Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự và kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự

3.1.1 Những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự

Kể từ khi Hiến pháp 2013 được triển khai thi hành, yêu cầu hàng đầu được đặt ra cho các Tòa án đó là cần tập trung làm tốt công tác tổng kết thi hành các luật nói chung và LTTDS nói riêng. Đồng thời, các Tòa án còn phải tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, kết luận số 79-KL/TW ngày 25/12/2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28-01-2008 của Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá X và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12 tháng 3 năm 2014 về việc tiếp tục thực hiện Nghị Quyết số 49-NQ/TW, ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Có thể nói trong những năm gần đây, việc thực hiện nhiệm vụ công tác trong lĩnh vực tố tụng dân sự của Thẩm phán đã có nhiều tác động tích cực và hiệu quả đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho Thẩm phán cũng ngày một nâng cao. Vì vậy, Thẩm phán không chỉ tăng nhanh về số lượng mà còn được nâng cao về chất lượng. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự có tính chất phức tạp đang ngày một gia tăng ở nước ta hiện nay. Một mặt nâng cao chất lượng xét xử mặt khác tạo điều kiện để các Thẩm phán thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình.

Theo báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2012, 2013, Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán TANDTC đã trình Chủ tịch nước bổ nhiệm mới 12 Thẩm phán TANDTC và 229 Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp. Đối với các Thẩm phán được bổ nhiệm lại đều hoàn thành nhiệm vụ công tác được giao và đảm bảo chỉ tiêu, chất lượng xét xử trong nhiệm kỳ. Trong thời gian tới, để hoàn thiện số lượng Thẩm phán, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã đồng ý bổ sung cho ngành TAND 1713 biên chế, trong đó có 52 Thẩm phán trung cấp và 658 Thẩm phán sơ cấp năm 2012, 2013 [26], [28].

Năm 2013, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức 17 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ là Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho 12.246 lượt cán bộ Thẩm phán thuộc quyền quản lý [29].

Năm 2014, các Tòa án tiếp tục được củng cố, kiện toàn về đội ngũ Thẩm phán, việc thực hiện kế hoạch cải cách chế độ công vụ được đẩy mạnh. Chủ tịch nước đã bổ nhiệm lại 04 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì bổ nhiệm lại 145 Thẩm phán trung cấp và sơ cấp (bổ nhiệm mới 86, bổ nhiệm lại 60). Thực hiện quy định mới của Hiến pháp 2013, theo đó thẩm quyền bổ nhiệm Thẩm phán do Chủ tịch nước thực hiện, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với Văn phòng Chủ tịch nước hoàn thiện quy trình và đã trình Chủ tịch nước xem xét bổ nhiệm lại 384 Thẩm phán trung cấp và sơ cấp. tính đến ngày 30/09/2014, đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp có 5.048 Thẩm phán. Hơn 1.100 lượt Thẩm phán Tòa án các cấp được luân chuyển, điều động, biệt phái để tăng cường công tác xét xử cho các đơn vị [30].

Từ ngày 01/10/2014 đến ngày 30/9/2015 đã bổ nhiệm và bổ nhiệm lại 298 Thẩm phán trung cấp (bổ nhiệm mới 140, bổ nhiệm lại 158) và 887 Thẩm phán sơ cấp (bổ nhiệm mới 436, bổ nhiệm lại 451); thực hiện quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014, TANDTC đã trình Quốc hội phê chuẩn và được Chủ tịch nước đã bổ nhiệm 15 Thẩm phán TANDTC, 57 Thẩm phán cao cấp công tác tại các TANDCC và 11 Thẩm phán cao cấp công tác tại TAQSTƯ. Về biên chế, tính cho đến nay, tổng số biên chế TAND các cấp có 15.053 người, gồm có 5.105 Thẩm phán. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Tuy nhiên số lượng này chưa đáp ứng đủ nhu cầu cũng như chỉ tiêu của ngành để phục vụ giải quyết xét xử. Tình trạng thiếu Thẩm phán cũng gây ra những khó khăn nhất định đối với công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ của ngành, trước số lượng công việc quá tải. Đây là mâu thuẫn, thách thưc lớn đặt ra đối với ngành Tòa án khi xử lý, giải quyết về vấn đề số lượng Thẩm phán của Tòa án các cấp.

Ngoài ra, TANDTC còn chú trọng thực hiện công tác tập huấn nâng cao nghiệp vụ giải quyết các vụ việc dân sự. Hàng năm, TANDTC và TAND các cấp thường xuyên tập huấn nghiệp vụ, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học về pháp luật tố tụng dân sự đối với Thẩm phán và cán bộ Tòa án các cấp. Mục đích của việc tập huấn nghiệp vụ và hội thảo khoa học một phần để cập nhật những quy định pháp luật mới đồng thời cũng là cơ hội để các Thẩm phán có thể nhận được những giải đáp, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.

Về giải quyết các việc dân sự và xét xử các vụ án dân sự, theo Báo cáo số 36/BC-TA của TANDTC về Tổng kết công tác năm 2011 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2012 của ngành TAND và báo cáo số 03/BC-TA của TANDTC về Tổng kết công tác năm 2014 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2015 của các Tòa án, trong những năm qua số lượng các vụ việc dân sự liên tục tăng. Từ năm 2011 đến năm 2014 số lượng các vụ việc dân sự tăng từ 222.386 vụ việc lên 320.912 vụ việc. Tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc dân sự cũng ngày một gia tăng. Với sự cố gắng, nỗ lực của các cán bộ ngành Tòa án đặc biệt là các Thẩm phán nên hàng năm số lượng các vụ việc dân sự đã giải quyết luôn chiếm tỉ lệ cao (khoảng 90%) số vụ việc dân sự đã thụ lý, trong đó số lượng các vụ việc hòa giải thành luôn đạt tỉ lệ cao.

Tính từ ngày 01/10/2013 đến ngày 30/09/2014, tỷ lệ hòa giải thành đạt 54%, tăng 4% với 8952 vụ so với cùng kỳ năm trước. Trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự, nhiều Tòa án đã quan tâm, khắc phục có hiệu quả việc để các vụ việc dân sự quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, tỷ lệ các bản án, quyết định bị sửa, bị hủy đều giảm nhất là các vụ việc bị hủy, bị sửa do nguyên nhân chủ quan. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Theo Báo cáo thẩm tra hàng năm của Ủy ban Tư pháp thì tỉ lệ án bị sửa năm 2015 là 1,4% ( trong đó do nguyên nhân chủ quan là 0.9%, do nguyên nhân khách quan là 0.5%); tỉ lệ án bị hủy là 0.83% ( trong đó, do nguyên nhân chủ quan là 0.71%, do nguyên nhân khách quan là 0.12%). Kết quả trên là một dấu hiệu đáng mừng khẳng định năng lực xét xử cũng như vai trò của Thẩm phán trong công tác giải quyết vụ việc dân sự đang ngày một nâng cao.

Năm 2015, TAND tối cao tổ chức Hội nghị trực tuyến báo cáo tổng kết công tác năm 2015 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2016. Theo đó, trong năm 2015, mặc dù số lượng các loại vụ án mà Tòa án các cấp phải thụ lý, giải quyết tăng 11.600 vụ việc so với cùng kỳ năm trước, nhưng các Tòa án đã giải quyết đạt 93,5% các vụ án thuộc thẩm quyền, tăng hơn cùng kỳ năm trước 0,7% và tỷ lệ giải quyết từng loại vụ án đều vượt chỉ tiêu xét xử đề ra từ đầu năm (tỷ lệ giải quyết các vụ việc dân sự vượt 2,6% và tỷ lệ giải quyết các vụ án hành chính vượt 3,7%).

Các Tòa án đã triển khai sâu rộng việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà (bao gồm các phiên tòa xét xử án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính), đảm bảo cho những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ. Tăng cường cải cách hành chính tư pháp để bảo đảm tính công khai, minh bạch các hoạt động của Tòa án, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân khi tham gia tố tụng hoặc có công việc tại Tòa án.

Bên cạnh những Thẩm phán được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, vẫn còn không ít Thẩm phán còn hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thiếu tự tin, sợ trách nhiệm, không tự quyết định được các tình huống khi xét xử. Vẫn còn trường hợp Thẩm phán vi phạm phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp, có những hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới việc xét xử khách quan, đúng đắn của vụ án.

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, thì tính trung bình mỗi năm các Tòa án nhân dân đã giải quyết trên 150.000 vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình; trên 2.500 vụ việc về kinh doanh, thương mại; trên 2.000 vụ việc về lao động; tỷ lệ các vụ việc mà Tòa án phải giải quyết hàng năm tăng khoảng 15%; các vụ việc về kinh doanh, thương mại và lao động có tỷ lệ tăng cao hơn so với các vụ việc dân sự khác. Về chất lượng xét xử, tính trung bình mỗi năm có khoảng trên dưới 4% các bản án, quyết định của Tòa án bị sửa và 1,5% các bản án, quyết định của Tòa án bị hủy [32].

Với sự quan tâm phối hợp của chính quyền địa phương các cấp cùng với những nỗ lực không ngừng của cán bộ, công chức ngành Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng, công tác giải quyết các vụ việc dân sự không ngừng được nâng cao, góp phần không nhỏ về việc giữ vững ổn định, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và sự phát triển của đất nước. Với những quy định cụ thể của BLTTDS 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán đã giúp cho các Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, công bằng, đúng pháp luật, như đã khắc phục có hiệu quả việc để các vụ việc quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật; làm tốt việc hướng dẫn đương sự thực hiện đúng nghĩa vụ về cung cấp chứng cứ, tài liệu của vụ án…

Ngoài ra, TANDTC đã chú trọng thực hiện công tác tập huấn nâng cao nghiệp vụ giải quyết các vụ việc dân sự. Hàng năm, TANDTC và TAND các cấp thường xuyên tập huấn nghiệp vụ, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học về pháp luật TTDS đối với Thẩm phán và cán bộ Tòa án các cấp. Mục đích của việc tập huấn nghiệp vụ và hội thảo khoa học một phần để cập nhật những quy định pháp luật mới đồng thời cũng là cơ hội để các Thẩm phán có thể nhận được những giải đáp những vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.

3.1.2. Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

3.1.2.1 Bất cập trong việc thực hiện các quy định về bảo đảm tranh tụng trong tố tụng dân sự

Tranh tụng tại phiên tòa xét xử các vụ án dân sự là thể chế hóa chiến lược cải cách tư pháp, là nội dung quan trọng nhất của việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự. BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung căn bản và hoàn thiện việc tranh luận bằng việc quy định đầy đủ nội dung và nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa. Theo đó, Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thẩm phán là người tiến hành tố tụng, người trực tiếp điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa. Thẩm phán là người có trách nhiệm tìm ra sự thật trên cơ sở các sự việc, tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như các tình tiết trong quá trình tranh luận tại phiên tòa. Sự thật khách quan, quyền và lợi ích của các bên có được đảm bảo hay không phụ thuộc rất lớn vào quá trình điều khiển tranh luận tại phiên tòa, sự cẩn trọng và lương tâm nghề nghiệp của Thẩm phán trong đánh giá về chứng cứ, tài liệu và các căn cứ pháp lý được các bên viện dẫn. Tuy nhiên, theo quy định tại BLTTDS năm 2015 thì Thẩm phán chỉ có 01 phiên họp để kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và 01 phiên xét xử chính thức để ra bản án trong nhiều trường hợp là không phù hợp. Do vậy, sẽ hợp lý hơn nếu cho phép Thẩm phán chủ tọa tùy theo trường hợp có thể quyết định việc nghị án và tuyên án ngay hoặc có thể tiến hành nhiều phiên tranh luận trước khi nghị án để quyết định.

3.1.2.2 Hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 114, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm 4 biện pháp tạm thời như sau: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình; tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu; bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Ngoài ra, các quy định khác vẫn kế thừa quy định của BLTTDS sửa đổi năm 2011. Trong quá trình áp dụng, thực thi pháp luật vẫn còn có hiện tượng Thẩm phán thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chưa thực sự quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự hoặc hiểu chưa đúng về quy định của pháp luật dẫn đến thiệt hại cho quyền lợi của đương sự. Có thể minh họa cho thực trạng này qua một số vụ việc dưới đây:

  • Vụ việc thứ nhất: Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Bà Nguyễn Thị Minh Đức thường trú tại: Ba Hàng Mai, xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội có bán cho ông Hà Văn Sang thường trú tại: Đội 6, Thôn My Thượng, xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội một căn hộ. Hai bên đã lập hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng nhưng chưa đi làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, ông Sang đã giao tiền cho bà Đức nhưng bà Đức chưa chuyển giao nhà. Sau đó, do thua lỗ trong làm ăn bà Đức lại đăng tin bán căn hộ đó. Xét thấy bà Đức có ý định bán căn hộ mình đã mua, ông Sang có đơn yêu cầu Tòa án huyện Thanh Oai áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đồng thời có đơn khởi kiện. Thẩm phán được giao giải quyết vụ việc đã ra quyết định áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch về quyền đối với căn hộ đó. Tuy nhiên, ông Sang chưa nộp tạm ứng án phí. Sau đó, do thỏa thuận được với nhau, bà Đức trả lại ông Sang tiền, ông Sang xin rút đơn khởi kiện. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nhưng lại không hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước đó gây thiệt hại cho quyền lợi của bà Đức.

  • Vụ việc thứ hai:

Bà Nguyễn Thị Hương cho ông Quách Thành Sơn vay số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) không có lãi suất, do ông Sơn không trả cho bà Hương đúng thời gian quy định trong hợp đồng, nên bà Hương khởi kiện ông Sơn theo thủ tục dân sự và đã được Tòa án thụ lý giải quyết. Trong quá trình giải quyết, ông Sơn đã treo bảng bán nhà (là tài sản duy nhất). Do vậy, bà Hương đã có đơn đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo cho việc thi hành án. Tòa án đã xem xét, định giá ngôi nhà của ông Sơn khoảng 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng). Do vậy, Tòa án đề nghị bà Hương phải nộp 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) tiền bảo đảm vào ngân hàng để Tòa mới có cơ sở ra quyết định khẩn cấp tạm thời không cho ông Sơn trao đổi, mua bán, chuyển nhượng đối với ngôi nhà nói trên. Cách hiểu này là không đúng tinh thần quy định tại Điều 136 BLTTDS năm 2015. Theo đó, giá trị tiền bảo đảm phải nộp chỉ tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu. Trên thực tế, sau khi cho ông Sơn vay 2.000.000.0000 đồng (hai tỷ đồng), thì bà Hương không còn khoản tiền nào khác. Do vậy, bà Hương không thực hiện được yêu cầu của Tòa án. Kết quả là ông Sơn đã bán ngôi nhà là tài sản duy nhất nhằm tẩu tán tài sản trước khi Tòa án có bản án buộc ông phải trả nợ. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Điều 113 của BLTTDS năm 2015 chỉ quy định trách nhiệm của Tòa án mà không quy định cụ thể về trách nhiệm bồi hoàn của Thẩm phán trong trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng , không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc chậm ra quyết định trong trường hợp cần phải ra quyết định gây thiệt hại cho đương sự. Trong thực tiễn thì vấn đề này được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 01/TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 18/9/2012 về trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Quy định về vấn đề bồi hoàn là cần thiết nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc, đảm bảo lợi ích của các bên chủ thể. Tuy nhiên, sự thiếu rõ ràng của pháp luật có thể gây áp lực cho Thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trong khi rủi ro nghề nghiệp đôi khi là không thể tránh khỏi. Thiết nghĩ, Thẩm phán là một chức danh tư pháp, thay mặt Nhà nước để bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, do vậy chỉ nên quy định Thẩm phán phải bồi hoàn cho Nhà nước đối với những trường hợp Thẩm phán có lỗi cố ý hoặc sự việc cho thấy Thẩm phán rõ ràng bất cẩn một cách thái quá.

Như vậy, bên cạnh những quy định tiến bộ thì một số quy định của BLTTDS năm 2015 quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn còn một số bất cập, vướng mắc trong quá trình ạp dụng của Thẩm phán. Mặc khác, với quy định không rõ ràng trong việc quy trách nhiệm do việc áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời không đúng làm cho các Thẩm phán e dè trong công tác áp dụng. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò đảm bảo công lý, đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của các đương sự của Thẩm phán.

3.1.2.3 Hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quy định về ghi nhận và hỗ trợ thu thập tài liệu, chứng cứ

Tiếp tục phát triển các quy định về cung cấp chứng cứ và để phù hợp với mô hình tố tụng tranh tụng, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định về Thẩm phán có quyền ấn định thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự và người tham gia tố tụng khác bảo đảm các chứng cứ đều được công khai một cách sớm nhất và phục vụ tốt nhất cho việc giải quyết vụ án.

Theo khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ xác định các chứng cứ của vụ án mà đương sự phải giao nộp, đồng thời ấn định khoảng thời gian để giao nộp chứng cứ trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án. Tuy nhiên, quy định về vấn đề này còn thiếu tính cụ thể. Khoản 4 Điều 96 quy định: “Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì lí do chính đáng”.

Tuy nhiên, như thế nào là trường hợp được coi là có lý do chính đáng thì vẫn chưa có một quy định hướng dẫn cụ thể nào về vấn đề này. Do vậy, dẫn tới các Thẩm phán không có cơ sở để xác định và đánh giá việc giao nộp chứng cứ không đúng thời hạn là chính đáng hay không chính đáng để có thể chấp nhận hay không chấp nhận chứng cứ, tài liệu trong giải quyết vụ việc dân sự. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Thực tiễn, nhiều trường hợp đương sự giữ chứng cứ, cố tình che giấu chứng cứ ngụy tạo những lí do chậm hoặc không giao nộp để đến khi xét xử rồi mới giao nộp nhưng Thẩm phán vẫn phải chấp nhận chứng cứ đó, dẫn đến việc mất quá nhiều thời gian cho một vụ việc. Ví dụ như trường hợp dưới đây:

Ông Trần Minh khởi kiện đòi nợ công ty vận chuyển hành khách A vì chi nhánh của công ty tại Bắc Ninh thời gian từ năm 2011 – 2013 có thuê xe của ông Minh đưa đón công nhân viên của công ty với số tiền nợ gốc 18 triệu đồng. Do làm ăn không hiệu quả nên năm 2014 công ty vận chuyển hành khách A đã giải thể chi nhánh này, sau khi giải thể thì toàn bộ sổ sách hóa đơn, chứng từ của chi nhánh công ty đã bị mất. Lúc đầu, ông Minh không xuất trình được chứng cứ nên Tòa án đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Một thời gian sau, ông Minh khởi kiện lại với chứng cứ là một bản kê chi tiết các khoản nợ có chữ ký nhận nợ của nguyên Giám đốc Chi nhánh công ty tại Bắc Ninh và lời chứng của các nhân viên Chi nhánh công ty. Phía Công ty vận chuyển hành khách A không đưa ra bất cứ chứng cứ gì bác bỏ quan điểm và chứng cứ của nguyên đơn. Tòa sơ thẩm tuyên Công ty vận chuyển hành khách A phải trả ông Minh 18 triệu đồng. Sau đó, Công ty vận chuyển hành khách A kháng cáo và giao nộp cho Tòa án một biên bản bàn giao công việc, theo đó Giám đốc Chi nhánh công ty khẳng định đã thanh quyết toán tài chính dứt điểm, không còn công nợ. Lý do ông đưa ra tại thời điểm chuẩn bị xét xử sơ thẩm không giao nộp chứng cứ là do hội chứng mất trí nhớ tạm thời. Tình thế lật ngược hoàn toàn, ông Minh không có thêm bất cứ tài liệu nào, bởi thế Thẩm phán buộc phải chấp nhận chứng cứ chậm giao nộp của công ty vận chuyển hành khách A và công ty này đã thắng kiện.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ. Hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 chỉ quy định rất chung chung là “Tòa án có trách nhiệm” thay vì quy định “Thẩm phán có trách nhiệm”. Do vậy, quy định này chưa gắn được trách nhiệm của Thẩm phán trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Thực tế, khi giải quyết các vụ án mà có các tài liệu, chứng cứ đang do cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý thì việc thu thập chứng cứ không hề đơn giản. Đương sự khó có thể chứng minh việc họ đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không thu thập được chứng cứ để làm cơ sở yêu cầu Thẩm phán thu thập chứng cứ. Do những khó khăn nêu trên, nhiều nơi khi các cơ quan, tổ chức từ chối cung cấp tài liệu chứng cứ cho đương sự, nhưng không có văn bản nêu rõ lý do việc không cung cấp tài liệu, chứng cứ dẫn tới Thẩm phán không chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ. Vụ án sau là một trong số nhiều trường hợp như vậy: Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Chị B làm đơn khởi kiện yêu cầu TAND huyện A giải quyết việc ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng. Theo trình bày của chị B và anh M (chồng chị B) thì vào năm 2011 vợ chồng anh chị được công ty thanh lý căn nhà tập thể gắn liền với 152m2 đất tại thành phố H, nhưng diện tích đất đến nay vẫn chưa được cấp sổ đỏ. Thẩm phán đã yêu cầu chị B cung cấp văn bản của UBND thành phố H xác nhận việc sử dụng đất đó có hợp pháp hay không, để có cơ sở giải quyết yêu cầu của đương sự. Theo yêu cầu của Thẩm phán, chị B đã nhiều lần đến “xin” văn bản xác nhận của UBND thành phố H nhưng đều bị từ chối bằng lời nói, không có văn bản trả lời lý do không cung cấp. Do vậy, chị B yêu cầu Thẩm phán ra quyết định buộc UBND cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng không được chấp nhận vì không chứng minh được mình đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không thu thập được chứng cứ. Tuy pháp luật có quy định Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ (Điều 6) nhưng Điều 106 BLTTDS năm 2015 lại không quy định về trách nhiệm này của Thẩm phán việc hỗ trợ đương sự bằng cách ra quyết định buộc buộc cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ dẫn tới vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được thực hiện..

3.1.2.4 Hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quy định về lấy lời khai của đương sự, người làm chứng

Trên thực tế hiện nay ở nhiều địa phương, Thẩm phán thường giao cho Thư ký trực tiếp đi lấy lời khai của đương sự và người làm chứng. Về mặt pháp lý, việc để cho Thư ký trực tiếp lấy lời khai là không đúng với quy định của pháp luật. Về mặt thực tiễn, Thư ký chỉ có chức năng ghi lại lời khai của đương sự mà không có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng chưa được đào tạo bài bản, chuyên sâu vì vậy không có các kĩ năng trong việc xử lý các tình huống diễn ra trong quá trình lấy lời khai của đương sự. Có nhiều ý kiến cho rằng nếu chỉ có Thẩm phán mới có quyền lấy lời khai của đương sự, người làm chứng thì ở nhiều địa phương, Thẩm phán sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn bởi một Thẩm phán trong một tháng có thể giải quyết hàng chục vụ việc, có những vụ kiện có nhiều đương sự sẽ phải lấy lời khai của nhiều đương sự khác nhau, mỗi đương sự có thể phải lấy lời khai nhiều lần, hòa giải nhiều lần với mỗi vụ kiện… Với khối lượng công việc nhiều như vậy, thì Thẩm phán không thể giải quyết hết được công việc. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, tùy vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi chức danh mà BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Thẩm phán và Thư ký là khác nhau. Do vậy, Thẩm phán không thể khoán trắng cho Thư ký từ lấy lời khai, đối chất, xem xét, thẩm định tại chỗ… Nếu Thẩm phán chủ quan, không ý thức được địa vị pháp lý độc lập của mình, giao phó toàn bộ công việc nghiệp vụ cho Thư ký thì có thể dẫn tới những sai lầm hoặc không kiểm tra được các hoạt động tố tụng của Thư ký, không theo dõi được tiến độ giải quyết hồ sơ. Điển hình gần đây là các vụ việc Thư ký nhũng nhiễu dân, nhận hối lộ ảnh hưởng tới uy tín của Thâm phán như vụ Từ Ngọc Cương – Thư ký của TAND TP Biên Hòa, Trương Ngọc Hạnh – thư ký của TAND quận Bình Thạnh.v.v… Các đối tượng này đã bị truy tố và đưa ra xét xử. Vẫn biết rằng, nhiệm vụ của Thẩm phán là rất nặng nề, cùng với đó là áp lực lớn về khối lượng công việc, tuy nhiên thay vì giao trách nhiệm cho Thư ký Tòa án như một số Tòa án hiện vẫn đang làm để giảm tải công việc cho Thẩm phán thì Tòa án nhân dân tối cao nên bổ sung biên chế để tăng số lượng Thẩm phán, giảm bớt khối lượng công việc. Điều này vừa đảm bảo đúng tinh thần của BLTTDS năm 2015 vừa đảm bảo chất lượng, hiệu quả của công tác xét xử, đảm bảo được lợi ích của các bên đương sự.

3.1.2.5 Hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quy định về quyền ra quyết định đình chỉ đối với một phần yêu cầu

Theo nguyên tắc chung thì các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình và Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Do đó, nếu người khởi kiện rút một phần yêu cầu thì về nguyên tắc Tòa án sẽ không giải quyết yêu cầu này nữa. Thực tế, nhiều vụ án đương sự tranh chấp có nhiều yêu cầu nhưng sau khi Tòa án thụ lý đương sự rút một phần yêu cầu hoặc một phần tài sản thì Thẩm phán tiếp tục giải quyết phần còn tranh chấp mà không có quyền ra quyết định đình chỉ một phần do rút một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập.

Như vậy, chỉ khi có bản án thì phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập đã được rút tại giai đoạn chuẩn bị xét xử mới được quyết định. Việc không quy định cho Thẩm phán có quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ảnh hưởng tới quyền lợi của đương sự vì nếu có quyết định đình chỉ thì đương sự được nhận lại ngay phần tiền tạm ứng án phí tương ứng đối với yêu cầu đã rút. Đối với những vụ án có liên quan đến tài sản có giá trị lớn thì tiền tạm ứng án phí là một số tiền không hề nhỏ.

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 về căn cứ để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cho thấy có một số bất cập sau: Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Thứ nhất, về căn cứ nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế theo điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015.

  • Quy định này của BLTTDS 2015 đã gây ra nhiều cách hiểu khác nhau.

Ví dụ A kiện B đòi tiền B đã vay, sau khi Tòa án thụ lý vụ án thì B chết mà không có người thừa kế. Trường hợp BLTTDS 2015, nhiều Tòa án đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 217 để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Việc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp BLTTDS 2015 là không đúng. Bởi như đã phân tích ở trên, quyền và nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của đương sự đó đã chết thì không được chuyển giao cho người khác còn quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì vẫn được chuyển giao cho người khác để tiếp tục tham gia tố tụng. Do vậy, Điều 217 BLTTDS 2015 cần được quy định rõ ràng hơn để các Thẩm phán áp dụng một cách thống nhất.

Thứ hai, về căn cứ đã có quyết đinh của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

Theo quy định của Luật phá sản thì sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì Tòa án cho phép doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành thủ tục phục hồi kinh doanh. Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không phục hồi được hoạt động kinh doanh và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu thì Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản, khi đó thì vụ án dân sự chấm dứt hoàn toàn. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi được thì sau khi Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì vụ án dân sự đã bị đình chỉ trước đó lại được tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung, tức là thủ tục tố tụng chưa chấm dứt. BLTTDS 2015 quy định không đúng với bản chất của đình chỉ giải quyết vụ án là quá trình tố tụng bị dừng lại vĩnh viễn. Do BLTTDS năm 2015 chưa có một quy định cụ thể, rõ ràng nên khi áp dụng các quy định BLTTDS 2015, Thẩm phán hết sức lúng túng. Vì vậy cần có một sự hướng dẫn cụ thể để các Thẩm phán khi giải quyết các vụ án có các tình tiết tương tự có căn cứ rõ ràng để áp dụng một cách chính xác, đảm bảo tính khách quan của vụ án.

3.1.2.6 Hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quy định về quyền nhập, tách vụ án dân sự

Điều 42 BLTTDS năm 2015 đã quy định về việc nhập hoặc tách vụ án dân sự nhưng chỉ quy định chung chung là Tòa án có thể tiến hành nhập, tách vụ án dân sự mà không xác định cụ thể quyền hạn này thuộc về Thẩm phán. Điều này đã gây khó khăn cho Thẩm phán khi tiến hành nhập, tách vụ án dân sự. Mặt khác, BLTTDS năm 2015 cũng không có những quy định về nhập hoặc tách các việc dân sự với nhau. Ngoài ra, thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết vụ án dân sự cũng có những điểm khác nhau cơ bản. Vì vậy rất khó khăn cho Thẩm phán trong xác định loại hình thủ tục được áp dụng cũng như việc nhập, tách các vụ việc dân sự. Thực tiễn xét xử ở Tòa án cho thấy, trong một vụ việc có khi chỉ có một quan hệ pháp luật nhưng cũng có khi có nhiều quan hệ pháp luật cần phải giải quyết nhiều khi các quan hệ đó lại độc lập tương đối với nhau, ngược lại có trường hợp yêu cầu của các đương sự trong các vụ việc khác nhau lại có mỗi quan hệ mật thiết với nhau hoặc thuộc về mối quan hệ pháp luật hoặc một nhóm quan hệ nhất định; nếu giải quyết yêu cầu của các chủ thể đó trong cùng một vụ việc, quyền và lợi ích của các chủ thể sẽ được bảo vệ kịp thời,việc thi hành án sẽ thuận lợi hơn. Để làm được điều này thì chỉ có Thẩm phán là người trực tiếp giải quyết vụ việc mới nắm rõ nội dung, bản chất vụ việc. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

3.1.2.7 Nguyên tắc độc lập xét xử ở nhiều nơi, nhiều vụ án vẫn chưa được đảm bảo thực hiện

Thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của Thẩm phán tại Tòa án trong những năm qua cho thấy nhiều vụ việc dân sự Thẩm phán giải quyết chưa thực sự mang tính độc lập. Nhiều bản án, quyết định của Thẩm phán vẫn bị chi phối, tác động bởi chính quyền địa phương cùng cấp và lãnh đạo cấp trên trực tiếp. Tại nhiều Tòa án địa phương, tình trạng báo cáo án, thỉnh thị án vẫn còn tồn tại. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” tại Điều 12 BLTTDS năm 2015.

Nguyên tắc độc lập xét xử là nguyên tắc xương sống trong hoạt động xét xử của Thẩm phán. Sự độc lập không phải là một đặc quyền của Thẩm phán, vì lợi ích của Thẩm phán mà thực chất đó là công cụ để khẳng định vị trí tối cao của pháp luật, vì quyền lợi của người dân vì “Thẩm phán là người được giao bảo vệ quyền lợi cho họ” và sự cân bằng giữa các quyền lực nhà nước. Đảm bảo thẩm quyền, sự độc lập và vô tư của Thẩm phán là một điều mà mọi người đều mong muốn. Đây là một điều kiện tiên quyết của một Nhà nước pháp quyền và đảm bảo niềm tin của người dân vào sự vận hành của bộ máy nhà nước [24].

Tuy nhiên, còn có rất nhiều hạn chế, bất cập trong việc đảm bảo tính độc lập của Thẩm phán. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động xét xử của Tòa án thiếu khách quan, tồn tại từ các quy định về tổ chức thực hiện hoạt động xét xử đến nhận thức của những người tham gia tố tụng.

Thứ nhất, mối quan hệ của Chánh án và Thẩm phán theo quy định của BLTTDS năm 2015 ảnh hưởng đến sự độc lập của Thẩm phán.

Theo các quy định của Điều 47 khoản 1 điểm b và Điều 48 của BLTTDS năm 2015, Thẩm phán phải thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án hoặc Phó Chánh án. Như vậy, Thẩm phán trở thành người tiến hành tố tụng và làm nhiệm vụ xét xử vụ án nào đó trên cơ sở một quyết định (bằng văn bản hoặc bằng miệng) của một trong số cán bộ lãnh đạo Tòa án. Sau khi được phân công thụ lý hồ sơ vụ án thì quan hệ giữa Thẩm phán với lãnh đạo Tòa án chỉ là mối quan hệ hành chính chứ không phải là mối quan hệ tố tụng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mối quan hệ hành chính đó lại chi phối hoạt động của Thẩm phán, hạn chế hoặc làm mất đi tính độc lập của Thẩm phán khi tham gia xét xử. Trong một số trường hợp, vì nhiều lý do nên lãnh đạo Tòa án đã can thiệp sâu vào công việc xét xử của Thẩm phán hoặc thậm chí chỉ đạo những người tiến hành tố tụng xét xử theo ý chí của mình. Bên cạnh mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án, Phó Chánh án, còn tồn tại mối quan hệ hành chính giữa Thẩm phán với các Chánh toà, Phó Chánh toà chuyên trách. Quan hệ hành chính giữa Thẩm phán, Hội thẩm với những người này cũng ảnh hưởng nhất định đến tính độc lập xét xử, tuy mức độ ảnh hưởng có phần hạn chế hơn.

Mặt khác, sự độc lập khi xét xử của Thẩm phán còn bị chi phối bởi những người thuộc cơ quan, tổ chức khác là thành viên của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán. Căn cứ Điều 70 Khoản 1 Luật Tổ chức Tòa án năm 2014, Chánh án là thành viên của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán, ngoài ra còn có 01 đại diện lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Ban chấp hành Trung ương Hội luật gia Việt Nam. Xét về hình thức thì bản thân các quy định này không hạn chế hay gây ảnh hưởng đến sự độc lập của Thẩm phán khi xét xử. Tuy nhiên, trong thực tiễn, quy định trên ít nhiều gây ra mối quan hệ phụ thuộc giữa Thẩm phán với các thành viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán, nhất là đến thời điểm xem xét bổ nhiệm hoặc tái bổ nhiệm. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Thẩm phán có trách nhiệm phải đảm bảo hoàn thành việc giải quyết vụ việc dân sự khi được Chánh án phân công. Thẩm phán không thể tùy tiện trong việc nhận hay từ chối việc giải quyết vụ việc đã được Chánh án phân công. Nếu Thẩm phán từ chối việc giải quyết vụ việc được phân công mà không có căn cứ theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 BLTTDS năm 2015 sẽ bị coi là không hoàn thành trách nhiệm của một công chức đối với Nhà nước, dẫn đến hoạt động của Tòa án nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung bị ngừng trệ. Khi có đủ căn cứ từ chối quy định tại Điều 52, Điều 53 BLTTDS năm 2015, Thẩm phán có quyền và trách nhiệm từ chối tham gia tố tụng, nếu không bản án, quyết định của Thẩm phán sẽ bị coi là vi phạm pháp luật.

Thẩm phán thường phải chịu sự tác động của thẩm quyền quản lý hành chính và Thẩm quyền TTDS từ phía Chánh án Tòa án của họ. Đồng thời, khi mà tính độc lập tự quyết, tự chịu trách nhiệm của Thẩm phán không được bảo đảm đầy đủ trên thực tế thì việc xác định trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán về án oan, sai sẽ trở nên khó khăn và phức tạp hơn. Do đó, việc phân định thẩm quyền quản lý hành chính với thẩm quyền tố tụng càng rõ ràng, chính xác bao nhiêu thì hoạt động TTDS của Thẩm phán càng có hiệu quả bấy nhiêu. Ngoài ra, hệ thống Tòa án hiện nay được tổ chức theo đơn vị hành chính – lãnh thổ. Điều này dẫn đến tình trạng là Thẩm phán cũng bị chi phối bởi các ý kiến của lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền địa phương nơi Tòa án đặt trụ sở hoặc ý kiến dư luận.

Thứ hai, ngoài quy định của pháp luật về mối quan hệ của Chánh án và Thẩm phán thì còn có bất cập khác ảnh hưởng đến sự độc lập của Thẩm phán:

Chẳng hạn, theo quy định hiện hành, kinh phí hoạt động của hệ thống Tòa án phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước khác, đồng thời phụ thuộc vào Tòa án cấp trên. Tình trạng này khiến cho các Tòa án khó tránh khỏi sự tác động của các cơ quan nhà nước khác cũng như khó duy trì sự độc lập xét xử với Tòa án cấp trên. Bên cạnh đó, dù Hiến pháp không quy định mối quan hệ hành chính giữa Tòa án các cấp là mối quan hệ tố tụng nhưng trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng Tòa án cấp trên quản lý tòa cấp dưới cả về tổ chức, tài chính lẫn chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Nhiều Thẩm phán còn lệ thuộc vào quá trình xác minh, những thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không quan tâm tới những ý kiến trình bày tại phiên tòa. Do đó quyết định của Thẩm phán còn mang tính áp đặt dẫn đến tình trạng xét xử sai, trái pháp luật…Chế độ lương đối với Thẩm phán các cấp không có gì khác biệt với chế độ lương của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính sự nghiệp khác. Quy định này không phù hợp với đặc thù của nghề xét xử.

Thực tế nêu trên ảnh hưởng không nhỏ tới sự độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán hiện nay. Phạm vi độc lập của Thẩm phán cần được hiểu là sự độc lập không chỉ ở tại phiên tòa xét xử mà đó là sự độc lập trong suốt quá trình tố tụng trước, trong và sau phiên tòa. Trong thực tiễn, nguyên tắc này thường hay bị vi phạm dẫn đến việc giải quyết các vụ việc không đúng pháp luật. Một số biểu hiện cụ thể của việc vi phạm nguyên tắc này là tình trạng giải quyết vụ việc dân sự này là tình trạng báo cáo án, duyệt án, thỉnh thị án vẫn còn tồn tại ở các Tòa án.

3.1.2.8 Vấn đề phân công Thẩm phán ngẫu nhiên

Điều 197 BLTTDS năm 2015 quy định về việc phân công Thẩm phán giải quyết vụ án: “1. Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên.” Tuy nhiên, quy định này của pháp luật TTDS mới chỉ mang tính chất khái quát, chưa cụ thể. BLTTDS chưa có quy định chi tiết về việc phân công Thẩm phán với phương thức nào để đảm bảo nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên.

Hiện nay, có nhiều Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố đã áp dụng mô hình tạm gọi là mô hình cải cách hành chính tư pháp “một cửa” hoặc mô hình Tổ Hành chính tư pháp. Tổ Hành chính tư pháp giúp việc cho Chánh án trong việc tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện, đơn khiếu nại và thụ lý các loại án thuộc thẩm quyền; tham mưu lập danh sách các loại vụ án trình Chánh án phân công Thẩm phán giải quyết. Hoạt động này được thực hiện theo quy trình khép kín (một cửa), người dân, cơ quan, tổ chức đến liên hệ công tác qua Tổ Hành chính tư pháp sẽ có cán bộ hướng dẫn mọi thủ tục liên quan đến hoạt động của Tòa án. Tổ Hành chính tư pháp xây dựng bảng thống kê theo dõi để tham mưu cho Chánh án về việc phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc. Sau khi Chánh án phân công và ký vào danh sách phân công án, Tổ Hành chính tư pháp sẽ chuyển hồ sơ vụ án đến Thẩm phán được phân công giải quyết. Thực tế, việc phân công Thẩm phán giải quyết, xét xử các loại án không đồng đều, có những Thẩm phán được phân công quá nhiều hồ sơ, hồ sơ phức tạp, có Thẩm phán phân công ít hồ sơ… tạo tâm lý lo lắng, không yên tâm đối với Thẩm phán. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Điều 47, Điều 197 BLTTDS năm 2015 chỉ xác định thẩm quyền phân công án và trách nhiệm của Thẩm phán khi được phân công xét xử vụ án nhưng không quy định về quy trình phân công án. Việc phân công Thẩm phán thực hiện công tác xét xử, giải quyết vụ án phụ thuộc vào các quy chế, lề lối làm việc của từng Tòa án, do Chánh án của Tòa án đó quyết định. Có tòa phân công án dựa trên các quy trình rõ ràng song có tòa lại phân công án theo quyết định của lãnh đạo Tòa án. Thậm chí có Tòa án, Thẩm phán có thể đề xuất được xét xử một số vụ án nhất định [36]. Việc phân công theo sự chủ động của lãnh đạo Tòa án cũng bao gồm hai phương thức: (i) lãnh đạo Tòa án chủ động phân công án dựa trên các tiêu chí do Tòa án tự xây dựng; hoặc (ii) phân công án dựa hoàn toàn vào quyết định riêng của lãnh đạo Tòa án.

Trên thực tế, các Thẩm phán ở những Toà chuyên trách đa phần đều được phân công những vụ án không thuộc lĩnh vực chuyên trách của tòa mình [37]. Có ý kiến cho rằng pháp luật đã không giới hạn việc xét xử của Thẩm phán trong một số loại vụ án cụ thể. Thẩm phán hầu như có thể xét xử tất cả các loại án. Bởi lẽ, theo quy trình tiếp nhận, thụ lý và giải quyết vụ án của một số Tòa án, toàn bộ trách nhiệm được giao cho Thẩm phán. Sau khi Thẩm phán tiếp nhận vụ án và đề xuất với lãnh đạo Tòa án về việc thụ lý vụ án, Thẩm phán đó sẽ được phân công xét xử.

Đồng thời, tác động từ lãnh đạo Tòa án vào các vụ án có thể bắt đầu từ việc phân công. Cụ thể là lựa chọn Thẩm phán xét xử không theo các tiêu chuẩn về chuyên môn hay khối lượng công việc, mà theo những tính toán cá nhân hoặc theo tác động từ bên ngoài. Điều này thực sự tác động vào tính độc lập xét xử và đặc biệt gây lo ngại về tình trạng “chạy án”.

Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là làm sao để các Thẩm phán thực sự độc lập, khách quan, không bị lệ thuộc vào ý chí chủ quan của một ai khi giải quyết các vụ việc dân sự bởi việc phân công Thẩm phán theo quy định của pháp luật hiện hành vẫn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Chánh án Tòa án các cấp là chưa thuyết phục, chưa khách quan.

Như vậy, việc phân công Thẩm phán tại các Tòa án nhân dân các cấp vẫn chưa đảm bảo được tính ngẫu nhiên theo yêu cầu. Tòa án cần hướng dẫn thống nhất về phân công án trên cơ sở lựa chọn, kết hợp hài hoà giữa việc Chánh án phân công và phân công thông qua các tiêu chí rõ ràng, cụ thể. Định hướng chung của trong việc xây dựng mô hình phân công án là luôn phải bảo đảm tính tính ngẫu nhiên, công bằng và độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử.

3.1.2.9 Những vướng mắc về địa vị pháp lý của Thẩm phán thông qua thủ tục tố tụng rút gọn

Để thể chế hóa đường lối cải cách tư pháp về áp dụng thủ tục rút gọn đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về việc Tòa án xét xử tập thể, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn, BLTTDS năm 2015 có quy định một chương riêng về giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn.

Theo quy định tại b khoản 3 Điều 191 BLTTDS năm 2015, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể quyết định tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 BLTTDS năm 2015. Pháp luật hiện hành không có quy định về việc Thẩm phán có phải thông báo cho đương sự biết về việc Tòa án thụ lý vụ án và sẽ giải quyết vụ kiện theo thủ tục rút gọn không. Tuy nhiên, với tư cách là người tiến hành tố tụng, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì việc quy định về nhiệm vụ này là cần thiết. Theo quy định tại khoản 1 Điều 318 và Điều 319 BLTTDS năm 2015, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và đương sự có quyền khiếu nại quyết định đó trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn.

2.1.2.10 Hiện tượng sai sót, vi phạm của Thẩm phán khi tiến hành tố tụng dân sự vẫn còn tồn tại

Trong xu thế toàn cầu hóa, hiện đại hóa đất nước nên những năm vừa qua các tranh chấp dân sự ngày một gia tăng. Việc để các vụ việc dân sự quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật bên cạnh các nguyên nhân khách quan như: số lượng vụ việc tăng đột biến hoặc do tình hình mưa lũ gây khó khăn cho quá trình hoàn tất hồ sơ vụ án… thì cũng có nguyên nhân chủ quan là do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án trách nhiệm chưa cao, lãnh đạo đơn vị thiếu kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết công việc của các Thẩm phán. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Theo Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án thì số lượng các vụ việc dân sự bị xét lại còn cao, trong đó tỷ lệ án bị hủy, bị sửa do Thẩm phán có nhiều sai sót trong quá trình tố tụng vẫn còn tồn tại. Nguyên nhân là do khi giải quyết vụ việc dân sự, Thẩm phán không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tình trạng Thẩm phán thu thập chứng cứ không đầy đủ, không chính xác, vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng, đưa thiếu người tham gia tố tụng vẫn còn diễn ra.

Vẫn còn tình trạng một số Thẩm phán thiếu tinh thần trách nhiệm, sa sút về phẩm chất, thiếu ý thức rèn luyện trong công tác, thoái hóa biến chất nên đã không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm pháp luật hình sự. Do việc quản lý cán bộ của một số đơn vị trong ngành chưa chặt chẽ; thanh tra, kiểm tra nội bộ để phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm chưa kịp thời hoặc chưa nghiêm nên còn xảy ra một số trường hợp cán bộ, Thẩm phán Tòa án địa phương vi phạm đạo đức, kỷ luật công vụ, thậm chí là vi phạm pháp luật. Thực trạng này ảnh hưởng đến niềm tin của công dân vào nền tư pháp, ảnh hưởng đến những Thẩm phán liêm chính, tận tâm vì công việc.

  • Có thể thấy, các hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:

Thứ nhất: Đội ngũ Thẩm phán thiếu về số lượng, một số Thẩm phán còn yếu về chất lượng nên dẫn tới công tác xét xử của Thẩm phán có nhiều hạn chế.

Mặc dù việc bổ sung biên chế cán bộ, Thẩm phán TAND các cấp tuy đã có nhiều cố gắng nhưng tình trạng thiếu biên chế ở một số Tòa án địa phương (miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, các tỉnh phía Nam) vẫn chưa được giải quyết triệt để. Nguyên nhân của thực trạng này là do việc đào tạo nguồn Thẩm phán không theo kịp yêu cầu đối với một số địa phương có số lượng án rất lớn, gia tăng mạnh. Đối với các địa phương thuộc khu vực miền núi hoặc vùng sâu, vùng sa, việc thiếu Thẩm phán là do gặp nhiều khó khăn trong việc tuyển dụng cán bộ và tạo nguồn Thẩm phán.

Một số Thẩm phán chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc, nhất là chưa đáp ứng được đòi hỏi của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế. Năng lực và kinh nghiệm thực tế trong công tác của đội ngũ Thẩm phán còn chưa đồng đều. Thống kê cho thấy số lượng Thẩm phán có trình độ trên đại học hoặc có trình độ cử nhân luật chính quy chỉ chiếm tỉ lệ 40%, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn và các tỉnh đồng bằng. Còn các tỉnh miền núi phía Bắc và các tỉnh ở Tây Nguyên, mặc dù đội ngũ Thẩm phán về cơ bản đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn Thẩm phán nhưng phần đông đều trưởng thành từ hoạt động thực tiễn và được đào tạo theo phương thức tại chức vừa học, vừa làm nên có những hạn chế nhất định về kiến thức pháp luật mới, về ngoại ngữ cũng như khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác. Số Thẩm phán có trình độ sau đại học hoặc đào tạo, bồi dưỡng, tu nghiệp ở nước ngoài còn ít. Kiến thức về pháp luật quốc tế, trình độ và khả năng ngoại ngữ, tin học đối với Thẩm phán các cấp còn yếu. Đây là những nguyên nhân dẫn đến việc một số Thẩm phán còn bị động, lúng túng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có tính chất phức tạp hoặc có yếu tố nước ngoài. Đánh giá về công tác bổ nhiệm Thẩm phán cho thấy, có khoảng trên dưới 10% Thẩm phán năng lực công tác còn yếu; số án bị hủy, bị sửa nghiêm trọng do lỗi chủ quan trên mức trung bình của toàn ngành. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Về việc thực hiện quy trình, thủ tục bổ nhiệm một số địa phương lúng túng khi tiến hành các bước chuẩn bị nhân sự, thủ tục tuyển chọn Thẩm phán; việc phối hợp với cấp Ủy, Hội đồng nhân dân địa phương một số nơi còn chưa chặt chẽ. Việc bổ nhiệm lại Thẩm phán khi hết nhiệm kì có trường hợp chưa kịp thời, làm ảnh hưởng tới hoạt động của Tòa án ở địa phương.

Thứ hai, cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử của Thẩm phán còn hạn chế và chế độ lương bổng cho Thẩm phán còn chưa hợp lý:

Theo thống kê của ngành Tòa án cho thấy nhiều TAND cấp huyện mới được tăng thẩm quyền xét xử sơ thẩm về dân sự nhưng do điều kiện vật chất rất khó khăn, trụ sở xuống cấp nghiêm trọng. Trang thiết bị, điều kiện làm việc của các Tòa án nhìn chung chưa đáp ứng đủ yêu cầu của công việc. Điều này ảnh hưởng tới hoạt động xét xử của Thẩm phán. Mặt khác, chế độ lương, phụ cấp chưa hợp lý cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực ở một số Thẩm phán. Thẩm phán chỉ có thể yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình khi mức lương của họ đủ để đảm bảo cuộc sống ở mức khá trong xã hội. Tuy nhiên, trừ một số thành phố lớn thì nhìn chung đời sống của đội ngũ Thẩm phán nước ta còn gặp nhiều khó khăn. Do vậy, những năm gần đây đã có hiện tượng Thẩm phán xin chuyển sang công tác khác. Nhiều sinh viên tốt nghiệp Đại học Luật loại khá, giỏi không tha thiết xin vào làm việc trong ngành Tòa án, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng sa.

Với những mặt còn tồn tại trên đã phần nào giảm bớt lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp và ít nhiều đã thể hiện sự non kém về chuyên môn nghiệp vụ, sa sút về đạo đức ở một số cán bộ Tòa án trong đó có Thẩm phán. Do đó, vấn đề cần đặt ra là cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử của Tòa án nói chung và trách nhiệm của Thẩm phán nói riêng bằng cách quy định cụ thể và hợp lý hơn về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS đồng thời cần phải có sự quan tâm hơn nữa trong công tác bồi dưỡng, quản lý Thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình.

3.1.2.11 Về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Pháp luật Việt Nam rất coi trọng việc hòa giải để giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn, bảo đảm giữ được mối quan hệ hài hòa giữa các bên tranh chấp. BLTTDS năm 2015 vẫn giữ thủ tục hòa giải trong tố tụng dân sự nhưng đã phát triển thành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (được quy định trong các điều 208, 209, 210, 211). Thủ tục phiên họp có xu hướng giống với phiên tòa sơ bộ trong pháp luật Liên bang Nga và tố tụng sơ đẳng hay “tố tụng chuẩn bị” trong pháp luật Nhật Bản [6]. Về trình tự, nội dung của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được quy định tại Điều 210 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, so với quy định của pháp luật tố tụng dân sự Liên bang Nga thì BLTTDS năm 2015 của Việt Nam không có quy định về thẩm quyền của Thẩm phán trong việc kết luận về giá trị của chứng cứ tại phiên họp như quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga theo Khoản 1 Điều 152 BLTTDS Nga [2,tr.129]. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu tham khảo để hướng dẫn bổ sung trong pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam theo hướng trao thẩm quyền đánh giá sơ bộ về giá trị chứng minh của chứng cứ.

3.2. Một số kiến nghị về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

3.2.1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự

Từ việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS, để Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, khách quan, đúng pháp luật ngoài việc sửa đổi một số điều luật như ở Chương 2 đã phân tích, BLTTDS năm 2015 cần có những hướng dẫn, bổ sung theo hướng nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

3.2.1.1 Vấn đề phân công Thẩm phán ngẫu nhiên

Trong hoạt động phân công, tổ chức xét xử, pháp luật TTDS cần đưa ra các cụ thể hơn nữa về nguyên tắc phân công án để các Tòa án địa phương có thể xây dựng quy chế phân công án phù hợp với điều kiện về số lượng án, chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán của Tòa án mình. Các nguyên tắc này cần phải có định hướng chung là luôn bảo đảm tính độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử. Thiết nghĩ, để đảm bảo được địa vị pháp lý độc lập của Thẩm phán, có thể áp dụng phương thức phân công Thẩm phán quay vòng để thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự: Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Hình thức quay vòng có thể thực hiện dựa trên số thụ lý vụ án và số thứ tự của các Thẩm phán được xếp theo vần (a,b,c…), có tính đến số lượng án hiện đang giải quyết của từng Thẩm phán. Đối với các vụ án phức tạp, án trọng điểm, án đặc biệt nghiêm trọng, các vụ án liên quan tới an ninh quốc gia hoặc các vụ án đã bị Tòa án cấp trên hủy, sửa giao xét xử lại, thì việc phân công Thẩm phán sẽ do Chánh án quyết định trên cơ sở các yếu tố: tính chuyên sâu về chuyên môn, khối lượng án đang giải quyết, năng lực, điều kiện pháp lý (thuộc trường hợp phải từ chối hoặc đã tiến hành tố tụng theo quy định tại Điều 52, Điều 53 BLTTDS năm 2015. Trong đó, đối với các vụ án bị Tòa án cấp trên hủy án và giao xét xử lại thì Tổ Hành chính tư pháp có bản đề xuất phân công kèm theo Bản báo cáo những người đã tiến hành tố tụng trong vụ án này để Chánh án xem xét quyết định.

Với quy trình phân công quay vòng, việc phân công các Thẩm phán giải quyết án sẽ bảo đảm được tính khách quan và ngẫu nhiên vì đã tách bạch hai quá trình thụ lý vụ án và giải quyết vụ án độc lập và không thiên vị trong việc phân công Thẩm phán. Hoạt động lên lịch xét xử tập trung theo khối đã tránh được tình trạng trùng lịch, nên các Hội đồng xét xử, Thẩm phán chủ động được kế hoạch công tác trong tháng. Hệ thống theo dõi, quản lý án trên phần mềm kết hợp với việc theo dõi qua hệ thống sổ sách theo cơ chế một cửa luôn đảm bảo chặt chẽ, tránh tình trạng mất cân đối, không đồng đều, vi phạm tố tụng do trùng lặp người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Từ đó, hạn chế sự ảnh hưởng trong quan hệ hành chính, khi phân hồ sơ nên theo phương pháp quay vòng ngẫu nhiên, đảm bảo công bằng giữa người tiến hành tố tụng của các vụ án khác nhau, từ đó sẽ giảm bớt được mối quan hệ lệ thuộc giữa Thẩm phán với Chánh án Tòa án. Ngoài ra, việc phân công Thẩm phán giải quyết, xét xử các loại án theo số thứ tự quay vòng ngẫu nhiên sẽ hạn chế được việc phân công số lượng án không đồng đều cho các Thẩm phán. Qua đó, kiểm soát được án quá hạn, án kéo dài để lâu không giải quyết, án bị huỷ, huỷ lại nhiều lần của từng Thẩm phán.

3.2.1.2 Quyền ra quyết định nhập hoặc tách vụ việc dân sự

Qua phân tích bất cập về nhập tách vụ việc dân sự và tham khảo pháp luật TTDS một số nước như BLTTDS Liên Bang Nga, BLTTDS cộng hòa dân chủ Đức cho thấy, Thẩm phán có quyền chủ động ra các quyết định nhập hoặc tách vụ việc dân sự khi cần thiết. Các quy định về nhập tách vụ án dân sự của BLTTDS 2015 vẫn kế thừa toàn bộ các quy định của BLTTDS sửa đổi 2011 trước đây. Thiết nghĩ, khi giải quyết vụ việc dân sự, Thẩm phán là người hiểu rõ nhất vụ án, nên thẩm quyền nhập hoặc tách vụ án do cùng một Thẩm phán thụ lý thì nên trao quyền cho Thẩm phán. Đối với trường hợp cần nhập vụ án do các Thẩm phán khác nhau thụ lý thì sẽ trao quyền cho Chánh án Tòa án. Điều này giúp Thẩm phán chủ động giải quyết vụ việc nhanh chóng, thuận lợi, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong việc ra quyết định nhập hay tách vụ việc dân sự. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

3.2.1.3 Về nhiệm vụ thông báo thụ lý theo thủ tục rút gọn

Như đã phân tích ở trên, pháp luật hiện hành không có quy định về việc Thẩm phán có phải thông báo cho đương sự biết về việc Tòa án thụ lý vụ án và sẽ giải quyết vụ kiện theo thủ tục rút gọn không. Để thống nhất về nhận thức và áp dụng trong thực tiễn, cần có sự hướng dẫn cụ thể theo hướng ngay sau khi thụ lý để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án phải thông báo cho đương sự biết về việc thụ lý giải quyết theo thủ tục rút gọn để đương sự thực hiện quyền khiếu nại ngay từ thời điểm thụ lý. Nếu sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn mà việc khiếu nại mới được thực hiện sẽ gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Việc thông báo có thể kết hợp trong nội dung giấy báo thụ lý hoặc bằng một thông báo riêng,… miễn là bảo đảm sự thuận lợi và đơn giản nhất có thể. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 mới chỉ quy định việc khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn tại Điều 319, mà chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại của đương sự đối với việc thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn.

3.2.1.4 Hướng dẫn, bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định việc thay đổi Thẩm phán tại phiên tòa theo thủ tục rút gọn hoặc việc dân sự chỉ do một Thẩm phán tiến hành

Như đã phân tích thì BLTTDS năm 2015 thiếu những quy định về thẩm quyền quyết định việc thay đổi Thẩm phán tại phiên tòa theo thủ tục rút gọn hoặc việc dân sự chỉ do một Thẩm phán tiến hành. Đây là vấn đề cần được bổ sung trong các văn bản hướng dẫn áp dụng. Do vậy, chúng tôi kiến nghị có hướng dẫn về vấn đề này theo hướng việc thay đổi Thẩm phán do Chánh án Tòa án quyết định. Trường hợp Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền quyết định việc thay đổi như sau: Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định; Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh đó quyết định. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

3.2.1.5 Hạn chế quyền trả đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Thẩm phán vì lý do không đáp ứng yêu cầu về hình thức của văn bản

Như vậy, pháp luật hiện hành đã quy định về quyền của Thẩm phán trong việc buộc đương sự phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự nếu không có đầy đủ các nội dung được quy định tại Điều 189 và Điều 362 của BLTTDS 2015. Quy định về quyền hạn này không phù hợp với vai trò của Thẩm phán trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Do vậy, chúng tôi kiến nghị hướng dẫn áp dụng pháp luật theo hướng Thẩm phán không có quyền trả đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự trong trường hợp vụ việc đủ điều kiện khởi kiện, yêu cầu nhưng đơn khởi kiện, đơn yêu cầu không đáp ứng yêu cầu về hình thức của văn bản hoặc quy định theo hướng nếu Thẩm phán trả đơn vì lý do đương sự không sửa đổi, bổ sung đơn trong thời hạn luật định thì đương sự có quyền khởi kiện lại hoặc tiếp tục yêu cầu lại và ngày khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trước đó.

3.2.1.6 Vấn đề áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Để đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn, về lâu dài trên cơ sở các quy định này các nhà lập pháp Việt Nam có thể phát triển, bổ sung theo hướng cho phép Thẩm phán trong trường hợp khẩn cấp có thể quyết định áp dụng ngay lập tức các biện pháp khẩn cấp nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đương sự trước khi khởi kiện vụ án. Sau khi áp dụng biện pháp khẩn cấp, theo yêu cầu của đương sự, nếu xét thấy vụ việc cần được xét xử ngay Thẩm phán có thể quyết định đưa vụ việc ra xét xử để xem xét về nội dung tranh chấp trong một thời hạn ngắn.

Như đã phân tích ở trên, thời hạn 48 giờ để Thẩm phán xem xét quyết định có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không đối với các yêu cầu về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp như kê biên tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, phong toả tài khoản là không phù hợp. Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần phải có những hướng dẫn áp dụng theo hướng trong trường hợp khẩn cấp thì Thẩm phán có thể ngay lập tức quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết.

Để khuyến khích Thẩm phán thực hiện được quyền tư pháp trong bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì cần có sự điều chỉnh pháp luật theo hướng miễn trách nhiệm bồi hoàn của Thẩm phán đối với Nhà nước trong trường hợp Thẩm phán tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có tính nhân đạo (từ Khoản 1 đến Khoản 5 Điều 114 BLTTDS năm 2015) để bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tạm ứng trước tiền bồi thường, tiền công, tiền lương; tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

Ngoài ra, để giảm áp lực cho Thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cần có hướng dẫn theo hướng chỉ nên quy định Thẩm phán phải bồi hoàn cho Nhà nước đối với những trường hợp Thẩm phán có lỗi cố ý hoặc sự việc cho thấy Thẩm phán rõ ràng bất cẩn một cách thái quá.

3.2.1.7 Cụ thể hóa trách nhiệm của Thẩm phán trong việc áp dụng các biện pháp hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ, tài liệu.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ. Hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 chỉ quy định rất chung chung là “Tòa án có trách nhiệm” mà không quy định “Thẩm phán có trách nhiệm”. Do vậy, quy định này chưa gắn được trách nhiệm của Thẩm phán trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Do vậy, cần quy định cụ thể về trách nhiệm của Thẩm phán trong việc áp dụng các biện pháp hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ, tài liệu từ Điều 102 đến Điều 106 BLTTDS năm 2015. Chẳng hạn, quy định Thẩm phán có trách nhiệm hỗ trợ đương sự ra quyết định buộc buộc cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

3.2.1.8 Hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền của Thẩm phán trong công tác giám định

Điều 103 BLTTDS năm 2015 chỉ quy định chung là Tòa án có quyền yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết; quyết định trưng cầu giám định bổ sung mà không quy định rõ quyền này thuộc về Chánh án Tòa án hay Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc nên việc áp dụng trên thực tế không có sự thống nhất. Do vậy, chúng tôi kiến nghị để Thẩm phán có thể chủ động hơn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, hạn chế sự can thiệp của Chánh án Tòa án vào hoạt động tố tụng của Thẩm phán thì cần có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này theo hướng Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc sẽ có thẩm quyền quyết định việc yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết; quyết định trưng cầu giám định bổ sung.

3.2.1.9 Hướng dẫn thêm về quyền của Thẩm phán trong việc từ chối chấp nhận chứng cứ, tài liệu giao nộp quá hạn

Theo quy định của BLTTDS 2015, trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán đã yêu cầu giao nộp nhưng không chứng minh được lý do chính đáng của việc chậm giao nộp chứng cứ, tài liệu thì Thẩm phán có quyền không ghi nhận và xem xét các chứng cứ, tài liệu này. Quyền hạn này của Thẩm phán dường như không thực sự phù hợp với vai trò bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Do vậy, cần có hướng dẫn theo hướng Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn chấp nhận những chứng cứ, tài liệu tuy được đương sự giao nộp muộn nhưng có ý nghĩa quyết định tới việc giải quyết quyền lợi hợp pháp của các đương sự trong vụ việc.

3.2.1.10 Nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Pháp luật TTDS cần có sự thay đổi về trình tự, nội dung của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được quy định tại Điều 210 BLTTDS năm 2015. Quy định này cần thay đổi theo hướng:

Một là, về trình tự phiên họp cần có sự kết hợp, gắn kết giữa các thủ tục: đương sự trình bày yêu cầu và phạm vi khởi kiện; việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện; yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết… nhằm linh hoạt trong quá trình áp dụng pháp luật, cũng như tránh việc lặp lại gây sự nhàm chán, kéo dài thời gian không cần thiết của phiên họp.

Hai là, pháp luật cần quy định cụ thể hơn nữa nội dung của khoản 3 Điều 210 để Thẩm phán có thể xác định rõ những yêu cầu nào của đương sự sẽ được xem xét, giải quyết. Bên cạnh đó, có thể hướng dẫn áp dụng pháp luật theo hướng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải Thẩm phán phải kết luận về giá trị của chứng cứ tại phiên họp theo kinh nghiệp lập pháp trong Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga. Quy định này sẽ góp phần nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

3.2.1.11 Trao quyền chủ động cho Thẩm phán trong việc điều hành tranh luận và nghị án

Như đã phân tích, theo quy định tại BLTTDS năm 2015 thì Thẩm phán chỉ có 01 phiên họp để kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và 01 phiên xét xử chính thức để ra bản án trong nhiều trường hợp là không phù hợp. Do vậy, chúng tôi kiến nghị có hướng dẫn theo hướng cho phép Thẩm phán chủ tọa tùy theo trường hợp có thể quyết định việc nghị án và tuyên án ngay hoặc có thể tiến hành nhiều phiên tranh luận trước khi nghị án để quyết định.

3.2.1.12 Hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền của Thẩm phán trong việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự

Theo phân tích ở trên, BLTTDS năm 2015 đã có quy định quyền hạn của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong việc ra quyết định buộc người vi phạm rời khỏi phòng xử án. Tuy nhiên, nhiều hành vi vi phạm khác hiện nay chưa được pháp luật quy định cụ thể là thuộc thẩm quyền xử lý của Chánh án Tòa án hay Thẩm phán. Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần có những quy định cụ thể về thẩm quyền xử lý của Thẩm phán đối với những hành vi sau đây: Hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng (Điều 489); hành vi cố ý không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án (Điều 490); hành vi xúc phạm, xâm hại đến sự tôn nghiêm, uy tín của Tòa án, danh dự, nhân phẩm, sức khoẻ của người tiến hành tố tụng hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án (Điều 492); hành vi cản trở việc cấp, giao, nhận, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án (Điều 493); hành vi cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia tố tụng theo yêu cầu của Tòa án (Điều 494); hành vi không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc đưa tin sai sự thật nhằm cản trở việc giải quyết vụ án của Tòa án (Điều 495); hành vi can thiệp vào việc giải quyết vụ việc dân sự (Điều 496).

3.2.2. Kiến nghị thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Ngoài việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán thì các giải pháp thực hiện pháp luật về từ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đến việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cơ chế quản lý Thẩm phán cũng như các chế độ đãi ngộ…cần được tiến hành một cách đồng bộ và nghiêm túc.

3.2.2.1 Về việc thực hiện tốt nguyên tắc Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Để khắc phục tình trạng duyệt án, bản án Chánh án, Phó chánh án không được can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán và HĐXX mà chỉ theo dõi, đôn đốc Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật về trình tự tố tụng và tiến độ giải quyết vụ án. Thêm vào đó, trong quá trình thực thi nhiệm vụ, Thẩm phán thường phải chịu sự tác động kép của thẩm quyền quản lý hành chính và Thẩm quyền TTDS từ phía người quản lý là Chánh án Tòa án. Do đó, việc phân định thẩm quyền quản lý hành chính với thẩm quyền tố tụng càng rõ ràng, chính xác bao nhiêu thì hoạt động TTDS của Thẩm phán càng có hiệu quả bấy nhiêu. Đồng thời, khi tính độc lập tự quyết, tự chịu trách nhiệm của Thẩm phán không được đảm bảo đầy đủ trên thực tế thì việc xác định trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán về án oan, sai sẽ trở lên khó khăn và phức tạp hơn.

Ngoài ra, pháp luật cũng cần quy định các nguyên tắc hoặc mô hình hoạt động của HĐXX khi giải quyết vụ án để các Thẩm phán tuân thủ đúng các yêu cầu, quy định của các luật tố tụng nhưng được bảo đảm về tính độc lập khi giải quyết vụ án, phát huy tốt vai trò „xét xử tập thể‟ của HĐXX. Những yếu tố này cùng với yếu tố công khai hoạt động xét xử và bản án cũng sẽ tác động tới chất lượng xét xử của Tòa án. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

3.2.2.2 Bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ theo chuyên ngành xét xử; có kế hoạch tạo nguồn để đảm bảo đủ số lượng Thẩm phán theo biên chế, đặc biệt là đối với Tòa án các huyện vùng sâu, vùng sa

Trình độ, năng lực chuyên môn là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho Thẩm phán có thể tự tin độc lập xét xử và đưa ra phán quyết đúng đắn. Để nâng cao trình độ, năng lực của Thẩm phán, một mặt cần chăm lo bồi dưỡng Thẩm phán đương nhiệm theo hướng thường xuyên cập nhật các văn bản pháp luật, kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, hội nhập quốc tế, bồi dưỡng kỹ năng xét xử và kiến thức thực tiễn. Mặt khác, cần chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn để bổ nhiệm Thẩm phán. Đào tạo Thẩm phán phải theo hướng ưu tiên bồi dưỡng kỹ năng mà không thiên về đào tạo theo bằng cấp, học vị.

Để giảm áp lực lớn về khối lượng công việc cho Thẩm phán thì Tòa án nhân dân tối cao cần khảo sát nhu cầu công việc và số lượng Thẩm phán để bổ sung biên chế, tăng số lượng Thẩm phán để đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp trong nhân dân, đảm bảo chất lượng, hiệu quả của công tác xét xử, đảm bảo được lợi ích của các bên đương sự.

3.2.2.3 Tăng cường cơ sở vật chất, có chế độ khen thưởng, chế độ đãi ngộ, kỷ luật đối với Thẩm phán tương xứng với vị trí, vai trò của họ để Thẩm phán có thể toàn tâm, toàn ý với công việc

Nhà nước cần ưu tiên đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho Tòa án nhằm tạo điều kiện cho các Thẩm phán thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Mặt khác, để đảm bảo cho Thẩm phán chuyên tâm thực hiện tốt công việc xét xử, độc lập, công minh trong việc đưa ra phán quyết, một vấn đề rất quan trọng là phải có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với Thẩm phán. Chế độ sử dụng và đãi ngộ cần đảm bảo cho Thẩm phán không phải lo vấn đề mưu sinh, đảm bảo để họ và gia đình có thể sống đầy đủ bằng chính đồng lương, không bị phụ thuộc vào những tác động vật chất từ phía các cá nhân, tổ chức liên quan đến công việc của họ. Đồng thời, cần thiết lập một chế độ giám sát chặt chẽ để kịp thời phát hiện, cảnh báo, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh những Thẩm phán hành động không xứng đáng với chức danh cao quý của mình.

3.2.2.4 Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của HTND và các cán bộ khác của Tòa án, đặc biệt là trong TTDS

Một trong các mục tiêu của cải cách tư pháp hiện nay là đổi mới hoạt động tố tụng của Tòa án. Hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng của những người tiến hành tố tụng bao gồm: Thẩm phán, HTND, Thư ký Tòa án… Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Sự tham gia của HTND và HĐXX sơ thẩm nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, đúng thực tế khách quan của vụ việc, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.Mạc dù, không phải là người chuyên xét xử nhưng khi tham gia vào HĐXX, HTND có quyền hạn rất lớn, ngang quyền với Thẩm phán. Trên thực tế có những trường hợp bản án được hai HTND thông qua hoàn toàn trái ngược với ý kiến của Thẩm phán và đương nhiên kết quả của bản án phụ thuộc vào hoạt động xét xử của HTND.

Căn cứ vào vai trò quan trọng của HTND, khi để cử HTND phải lựa chọn những người có đủ khả năng, kiến thức và kinh nghiệm xã hội cần thiết để tham gia xét xử. Họ cần được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ ở mức độ rất cơ bản để có thể tham gia hiệu quả vào hoạt động xét xử. Bên cạnh đó cơ chế nhiêm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của HTND trong TTDS phải được thực hiện trong thực tế, đảm bảo sự độc lập giữa Thẩm phán và HTND.

Đối với Thư ký Tòa án cũng như các cán bộ khác của Tòa án, Luật tổ chức TAND và Bộ luật TTDS cùng với các văn bản pháp luật tố tụng đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của họ. Vai trò của họ có ảnh hưởng nhất định tới kết quả xét xử, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng. Dù nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thư ký và các cán bộ Tòa án khác đã được pháp luật TTDS quy định nhưng mới chỉ ở mức độ chung chung, do vậy trên thực tế họ không có sự độc lập mà chỉ đơn thuần là giúp đỡ Thẩm phán trong việc giải quyết các vụ việc dân sự.

3.2.2.5 Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong quá trình tiến hành TTDS, hoàn thiện chế định bổ trợ tư pháp và đẩy mạnh hơn công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ, nhân dân

Hoạt động xét xử của ngành Tòa án có ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh, chính trị của từng địa phương nên sự phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan hữu quan và chính quyền cơ sở trong quá trình tiến hành TTDS là rất quan trọng. Nhiều vụ việc dân sự nhờ có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Tòa án với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan hữu quan, chính quyền cơ sở đã giúp cho Thẩm phán giải quyết vụ việc được dứt điểm, nhanh chóng.

Bên cạnh đó, việc hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp như: Luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch… sẽ góp phần bảo đảm chất lượng xét xử của Tòa án. Nếu hoạt động bổ trợ tư pháp kém hiệu quả, sẽ dẫn đến sự sai lệch trong kết quả xét xử, Thẩm phán dễ sai lầm, đưa ra phán quyết không đúng pháp luật. Vì vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp phải hoàn thiện pháp luật về luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch… theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản và thuận tiện cho người dân.

Ngoài ra, chúng ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ, nhân dân bởi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không những góp phần hình thành ở người dân thái độ, ý thức chấp hành pháp luật mà còn giúp họ biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính mình. Trong lĩnh vực TTDS, khi ý thức pháp luật của các đương sự được nâng cao thì họ sẽ tích cực, chủ động hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh, giảm bớt gánh nặng cho Thẩm phán trong việc xác minh, thu thập chứng cứ, từ đó Thẩm phán có điều kiện thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Mặt khác, khi ý thức pháp luật của người dân được nâng lên sẽ góp phần phát huy được vai trò giám sát của họ đối với hoạt động xét xử của Thẩm phán, khiến Thẩm phán phải có trách nhiệm hơn trước những phán quyết của mình. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

3.2.2.6 Nâng cao tính công bằng trong bổ nhiệm Thẩm phán

Có nhiều biện pháp khác nhau để thúc đẩy quy trình bổ nhiệm Thẩm phán công bằng dựa trên năng lực chuyên môn, tuy nhiên, hầu như chưa có sự thống nhất về biện pháp tốt nhất để đảm bảo quy trình này không chịu sự ảnh hưởng bất hợp lý trong khi vẫn đảm bảo tính trách nhiệm. Nhất thiết cần tiến tới lựa chọn Thẩm phán thông qua thi tuyển khi còn trẻ và kinh nhiệm chuyên môn trước đó chỉ đóng một vai trò nhỏ. Đôi với lực lượng Thẩm phán cần được tổ chức theo mô hình chứ không nên có thứ bậc, theo đó việc thăng chức được dựa trên các tiêu chí kết hợp giữa thâm niên và năng lực chuyên môn. Ngoài ra, chúng ta có thể thực hiện lựa chọn Thẩm phán từ một tổ chức của các luật sư có thâm niên hành nghề.

Đóng vai trò trung tâm của quá trình bổ nhiệm nên là một cơ quan bổ nhiệm hoạt động độc lập với các cơ quan hành pháp và lập pháp và các thành viên của cơ quan này được bổ nhiệm theo một quy trình khách quan và minh bạch. Tất cả các giai đoạn của quy trình bổ nhiệm từ khâu lựa chọn đến khâu đề cử và bổ nhiệm cần dựa trên một tiêu chí rõ ràng và khách quan nhằm xác định trình độ chuyên môn của ứng viên và đưa ra (nhiều nhất có thể) các tiêu chuẩn về tính liêm chính cũng như trình độ chuyên môn của Thẩm phán. Việc tuyển dụng Thẩm phán nên mở rộng một phần cho các chuyên gia nhiều kinh nhiệm. Bằng cách này sẽ bổ sung thêm những ứng viên nhiều kinh nghiệm cho lực lượng Thẩm phán và việc đánh giá ứng viên sẽ được cân nhắc công việc trước đó cũng như kiến thức lý thuyết của ứng viên.

Đồng thời, đổi mới quy trình bổ nhiệm Thẩm phán theo hướng rút ngắn thủ tục, giảm sự can thiệp của các cơ quan chính quyền địa phương. Việc tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán cần phải công khai, minh bạch, nghiêm ngặt, khắt khe và cạnh tranh. Nhiệm kỳ năm năm đối với Thẩm phán các cấp hiện nay là quá ngắn. Vì vậy, để Thẩm phán yên tâm công tác, tận dụng được tối đa kinh nghiệm xét xử và dám thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp, thì cần đổi mới cơ chế bổ nhiệm theo hướng Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời, hoặc kéo dài thêm nhiệm kỳ của Thẩm phán.

Cần có một quy trình khách quan và minh bạch trong bổ nhiệm Thẩm phán các cấp. Quy trình này đảm bảo chỉ những Thẩm phán có năng lực chuyên môn tốt nhất mới được lựa chọn và họ không cảm thấy mắc nợ một chính trị gia hay một Thẩm phán cấp cao cụ thể nào trong việc bổ nhiệm họ. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Tiêu chuẩn chọn lựa phải rõ ràng và được công khai rộng rãi cho phép ứng viên, người tuyển chọn và các đối tượng khác có thể hiểu rõ tiêu chí trong quy trình bổ nhiệm Thẩm phán thì ứng viên cần có đủ năng lực và sự liêm chính.

Nên có sự tham vấn của tổ chức xã hội dân sự, bao gồm các hiệp hội nghề nghiệp có liên quan đến vấn đề tư pháp, trình độ chuyên môn của từng ứng viên cụ thể.

3.2.2.7 Nâng cao điều kiện làm việc của Thẩm phán

Nhiệm kỳ của Thẩm phán nên được đảm bảo trong khoảng thời gian là 10 năm và không nên quy định việc bổ nhiệm lại do nhiệm kỳ của Thẩm phán có xu hướng thay đổi việc ra bản án và cách ứng xử để có thể bổ nhiệm lại.

Mức lương của Thẩm phán cần tương xứng với chức vụ, kinh nghiệm, hiệu quả làm việc và sự phát triển nghề nghiệp trong toàn bộ nhiệm kỳ của họ và cần có mức lương họp lý cho Thẩm phán khi về hưu.

Các nhà nước cần cung cấp đủ nguồn lực để đảm bảo Thẩm phán không bị bạo và đe dọa, cũng như đảm bảo an toàn cho phòng xử án.

Pháp luật cần bảo đảm mức lương và điều kiện làm việc của ngành tư pháp để các cơ quan này không chịu ảnh hưởng của cơ quan hành pháp và lập pháp muốn xử phạt các Thẩm phán độc lập hoặc khen thưởng các Thẩm phán xét xử có lợi cho chính phủ.

Các tiêu chuẩn khách quan để quyết định việc thay thế Thẩm phán tại các Tòa án cụ thể cần đảm bảo rằng các Thẩm phán độc lập hay không dễ tham nhũng sẽ không bị xử lý bằng hình thức thuyên chuyển công tác đến vùng sâu vùng xa. Không nên bổ nhiệm Thẩm phán đến làm việc tại các Tòa án ở khu vực mà họ có các mối quan hệ gần gũi và gắn bó với người làm chính trị.

Phân công xét xử vụ án phải dựa trên các tiêu chí rõ ràng khách quan, phải được các Thẩm phán quản lý, được đánh giá thường xuyên và trách nhiệm phân công vụ án cho các Thẩm phán có quan điểm ủng hộ chính phủ hay doanh nghiệp.

Thẩm phán phải được tiếp cận dễ dàng với các văn bản pháp luật, các vụ án và quy trình thủ tục của Tòa án và phải được đào tạo cơ bản trước hoặc sau khi bổ nhiệm. Đồng thời tiếp tục được bồi dưỡng trong thời gian công tác. Việc đào tạo này bao gồm đào tạo về kỹ năng phân tích pháp lý, kỹ năng nêu lý do ra bản án, kỹ năng viết bản án, và quản lý vụ việc cũng như chương trình bồi dưỡng cụ thể về đạo đức và phòng, chống tham nhũng.

3.2.2.8 Vấn đề bảo vệ an toàn cho Thẩm phán Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

An toàn của Thẩm phán phải được bảo đảm. Do tính nhạy cảm của công việc xét xử, không hiếm khi Thẩm phán bị đe dọa về tính mạng, sức khỏe và cả nhân phẩm. Trong trường hợp đó không những bản thân Thẩm phán bị nguy hại và ảnh hưởng tới sự độc lập mà ngay cả tính tôn nghiêm của Tòa án và pháp luật cũng bị coi thường. Chính vì vậy, vấn đề bảo vệ an ninh cho Thẩm phán luôn cần được coi trọng.

Vấn đề an toàn của Thẩm phán khiến người ta nhớ đến vụ án xảy ra ở Tòa án huyện Thuận Thành – Bắc Ninh. Ngay sau khi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tuyên án, các đương sự và thân nhân đã xông lên tấn công HĐXX, cào cấu rách cả áo Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, cướp hồ sơ rồi chuyền tay nhau tẩu tán.

Theo tờ báo An ninh thủ đô số ra tháng 8 năm 2008, đầu tháng 7-2008, TANDTC đã đưa ra xét xử phúc thẩm vụ tên La Văn Bình 4 lần đặt mìn gây nổ vào nhà ông Vũ Ngọc Hòa – Thẩm phán TAND huyện Sơn Động, Bắc Giang. Bình là bị đơn trong vụ tranh chấp đất đai do Thẩm phán Hòa xét xử. Cho rằng Thẩm phán thiên lệch nên Bình rắp tâm trả thù. Có lần, Bình làm nổ hai quả mìn ở hai góc nhà ông Hòa. Lần khác, Bình chọn đúng điểm ông Bình kê giường ngủ để ốp mìn. May thay, phía trong nhà có một tủ sắt kê sát tường nên tiếng nổ kinh hoàng làm toang một bức tường, nhưng không có thương vong. Lần cuối cùng, người nhà ông Hòa thấy chó sủa và mùi khét nên kịp thời phát hiện một dây cháy chậm nối với quả mìn đã hô hoán và gia đình kịp ném quả mìn vào hố vôi, một lát sau mìn nổ…Khi công an đến khám nhà Bình đã tìm ra thuốc nổ, lựu đạn, kíp mìn. Nếu vụ việc không được ngăn chặn thì không biết hậu quả mà Thẩm phán Hòa và gia đình phải gánh chịu sẽ như thế nào.

Hay kể tới trường hợp người nhà bị cáo Chu Thế Tâm tụ tập hò hét trước trụ sở TAND TP Hà Nội. Bị cáo Tâm, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Phong Phú, bị tuyên phạt tù chung thân về tội lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Người nhà bị cáo Tâm hò hét, đe dọa “sẽ cho Thẩm phán một trận nhớ đời”, “để không còn đường về nhà”. Không có ai bảo vệ, cuối cùng vị Thẩm phán nọ phải nhờ người đưa về qua cổng sau. Ngày hôm sau Thẩm phán này cũng không dám ra khỏi phòng và không dám về nhà nghỉ trưa như thường lệ.

Bởi vậy, yêu cầu cấp bách hiện nay là cần nghiên cứu áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn cho Thẩm phán, bao gồm cả các biện pháp an ninh, các biện pháp pháp lý, các biện pháp xã hội.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, quốc tế các tranh chấp dân sự ở nước ta ngày một gia tăng về số lượng, tính chất các vụ việc dân sự cũng ngày một đa dạng và phức tạp hơn. Trước tình hình trên, vị trí, vai trò của Thẩm phán trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự đặc biệt được quan tâm, chú ý. Nhờ có sự chỉ đạo kịp thời về đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước việc giải quyết các vụ việc dân sự luôn chiếm tỉ lệ cao, chất lượng giải quyết được bảo đảm, tỷ lệ án bị sửa, hủy do nguyên nhân chủ quan của Thẩm phán đã có chiều hướng suy giảm.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được ngành Tòa án còn nhiều tồn tại, đó là tỷ lệ vụ việc dân sự để quá hạn luật định vẫn còn cao; tỷ lệ án bị sửa, hủy không do lỗi chủ quan của Thẩm phán vẫn còn nhiều; cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động xét xử; một số địa phương còn thiếu Thẩm phán; một số Thẩm phán còn yếu về chuyên môn, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống… Để khắc phục và giải quyết những tồn tại trên chúng ta cần có nhiều giải pháp được thực hiện một cách đồng bộ trên nhiều lĩnh vực mà trọng tâm chính là giải pháp nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán, đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tốt hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Ngoài việc Thẩm phán phải thực hiện đúng các quy định của BLTTDS thì chúng ta cũng cần sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về bổ nhiệm, chế độ đối với Thẩm phán, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán theo hướng nâng cao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự kết hợp với nhiều biện pháp khác nhằm giúp cho Thẩm phán giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, khách quan, đúng pháp luật đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đương sự.

KẾT LUẬN CHUNG

Luận văn đã phân tích, luận giải để cố gắng làm rõ những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán như vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán; cơ sở của việc xây dựng các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán. Kết quả nghiên cứu đã phần nào tái hiện lại quá trình hình thành và phát triển các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Việt Nam. Với vị trí và tầm ảnh hưởng đặc biệt quan trọng, nên ngay từ khi mới thành lập Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong TTDS.

Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 và BLTTDS năm 2015 là các văn bản quy phạm pháp luật đã tiếp tục ghi nhận và quy định rõ Thẩm phán là người tiến hành tố tụng và quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình đồng thời nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán khi giải quyết vụ việc dân sự.

Luận văn đã phân tích làm rõ được thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Việt Nam. Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, Luận văn đã đề xuất được một số kiến nghị có giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện và thực hiện các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự.

Dù đã có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện, Luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định nên rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến để đề tài này được hoàn thiện hơn trong các công trình khoa học tiếp theo. Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464