Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do thực hiện đề tài

Việt Nam đang tham gia mạnh mẽ vào tiến trình toàn cầu hóa và khu vực hóa, tuy nhiên, ở sân chơi lớn, sự cạnh tranh càng khốc liệt để tồn tại và phát triển bền vững. Làm sao cung cấp cho thị trường lao động nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa hồng, vừa chuyên, có đầy đủ phẩm chất và kỹ năng nghề nghiệp ngang tầm khu vực và quốc tế là bài toán nan giải của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp trong hệ thống GD&ĐT đã trở thành một tư tưởng chủ đạo, một nhu cầu cấp bách trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực nước ta, hướng đến sự năng động, sáng tạo, trình độ tay nghề cao và mỗi cá nhân có khả năng tự lựa chọn, định hướng và phát triển nghề nghiệp một cách khoa học và hiệu quả (Phạm Đăng Khoa, 2016).

Để có thể đáp ứng được những tiêu chuẩn nói trên việc định hướng nghề nghiệp đối với mỗi cá nhân có ý nghĩa không chỉ với bản thân cá nhân ấy mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Bởi định hướng nghề nghiệp chính xác sẽ giúp cá nhân phát huy tối đa năng lực của bản thân, hứng thú với công việc. Nhờ đó, hiệu quả công việc của họ được nâng cao. Đồng thời định hướng nghề nghiệp đúng đắn sẽ giúp cá nhân đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho xã hội. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Định hướng nghề nghiệp của mỗi cá nhân có thể được bắt đầu từ rất sớm, trong đó lứa tuổi học sinh THPT là một giai đoạn quan trọng. Vì học sinh THPT là một lực lượng tiềm năng của nguồn nhân lực. Định hướng đúng trong lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT không chỉ tạo hứng thú cho học sinh ham học mà đôi khi còn quyết định cả sự thành đạt của các em. Thực tế hiện nay, việc định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT ở nước ta vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Báo cáo mới nhất của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ngày 24/12/2015 cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm nhưng số lượng người có trình độ đại học, sau đại học thất nghiệp tăng cao: 225.500 người (Báo cáo viện KHLĐ và XH-Bộ LĐTB & XH, 24/12/2015).

Nghị quyết 29-NQ/TW của Đảng “về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” cũng đã xác định nền giáo dục của nước ta còn một số tồn tại mà cụ thể là đào tạo của chúng ta thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; một phần nguyên nhân là công tác hướng nghiệp còn hạn chế.

Chiến lược phát triển giáo dục Việt nam giai đoạn 2011-2020 cũng xác định bất cập yếu kém là hệ thống giáo dục quốc dân thiếu tính thống nhất, thiếu liên thông giữa một số cấp học và một số trình độ đào tạo, chưa có khung trình độ quốc gia về giáo dục. Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo, giữa các vùng miền chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội. Số lượng các cơ sở đào tạo, quy mô tăng nhưng các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa tương xứng. Một số chỉ tiêu chưa đạt được mức đề ra trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, như: tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đi học tiểu học và trung học cơ sở; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học giáo dục nghề nghiệp. Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực, trên thế giới. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển số lượng với yêu cầu nâng cao chất lượng; năng lực nghề nghiệp của học sinh, sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc; có biểu hiện lệch lạc về hành vi, lối sống trong một bộ phận học sinh, sinh viên. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Chính vì chưa được định hướng rõ ràng ngay từ khi còn học trong trường phổ thông nên nhiều học sinh đã chọn ngành, chọn nghề chưa phù hợp với bản thân. Kết quả là sau 4-5 năm học ở trường ĐH nhưng khi ra trường có một lượng lớn sinh viên thất nghiệp hoặc làm không đúng ngành hoặc là trong quá trình học tập sẽ không tập trung. Trong khi đó những học sinh học một số nghề kỹ thuật (thời gian đào tạo 2-3 năm) lại dễ dàng xin được việc. Việc thiếu định hướng nghề cho học sinh THPT đã gây ra một lãng phí lớn không chỉ cho bản thân, gia đình của học sinh mà còn cho cả xã hội.

Trong thực tế, đa phần học sinh tốt nghiệp THPT đều có mong muốn học lên ĐH, CĐ. Theo thống kê gần đây, hàng năm, nước ta có hơn một triệu học sinh THPT dự thi tốt nghiệp THPT. Trong số đó có tới 90% học sinh tốt nghiệp THPT tham gia xét tuyển vào các truờng ĐH, CĐ. Nhưng hệ thống các truờng ĐH, CĐ chỉ tiếp nhận khoảng 20% – 30% số học sinh. Có rất nhiều học sinh cho rằng: “Vào đại học như là một sự bảo hành cho tương lai”. Trượt đại học coi như cuộc đời mất phương hướng.

Đó là nỗi buồn của bản thân và của cả gia đình, chính điều đó đã dẫn tới áp lực nặng nề cho học sinh trong các kỳ thi tuyển sinh vào ĐH, CĐ.

Hiện nay có một thực tế là rất nhiều sinh viên trong quá trình học cảm thấy ngành học mà mình đang theo học không phù hợp với sở trường của bản thân mình nên chán nản, sa sút trong học tập dẫn đến bị đuổi học hoặc tự ý nghỉ học để thi lại chọn ngành nghề mới phù hợp với sở trường của bản thân. Hoặc học xong ra trường bị thất nghiệp hoặc phải đào tạo lại để tìm việc làm dẫn đến tốn kém tiền bạc, thời gian và công sức của bản thân và xã hội. Trong hai năm gần đây tại trường THPT Đồng Phú có số học sinh đăng ký dự thi đại học cao đẳng: năm 2016 có 210 học sinh, năm 2017 có 300 học sinh; số học sinh trúng tuyển vào các trường đại học cao đẳng năm 2016 có 200 học sinh, năm 2017 có 265 học sinh; khi nhập học năm 2016 có 182 học sinh, năm 2017 có 189 học sinh. Khi ra trường nhiều em đi làm trái với ngành nghề đào tạo của bản thân, thất nghiệp ở nhà giúp gia đình hoặc phải tiến hành đào tạo lại. Nguyên nhân của thực trạng trên là do học sinh lựa chọn ngành nghề chưa phù hợp với năng lực, sở thích của bản thân hoặc thiếu định hướng nghề nghiệp trước khi lựa chọn nghề nghiệp. Việc định hướng nghề nghiệp thích hợp nhất là thời điểm học sinh đang học THPT. Bởi vì trong giai đoạn này diễn ra quá trình lựa chọn ngành nghề cho bản thân sau 12 năm học phổ thông đó là đi học nghề hoặc đi vào cuộc sống. Do vậy, việc định huớng nghề cho học sinh THPT là vấn đề cần đuợc quan tâm thỏa đáng. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Như vậy trong thời gian qua, hoạt động giáo dục hướng nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, chưa thật sự hiệu quả, gây lãng phí khá lớn về sức người, sức của, góp phần tăng cao tỉ lệ thất nghiệp, tình trạng thừa thầy thiếu thợ, mất cân đối nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao đang là một trong những điểm yếu của Việt Nam nói chung và huyện Đồng Phú nói riêng. Trong khi đó, hoạt động giáo dục hướng nghiệp hiện nay còn mang tính hình thức và chưa chuyên nghiệp. Đa số học sinh ít quan tâm và ít hiểu biết về các ngành nghề mà địa phương đang cần, nhiều học sinh chọn nghề theo cảm tính. Do đó, quản lý hiệu quả hơn hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT đã và đang là một nhu cầu cấp thiết, có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng giáo dục hướng nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực của từng địa phương trong thời kỳ cả nước đang đẩy mạnh CNH-HĐH và hội nhập quốc tế sâu, rộng như hiện nay, đặc biệt tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước.

Chính vì những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu vấn đề “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước” sẽ cung cấp những số liệu thực tế nhằm phục vụ công tác hướng nghiệp cho học sinh ngay khi còn đang học phổ thông. Với mục đích hướng nghiệp phải dựa trên năng lực và sở thích của từng học sinh, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở ban đầu quan trọng để xây dựng và đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp để tổ chức các hoạt động nhằm tác động vào các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chọn nghề của học sinh. Qua đó hạn chế tối đa thời gian và chi phí cho gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đào tạo và đào tạo nguồn nhân lực.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục

2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

2.1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động hướng nghiệp của học sinh THPT tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước.

3. Giả thiết nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Đồng Phú đã đạt được một số kết quả như chương trình giáo dục hướng nghiệp đã được đưa vào giảng dạy chính khóa, kế hoạch giáo dục hướng nghiệp khá chu đáo, phương thức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp có nhiều tiến bộ … tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp về xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá, … Nếu khảo sát, đánh giá đúng thực trạng, tìm ra được những nguyên nhân bất cập về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp thì sẽ đề xuất được các biện pháp mang tính khả thi.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

  • Hệ thống hóa lý luận về quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THPT.
  • Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động hướng nghiệp học sinh THPT tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước.
  • Đề xuất những biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động hướng nghiệp của học sinh tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước.

5. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm cung cấp những số liệu thực tế, khách quan và khoa học giúp các nhà trường biết được những yếu tố cụ thể nào ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp trong tương lai của học sinh THPT. Từ đó tác động trực tiếp đến những đối tượng liên quan để nâng cao công tác hướng nghiệp trong các nhà trường trên địa bàn. Tuy nhiên hoạt động hướng nghiệp cho học sinh tại huyện Đồng Phú trong thời gian qua chưa được quản lý tốt dẫn đến còn một số học sinh lựa chọn nghề nghiệp chưa phù hợp. Để giúp những nhà quản lý nhận diện và đánh giá các yếu tố tác động đến lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT trên địa bàn huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước đề tài sẽ giải quyết những nội dung sau:

  • Nhận diện thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong mối quan hệ nhận thức của học sinh về năng lực, sở thích và nghề nghiệp trong tương lai.
  • Phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp của học sinh trên địa bàn huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước.
  • Đề xuất biện pháp quản lý, tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Phạm vi về nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp và biện pháp quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THPT dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn.

6.2. Phạm vi về không gian Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Hiện nay, huyện Đồng Phú là một trong những huyện có kinh tế, xã hội, giáo dục phát triển hàng đầu và là một trong những huyện vùng ven của Thị Xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước. Cùng với việc chú trọng đầu tư phát triển kinh tế, xã hội thì giáo dục cũng là một trong những mũi nhọn đang được quan tâm. Chính vì vậy, chúng tôi đã thực hiện khảo sát tại 2 trường THPT bao gồm THPT Đồng Phú và THCS&THPT Đồng Tiến trên địa bàn huyện Đồng Phú cho việc nghiên cứu đề tài.

6.3. Phạm vi về thời gian

Đề tài khảo sát hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT năm học 2017-2018, đồng thời đây là thời điểm Bộ GD&ĐT ban hành Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đang chuẩn bị đưa vào thực thi.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp và tham vấn nghề trong và ngoài nước trên cơ sở phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá, từ đó rút ra những kết luận khái quát, làm cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu.

Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu bao gồm:

  • Các văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước Việt Nam về giáo dục hướng nghiệp;
  • Các công trình khoa học liên quan đến giáo dục hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT;
  • Các chương trình giáo dục hướng nghiệp của các trường THPT trong nước;
  • Các bài báo khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài.
  • Thu thập, lựa chọn và sàng lọc các tư liệu có liên quan đến giáo dục hướng nghiệp và tham vấn nghề, đặc biệt là giáo dục hướng nghiệp và tham vấn nghề cho học sinh ở THPT;
  • Đọc và ghi chép các thông tin, số liệu có liên quan;
  • Phân tích, đánh giá các thông tin, số liệu thu thập được;
  • Khái quát hóa, hệ thống hóa những thông tin thu thập được;
  • Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu.

7.2. Phương pháp điều tra giáo dục Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Sử dụng phương pháp điều tra giáo dục nhằm thu thập thông tin về thực trạng vấn đề nghiên cứu như: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường THPT tại huyện Đồng Phú; Sự lựa chọn nghề của học sinh các trường THPT tại huyện Đồng Phú; Những nguyên nhân ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp ở các trường THPT tại huyện Đồng Phú.

Xây dựng hệ thống câu hỏi đóng và mở về giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT với 1 mẫu phiếu dành cho các thầy cô trong Ban Giám hiệu, các giáo viên tham gia thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp và 1 phiếu dành cho học sinh lớp 12 ở 2 trường THPT tại huyện Đồng Phú.

Chúng tôi tiến hành điều tra bằng cách phát cho giáo viên, học sinh mỗi người một phiếu và hướng dẫn cách trả lời đồng thời đề nghị họ trả lời đầy đủ tất cả các câu hỏi, sau khi trả lời xong thì thu lại phiếu điều tra.

7.3. Phương pháp xử lý bằng thống kê

Sử dụng phần mềm SPSS 23.0 để xử lí các thông tin thu được về định lượng và định tính từ đó rút ra những kết luận khái quát và cần thiết cho đề tài nghiên cứu.

8. Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, phần nội dung gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp học sinh tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước.

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

Giáo dục hướng nghiệp trên thế giới được nghiên cứu từ những năm đầu của thế kỷ XX và có rất nhiều nhà nghiên cứu nghiên cứu về vấn đề này. Cụ thể một số nghiên cứu sau được chọn lọc đưa vào nội dung của luận văn này:

Theo luận văn thạc sỹ của Trần Đình Chiến: Cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1948 ở Pháp được xem là cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi giáo dục hướng nghiệp là một vấn đề quan trọng không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển.

Năm 1980 James McKeen Cattell – một trong những người tiên phong của khoa học hướng nghiệp, giáo sư tâm lý học của Đại học Pensylvania (Mỹ) đã mở màn bằng việc xây dựng các test đầu tiên để đo lường và đánh giá các thành công học đường của sinh viên. Năm 1909 Frank Parsons cũng là giáo sư Đại học Pensylvania đã xuất bản cuốn “Lựa chọn một nghề nghiệp” (Choosing Vocation), về sau vào những năm 1930, thế giới phương Tây đã tôn vinh cuốn sách này như là một công trình nền tảng của ngành tư vấn hướng nghiệp. Cuốn sách đã trình bày cơ sở tâm lý học của hướng nghiệp và chọn nghề, các tiêu chí về sự phù hợp nghề của mỗi cá nhân để từ đó có sự lựa chọn phù hợp. Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp tác giả đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có được kết quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J.L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên thế giới.

Tại Liên Xô (cũ) vào những năm 29, 30 của thế kỷ XX, vấn đề hướng nghiệp cho học sinh cũng được các nhà khoa học và lãnh đạo chính quyền Xô viết đặc biệt quan tâm. V.I Lênin đã có chỉ thị yêu cầu phải cho học sinh làm quen với khoa học kỹ thuật, làm quen với cơ sở của nền sản xuất hiện đại. N.K Crupxkaia – nhà giáo dục học lỗi lạc đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọn nghề” cho mỗi thanh, thiếu niên. Theo bà, thông qua hướng nghiệp, mỗi trẻ em phải nhận thức sâu sắc hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu cầu của nền sản xuất cần được yêu cầu mà xã hội đề ra trước các em trong lĩnh vực lao động sản xuất. Mặt khác, công tác hướng nghiệp lại phải giúp cho trẻ em phát triển được hứng thú và năng lực nghề nghiệp, giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng. Từ đó các em có thái độ tự giác trong việc chọn nghề” (tr.11).

Anh: mô hình DOTS gồm khung cơ bản của tư vấn và hướng nghiệp (giáo dục nghề nghiệp) (Mc. Cash, 2006), được xác định theo 4 mục đích: học quyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhận thức. Ông đã miêu tả một số ý kiến khung gắn kết với nhau, các ý kiến đó gồm SeSiFuUn với kết quả của nhận thức, chọn lọc và hiểu biết và CPI gồm các lứa tuổi, quá trình, ảnh hưởng. Luật sửa đổi (2006) đưa ra cách tiếp cận mới “một bộ đề xuất các cải cách để chúng ta có thể giúp học sinh phổ thông và đại học học cách quản lí cuộc sống của họ”. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Các quốc gia Bắc Âu đều có cùng mục tiêu hoặc kết quả học tập (mô hình DOTS). Tuy nhiên nhấn mạnh sự khác biệt, theo Plant (2003), phần nhận thức cơ hội nhấn mạnh nhất, tiếp đến là tự nhận thức, học quyết định và học chuyển đổi ít được quan tâm hơn.

Các điểm chung: Các nước Châu Âu có sự phát triển mạnh về khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế. Để phù hợp với xu thế phát triển, nền giáo dục ở Châu Âu đặc biệt quan tâm đến trình độ giáo dục phổ thông và giáo dục nghề và được gắn kết giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề và hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông.

Các nước đều chú trọng đến giáo dục “tiền nghề nghiệp” cho học sinh ngay ở bậc học phổ thông; phân luồng học sinh sớm ngay từ lớp 9 hoặc lớp 10, chủ yếu 2 nhánh học nghề và lên THPT (như ở Ba Lan, Cộng hòa Pháp); ở Đức hướng nghiệp cho học sinh phổ thông sớm hơn ngay ở bậc tiểu học.

Trong giáo dục phổ thông và giáo dục hướng nghiệp, các nước đều giảm thời lượng hàn lâm mà chú trọng tính thực tiễn nhiều hơn (Ba Lan, Đức và Pháp).

Các điểm riêng: Ở Pháp phân hóa hẹp sau trung học cao trung, phân hóa cấp 2,3 theo hướng phân ban, phân chia 50/50 theo luồng phổ thông và kĩ thuật, nghề kĩ thuật dạy theo mô đun gồm 6 lĩnh vực như: Kĩ thuật nghề, Toán, Khoa học, Thế giới, Quốc ngữ, Ngoại ngữ;

  • Ba Lan chú trọng đến phân hóa rộng nhằm phát triển toàn diện các lĩnh vực.
  • Đức, các nhà sư phạm quan tâm đến cơ sở khoa học dạy học lao động nghề nghiệp, phối hợp giữa trường phổ thông và các trung tâm kĩ thuật tổng hợp để lập kế hoạch thực tập cho học sinh, xác lập mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và nghề nghiệp, hướng nghiệp và phân loại học sinh hướng nghiệp ngay sau bậc tiểu học, sau lớp 10 học sinh được chia 2 nhánh loại học trở thành công nhân lành nghề, loại học hết lớp 12 phổ thông, sau lớp 12 lại được tiếp tục phân loại lần nữa hoặc vào đại học hoặc vào trung cấp nghề. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Trong giai đoạn hiện nay, trên thế giới nền sản xuất công nghiệp và hậu công nghiệp đã phát triển cao, trong xã hội xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới, sự phân hoá lao động đã khiến hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm đến công tác hướng nghiệp. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học hướng nghiệp, mở các trung tâm tư vấn hướng nghiệp và đào tạo giáo viên, chuyên gia tư vấn hướng nghiệp trong và ngoài trường Đại học. Ví dụ như các trung tâm INETOP (Viện nghiên cứu quốc gia về lao động và hướng nghiệp) và CNAM (Học viện quốc gia về nghệ thuật và nghề nghiệp) của Pháp. Chương trình đào tạo chuyên gia hướng nghiệp của họ bắt đầu có mặt tại Việt Nam.

Châu Á (các điểm chung): Các nước Châu Á đều chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau trung học cơ sở, hầu hết các nước phân loại học sinh theo hai hướng chính là một bộ phận tiếp tục học lên THPT, một bộ phận chuyển sang học nghề, đó là trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc). Tích hợp các môn hướng nghiệp và giáo dục phổ thông, các môn văn hóa, khoa học kỹ thuật, lao động (Trung Quốc, Philippine);

Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp (Philippine, Malaysia). Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp (Philippine, Malaysia); Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THCS (Nhật, Hàn).

Ngày nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò đối với sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia. Nhờ có sự đầu tư và phát triển cho nguồn nhân lực mà một số nước chỉ trong thới gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,…GD&ĐT, trong đó có phần giáo dục nghề nghiệp góp phần hết sức to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và cung cấp một lực lượng lao động đông đảo đã qua đào tạo, góp phần làm cho cơ cấu lao động xã hội, cả về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền phù hợp với từng giai đoạn phát triển KT – XH của đất nước. Tại các nước phát triển, coi trọng lực lượng lao động là “lao động tri thức”, trước đây kĩ năng nghề có thể giúp con người đi theo suốt cuộc đời, nhưng thời đại ngày nay, luôn phải cập nhật tri thức, kiến thức mới đáp ứng yêu cầu xã hội. Giáo dục thường xuyên, giáo dục hướng nghiệp có vai trò quan trọng giúp con người có điều kiện hướng đến đào tạo lao động tri thức và tự đào tạo suốt đời. Nhà trường phải thay khẩu hiệu “Đào tạo một lần cho một đời người” bằng khẩu hiệu “Đào tạo suốt đời cho một đời người”.

Các điểm riêng, giáo dục hướng nghiệp thông qua chương trình kĩ năng sống, giáo dục nghề bao gồm các chủ đề: kế hoạch nghề, tìm việc, thiết lập mục tiêu nghề (Hồng kông); giảng dạy tích hợp các môn khoa học công nghệ vào THPT, sau trung học cơ sở, nhánh giáo dục nghề nghiệp có 2 năm học nghề, 2 năm sau chọn nghề nhất định (Philippine). Sau THCS học sinh được phân chia 3 hướng chính: Nhóm giáo dục kĩ thuật công nghệ cơ khí dân dụng; nhóm giáo dục phổ thông dạy các môn văn hóa; nhóm giáo dục nghề nghiệp giảng dạy lí thuyết, thực hành nghề cơ khí, ô tô, hàn, điện, điện tử… (Malaysia).

Quan tâm đến mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề, trong đó chú trọng giáo dục nghề là hướng chọn cơ bản (Nhật Bản). Sau THCS, tập trung cho kĩ năng thực hành nghề, trong giáo dục nghề nghiệp thời lượng dành cho thực hành chiếm 70% (Hàn Quốc). Trung học cơ sở có nhánh dạy nghề từ 2-3 năm, dạy tích hợp ở bậc THPT (văn hóa, khoa học kĩ thuật, lao động), rất chú trọng các môn tự chọn: máy tính, kĩ thuật điện, hải dương học, y học cơ sở, ngoại ngữ. Đây là cơ sở làm tiền đề cho việc chọn nghề tương lai (Trung Quốc). Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Theo quan niệm của UNESCO, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên việc kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. Nhà trường phải có khả năng vẽ lên một bức tranh rõ nhất về khả năng của mỗi học sinh. Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn nghề thích hợp, dự báo những khó khăn trong học tập và giải quyết những vấn đề xã hội khi cần. (Lê Trần Tuấn, 2008)

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

Theo luận văn thạc sỹ Trần Đình Chiến thì “Tại Việt Nam giáo dục hướng nghiệp tuy được xếp ngang tầm quan trọng với các mặt giáo dục khác như đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhưng bản thân nó lại rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lượng, không mang tính chuyên nghiệp… Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả. Vấn đề hướng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và được xã hội quan tâm khi nền kinh tế đất nước bước sang cơ chế thị trường với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực. Nếu so với sự ra đời của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thì những tư tưởng về hướng nghiệp cho học sinh cũng xuất hiện khá sớm. Cho đến trước những năm 1970 thì những tư tưởng này chủ yếu dừng lại ở các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết mang tính chỉ đạo lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ chứ chưa phải là luận điểm mang tính khoa học hay những nghiên cứu khoa học thực sự.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ là người đầu tiên quan tâm đến công tác hướng nghiệp cho học sinh. Trong bài viết “học sinh và lao động” (bài viết tay năm 1957 hiện lưu giữ ở bảo tàng Hồ Chí Minh). Bác viết “Thi đỗ tiểu học rồi thì muốn lên trung học, đỗ trung học rồi thì muốn lên đại học. Riêng về mỗi cá nhân của người học sinh thì ý muốn ấy không có gì lạ. Nhưng chung đối với nhà nước thì ý muốn ấy thành vô lý. Vì ở bất kỳ nước nào số trường trung học cũng ít hơn trường tiểu học, trường đại học lại càng ít hơn trường trung học. Thế thì những học trò tiểu học và trung học không được chuyển cấp sẽ làm gì”? Câu hỏi này của Bác thực sự trở thành một vấn đề khoa học và mang tính thời sự cho đến ngày nay. Bác đã gạch chân câu trả lời “họ sẽ lao động” để khẳng định một cách chắc chắn rằng con đường lao động là con đường đúng đắn nhất để các em tiếp tục phấn đấu vươn lên chứ không nhất thiết là phải vào trường đại học. Trong bài báo “Học hay, cày giỏi” Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đề cập đến một yếu tố kỹ thuật sản xuất “công nghiệp và nông nghiệp” và “những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội.

Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm công tác hướng nghiệp, điều này được thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện, các nguyên lý giáo dục của Đảng và nhà nước. Có thể lấy ví dụ như Nghị định 126/CP ngày 19/03/1981 của chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường. Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”. Luật giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả của trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi vào cuộc sống lao động”. Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 – 2010 đã xác định rõ: “Thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi học sinh, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau trung học phổ thông, để học sinh vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp”. Chiến lược phát triển giáo dục năm 2011 – 2020 xác định “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”. Để đáp ứng được các mục tiêu mà chiến lược đã xác định thì hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Nghị quyết 29-NQ/TW của Đảng đã xác định mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông là “ … tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020. Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương. …”. Như vậy Đảng ta cũng xác định giáo dục hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT là mục tiêu cụ thể mà các trường THPT trên toàn quốc phải thực hiện trong chương trình giáo dục của mình.

Về mặt nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên gia thì ngành hướng nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ vào những năm 1970, 1980. Những nhà khoa học tiên phong phải kể đến GS. Phạm Tất Dong, PGS. Đặng Danh Ánh, GS. Phạm Huy Thụ, GS. Nguyễn Văn Hộ. GS. Phạm Tất Dong là người có những đóng góp rất lớn cho giáo dục hướng nghiệp Việt Nam, ông đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn cho giáo dục hướng nghiệp như xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hướng nghiệp; hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc hướng nghiệp, các nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục hướng nghiệp… Điều này được thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ông như bài: “Hướng nghiệp cho thanh niên”, đăng trên tạp chí Thanh Niên số 8 năm 1982; Báo cáo: “Một con đường hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho học sinh lớn”; các tác phẩm như: “Nghề nghiệp tương lai – giúp bạn chọn nghề” hay cuốn “Tư vấn hướng nghiệp – sự lựa chọn cho tương lai”. Trong một công trình nghiên cứu gần đây ông đã chỉ ra rằng: “Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế”. Bởi vì theo tác giả, đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH, trong quá trình CNH – HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ. Xu hướng chọn nghề của thanh niên phù hợp với xu hướng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của công nghiệp. GS. Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những người rất tâm đắc và nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục hướng nghiệp. Trong luận án tiến sĩ của mình tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam”. Tác giả đã xây dựng được luận chứng cho hệ thống giáo dục hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vào năm 2006, ông cũng đã cho xuất bản cuốn sách: “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường trung học phổ thông”, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống về cơ sở lí luận của giáo dục hướng nghiệp, vấn đề tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông và giảng dạy kĩ thuật ở nhà trường trung học phổ thông trong điều kiện kinh tế thị trường và sự nghiệp CNH – HĐH đất nước hiện nay. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Trong thời gian gần đây nhằm hiện thực hoá những phương hướng, mục tiêu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh phổ thông. Đã có rất nhiều những nghiên cứu về hướng nghiệp ở nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng trong nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam. Có thể kể đến như tác giả Trần Quốc Thành có bài: “Định hướng giá trị nghề nghiệp của học sinh lớp 12 trung học phổ thông một số tỉnh miền núi phía Bắc”, đăng trên tạp chí tâm lí học năm 2002. Bài: “Những nguyên nhân ảnh hưởng tới sự định hướng trong việc học tập, chọn nghề ở học sinh trung học phổ thông”, của tác giả Phạm Thị Đức đăng trên tạp chí giáo dục năm 2002. Bài: “Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông với việc phát triển nguồn nhân lực” của tác giả Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê đăng trên tạp chí phát triển giáo dục năm 2004… Các tác giả trên đã có những nghiên cứu mang tính thực tiễn tập trung vào các vấn đề nóng bỏng của công tác hướng nghiệp hiện nay đó là xu hướng, động cơ lựa chọn nghề của lớp trẻ, những định hướng giá trị của thanh niên, những nguyên nhân dẫn đến xu hướng, động cơ chọn nghề và định hướng giá trị đồng thời nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp và vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ đất nước trong thời kì CNH – HĐH.

Bên cạnh đó còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Thế Trường, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Minh An, Lê Đức Phúc… đã làm rõ được các thực trạng, những số liệu, những kinh nghiệm giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phổ thông. Đồng thời cũng đề cập và làm rõ được các vấn đề như tổ chức lao động cho học sinh phổ thông, tư vấn nghề cho học sinh phổ thông, các phương thức giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp. (Trần Đình Chiến, 2008)

Như vậy các nghiên cứu trên đa số phân tích thực trạng, hình thức tổ chức hướng nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp cho học sinh đa số ở các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế. Nhưng chưa có nghiên cứu nào về quản lý công tác hướng nghiệp tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước, một tỉnh vùng sâu vùng xa của Miền Đông Nam Bộ, một trung tâm kinh tế phát triển hàng đầu của nước ta. Do đó, nghiên cứu này đi sâu vào nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp học sinh THPT tại huyện Đồng Phú, đồng thời đề xuất một số biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước.

1.2. Các khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

1.2.1. Quản lý

Theo Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. (Theo trích dẫn của Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), tr.15)

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1998) khái niệm: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý ) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. (tr.24)

Theo tác giả M.I. Kônđacốp (1984): “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em“. (tr.10)

Như vậy, Quản lý là tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong cùng một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) hiệu quả.

Quản lý có 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo (chỉ đạo), kiểm tra, các chức năng này có mối quan hệ qua lại khăng khít với nhau.

Lập kế hoạch (Planning): bao gồm xác định các mục tiêu của tổ chức, thiết lập chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đó và phát triển một hệ thống thứ tự rõ ràng của kế hoạch để gắn kết và đan xen các hoạt động.

Tổ chức (Organizing): tổ chức là một quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, đồng thời phân công, điều phối các nhiệm vụ và nguồn nhân lực để đạt được các mục tiêu đề ra. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và phong cách của chủ thể quản lý, và việc huy động và sử dụng các nguồn lực, cũng như tạo động lực, đặc biệt là nội lực của tổ chức.

Lãnh đão (Leading): lãnh đạo là điều hành, điều khiển tác động, huy động và giúp đỡ, động viên những cán bộ, nhân viên dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được giao, hoạt động lãnh đạo là làm việc với con người. Lãnh đạo thường đi liền với hoạt động chỉ đạo, chỉ đạo là quá trình truyền đạt, thuyết phục về các mục tiêu cần đạt được, tác động, thúc đẩy các thành viên hoạt động trong một tổ chức.

Kiểm tra (Controlling): trong tất cả các tổ chức phải có một mức độ kiểm tra nhất định. Kiểm tra là một chức năng quan trọng, quản lý mà không kiểm tra sẽ dẫn đến tình trạng quản lý lỏng lẻo, mệnh lệnh, không nắm được những thông tin ngược, do đó không thể ra những quyết định một cách chính xác, đúng đắn.

Sơ đồ mối quan hệ giữa các chức năng quản lý

1.2.2. Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc (1996) định nghĩa: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng học sinh“. (tr.34)

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989) khái niệm: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”. (tr.68)

Như vậy, Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức, có hệ thống, có kế hoạch và định hướng tới mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mà chủ yếu là quá trình dạy học và giáo dục ở các trường học.

1.2.3. Giáo dục hướng nghiệp

Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo (1985) và Phùng Đình Mẫn (2005) đã định ý nghĩa: Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, tri thức, kĩ năng, để họ có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (tr.29)

Tác giả Nguyễn Minh Đường (2005) đã định nghĩa: “Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh lí học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác nhằm giúp HS, sinh viên định hướng nghề nghiệp một cách đúng đắn để có thể lựa chọn nghề cho phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lí cá nhân cũng như hoàn cảnh sống của mỗi người để có thể phát triển đến đỉnh cao trong nghề nghiệp, cống hiến được nhiều cho xã hội cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân”. (Trích theo Nguyễn Hữu Dũng, 2005, tr.51) Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Tác giả Đặng Danh Ánh (2010) đã định nghĩa: “Giáo dục hướng nghiệp là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình, trong đó tập thể sư phạm nhà trường giữ vai trò quyết định nhằm giúp học sinh chọn nghề trên cơ sở khoa học”.(tr.122)

Như vậy Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, trí thức, kỹ năng,… để họ góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời cũng góp phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân, sao cho phù hợp với yêu cầu lao động trong xã hội, giúp các em giải quyết việc chọn nghề cho tương lai một cách có ý thức ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

1.2.4. Quản lý giáo dục hướng nghiệp

Theo Lê Thị Thu Trà (2016): “Quản lý giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của quản lý giáo dục, là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí của chương trình hướng nghiệp nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu hướng nghiệp cho học sinh.

Trong đó:

Chủ thế quản lí là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền hạn quản lý và chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn lực cho công tác hướng nghiệp tại địa bàn, đơn vị đang quản lý. Trong quản lý hướng nghiệp, chủ thể quản lý là lãnh đạo hoặc chuyên viên phụ trách hướng nghiệp của bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Ban giám hiệu nhà trường và các giám đốc trung tâm GDTX ở địa phương có chức năng hướng nghiệp cho học sinh trên địa bàn. Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng bằng phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt mục tiêu hướng nghiệp.

Đối tượng quản lý là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ hướng nghiệp, bao gồm các giáo viên và cán bộ phụ trách hướng nghiệp, tập thể học sinh ở các cơ sở giáo dục; các tổ chức, đoàn thể xã hội như Hội cha mẹ học sinh, hội Liên hiệp phụ nữ, các doanh nghiệp… Đối tượng quản lí còn bao gồm các hình thức hướng nghiệp, ngân sách, cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục cho hướng nghiệp và hệ thống thông tin cho công tác hướng nghiệp.

Công cụ quản lí là những phương tiện mà cán bộ quản lý hướng nghiệp sử dụng trong quá trình quản lí nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp hoạt động của các tác nhân hướng nghiệp và học sinh trong việc thực hiện mục tiêu hoạt động hướng nghiệp. Công cụ chủ yếu để quản lý hướng nghiệp là các quy định của Nhà nước và Bộ GD&ĐT đối với hoạt động hướng nghiệp, là các cơ chế và chính sách cho công tác hướng nghiệp”. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

1.2.5. Quản lý giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông

Từ khái niệm của quản lý giáo dục, quản lý hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường THPT là sự tác động có ý thức, có hệ thống, có kế hoạch, kiểm tra đánh giá và định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý cụ thể là học sinh, giáo viên, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường THPT về công tác hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường. Nhằm mục đích giáo dục việc lựa chọn ngành học liên quan đến nghề nghiệp của học sinh trong tương lai phục vụ cho nhu cầu của xã hội và yêu cầu nghề nghiệp của bản thân học sinh.

Quản lý tốt công tác hướng nghiệp trong trường THPT sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh đồng đều các mặt đức, trí, thể, mỹ; giúp học sinh có thái độ yêu lao động và biết chọn nghề một cách khoa học hơn, góp phần cung cấp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho thị trường lao động.

1.3. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp các trường trung học phổ thông

Theo chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông của Bộ Giáo dục ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo như sau:

1.3.1. Mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp

Kiến thức

  • Hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai.
  • Biết được một số thông tin cơ bản về định hướng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đất nước và khu vực; về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo dục nghề nghiệp (trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề), cao đẳng, đại học ở địa phương và cả nước.

Kỹ năng

  • Tự đánh giá được năng lực bản thân, truyền thống nghề nghiệp và hoàn cảnh gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai.
  • Tìm kiếm được những thông tin nghề và thông tin cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân trong việc chọn nghề.
  • Định hướng và lựa chọn được nghề nghiệp tương lai của bản thân.

Thái độ

  • Chủ động và tự tin trong việc chọn nghề phù hợp.
  • Có hứng thú và khuynh hướng chọn nghề đúng đắn.

1.3.2. Đặc điểm hoạt động giáo dục hướng nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

  • Hướng nghiệp là hoạt động mang tính liên ngành dựa trên cở sở của các khoa học nhân văn.
  • Hướng nghiệp là hoạt động có mục đích kép: giúp cá nhân phát triển được bản thân và đảm bảo sự hài hòa các lĩnh vực nghề nghiệp xã hội.
  • Hướng nghiệp tính đến những khác biệt cá nhân làm cơ sở của sự tác động.

1.3.3. Vai trò hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Trong nhà trường phổ thông, hướng nghiệp là bộ phận quan trọng của nền giáo dục phổ thông. Thực hiện công tác hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết của cải cách giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nguyên lý và nội dung giáo dục của Đảng; góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh sau khi tốt nghiệp.

Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân.

Nhằm mục đích đó, công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông có các nhiệm vụ sau:

  • Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn về nghề nghiệp;
  • Tổ chức cho học sinh thực tập, làm quen với một số nghề chủ yếu trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương;
  • Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất;
  • Động viên hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hoá.

Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ trên, các trường cần quán triệt các vấn đề sau:

Hướng nghiệp phải dựa trên cơ sở giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục toàn diện;

  • Hướng nghiệp phải căn cứ vào phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá và nhu cầu sử dụng nguồn lao động dự trữ của đất nước và địa phương;
  • Mức độ nội dung, hình thức và phương pháp hướng nghiệp phải phù hợp với đặc điểm của học sinh (sức khoẻ, lứa tuổi, trình độ học tập, xu hướng v.v…)

1.3.4. Nội dung của giáo dục hướng nghiệp

Nội dung chương trình được xây dựng theo quan điểm chủ đề để học sinh chủ động tìm hiểu một số thông tin cơ bản về tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đất nước; về thị trường lao động; về thế giới nghề nghiệp và những cơ sở đào tạo. Ngoài ra, các em còn tự đánh giá năng lực bản thân, truyền thống nghề nghiệp và hoàn cảnh gia đình để lựa chọn nghề phù hợp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Cụ thể các chủ đề giáo dục hướng nghiệp bậc THPT như sau

1.3.5. Các con đường hướng nghiệp

Các con đường này được thực hiện dựa trên Thông tư 31/TT ngày 17/8/1981 của Bộ GD & ĐT cụ thể là:

  • Hướng nghiệp qua các môn học

Dựa vào đặc trưng của bộ môn, các môn học đều có thể và cần phải giáo dục hướng nghiệp một cách thích hợp để qua các kiến thức khoa học mà cung cấp cho học sinh những tri thức về tiềm năng đất nước, khả năng và thành tựu của nhân dân trong lao động, sự phát triển các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công, công nghiệp then chốt; giáo dục ý thức chọn ngành, chọn nghề đúng đắn, tinh thần sẵn sàng đi vào các ngành nghề đang cần phát triển để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và quê hương.

Đặc biệt qua các phân môn kỹ thuật phổ thông (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản, cơ khí, kỹ thuật điện, vô tuyến điện, v.v…) cần giới thiệu cho học sinh các nghề cơ bản có liên quan trực tiếp tới môn học và tổ chức cho học sinh thực hành kỹ thuật, sản xuất trong những ngành nghề đó. Các phân môn kỹ thuật phục vụ giới thiệu cho học sinh ngành dệt, nghề may, chế biến thực phẩm, các nghề thuộc lĩnh vực phục vụ …

Để tiến hành hướng nghiệp qua các môn học, các nhà trường phải cải tiến phương pháp giảng dạy, tăng cường thực hành môn học, kết hợp giảng dạy với lao động sản xuất, tổ chức tham quan, xây dựng phòng bộ môn…

Phải chấn chỉnh tình hình giảng dạy kỹ thuật hiện nay, tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng của giáo viên giảng dạy kỹ thuật; kết hợp với các cơ sở sản xuất tạo điều kiện cho nhà trường có thể tổ chức thực hành kỹ thuật, có công nhân lành nghề và cán bộ kỹ thuật giúp đỡ nhà trường trong giảng dạy kỹ thuật.

  • Hướng nghiệp qua hoạt động lao động sản xuất

Tổ chức lao động sản xuất trong nhà trường là biện pháp rất quan trọng để thực hiện công tác hướng nghiệp. Qua lao động sản xuất, giáo dục quan điểm, thái độ, ý thức lao động cho học sinh; trên cơ sở đó giáo dục ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với nghề và lao động trong các dạng nghề nghiệp khác nhau, phát triển hứng thú, năng lực của học sinh đối với một vài dạng lao động nhất định, hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và phù hợp với năng lực của bản thân. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Trong thời gian tới, các trường cần tích cực tổ chức hướng dẫn học sinh lao động sản xuất, chấm dứt những hình thức lao động tuỳ tiện, gắn nội dung lao động với phương hướng sản xuất và các nghề đang cần phát triển. Các trường vừa học vừa làm càng phải cần nâng cao chất lượng học lao động và có tác dụng thực sự hướng nghiệp.

Ở vùng nông thôn cần chú trọng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công như các nghề trồng trọt, chăn nuôi (trồng cây lương thực, cây lấy gỗ, cây thuốc nam, xây dựng vườn cây Bác Hồ, ao cá Bác Hồ, chăn nuôi gia cầm, gia súc …); nghề phổ biến như mộc, nề, rèn, cơ khí …; nghề truyền thống, xuất khẩu (đan, thêu, v.v…) ở thành phố và vùng công nghiệp là ngành công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ…

Muốn vậy, phải xây dựng đội ngũ giáo viên chỉ đạo lao động và làm nòng cốt cho công tác hướng nghiệp của nhà trường. Phải có kế hoạch kết hợp với các cơ sở sản xuất của địa phương như hợp tác xã nông lâm trường, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở đào tạo nghề, trại, trạm thí nghiệm nhằm tạo điều kiện cho học sinh có thể tham gia lao động sản xuất ngành nghề gắn bó với địa phương. Ngoài ra, các địa phương cần trang bị kỹ thuật tối thiểu để cung cấp cho nhà trường.

  • Hướng nghiệp qua việc giới thiệu các ngành nghề:

Để giúp học sinh hiểu biết các ngành nghề, các trường tạm thời sử dụng mỗi tháng 1 buổi lao động giới thiệu, tuyên truyền, giải thích ngành nghề. Nội dung chủ yếu của những buổi này là giới thiệu cho học sinh khái quát về sự phát triển kinh tế của đất nước và địa phương, nhu cầu sử dụng nguồn lao động dự trữ xã hội, những hiểu biết về những ngành nghề cơ bản, và nghề truyền thống của địa phương.

Khi giới thiệu nghề nghiệp, cần tập trung vào một số điểm cơ bản như vị trí, vai trò, triển vọng, những hoạt động cơ bản của nghề; những phẩm chất năng lực lao động cần có, những môn học phổ thông cần thiết đối với nghề …

Nhà trường tự sưu tầm, sử dụng tài liệu, sách báo, tranh ảnh, phim, vô tuyến truyền hình, dựa vào các cơ sở sản xuất, phụ huynh học sinh, cán bộ kỹ thuật của địa phương để giới thiệu nghề cho học sinh. (Bộ sẽ từng bước biên soạn cung cấp tài liệu cho các trường).

  • Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khoá

 Xây dựng các tổ ngoại khoá, đặc biệt là các tổ ngoại khóa về kỹ thuật, nhằm phát triển hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp của học sinh. Đối với những học sinh có xu hướng và năng khiếu về các ngành nghề thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, hoạt động xã hội, cũng cần phát hiện và tổ chức các tổ ngoại khóa bộ môn để bồi dưỡng.

  • Tổ chức xây dựng góc hoặc phòng hướng nghiệp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.
  • Kết hợp với đoàn thanh niên và đội thiếu niên tổ chức những buổi tọa đàm hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề, vận động nam nữ thanh niên đi vào những nghề Nhà nước, địa phương đang cần nhiều nhân lực.
  • Kết hợp với hội cha mẹ học sinh giúp đỡ, chỉ dẫn sự chọn nghề cho học sinh.
  • Phối hợp với các cơ sở sản xuất ở địa phương tạo điều kiện cho học sinh tham quan cơ sở sản xuất, giới thiệu các nghề và có thể tổ chức cho học sinh tham gia lao động nghề nghiệp.

1.3.6. Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp

  • Ý nghĩa giáo dục

Lịch sử phát triển xã hội gắn liền với sản xuất và sự phân công lao động. Hướng nghiệp góp phần quan trọng vào quá trình đó. Kinh nghiệm trong và ngoài nước đã khẳng định việc chọn ngành nghề một cách thiếu định hướng sẽ có tác động tiêu cực làm chậm sự phát triển kinh tế xã hội, mất cân đối cơ cấu ngành nghề và làm sai lệch nhu cầu lao động.

Hướng nghiệp sẽ giúp điều chỉnh xu hướng chọn nghề cho học sinh và xu thế phân công lao động xã hội. Do đó, giáo dục có ý nghĩa rất lớn, tác động đến quá trình hướng nghiệp, làm cho mỗi học sinh tự giác điều chỉnh hướng đi, hướng chọn nghề phù hợp với năng lực, sở trường bản thân và nhu cầu nghề nghiệp trong xã hội một cách tối ưu nhất.

Giáo dục hướng nghiệp góp phần cụ thể hóa mục tiêu đào tạo trường phổ thông. Trong suốt thời kỳ học cấp phổ thông, đặc biệt là sau THCS và THPT, học sinh được tiếp cận các môn học tích hợp nghề nghiệp và thông qua các giờ giáo dục hướng nghiệp đã trang bị cho học sinh các kiến thức về các ngành nghề trong xã hội, đặc biệt là được học các lớp dạy nghề phổ thông góp phần định hướng chọn nghề tương lai cho học sinh. Như vậy quá trình hướng nghiệp trong các trường trung học phổ thông một mặt giáo dục ý thức lao động nghề nghiệp mà còn hướng để học sinh khẳng định nghề nghiệp tương lai.

  • Ý nghĩa kinh tế

Lao động trẻ luôn là tiềm năng và là vốn lao động quý báu của xã hội. Việc giúp học sinh phát huy được năng lực, sở trường bản thân, hứng thú và có nhận thức chọn nghề một cách đúng đắn là việc làm hết sức quan trọng và có ý nghĩa đối với hướng nghiệp. Để bảo đảm ý nghĩa kinh tế của hướng nghiệp, nhà trường phải gắn mục tiêu đào tạo với mục tiêu kinh tế xã hội của cả nước và của địa phương. Sự phân công lao động hợp lý sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Hướng nghiệp có vai trò lớn tạo nguồn nhân lực thích hợp cung cấp cho xã hội, hướng nghiệp tốt cũng đồng nghĩa với việc cung cấp nguồn nhân lực vừa cân đối vừa có chất lượng phục vụ kinh tế phát triển.

  • Ý nghĩa chính trị Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Công tác giáo dục hướng nghiệp có chức năng thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước. Trong giáo dục hướng nghiệp, việc tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội luôn được xem là vấn đề trọng tâm để học sinh được tiếp cận và tiền đề quyết định con đường sự nghiệp tương lai. Nghiên cứu các nước, sự phát triển kinh tế đều phụ thuộc vào nguồn lao động phong phú, chất lượng cao nhờ công tác đào tạo người lao động được chú trọng, đào tạo đội ngũ thợ lành nghề, và những cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao đáp ứng nền công nghiệp hiện đại.

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp có hiệu quả sẽ tạo ra những thế hệ có phẩm chất và năng lực xây dựng đất nước, đồng thời có ý nghĩa về chiến lược con người, chiến lược kinh tế, chính hướng nghiệp đã tạo ra những con người lao động mới đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước.

  • Ý nghĩa xã hội

Qua giáo dục hướng nghiệp, học sinh làm quen với những nghề cơ bản trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phát triển ở địa phương. Đồng thời học sinh cần biết yêu cầu tâm lý từng ngành nghề, những điều kiện cần thiết chọn nghề. Việc chọn nghề đúng đắn sẽ không lãng phí trong đào tạo nguồn nhân lực, góp phần phát triển đất nước.

Hướng nghiệp có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo sự cân bằng nguồn nhân lực trong đời sống xã hội, khắc phục tình trạng một bộ phận thanh niên không có việc làm hoặc có việc làm không ổn định gây ra các hiện tượng tiêu cực trong xã hội.

Hướng nghiệp tốt sẽ tạo động lực và tạo cơ hội cho người học chọn nghề phù hợp, từ đó đem hết năng lực để phát triển ngành nghề đã chọn, sáng tạo trong công việc, chất lượng và hiệu quả công việc được nâng cao, dẫn đến kinh tế phát triển vững chắc.

1.3.7. Mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh

Chiến lược phát triển GD&ĐT giai đoạn 2011-2020 đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn hiện nay”.

Để đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT nhằm đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi chúng ta phải đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao và lược lượng công nhân lành nghề. Thực hiện được các yêu cầu này đòi hỏi hoạt động giáo dục và phân luồng học sinh là hết sức cần thiết. Bởi vì truyền thống của người Việt Nam luôn luôn muốn con cái phải có tấm bằng đại học để đảm bảo cho cuộc sống của chúng về sau nhưng trong số đó có những học sinh không có năng lực nhưng vẫn phải cố gắng để vào THPT, đại học dẫn đến kết quả đào tạo không đảm bảo yêu cầu của xã hội. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Phân luồng học sinh trong giáo dục được hiểu là các hướng đi, các khả năng để học sinh các cấp học, bậc học có thể tham gia. Phân luồng giúp cho học sinh chủ động lựa chọn con đường tiếp tục học tập hoặc đi vào lĩnh vực nghề nghiệp nào đó phù hợp với hoàn cảnh, năng lực, hứng thú của các em và phù hợp với yêu cầu của sự phát triển KT-XH

Phân luồng học sinh được hiểu là sau khi tốt nghiệp mỗi cấp bậc học thuộc hệ thống giáo dục chính quy hoặc không chính quy, học sinh lựa chọn những con đường khác nhau để đi tiếp, bao gồm: tiếp tục học lên bậc học cao hơn trong hệ thống giáo dục quốc dân; hoặc không học tiếp trong hệ thống đó, ra trường tìm kiếm việc làm; hoặc học nghề tại các trung tâm dạy nghề.

Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường THPT là phát hiện và bồi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em hiểu biết được khả năng của mình, hiểu được yêu cầu của nghề. Thông qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp giúp học sinh điều chỉnh động cơ chọn nghề và định hướng chọn nghề một cách đúng đắn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Đồng thời có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cân bằng trong việc phân bổ lực lượng lao động, góp phần tạo điều kiện cho xã hội sử dụng hết lực lượng học sinh THPT tốt nghiệp ra trường để phát triển nguồn nhân lực.

Thực tế cho thấy thời gian qua, hầu hết học sinh sau THCS đều tiếp tục học lên THPT nên chất lượng bậc học này giảm sút, số học sinh trúng tuyển vào các trường CĐ-ĐH không cao. Bên cạnh đó, các trường chuyên nghiệp lại không tuyển được học sinh vào học, không tuyển được đủ số lượng chỉ tiêu; phần lớn học sinh các trường này đã tốt nghiệp THPT, nhận thức của các em và cũng chính là của các bậc PHHS cho rằng vào các trường chuyên nghiệp chỉ là giải quyết tình thế để sau đó liên thông học tiếp lên CĐ-ĐH. Do sự khác nhau về tâm lý, điều kiện kinh tế gia đình, hoàn cảnh xã hội nên các em có những định hướng khác nhau, có sự lựa chọn con đường học vấn hoặc đi vào các nghề nghiệp khác nhau, giáo dục hướng nghiệp có vai trò tích cực trong định hướng nghề nghiệp tương lai cho các em. Phân luồng trong hệ thống giáo dục chủ yếu: Phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS: tiếp tục học THPT; hay học các trường trung cấp chuyên nghiệp; hoặc vào các trường đào tạo nghề sơ cấp, nghề thường xuyên; hoặc học nghề trung cấp; hoặc học tại các trung tâm GDTX; hoặc tham gia vào thị trường lao động. Sau khi tốt nghiệp THPT học sinh phân luồng theo các hướng sau: học Đại học, cao đẳng; hoặc học Trung cấp chuyên nghiệp; hoặc Đào tạo nghề (cao đẳng nghề, trung cấp nghề…); hoặc tham gia thị trường lao động (Nguyễn Thị Thu Trà, 2016, tr.37).

1.4. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

1.4.1. Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Là quá trình người cán bộ quản lý, giáo viên lập kế hoạch các hoạt động giáo dục hướng nghiệp, thiết kế một cách khoa học, gắn với điều kiện thực tế đảm bảo kế hoạch được thực hiện có hiệu quả. Khi quản lý hướng nghiệp, mỗi cán bộ quản lý cần làm kế hoạch giáo dục hướng nghiệp nhằm biết được mục tiêu phải đạt tới là gì? Xác định được điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức bên trong và bên ngoài đối với giáo dục hướng nghiệp. Từ đó, đề ra biện pháp thích hợp để đạt mục tiêu đã định. Lập kế hoạch giáo dục hướng nghiệp tạo được tiền đề để thực hiên chức năng tiếp theo tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Người cán bộ quản lý luôn phải nắm được chu trình này và khởi đầu là xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp, thông qua đó huy động các lực lượng tham gia để đảm bảo tính hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Nội dung cơ bản chức năng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp phải thể hiện: Xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của các hoạt động hướng nghiệp; thứ hai phải bảo đảm các điều kiên để thực hiện mục tiêu, sau cùng là xác định các biện pháp thực hiện để thành công hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

Trọng tâm của kế hoạch hóa hoạt động giáo dục hướng nghiệp là chỉ ra phương hướng hành động và trả lời cho các câu hỏi: Mục tiêu chung cần đạt được của hoạt động giáo dục hướng nghiệp là gì? Cần phải hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể nào? Hoàn thành các nhiệm vụ đó như thế nào? Mức độ cần đạt dược của từng nhiệm vụ được xác định trong kế hoạch là gì? Phân phối, sử dụng các nguồn lực như thế nào để đạt được mục tiêu chung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp và mục tiêu nhiệm vụ hoạt động giáo dục hướng nghiệp? Biện pháp tổ chức và quản lí đối với từng nhiệm vụ là gì? Thời gian cần thiết để thực hiện từng nhiệm vụ như thế nào? Có thể ví việc lập kế hoạch cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp như việc thiết kế ngôi nhà trong xây dựng. Thiết kế hợp lí, logic, khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế về các nguồn lực và các tác động từ bên ngoài là cơ sở ban đầu rất quan trọng mang tính định hướng cho việc xây dựng kế hoạch đạt kết quả như mong muốn. Vì vậy, khi quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp, nhiệm vụ khởi đầu mang tính quyết định mà mỗi cán bộ quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cần làm là lập kế hoạch theo từng cấp quản lí nhằm giúp cán bộ quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp và đối tượng quản lý biết được đích cần đạt tới của chương trình giáo dục hướng nghiệp; nhìn thấy trước những điểm mạnh, điểm yếu của cơ sở giáo dục cũng như cơ hội, những mối đe dọa từ bên ngoài đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp; biết trước các nguồn lực cần thiết cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp của cơ sở giáo dục. Từ đó cán bộ quản lý giáo dục đưa ra được định hướng và xác định được các biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu đã xác định. Việc lập kế hoạch còn giúp các cơ sở giáo dục có kế hoạch, biện pháp đối phó kịp thời với sự thay đổi của môi trường giáo dục; đề ra được các phương án tối ưu để phối hợp các nguồn lực và tạo ra sự thống nhất ý chí, hành động của các tác nhân hướng nghiệp vào việc thực hiện mục tiêu chung cua hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Lập kế hoạch tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng cho việc thực hiện các chức năng tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Như vậy, kế hoạch hóa chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp là chức năng cơ bản nhất, mang tính “mở đường” cho việc thực hiện các chức năng quản lí khác. Tất cả cán bộ quản lý đều phải bắt đầu chu trình quản lí của mình bằng việc thực hiện chưc năng kế hoạch hóa thông qua việc lập kế hoạch hoạt động hướng nghiệp theo từng cấp quản lí để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả và bền vững của các hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

1.4.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Thực thi chức năng tổ chức trong quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là thực hiện quy trình thiết kế bộ máy sắp xếp, sử dụng và phát triển các nguồn lực (trọng tâm là nguồn nhân lực). Nếu ví việc lập kế hoạch như việc thiết kế trong xây dựng thì chức năng tổ chức được coi như việc bố trí các nguồn lực (nhân lực, tài chính và vật liệu) cho việc thi công bản thiết kế. Nếu bố trí các nguồn lực hợp lí và khoa học thì các công việc trong bản thiết kế sẽ được thực hiện suôn sẻ, chi phí hợp lí mà kết quả lại mĩ mãn. Trong quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cũng vậy, nếu thực hiện tốt chức năng tổ chức sẽ thiết kế, hoàn thiện được bộ máy quản lí và xác định được cơ chế vận hành, phối hợp giữa các bộ phận thực hiện nhiệm vụ hoạt động giáo dục hướng nghiệp một cách hợp lí, khoa học. Nhờ đó, phát huy cao nhất khả năng của mỗi cơ sở giáo dục, mỗi cá nhân và mỗi tác nhân trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Đồng thời tạo ra được sự thống nhất và hợp tác chặt chẽ giữa các cá nhân, các bộ phận, các nguồn lực và các tác nhân vào việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Có thể khẳng định, thực hiện chức năng tổ chức là hết sức cần thiết vì nó có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự thành bại của việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

1.4.3. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Chỉ đạo hoạt động giáo dục hướng nghiệp là quá trình tác động có chủ đích, có ảnh hưởng của cán bộ quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tới hành vi, thái độ của những người dưới quyền nhằm biến những yêu cầu chung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp thành nhu cầu của CB, GV, học sinh và những đối tượng khác tham gia hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Trên cơ sở đó, động viên và khích lệ mọi người tích cực, chủ động và tự giác phát huy tối đa khả năng để thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ hướng nghiệp với chất lượng cao.

Nói cách khác, chỉ đạo là quá trình tác động đến các cá nhân và tập thể làm hoạt động giáo dục hướng nghiệp sao cho họ cố gắng một cách tự giác và hăng hái thực hiện mục tiêu chung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

1.4.4. Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Kiểm tra, đánh giá trong quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là quá trình thu thập và trao đổi thông tin nhằm xem xét, đánh giá xem các hoạt động giáo dục hướng nghiệp có theo đúng kế hoạch về tiến độ, kết quả và chất lượng dự kiến hay không.

Kiểm tra phải đi đôi với đánh giá. Đánh giá là quá trình xử lí các thông tin thu thập được qua kiểm tra, từ đó đưa ra các nhận định về tiến độ và kết quả thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

1.4.5. Quản lý điều kiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, con người, tài chính, nội dung chương trình,… để hoạt động giáo dục hướng nghiệp diễn ra theo đúng kế hoạch đã xây dựng, đúng quy định và đạt hiệu quả cao nhất. Cụ thể như sau:

Phải đảm bảo việc sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học trong từng tiết dạy, nhất là các tiết thí nghiệm, thực hành trên lớp. Sử dụng phương tiện dạy học mới phát triển năng lực sử dụng phương tiện dạy học mới, đa phương tiện cho học sinh và tận dụng tối đa những phương tiện, thiết bị dạy học sẵn có, đồng thời phát huy tính sáng tạo của giáo viên trong việc làm đồ dùng dạy học cho bộ môn mình đang phụ trách, nhất là đối với bộ môn hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT. Chẳng hạn như, những thiết bị đơn giản, dễ làm có thể được GV, học sinh tự làm, góp phần làm phong phú thêm thiết bị dạy học của nhà trường.

  • Cần lưu ý tới các hướng dẫn sử dụng, bảo quản và căn cứ vào điều kiện cụ thể của các trường, đề ra các quy định để thiết bị nhà trường được GV, học sinh sử dụng tối đa.
  • Cần tính tới việc thiết kế đối với trường mới và bổ sung đối với trường cũ các phòng học bộ môn, trước mắt là phòng học cho các môn thực nghiệm (Lý, Hóa, Sỉnh, Tin học, phòng học đa năng) và kho chứa thiết bị bên cạnh các phòng học bộ môn.
  • Hỗ trợ GV biết sử dụng phương pháp dạy học hiệu quả, đặc biệt là phương pháp dạy học mới: lựa chọn và sử dụng hợp lý phương tiện dạy học, biết sử dụng phương tiện dạy học trên cơ sở lôgic quá trình nhận thức của học sinh và chú ý đến các chức năng lý luận dạy học nhằm đáp ứng đổi mới phương pháp dạy học và thực nghiệm mục tiêu dạy học.

Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai chương trình sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh. Đáp ứng yêu cầu này các phương tiện dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm.

Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp dạy học cá thể, dạy học hợp tác. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Cần tăng cường sử dụng, coi là phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần tuý là sự minh họa. Đây là nguồn thông tin cực kỳ quan trọng giúp học sinh có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới. Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm.

Động viên giáo viên sử dụng phương tiện dạy học để hình thành khái niệm mới. Yêu cầu GV phải nắm rất vững tư tưởng này để truyền đạt kiến thức, đầy đủ, đúng yêu cầu về mức độ nhận thức. Những nội dung có thể “chứng minh” qua thiết bị dạy học, vì vậy, không sa đà vào giải thích, không dùng ngôn ngữ khoa học chặt chẽ thay cho phương tiện dạy học giúp học sinh nắm được khái niệm. Sử dụng thiết bị hiện đại trong điều kiện có thể sẽ có tác động rất sâu vào nhận thức.

1.4.6. Thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

  • Quản lý kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Nhằm thực hiện và nâng cao hiệu quả về công tác quản lý, xây dựng kế hoạch thực hiện giáo dục hướng nghiệp tại trường THPT. Kế hoạch phải phản ánh được hướng nghiệp vừa là một môn học bắt buộc vừa là một hoạt động tích hợp trong các môn học và các hoạt động khác trong nhà trường.

Một trong các chức năng quan trọng của quản lý, quản lý bằng kế hoạch sẽ biết công việc nào làm trước, công việc nào sau, vì vậy dù công việc có phức tạp, khó khăn, người thực hiện sẽ không bị động về thời gian, về khối lượng công việc, người làm việc có kế hoạch thường sẽ mang lại hiệu quả tích cực. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp có kế hoạch sẽ giúp cho CBQL và GV có điều kiện tiếp cận thực tiễn, mối quan hệ với bên ngoài về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, các cơ sở sản xuất gắn với định hướng việc làm cho học sinh về sau. Kết quả khảo sát cho thấy tính khảo sát và tính khả thi được CBQL, GV về quản lý kế hoạch được đánh giá ở tỷ lệ cao.

Kế hoạch phải thể hiện rõ các con đường hướng nghiệp mà trường phải thực hiện, các mục tiêu đó. Kế hoạch cũng phải đề cập rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng cá nhân trong bộ máy và các yêu cầu về thời gian, tiến độ.

Việc lập kế hoạch cần đảm bảo tính dân chủ, công khai để tập trung trí tuệ của tập thể giáo viên, đồng thời cũng nâng cao ý thức trách nhiệm của các thành viên trong trường đối với giáo dục hướng nghiệp.

Các kế hoạch cần sự phối hợp của địa phương, phụ huynh hoặc các lực lượng khác phải được tổ hướng nghiệp chuẩn bị và làm việc kỹ, phân công chu đáo, phối hợp thực hiện hiệu quả. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

  • Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Trong quá trình quản lý thì hoạt động kiểm tra không thể thiếu, qua kiểm tra mới khẳng định được công việc, tiến độ công việc thực hiện tới đâu, khâu nào làm tốt, khâu nào chưa tốt để rút kinh nghiệm. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp rất cần đến khâu đánh giá, kiểm tra, thông qua đó mà biết được nội dung, chương trình giáo dục hướng nghiệp có phù hợp với thực tiễn hay không, phù hợp với nhu cầu ngành nghề đòi hỏi của địa phương để điều chỉnh thích hợp.

Đánh giá giáo viên luôn phải đảm bảo tính khách quan, chính xác, công bằng, kết quả đánh giá chung được coi là tiêu chí để đánh giá thi đua của tổ nhóm chuyên môn.

Lập kế hoạch kiểm tra định kỳ và kiểm tra chuyên đề giáo dục hướng nghiệp; Ban hướng nghiệp phải lập được kế hoạch kiểm tra định kỳ và kiểm tra chuyên đề của giáo dục hướng nghiệp, qua mỗi lần kiểm tra đề có đánh giá và rút kinh nghiệm để xây dựng ý thức tự kiểm tra của giáo viên và học sinh.

Nhà trường cần xây dựng các tiêu chí đánh giá giáo viên trong giáo dục hướng nghiệp; Đánh giá hiệu quả hoạt động của từng cá nhân là việc làm rất khó và rất tế nhị của nhà trường. Hiệu quả của giáo dục hướng nghiệp cũng giống như hiệu quả của hoạt động giáo dục khác, nó không thể thực hiện ngay tức thời mà phải sau một thời gian dài, khi học sinh đã ra trường, thậm chí khi đã trưởng thành, thành đạt trong công tác. Vì vậy để đánh giá hiệu quả công tác của giáo viên thực hiện giáo dục hướng nghiệp ta cần căn cứ vào các mức độ hoạt động của từng cá nhân.

Có thể xây dựng chuẩn đánh giá của nhà trường thông qua các tiêu chí: Tiến độ thực hiện, ngày giờ công, nề nếp giảng dạy, nề nếp sinh hoạt chuyên môn, sự tham gia hoạt động do thầy cô tổ chức (Hoạt động này có thể thực hiện bằng phiếu thăm dò ý kiến) vv…

  • Mục tiêu hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

Quản lý giáo dục hướng nghiệp góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục. Các hoạt động GDHN nhằm cụ thể hóa mục tiêu “Nâng cao dân trí” và “Đào tạo nhân lực”. Để làm được mục tiêu ấy, giáo dục đào tạo phải mang tính toàn diện và từng bước đổi mới về quản lý, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục; phải coi trọng lĩnh vực giáo dục thường xuyên, giáo dục mọi người, xây dựng xã hội hóa học tập, đào tạo và đào tạo lại, phát triển mô hình học tập liên thông để vừa cũng cố và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đảm bảo cung cấp nguồn lao động cân đối, thích ứng với nhu cầu của địa phương.

Quản lý mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT phải dựa trên nền tảng sự lãnh đạo của Đảng thông qua các quan điểm chỉ đạo về đổi mới chương trình giáo dục THPT, gắn với việc tích hợp các môn học với các lĩnh vực kinh tế xã hội, thị trường lao động, coi trọng giáo dục nghề phổ thông, cung cấp các thông tin cần thiết về nhu cầu lao động trong xu thế phát triển chung của thế giới, của thực tiễn đất nước đặt ra, từ đó tạo tiền đề cho học sinh có định hướng ngay từ cấp học THPT để rèn luyện, khẳng định bản thân, định hướng và có khả năng giải quyết tốt đối với nhu cầu nghề nghiệp sau cấp THPT học sinh có khả năng học tiếp lên cấp học cao hơn hoặc định hướng học nghề bảo đảm vừa đúng với sở thích và nhu cầu nghề nghiệp của địa phương. Nhằm giúp cho học sinh bậc THPT có nhận thức tốt về định hướng tương lai của mình, giáo dục hướng nghiệp bảo đảm việc cung cấp đầy đủ kiến thức về lĩnh vực nghề nghiệp của xã hội, nghề nghiệp mà xã hội đang cần, thông tin rộng rãi về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của mỗi người thích ứng với từng lĩnh vực nghề nghiệp. Mục tiêu của hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bậc THPT cốt yếu để tìm ra điểm chung, mối tương quan giữa các yếu tố năng lực bản thân – Hoàn cảnh gia đình – Ngành nghề trong xã hội – Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực và phát triển kinh tế của địa phương. Đó là tìm ra điểm chung nhất trong mối quan hệ giữa các yếu tố trong chỉnh thể các thành phần có ảnh hưởng đến định hướng chọn nghề của các em học sinh. Các em không những cần thiết phải biết mình có năng lực gì, sở trường, thiên hướng, mong muốn nghề nghiệp của bản thân, các điều kiện hoàn cảnh của gia đình có ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện nguyện vọng nghề nghiệp mà còn phải biết đặt nó trong mối quan hệ với những nhu cầu phát triển nhân lực, phát triển kinh tế của địa phương và khu vực. Sự phù hợp nghề ở đây chính là sự phù hợp của ba yếu tố: tôi thích (hứng thú) – tôi cần phải (nhu cầu xã hội) – tôi có thể (năng lực). Đối với học sinh THPT, ngoài ba yếu tố trên, cần phải tính đến những điều kiện, hoàn cảnh gia đình của bản thân trong công việc tạo điều kiện cho các em theo đuổi nghề mình đã lựa chọn.

  • Quản lý nội dung giáo dục hướng nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải đáp ứng mục tiêu đào tạo: góp phần hình thành nhân cách học sinh, giáo dục toàn diện học sinh, rèn tính năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng với tình huống, linh hoạt thích ứng với công việc, ngành nghề xã hội có nhu cầu sát hợp với nguyện vọng bản thân. Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải có tính mềm dẻo, phân hóa: nội dung hướng nghiệp phải được tiến hành dựa vào những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng, các điều kiện…nhằm phát triển tốt nhất cho người học. Tăng thời lượng thực hành, thực tế, tham quan, trang bị các tri thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp. Giáo dục hướng nghiệp có tính phân hóa đáp ứng yêu cầu đào tạo và phân công lao động xã hội để mỗi thành viên đóng góp hiệu quả nhất trong công việc trên cơ sở đã được chuẩn bị tốt theo định hướng từ nhà trường.

Nội dung giáo dục hướng nghiệp mang tính cơ bản, thiết thực: giáo dục hướng nghiệp phải chỉ rõ cho người học có nhận thức đúng đắn về vai trò định hướng nghề nghiệp mà xã hội đang cần, đồng thời giúp các em lựa chọn hướng đi của mình một cách tốt nhất, phù hợp với năng lực học tập và sở trường của mình. Đối với các em có học lực khá tốt được đánh giá qua các kỳ kiểm tra, các kỳ thi thì tiếp tục học lên và đi vào các trường đại học. Các em có học lực hạn chế được hướng nghiệp để lựa chọ con đường học nghề phù hợp với khả năng của mình, các em sẽ có tương lai rõ ràng hơn, một môi trường học tập, rèn luyện tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội và cho bản thân.

Đảm bảo cho người học được tiếp cận với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới, đồng thời phát huy và giữ vững những bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc; bảo đảm sự cân đối giữa tri thức văn hóa, khoa học công nghệ, tạo điều kiện cho học sinh nhanh chóng tiếp cận với nghề nghiệp, đặc biệt các ngành nghề nằm trong quy hoạch phát triển kinh tế của địa phương và đất nước.

Nội dung giáo dục hướng nghiệp phải gắn với cuộc sống, đáp ứng mục tiêu giáo dục, học sinh phải hiểu rõ bản thân mình từ sở thích, khả năng, có tính đến giá trị nghề nghiệp. Vì mỗi người không thể tách riêng độc lập mà sống trong môi trường bao gồm các yếu tố tác động xung quanh bên ngoài như: gia đình, bạn bè, cộng đồng xã hội, môi trường kinh tế, giáo dục … Các yếu tố này có liên quan mật thiết đến định hướng nghề nghiệp, phát triển nghề nghiệp bản thân.

Việc học sinh bậc THPT nhận thức đúng đắn các tác động bên ngoài thì các em sẽ có những quyết định hợp lý, chọn lựa nghề nghiệp thỏa mãn nguyện vọng, sở thích của bản thân. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Nội dung giáo dục hướng nghiệp vừa sát với thực tiễn nhu cầu xã hội, vừa phù hợp với khả năng, sở thích, điều kiện hoàn cảnh gia đình, có như vậy thì nghề chọn sẽ dễ thành công và bản thân mới phát triển hết tiềm năng chuyên môn đối với nghề nghiệp. Để xác định đúng đắn việc chọn nghề, giáo dục hướng nghiệp cần cho học sinh tiếp cận với ngành nghề địa phương có nhu cầu thông qua các kênh thông tin, truyền thông, tài liệu hướng nghiệp của thầy cô giáo giảng dạy.

Hơn nữa, một nội dung rất quan trọng là cho học sinh tham quan các cơ sở sản xuất, cơ quan xí nghiệp ở địa phương để các em có cơ hội tìm hiểu định hướng tương lai nghề nghiệp của bản thân.

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp phải đổi mới theo xu thế hội nhập và phát triển các nước trên thế giới và trong khu vực. Nội dung giáo dục hướng nghiệp gắn với các tiến bộ khoa học hiện đại, ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực nghề nghiệp, giáo dục hướng nghiệp thông qua các ngành nghề truyền thống của địa phương. Ví dụ ở Bình Dương, học sinh bậc THPT có cơ hội phát triển, tiếp cận các khu công nghiệp điện, điện tử, công nghiệp chế biến và các ngành nghề thủ công đặc thù như gốm sứ, sơn mài, điêu khắc … là những nội dung mà quản lý giáo dục hướng nghiệp phải hướng đến để phát triển.

Vấn đề cần quan tâm hơn nữa, Quản lý giáo dục hướng nghiệp phải chú trọng đến con người nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ cho đất nước và cho địa phương, vừa định hướng cho học sinh THPT mà người lao động nói chung được bồi dưỡng cập nhật thường xuyên về kỹ năng, kiến thức nghề nghiệp đáp ứng mong đợi của nền kinh tế đã và đang phát triển hiện nay.

1.5. Những yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

1.5.1. Yếu tố thị trường lao động

Các yếu tố của thị trường lao động như dân số, tiền lương, tuyển dụng, nhu cầu thị trường, chính sách cho người lao động … là các yếu tố chủ yếu tác động tới tạo nguồn nhân lực. Người lao động nếu được trả công theo chất lượng và hiệu quả lao động sẽ khuyến khích họ học tập, rèn luyện để nâng cao kỹ năng, kiến thức.

1.5.2. Yếu tố giáo dục và đào tạo

Phát triển nguồn nhân lực gắn liền với giáo dục và đào tạo. Với quan niệm đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lợi nhất, các quốc gia trên thế giới đều có sự thay đổi trong chiến lược đầu tư cho giáo dục vì GD&ĐT tạo ra nguồn lực quyết định cho sự phát triển của đất nước trong tương lai.

1.5.3. Đội ngũ cán bộ giáo viên Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Để hoạt động giáo dục hướng nghiệp có hiệu quả, vai trò quan trọng hơn hết là đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Trong nền giáo dục hiện đại, việc quản lý và đào tạo giáo viên không chỉ chăm lo về chuyên môn là đủ mà còn phải được yêu cầu đào tạo, trang bị thêm một số môn học khác để phục vụ cho việc giáo dục toàn diện cho học sinh; được huấn luyện phương pháp và kỹ năng dạy học một cách chu đáo và thường xuyên được trao đổi với đồng nghiệp, thường xuyên được rèn luyện nhân cách, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển tính cách, tăng cường ý thức của người giáo viên, từ đó tạo sự ảnh hưởng của nhân cách giáo viên đến học sinh.

Trong nhà trường phổ thông hiện nay nhất thiết phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, hàng năm nhà trường cần có kế hoạch cử lực lượng này tham gia các chương trình tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ do ngành tổ chức.

1.5.4. Các tổ chức chính trị xã hội

Cán bộ quản lý các trường THPT cần quan tâm, phối hợp với các lực lượng đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam đưa các nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp vào các tổ chức này, đây là những tổ chức vừa có lực lượng đông đảo vừa có vai trò tác động tích cực và hiệu quả trong việc vận động tuyên truyền đến các đối tượng học sinh.

Ngoài ra hai yếu tố quan trọng chi phối đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp đó là chính quyền địa phương và các xí nghiệp, Cơ sở sản xuất có vai trò rất lớn trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

Đối với chính quyền địa phương cần có kế hoạch ngắn hạn, dài hạn trong việc xây nguồn lực, đặc biệt là phải quan tâm đến công tác đào tạo nghề phục vụ cho việc phát triển kinh tế địa phương.

Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh cần tạo điều kiện cho học sinh tham quan, học tập, tư vấn cho các em chọn ngành nghề phù hợp với năng khiếu của mình.

Thực hiện mối liên kết này giúp học sinh có điều kiện mở rộng thông tin về ngành nghề của xã hội và địa phương, yêu cầu của nghề đối với người lao động, quy trình đào tạo, những điều kiện tham gia lao động. Qua đó giúp học sinh hiểu biết các thông tin cần thiết về nghề nghiệp không chỉ về mặt lý thuyết mà ngay cả thực tiễn nữa. Sự liên kết giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong việc hình thành và phát triển năng khiếu nghề nghiệp của các em.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Chương 1 của đề tài đã trình bày được các cơ sở lý luận của giáo dục hướng nghiệp: một số khái niệm có liên quan đến giáo dục hướng nghiệp, mục tiêu, các hình thức và ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp, cách tổ chức và quản lý giáo dục hướng nghiệp trong nền giáo dục của đất nước.

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT là một hoạt động giáo dục giúp học sinh định hướng nghề nghiệp đúng đắn, lựa chọn con đường lập nghiệp sau khi học xong phổ thông phù hợp với sở trường, nguyện vọng bản thân và nhu cầu xã hội, điều chỉnh động cơ chọn nghề, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp của các em theo xu hướng phân công lao động xã hội. Từ đó, nền giáo dục của đất nước đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực cho xã hội phát triển.

Phân tích được các chức năng của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp như: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá.

Trình bày được một số lý thuyết về giáo dục hướng nghiệp, ý nghĩa giáo dục, kinh tế, chính trị, xã hội. Mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh, từ đó định hướng giáo dục hướng nghiệp theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp học sinh

One thought on “Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464