là chủ thể được bảo vệ quyền lợi.
Trong một số trường hợp đặc biệt, các chủ thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng thì các chủ thể này có thể tham gia tố tụng và có các quyền, nghĩa vụ như của đương sự nhưng không phải là đương sự. Bởi vì, các cơ quan, tổ chức này khởi kiện nhưng không phải là chủ thể có quyền lợi bị tranh chấp hoặc vi phạm mà về nguyên tắc chỉ những chủ thể có quyền lợi mới có thể tự định đoạt về quyền lợi của mình thông qua hoà giải.
- Đương sự là chủ thể bình đẳng với nhau trong tố tụng, có thể tham gia tố tụng độc lập hoặc thông qua người đại diện trong TTDS; Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Trong quá trình giải quyết VVDS, các đương sự là chủ thể bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Pháp luật TTDS quy định các quyền, nghĩa vụ chung của đương sự, nhưng các đương sự ở các tư cách tố tụng khác nhau có một số quyền, nghĩa vụ khác nhau.
Ngoài ra, đương sự có thể tham gia độc lập trong TTDS khi họ có đủ điều kiện về năng lực chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng. Tuy nhiên, trong trường hợp đương sự là người chưa thành niên hoặc đương sự là tổ chức có tư cách pháp nhân thì người đại diện của đương sự có thể thay mặt đương sự để tham gia vào quá trình giải quyết VVDS để thực hiện những quyền và nghĩa vụ của đương sự. Đặc biệt, trong trường hợp vì lý do nào đó đương sự không trực tiếp tham gia tố tụng, họ có thể uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng, trừ một số trường hợp pháp luật quy định không được uỷ quyền. Đây chính là đặc điểm để phân biệt giữa đương sự trong TTDS với những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch v.v…
- Đương sự là chủ thể có quyền tự định đoạt, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình là cơ sở để phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quá trình giải quyết các VVDS;
Đương sự là chủ thể có vai trò quan trọng đối với quá trình giải quyết các VVDS. Khác với các chủ thể tố tụng khác chỉ đương sự mới có quyền tự định đoạt trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về dân sự và tố tụng. Các chủ thể tố tụng khác có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự. Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt hoạt động tố tụng. TA giải quyết VVDS thực chất là TA giải quyết các yêu cầu của đương sự hoặc người đại diện của đương sự. Vì vậy, chỉ khi các chủ thể này có đưa ra yêu cầu thì TA mới giải quyết nhưng khi các chủ thể đó thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu hay đưa ra ý kiến của mình thì hoạt động tố tụng có thể bị thay đổi hoặc chấm dứt.
Như vậy, trong VVDS phát sinh tại TA do cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác nộp đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu TA bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác hoặc để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước đang bị tranh chấp hoặc có liên quan đến sự kiện pháp lý mà TA có thẩm quyền xác định. Trong các VVDS, có những chủ thể tham gia có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết các VVDS và tham gia vào quá trình giải quyết VVDS để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, đó chính là đương sự trong TTDS.
1.2. VAI TRÒ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Đương sự là chủ thể có vai trò đặc biệt quan trọng trong TTDS bởi lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng. Pháp luật TTDS Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi mô hình thẩm xét, do vậy vai trò và trách nhiệm của đương sự còn phụ thuộc nhiều vào TA. TA với tư cách là cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc cơ bản của bộ máy nhà nước, được phân công thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp tiến hành giải quyết các vụ án hình sự, dân sự và các việc khác theo một trình tự, thủ tục có tính bắt buộc do nhà nước quy định. TAND là cơ quan tiến hành TTDS có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các VVDS. Theo đó, trong TTDS thì TA là chủ thể trung tâm, chủ thể chủ yếu, chủ thể có quyền lực, các quyết định của TA buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải thi hành [28]. TA có vai trò quan trọng trong việc làm phát sinh QHPL tố tụng khi TA nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và TA thụ lý VVDS. Việc khởi kiện, yêu cầu của đương sự là điều kiện tiên quyết còn việc TA thụ lý là điều kiện quyết định làm phát sinh hoạt động TTDS. TA đóng vai trò quyết định về thủ tục, quyết định mức độ cũng như giá trị của chứng cứ. Tuy nhiên, khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình TA cũng bị giới hạn bởi việc bảo đảm quyền của đương sự như TA chỉ giải quyết trong phạm vi những vấn đề mà đương sự có yêu cầu hay TA chỉ tiến hành những biện pháp nhất định mà pháp luật quy định, TA có quyền thực hiện khi đương sự có yêu cầu v.v…
Vai trò của đương sự được thể hiện trong mối quan hệ giữa đương sự với VKS. Trong TTDS, VKS là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tố tụng bảo đảm cho việc giải quyết VA được đúng đắn và kịp thời. Việc pháp luật ghi nhận hay không ghi nhận sự tham gia của VKS trong TTDS phần nào tác động đến vai trò của đương sự trong TTDS.
Vai trò của đương sự trong TTDS còn thể hiện ở việc đương sự có quyền quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt hoạt động TTDS. Các chủ thể tham gia vào các QHPL nội dung trên nguyên tắc bình đẳng, tự do, tự nguyên, cam kết, thoả thuận. Khi đương sự khởi kiện hoặc yêu cầu TA có thẩm quyền giải quyết và TA thụ lý để giải quyết làm phát sinh các VVDS tại TA, phát sinh hoạt động tố tụng. Ngược lại, khi đương sự quyết định không khởi kiện, yêu cầu đến TA thì cũng không làm xuất hiện hoạt động tố tụng ở TA. Các chủ thể khác không phải đương sự hoặc đại diện hợp pháp của đương sự thì không có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu để khởi động hoạt động tố tụng. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay theo yêu cầu của cải cách tư pháp nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, vấn đề quyền con người trong đó có các quyền dân sự, quyền tố tụng cần được tôn trọng, ghi nhận và bảo đảm. Do vậy khi việc khởi kiện, yêu cầu đó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện khởi kiện hoặc yêu cầu thì TA không có quyền từ chối việc thụ lý để giải quyết. Điều này đã thể hiện qua việc thay đổi và hoàn thiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự trong thời gian qua.
Mặt khác, việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự không chỉ làm cơ sở để phát sinh hoạt động TTDS mà còn là cơ sở để làm thay đổi hoặc chấm dứt các hoạt động TTDS khi đương sự đã thực hiện việc khởi kiện, yêu cầu và TA đã thụ lý VVDS nhưng sau đó đương sự sửa đổi, bổ sung yêu cầu hoặc rút đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, rút kháng cáo v.v…
Vai trò của đương sự trong TTDS còn thể hiện: yêu cầu của đương sự là cơ sở quan trọng cho việc tham gia của các chủ thể khác vào quá trình TTDS như việc yêu cầu TA triệu tập người làm chứng, yêu cầu trưng cầu giám định, yêu cầu TA xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản tranh chấp và các yêu cầu này được TA chấp nhận thì VVDS đó sẽ có sự tham gia của người làm chứng, người giám định, người định giá hay trường hợp đương sự mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (được TA chấp nhận), đương sự uỷ quyền hợp pháp cho người khác thì VVDS đó có sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện uỷ quyền của đương sự.
Ngoài ra, khi đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình là cơ sở để làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khác như TA, VKS và những người tham gia tố tụng khác. Chẳng hạn, về nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chính trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ, TA chỉ tiến hành việc thu thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định do pháp luật quy định khi mà đương sự không tự thu thập được và có yêu cầu hay khi đương sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của TA thì việc tham gia của VKS ở tại phiên toà sơ thẩm là bắt buộc v.v..
Như vậy, có thể thấy rằng đương sự có một vai trò đặc biệt quan trọng trong TTDS, vai trò này thể hiện rõ nét nhất trong mối quan hệ giữa đương sự và TA. Nhận thức đúng vai trò của TA, vai trò của đương sự trong mối quan hệ này là cơ sở quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của đương sự và trách nhiệm, nghĩa vụ của TA, VKS và các chủ thể khác trong việc bảo đảm để đương sự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ TTDS.
1.3. CƠ SỞ CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN, TƯ CÁCH TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
1.3.1 Cơ sở lý luận
Thành phần đương sự trong TTDS là phạm vi những chủ thể có thể được xác định là đương sự trong một VVDS cụ thể. Đương sự trước hết là chủ thể của các QHPL nội dung. Vì vậy, những chủ thể tham gia độc lập vào các QHPL nội dung đều có thể được xác định là đương sự, những cá nhân, tổ chức không phải là một bên chủ thể của QHPL dân sự thì không thể được xác định là đương sự. TA giải quyết VVDS thực chất là TA giải quyết các mối QHPL đang có tranh chấp, vi phạm hoặc TA xác định về các sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các QHPL hoặc công nhận quyền cho chủ thể trong QHPL này. Vì vậy, muốn xác định được đầy đủ thành phần của đương sự thì phải xác định được đầy đủ các QHPL mà TA đang giải quyết trong VADS và QHPL có liên quan đến việc giải quyết VADS hoặc xác định được đầy đủ các QHPL phát sinh, thay đổi, chấm dứt từ sự kiện pháp lý mà TA phải xác định trong VDS. Từ việc xác định được các QHPL này thì vấn đề tiếp theo là phải xác định được đầy đủ các chủ thể độc lập có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan tới QHPL mà TA giải quyết trong VVDS. Các chủ thể đó đều được xác định là đương sự trong VVDS. Như vậy, thành phần của đương sự phụ thuộc vào phạm vi các chủ thể của các QHPL nội dung được TA giải quyết trong mỗi VVDS.
Một sự việc xảy ra trên thực tế có thể làm phát sinh một hoặc nhiều QHPL khác nhau giữa các chủ thể, tuỳ thuộc vào yêu cầu của họ mà TA xác định thành phần đương sự trong vụ việc này. Vì vậy, nếu phạm vi xét xử của TA thay đổi thì thành phần của đương sự trong VVDS cũng bị thay đổi theo. Như vậy, thành phần của đương sự trong mỗi VVDS không tồn tại một cách cố định mà luôn luôn có thể thay đổi khi có sự thay đổi về phạm vi xét xử của TA. Có thể khẳng định rằng, phạm vi xét xử của TA là yếu tố quyết định thành phần đương sự trong VVDS.
Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng đương sự có quyền tự định đoạt trong TTDS, do đó trong một số trường hợp một chủ thể có thể được xác định là đương sự còn phụ thuộc vào việc chủ thể này có quyết định tham gia tố tụng vào quá trình giải quyết VA hay không. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Sau khi đã xác định được những cá nhân, tổ chức nào là đương sự trong VVDS thì vấn đề tiếp theo là phải xác định các cá nhân, tổ chức đó tham gia tố tụng với tư cách gì?
Về tư cách của đương sự trong TTDS, hiện tại cũng có những quan niệm rất khác nhau trong pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới. Pháp luật TTDS của đa số các quốc gia trên thế giới đều quan niệm đương sự bao gồm các tư cách là nguyên đơn và bị đơn. BLTTDS của nước Cộng hoà Pháp không đưa ra định nghĩa đương sự, nhưng qua quy định tại Điều 1 và Điều 323 thì có thể hiểu đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn. BLTTDS Liên bang Nga tại Điều 43 quy định: người tham gia TTDS gồm các bên (nguyên đơn và bị đơn), người thứ ba (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), Kiểm sát viên, người yêu cầu TA bảo vệ. TTDS của Hoa Kỳ do ảnh hưởng của yếu tố đối tụng (adversary) thì xác định thành phần đương sự bao gồm hai bên nguyên đơn và bị đơn [36].
Có thể thấy rằng pháp luật TTDS của đa số các nước trên thế giới quy định về tư cách đương sự trong một VADS (trong đó TA giải quyết cả các việc có tranh chấp và không có tranh chấp). Theo đó, đương sự trong tố tụng tham gia với tư cách nguyên đơn, bị đơn. Tuy nhiên, Luật TTDS của Việt Nam hiện hành quy định không chỉ là thủ tục giải quyết các VADS (các bên có tranh chấp) mà quy định cả thủ tục giải quyết các VDS (các bên không có tranh chấp) [39]. Do đó, đương sự được quan niệm bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS, người yêu cầu, người liên quan trong VDS. Như vậy, việc xác định tư cách của đương sự trong TTDS còn có nhiều quan điểm khác nhau xuất phát từ việc còn những cách phân loại đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS khác nhau.
Tư cách của đương sự không phải do bản chất của quyền lợi viện dẫn quyết định mà do vị trí của họ khi khởi kiện [40]. Tư cách đương sự phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể trong TTDS. Bởi vậy, việc xác định tư cách tố tụng của đương sự giúp cho quá trình giải quyết các VVDS được chính xác, khách quan, đồng thời bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
1.3.2 Cơ sở thực tiễn Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Xác định tư cách của đương sự trên cơ sở xác định chủ thể có quyền khởi kiện, bị khởi kiện hoặc có quyền yêu cầu, có liên quan đến giải quyết yêu cầu. Cụ thể: Khi chủ thể khởi kiện hoặc yêu cầu thì TA cần xác định một cách chính xác các vấn đề như chủ thể đó có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu hay không? Họ khởi kiện hoặc yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích của mình hay của người khác? Họ có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu đối với ai?
Việc xác định phải căn cứ vào bản chất của mỗi QHPL đang được xem xét, giải quyết và đối chiếu với các quy phạm pháp luật nội dung tương ứng.
Xác định tư cách của đương sự căn cứ vào sự liên quan về quyền, nghĩa vụ và vào thời điểm tham gia tố tụng của đương sự đó.
Khi xem xét sự liên quan về quyền, nghĩa vụ mà xác định việc giải quyết mối quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn có liên quan đến quyền và lợi ích của chủ thể thứ ba thì TA cần xác định chủ thể này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VA. Đồng thời, khi xem xét yêu cầu giải quyết VDS thì cần xác định việc giải quyết VDS đó sẽ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những ai thì cần được xác định là người có liên quan.
Ngoài ra, căn cứ vào thời điểm tham gia tố tụng cũng là cơ sở để xác định tư cách tham gia của đương sự là nguyên đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đặc biệt, một số trường hợp trong quá trình giải quyết VVDS tư cách tố tụng có thể thay đổi khi mà phạm vi giải quyết của TA có sự thay đổi do đương sự thực hiện quyền tự định đoạt. Chẳng hạn, sau khi TA thụ lý VA, nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì nguyên đơn sẽ trở thành bị đơn và bị đơn sẽ trở thành nguyên đơn… hoặc có trường hợp có sự thay thế người không phải là bị đơn đích thực.
Như vậy, tuỳ thuộc vào số lượng chủ thể của các QHPL trong VVDS mà thành phần đương sự trong mỗi VVDS là khác nhau. Căn cứ vào việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu; chủ thể bị kiện; sự liên quan về quyền và nghĩa vụ với việc giải quyết VVDS, đương sự trong TTDS có những tư cách: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS; người yêu cầu, người liên quan trong VDS. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
1.4. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG MỘT SỐ NƯỚC VỀ ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Các quy định về đương sự trong pháp luật TTDS của các nước trên thế giới ở trong mỗi hệ thống pháp luật đều có những điểm tương đồng và có những điểm khác biệt nhất định. Tìm hiểu các quy định về đương sự trong pháp luật TTDS của một số nước điển hình cho mỗi hệ thống pháp luật là điều cần thiết để tham khảo, góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Nam.
1.4.1. Quy định về đương sự trong pháp luật một số nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (Civil law)
Các nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa phần lớn theo mô hình thẩm xét, vai trò của hoạt động tố tụng là TA, đương sự không chủ động điều khiển quá trình tố tụng mà do thẩm phán thực hiện. Các bên đương sự cung cấp chứng cứ và biện luận để thuyết phục thẩm phán ủng hộ yêu cầu của mình. Trong mô hình thẩm xét, đương sự giữ vai trò thụ động [37].
- Về tư cách của đương sự
Theo BLTTDS của Cộng hoà Pháp [8] , đương sự cũng bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người thứ ba tham gia tố tụng với tính chất là can thiệp dự sự.
BLTTDS Liên bang Nga [9] cũng không có quy định về tư cách của đương sự mà chỉ xác định những người tham gia TTDS bao gồm các bên (nguyên đơn, bị đơn), người thứ ba (người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập), kiểm sát viên, những người yêu cầu TA bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc người tham gia tố tụng để phát biểu kết luận về những tình tiết được quy định tại Điều 4, 46 và Điều 47.
- Về quyền, nghĩa vụ cơ bản của đương sự Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Trong phần các nguyên tắc của tố tụng, BLTTDS Cộng hoà Pháp quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ như: quyền khởi kiện, rút đơn khởi kiện (Điều 1), quyền được biết chứng cứ do bên đương sự kia cung cấp (Điều 15), quyền được bào chữa (Điều 18, 19, 20), quyền tham gia tranh luận (Điều 30), quyền biện hộ về nội dung (Điều 71, 72), phản kháng tố tụng (Điều 73, 74)…; về nghĩa vụ chứng minh thì: “Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ chứng minh theo luật định các tình tiết cần thiết làm căn cứ cho các yêu cầu của mình (Điều 9); nghĩa vụ tôn trọng TA (Điều 24) và các nghĩa vụ khác.
BLTTDS Liên bang Nga quy định, những người tham gia tố tụng có quyền tiếp xúc với hồ sơ VA, ghi chép hoặc sao chụp tài liệu, đưa ra đề nghị loại trừ việc tham gia tố tụng, xuất trình chứng cứ và tham gia nghiên cứu chứng cứ, đặt ra câu hỏi cho nhà chuyên môn, giám định viên, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác, đưa ra yêu cầu. Bên cạnh đó, BLTTDS của Liên bang Nga còn quy định: các bên có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nhau (Điều 38); Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thể tham gia tố tụng trước khi TA cấp sơ thẩm ra phán quyết và có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập có thể tham gia tố tụng ở bên nguyên đơn hoặc phía bị đơn trước khi TA cấp sơ thẩm ra phán quyết, nếu phán quyết của TA ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập trong mối quan hệ với một trong hai bên. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập có thể tham gia tố tụng theo yêu cầu TA hoặc của những người tham gia tố tụng khác. Ng- ười có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập có quyền và nghĩa vụ tố tụng như các bên, trừ quyền thay đổi căn cứ hoặc đối tượng khởi kiện, quyền tăng hay giảm mức yêu cầu, quyền rút đơn khởi kiện, quyền thừa nhận vụ kiện, quyền hoà giải, quyền khởi kiện ngược lại và quyền yêu cầu ra quyết định cưỡng chế thi hành án. Trong trường hợp người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập tham gia tố tụng, việc giải quyết VA được bắt đầu lại từ đầu (Điều 43).
Về việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, BLTTDS Liên bang Nga quy định: trong trường hợp một bên không thể tham gia tố tụng (công dân bị chết, thay đổi pháp nhân do giải thể, chấm dứt…, chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ, và những trường hợp thay thế khác), TA cho phép bên đó được thay thế bằng người kế thừa quyền, nghĩa vụ TTDS. Việc thay thế có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào của TTDS. Những hành vi tố tụng được thực hiện trước khi có người thay thế nếu có hiệu lực bắt buộc đối với người được thay thế thì cũng có hiệu lực bắt buộc đối với người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng (Điều 44). Về năng lực pháp luật tố tụng của mọi công dân và tổ chức là như nhau trong việc yêu cầu TA bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 36). Về năng lực hành vi, Điều 37 BLTTDS Liên bang Nga quy định: Mọi tổ chức và công dân đến 18 tuổi có năng lực hành vi TTDS như nhau. Người chưa thành niên có thể tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS ở TA nếu đã kết hôn hoặc được công nhận có năng lực hành vi đầy đủ. Việc bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên từ mười bốn đến mười tám tuổi, của người bị hạn chế năng lực hành vi do đại diện hợp pháp của những người đó thực hiện. Những người đại diện hợp pháp bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, người giám hộ, người đỡ đầu hoặc người khác do luật Liên bang quy định. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
- Pháp luật TTDS của Trung Quốc quy định về đương sự trong TTDS thể hiện như sau:
Về khái niệm, thành phần của đương sự trong TTDS: BLTTDS Trung Quốc quy định: “công dân, pháp nhân và các tổ chức khác có thể là đương sự của TTDS. Pháp nhân do người đại diện theo quy định của pháp luật tiến hành tố tụng. Những tổ chức khác do người phụ trách chính của tổ chức đó tiến hành tố tụng”. Quy định này đã thừa nhận tư cách đương sự của cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác. Tuy nhiên, BLTTDS Trung Quốc không có quy định đương sự tham gia trong TTDS có tư cách tố tụng gì mà chỉ đề cập đến hai bên đương sự và người thứ ba.
Điều 56 quy định, trường hợp người thứ ba với một nội dung tố tụng của hai bên đương sự cho rằng mình có quyền yêu cầu riêng cũng có quyền khởi tố. Trường hợp người thứ ba đối với cùng một nội dung tố tụng của hai bên đương sự, tuy không có quyền yêu cầu riêng nhưng kết quả xử lý VA lại có liên quan đến lợi ích của họ về mặt luật pháp thì có thể xin tham gia tố tụng. Người thứ ba được TA quyết định có trách nhiệm dân sự thì được quyền lợi, nghĩa vụ tố tụng của đương sự.
Về quyền và nghĩa vụ của đương sự: Điều 8 BLTTDS Trung Quốc ghi nhận: “Các đương sự có quyền tố tụng bình đẳng. TAND xét xử các VADS thực hiện quyền tố tụng đối xử với các đương sự phải hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật”. Để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, “Khi TAND xét xử các VADS, đương sự có quyền biện luận” (Điều 12). Tương tự như pháp luật TTDS Việt Nam quy định cho đương sự có quyền tự định đoạt thì trong BLTTDS Trung Quốc, Điều 13 cũng đã nêu: “Đương sự có quyền xử lý quyền dân sự và quyền tố tụng của mình trong phạm vi quy định của pháp luật”. “Đương sự có quyền uỷ nhiệm người đại diện, nêu yêu cầu hồi tị, thu thập, cung cấp chứng cứ, tiến hành đối đáp, yêu cầu hoà giải, khiếu nại, xin được thi hành án” (Điều 50); Quyền tự hoà giải “Đương sự hai bên có thể tự mình tiến hành hoà giải” (Điều 51); “Nguyên cáo có thể từ bỏ, hoặc thay đổi thỉnh cầu tố tụng, bị cáo có thể chấp nhận hoặc bác bỏ lời thỉnh cầu tố tụng, có quyền đưa ra phản tố” (Điều 52).
Những quyền tố tụng trên đây có phần giống với quy định của pháp luật TTDS Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy định về quyền uỷ nhiệm thay mặt mình tham gia tố tụng của đương sự, Điều 58 nêu rõ: “Những đương sự, người đại diện theo luật định có thể uỷ nhiệm một đến hai người làm đại diện tố tụng”. Ngoài ra, BLTTDS Trung Quốc còn đề cập rất chi tiết đến quyền được yêu cầu thực hiện các biện pháp bảo toàn tài sản, BPKCTT.
Theo BLTTDS Trung Quốc [10], bên cạnh các quyền trên, đương sự còn có những nghĩa vụ pháp lý nhất định. Điều 64 đã nêu rõ: “Đương sự có trách nhiệm đưa ra chứng cứ về những chủ trương của mình nêu ra”. Đồng thời, đương sự có nghĩa vụ: có mặt theo giấy triệu tập, tuân thủ kỷ luật phiên toà, thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật…
Tóm lại, theo quy định của pháp luật tố tụng của một số nước thuộc hệ thống luật châu Âu lục địa có thể nhận thấy, pháp luật tố tụng của các nước này đều có quy định xác định đương sự trong TTDS bao gồm nguyên đơn, bị đơn trong VADS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không được quy định trực tiếp là đương sự nhưng thông qua các quy định khác thì người này cũng được xác định có tư cách như là đương sự trong VA. Ngoài ra, pháp luật tố tụng của các nước này đều quy định khá đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của đương sự bên cạnh vai trò điều khiển và quyết định của TA. Tuy vậy, hệ thống pháp luật này vẫn thể hiện một nhược điểm là do quá đề cao vai trò của thẩm phán nên vai trò chủ động của đương sự trở lên mờ nhạt.
1.4.2. Quy định về đương sự trong pháp luật một số nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ (Common Law) Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Đối với các nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ theo mô hình tranh tụng thì đương sự đóng vai trò quyết định toàn bộ hoạt động tố tụng, họ chủ động quyết định diễn biến, trình tự tố tụng cũng như quyết định sự tham gia tố tụng của các chủ thể khác, TA đóng vai trò thụ động như “trọng tài” để đưa ra phán quyết cuối cùng [37].
- Về tư cách của đương sự
Hệ thống xét xử của nước Anh với vai trò thụ động của Thẩm phán, việc tiến hành các thủ tục về nguyên tắc là trách nhiệm của chính các bên thông qua luật sư của họ gọi là “nguyên tắc phản kiện”. Vai trò chính của các Thẩm phán trong khi xét xử là đảm bảo sự tuân thủ các thủ tục tố tụng, mặc dù đôi khi Thẩm phán có thể có vai trò tích cực hơn và điều này hoàn toàn phụ thuộc vào tính cách và khí chất của từng Thẩm phán. Thẩm phán chỉ can thiệp để cuộc tranh luận của các bên được rõ ràng và trung thực. Đặc biệt, Thẩm phán không đặt ra bất cứ câu hỏi nào cho những người làm chứng nhưng có thể yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ bổ sung. Về thành phần và tư cách của đương sự, pháp luật tố tụng của Anh xác định đương sự bao gồm nguyên đơn và bị đơn trong VA [36].
Pháp luật tố tụng của Mỹ trên cơ sở thừa nhận lý thuyết đối nghịch giữa nguyên đơn và bị đơn và các bên này đều có luật sư của họ đại diện [36]. Vì vậy, pháp luật tố tụng của Mỹ xác định đương sự trong tố tụng bao gồm nguyên đơn và bị đơn. Người có quyền đã khởi kiện hoặc được người đại diện khởi kiện đều được xác định là nguyên đơn còn người có nghĩa vụ bị kiện là bị đơn. Ngoài ra, trong những trường hợp đặc biệt pháp luật thừa nhận VA có nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn [29].
- Về quyền và nghĩa vụ cơ bản của đương sự
Theo pháp luật TTDS của Anh thì đương sự thường thực hiện các quyền, nghĩa vụ thông qua luật sư của mình. Luật sư (luật sư tư vấn, luật sư tranh tụng) của các bên đương sự sẽ thực hiện hầu hết các thủ tục tố tụng thay cho các bên đương sự (vì thủ tục tố tụng tranh tụng do các bên đương sự thực hiện). Luật sư tư vấn thực hiện những công việc như: soạn thảo các văn bản pháp lý, bào chữa và biện hộ trước các toà cấp dưới và lập các văn bản tố tụng trước các toà cấp trên trong giai đoạn trước khi xét xử. Luật sư bào chữa hoạt động theo chuyên ngành thực hiện việc soạn bản bảo vệ cho các bên và bản bào chữa trước TA cao cấp [36]. Ngoài ra, luật pháp còn cho phép phạt tiền những đương [36].
Pháp luật tố tụng của Mỹ bị ảnh hưởng bởi yếu tố có tính chất “đối tụng” hay “tranh tụng tại toà” khiến cho diễn tiến của vụ kiện trở thành một cuộc tranh luận của các luật sư hai bên nguyên đơn và bị đơn, từ đó TA giống như một trọng tài chứ không tiến hành một cuộc điều tra riêng biệt nào. Vì vậy, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS tại Mỹ có vai trò rất quan trọng quyết định các hoạt động tố tụng tại TA, các bên đương sự hoạt động trong suốt quá trình tố tụng tại toà. Phần nhiều, các bên đương sự tại Mỹ trao quyền cho đại diện là các luật sư để thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng. Theo pháp luật TTDS của Mỹ, các đương sự đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt địa vị xã hội, cơ quan nhà nước với doanh nghiệp tư nhân. Trong trường hợp chính quyền là bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn thì chính quyền sẽ cử một nhóm luật sư đặc biệt đại diện cho chính quyền tham gia tố tụng. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Đương sự có thể hành xử tố quyền đại diện (class action – quyền đại diện để ra trước toà bảo vệ quyền và nghĩa vụ cho nhiều cá nhân có liên quan đến vụ tranh tụng) khi mà vụ kiện có nhiều đương sự (nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn) thì mỗi nhóm nguyên đơn, nhóm bị đơn cử ra người đại diện, thay mặt cho cả nhóm để hành xử quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong phiên toà. Trong những trường hợp đặc biệt, chỉ cần một nguyên đơn đại diện ra trước toà để bảo vệ quyền lợi cho cả một tầng lớp, tuy vậy cần thẩm xét những người đại diện đó có thật lòng bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nhóm những người có cùng vấn đề đó hay không. Thông thường, hành xử tố quyền đại diện do các luật sư tham gia tố tụng thực hiện.
Đương sự có quyền tiến hành các hoạt động điều tra ở giai đoạn tiền xét xử để có thể chuẩn bị tốt cho việc tranh tụng tại phiên xử nhằm chứng minh cho các yêu cầu của mình. Thường thì các bên có thể đưa ra tờ trình thẩm vấn, nhận bản khai và yêu cầu thu thập vật chứng mà không có sự cho phép của TA. Tuy nhiên, để hạn chế, TA sẽ đặt ra hạn định và kiểm tra thủ tục. Việc thực hiện một vài phương cách điều tra sẽ bị giới hạn bởi các quy tắc của TA. Chẳng hạn, đòi hỏi cung cấp xét nghiệm y khoa của nạn nhân có thể bị lạm dụng như một hành vi xâm phạm đời tư nên chỉ có thể cung cấp khi mà yếu tố này là cốt lõi của vụ tranh tụng. Một số TA theo sự hướng dẫn của TA Liên bang đưa ra cũng góp phần tham dự các thủ tục điều tra. Luật TTDS Liên bang hiện nay đòi hỏi các bên đương sự phải tự động khai báo mọi thông tin xác đáng liên quan đến vụ kiện, kể cả phần khai báo về tên tuổi của nhân chứng, yêu cầu nhân chứng cung cấp thông tin bằng văn bản…Thực tế, thông thường việc điều tra do luật sư đại diện cho các bên đương sự thực hiện nhưng Thẩm phán xét xử có quyền giám sát các thủ tục đó và có một số phương cách điều tra khi muốn thực hiện phải có sự cho phép của Thẩm phán.
Ngoài ra, đương sự có quyền yêu cầu thay đổi bồi thẩm viên; yêu cầu TA triệu tập người làm chứng ra hầu toà; có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu của mình; chất vấn các đương sự và người làm chứng về chứng cứ; đương sự thua kiện sẽ có nghĩa vụ phải chịu án phí; đương sự có quyền kháng cáo, khi kháng cáo họ phải nộp một khoản tiền dự phí kháng cáo. Một trong những thủ tục tố tụng bắt buộc đối với đương sự là các đương sư phải tuyên thệ rằng việc trình bày của họ là ngay tình. Nếu đương sự gian trá, TA có thể trừng phạt đương sự đã cố tình tạo ra sự gian trá đó.
Như vậy, có thể thấy, pháp luật tố tụng của các nước trong hệ thống luật án lệ cũng quy định đương sự trong tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ kiện. Đặc biệt, có ưu điểm là đề cao vai trò chủ động, tích cực của đương sự, Thẩm phán chỉ giữ vai trò là trọng tài. Vì vậy, đương sự phải tự mình hoặc thông qua luật sư thực hiện các hoạt động tố tụng thu thập, cung cấp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ để trực tiếp chứng minh cho quyền lợi của mình tại phiên toà. Quy định như vậy, sẽ làm giảm gánh nặng công việc của Toà án, nhưng lại không phát huy được vai trò trợ giúp của TA đối với đương sự và đương sự sẽ rất khó khăn trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, nếu không có sự trợ giúp của luật sư.
Như vậy, các quy định của pháp luật tố tụng về đương sự thuộc cả hai mô hình tố tụng dân sự tranh tụng và tố tụng dân sự xét hỏi đều có những ưu, nhược điểm riêng. Tuy nhiên, trong quá trình cải cách và hội nhập các quy định của pháp luật tố tụng dân sự nói chung và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự nói riêng đã có sự giao thoa mạnh mẽ trên thế giới. Pháp luật các quốc gia đã có sự tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tiến bộ, phù hợp. Sự tiếp thu có chọn lọc này thể thiện qua sự thay đổi đáng kể của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự của các quốc gia vốn được coi là quê hương của các mô hình tố tụng dân sự tranh tụng và xét hỏi.
Tóm lại, những sự thay đổi trên là một minh chứng cho sự cần thiết phải có những sự thay đổi của pháp luật TTDS Việt Nam nói chung và các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về đương sự nói riêng trên cơ sở phát huy có chọn lọc những ưu điểm của pháp luật các nước thuộc hai hệ thống pháp luật tranh tụng và xét hỏi cho phù hợp với điều kiện của nước ta. Trong đó cần đề cao vai trò của đương sự, mở rộng các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo hướng mở rộng tranh tụng, nhưng cũng đồng thời với việc khẳng định vai trò của Thẩm phán, trao cho thẩm phán những quyền hạn và xác định rõ trách nhiệm của họ trong hoạt động tố tụng.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Đương sự là thành phần không thể thiếu trong quá trình TA giải quyết các VVDS: Nếu không có đương sự, không thể có VVDS. Để xác định đương sự trong VVDS thì vấn đề đặc biệt quan trọng là cần phải có những nhận thức lý luận đầy đủ và khoa học về chủ thể này. Vì vậy, trong Chương 1 của luận văn đã phân tích và luận giải để xây dựng khái niệm đương sự trên cơ sở tham khảo có chọn lọc khái niệm đương sự của một số nhà khoa học được thể hiện ở một số tài liệu, công trình khoa học chuyên ngành luật. Đồng thời, đi vào phân tích các đặc điểm của đương sự làm cơ sở phân biệt giữa đương sự với những người tham gia tố tụng khác trong
Vai trò của đương sự trong TTDS là một yếu tố quan trọng trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Do đó, luận văn đã đi vào phân tích vai trò của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam để làm rõ mối quan hệ tác động giữa vai trò của đương sự với việc xác định phạm vi các quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Việc xác định đúng và đầy đủ thành phần và tư cách tố tụng của đương sự là yêu cầu quan trọng trong quá trình TA giải quyết các VVDS. Thông qua việc xác định đúng thành phần và tư cách của đương sự sẽ giúp các đương sự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng, bảo đảm việc giải quyết vụ việc khách quan, đúng pháp luật. Để bảo đảm TA có thể xác định đúng, đầy đủ thành phần của đương sự thì TA cần phải dựa trên những cơ sở nhất định. Do vậy, luận văn đã có những luận giải để chỉ ra cơ sở xác định thành phần đương sự là trước hết phải xác định số lượng các QHPL mà TA phải giải quyết trong VA hoặc có liên quan đến sự kiện pháp lý hoặc quyền và nghĩa vụ mà TA phải xác định, sau đó xác định được đầy đủ các chủ thể độc lập tham gia các QHPL và các chủ thể có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan tới việc giải quyết các QHPL này. Thành phần của đương sự là phạm vi các chủ thể độc lập tham gia các QHPL này.
Sau khi đã xác định được đầy đủ thành phần của đương sự, cần xác định rõ tư cách của đương sự – tức là xác định đương sự ở vị trí tố tụng nào? Mỗi VVDS, phụ thuộc vào quyền tự định đoạt của đương sự, phụ thuộc vào việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện, phụ thuộc vào sự liên quan về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể… mà tư cách của đương sự sẽ khác nhau. Luận văn đã tập trung phân tích các căn cứ của việc xác định tư cách đương sự để làm cơ sở cho TA xác định đúng đắn tư cách đương sự trong thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về đương sự.
Đương sự có thể tự mình tham gia tố tụng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình thì đương sự cần có năng lực chủ thể Giữa năng lực chủ thể TTDS với năng lực chủ thể dân sự có mối liên quan mật thiết với nhau, nhưng năng lực chủ thể TTDS cũng có những độc lập tương đối và sự khác biệt với năng lực chủ thể dân sự. Vì vậy, việc làm rõ mối liên hệ và sự độc lập tương đối của năng lực chủ thể TTDS là cơ sở nhận thức đúng đắn về năng lực chủ thể TTDS. Quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự cấu thành nội dung năng lực pháp luật của đương sự. Vì vậy, việc xác định các quyền, nghĩa vụ của đương sự là cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng các quy định của pháp luât hiện hành về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau có quy định khác nhau về đương sự trong TTDS, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là các quy định về đương sự không có sự tương đồng nhất định theo pháp luật TTDS của các nước. Qua việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá quy định của một số quốc gia trên thế giới về đương sự, có thể thấy bên cạnh những sự tương đồng, sự khác biệt nhất định thì yếu tố quan trọng là chúng ta có thể xem đó là bài học tham khảo đầy hữu ích cho việc hoàn thiện các quy định về đương sự trong BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 của Việt Nam. Luận văn: Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đương sự