Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam – So sánh với pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu Uncitral dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Thỏa thuận trọng tài là cơ sở pháp lý tạo nên thẩm quyền trọng tài. Về mặt nguyên tắc trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên đối với các vụ việc tranh chấp cụ thể, mà trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ việc khi các bên trong tranh chấp thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết trước trọng tài, đồng thời những tranh chấp này thuộc phạm vi các loại tranh chấp được pháp luật cho phép giải quyết bằng trọng tài. Do đó, thẩm quyền xét xử của trọng tài được xác lập khi tồn tại thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận này có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, thỏa thuận trọng tài được coi là cơ sở pháp lý, là nền tảng cho thẩm quyền của trọng tài, là sự thể hiện sự nhất trí của các bên cùng đưa tranh chấp ra trọng tài để giải quyết theo quy tắc của một tổ chức trọng tài nhất định. Đây là cơ sở cho các bên tiến hành giải quyết bằng trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực không chỉ là hình thức pháp lý ghi nhận sự thỏa thuận của các bên mà còn là một căn cứ pháp lý để dựa vào đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ trọng tài. Vì thỏa thuận trọng tài có vị trí, vai trò quan trọng mang tính quyết định đối với việc áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nên pháp luật của các nước cũng như luật quốc tế đều dành cho thỏa thuận trọng tài một sự quan tâm đặc biệt, thể hiện ở chỗ trong các đạo luật về trọng tài thường có một chương riêng để quy định về vấn đề này. Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại từ khi bắt đầu xây dựng đã có những quy định riêng về thỏa thuận trọng tài nhằm đảm bảo tính pháp lý cho thỏa thuận trọng tài.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì thỏa thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh. Nói cách khác, theo pháp luật Việt Nam thì các bên có thể thỏa thuận đưa tranh chấp đã phát sinh hoặc có thể phát sinh ra giải quyết bằng trọng tài. Để đảm bảo thỏa thuận trọng tài có hiệu lực hay chính là sự thỏa thuận của các bên về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có giá trị ràng buộc các bên cũng như đối với các cơ quan tư pháp như Tòa án…thì pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định về điều kiện của thỏa thuận trọng tài như hình thức của thỏa thuận, nội dung thỏa thuận, chủ thể tiến hành hoạt động thỏa thuận…Các bên khi tham gia thỏa thuận, xác lập thỏa thuận phải đảm bảo những quy định này thì thỏa thuận trọng tài giữa các bên mới phát sinh hiệu lực và có giá trị ràng buộc.

2.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Trọng tài thương mại và pháp luật trọng tài tại Việt Nam Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Ở Việt Nam, trọng tài đã xuất hiện từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa vào những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX dưới tên gọi là “trọng tài kinh tế”. Trọng tài kinh tế khi đó có những đặc trưng phản ánh sự vận hành của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, vừa mang chức năng quản lý và chức năng giải quyết tranh chấp. Do đó, trọng tài kinh tế ở Việt Nam thời kỳ này không phải là tổ chức trọng tài theo đúng nghĩa. Chính sách Đổi mới đã dẫn đến sự phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền dẫn tới sự chấm dứt tồn tại của một số định chế đặc trưng cho kế hoạch hóa, trong đó có hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế. Sự phát triển của kinh tế thị trường đã dẫn đến nhu cầu thành lập các trung tâm trọng tài đúng nghĩa (phi Chính phủ) ở Việt Nam. Sự phát triển của tổ chức trọng tài gắn liền với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và có thể chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1994: đây là giai đoạn hình thành tổ chức trọng tài với tính cách là một thiết chế giải quyết các tranh chấp kinh tế. Trong giai đoạn này, tổ chức trọng tài được gọi là trọng tài kinh tế. Trọng tài kinh tế được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của chế độ hợp đồng kinh tế. Ngày 04/01/1960, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 04-TTg ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế. Đến ngày 14/11/1960, Nghị định số 20/TTg về Tổ chức Trọng tài kinh tế Nhà nước được ban hành. Theo Nghị định này, Trọng tài kinh tế được tổ chức ở cấp Trung ương, khu, thành phố, tỉnh và bộ với chức năng chủ yếu là xử lý các tranh chấp hợp đồng kinh tế. Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 54-CP ngày 10/03/1975 về chế độ hợp đồng kinh tế thay thế Nghị định số 04-TTg, thì Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế cũng đã được ban hành kèm theo Nghị định số 75-CP ngày 14/04/1975.

Theo Bản Điều lệ này, Trọng tài kinh tế được thành lập như một cơ quan nhà nước có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế. Đó là chức năng giữ vững tính kỷ luật Nhà nước về hợp đồng kinh tế, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế và xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Theo quy định của Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Hội đồng Trọng tài kinh tế được thống nhất tên gọi là Trọng tài kinh tế và ngạch Trọng tài viên được xác lập. Ngày 17/04/1984, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 62/HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế bộ, tỉnh, huyện. Ngày 10/01/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh về Trọng tài kinh tế quy định tổ chức, phân cấp thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế. Pháp lệnh Trọng tài kinh tế đã bỏ Trọng tài cấp bộ, ghi nhận nguyên tắc các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn Trọng tài đứng ra giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế.

Như vậy, Trọng tài kinh tế là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan chấp hành và điều hành của Nhà nước (Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các cấp), có chức năng quản lý nhà nước đối với công tác hợp đồng kinh tế bao gồm: giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế; kiểm tra, kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tế trái pháp luật; hướng dẫn thực hiện pháp luật hợp đồng kinh tế và Trọng tài kinh tế; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế.

Nét đặc thù của Trọng tài kinh tế thể hiện ở chỗ, hoạt động giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích trực tiếp điều hành, tổ chức các quan hệ kinh tế.Trọng tài kinh tế từ chỗ là cơ quan Nhà nước có chức năng chủ yếu là xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế đã phát triển thành một cơ quan Nhà nước có chức năng chủ yếu là quản lý công tác hợp đồng kinh tế.

Bên cạnh trọng tài kinh tế nhà nước, vào giai đoạn này ở Việt Nam còn tồn tại trọng tài phi chính phủ. Đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Việt Nam được thành lập bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam từ năm 1963 và 1964. Hội đồng trọng tài ngoại thương được thành lập với chức năng xét xử những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng ngoại thương với một pháp nhân hay thể nhân nước ngoài. Hội đồng hàng hải có chức năng xét xử những tranh chấp phát sinh từ vận tải biển quốc tế liên quan đến một bên nước ngoài. Hai tổ chức này chỉ thực sự hoạt động từ năm 1989 khi quan hệ ngoại thương bắt đầu có sự phát triển. Và đến năm 1993 thì hai tổ chức trọng tài được sáp nhập với nhau để thành lập nên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo Quyết định số 204/TTg ngày 28/3/1993 của Thủ tướng Chính phủ. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Giai đoạn từ năm 1994 đến trước khi có Pháp lệnh trọng tài thương mại: Trong giai đoạn này, tình hình về tổ chức trọng tài có những thay đổi cơ bản, cụ thể là: Toà án kinh tế được thành lập trong hệ thống toà án nhân dân và Trọng tài kinh tế nhà nước bị giải thể; Chính phủ ban hành Nghị định số 116-CP ngày 05/9/1994 cho phép thành lập trọng tài kinh tế phi chính phủ tiền thân của các Trung tâm trọng tài thương mại. Bắt đầu từ giai đoạn này tồn tại song song hai cơ quan/tổ chức cùng có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế. Trung tâm trọng tài kinh tế có chức năng giải quyết những tranh chấp, những vấn đề phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế. Còn toà án kinh tế có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp ở Việt Nam, trong đó có cả những vụ tranh chấp có một bên hay các bên là pháp nhân hay thể nhân nước ngoài. Tuy nhiên, những vụ tranh chấp mà các bên đã thoả thuận giải quyết bằng trọng tài thì toà án sẽ không thụ lý vụ tranh chấp đó nữa.

Như vậy, tại Việt Nam tính đến thời điểm này tồn tại 02 mô hình trọng tài phi chính phủ, hoạt động theo 02 văn bản khác nhau. Cụ thể, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoạt động theo Quyết định số 204/TTg ngày 28 tháng 4 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ. Trung tâm này có Điều lệ và Quy tắc tố tụng riêng, không có bất kỳ liên quan nào đến loại hình trọng tài theo Nghị định 116/CP. Trong khi đó, có 05 trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định 116/CP. Các trung tâm này cũng chỉ chịu sự điều chỉnh duy nhất của Nghị định 116/CP, không liên quan gì đến Quyết định số 204/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Điều đáng lưu ý là, các văn bản pháp luật nêu trên đều có hiệu lực pháp lý thấp, mới dừng ở mức cao nhất là nghị định. Nội dung văn bản còn có nhiều điểm bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có cơ chế đảm bảo cần thiết để trọng tài được vận hành có hiệu quả, khiến các doanh nghiệp không tin tưởng lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp.

Giai đoạn từ khi có Pháp lệnh Trọng tài thương mại: Nhằm khắc phục những điểm hạn chế của Nghị định số 116/CP, tăng cường hiệu quả và năng lực của các Trung tâm trọng tài và đội ngũ Trọng tài viên, ngày 25/02/2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 08/2003/PL- UBTVQH, sau đó là Luật Trọng tài thương mại năm 2010 ra đời nhằm khắc phục một số bất cập của pháp lệnh Trọng tài thương mại. Trong giai đoạn này, với nhiều quy định tiến bộ nhằm thúc đẩy hoạt động trọng tài thương mại ở nước ta, tạo điều kiện phát triển đội ngũ trọng tài viên và nâng cao vai trò của phương thức trọng tài trong cơ chế giải quyết tranh chấp. Sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại và sau đó là Luật Trọng tài thương mại đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật về trọng tài thương mại tại Việt Nam. Các văn bản pháp luật này nhìn chung đã khắc phục được những điểm bất cập của các văn bản pháp luật về trọng tài trước đây, đồng thời đưa ra nhiều quy định mới về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ trọng tài quốc tế. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Như vậy, có thể thấy rằng, trọng tài và pháp luật về trọng tài tại Việt Nam được hình thành từ những năm 1960. Tuy nhiên, trước năm 1994 thì trọng tài ở Việt Nam chưa thực sự là trọng tài đúng nghĩa như trên thế giới. Do đó, quá trình hình thành về pháp luật trọng tài ở Việt Nam cũng tương tự. Đây là quá trình phát triển từng bước từ việc hình thành quy chế hoạt động của Trọng tài kinh tế, sau đó chuyển qua quy chế hoạt động của trọng tài kinh tế phi chỉnh phủ rồi được nâng lên thành Pháp lệnh và sau đó là Luật. Những bước phát triển này có sự kế thừa quy định trước đó cũng như học hỏi từ pháp luật các nước trên thế giới.

Lịch sử hình thành pháp luật trọng tài của Việt Nam được phát triển hơn 56 năm nhưng trong khi đó pháp luật Anh đã ban hành Luật trọng tài đầu tiên vào năm 1697, còn Hoa Kỳ thì đưa nội dung quy định về trọng tài vào pháp luật liên bang từ năm 1925. Điều này cho thấy rằng, tại Anh, Hoa Kỳ thì pháp luật về trọng tài đã có sự phát triển từ rất lâu và đã trải qua quá trình sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về trọng tài như tai Anh đã trải qua nhiều lần sửa đổi, thay thế và hiện nay sử dụng Luật trọng tài năm 1996, đến nay vẫn chưa có dấu hiệu phải thay thể hay tại Hoa Kỳ thì Đạo luật về trọng tài liên bang được ban hành năm 1925 chỉ trải qua sửa đổi năm 1990 mà không có bất kỳ sự thay thế nào. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam ở cấp độ văn bản quy phạm pháp luật là Luật hay Pháp lệnh thì chúng ta có Pháp lệnh năm 2003 sau đó đúng 07 năm chúng ta thay thế bằng Luật trọng tài năm 2010, pháp luật Việt Nam chưa có sự ổn định như pháp luật các nước Anh, Hoa Kỳ.

Mặt khác, trên thế giới cũng đã tồn tại Luật mẫu UNCITRAL từ năm 1985 tuy nhiên trong quá trình xây dựng pháp luật Việt Nam chúng ta vẫn chưa tiếp cận và hoàn thiện pháp luật Việt Nam tương thích với pháp luật thế giới mà cụ thể là Luật mẫu UNCITRAL. Đến khi soạn thảo và ban hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010, thì mới bắt đầu có sự tương thích nhưng vẫn còn thiếu sót. Do đó, chúng ta cần tận dụng những nguồn lực có sẵn từ quy định của pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL để tiến hành sửa đổi pháp luật Việt Nam sao cho phù hợp với thực tiễn của Việt Nam cũng như tạo sự tương thích với pháp luật quốc tế nói chung và đối với thỏa thuận trọng tài nói riêng.

2.2. Quy định về điều kiện thỏa thuận trọng tài theo pháp luật Việt Nam – Đánh giá, so sánh với pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL.

2.2.1 Quy định về điều kiện hình thức của thỏa thuận trọng tài

Cũng như pháp luật các nước, pháp luật Việt Nam quy định hình thức của thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản. Quy định này hoàn toàn phù hợp với pháp luật thế giới. Pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL đều xác định rõ thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản. Tuy nhiên, pháp luật ở mỗi quốc gia lại có quy định khác nhau về cách thức xác định thế nào là văn bản. Theo pháp luật Việt Nam thì thỏa thuận được coi là xác lập bằng văn bản nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

Một là, thỏa thuận được xác lập bằng văn bản là một điều khoản trọng tài trong hợp đồng giữa các bên hoặc là một văn bản thỏa thuận riêng của các bên về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Trường hợp này là việc các bên đã xác lập văn bản rõ ràng về việc thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Tuy nhiên, hình thức của nó có thể là một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc là một thỏa thuận riêng biệt. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Hai là, thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Thực tế hiện nay, với sự phát triển của công nghệ, việc sử dụng các phương thức trao đổi bằng phương tiện điện tử được các bên sử dụng thường xuyên hơn do đó việc ghi nhận hình thức thỏa thuận xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội hiện nay.

Các hình thức khác theo quy định của pháp luật là những phương thức khác được quy định tại Luật giao dịch điện tử. Theo đó, trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết. Quy định này mang tính mở cho các bên trong việc lựa chọn phương thức giao dịch điện tử phù hợp với cả hai bên nhằm đạt thỏa thuận về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Ba là, thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên. Ngoài việc các bên trao đổi với nhau bằng phương tiện điện tử thì các bên còn có thể trao đổi bằng văn bản với nhau như thư từ, giấy đề nghị, công văn…trong đó có đề cập đến việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì thỏa thuận được xác lập theo cách thức này cũng được pháp luật thừa nhận là một hình thức của văn bản.

Bốn là, thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên. Theo quy định này thì trong trường hợp các bên yêu cầu một bên thứ ba ghi chép lại thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài dưới hình thức văn bản thì sự ghi chép của bên thứ ba có thể được coi là đáp ứng được yêu cầu về hình thức của thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật nếu bên thứ ba này là luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền. Tổ chức này có thể là thừa phát lại với chức năng lập vi bằng theo quy định của pháp luật.

Năm là, trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác. Thực tiễn hiện nay, giao dịch giữa các bên đôi khi chỉ tồn tại một hợp đồng duy nhất cho lần giao dịch đầu tiên, những lần sau đó các bên thường thỏa thuận dẫn chiếu đến hợp đồng đầu tiên hoặc những tài liệu khác tương tự. Trong trường hợp, tài liệu dẫn chiếu đến tồn tại điều khoản thỏa thuận trọng tài giải quyết tranh chấp thì thỏa thuận dẫn chiếu đến điều khoản thỏa thuận trọng tài được coi là đáp ứng yêu cầu về hình thức của thỏa thuận trọng tài.

Sáu là, qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận. Mặc dù giữa các bên không tồn tại một văn bản nào thể hiện rõ ràng một thỏa thuận trọng tài nhưng trong tiến trình tố tụng trọng tài về đơn khởi kiện hoặc bản tự bảo vệ có thể hiện rằng giữa các bên có tồn tại một sự thỏa thuận trọng tài do một bên trong tranh chấp đưa ra và bên kia không phủ nhận nội dung này. Việc không phủ nhận của bên còn lại trong tranh chấp về việc có tồn tại thỏa thuận trọng tài mà bên khởi kiện đã thể hiện trong đơn kiện hoặc bản tự bảo vệ đã làm cho thỏa thuận trọng tài đạt yêu cầu về hình thức. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL đã đưa ra yêu cầu rõ ràng về hình thức của thỏa thuận trọng tài rằng thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản, nó có thể là một điều khoản trong hợp đồng hoặc là một thỏa thuận riêng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam, Anh và Luật mẫu UNCITRAL lại tương đồng về yêu cầu không bắt buộc các bên phải trực tiếp ký vào thỏa thuận trọng tài. Còn pháp luật Hoa Kỳ thì yêu cầu các bên phải ký vào thỏa thuận trọng tài. Tác giả cho rằng, pháp luật Việt Nam trong quy định về hình thức của thỏa thuận trọng tài, mặc dù có điểm không tương thích với pháp luật Hoa Kỳ nhưng đã tiếp cận gần hơn với xu hướng của pháp luật thế giới về thỏa thuận trọng tài cũng như yêu cầu về hợp đồng hiện nay nhất là trùng với định hướng của Luật mẫu UNCITRAL.

Cũng cấn nhấn mạnh là, việc ghi nhận các hình thức thế nào được coi là thỏa thuận trọng tài thì pháp luật Việt Nam hiện nay tuy đã có cách tiếp cận gần với Luật mẫu UNCITRAL nhưng nếu so với pháp luật Anh thì quy định của Luật trọng tài thương mại năm 2010 vẫn chưa có cách tiếp cận rộng nhất. Theo pháp luật Anh, ngoài các quy định tương tự với Việt Nam thì thỏa thuận trọng tài có thể được coi là xác lập bằng hình thức văn bản nếu có bất kỳ tài liệu được ghi bằng bất kỳ phương tiện nào và được chứng minh bằng văn bản thì thỏa thuận trọng tài đã thỏa mãn về điều kiện hình thức. Trên thực tế có thể có những trường hợp thỏa thuận trọng tài được xác lập với hình thức không thuộc một trong 06 trường hợp quy định tại Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thỏa thuận trọng tài lúc này vô hiệu. Ví dụ như trường hợp giữa các bên có soạn thảo một thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp bằng dữ liệu máy tính và chỉ lưu giữ trên máy tính của bên thứ ba, không in ấn hay thực hiện giao dịch qua phương tiện điện tử nào thì trong trường hợp này thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực trực tiếp vì không thỏa mãn điều kiện theo Luật giao dịch điện tử mà cũng không thuộc các trường hợp còn lại theo quy định của Luật trọng tài thương mại.

Như vậy, dù cách tiếp cận hiện nay của pháp luật Việt Nam về hình thức của thỏa thuận trọng tài là gần với pháp luật các nước trên thế giới và Luật mẫu UNCITRAL, có sự khác biệt lớn đối với pháp luật Hoa Kỳ nhưng vẫn tồn tại điểm chưa thỏa đáng (như phạm vi còn hẹp). Do đó, tác giả cho rằng pháp luật Việt Nam cần xem xét mở rộng hơn phạm vi quy định về hình thức của thỏa thuận trọng tài theo hướng học hỏi pháp luật Anh. Theo đó, chúng ta cần mở rộng ra trong trường hợp có thể chứng minh bằng văn bản rằng có tài liệu tham khảo về thỏa thuận trọng tài đã được ghi nhận bằng bất kỳ phương tiện nào. Việc ghi nhận này sẽ giúp cho các bên có cơ hội đưa đến một thỏa thuận trọng tài phù hợp với quy định của pháp luật và làm cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được sử dụng nhiều hơn bên cạnh phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tư pháp hiện đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật Việt Nam thì thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Theo quy định này thì thoả thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Khi giao dịch với nhau các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng là trường hợp xảy ra tranh chấp sẽ đưa ra trọng tài giải quyết. Tuy nhiên, điều này không phải là bắt buộc. Có thể lúc đầu các bên thỏa thuận Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc không thỏa thuận nhưng khi xảy ra tranh chấp, các bên thỏa thuận lại trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp thì trọng tài vẫn có thẩm quyền. Ngoài ra, nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài phát sinh hiệu lực pháp luật thì một bên không thể đơn phương hủy bỏ thỏa thuận đó. Ví dụ, bên đó không thể nói rằng mình không muốn thực hiện theo thỏa thuận trọng tài nữa và khởi kiện ra tòa. Tòa án sẽ phải từ chối thụ lý một yêu cầu như vậy vì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực. Quy định này hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL.

Như vậy, đối với điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài thì pháp luật Việt Nam giống như pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL. Tất cả đều yêu cầu thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản. Thỏa thuận trọng tài có thể tồn tại dưới hình thức là điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận riêng. Đồng thời pháp luật Việt Nam cũng quy định những trường hợp nào thì được coi là thỏa thuận trọng tài thỏa mãn điều kiện về hình thức. Các quy định này tương tự như Luật mẫu UNCITRAL và pháp luật Anh. Tuy nhiên, phạm vi quy định những trường hợp được coi là xác lập bằng văn bản của pháp luật Anh mang tính chất rộng hơn so với Luật mẫu UNCITRAL và pháp luật Việt Nam. Trên thực tiễn thì việc quy định với phạm vi rộng như của pháp luật Anh đem lại nhiều lợi ích cũng như hiệu quả cho hoạt động thỏa thuận trọng tài cho các bên trong tranh chấp. Do đó, pháp luật Việt Nam cần học tập pháp luật Anh trong vấn đề này. Về thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài, pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL tuy không quy định nhưng thông qua khái niệm về thỏa thuận trọng tài thì thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài là hoàn toàn giống với quy định của pháp luật Việt Nam.

2.2.2 Quy định về điều kiện chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Liên quan đến điều kiện về chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài Người xác lập thoả thuận trọng tài cũng như pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL, pháp luật Việt Nam không có một quy định cụ thể trực tiếp điều chỉnh vấn đề này mà chủ yếu dựa vào quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu để xác định điều kiện đối với chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài.

Nếu như pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL chỉ quy định điều kiện đối với chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài về năng lực chủ thể thì pháp luật Việt Nam quy định hai vấn đề đối với chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài: (i) thẩm quyền tham gia và (ii) năng lực chủ thể.

Về thẩm quyền tham gia thỏa thuận: theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người xác lập thỏa thuận phải có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Nếu vi phạm điều này thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tức là người xác lập thỏa thuận lại không phải là một bên của giao dịch và cũng không phải là người có thẩm quyền hợp pháp để xác lập thỏa thuận. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền.

Về nguyên tắc thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập thì thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu. Tuy nhiên, trường hợp thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu. Ví dụ, quan hệ giữa hai công ty nhưng người ký không phải đại diện theo pháp luật của công ty và cũng không phải người được đại diện theo pháp luật ủy quyền.

Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng hoàn toàn quy định của pháp luật Việt Nam để xác định thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đối với tất cả các bên trong tranh chấp trong mọi trường hợp là không hợp lý. Bởi lẽ, theo quy định của Luật trọng tài thương mại thì việc xác định thẩm quyền sẽ theo quy định của pháp luật và trong một số trường hợp thỏa thuận trọng tài có mang yếu tố nước ngoài như các bên tham gia thỏa thuận có quốc tịch khác nhau… Như vậy nếu áp dụng pháp luật Việt Nam để xác định việc ủy quyền hay đại diện theo pháp luật cho một pháp nhân mang quốc tịch nước ngoài là không phù hợp với luật pháp quốc tế. Ngay cả trong quy định đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì Bộ luật dân sự năm 2015 quy định rằng đại diện theo pháp luật của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch. Trong tư pháp quốc tế thì một trong những điều kiện để hợp đồng có hiệu lực là các bên ký kết phải có tư cách pháp lý theo quy định của pháp luật, nếu chủ thể ký kết hợp đồng là tổ chức thì người ký kết, xác lập hợp đồng phải có thẩm quyền ký kết, thường pháp luật các quốc gia đều lựa chọn cách thức áp dụng quy phạm pháp luật xung đột để giải quyết. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Pháp luật Anh, Hoa Kỳ về trọng tài hay Luật mẫu UNCITRAL không quy định rõ ràng rằng chủ thể tham gia phải thỏa mãn điều kiện về thẩm quyền xác lập mà chỉ quy định chủ thể xác lập phải có năng lực. Việc có năng lực ở đây được hiểu là thẩm quyền để xác lập và năng lực hành vi. Pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL cũng không quy định rõ ràng việc sẽ áp dụng pháp luật nước nào cụ thể mà chỉ quy định rằng pháp luật áp dụng cho mỗi bên. Thông thường việc xác định pháp luật áp dụng bằng cách áp dụng quy tắc xung đột pháp luật của nơi có trọng tài hoặc Tòa án nơi việc công nhận và cho thi hành được yêu cầu, thường là luật của nơi cư trú của thể nhân và luật của nơi thành lập công ty.

Do đó, theo tác giả quy định trên của pháp luật Việt Nam là phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế về việc xác định thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài. Tuy nhiên, việc quy định xác định thẩm quyền theo pháp luật của Việt Nam là hoàn toàn đi ngược lại so với xu hướng pháp luật các nước trên thế giới cũng như mâu thuẫn với những quy định về tư pháp quốc tế của Việt Nam trong vấn đề này. Do đó, theo tác giả thì quy định này của pháp luật Việt Nam cần được sửa đổi, điều chỉnh theo hướng bổ sung cách xác định pháp luật áp dụng. Theo đó, các bên tham gia xác lập thỏa thuận trọng tài phải có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mà các bên mang quốc tịch. Việc quy định này nhằm đồng nhất giữa quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật trọng tài thương mại trong việc xác định thẩm quyền xác lập của người đại diện cho pháp nhân.

Về năng lực chủ thể: theo quy định của pháp luật Việt Nam thì trong trường hợp người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự gồm:

  • Người chưa đủ 18 tuổi hoặc chưa đủ 15 tuổi khi ký kết thỏa thuận không được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
  • Người bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình ký thỏa thuận; hoặc. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.
  • Người bị Tòa án tuyên hạn chế năng lực hành vi dân sự do nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình, ký thỏa thuận mà không được người đại diện theo pháp luật của người đó đồng ý.
  • Người bị Tòa án tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự, ký thỏa thuận mà phạm vi giám hộ yêu cầu phải được người giám hộ đồng ý mà không có sự đồng ý của người giám hộ. Đây là quy định mới so với quy định của Bộ luật dân sự năm

Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên. Nếu xét theo quy định này thì đối với năng lực để ký kết thỏa thuận sẽ được xem xét theo pháp luật áp dụng cho mỗi bên. Ngay cả pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL cũng quy định đối với năng lực để thỏa thuận trọng tài sẽ được xem xét theo pháp luật của các bên. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với xu hướng của pháp luật quốc tế. Bởi lẽ, bản chất thỏa thuận trọng tài là một dạng hợp đồng. Mà hợp đồng thì có thể chứa đựng yếu tố nước ngoài như được xác lập giữa hai bên tranh chấp khác quốc tịch hoặc tồn tại những yếu tố được xem xét là tranh chấp có yếu tố nước ngoài…Nếu trong trường hợp này việc xác định năng lực hành vi dân sự của các bên tham gia xác lập thỏa thuận trọng tài chỉ dựa vào quy định của một văn bản quy phạm pháp luật thực chất của một quốc gia liên quan là không hợp lý.

Mặt khác, theo quy định của Bộ luật dân sự đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch còn năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch, trừ trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam. Đối với pháp nhân thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch, trừ trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.

Như vậy, theo Luật trọng tài Anh năm 1996, Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ năm 1925 hay Luật mẫu UNCITRAL quy định việc xác định năng lực hành vi dân sự của các bên tham gia thỏa thuận trọng tài sẽ được xác định theo pháp luật áp dụng cho mỗi bên. Ngay cả trong hệ thống pháp luật Việt Nam thì quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 hay Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định theo hướng dẫn chiếu đến pháp luật mà các cá nhân hoặc pháp nhân mang quốc tịch để xác định vấn đề về năng lực hành vi, năng lực pháp luật của các bên. Do đó, để đảm bảo việc thực hiện thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như dễ dàng trong việc xác định năng lực hành vi của các bên trong thỏa thuận trọng tài, đảm bảo pháp luật Việt Nam hài hòa với pháp luật thế giới, tác giả kiến nghị quy định đối với năng lực hành vi của người xác lập thỏa thuận trọng tài cần sửa đổi theo hướng đề xuất hệ thống pháp luật sẽ được áp dụng để xác định năng lực hành vi dân sự chứ không phải là do Bộ luật dân sự Việt Nam quy định. Theo đó, thỏa thuận trọng tài sẽ vô hiệu nếu người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật mà người xác lập mang quốc tịch.

Mặt khác, pháp luật Việt Nam còn quy định về ý chí của chủ thể tham gia xác lập thỏa thuận. Theo đó, trong trường hợp một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài sẽ vô hiệu. Theo quy định này thì việc một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài không phải là yếu tố dẫn đến thỏa thuận trọng tài buộc phải vô hiệu. Thỏa thuận trọng tài chỉ vô hiệu trong trường hợp này gồm hai điều kiện. Điều kiện cần là một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài còn điều kiện đủ là có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu. Trong trường hợp các bên không yêu cầu thì thỏa thuận cũng không vô hiệu. Bản chất của thỏa thuận trọng tài là một dạng hợp đồng do đó về nguyên tắc các bên có quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập thỏa thuận trọng tài. Các bên tham gia xác lập là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Tuy nhiên, cần phân biệt lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó. Nó khác với nhầm lẫn, nhầm lẫn là một hoặc cả hai bên đều nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch. Hành vi lừa dối là hành vi trái pháp luật, còn nhầm lẫn thì không phải. Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình. Như vậy, hành vi cưỡng ép, đe dọa là hành vi trái pháp luật. Do đó, việc lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép là đi ngược lại với nguyên tắc trong giao dịch dân sự. Nếu có một bên yêu cầu tuyên bố giao dịch đó vô hiệu thì giao dịch sẽ vô hiệu. Điều này hoàn toàn phù hợp bởi lẽ, nếu bên bị cưỡng ép, đe dọa, lừa dối biết mà vẫn chấp nhận việc đó và không có yêu cầu thì điều này đương nhiên được xem như việc bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép đã chấp nhận việc lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Do đó, việc lừa dối, đe dọa, cưỡng ép không còn tồn tại nữa mà giữa các bên đã tồn tại sự tự nguyện.

Quy định về điều kiện tính tự nguyện tham gia xác lập thỏa thuận trọng tài được quy định rõ trong pháp luật Việt Nam hoàn toàn khác với pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL. Tuy nhiên, theo tác giả việc quy định này của pháp luật Việt Nam không phải là biểu hiện rằng pháp luật Việt Nam không hài hòa với pháp luật thế giới mà việc quy định này là thể hiện sự thống nhất trong hệ thống pháp luật nội địa của Việt Nam cũng như phù hợp với hoàn cảnh pháp lý của Việt Nam. Việc quy định này cũng đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc thực hiện việc xem xét phán quyết trọng tài của Tòa án. Đảm bảo được quyền lợi của các bên khi tham gia xác lập thỏa thuận trọng tài.

2.2.3 Quy định về điều kiện nội dung thỏa thuận trọng tài. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì thỏa thuận trọng tài phải chứa đựng các thỏa thuận cụ thể về việc giải quyết tranh chấp. Để được coi là một thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận của các bên phải có nội dung giao việc giải quyết tranh chấp cho trọng tài. Thỏa thuận trọng tài là sự đồng ý của các bên về việc sử dụng trọng tài như một trong số các hình thức giải quyết tranh chấp hoặc đồng ý chọn trọng tài để giải quyết. Như vậy, thỏa thuận trọng tài không nhất thiết phải xác định hình thức trọng tài, tổ chức hay trung tâm trọng tài cụ thể. So với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 thì Luật trọng tài thương mại năm 2010 đã bỏ quy định về việc thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi không chỉ rõ tên tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết. Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thỏa thuận trọng tài không rõ ràng, Luật cho phép các bên có quyền thỏa thuận lại. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì nguyên đơn có quyền được tự do lựa chọn tổ chức trọng tài mà mình cho là phù hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quy định này góp phần ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp.

Nội dung của thỏa thuận trọng tài nói đến việc xác định trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi cần giải quyết những tranh chấp hay bất đồng phát sinh hay liên quan đến hợp đồng chính. Pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia thường quy định một số điều khoản cơ bản đối với thỏa thuận trọng tài như hình thức trọng tài, ngôn ngữ trọng tài,… Ngoài những điều khoản này thì các bên có thể xác lập thêm một số điều khoản khác tùy vào lợi ích của họ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp sau này. Khác với quan hệ pháp luật mà ở đó luật tố tụng mang tính chất quyền lực nhà nước rất cao thì trong lĩnh vực trọng tài, trọng tài viên lại phụ thuộc vào sự lựa chọn của các bên, đây chính là nội dung thỏa thuận của các bên trong điều khoản trọng tài cũng chính là sự khác biệt giữa thỏa thuận trọng tài và đơn khởi kiện.

Hầu hết pháp luật các nước chỉ đơn thuần quy định điều khoản trọng tài phải thể hiện thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài mà không quy định chi tiết nội dung cụ thể của thỏa thuận trọng tài. Điều đó để các bên tự quyết định cho thấy sự tôn trọng thỏa thuận của các bên sao cho thỏa thuận đó phù hợp với các quy định của pháp luật điều chỉnh trực tiếp thỏa thuận trọng tài.

Pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL cũng không tồn tại những quy định cụ thể nội dung thỏa thuận trọng tài phải bao gồm những nội dung nào mà dựa trên những quy định về những trường hợp không công nhận, thi hành phán quyết của trọng tài hay hủy phán quyết của trọng tài hay những quy định liên quan đến phạm vi những tranh chấp được phép sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mà chúng ta có thể suy luận được nội dung thỏa thuận trọng tài phải nằm trong phạm vi những quan hệ được phép sử dụng trọng tài. Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại cũng tương tự như pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay Luật mẫu UNCITRAL. Theo đó, trong Luật trọng tài thương mại năm 2010 không tồn tại bất kỳ quy định nào về nội dung thỏa thuận trọng tài phải được xác lập như thế nào mà từ quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, chúng ta có thể rút ra nội dung thỏa thuận trọng tài phải bao gồm những vấn đề sau. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Thứ nhất, nội dung thỏa thuận trọng tài phải thể hiện rõ lĩnh vực mà các bên thống nhất đưa ra giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và phạm vi của trọng tài đối với tranh chấp giữa các bên. Theo pháp luật Việt Nam, nếu tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài thì thỏa thuận trọng tài sẽ vô hiệu. Để xác định những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài, pháp luật Việt Nam đã sử dụng phương pháp liệt kê để đưa ra danh mục những tranh chấp mà các bên có thể thỏa thuận để đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài. Theo đó những tranh chấp sau đây sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài:

  • Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
  • Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
  • Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.

Đối với nhóm các vụ việc thứ (i), trái với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 quy định cụ thể các loại “hoạt động thương mại” theo hình thức liệt kê, Luật trọng tài thương mại năm 2010 không hề có quy định nào giải thích khái niệm “hoạt động thương mại”. Tuy nhiên, căn cứ vào Luật thương mại năm 2005 thì “hoạt động thương mại” gồm các “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Như vậy, có thể thấy phạm vi của hoạt động thương mại rất rộng. Bên cạnh những hoạt động đã được liệt kê cụ thể trong luật thì bất kỳ hoạt động nào khác chỉ cần thỏa mãn điều kiện nhằm “mục đích sinh lợi” cũng được coi là hoạt động thương mại và tranh chấp phát sinh từ các hoạt động này có thể được trọng tài giải quyết. Ví dụ về một số hoạt động thương mại cụ thể như phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ. Một số quan hệ không nhằm mục đích sinh lợi và do đó không thuộc thẩm quyền của trọng tài như giao dịch tặng cho, mượn tài sản, thừa kế, hôn nhân gia đình. Những quan hệ này khi xảy ra tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án và các bên dù muốn cũng không có quyền yêu cầu trọng tài giải quyết. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Đối với nhóm các vụ việc thứ (ii), đây là trường hợp đặc biệt mà các bên khi phát sinh tranh chấp và có thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài thì trọng tài có thẩm quyền giải quyết mặc dù tranh chấp không phát sinh từ một hoạt động thương mại. Tuy nhiên, để đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài thì một trong các bên “có hoạt động thương mại”. Trong khi đo, Luật không giải thích rõ khái niệm “bên có hoạt động thương mại” là thế nào và liệu bên đó phải thực hiện hoạt động thương mại một cách thường xuyên hay chỉ cần thực hiện hoạt động thương mại trong giao dịch xảy ra tranh chấp. Về vấn đề này, Luật thương mại quy định hai nhóm đối tượng có thể được coi là có hoạt động thương mại, gồm (1) thương nhân và (2) tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến thương mại. Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến thương mại tuy không được định nghĩa cụ thể nhưng có thể hiểu là gồm tổ chức, cá nhân không phải thương nhân nhưng vẫn tham gia hoạt động thương mại, ví dụ những cá nhân hoạt động thương mại độc lập không phải đăng ký kinh doanh như buôn bán rong, buôn bán vặt, bán quà vặt, buôn chuyến, dịch vụ đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh.  hoặc những tổ chức đặc biệt được lập ra để quản lý hoạt động đầu tư cho doanh nghiệp như các ban quản lý dự án.

Đối với nhóm các vụ việc thứ (iii), đây là trường hợp dự liệu trước của luật. Nếu một tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại, cũng không có bên nào có hoạt động thương mại, tuy nhiên pháp luật chuyên ngành quy định phải giải quyết bằng trọng tài thì áp dụng trường hợp này, như theo Luật đầu tư năm 2014 thì tranh chấp liên quan đến đầu tư các bên có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Như vậy, mặc dù cách quy định khác nhau nhưng pháp luật Anh, Hoa Kỳ, Luật mẫu UNCITRAL và Việt Nam thống nhất đưa ra những lĩnh vực mà trọng tài sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và có những lĩnh vực mà trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Cách tiếp cận của pháp luật Anh, Hoa Kỳ là đưa ra những lĩnh vực cấm không được sử dụng trọng tài còn pháp luật Việt Nam là đưa ra những lĩnh vực được phép sử dụng trọng tài. Dựa trên lịch sử pháp lý Việt Nam cũng như điều kiện xã hội pháp lý Việt Nam hiện nay, tác giả cho rằng việc đưa ra danh mục các nhóm lĩnh vực được phép sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hiện nay là rộng hơn so với những quy định trước đây. Tuy vẫn còn khó xác định ở nhóm lĩnh vực (iii), nhưng đây vẫn là quy định mở nhằm hướng đến những lĩnh vực trong tương lai mà khi xây dựng luật vẫn chưa phát sinh hoặc chưa tồn tại đủ cơ sở để cho phép sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp.

Thứ hai, ngoài quy định về những lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thì pháp luật Việt Nam cũng quy định trong trường hợp nội dung thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật thì thỏa thuận trọng tài sẽ vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Nếu theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì giao dịch dân sự đó vô hiệu. Thỏa thuận trọng tài về bản chất được coi là một giao dịch dân sự, một hợp đồng thống nhất ý chí giữa các bên về việc đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài. Như vậy, trong trường hợp thỏa thuận trọng tài trái đạo đức xã hội thì không dẫn đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu vì theo Điều 18 Luật trọng tài thương mại năm 2010 không có quy định thỏa thuận trọng tài sẽ vô hiệu khi nội dung thỏa thuận trái đạo đức xã hội. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Tuy nhiên, tại Điều 4 Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định rằng: “Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”. Theo quy định này thì Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận trọng tài nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Như vậy, trong nội tại của Luật trọng tài thương mại năm 2010 đã tồn tại sự không thống nhất trong việc thỏa thuận trọng tài trái đạo đức xã hội thì hậu quả pháp lý sẽ như thế nào. Để đảm bảo sự thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam, theo tác giả thì trong trường hợp thỏa thuận trọng tài trái đạo đức xã hội thì hậu quả pháp lý là dẫn đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Theo pháp luật Việt Nam, việc xác định nội dung thỏa thuận trọng tài có vi phạm điều cấm của pháp luật thì chỉ cần dựa vào quy định của pháp luật. Trong khi trái đạo đức xã hội lại là một phạm trù không có quy định rõ trong pháp luật mà hầu hết đều dựa vào ý chí của Trọng tài viên nên dễ dẫn đến việc không thống nhất trong việc áp dụng. Tuy nhiên, tác giả cho rằng quy định này vẫn cần thiết bởi vì nó tạo tính thống nhất của hệ thống pháp luật cũng như còn phù hợp với thực tiễn pháp lý của Việt Nam.

Nội dung thỏa thuận trọng tài phải rõ ràng nhằm đảm bảo việc thực hiện nội dung thỏa thuận được tốt nhất. Bởi lẽ, thỏa thuận trọng tài là cơ sở nền tảng để tiến hành các bước tố tụng của trọng tài. Đồng thời, nội dung thỏa thuận trọng tài rõ ràng cũng đảm bảo phán quyết trọng tài không bị hủy hoặc từ chối công nhận và thi hành do phán quyết vượt quá phạm vi nội dung thỏa thuận hoặc không nằm trong phạm vi nội dung thỏa thuận trọng tài. Trước đây theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 thì thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tai có thẩm giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung thì sẽ dẫn đến hệ quả pháp lý là thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Tuy nhiên, với quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trong trường hợp nội dung thỏa thuận trọng tài không rõ ràng, có nhiều cách hiểu thì cơ quan xem xét giải quyết tranh chấp sẽ giải thích thỏa thuận theo quy định của Bộ luật dân sự. Theo đó, việc giải thích sẽ tuân thủ những nguyên tắc sau đây: Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

  • Khi thỏa thuận không rõ ràng thì việc giải thích không chỉ dựa vào ngôn từ của thỏa thuận mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện thỏa thuận
  • Khi thỏa thuận có ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của thỏa thuận.
  • Khi thỏa thuận có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết thỏa thuận.
  • Các điều khoản trong thỏa thuận phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung thỏa thuận.
  • Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích thỏa thuận.
  • Trường hợp bên soạn thảo đưa vào thỏa thuận nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích thỏa thuận phải theo hướng có lợi cho bên kia.

Như vậy, việc giải thích phải đảm bảo ý chí đích thực của các bên khi xác lập thỏa thuận, phù hợp với mục đích của thỏa thuận, phù hợp với tập quán nơi xác lập thỏa thuận và đảm bảo lợi ích của các bên.

Tóm lại, những quy định của pháp luật Việt Nam về nội dung thỏa thuận trọng tài do được xây dựng trên nền tảng Luật mẫu UNCITRAL nên đã có mức độ hài hòa với pháp luật thế giới cũng như pháp luật Anh, Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại bất cập như thiếu đồng bộ đối với vấn đề nội dung thỏa thuận trọng tài trái đạo đức xã hội… Đây là vấn đề mà Việt Nam cần cân nhắc điều chỉnh. Theo đánh giá của tác giả, nhìn chung những quy định của pháp luật hiện hành đối với nội dung thỏa thuận trọng tài đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đời sống pháp lý tại Việt Nam hiện tại, đưa pháp luật Việt Nam về trọng tài đến gần hơn với pháp luật thế giới với mức độ hài hòa hóa cao.

2.3. Một số vấn đề pháp lý liên quan đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

2.3.1 Hiệu lực pháp lý của thỏa thuận trọng tài.

Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài là một nguyên tắc được công nhận phổ biến của trọng tài quốc tế và được cụ thể hóa trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Thỏa thuận trọng tài có thể lập thành văn bản riêng rẽ hoặc có thể là một điều khoản trong hợp đồng. Khi tồn tại dưới dạng một văn bản riêng rẽ thì sự độc lập của thỏa thuận trọng tài là đương nhiên. Còn đối với thỏa thuận trọng tài tồn tại dưới dạng điều khoản trọng tài mặc dù là một bộ phận của hợp đồng song xét về mối quan hệ pháp lý thì điều khoản trọng tài vẫn được coi là độc lập với hợp đồng chứa nó. Sự vô hiệu của hợp đồng chính không tự động làm vô hiệu điều khoản trọng tài. Sở dĩ như vậy là vì không phải lúc nào điều nguyên nhân làm cho hợp đồng chính vô hiệu không phải bao giờ cũng trùng với nguyên nhân làm cho điều khoản trọng tài vô hiệu, chẳng hạn như các trường hợp bất khả kháng kéo dài khiến hợp đồng không thể thực hiện được, các bên chấm dứt hợp đồng nhưng điều khoản trọng tài vẫn còn hiệu lực để có thể thành lập tổ chức trọng tài, xem xét hậu quả pháp lý và nghĩa vụ của các bên.

Như vậy, quan điểm chung của pháp luật trọng tài các nước đều thừa nhận tính độc lập của điều khoản trọng tài đối với hợp đồng chính. Hợp đồng chính có thể bị vô hiệu từng phần hoặc vô hiệu toàn phần nhưng đều không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của điều khoản trọng tài, sự vô hiệu của hợp đồng không tự động kéo theo sự vô hiệu của điều khoản trọng tài. Tương tự như pháp luật Anh, Hoa Kỳ về vấn đề hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đối với hợp đồng chính, pháp luật Việt Nam cũng quy định rằng thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sự vô hiệu của hợp đồng chính sẽ làm cho điều khoản trọng tài cũng trở nên vô hiệu. Thường là trong trường hợp nguyên nhân làm hợp đồng chính vô hiệu cũng là nguyên nhân làm cho điều khoản trọng tài vô hiệu. Ví dụ: Trường hợp chủ thế ký kết hợp đồng không đủ năng lực hành vi dân sự để ký kết hợp đồng và do vậy cũng không đủ năng lực hành vi ký kết điều khoản trọng tài. Mặc dù vậy, ở đây chỉ là sự trùng hợp về nguyên nhân làm cho hợp đồng chính vô hiệu và điều khoản trọng tài vô hiệu chứ không phải sự vô hiệu của hợp đồng kéo theo sự vô hiệu của điều khoản trọng tài.

Khi thỏa thuận trọng tài phát sinh hiệu lực thì Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được. Như vậy, Luật trọng tài thương mại năm 2010 đặt ra hai trường hợp mà Tòa án có thể thụ lý vụ án là thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Quy định này hoàn toàn tương tự như quy định về hiệu lực thỏa thuận trọng tài đối với Tòa án được quy định trong Luật trọng tài Anh năm 1996, Luật mẫu UNCITRAL hay Đạo luật trọng tài liên bang Hoa Kỳ năm 1925. Theo đó, Tòa án chỉ được phép thụ lý tranh chấp có thỏa thuận trọng tài trong hai trường hợp là thỏa thuận trọng tài vô hiệu do vi phạm các quy định về điều kiện của thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được.

Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được là quy định mới của Luật trọng tài thương mại năm 2010 so với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003. Thực tế, có nhiều điều khoản trọng tài có hiệu lực theo quy định pháp luật, phạm vi tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài, người ký thỏa thuận có đầy đủ thẩm quyền, năng lực hành vi, thỏa thuận quy định rõ đối tượng tranh chấp và tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết nhưng khi thực hiện lại không thể giải quyết được bằng trọng tài. Ví dụ, các bên thỏa thuận giải quyết tại một trung tâm trọng tài nhưng đến thời điểm xảy ra tranh chấp thì trung tâm này đã giải thể. Tương tự, các bên thỏa thuận nếu có tranh chấp sẽ yêu cầu một cá nhân cụ thể giải quyết nhưng đến khi tranh chấp xảy ra thì người này đã chết. Trong cả hai trường hợp này, tuy thỏa thuận trọng tài không vô hiệu song đều không thể thực hiện được. Khi đó, trừ khi các bên có thỏa thuận khác, Tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc.

2.3.2 Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.
  • Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.
  • Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.
  • Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế.
  • Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định của Luật trọng tài thương mại năm 2010 nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

Tuy nhiên, có những tranh chấp tuy có thỏa thuận trọng tài nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trừ những trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thực hiện được

  • Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.
  • Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài trong các trường hợp sau:
  • Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế
  • Nguyên đơn hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức đã chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức mà không có cơ quan, tổ chức nào tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó
  • Các bên thoả thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp.

Như vậy, pháp luật Việt Nam quy định rõ những trường hợp nào thì thỏa thuận trọng tài được coi là không thể thực hiện được. Việc quy định này xuất phát từ thực tiễn giải quyết tranh chấp cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế. Mặt khác, nếu pháp luật Anh, Hoa Kỳ không quy định rõ những trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được mà giao toàn quyền cho Tòa án hoặc Hội đồng trọng tài quyết định, Luật mẫu UNCITRAL thì để ngỏ quy định này cho pháp luật của từng quốc gia quy định thì pháp luật Việt Nam quy định rõ trong văn bản quy phạm pháp luật. Sự khác nhau này thực chất xuất phát từ truyền thống pháp lý của các quốc gia. Anh, Hoa Kỳ phát triển với truyền thống pháp luật thông luật, đặc trưng là án lệ còn Việt Nam phát triển với truyền thống pháp luật thành văn, quy định của pháp luật phải thể hiện trong văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, cách thức quy định đối với vấn đề thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được là khác nhau. Nhưng theo tác giả quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay là phù hợp với thực tiễn pháp lý của Việt Nam.

2.3.3 Vấn đề kế thừa thỏa thuận trọng tài.

Về vấn đề kế thừa thỏa thuận trọng tài, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì trong trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Nếu một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Như vậy, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực kể cả khi một trong các bên của thỏa thuận không còn tồn tại hoặc không còn khả năng tham gia giao dịch. Nếu một bên là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó. Tương tự, nếu một bên là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức nào tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó. Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận khác rằng hiệu lực thỏa thuận trọng tài sẽ chấm dứt khi một bên chết, giải thế hoặc chấm dứt thì những người thừa kế của bên đó sẽ không phải chịu sự điều chỉnh của nội dung thỏa thuận trọng tài. Quy định này của pháp luật Việt Nam tương tự như quy định của Luật trọng tài Anh năm 1996. Điều này thể hiện sự hài hòa hóa của pháp luật Việt Nam trên cơ sở học tập kinh nghiệm từ các nước trên thế giới trong quá trình xây dựng pháp luật về trọng tài thương mại…

Tóm lại, quy định của pháp luật Việt Nam về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài là phù hợp với thực tiễn pháp lý của đời sống xã hội Việt Nam, hài hòa với pháp luật quốc tế mà trong đó là thể hiện sự tương thích với Luật mẫu UNCITRAL; đảm bảo tốt quyền lợi của các bên tham gia xác lập thỏa thuận trọng tài. Đồng thời, các quy định này cũng giúp cho các chủ thể liên quan như Hội đồng trọng tài, Tòa án có căn cứ để thực hiện các nhiệm vụ, công việc cụ thể. Mặt khác, những quy định này còn đảm bảo được trật tự xã hội hiện có.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Hệ thống pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại nói chung, thỏa thuận trọng tài nói riêng đã có nhiều bước tiến đáng kể, thể hiện ở sự ra đời của Luật trọng tài thương mại năm 2010, ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế. Các quy định Luật trọng tài thương mại năm 2010 có sự tương thích với pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay điển hình là Luật mẫu UNCITRAL như quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài, nội dung thỏa thuận, hiệu lực thỏa thuận… Điều này đã tạo cơ sở hành lang pháp lý cho hoạt động xác lập thỏa thuận trọng tài được diễn ra một cách hiệu quả và có hiệu lực trên thực tế.

Tuy nhiên, bên cạnh đó pháp luật Việt Nam vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định như phạm vi hình thức của thỏa thuận trọng tài tuy đã tiệm cận với Luật mẫu UNCITRAL nhưng vẫn còn hạn chế so với pháp luật Anh hay những bất cập trong quy định về xác định thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài, năng lực hành vi dân sự trong xác lập thỏa thuận trọng tài, sự chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật về nội dung thỏa thuận trọng tài không được vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội…. Để khắc phục những bất cập này, chúng ta cần học tập kinh nghiệm cũng như xem xét quy định của pháp luật các nước về vấn đề này để tạo cơ sở cho việc xây dựng pháp luật về trọng tài nói chung, thỏa thuận trọng tài nói riêng của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và hài hòa với pháp luật thế giới.

KẾT LUẬN Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

Trọng tài là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp cổ nhất được sử dụng để giải quyết tranh chấp hoặc mối quan hệ bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia. Hoạt động trọng tài ở các quốc gia trên thế giới đã có lịch sử phát triển lâu đời và ở các nước này hoạt động trọng tài đều được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy hoạt động trọng tài. Ở các nước theo hệ thống pháp luật thông luật hầu hết đều có Luật Trọng tài. Ví dụ: Hoa Kỳ có Luật Trọng tài liên bang năm 1925, Anh có Luật Trọng tài năm 1959, 1975, 1979; Australia có Luật liên bang về Trọng tài Thương mại quốc tế và các Luật Trọng tài của các bang, Brazil, Trung Quốc và rất nhiều các quốc gia khác ở các hệ thống pháp luật khác nhau từ lâu đều đã có Luật Trọng tài. Ở các nước theo truyền thống luật dân sự, một số nước đưa các quy định của pháp luật về Trọng tài vào trong Bộ luật Tố tụng Dân sự như Áo, Đức, Pháp, Ý… Tuy nhiên có một số nước lại ban hành Luật Trọng tài riêng như Phần Lan, Đan Mạch…

Ở Việt Nam, Pháp luật về trọng tài được hình thành từ năm 1960 với Nghị định số 20/TTg của Thủ tướng chính phủ về trọng tài kinh tế. Sau đó, quy định về trọng tài lần lượt được sửa đổi qua Nghị định số 116-CP, Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 và hiện nay là Luật trọng tài thương mại năm 2010. Pháp luật hiện nay của Việt Nam về trọng tài thương mại tồn tại những quy định có sự tương thích với pháp luật Anh, Hoa Kỳ hay điển hình là Luật mẫu UNCITRAL như quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài, nội dung thỏa thuận, hiệu lực thỏa thuận… Chính điều này đã tạo điều kiện cho hoạt động trọng tài tại Việt Nam được phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại những bất cập nhất định mà pháp luật Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của pháp luật Anh, Luật Mẫu UNCITRAL hay pháp luật các nước trên thế giới để xem xét sửa đổi cho phù hợp và rõ ràng trong quy định nhằm thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phát triển hơn nữa.

Qua quá trình nghiên cứu vấn đề thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam, Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL. Đồng thời, có sự so sánh đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL về thỏa thuận trọng tài. Luận văn đã đạt được những kết quả sau:

Thứ nhất, phân tích các quy định về thỏa thuận trọng tài theo pháp luật Anh, Hoa Kỳ, Luật mẫu UNCITRAL và pháp luật Việt Nam.

Thứ hai, Luận văn đã tiến hành so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL với pháp luật Việt Nam. Từ kết quả so sánh này, luận văn đã đề ra hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề xây dựng quy phạm pháp luật về thỏa thuận trọng tài như sau:

Một là, bổ sung quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài tại Điều 16 Luật Trọng tài thương mại. Thêm trường hợp các bên có thể chứng minh bằng văn bản rằng có tài liệu tham khảo về thỏa thuận trọng tài đã được ghi nhận bằng bất kỳ phương tiện nào.

Hai là, sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại về cách xác định năng lực hành vi dân sự của các bên tham gia thỏa thuận trọng tài. Theo đó, năng lực hành vi của các bên sẽ theo pháp luật các bên mang quốc tịch. Quy định này nhằm đảm bảo việc thực hiện thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như dễ dàng trong việc xác định năng lực hành vi của các bên trong thỏa thuận trọng tài, đảm bảo pháp luật Việt Nam hài hòa với pháp luật thế giới.

Ba là, sửa đổi quy định tại khoản 6 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại cho tương thích với khoản 1 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại về thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội sẽ không phát sinh hiệu lực. Quy định này nhằm đảm bảo sự thống nhất trong việc quy định của pháp luật Việt Nam nhằm tránh việc hiểu không đúng.

Trong phạm vi Luận văn này, chắc chắn không thể bao quát và giải quyết triệt để toàn bộ các vấn đề đặt ra đối với pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài. Tác giả hi vọng, việc nghiên cứu, so sánh pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài với pháp luật Anh, Hoa Kỳ và Luật mẫu UNCITRAL sẽ góp phần trong việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thỏa thuận trọng tài cũng như thúc đẩy hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ở Việt Nam trong thời gian tới. Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: So sánh thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam

One thought on “Luận văn: Thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam

  1. Pingback: Luận văn: So sánh thỏa thuận trọng tài trong pháp luật Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464