Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Địa vị pháp lý của Thẩm phán với tư cách là người tiến hành tố tụng độc lập, thực hiện chức năng xét xử và giải quyết việc dân sự nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được thể hiện trong các quy định về sự vô tư, khách quan, độc lập và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự (2.1). Ngoài ra, địa vị pháp lý này còn được thể hiện trong các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng dân sự (2.2).
2.1. Các quy định về sự vô tư, khách quan, độc lập và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
Thẩm phán là một chức danh tư pháp quan trọng không thể thiếu trong tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và trong tổ chức Tòa án nói riêng. Ở nước ta, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, BLTTDS 2015 đã khẳng định Thẩm phán là một chức danh tư pháp. Điều này đã đáp ứng được yêu cầu của hoạt động xét xử, bởi chỉ khi nào thực sự coi Thẩm phán là một nghề, có vị trí, chức danh độc lập trong xã hội thì Thẩm phán mới có đủ cơ sở pháp lý để làm việc và cống hiến hết mình cho sự nghiệp.
Thẩm phán là người trực tiếp áp dụng pháp luật, là nhân tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của ngành Tòa án. Hoạt động xét xử của Thẩm phán là một hoạt động đặc thù, bằng hoạt động này, việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được thực hiện. Vì vậy, việc tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán đòi hỏi cần phải được trú trọng đảm bảo tìm được người đủ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức để có thể đáp ứng tốt vai trò của người Thẩm phán. Khoản 1 Điều 65 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử”. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm về những phán quyết và sự áp dụng các quy định pháp luật của mình. Phán quyết đúng đắn của Thẩm phán góp phần tạo dựng niềm tin của dân chúng và đối tác kinh doanh với Việt Nam vào sự liêm chính của hệ thống tư pháp và Nhà nước.
2.1.1 Các quy định bảo đảm sự vô tư, khách quan của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
- Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
Thẩm phán là người tiến hành tố tụng chủ yếu thực hiện vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Thẩm phán là người tiến hành tố tụng, thực hiện chức năng xét xử và giải quyết các vụ việc dân sự với vai trò bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vị trí, chức năng và vai trò này đòi hỏi Thẩm phán phải là chủ thể thực sự vô tư, khách quan, công bằng khi tiến hành tố tụng. Chính vì vậy, Điều 16 BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan của Thẩm phán trong tố tụng dân sự. Theo đó, Thẩm phán không được tiến hành tố tụng nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Lần đầu tiên trong pháp luật Việt Nam sự phụ thuộc của Thẩm phán đối với Chánh án Tòa án đã được quan tâm. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 BLTTDS năm 2015, quyền lực của Chánh án Tòa án đối với Thầm phán được phân công tiến hành tố tụng đã phần nào được giảm bớt. Cụ thể là Chánh án Tòa án phân công người tiến hành tố tụng phải bảo đảm để họ vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tuy nhiên, Điều luật này mới chỉ dừng ở mức độ, Chánh án phải bảo đảm Thẩm phán được phân công vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà chưa quy định cụ thể cách thức phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc của Chánh án phải bảo đảm theo quy tắc bốc thăm hoặc ngẫu nhiên để giảm bớt ảnh hưởng của Chánh án đối với Thẩm phán khi tiến hành tố tụng.
- Căn cứ thay đổi Thẩm phán trong tố tụng dân sự Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Để bảo đảm cho Thẩm phán có thể thực hiện được vị trí, chức năng và vai trò của mình một cách vô tư, khách quan, công bằng khi giải quyết vụ việc dân sự, nhà lập pháp Việt Nam đã xây dựng các căn cứ thay đổi người tiến hành tố tụng nói chung và những căn cứ riêng biệt áp dụng đối với việc thay đổi Thẩm phán tại Điều 52 và Điều 53 BLTTDS năm 2015. Theo các quy định trên thì Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
- Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự;
- Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ việc đó;
- Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau; trong trường hợp này, chỉ có một người được tiến hành tố tụng;
Thẩm phán đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
Thẩm phán đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
- Thủ tục và thẩm quyền thay đổi Thẩm phán trong tố tụng dân sự
Để bảo đảm cho Thẩm phán có thể thực hiện được vị trí, chức năng và vai trò của mình một cách vô tư, khách quan, công bằng khi giải quyết vụ việc dân sự, các quy định về thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng đã được ghi nhận tại Điều 55, Điều 56 BLTTDS năm 2015.
Theo quy định tại Điều 55 BLTTDS năm 2015 về thủ tục từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thì việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán Tòa án trước khi mở phiên tòa, phiên họp phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán tại phiên tòa, phiên họp phải được ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp.
Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS năm 2015 thì trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán do Chánh án Tòa án quyết định. Trường hợp Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền quyết định việc thay đổi như sau: Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định; Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh đó quyết định; Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao thì do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
Tại phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số. Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa, phiên họp. Chánh án Tòa án quyết định cử Thẩm phán Tòa án thay thế người bị thay đổi trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hoãn phiên tòa, phiên họp.
Việc nghiên cứu các quy định của BLTTDS năm 2015 cho thấy Bộ luật này đã không có những quy định về thẩm quyền quyết định việc thay đổi Thẩm phán tại phiên tòa theo thủ tục rút gọn hoặc việc dân sự chỉ do một Thẩm phán tiến hành. Đây là vấn đề cần được bổ sung trong các văn bản hướng dẫn áp dụng. Thiết nghĩ, trong những trường hợp này cần vận dụng theo hướng việc thay đổi Thẩm phán do Chánh án Tòa án quyết định. Trường hợp Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền quyết định việc thay đổi như sau: Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định; Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh đó quyết định.
2.1.2 Các quy định về sự độc lập của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
2.1.2.1 Nguyên tắc độc lập trong tố tụng dân sự
Để Thẩm phán có thể thực hiện chức năng xét xử và giải quyết các vụ việc dân sự để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Thẩm phán cần được ghi nhận là một chức danh tư pháp độc lập khi tiến hành tố tụng. Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã được quy định trong Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 và Điều 12 BLTTDS năm 2015.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013 thì “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Quy định này của Hiến pháp tiếp tục được cụ thể hóa tại Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Theo đó, Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào. Cá nhân, cơ quan tổ chức có hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 12 BLTTDS năm 2015 tiếp tục ghi nhận và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp trong nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Theo quy định này thì Thẩm phán phải xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, việc giải quyết việc dân sự của Thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào.
Các quy định về nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 và Điều 12 BLTTDS năm 2015 là cơ sở pháp lý quan trọng thể hiện địa vị pháp lý độc lập của Thẩm phán trong tố tụng dân sự. Các quy định này bảo đảm cho Thẩm phán có thể tiến hành tố tụng dân sự một cách độc lập hơn, ít chịu ảnh hưởng hơn bởi tác động tiêu cực từ những chủ thể có quyền lực. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả để Thẩm phán có thể thực hiện được sứ mệnh của mình là các quy định trên sẽ được thực hiện như thế nào trong thực tiễn tố tụng.
2.1.2.2 Thẩm phán là một chức danh tư pháp độc lập có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng với các chức danh tư pháp khác
Nghiên cứu các quy định tại Điều 47 BLTTDS năm 2015 cho thấy Điều luật này đã có những quy định điều chỉnh về mối quan hệ giữa Chánh án Tòa án và Thẩm phán. Theo đó, Chánh án Tòa án có những quyền hạn nhất định đối với Thẩm phán nhưng không được trực tiếp can thiệp vào công việc của Thẩm phán. Tuy nhiên, Chánh án Tòa án có quyền giải quyết các khiếu nại về quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật. Theo Điều luật này thì Chánh án Tòa án quyền tổ chức công tác giải quyết vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án; bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; quyết định phân công Thẩm phán thụ lý vụ việc dân sự, Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự bảo đảm đúng nguyên tắc vô tư, khách quan quy định tại khoản 2 Điều 16 của BLTTDS năm 2015; quyết định thay đổi Thẩm phán trước khi mở phiên tòa. Trường hợp bản án, quyết định do Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử của Tòa án ban hành đã có hiệu lực pháp luật mà có sai lầm thì Chánh án Tòa án đã ra bản án, quyết định đó cũng không có quyền kháng nghị mà chỉ có thể kiến nghị Chánh án Tòa án cấp trên thực hiện việc kháng nghị. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì Thẩm phán được phân công có địa vị pháp độc lập với Chánh án Tòa án. Mối quan hệ giữa Chánh án Tòa án và Thẩm phán chủ yếu là mối quan hệ hành chính trong phân công công việc, giải quyềt khiếu nại đối với Thẩm phán còn trong tố tụng dân sự thì hoạt động của Thẩm phán là độc lập, pháp luật hiện hành không có quy định nào về việc Thẩm phán phải “báo cáo án” hay xin ý kiến chỉ đạo của Chánh án về đường lối giải quyết vụ việc được phân công. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Điều 49 BLTTDS năm 2015 đã có những quy định điều chỉnh về mối quan hệ giữa Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán. Theo đó, Hội thẩm nhân dân được Chánh án Tòa án phân công có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án; đề nghị Thẩm phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền; tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự; tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên, Thẩm phán hoàn toàn độc lập với Chánh án và Hội thẩm nhân dân trong việc quyết định các vấn đề về tố tụng và nội dung tranh chấp nảy sinh trước khi mở phiên tòa xét xử. Tại phiên tòa, Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa có quyền dẫn dắt và điều hành việc tranh tụng.
Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án được điều chỉnh bởi Điều 50 và 51 BLTTDS năm 2015. Theo đó, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công có quyền thẩm tra hồ sơ vụ việc dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; kết luận về việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra, đề xuất phương án giải quyết vụ việc dân sự với Chánh án Tòa án; thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc dân sự và hỗ trợ Thẩm phán thực hiện hoạt động tố. Thư ký Tòa án được Chánh án Tòa án phân công thực hiện những thao tác nghiệp vụ theo quy định nhằm trợ giúp Thẩm phán, Hội Thẩm nhân dân trong quá trình tố tụng như chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa; phổ biến nội quy phiên tòa; kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa; ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, biên bản lấy lời khai của người tham gia tố tụng.
2.1.3 Các quy định về trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
Địa vị pháp lý của Thẩm phán với tư cách là người tiến hành tố tụng độc lập, thực hiện chức năng xét xử và giải quyết việc dân sự nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được thể hiện không những trong các quy định về sự vô tư, khách quan, độc lập mà còn thể hiện trong các quy định về trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự. Vấn đề này được quy định tại Điều 13 BLTTDS năm 2015. Để thực hiện được chức năng, vai trò của mình, Thẩm phán được pháp luật trao cho những quyền hạn và nhiệm vụ nhất định. Tuy nhiên, để Thẩm phán có thể thực hiện tốt chức năng, vai trò và nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong tố tụng dân sự, nhà lập pháp Việt Nam đã có những ràng buộc nhất định đối với Thẩm phán khi tiến hành các hoạt động tố tụng dân sự. Sự ràng buộc này là cần thiết để gắn trách nhiệm của Thẩm phán đối với các hành vi tố tụng do họ thực hiện, chống lại những khuynh hướng tiêu cực làm ảnh hưởng đến quyền cơ bản của đương sự, ảnh hưởng đến niềm tin của công dân vào cơ quan tư pháp cũng như làm tổn hại đến quyền lợi của họ. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Điều 13 BLTTDS năm 2015 đòi hỏi Thẩm phán phải tôn trọng Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Thẩm phán phải ý thức sâu sắc về vai trò và tinh thần trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cũng như những người tiến hành tố tụng khác, Thẩm phán phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trường hợp Thầm phán có hành vi trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Thẩm phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thì Tòa án nơi Thẩm phán có hành vi trái pháp luật đó công tác phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
BLTTDS 2015 cũng đã quy định rõ về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại quyết định, hành vi trong TTDS của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự vì có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Các quy định này nhằm bảo đảm việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong tố tụng, hạn chế và đẩy lùi các hành vi vi phạm, tự mình đưa ra những thủ tục không cần thiết hoặc gây khó dễ cho đương sự làm cho quá trình giải quyết vụ việc bị kéo dài hơn.
2.2. Các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Địa vị pháp lý của Thẩm phán với tư cách là người tiến hành tố tụng độc lập, thực hiện chức năng xét xử và giải quyết việc dân sự nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân không những được thể hiện trong các quy định về sự vô tư, khách quan, độc lập và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự mà còn thể hiện trong các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng dân sự.
2.2.1 Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý vụ việc
- Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
Theo quy định tại Điều 191 và Điều 363 BLTTDS năm 2015, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự thì Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự. Thông thường, Chánh án Tòa án chỉ dừng ở việc phân công Thẩm phán và không trực tiếp xử lý hồ sơ vụ việc. Việc xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tài liệu, chứng cứ kèm theo là do Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công thực hiện.
Theo pháp luật hiện hành thì trong thời hạn 05 ngày làm việc đối với đơn khởi kiện và 7 ngày đối với đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và có một trong các quyết định sau: Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự; Tiến hành thủ tục thụ lý vụ việc theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ việc có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn; chuyển đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện, yêu cầu nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự cho người khởi kiện, yêu cầu nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền của Tòa án.
- Trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Về nguyên tắc nếu việc khởi kiện hoặc yêu cầu giải quyết việc dân sự không đúng quy định của pháp luật thì Thẩm phán với tư cách là người tiến hành tố tụng được Tòa án phân công có quyền trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, để bảo đảm việc trả đơn của Thẩm phán không xâm phạm tới quyền khởi kiện, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự của đương sự, BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể về các trường hợp mà Thẩm phán có quyền trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của đương sự tại Điều 192 và Điều 364 BLTTDS năm 2015.
Thẩm phán chỉ được trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;
Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
Hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;
- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
- Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán.
- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.
Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.
Tương tự như việc trả lại đơn khởi kiện, Điều 364 BLTTDS năm 2015 quy định Thẩm phán chỉ được trả lại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự trong các trường hợp sau đây: Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
- Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
- Sự việc người yêu cầu yêu cầu đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết;
- Việc dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
- Người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu trong thời hạn quy định;
- Người yêu cầu không nộp lệ phí trong thời hạn quy định, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí hoặc chậm nộp vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
- Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện
Theo quy định tại Điều 193 BLTTDS 2015 thì trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung theo quy định tại khoản 4 Điều 189 của BLTTDS 2015 thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định nhưng không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày. Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 189 của BLTTDS 2015 thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.
Việc sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu được thực hiện theo Điều 363 BLTTDS năm 2015. Theo đó, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết đơn yêu cầu xem xét đơn và tài liệu kèm theo. Trường hợp đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội dung theo quy định thì Thẩm phán yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Thủ tục sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu được thực hiện theo các quy định về sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Trường hợp người yêu cầu thực hiện đầy đủ yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý việc dân sự. Hết thời hạn quy định mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ.
Như vậy, pháp luật hiện hành đã quy định về quyền của Thẩm phán trong việc buộc đương sự phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự nếu không có đầy đủ các nội dung được quy định tại Điều 189 và Điều 362 của BLTTDS 2015 và nếu đương sự không thực hiện sửa đổi trong thời hạn thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ. Quy định về quyền hạn này thể hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán là cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, dường như quy định này không phù hợp với vai trò của Thẩm phán trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Thiết nghĩ, sẽ hợp lý hơn nếu quy định theo hướng Thẩm phán không có quyền trả đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự trong trường hợp vụ việc đủ điều kiện khởi kiện, yêu cầu nhưng đơn khởi kiện, đơn yêu cầu không đáp ứng yêu cầu về hình thức của văn bản hoặc quy định theo hướng nếu Thẩm phán trả đơn vì lý do đương sự không sửa đổi, bổ sung đơn trong thời hạn luật định thì đương sự có quyền khởi kiện lại hoặc tiếp tục yêu cầu lại và ngày khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trước đó. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
- Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện
Về nguyên tắc văn bản trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Thẩm phán xét đơn có thể bị đương sự khiếu nại hoặc Viện kiểm sát kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu xem xét lại. Theo quy định tại Điều 194 và Điều 364 BLTTDS năm 2015 thì việc xem xét khiếu nại, kiến nghị này do một Thẩm phán khác được Chánh án Tòa án phân công xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự có khiếu nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây:
- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp;
- Nhận lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý.
- Thụ lý vụ việc dân sự
Theo quy định tại Điều 195 BLTTDS năm 2015 thì sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
- Thông báo về việc thụ lý vụ án
Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS năm 2015 thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.
Như vậy, các quy định của BLTTDS 2015 về xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý vụ việc dân sự là khá hợp lý, giúp cho Thẩm phán chủ động hơn trong công tác xử lý đơn kịp thời, nhanh chóng, phát huy được tính chủ động trong giải quyết công việc của Thẩm phán. Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ việc dân sự tạo tiền đề để giải quyết vụ việc nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ việc dân sự. Các kỹ năng từ tiếp nhận đơn, kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện, yêu cầu giải quyết việc dân sự, xác định các điều kiện để thụ lý vụ việc. BLTTDS năm 2015 đã quy định khá đầy đủ về thời hạn, thủ tục tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; thụ lý vụ việc và các trường hợp Thẩm phán có quyền trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự. Các quy định của BLTTDS năm 2015 về vấn đề này là cơ sở pháp lý để Thẩm phán có thể thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc tiếp nhận và thụ lý vụ việc.
2.2.2 Lập hồ sơ vụ việc dân sự Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Hồ sơ vụ án là tài liệu rất cần thiết, không thể thiếu khi Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự. Với việc lưu giữ những giấy tờ tài liệu liên quan đến vụ án, hồ sơ vụ án vừa thể hiện các hành vi, ý chí của các đương sự và những người tham gia TTDS, vừa thể hiện các hoạt động tác nghiệp của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự. Bên cạnh đó, hồ sơ vụ án dân sự còn là minh chứng thuyết phục nhất cho sự đúng đắn, cho ý thức tuân thủ pháp luật của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự. Do đó, xây dựng hồ sơ vụ việc dân sự là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Điều 48 và Điều 198 BLTTDS năm 2015 quy định, khi lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như sau:
- Thứ nhất, tiến hành lập hồ sơ vụ án.
Hồ sơ vụ án bao gồm đơn và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác, tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, VKS về việc giải quyết vụ án dân sự.
- Thứ hai, yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Để vụ việc dân sự được thụ lý giải quyết phải có một trong những điều kiện là có tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. Sau khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán phải kiểm tra các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn. Thẩm phán phải nghiên cứu từ đơn khởi kiện để xác định các giấy tờ, tài liệu cần thiết làm căn cứ để giải quyết vụ án. Sau khi các bên đương sự đã giao nộp chứng cứ thì Thẩm phán phải kiểm tra các tài liệu mà các bên đương sự cung cấp xem các tài liệu, chứng cứ đã đủ cơ sở để giải quyết hay chưa, nếu chưa đủ thì Thẩm phán có quyền yêu cầu đương sự bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 96 BLTTDS năm 2015. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, nếu đương sự chưa nộp biên bản hòa giải không thành của UBND xã, thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung Biên bản hòa giải tại UBND xã để làm căn cứ giải quyết yêu cầu ai là người có quyền sử dụng đất. Trong vụ án ly hôn, Tòa án phải giải quyết yêu cầu xin ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng. Nếu đương sự chưa nộp cho Tòa án giấy tờ chứng minh tài sản chung của vợ chồng, thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung để làm căn cứ để giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng.
- Thứ ba: Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 97 BLTTDS năm 2015.
Hoạt động thu thập chứng cứ có thể được tiến hành bởi nhiều loại chủ thể trong đó có Thẩm phán. Bên cạnh, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự, người đưa ra yêu cầu thì Thẩm phán cũng có nhiệm vụ, quyền hạn thu thập chứng cứ. Thông qua đó Thẩm phán sẽ hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh. Trách nhiệm của người Thẩm phán là phải đảm bảo trong hồ sơ vụ án có đầy đủ chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án. Pháp luật hiện hành quy định Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ, tài liệu và chỉ chủ động thu thập chứng cứ, tài liệu trong những trường hợp được pháp luật quy định (Điều 6 và Điều 97 BLTTDS năm 2015). Quy định này đã nhấn mạnh vai trò của Thẩm phán trong việc lập hồ sơ vụ việc, đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc được chính xác, khách quan và nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn lập hồ sơ. Thẩm phán không chỉ xem xét giải quyết vụ việc trên cơ sở chứng cứ, tài liệu đương sự cung cấp mà còn phải làm rõ mọi tình tiết trong vụ việc bằng việc thực hiện nhiệm vụ xác minh, thu thập chứng cứ. Để lập hồ sơ vụ việc Thẩm phán cần căn cứ các quy định cụ thể từ Điều 98 đến Điều 106 BLTTDS năm 2015 để tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật.
2.2.3 Tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, tổ chức phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc dân sự
- Quy định về việc thu thập, xác minh chứng cứ: Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Về nguyên tắc thì Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công xem xét, thụ lý vụ việc và Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ việc dân sự có quyền và nghĩa vụ ghi nhận các chứng cứ, tài liệu này để đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự. Điều 96 BLTTDS năm 2015 đã quy định khá cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc ghi nhận và xác minh, thu thập chứng cứ để có cơ sở thực hiện chức năng xét xử vụ án, giải quyết việc dân sự và vai trò bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Theo đó, trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán có quyền yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của BLTTDS 2015 để giải quyết vụ việc dân sự.
Điều luật này của BLTTDS 2015 đã bổ sung thêm quy định mới về quyền của Thẩm phán trong việc ấn định thời hạn mà đương sự phải giao nộp chứng cứ, tài liệu. Theo đó, thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của BLTTDS 2015. Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán đã yêu cầu giao nộp nhưng không chứng minh được lý do chính đáng của việc chậm giao nộp chứng cứ, tài liệu thì Thẩm phán có quyền không ghi nhận và xem xét các chứng cứ, tài liệu này. Quyền hạn này của Thẩm phán được BLTTDS năm 2015 ghi nhận nhưng dường như không thực sự phù hợp với vai trò của Thẩm phán trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bởi vì, có những chứng cứ, tài liệu tuy được đương sự giao nộp muộn nhưng lại có ý nghĩa quyết định tới việc giải quyết quyền lợi hợp pháp của các đương sự trong vụ việc. Thiết nghĩ, đây là một vấn đề cần được hướng dẫn thêm để địa vị pháp lý của Thẩm phán được phù hợp hơn với bản chất của Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Từ quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 và qua nghiên cứu các quy định cụ thể của BLTTDS năm 2015 về các biện pháp thu thập chứng cứ, có thể nhận thấy để thực hiện vị trí, chức năng và vai trò của mình trong một số trường hợp Thẩm phán có quyền chủ động tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu. Các trường hợp Thẩm phán có quyền chủ động thu thập chứng cứ bao gồm:
- Đối với việc lấy lời khai của đương sự Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án (Điều 98 BLTTDS năm 2015).
- Lấy lời khai của người làm chứng
Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án. Trước khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải giải thích quyền, nghĩa vụ của người làm chứng và yêu cầu người làm chứng cam đoan về lời khai của mình (Điều 99 BLTTDS năm 2015). Thẩm phán tự lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết nhằm giúp cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
- Đối chất:
Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau theo khoản 1 Điều 100 BLTTDS năm 2015.
- Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản:
Thẩm định giá tài sản là một biện pháp thu thập chứng cứ mới được bổ sung tại Điều 92 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 và tiếp tục được ghi nhận trong BLTTDS năm 2015 nhưng thực tiễn giải quyết tại Tòa án trong thời gian qua đã có những vướng mắc nhất định.
Thứ nhất: trường hợp trong cùng một vụ án để xác định giá tài sản có tranh chấp một bên yêu cầu định giá, một bên yêu cầu thẩm định giá thì Thẩm phán sẽ phải lựa chọn biện pháp thu thập chứng cứ nào? Bởi việc Thẩm phán lựa chọn một trong hai biện pháp trên thì một bên đương sự có yêu cầu còn lại sẽ cho rằng Thẩm phán không vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Thứ hai: Giả sử trường hợp áp dụng cả hai biện pháp thu thập trên mà kết quả thẩm định giá và thẩm định giá khác nhau thì kết quả nào sẽ được lựa chọn làm căn cứ giải quyết vụ án và cơ quan, tổ chức nào sẽ có thẩm quyền xác định lại giá trị tài sản đang tranh chấp?
Vì vậy, để các Thẩm phán áp dụng quy định BLTTDS 2015 một cách thống nhất, thiết nghĩ cần phải có một quy định cụ thể hướng dẫn đối với những vụ án mà các đương sự có yêu cầu định giá và thẩm định giá thì cần tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ nào trước. Đối với trường hợp kết quả định giá và thẩm định giá khác nhau BLTTDS cần quy định cho phép Thẩm phán có quyền chủ động hoặc đương sự yêu cầu cơ quan, tổ chức khác xác định lại giá trị tài sản tranh chấp.
Một vấn đề khác trong quy định BLTTDS 2015 đó là, làm sao Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án biết được rằng sự thỏa thuận của các bên đương sự về giá tài sản là thấp so với thị trường. Phần lớn đều cho rằng Tòa án căn cứ vào biểu giá đất, giá các loại tài sản do UBND (Ủy ban nhân dân) tỉnh ban hành hàng năm để lấy đó làm căn cứ. Thẩm phán không phải là người có chuyên môn trong lĩnh vực này nên rất khó có thể đánh giá là tài sản mà các bên đang thỏa thuận với tổ chức định giá để định giá thấp. Trên thực tế, nhiều trường hợp nếu Thẩm phán nghi ngờ mức giá mà các bên đương sự đưa ra thì Thẩm phán có thể làm Công văn tham khảo ý kiến của các cơ quan tài chính và cơ quan khác để tham khảo ý kiến về mức giá. Sau khi có ý kiến tham khảo, Thẩm phán mới có thể ra quyết định định giá tài sản.
- Trưng cầu giám định, giám định bổ sung, yêu cầu giám định và trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo
Điều 102 BLTTDS năm 2015 quy định theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định. Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Kết luận giám định là một nguồn chứng cứ quan trọng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ việc dân sự, trong một số vụ việc thì kết luận giám định còn có tính chất quyết định đối với phán quyết của Tòa án. Trong nhiều vụ việc, sự có mặt của người giám định tại phiên tòa với tư cách là người tham gia tố tụng, để bảo vệ kết luận giám định, giải thích làm rõ hơn kết luận giám định giúp cho đương sự cũng như Tòa án có cơ sở giải quyết vụ việc một cách khách quan, đúng pháp luật. Sự tham gia của người giám định tại phiên tòa giúp cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng có thể hiểu rõ và chính xác hơn về nội dung của kết luận giám định, nhất là đối với những loại hình giám định công nghệ cao. Để thuận lợi cho hoạt động của người giám định trong phiên tòa và thực thi có hiệu quả hướng dẫn tại khoản 3 Điều 102 BLTTDS năm 2015, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của người giám định khi được Thẩm phán chủ tọa phiên tòa triệu tập. Ngoài ra, Điều 103 BLTTDS năm 2015 chỉ quy định chung chung là Tòa án có quyền yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết; quyết định trưng cầu giám định bổ sung mà không quy định rõ quyền này thuộc về Chánh án Tòa án hay Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc nên việc áp dụng trên thực tế không có sự thống nhất. Do vậy, để Thẩm phán có thể chủ động hơn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, hạn chế sự can thiệp của Chánh án Tòa án vào hoạt động tố tụng của Thẩm phán thì cần có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này theo hướng Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc sẽ có thẩm quyền quyết định việc yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết; quyết định trưng cầu giám định bổ sung.
Về vấn đề tạm ứng chi phí giám định cho thấy nhiều vụ án cần thiết phải trưng cầu giám định nhưng các bên đương sự đều không yêu cầu vì không có tiền nộp tạm ứng chi phí giám định. Điều này đã dẫn tới trong thực tiễn cùng một vụ án nhưng mỗi Thẩm phán lại có những cách giải quyết khác nhau như ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử; tiến hành mở phiên tòa và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện vì thiếu căn cứ, một số ít Thẩm phán lại tự ra quyết định trưng cầu giám định và trả chi phí.
Ngoài ra, việc nghiên cứu văn từ của Điều 102 BLTTDS năm 2015 cũng cho thấy Điều luật này lúc thì quy định thẩm quyền của Thẩm phán trong việc ra quyết định trưng cầu giám định, lúc thì lại quy định thẩm quyền của “Tòa án” trong việc yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết hay “Tòa án” ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.
Do vậy, để bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất thì cần có hướng dẫn quy định trên theo hướng chính Thẩm phán có quyền yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết; ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung.
- Xem xét, thẩm định tại chỗ Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Điều 101 BLTTDS năm 2015 đã quy định về thẩm quyền của Thẩm phán trong việc quyết định áp dụng biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ. Theo đó, theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.
Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp có hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ (Điều 101 BLTTDS năm 2015).
Đây là một điểm mới so với BLTTDS sửa đổi năm 2011. Theo đó, Thẩm phán có quyền áp dụng biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu của đương sự hoặc Thẩm phán có quyền chủ động áp dụng biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ.
Thực tiễn xét xử cho thấy, khi giải quyết tranh chấp nhà đất, nhất là trường hợp các bên yêu cầu phải chia bằng hiện vật, nếu chỉ nhìn trên sơ đồ, bản vẽ do đương sự cung cấp, mà không xem xét, thẩm định tại chỗ sẽ dẫn đến việc Thẩm phán có sai sót khi quyết định. Chẳng hạn như trong vụ kiện ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng là nhà đất, thông qua việc xem xét tại chỗ, Thẩm phán có thể xác định được vị trí, diện tích, hiện trạng nhà, đất; vị trí các phòng, công trình phụ, lối đi… từ đó đưa ra phương án chia hiện vật hợp lý, đảm bảo cho việc thi hành án có thể thực hiện được. Mặt khác, mục đích việc xem xét, thẩm định tại chỗ là để xác định lại tranh chấp và những tài sản có liên quan là cơ sở cho việc định giá tài sản tiếp theo. Vì vậy, BLTTDS năm 2015 đã xác định cụ thể những quyền hạn thuộc về Thẩm phán và Điều 101 BLTTDS năm 2015 đã tạo điều kiện cho Thẩm phán chủ động thực hiện biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Thu thập chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 106 BLTTDS năm 2015 thì trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn. Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Như vậy, Thẩm phán thực hiện quyền yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự khi đương sự đã sử dụng mọi cách thức và khả năng cho phép để yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cung cấp cho mình chứng cứ mà vẫn không được cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp và đương sự có yêu cầu Tòa án hoặc khi Thẩm phán xét thấy cần thiết phải tiến hành biện pháp này để có cơ sở giải quyết vụ việc. Đây là một quy định tiến bộ, đảm bảo được sự chủ động của Thẩm phán trong tiến trình thu thập, hoàn thiện hồ sơ vụ án, đảm bảo việc giải quyết vụ án được khách quan và minh bạch. Tuy nhiên, Điều luật trên chỉ quy định chung là Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp mà không quy định rõ là thẩm quyền quyết định thuộc về Chánh án Tòa án hay Thẩm phán được phân công. Do vậy, để tăng cường vai trò chủ động của Thẩm phán trong giải quyết vụ việc dân sự cần thiết phải có hướng dẫn áp dụng theo hướng trao thẩm quyền cho Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc sẽ ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
- Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ:
Trong 7 biện pháp thu thập chứng cứ được quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 chỉ có biện pháp lấy lời khai được quy định ở điểm a, điểm b khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 là Thẩm phán không phải ra quyết định. Đối với các biện pháp thu thập chứng cứ khác thì Thẩm phán phải ra quyết định về việc thu thập chứng cứ, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án khi tiến hành các biện pháp khác quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015.
Như vậy, với những quy định về chứng cứ và chứng minh trong BLTTDS năm 2015, ngoài việc đề cao trách nhiệm của đương sự trong việc thu thập chứng cứ, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự còn thể hiện được vai trò quan trọng của Thẩm phán trong việc thu thập chứng cứ. Với điều kiện thực tế ở nước ta hiện nay nếu quy định toàn bộ nghĩa vụ thu thập chứng cứ thuộc về Tòa án có thể làm cho vụ án bị giải quyết thiếu khách quan, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của đương sự khác. Vậy nên BLTTDS 2015 đã quy định rất chặt chẽ, vừa đảm bảo nghĩa vụ cung cấp, thu thập chứng cứ của các bên đương sự, vừa quy định trách nhiệm của Thẩm phán trong việc tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, các quy định của BLTTDS 2015 về thu thập tài liệu, chứng cứ đã góp phần không nhỏ vào việc giải quyết các vụ án một cách khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên đương sự khi quyền và lợi ích đó bị xâm phạm. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
2.2.4 Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Để Thẩm phán có thể thực hiện được quyền tư pháp trong bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, các quy định từ Điều 111 đến Điều 142, Điều 361 BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận quyền hạn của Thẩm phán trong việc quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đáp ứng yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án. Theo đó, trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu trước khi mở phiên tòa, phiên họp thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của BLTTDS 2015 thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết.
Đối với trường hợp thực sự khẩn cấp thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết.
Việc nghiên cứu cho thấy, Điều 112 BLTTDS 2015 đã ghi nhận cụ thể quyền hạn của Thẩm phán trong việc quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán xem xét quyết định. Tại phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự thì tùy theo trường hợp thẩm quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ do 01 Thẩm phán được phân công hoặc Hội đồng gồm nhiều thành viên xem xét, quyết định. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi thì thời hạn 48 giờ để Thẩm phán xem xét quyết định có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không trong nhiều trường hợp là quá dài. Đặc biệt là đối với các yêu cầu về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp như kê biên tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, phong toả tài khoản. Thiết nghĩ, cần phải có những quy định theo hướng trong trường hợp khẩn cấp thì Thẩm phán có thể ngay lập tức quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Hiện nay, các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong BLTTDS năm 2015 là những biện pháp nhằm đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án, vì vậy, để đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn, cần cho phép Thẩm phán trong trường hợp khẩn cấp có thể quyết định áp dụng ngay lập tức các biện pháp khẩn cấp nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đương sự trước khi khởi kiện vụ án. Sau khi áp dụng biện pháp khẩn cấp, theo yêu cầu của đương sự, nếu xét thấy vụ việc cần được xét xử ngay Thẩm phán có thể quyết định mở phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc dân sự.
Theo quy định tại Điều 135 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy các biện pháp khẩn cấp tạm thời ít khi được Thẩm phán tự mình áp dụng. Nguyên nhân là do BLTTDS 2015 quy định nếu Thẩm phán áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sai, gây thiệt hại thì Tòa án có thể phải bồi thường thiệt hại và về nguyên tắc thì Thẩm phán quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp có thể phải bồi hoàn cho Tòa án nên các Thẩm phán có tâm lý ngại tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Do vậy, để khuyến khích Thẩm phán thực hiện được quyền tư pháp trong bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì cần có sự điều chỉnh pháp luật theo hướng miễn trách nhiệm bồi hoàn của Thẩm phán đối với Nhà nước trong trường hợp Thẩm phán tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có tính nhân đạo (từ Khoản 1 đến Khoản 5 Điều 114 BLTTDS năm 2015) để bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tạm ứng trước tiền bồi thường, tiền công, tiền lương; tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.
2.2.5 Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận thẩm quyền của Thẩm phán trong việc ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự. Tuy nhiên, Bộ luật này cũng quy định cụ thể các trường hợp mà Thẩm phán có quyền ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự tại Điều 214 và Điều 217 BLTTDS. Ngoài các trường hợp luật định, Thẩm phán không được tùy tiện ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự dẫn tới làm tổn hại tới quyền tiếp cận công lý của công dân, làm chậm trễ việc bảo vệ quyền lợi của đương sự.
Để gắn trách nhiệm của Thẩm phán trong việc thực hiện được quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Điều 215 BLTTDS năm 2015 đã có những quy định bổ sung về hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Theo đó, trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án.
Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại khoản 1 Điều 214 của Bộ luật BLTTDS 2015, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục trong thời gian ngắn nhất những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết.
2.2.6 Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý
Điều 9 và Điều 48 BLTTDS 2015 đã có quy định về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý, nghiêm cấm cản trở quyền được trợ giúp pháp lý và nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc giải thích, hướng dẫn cho các đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý, tiếp tục khẳng định trợ giúp viên pháp lý và người tham gia trợ giúp pháp lý làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Thẩm phán phải có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý. Việc Thẩm phán giải thích quyền được trợ giúp pháp lý, thông báo, chỉ định thực hiện trợ giúp pháp lý sẽ khắc phục tình trạng đương sự thuộc diện được trợ giúp pháp lý không biết và không thể thực hiện được quyền của mình trong việc yêu cầu trợ giúp pháp lý, nhất là với người sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí pháp lý hạn chế chưa thể nhận biết, tiếp cận với thông tin, hoạt động trợ giúp pháp lý.
2.2.7 Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì việc hòa giải vụ việc được kết hợp trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Theo quy định tại Điều 208, Điều 210 BLTTDS năm 2015 thì Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp. Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về yêu cầu và phạm vi khởi kiện, yêu cầu; việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết. Đây là điểm mới được quy định trong BLTTDS năm 2015 nhằm tăng quyền han cho Thẩm phán trong việc đánh giá sơ bộ về chứng cứ, tài liệu trong vụ án dân sự trước khi tiến hành xét xử chính thức.
Hòa giải là hoạt động do Thẩm phán tiến hành trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự. Việc hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó vừa đảm bảo tiết kiệm chi phí cho Nhà nước và công dân, giảm bớt giai đoạn tố tụng kéo dài, vừa giải quyết triệt để các mâu thuẫn giữa các đương sự…Nếu Thẩm phán không quan tâm tới công tác hòa giải trong việc giải quyết vụ án dân sự thì các tổn phí tố tụng và thời gian theo đuổi vụ việc của các bên sẽ kéo dài hơn. Do vậy, BLTTDS năm 2015 đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc hòa giải nhằm giúp các đương sự thương lượng với nhau về những vấn đề cần phải giải quyết để có thể nhanh chóng kết thúc vụ việc. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Trong BLTTDS 2015, hòa giải vừa được quy định với nghĩa là quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự. Điều 10 BLTTDS năm 2015 quy định “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật BLTTDS 2015”, đồng thời BLTTDS cũng xác định rõ Thẩm phán là người có thẩm quyền chủ trì phiên hòa giải.
Có thể nói, hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu với nhiều ưu điểm nên Thẩm phán được giao giải quyết vụ kiện dân sự có nhiệm vụ tích cực, kiên trì hòa giải giữa các bên đương sự. Việc xác định nhiệm vụ tích cực, kiên trì của Thẩm phán nhằm khẳng định không thể coi hòa giải là thủ tục mang tính hình thức, qua loa, đại khái. Thẩm phán không chỉ kiên trì giải thích cho đương sự hiểu rõ pháp luật và đi sâu giải quyết những vướng mắc trong tâm tư tình cảm của họ mà còn phải tích cực hòa giải để giải quyết nhanh chóng vụ việc. Nhiệm vụ BLTTDS 2015 đòi hỏi Thẩm phán phải nắm vững quan hệ pháp luật, nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp… từ đó xây dựng được kế hoạch hòa giải hợp lý. Trường hợp hòa giải không thành thì việc hòa giải cũng giúp cho Thẩm phán có điều kiện nắm vững nội dung vụ án, hiểu biết rõ hơn tâm tư, tình cảm của đương sự cũng như những vướng mắc trong suy nghĩ của họ, từ đó có thể xác định được đường lối giải quyết vụ án khi đưa ra xét xử.
Trong quá trình hòa giải nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa và thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì Thẩm phán hoàn toàn có quyền chủ động ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Theo quy định của BLTTDS 2015, đương sự không có quyền kháng cáo, VKS không có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định của Thẩm phán về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Tuy nhiên, để đề phòng các sai lầm hay các vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong quá trình tiến hành hoà giải, Điều 213 BLTTDS năm 2015 quy định quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2.2.8 Quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử, đưa việc dân sự ra giải quyết, triệu tập người tham gia phiên tòa, phiên họp
Theo Điều 203, Điều 366 BLTTDS năm 2015 thì Thẩm phán có quyền ra quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử tại phiên tòa, đưa việc dân sự ra giải quyết tại phiên họp. Đây là một trong các quyết định tố tụng quan trọng của quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, nó có ý nghĩa chuyển tiếp giai đoạn tố tụng, đánh dấu kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử, chuẩn bị giải quyết việc dân sự và chuyển sang giai đoạn chuẩn bị cho việc mở phiên tòa hoặc phiên họp.
Thực tế, sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử có nhiều tình huống phát sinh mà BLTTDS năm 2015 vẫn chưa quy định cụ thể khiến các Thẩm phán lúng túng trong việc áp dụng pháp luật. Cụ thể là sau khi Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, phát sinh các tình huống như các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên có Đơn đề nghị Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, người khởi kiện rút đơn khởi kiện…Thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sư tại Tòa án cho thấy phần lớn các Thẩm phán đều chờ đến ngày mở phiên tòa để HĐXX quyết định. Quy định này của BLTTDS 2015 đã làm cho thời gian giải quyết vụ việc bị kéo dài, gây tốn kém thời gian, tiền bạc cho đương sự cũng như của Nhà nước. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Sau khi ra quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử tại phiên tòa, đưa việc dân sự ra giải quyết tại phiên họp, Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa, phiên họp như triệu tập đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định tham gia phiên tòa, phiên họp. BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận nhiệm vụ, quyền hạn này của Thẩm phán tại Điều 48, Điều 227 và Điều 367 nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của các bên đương sự đồng thời đảm bảo vụ việc được giải quyết nhanh chóng, khách quan.
2.2.9 Chủ tọa hoặc tham gia xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự
Điều 63 BLTTDS 2015 quy định “Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật BLTTDS 2015. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân”. Trong Hội đồng xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người điều khiển phiên tòa. Hiệu quả của phiên tòa phụ thuộc rất lớn vào sự điều khiển phiên tòa của người Thẩm phán.
Thủ tục bắt đầu phiên tòa được quy định cụ thể từ Điều 239 đến Điều 246 BLTTDS năm 2015. BLTTDS năm 2015 cũng quy định rất cụ thể và rõ ràng, những trường hợp nào thì phải do Hội đồng xét xử quyết định, những vấn đề nào thì do Thẩm phán quyết định. Việc quy định cụ thể BLTTDS 2015 giúp cho Thẩm phán thực hiện có hiệu quả quyền hạn của mình nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án được giải quyết nhanh chóng, chính xác, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
Trong phần thủ tục tranh tụng, Thẩm phán là người sẽ dẫn dắt, điều khiển quá trình tranh tụng. Đây là giai đoạn tố tụng hết sức quan trọng bởi việc tranh tụng BLTTDS 2015 sẽ giúp làm sáng tỏ những yêu cầu, các tình tiết, sự kiện liên quan đến nội dung của vụ việc. Khoản 3 Điều 247 BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận: “Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không có liên quan đến vụ án dân sự”. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Quy định BLTTDS 2015 một mặt đảm bảo cho các bên đương sự được tạo điều kiện trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ ai, mặt khác, đảm bảo sự quản lý của Thẩm phán đối với việc giải quyết vụ án dân sự, đảm bảo cho việc đối đáp của các bên đương sự chỉ tập trung vào những vấn đề mâu thuẫn và giải quyết nội dung vụ án. Hơn nữa, quy định BLTTDS 2015 đảm bảo cho tranh luận của các bên đương sự đi đúng trọng tâm, tránh việc kéo dài thời gian tranh luận không cần thiết. Qua diễn biến của quá trình tranh tụng, tùy theo trường hợp mà Thẩm phán (thủ tục rút gọn) hoặc Thẩm phán cùng với những người tiến hành tố tụng khác trong Hội đồng (thủ tục thông thường) đưa ra phán quyết trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu mà các đương sự đã chứng minh là đúng đắn trong quá trình tranh tụng và trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Quy định BLTTDS 2015 thể hiện vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự của Thẩm phán trong quá trình hỏi và tranh luận nhằm đảm bảo tính khách quan, chân thực của những tài liệu, chứng cứ, xác định giá trị chứng minh của chứng cứ, đảm bảo tất cả các tình tiết của vụ án phải được làm sáng tỏ.
Mặc dù BLTTDS năm 2015 ghi nhận thẩm quyền độc lập của Thẩm phán trong tiến hành tố tụng nhưng tại phiên tòa thì quyền quyết định thuộc về Hội đồng xét xử, Thẩm phán chỉ là một thành viên có quyền điều hành việc nghị án. Quy định này của BLTTDS 2015 nhằm đảm bảo nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Trong quá trình nghị án, nếu xét thấy tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa được đầy đủ hoặc cần xem xét them chứng cứ thì Hội đồng xét xử vẫn có thẩm quyền quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận. Qua đó, có thể thấy rằng, việc tôn trọng sự thật khách quan của vụ án được Hội đồng xét xử đảm bảo. Từ đó, cũng thể hiện vai trò và trách nhiệm của người Thẩm phán trong từng diễn biến của quá trình giải quyết vụ án.
2.2.10 Đề nghị Chánh án Tòa án phân công Thẩm tra viên hỗ trợ thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Khi cần phải có sự hỗ trợ thực hiện hoạt động tố tụng, Thẩm phán có quyền đề nghị Chánh án Tòa án phân công Thẩm tra viên hỗ trợ thực hiện hoạt động tố tụng. Khoản 4 Điều 50 LTTDS năm 2015 quy định nhiệm vụ của Thẩm tra viên khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm tra viên có nhiệm vụ: “Hỗ trợ hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật BLTTDS 2015”. Có thể nói rằng, việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án nhằm giải quyết vụ án đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên liên quan là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp. Vì vậy, việc quy định về sự hỗ trợ của Thẩm tra viên trong việc thực hiện hoạt động tố tụng là hết sức quan trọng. Điều BLTTDS 2015 giúp Thẩm phán giảm tải phần nào công việc để tập trung vào việc nghiên cứu các hồ sơ của vụ án.
2.2.11 Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản không hợp hiến, hợp pháp
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc không có quyền được mình quyết định nhưng phải báo cáo và đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật. Quy định này thể hiện vai trò bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể. Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán không hoàn toàn thụ động trong việc áp dụng quy định của pháp luật để giải quyết vụ việc mà có quyền không áp dụng các văn bản có dấu hiệu không hợp hiến, hợp pháp để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự.
Nếu Thẩm phán, Hội đồng xét xử phát hiện có văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, trước khi tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xét thấy đề nghị của Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có căn cứ thì phải ra văn bản kiến nghị gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật và thông báo cho Tòa án đã đề nghị để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp xét thấy đề nghị không có căn cứ thì phải ra văn bản trả lời cho Tòa án đã đề nghị để tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
2.2.12 Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật
BLTTDS 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng như: hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng, hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng; hành vi vi phạm nội quy phiên tòa…. Điều 48 BLTTDS 2015 đã giao trách nhiệm xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng BLTTDS 2015 cho Thẩm phán. Điều này là hoàn toàn hợp lý, bởi Thẩm phán người được phân công giải quyết vụ án mới là người biết được quá trình tố tụng đang vướng mắc tại khâu nào để có biện pháp can thiệp kịp thời để tiến trình giải quyết vụ án được nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định từ Điều 489 đến Điều 498 BLTTDS năm 2015 cho thấy chỉ có Điều 491 của Bộ luật này có đề cập trực tiếp tới quyền hạn của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong việc xử lý hành vi vi phạm nội quy phiên tòa, còn các hành vi vi phạm khác được quy định thuộc thẩm quyền xử lý của Tòa án nhưng không rõ đó là thẩm quyền của Chánh án Tòa án hay Thẩm phán.
Theo quy định tại Điều 490 BLTTDS năm 2015 về xử lý hành vi cố ý không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án thì người làm chứng, người phiên dịch, người giám định đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố ý không đến Tòa án hoặc không có mặt tại phiên tòa, phiên họp mà không có lý do chính đáng và nếu sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc thu thập, xác minh chứng cứ hoặc giải quyết vụ việc thì bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Tòa án có quyền ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên. Quyết định dẫn giải người làm chứng phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ, tên, chức vụ người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng phải có mặt. Cơ quan công an có nhiệm vụ thi hành quyết định của Tòa án dẫn giải người làm chứng. Người thi hành quyết định dẫn giải người làm chứng phải đọc, giải thích quyết định dẫn giải cho người bị dẫn giải biết và lập biên bản về việc dẫn giải.
Điều 491 BLTTDS năm 2015 quy định người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị chủ tọa phiên tòa xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc người vi phạm rời khỏi phòng xử án. Cơ quan công an có nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi hành quyết định của chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự tại phiên tòa. Quy định này cũng được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án. Các hành vi vi phạm khác hiện nay chưa được pháp luật quy định cụ thể là thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án hay Thẩm phán. Điều 498 BLTTDS năm 2015 chỉ quy định chung chung theo hướng hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự được thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và pháp luật có liên quan. Điều 48 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định chung chung Thẩm phán có quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tuy nhiên lại không đưa ra trong những trường hợp nào thì tổ chức, cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
Đây là vấn đề cần được hướng dẫn cụ thể để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất. Theo kết quả nghiên cứu thì đối những hành vi sau đây thì thẩm quyền xử lý và thẩm quyền xử phạt chưa được quy định cụ thể trong BLTTDS năm 2015: Hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng (Điều 489); hành vi cố ý không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án (Điều 490); hành vi xúc phạm, xâm hại đến sự tôn nghiêm, uy tín của Tòa án, danh dự, nhân phẩm, sức khoẻ của người tiến hành tố tụng hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án (Điều 492); hành vi cản trở việc cấp, giao, nhận, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án (Điều 493); hành vi cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia tố tụng theo yêu cầu của Tòa án (Điều 494); hành vi không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc đưa tin sai sự thật nhằm cản trở việc giải quyết vụ án của Tòa án (Điều 495); hành vi can thiệp vào việc giải quyết vụ việc dân sự (Điều 496).
2.2.13 Tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS
Ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, trong TTDS Thẩm phán còn có nhiệm vụ, quyền hạn tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS như trường hợp phát hiện dấu hiệu tội phạm trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán có nhiệm vụ cung cấp tài liệu cho VKS xem xét, khởi tố về hình sự, ví dụ như hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác hay trong quá trình lập hồ sơ vụ việc, thư ký, nhân viên tư pháp cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ việc; người phiên dịch cố tình dịch sai sự thật… Những hành vi vi phạm pháp luật nêu trên có thể cấu thành tội phạm theo những tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Để việc giải quyết vụ việc dân sự của Thẩm phán được khách quan, công bằng, đúng pháp luật BLTTDS 2015 đã quy định khá cụ thể vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán. Các quy định của BLTTDS 2015 ngày càng hoàn thiện hơn so với BLTTDS sửa đổi năm 2011.
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, bên cạnh việc được trao cho những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định thì Thẩm phán còn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Các quy định của BLTTDS 2015 về trách nhiệm của Thẩm phán đòi hỏi các Thẩm phán phải hết sức thận trọng khi đưa ra những phán quyết và quyết định của mình bởi mỗi quyết định của Thẩm phán đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Việc đưa ra các quyết định, phán quyết đúng đắn và chính xác góp phần duy trì trật tự pháp luật trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động đồng thời tạo được niềm tin của người dân vào nền công lý nước nhà.
Có thể nói các quy định của BLTTDS năm 2015 về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán đã được quy định khá đầy đủ và toàn diện. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những vướng mắc, bất cập nhất định cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới. Luận văn: Pháp luật Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
