Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hội An là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Nam, là di sản phản hoá thế giới với lợi thế phát triển kinh tế du lịch dồi dào. Tính đến hết năm 2023, Hội An có 527 cơ sở lưu trú với 9.040 phòng, trong đó loại hình khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao trở lên là 30 cơ sở với 3.041 phòng, chiếm tỷ trọng 5,7% tổng số cơ sở lưu trú và 33,6% tổng số lượng phòng lưu trú trên địa bàn. Về vận chuyển, lữ hành: 84 đơn vị kinh doanh vận chuyển, lữ hành, trong đó có chức năng kinh doanh lữ hành quốc tế 31 đơn vị, kinh doanh lữ hành nội địa 17 đơn vị, vận chuyển 33 đơn vị, bán vé 3 đơn vị. 42/84 đơn vị hoạt động tuyến Hội An- Cù Lao Chàm[21; tr13]. Các loại dịch vụ khác như: dịch vụ ăn uống, chăm sóc sắc đẹp, mua sắm… đa dạng về loại hình dịch vụ và chủng loại hàng hóa, đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu của khách du lịch, mạng lưới cung cấp hàng mua sắm cũng rất đa dạng phong phú: may mặc lấy nhanh, giày dép, lưu niệm, lồng đèn, đồ mộc lưu niệm chạm khắc… Đội ngũ lao động từng bước chuyên nghiệp hơn.
Tuy nhiên, với quy mô và tốc độ phát triển nhanh chóng, hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch chịu áp lực lớn và tất yếu xuất hiện những hạn chế, vướng mắc gây cản trở cho việc duy trì trật tự, chất lượng và phát triển của kinh tế du lịch địa phương như: xuất hiện những vấn đề quản lý mới chưa được pháp luật ghi nhận và điều chỉnh một cách đầy đủ như Condoltel, Oficetel hay tự xác định hạng của cơ sở lưu trú…; vấn đề phân cấp quản lý giữa các cấp chính quyền địa phương chưa rõ ràng nên tạo ra những chồng chéo; chưa có được những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho dịch vụ du lịch giai đoạn dịch bệnh; năng lực quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch còn nhiều hạn chế; cơ sở vật chất, thiết bị nhanh xuống cấp gây lãng phí… Những hạn chế đó không chỉ làm cho hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch không đạt được mục tiêu đã đề ra, mà còn trở thành cản lực cho sự phát triển của dịch vụ du lịch nói riêng và hoạt động du lịch nói chung tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Chính vì thế, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn để tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam trong tương lai.
Dưới góc độ thực tiễn khoa học, đã có nhiều công trình xem xét, đánh giá về du lịch và quản lý du lịch tại thành phố Hội An, cũng như tại nhiều địa phương khác ở Việt Nam qua nhiều thời kỳ. Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở cấp độ luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật Hành chính chưa được bất kỳ nghiên cứu nào thực hiện. Từ cơ sở thực tiễn quản lý và khoa học đó, học viên quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ ngành Luật Hiến pháp và luật Hành chính là việc làm có tính cấp thiết.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trực tiếp nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến du lịch, dịch vụ du lịch, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về du lịch đã có nhiều nghiên cứu tiến hành ở những cấp độ khác nhau. Các nghiên cứu này đã xác lập hai xu hướng nghiên cứu chính về lý luận, gồm: Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Xu hướng nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về du lịch dưới góc độ quản lý nhà nước. Xu hướng này được thực hiện bởi các nghiên cứu tiêu biểu như: tác giả Võ Thị Thắng với nghiên cứu “Tăng cường quản lý nhà nước để du lịch Việt Nam phát huy vai trò ngành kinh tế mũi nhọn”; tác giả Lê Văn Minh với nghiên cứu “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu du lịch”; tác giả Đỗ Thị Thanh Hoa với nghiên cứu “Nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường du lịch quốc tế trọng điểm”; tác giả Trần Xuân Ảnh với nghiên cứu “Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị trường du lịch“, tác giả Nguyễn Minh Đức với nghiên cứu “Quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du lịch tỉnh Sơn La trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa“;… Các nghiên cứu ở nhóm xu hướng này xây dựng các khái niệm, bản chất và vai trò… dưới góc nhìn của ngành khoa học quản lý. Theo đó, chủ yếu những vấn đề lý luận của nhóm nghiên cứu này về quản lý nhà nước về du lịch (trong đó có cả dịch vụ du lịch) xoay quanh việc chứng minh tính tất yếu của hoạt động quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Các đặc trưng, bản chất, vai trò… cũng được phân tích theo hướng tiếp cận đó.
Xu hướng nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về du lịch dưới góc độ Luật học. Xu hướng này có thể kể tới một số nghiên cứu sau: tác giả Trịnh Đăng Thanh với nghiên cứu “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay“; tác giả Trần Thị Kim Hoa với nghiên cứu “Quản lý nhà nước về du lịch từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”; Nhóm các nghiên cứu này xem xét những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về du lịch (bao gồm cả dịch vụ du lịch) dưới góc độ của luật học. Theo đó, các vấn đề như khái niệm, đặc điểm, vai trò, các nội dung quản lý nhà nước về du lịch… đều xuất phát từ những quan điểm của pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu. Cơ bản các nghiên cứu ở nhóm này đã làm rõ được nội hàm khái niệm, phân tích các đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về du lịch theo quy định của pháp luật, những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý này…
Nghiên cứu nhóm nội dung những vấn đề thực tiễn và giải pháp liên quan đến đề tài luận văn có thể kể tới các nghiên cứu như: tác giả Lê Đình Hiếu với nghiên cứu “Quản lý Nhà nước về du lịch biển từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng”; tác giả Trần Phan Long với nghiên cứu“Hoàn thiện quản lý Nhà nước về du lịch biển tại thị xã Cửa Lò”; tác giả Nguyễn Thị Thùy với nghiên cứu “Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”; tác giả Lê Long với nghiên cứu “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh”… Các nghiên cứu kể trên đã phản ánh, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại các địa phương có thế mạnh về hoạt động kinh tế này. Kết quả cho thấy hầu hết các hoạt động quản lý bên cạnh những giá trị đạt được đều còn tồn tại những hạn chế vướng mắc như: sự thiếu thống nhất hoặc thiếu chi tiết của cơ sở pháp lý; những hạn chế trong cơ cấu tổ chức và năng lực của người thực thi; hạn chế từ điều kiện tự nhiên, đời sống xã hội hay ý thức của người dân, của người kinh doanh du lịch… Các hạn chế này đã gây ra những khó khăn cho hoạt động quản lý, đồng thời cũng trở thành cản lực cho phát triển của kinh tế du lịch các địa phương. Trên cơ sở những phân tích đó, các nghiên cứu cũng đều đã đưa ra được các quan điểm, giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch tại các địa phương nói riêng và ở Việt Nam nói chung. Các giải pháp đó hướng chủ yếu tới việc: hoàn thiện thể chế pháp lý; hoàn thiện tổ chức; nâng cao năng lực cán bộ, công chức; khắc phục các cản lực tự nhiên; và tăng cường sự tham gia, giám sát của người dân, các tổ chức xã hội.
Trên cơ sở thống kê và phân tích tình hình nghiên cứu kể trên, tác giả đưa ra một số đánh giá như sau:
Thứ nhất, những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về du lịch (bao gồm quản lý dịch vụ du lịch) như khái niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đã được làm rõ trong các nghiên cứu. Tuy nhiên, trực tiếp nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ du lịch và quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch chưa được tiếp cận một cách toàn diện. Sự lồng ghép vấn đề quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trong quản lý nhà nước về du lịch đã không thể làm rõ một cách sâu sắc những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Thứ hai, những vấn đề thực tiễn về quản lý nhà nước về du lịch (bao gồm quản lý dịch vụ du lịch) như thực tiễn thể chế (chính sách và pháp luật), thực tiễn thực hiện và kết quả của hoạt động quản lý gắn với từng phạm vi nghiên cứu cụ thể đã được nhiều công trình nghiên cứu phân tích, làm rõ. Tuy nhiên, vì nội hàm tiếp cận rộng, vấn đề thực tiễn quản lý dịch vụ du lịch chỉ được xem xét, đánh giá lồng ghép trong vấn đề du lịch nói chung nên chưa nổi bật được những vấn đề thực trạng cần phân tích và đánh giá chuyên sâu. Thêm nữa, thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam chưa được bất kỳ công trình nào xem xét, đánh giá.
Thứ ba, những vấn đề nghiên cứu liên quan đến việc đề xuất quan điểm và xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch ở trên phạm vi toàn quốc hay của những địa phương cụ thể đã được một số nghiên cứu thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ du lịch vẫn còn mờ nhạt. Vì thực tiễn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam chưa có, nên cũng thiếu hụt các giải pháp gắn liền với địa bàn nghiên cứu này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An, Quảng Nam.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu kể trên, học viên xác định các nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung và các yếu tố tác động. Trong đó trọng tâm là làm rõ những nội dung của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch để làm cơ sở đánh giá thực tiễn.
Thứ hai, phản ánh, phân tích và đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ di lịch trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam với các khía cạnh chủ yếu như: những yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; tình hình dịch vụ du lịch tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; thực tiễn thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam và đánh giá thực tiễn đó.
Thứ ba, chứng minh tính cần thiết, xây dựng phương hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An nói riêng và trong phạm vi toàn quốc nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở ba khía cạnh: lý luận, thực tiễn và định hướng, giải pháp.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu: luận văn nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Bên cạnh đó, các định hướng và giải pháp còn có ý nghĩa ứng dụng trên phạm vi toàn quốc.
Phạm vi thời gian nghiên cứu: luận văn nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên đại bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2019-2024. Trong đó đặc biệt nghiên cứu tình hình thực tiễn hoạt động này năm 2023-2024 – là giai đoạn bùng phát của dịch Covid-19 đã tác động mạnh mẽ vào hoạt động du lịch nói chung và dịch vụ du lịch nói riêng của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là những luận điểm trong học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và hạ tầng kinh tế; về tính lịch sử của sự vật, hiện tượng. Đồng thời cơ sở lý luận của luận văn còn là các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển đổi thành phần nền kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và các đường lối đổi mới lĩnh vực du lịch. Các chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề phát triển dịch vụ du lịch được thể hiện thông qua các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật của các cấp Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn mới.
5.2 Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Đề tài luận văn được thực hiện bởi các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp; Phương pháp phân tích – tổng hợp; Phương pháp thống kê; Phương pháp so sánh. Các phương pháp nghiên cứu trên được sử dụng cụ thể trong luận văn như sau:
Thứ nhất, Chương 1 với nội dung nghiên cứu là những vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp; Phương pháp phân tích – tổng hợp.
- Trong đó:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp được sử dụng nhằm giúp học viên dung nạp kiến thức lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trong các nghiên cứu khoa học khác đã được công bố. Phương pháp này tạo lập nền tảng lý luận quan trọng để học viên thực hiện các nhiệm vụ của luận văn một cách thông suốt và logic.
Trên cơ sở các kết quả có được từ việc nghiên cứu tài liệu thứ cấp, học viên sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp nhằm hệ thống hoá các vấn đề lý luận đã sáng tỏ của quản lý nhà nước và dịch vụ du lịch.
Thứ hai, Chương 2 với nội dung nghiên cứu là những vấn đề thực tiễn về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, học viên sử dụng phương pháp nghiên cứu gồm: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp; Phương pháp so sánh; Phương pháp phân tích – tổng hợp. Trong đó:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp được sử dụng khi học viện nghiên cứu các bảng số liệu thống kê, các báo cáo chuyên ngành về công tác quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của các cơ quan, cá nhân hữu quan về địa bàn nghiên cứu. Qua đó có được nguồn số liệu thứ cấp cho việc phân tích và đánh giá thực tiễn.
Phương pháp so sánh được sử dụng khi có nguồn số liệu thứ cấp về thực tiễn, nhằm giúp học viên đối chiếu thực tiễn qua các thời kỳ, các phạm vi không gian… của hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Phương pháp phân tích – tổng hợp được học viên sử dụng nhằm phân tích các số liệu thực tiễn về hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đồng thời qua đó tổng hợp nên những đánh giá thực tiễn về hoạt động này.
Thứ ba, Chương 3 với nội dung xác lập phương hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, học viên sử dụng chủ yếu phương pháp: Nghiên cứu tài liệu thứ cấp và Phương pháp phân tích – tổng hợp. Trong đó:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp được sử dụng để tham khảo các dự báo, các đề xuất, kiến nghị của giới chuyên gia, học giới và các tác giả trước đó đã nghiên cứu về cùng vấn đề nhưng khác phạm vi thời gian và không gian hoặc nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn.
Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng nhằm xây dựng các định hướng, giải pháp của riêng học viên đối với vấn đề đang được nghiên cứu của đề tài luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Luận văn dự kiến có được những ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Với những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đã được xác lập trong luận văn, học viên hi vọng sẽ đóng góp làm phong phú hơn kho tàng lý thuyết nghiên cứu về quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về các lĩnh vực cụ thể nói riêng. Sự đóng góp này còn có thể sẽ trở thành điểm tiếp nối để mở ra những chủ đề nghiên cứu lý luận mới xoay quanh chủ đề nghiên cứu của luận văn.
6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Với những kết quả nghiên cứu thực tiễn đạt được, luận văn hứa hẹn sẽ cung cấp được một bức tranh toàn cảnh về tình hình quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đặc biệt, với những định hướng và giải pháp đã đề xuất trong luận văn, nếu nhận được sự đồng thuận của nhà quản lý, có thể sẽ trở thành những cứ liệu tham khảo có giá trị trong hoạt động cải biến thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu cũng như trên phạm vi toàn quốc ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 03 chương gồm:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch;
- Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
- Chương 3. Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ DU LỊCH Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch
Để đề ra được khái niệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là gì, trước hết, cần làm rõ một số thuật ngữ sau:
- Khái niệm du lịch và dịch vụ du lịch:
Muốn hiểu rõ về khái niệm Dịch vụ du lịch, trước tiên phải hiểu về khái niệm Du lịch. Tại họi nghị LHQ về du lịch họp tại Roma – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyen gia đua ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hẹ, hiẹn tuợng và các hoạt đọng kinh tế bắt nguồn từ các cuọc hành trình và luu trú của cá nhan hay tạp thể ở ben ngoài noi ở thuờng xuyen cuả họ hay ngoài nuớc họ với mục đích hoà bình. Noi họ đến luu trú khong phải là noi làm viẹc của họ. Hay theo các nhà du lịch học Trung Quốc: họat đọng du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hẹ và hiẹn tuợng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã họi nhất định làm co sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiẹn. Còn theo I.I pirogionic, 1985: Du lịch là mọt dạng hoạt đọng của dan cu trong thời gian rỗi lien quan với sự di chuyển và luu lại tạm thời ben ngoài noi cu trú thuờng xuyen nhằm nghỉ ngoi, chữa bẹnh, phát triển thể chất và tinh thần, nang cao trình đọ nhạn thức van hoá hoạc thể thao kèm theo viẹc tieu thụ những giá trị về tự nhien, kinh tế và van hoá[21; tr17].
Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm Du lịch được thừa nhận rộng rãi nhất theo Khoản 1, Điều 3, Luật Du lịch số 09/2021/QH14, ban hành ngày 19/6/2021, Du lịch được định nghĩa là: “các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Du lịch được cấu thành bởi các thành tố theo một cấu trúc sau:
Du lịch = Khách du lịch + Điểm đến du lịch + Các dịch vụ du lịch.
Trong đó, khách du lịch là chủ thể của hoạt động du lịch, là người quyết định điểm đến và thụ hưởng các dịch vụ du lịch; Điểm đến du lịch là nơi chốn cụ thể mà khách du lịch lựa chọn trong một hoạt động du lịch cụ thể và Các dịch vụ du lịch là những sản phẩm được cung ứng cho khách du lịch để nâng cao trải nghiệm du lịch.
Dịch vụ du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng. Theo đó, công thức của dịch vụ du lịch là: Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Dịch vụ du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hoá du lịch
Như vậy, có thể thấy, trước hết Dịch vụ du lịch là một loại dịch vụ, quá trình phát triển dịch vụ du lịch cũng nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch và giúp doanh nghiệp thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Cụ thể, phát triển dịch vụ du lịch là hệ thống các biện pháp, phương pháp nhằm gia tăng không chỉ số lượng loại hình du lịch mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch nhằm cung ứng tốt hơn cho du khách và đem lợi ích ngày càng cao cho công ty du lịch.
Dịch vụ du lịch rất đa dạng trong các nội dung, tuy nhiên có thể kể tới các nội dung tiêu biểu gồm:
- Dịch vụ lữ hành (tour du lịch). Có nhiều loại hình dịch vụ, tour du lịch khác nhau như: Du lịch biển, trải nghiệm sông nước, khám phá leo núi, nhảy dù, nghiên cứu lịch sử, văn hóa ẩm thực, lặn biển, lễ hội,….
- Dịch vụ vận tải khách du lịch (cung cấp phương tiện di chuyển). Các loại phương tiện đi du lịch phổ biến như: Xe khách, máy bay, tàu hỏa, xe máy, xe hơi, xe đạp, taxi,…
- Dịch vụ lưu trú du lịch. Các loại hình lưu trú như: Khách sạn, Resort, nhà nghỉ, homestay, cắm trại, thuê nhà dân để trải nghiệm văn hóa địa phương,… – Dịch vụ ăn uống du lịch.
- Dịch vụ mua sắm, vui chơi giải trí và chăm sóc sức khoẻ.
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, Dịch vụ du lịch có thể định nghĩa như sau: Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
- Khái niệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch:
Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Như vậy, có thể khẳng định quản lý nhà nước nói chung được hiểu là: sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì an ninh trật tự, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Từ khái niệm này, có thể hiểu Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là: sự tác động có tổ chức bằng các công cụ, phương tiện cụ thể của các cơ quan, cá nhân nhà nước được giao thẩm quyền đến hoạt động cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch của một phạm vi lãnh thổ nhất định nhằm đảm bảo trật tự, an toàn, chất lượng, đúng pháp luật và phát triển của các dịch vụ du lịch, qua đó thúc đẩy sự hiện đại, chuyên nghiệp và phát triển của ngành du lịch nói riêng và đời sống xã hội nói chung.
Từ khái niệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch có thể rút ra một số đặc điểm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch như sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là quản lý các sản phẩm có tính vô hình. Khác với sản phẩm vật chất, các dịch vụ không thể nhìn thấy, nếm ngửi, hay nghe thấy được trước khi sử mua. Ví dụ khi khách mua tour du lịch trọn gói hay ghép đoàn thì du khách không có gì ngoài hợp đồng chương trình chi tiết hóa đơn và lời hứa hẹn đảm bảo về chất lượng dịch vụ sản phẩm nơi đến du lịch. Tư vấn viên bán phòng ngủ khách sạn không thể nào mang cả phòng ngủ khách sạn đến để bán cho du khách qua dịch vụ bán phòng. Họ chỉ bán quyền sử dụng trong khoảng thời gian nhất định, khi du khách rời đi cũng không thể mang theo bất kỳ thứ gì khác ngoài hóa đơn thanh toán.
Chính vì thế, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch đòi hỏi phải có tính bao quát cao trên cơ sở phải nhận diện được các sản phẩm dịch vụ du lịch vô hình thông qua các phương tiện ghi nhận cam kết cung ứng và sử dụng dịch vụ. Như vậy, hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đòi hỏi phải quản lý từ các hợp đồng, biên bản ghi nhận… cho tới việc thực thi sự cung ứng – thụ hưởng đó trên thực tế. Quá trình quản lý phải là quá trình đối chiếu liên tục sự tương đồng của hai vấn đề kể trên với các quy định của pháp luật hiện hành về dịch vụ du lịch đó. Chính vì thế, từ đặc điểm thứ nhất này có thể khẳng định, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là hoạt động quản lý có tính phức tạp cao, bao gồm cả quản lý giới vô sinh (hữu hình và vô hình) và giới hữu sinh (sinh vật sống, bao gồm cả con người).
Thứ hai, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch phải đảm bảo tính không thể phân chia trong cung ứng và thụ hưởng dịch vụ. Hầu hết các dịch vụ du lịch, người cung và cấp dịch vụ và khách hàng đều không thể tách rời nhau. Khách hàng tiếp xúc với nhân viên là phần quan trọng của sản phẩm. Món ăn trong nhà hàng có thể không hoàn hảo nhưng nếu người phục vụ thiếu ân cần chu đáo,không thân thiện, khách hàng có thể đánh giá thấp về chất lượng dịch vụ của nhà hàng. Về đặc tính này cho thấy sự tác động qua lại giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng tạo nên sự tiêu thụ dịch vụ.
Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, vì tính chất này của hoạt động dịch vụ du lịch, nên phải tiến hành hoạt động quản lý trên một phạm trù nội dung rất phức tạp. Các nội dung này bao gồm: nội dung và chất lượng dịch vụ cung ứng; cách thức cung ứng; phương tiện cung ứng; người trực tiếp cung ứng; các hoạt động phản ứng của khách hàng… Ví dụ, quản lý nhà nước về dịch vụ ẩm thực du lịch tại thành phố Đà Nẵng. Chính quyền thành phố Đà Nẵng năm 2022 đã có văn bản yêu cầu toàn bộ cá thể và tổ chức kinh doanh ẩm thực trên địa bàn phải bỏ “thìa có rãnh” để thay thế bằng “thìa không rãnh”. Thậm chí, để thúc đẩy quá trình chuyển đổi này nhanh chóng, chính quyền còn trích ngân sách hỗ trợ thu đổi miễn phí có thời hạn. Như vậy, không chỉ quản lý nội dung cung ứng là xem xét quyết định cho phép kinh doanh và giám sát việc kinh doanh của các loại ẩm thực; địa điểm kinh doanh ẩm thực; điều kiện của các chủ thể kinh doanh… mà chính quyền thành phố Đà Nẵng còn xem xét quản lý những vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tính an toàn và sự trải nghiệm của người thụ hưởng dịch vụ.
Thứ ba, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch vừa có nội dung đa dạng, vừa phải đi sâu vào những lĩnh vực chi tiết. Dịch vụ du lịch bao gồm rất nhiều hoạt động khác nhau. Có thể kể tới một số hình thức tiêu biểu như: lữ hành; vận tải; lưu trú; ẩm thực; chăm sóc sức khoẻ; thể thao; làm đẹp; vui chơi giải trí… trong mỗi loại hình được chia thành những loại hình nhỏ. Ví dụ: lữ hành bao gồm: lữ hành gồm: kinh doanh lữ hành gửi khách, kinh doanh lữ hành nhận khách và kinh doanh lữ hành kết hợp; vận tải du lịch gồm có: vận tải tour, vận tại trung chuyển du lịch, cho thuê xe tự lái… lưu trú có: nhà nghỉ; khách sạn; homestay; lều trại… Như vậy đầu tiên có thể khẳng định phạm vi quản lý nhà nước về dịch vụ di lịch rất rộng lớn, trải dài các nhu cầu đi lại, ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi… của khách du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Tuy nhiên, đặc điểm này phức tạp hơn ở chỗ, vừa có phạm vi rộng, hoạt động quản lý về dịch vụ du lịch đồng thời cũng phải tiến hành quán lý những vấn đề chi tiết, cụ thể của hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Ví dụ như đối với lưu trú ngoài quản lý các vấn đề liên quan đến các điều kiện cung ứng dịch vụ lưu trú và người lưu trú, hoạt động quản lý nhà nước còn phải xem xét đến các vấn đề rất cụ thể như: số lượng bình chữa cháy/số phòng; loại chất tẩy rửa dùng cho chăn ga giường; giải pháp xử lý nước thải sinh hoạt; điều kiện lắp đặt thang máy… hay ví dụ về việc chuyển đổi từ “thìa có rãnh” sang “thìa không rãnh” trong quản lý ẩm thực của thành phố Đà Nẵng cũng cho thấy sự chi tiết, tỉ mỉ trong trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch.
1.1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch
Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đóng một vai trò quan trọng trong đảm chất chất lượng của dịch vụ và trật tự trong việc cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn. Qua đó, góp phần thúc đẩy dịch vụ du lịch nói riêng và ngành kinh tế du lịch nói chung. Các vai trò cụ thể đó của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch có thể kể tới gồm:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch giúp đảm bảo duy trì chất lượng của dịch vụ du lịch. Chất lượng là giá trị cốt lõi của hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Chất lượng dịch vụ du lịch đến từ năng lực và ý thức của chủ thể cung ứng. Tuy nhiên, hai vấn đề này không phải là những đại lượng bất biến, mà có xu hướng biến đổi phức tạp. Sự biến đổi này bao gồm cả tích cực lẫn tiêu cực. Tích cực là xu hướng mà nhà cung ứng liên tục nâng cao năng lực và ý thức của mình để cung ứng dịch vụ du lịch ngày càng chất lượng hơn. Tiêu cực là xu hướng mà nhà cung ứng sẽ có những gian dối trong quá trình cung ứng dịch vụ du lịch nhằm giảm chi phí đầu vào hoặc để theo đuổi kiểu kinh doanh chộp giật, chặt chém. Cả hai xu hướng này đều cần đến sự can thiệp của nhà nước thông qua hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Cụ thể:
Ở xu hướng tích cực. Muốn nâng cao năng lực và ý thức của nhà cung ứng bên cạnh những tiềm lực và quyết tâm của chính nhà cung ứng đó thì còn cần những động lực từ nhà nước. Nhà nước với khả năng cho phép (thông qua cấp phép), giám sát và điều chỉnh các hành vi của các nhà cung ứng theo một định hướng có trước sẽ góp phần kiến tạo những động lực để các nhà cung ứng hiện thực hoá được việc nâng cao chất lượng dịch vụ không ngừng của mình. Đây cũng là một biểu hiện cụ thể của nhà nước kiến tạo phát triển.
Ở xu hướng tiêu cực. Xu hướng này tất yếu sẽ làm mai một và tiến tới xoá bỏ vị trí giá trị cốt lõi của chất lượng dịch vụ trong hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Do đó, nhà nước với thẩm quyền quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đóng vai trò như “người gác đền” đối với hoạt động cung ứng. Thông qua khả năng giám sát và xử phạt hành chính, nhà nước sẽ yêu cầu các chủ thể cung ứng đảm bảo những bộ tiêu chuẩn khi cung ứng dịch vụ. Điều này đảm bảo hạn chế tình trạng cung ứng dịch vụ theo kiểu chụp giật, chặt chém. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Thứ hai, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch giúp đảm bảo duy trì trật tự của hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch cũng như các hoạt động kinh doanh khác luôn tồn tại xu hướng cạnh tranh. Quy mô và tốc độ phát triển của ngành nghề càng cao, xu hướng cạnh tranh càng lớn. Sự cạnh tranh này trong một giới hạn nhất định sẽ mang đến những điểm tích cực như: thúc đẩy quá trình phát triển nói chung; gia tăng lợi ích cho khách hàng; đa dạng hoá sản phẩm và giá… tuy nhiên, nếu vượt ra khỏi sự kiểm soát của cạnh tranh sẽ dẫn tới phá vỡ trật tự của thị trường bởi: “cá lớn nuốt cá bé”; cạnh tranh không lành mạnh; cạnh tranh huỷ diệt… Để kiềm chế cho cạnh tranh được diễn ra trong trại thái tự do trong khuôn khổ, nhà nước đóng vai trò là người thiết lập hành lang và canh giữ cho sự cạnh tranh diễn ra trong khuôn khổ đó.
Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch với những phương thức như ban hành văn bản pháp luật, chính sách; tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật và chính sách; thanh tra, kiểm tra, giám sát…; xử phạt hành chính… không chỉ đóng vai trò là người canh giữ cho trạng thái cạnh tranh tích cực mà còn là trung gian phân giải khi có sự tranh chấp trong cung ứng và thụ hưởng dịch vụ du lịch. Nếu thiếu đi sự hiện diện của nhà nước trong dịch vụ du lịch, tất yếu thị trường sẽ mất trật tự tiến tới sự hỗn loạn không thể kiểm soát được và xuất hiện thế độc quyền trong cung ứng – trạng thái bất lợi cho người thụ hưởng.
Thứ ba, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ du lịch nói riêng và kinh tế du lịch nói chung. Nội dung dịch vụ du lịch phụ thuộc vào nội dung của kinh tế du lịch của quốc gia hay địa phương đó. Đến lượt mình, nội dung của kinh tế du lịch phản ánh điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên và văn hoá của địa phương hay quốc gia đó. Chính vì thế, dịch vụ du lịch phải có sự phát triển phù hợp với ý chí chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội… của từng quốc gia, từng địa phương. Muốn định hướng đúng sự phát triển đó, nhất thiết phải cần đến sự hiện diện của nhà nước trong quản lý dịch vụ du lịch.
Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch với thẩm quyền ban hành các chính sách phát triển dịch vụ du lịch; cho phép hoặc không cho phép thông qua việc cấp phép hoạt động cho các chủ thể cung ứng; ấn định các ưu đãi về thuế khoá và những điều kiện khác… sẽ tác động, điều chỉnh xu hướng phát triển của dịch vụ du lịch của quốc gia hoặc địa phương.
Sự định hướng phát triển này đến từ ý chí chính trị về phát triển kinh tế du lịch của từng quốc gia hoặc từng địa phương. Việc định hướng này không làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển tự nhiên của hoạt động cung ứng dịch vụ bằng các mệnh lệnh hành chính. Ngược lại, các ý chí chính trị về phát triển dịch vụ du lịch có được từ sự nghiên cứu kỹ lưỡng các tác động của kinh tế, xã hội… đến nhu cầu dịch vụ du lịch và nghiên cứu dự báo sự xuất hiện, biến đổi hay biến mất của các nhóm dịch vụ du lịch đến đời sống xã hội. Nói một cách dễ hiểu, các định hướng phát triển này là kết quả của một quá trình nghiên cứu công phu, đa diện và thậm chí là kinh nghiệm rút ra từ điển hình quốc tế hoặc từ những thử nghiệm trên thực tế. Năng lực định đoán trước những chuyển biến trong tương lai của cơ quan nhà nước sẽ quyết định chất lượng của định hướng phát triển dịch vụ du lịch của từng quốc gia hoặc từng địa phương. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Thứ tư, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch gián tiếp kiến tạo môi trường đầu tư cho quốc gia hoặc địa phương. Dịch vụ du lịch trước hết là một loại dịch vụ, do đó nếu được quản lý và thúc đẩy phát triển tốt sẽ chiếm một tỷ trọng cao trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế của quốc gia hoặc địa phương được cơ cấu theo một tỷ lệ hoàn hảo của các cơ cấu, nền kinh tế đó sẽ phát triển bền vững và hiệu quả. Đó là tiền đề quan trọng để xác lập nên một môi trường đầu tư triển vọng. Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch sẽ thiết lập những trạng thái trật tự và an toàn cho môi trường xã hội, qua đó đảm bảo an ninh cho các nhà đầu tư. Cuối cùng, dịch vụ du lịch được thúc đẩy phát triển đa dạng dưới sự quản lý nhà nước hiệu quả sẽ mang đến những lợi thế cạnh tranh về điểm đến du lịch, danh tiếng của quốc gia hoặc địa phương cũng được xây dựng và không ngừng mở rộng… từ đó gián tiếp tạo ra một kênh quảng bá hiệu quả cho địa điểm đầu tư lý tưởng. Thực tế đã cũng đã khẳng định vai trò này khi các quốc gia càng phát triển, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư dài hạn đều có sự đa dạng trong cung ứng dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch.
Thứ năm, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch giúp kinh tế du lịch thích ứng tốt hơn với những biến đổi của tự nhiên và xã hội. Vấn đề tự nhiên và xã hội của địa phương, quốc gia và toàn cầu luôn tác động đến nền kinh tế nói chung và kinh tế du lịch nói riêng. Sự tác động theo chiều hướng tích cực sẽ góp phần giúp nền kinh tế phát triển. Nhưng những tác động tiêu cực lại gây ra những kìm hãm rất lớn, thậm chí có thể huỷ hoại thành quả đã gây dựng của hàng chục năm. Nguy cơ này càng hiện hữu khi với sự tồn tại phân mảnh hoặc đa phần là cá thể, các nhà cung ứng dịch vụ du lịch sẽ không thể có đủ tiềm lực và sự đoàn kết để tìm ra và thực thi một giải pháp hiệu quả giúp nền kinh tế du lịch thoát ra khỏi khủng hoảng và hồi phục sau suy thoái. Khi này, chính nhà nước với tiềm lực khổng lồ của mình để nghiên cứu có quy mô về những khó khăn đang gặp phải, từ đó đề ra các giải pháp vi mô và vĩ mô và với thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật để định hướng và ban hành các mệnh lệnh hành chính để yêu cầu các chủ thể phải tuân thủ các giải pháp đó trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để thoát khỏi khủng hoảng.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
1.2.1. Xây dựng, ban hành pháp luật về dịch vụ du lịch
Đây là nội dung đầu tiên và có vai trò định hình các nội dung quản lý nhà nước khác về dịch vụ du lịch. Cơ quan quản lý nhà nước theo thẩm quyền sẽ ban hành những văn bản pháp luật quy định về dịch vụ du lịch nhằm thiết lập trật tự, định ra các tiêu chuẩn, nguyên tắc và định hướng phát triển của dịch vụ du lịch trong phạm vi toàn quốc hoặc của từng địa phương.
Pháp luật là những quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, do Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục luật định nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước. Pháp luật một mặt hướng dẫn, điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội phù hợp với nhu cầu của xã hội, mặt khác, hướng đến ý thức tình cảm làm cho mô hình hành vi đọng lại trong ý thức của con người. Pháp luật mang tính bắt buộc chung cho tất cả mọi người, mọi cơ quan, tổ chức nhằm mục đích ngăn ngừa, răn đe, trừng phạt những hành vi sai trái, giáo dục, cảm hoá những người có hành vi này, bồi dưỡng cho mọi người tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật bảo đảm cho xã hội phát triển lành mạnh, an toàn, bền vững… Pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ xã hội chủ yếu, cơ bản mang tính ổn định và được lặp đi lặp lại. Như vậy, pháp luật về dịch vụ du lịch là những nguyên tắc xử sự chung trong mối quan hệ cung ứng và thụ hưởng dịch vụ du lịch.
Đây chính là những nguyên tắc pháp lý mà hoạt động dịch vụ du lịch phải tuân thủ.
Các văn bản pháp luật về dịch vụ du lịch được ban hành bởi các chủ thể có chức năng trên cơ sở quy định của Điều 04, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2019. Theo đó, ở cấp trung ương, Quốc hội được ban hành Luật và Nghị quyết quy định về dịch vụ du lịch nói riêng và dịch vụ du lịch nói chung. Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành Nghị quyết và Pháp lệnh về vấn đề dịch vụ du lịch theo thẩm quyền. Để cụ thể hoá các văn bản này và cũng nhằm tạo dựng cơ sở pháp lý gần gũi nhất cho hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, Chính phủ được ban hành Nghị định và Thủ tướng được ban hành Quyết định về vấn đề dịch vụ du lịch. Các Bộ trưởng với thẩm quyền liên quan như: Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Xây dựng; Bộ Giao thông – Vận tải; Bộ Tài chính; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Giáo dục và Đào tạo… sẽ ban hành các Thông tư quy định về những vấn đề dịch vụ du lịch liên quan đến ngành, lĩnh vực phụ trách của từng bộ.
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề dịch vụ du lịch ở địa phương. Căn cứ của việc ban hành này là thẩm quyền được phân cấp; nội dung các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và đặc điểm, nhu cầu của từng địa phương. Theo đó, Hội đồng Nhân dân 3 cấp chính quyền địa phương được ban hành Nghị quyết và Ủy ban nhân dân 3 cấp chính quyền địa phương được ban hành Quyết định quy định về dịch vụ du lịch trên địa bàn.
1.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về dịch vụ du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Sau nội dung xây dựng và ban hành pháp luật về dịch vụ du lịch, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch thực hiện nội dung tiếp theo là tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật đó. Nếu việc xây dựng và ban hành pháp luật về dịch vụ du lịch tạo ra được các văn bản có tính pháp lý về lĩnh vực dịch vụ du lịch, thì tổ chức thực hiện là cơ sở để đưa các chính sách và pháp luật đó vào đời sống thực tiễn.
Tổ chức thực hiện pháp luật về dịch vụ du lịch được các cơ quan quản lý trực tiếp tổ chức trên thực tế. Đây là khâu tiếp nối của nội dung xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm đưa những quy định của pháp luật về dịch vụ du lịch vào đời sống thực tiễn. Việc tổ chức thực hiện pháp luật về dịch vụ du lịch cũng có các bước và các nội dung cụ thể như:
- Bước 1. Tuyên truyền, phổ biến quy định pháp luật về dịch vụ du lịch;
- Bước 2. Phân công, phân nhiệm và xác định mối quan hệ, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể thực hiện pháp luật về dịch vụ du lịch.
- Bước 3. Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch cho các cá nhân phụ trách quản lý ở các cấp.
- Bước 4. Tổ chức thực hiện các nội dung về dịch vụ du lịch theo sự phân công.
- Bước 5. Tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch.
Các bước này có những bước là mắt xích của nhau, bước này là tiền đề của bước sau, song cũng là sự tiếp nối của bước trước liền kề. Tuy nhiên, cũng có những bước duy trì xuyên suốt và là điều kiện đảm bảo cho tổng thể việc tổ chức thực hiện pháp luật về dịch vụ du lịch.
1.2.3. Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động dịch vụ du lịch
Thanh tra, kiểm tra hoạt động dịch vụ du lịch là một nội dung có tính xuyên suốt quá trình quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Bất kể ở đâu và khi nào có sự quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch nói riêng và quản lý nhà nước nói chung đều cần phải có sự hiện diện của nội dung thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát dịch vụ du lịch là việc cơ quan, cá nhân được trao thẩm quyền thường xuyên hoặc đột xuất tiến hành nghiệp vụ giám sát, thanh tra, kiểm tra các chủ thể cung ứng và khách hàng trong hoạt động dịch vụ du lịch.
Trong đó, chủ yếu đối tượng bị thanh tra, kiểm tra, giám sát là chủ thể cung ứng dịch vụ.
Nội dung của hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hướng tới chủ yếu là sự tuân thủ của các chủ thể và khách hàng đối với những nguyên tắc trong cung ứng và thụ hưởng dịch vụ du lịch. Ví dụ: kiểm tra việc tuân thủ các biện pháp an toàn trong vận tải du khách bằng thuyền, đò hay tàu thuỷ cánh ngầm; thanh tra thực tế đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong cung ứng dịch vụ ẩm thực du lịch; giám sát việc khai báo y tế đối với các khách du lịch có lưu trú…
Mục đích của hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát dịch vụ du lịch nhằm:
- Thứ nhất, duy trì sự hiện diện của nhà nước (thể hiện quyền uy trong quản lý của nhà nước) trong việc cung ứng và thụ hưởng dịch vụ du lịch; Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
- Thứ hai, đảm bảo các quy định của pháp luật, các quy chế pháp lý khác được tôn trọng và tuân thủ trên thực tế.
- Thứ ba, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và khắc phục các hành vi trái với nguyên tắc hoạt động và đe doạ ảnh hưởng đến kinh tế dịch vụ du lịch, kinh tế du lịch và đời sống xã hội nói chung.
- Thứ tư, liên tục cập nhật các phản hồi từ thực tiễn của các nhà cung ứng và khách hàng và gia tăng việc đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của các chủ thể quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch nhằm đề xuất các giải pháp thảo gở các bất cập, hoàn thiện pháp luật về dịch vụ du lịch.
1.2.4. Xử lý vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong kinh doanh dịch vụ du lịch
Dịch vụ du lịch trong hoạt động của mình cũng có những đối tượng cố ý hoặc vô ý thực hiện các hành vi vi phạm các quy tắc trong cung ứng và thụ hưởng. Các hành vi này tuỳ thuộc vào mức độ được ghi nhận trong pháp luật sẽ bị xử lý để đảm bảo tính răn đe. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2016 tiến hành xử phạt các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm. Xử lý hành chính trong lĩnh vực dịch vụ du lịch cũng như các lĩnh vực khác ba gồm: xử phạt hành chính (hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung) và các biện pháp xử lý hành chính (buộc khôi phục; buộc chữa bệnh bắt buộc; giáo dục tại xã phường…). Trong đó phổ biến nhất là các hình thức xử phạt hành chính với hình thức xử phạt chính là phạt tiền và hình thức xử phạt phụ là tịch thu giấy phép; tịch thu phương tiện…
Bên cạnh đó, khiếu nại, tố cáo trong dịch vụ du lịch cũng là một quyền của công dân được ghi nhận trong văn bản pháp luật. Khiếu nại có thể xuất phát từ các hành vi, quyết định hành chính của các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền khiến cho các chủ thể cung ứng hoặc thụ hưởng dịch vụ du lịch nghi ngờ đã xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của họ. Có nghĩa, đây là mối quan hệ giữa công dân và nhà nước, trong đó công dân sử dụng quyền công dân của mình để yêu cầu nhà nước xem xét lại quyết định hoặc hành vi hành chính của mình. Nhà nước phải có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2015 và các văn bản hướng dẫn khác để đảm bảo tính dân chủ trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch.
Ở khía cạnh khác, tố cáo trong dịch vụ du lịch cũng là quyền của công dân nhưng là quyền cung cấp thông tin về hành vi phạm pháp của cả cá nhân, tổ chức nhà nước lẫn dân sự. Đây không còn lại việc yêu cầu nhà nước xem xét lại hành vi mà là sự khẳng định về hành vi phạm pháp và cung cấp thông tin để yêu cầu nhà nước có các biện pháp ngăn chặn và xử lý hành vi đó. Như vậy, tố cáo trong dịch vụ du lịch có thể là việc một công dân tố cáo một công dân hoặc một tổ chức cung ứng dịch vụ du lịch đang thực hiện hành vi phạm pháp (thêm các phụ gia cấm trong lĩnh vực ẩm thực; sử dụng xe không được đăng kiểm trong lĩnh vực vận tải; không có biện pháp khai báo y tế trong dịch vụ lưu trú…) hoặc việc người dân tố cáo các cá nhân, tổ chức nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đã có những hành vi trái pháp luật như: nhận hối lộ; không xử lý hành vi phạm pháp; bao che, bảo kê hoạt động dịch vụ du lịch… Trong trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề bị tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo năm 2022.
1.3. Phương pháp quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
1.3.1. Phương pháp thuyết phục
Thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định. Như vậy, Phương pháp thuyết phục do chủ thể quản lý nhà nước sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Bản chất của phương pháp thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định. Phương pháp thuyết phục được thể hiện bằng những hoạt động như: giải thích, động viên, hướng dẫn, chứng minh… làm cho đối tượng hiểu rõ và tự giác chấp hành các yêu cầu của chủ thể quản lý.
Phương thức giáo dục, thuyết phục trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch được thể hiện ở việc các cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch dùng các công cụ như: loa phát thanh; tờ rơi; trao đổi trực tiếp; panô, áp phích… để chuyển tải các quy định của pháp luật về cung cấp dịch vụ du lịch. Đối tượng hướng tới của phương thức này bao gồm cả nhà cung ứng lẫn khách du lịch để đảm bảo cho họ hiểu và duy trì các quyền và nghĩa vụ của mình vì vấn đề hài hoà lợi ích của đôi bên cũng như đảm bảo lợi ích cho xã hội.
1.3.2. Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là phương thức tác động tới cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh dựa trên quyền lực nhà nước và phục tùng.
Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng cách đơn phương quy định nhiệm vụ và phương án hành động của đối tượng quản lý. Phương pháp này được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật.Các quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể quản lý do pháp luật quy định. Ví dụ: Chủ tịch UBND các cấp chỉ được ra chỉ thị, kiểm tra hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khuôn khổ, chức năng, quyền hạn của mình do pháp luật quy định. Tóm lại, phương pháp hành chính là phương thức tác động đến cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý thông qua quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh và sự phục tùng.
Trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, phương thức hành chính được thể hiện thông qua các hoạt động cụ thể như:
Cấp và thu hồi giấy phép. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét các điều kiện của từng chủ thể khi các chủ thể này thực hiện thủ tục xin cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch. Và tiến hành thu hồi các giấy phép khi hết thời hạn hoặc các chủ thể cung ứng vi phạm các quy định của pháp luật đến mức phải thu hồi giấy phép có thời hạn hoặc vĩnh viễn.
Ban hành các bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn trong hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Bằng thẩm quyền của mình, các cơ quan chức năng sẽ nghiên cứu, ấn định và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn cụ thể cho từng lĩnh vực kinh doanh khác nhau.
Đó cũng là cơ sở cho hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và hành chính nhằm điều chỉnh, cấm đoán, bắt buộc… các chủ thể cung ứng, khách hàng và các bên liên quan phải tuân thủ trong quá trình cung ứng – thụ hưởng dịch vụ du lịch. Các văn bản này chính là mạnh lệnh hành chính mà các đối tượng quản lý phải tuân thủ.
Phương thức hành chính trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là phương thức phổ biến nhất, được sử dụng thường xuyên và đóng vai trò quan trọng nhất trong việc đạt được mục tiêu quản lý của nhà nước về dịch vụ du lịch ở cả phạm vi quốc gia lẫn địa phương.
1.3.3. Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của con người.
Đây là phương pháp tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế như việc quy định chế độ thưởng, xử phạt. Phương pháp kinh tế được thể hiện trong việc sử dụng đòn bẩy kinh tế như: quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh; chế độ hạch toán kinh tế, chế độ thưởng… nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả của đối tượng quản lý phát huy năng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ.
Trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, phương thức kinh tế được áp dụng rất phổ biến với hai nhóm hoạt động cơ bản: khen thưởng, động lực và xử phạt.
Nhóm khen thưởng, động lực là cơ quan quản lý nhà nước sử dụng tiền hoặc các công cụ mang ý nghĩa tài sản khác như: ưu đãi thuế; ưu đãi vay vốn; hạ giá thuê – mua… để tặng thưởng cho những cá nhân, tổ chức kinh doanh và thụ hưởng dịch vụ chấp hành tốt các yêu cầu của cơ quan quản lý hoặc để sử dụng chúng như một liệu pháp tạo động lực kích thích đầu tư, phát triển.Ví dụ: huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc ưu đãi 60% tiền thuê đất cho việc mở mới dịch vụ du lịch lưu trú Homestay trên địa bàn trong năm 2024. Tỉnh Quảng Ninh trao tặng 5.000.000 đồng cho du khách có lượt thứ 14 triệu năm 2023…
Nhóm xử phạt là việc cơ quan quản lý nhà nước căn cứ quy định về xử phạt hành chính và hành vi thực tế của chủ thể thực hiện hành vi mà ra các quyết định xử phạt bằng tiền hoặc tịch thu tài sản của những cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định về cung ứng và thụ hưởng dịch vụ du lịch. Đây là phương thức gây nên sự răn đe lớn do người bị xử phạt phải chịu tổn thất về kinh tế – chủ yếu là tiền đối với hành vi vi phạm của mình, từ đó sẽ tuân thủ pháp luật được tốt hơn. Ví dụ: Singapore xử phạt 400 đô Sing đối với du khách có hành vi hái hoa công cộng.
1.3.4. Phương pháp cưỡng chế Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế về mặt tài sản hoặc tự do thân thể.
Chủ thể áp dụng phương pháp cưỡng chế phải là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật như: cơ quan công an, ủy ban nhân dân… Đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định như: cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Biểu hiện của phương pháp cưỡng chế là buộc cá nhân, tổ chức phải chấp hành các quyết định đơn phương của chủ thể quản lý. Cụ thể là buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định về mặt tài sản của cá nhân, tổ chức hoặc tự do thân thể của cá nhân.
- Có bốn loại cưỡng chế nhà nước:
Cưỡng chế hình sự: là biện pháp cưỡng chế do các cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội hoặc bị tình nghi phạm tội.
Cưỡng chế dân sư: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm dân sự, gây thiệt hại cho nhà nước, tập thể hoặc công dân.
Cưỡng chế kỷ luật: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với những cán bộ công chức có hành vi vi phạm kỷ luật nhà nước.
Cưỡng chế hành chính: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan và người có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân, tổ chức nhất định với mục đích ngăn chặn hay phòng ngừa các vi phạm pháp luật…
Đây là phương thức có sức mạnh lớn nhất vì trực tiếp sử dụng bạo lực để đạt được các mục tiêu quản lý. Trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, phương thức này chủ yếu thể hiện dưới hình thức là hoạt động cưỡng chế tháo dỡ; cưỡng chế ngừng hoạt động; cưỡng chế thực hiện các lệnh cấm… trong thực hiện cung ứng và thụ hưởng dịch vụ du lịch. Ví dụ chính quyền cưỡng chế người lưu trú đi khai báo y tế hoặc cách ly tập trung nếu các du khách đến từ vùng có yếu tố dịch tể nhưng không khai báo hoặc trốn cách ly. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Phương thức này thường được sử dụng sau cùng vì có yếu tố bạo lực nên không được ưu tiên sử dụng.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch
Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó cơ bản có thể kể tới một số yếu tố điển hình sau:
Thứ nhất, thể chế về du lịch của quốc gia và địa phương. Thể chế về du lịch của một quốc gia hay của địa phương là những chính sách và văn bản pháp luật của quốc gia hoặc địa phương đó ban hành về vấn đề du lịch. Thể chế này ấn định quy mô, tính chất và định hướng phát triển của ngành du lịch. Do đó, sự phát triển hay bó hẹp của khách thể quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đến từ sự cởi mở hay giới hạn của thể chế về du lịch.
Các chính sách và pháp luật về du lịch nói chung và dịch vụ du lịch nói riêng là cơ sở pháp lý để hoạt động quản lý của nhà chức trách được thực thi trên thực tiễn. Do vậy, có thể thấy chính các thể chế này sẽ quy định nội dung, phương thức và các thẩm quyền quản lý nhà nước về du lịch trên phạm vi lãnh thổ quốc gia hay địa phương. Chính vì thế, các thể chế này có tác động rất lớn đến hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch theo hai chiều hướng. Nếu đó là những chính sách và pháp luật đúng đắn, phù hợp với đòi hỏi khách quan của xã hội và của tình hình du lịch quốc gia hoặc địa phương, thì các thể chế này sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch, cũng như xác lập một cách khoa học và đầy đủ các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Ngược lại, nếu đó là những chính sách có chất lượng kém, những văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp sẽ dẫn đến chính các thể chế là cản lực cho sự phát triển của du lịch và quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn đó.
Thứ hai, tiềm lực quản lý. Tiềm lực quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch bao gồm tiềm lực bộ máy, tiềm lực con người, tiềm lực vật chất (tiền bạc và trang thiết bị). Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là quá trình tác động có mục đích thông qua các phương thức, công cụ… của nhà nước đến hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Chính vì thế, vấn đề tiềm lực quản lý với bao gồm: tiềm lực về tổ chức bộ máy, tiềm lực về tư duy và kỹ năng của con người, tiềm lực về vật chất sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch.
Tiềm lực về tổ chức là sự kiện toàn của các tổ chức được trao quyền quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Các tổ chức này càng được tổ chức chặt chẽ, khoa học với sự phân công, phối hợp logic, nhịp nhàng sẽ đảm bảo cho việc thực thi thẩm quyền quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch được đầy đủ, toàn vẹn. Ngược lại, sự chồng chéo sẽ khiến cho nhiều nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch sẽ bị bỏ ngỏ, trong khi đó nhiều nội dung khác sẽ bị chồng lấn về thẩm quyền. Không những thế, một tổ chức thông suốt và có thứ bậc sẽ đem lại quyền uy cho hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch nói riêng và quản lý nhà nước nói chung. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Tiềm lực về con người là khả năng nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, về nội dung, phương thức và thẩm quyền quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của các cá nhân công quyền được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Có được các nhận thức này một cách đầy đủ, người thực thi mới hiểu rõ được bản chất hành vi công vụ của mình, từ đó trực tiếp quy định hành vi kỹ năng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của cá nhân đó. Nếu hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch được thực thi bởi một bộ máy nhân sự chuyên nghiệp, tài năng và tận tâm, thì hoạt động quản lý mới sớm đạt được mục tiêu. Ngược lại, chính những cá nhân yếu kém về nhận thức và hành vi sẽ cản trở hoạt động quản lý này đạt tới mục tiêu.
Tiềm lực về vật chất bao gồm tiềm lực về các nguồn tài chính và nguồn lực về các trang thiết bị phục vụ hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch nói riêng trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn về vật lực để ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý. Việc ứng dụng công nghệ thông tin với sự hỗ trợ của các trang thiết bị hiện đại sẽ giúp hoạt động quản lý diễn ra nhanh chóng, chính xác, minh bạch và hiệu quả cao. Ngược lại, nếu vật lực yếu kém, lạc hậu, công tác quản lý chủ yếu xoay quanh các phương thức thủ công sẽ mang đến sự chậm trễ và thiếu công bằng trong hoạt động quản lý, gây ra những kìm hãm cho sự phát triển của dịch vụ du lịch quốc gia hoặc địa phương.
Thứ ba, các vấn đề thuộc về môi trường tự nhiên. Các vấn đề của môi trường tự nhiên như địa hình, khí hậu, thiên tai… cũng tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Cụ thể, vị trí địa lý với quy mô của lãnh thổ hay sự phức tạp của địa hình sẽ tác động trực tiếp đến cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Phạm vi càng rộng và địa hình các phức tạp tất yếu sẽ đòi hỏi càng cao về sự phân nhánh của các tổ chức hoặc cá nhân được trao quyền quản lý và ngược lại. Vấn đề khí hậu tác động đến các quy định về thời gian và nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Các dịch vụ du lịch bản chất là những giá trị hưởng thụ được cung ứng bởi các nhà cung cấp dịch vụ, nó chịu tác động của vấn đề khí hậu rõ rệt. Ví dụ: dịch vụ cung cấp đồ ăn, thức uống sẽ có sự biến đổi về chất lượng khác nhau giữa mùa đông và mùa hè. Chính vì thế, nhà quản lý cũng phải nắm bắt được các quy luật để có những quy định về quy chuẩn khi thanh tra, kiểm tra và giám sát chất lượng của các sản phẩm này. Đối với thiên tai, chủ yếu tác động của nó là những cản trở tiêu cực đến hoạt động du lịch nói chung và cung ứng dịch vụ du lịch nói riêng. Do đó, thiên tác cũng tác động tiêu cực trực tiếp đến hoạt động quản lý dịch vụ du lịch. Ví dụ, ngập lụt tại thành phố Hội An diễn ra thường xuyên khiến cho hoạt động du lịch bị đình trệ trong một khoảng thời gian nhất định, các dịch vụ du lịch vì thế cũng bị hạn chế. Hoạt động quản lý nhà nước về du lịch tất yếu cũng không thể thực hiện hết các nội dung quản lý của mình một cách bình thường.
Thứ tư, những vấn đề văn hoá và trình độ dân trí. Văn hoá và dân trí tác động trực tiếp đến cách thức cung ứng và hưởng thụ dịch vụ du lịch, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Vấn đề văn hoá quy định nội dung của dịch vụ du lịch. Ví dụ, đất nước Thái Lan có đặc trưng văn hoá là sự phổ biến và tôn sùng Phật giáo và Hoàng gia. Do đó, người du lịch phải ăn mặc kín đáo khi tham quan các công trình thuộc hai vấn đề kể trên. Từ đó tạo ra dịch vụ cho thuê tấm vải choàng cho những du lịch ăn mặc không kín đáo. Điều này đồng nghĩa với việc quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của Thái Lan và các địa phương thuộc quốc gia này phải bổ sung thêm nội dung quản lý về dịch vụ cho thuê tấm vải choàng với các khía cạnh quản lý như: điều kiện cho thuê; giá cả; địa điểm; màu sắc… Nội dung này hoàn toàn không xuất hiện trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở Việt Nam do sự khác biệt về đặc điểm văn hoá của người Việt và người Thái. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
Vấn đề trình độ dân trí cũng tác động rất lớn đối với quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Trình độ dân trí của các chủ thể cung ứng dịch vụ du lịch là việc hiểu và tuân thủ các quy định về quyền và nghĩa vụ, trong đó đặc biệt là các nghĩa vụ của mình khi cung ứng dịch vụ du lịch. Ở chiều hướng khác, trình độ dân trí của khách du lịch là sự hiểu biết của người du lịch về quyền và nghĩa vụ, trong đó đặc biệt là quyền của mình khi hưởng thụ các dịch vụ du lịch. Nếu trình độ dân trí của cả hai đối tượng đều cao, mối quan hệ cung ứng – hưởng thụ sẽ được diễn ra trên cơ sở sự tác động qua lại của sự thoả thuận. Trong đó, nghĩa vụ của người này là cơ sở để thoả mãn quyền của người khác và ngược lại. Trạng thái này cần rất ít đến sự hiện diện của nhà nước. Ngược lại, sự không hiểu rõ và tuân thủ các quyền và nghĩa vụ của mình sẽ dẫn tới các xung đột về lợi ích đôi bên hoặc dẫn đến người cung ứng vi phạm các nguy cơ của cung ứng dịch vụ du lịch thì đòi hỏi sự quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch phải mạnh mẽ hơn.
Thứ năm, sự tác động của quốc tế. Sự tác động của quốc tế bao gồm hai vấn đề: vấn đề hội nhập quốc tế và vấn đề tiêu cực của quốc tế.
Quá trình, mức độ và quy mô hội nhập quốc tế có tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của một quốc gia, thậm chí là của một địa phương cụ thể. Các quốc gia càng hội nhập sâu rộng càng đón nhận nhiều lượng khách du lịch quốc tế. Dịch vụ du lịch cung cấp cho du khách quốc tế có sự khác biệt với dịch vu du lịch dành cho du khách nội địa. Đầu tiên, các dịch vụ du lịch phải đảm bảo phổ biến, vừa đáp ứng được thị hiếu, nhu cầu du khách đến từ rất nhiều đất nước với đa dạng nền văn hoá, sắc tộc và tôn giáo. Nhưng đồng thời dịch vụ du lịch đó phải không trái với các quy tắc văn hoá, sắc tộc và tôn giáo đó của một hay nhiều cộng đồng quốc tế. Tiếp đó, dịch vụ du lịch dành cho du khách quốc tế có tiêu chuẩn cao hơn dành cho du khách nội địa. Điều này không có nghĩa là dịch vụ du lịch phải coi trọng du khách quốc tế mà xem nhẹ du khách nội địa. Bản chất của vấn đề nằm ở chỗ, du khách quốc tế tiêu tốn nhiều chi phí hơn du khách nội địa cho cùng một điểm du lịch do khoảng cách địa lý, ngôn ngữ, sinh hoạt… chính vì thế họ luôn có tâm lý yêu cầu dịch vụ du lịch cao hơn so với tiêu chuẩn chung của du khách nội địa. Sự tác động này cũng có ảnh hưởng trực tiếp tới quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trong khâu định hướng và giám sát chất lượng và việc tuân thủ nguyên tắc của các nhà cung ứng. Càng hội nhập sâu rộng, thu hút được nhiều du khách quốc tế thì công tác quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch càng nặng nề với đa dạng các nội dung quản lý hơn và ngược lại.
Tiểu kết Chương 1
Như vậy, thông qua kết quả nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch có thể thấy, đây là một hoạt động có chủ đích của nhà nước, tác động vào hoạt động cung ứng và thụ hưởng dịch vụ du lịch để đạt được những mục đích đã dự liệu trước. Hoạt động quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch có 04 nội dung chính bao gồm: ban hành văn bản quản lý; tổ chức thực hiện các văn bản quản lý; thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động dịch vụ du lịch và xử phạt hành chính trong lĩnh vực này. Phương thức được sử dụng trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch bao gồm: phương thức thuyết phục; phương thức hành chính; phương thức kinh tế và phương thức cưỡng chế.Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: những yếu tố thuộc về môi trường tự nhiên; thể chế quản lý; năng lực nhận thức và thực thi của chủ thể quản lý; vấn đề văn hoá và dân trí; tác động của hội nhập quốc tế. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hội An.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch Hội An

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch Hội An