Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những hoạt động quan trọng, được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, với mục đích: Chuyển tải mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến với Nhân dân, nhằm từng bước nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật cho người dân, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội. Đây là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật và có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Trong rất nhiều văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã đề cập đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, cụ thể: Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng cũng đã khẳng định: “Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật; huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong xã hội’’ [15, tr.498]; Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng quy định “Đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng luật, ban hành và thực thi pháp luật, trong đó chú trọng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật một cách nghiêm minh” [16, tr.329]. Ngày 20/6/2012 Quốc hội khóa XIII ban hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2013 đã khẳng định tầm quan trọng của công tác này đối với mọi mặt của đời sống xã hội.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhất là đối với nông nghiệp nông thôn. Nông dân Việt Nam đóng vai trò quan trọng vì đây là lực lượng chiếm số lượng đa số trong cả nước và cũng chính họ đã có nhiều đóng góp công sức, trí tuệ đáng tự hào vào tiến trình lịch sử và phát triển của đất nước. Từ khi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng hoàn thiện, đi vào cuộc sống, thì quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người nông dân ngày càng được bảo đảm trong mối quan hệ hài hòa với các giai tầng khác. Từ đó giúp nhà nông trên khắp mọi miền Tổ quốc yên tâm phát triển sản xuất, kinh doanh hiệu quả, cải thiện chất lượng cuộc sống. Một thế hệ người nông dân mới với năng lực quản lý, kỹ năng sản xuất chuyên nghiệp đã hình thành, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, thực hiện ngày càng tốt vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.

Tuy nhiên, những thành tựu, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng, các địa phương. Nông nghiệp nước ta phát triển chưa bền vững, sức cạnh tranh thấp, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp nhiều nơi còn chậm. Việc nắm bắt tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đặc biệt là nắm bắt tâm tư, băn khoăn, bức xúc: giải quyết chưa kịp thời những khó khăn, vướng mắc đang hiện hữu với người nông dân gặp phải như việc thu hồi đất nông nghiệp, thiếu vốn sản xuất, ô nhiễm làng nghề, việc làm cho thanh niên nông thôn… Nhiều địa phương làm chưa tốt chức năng đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân; năng lực thực hiện nhiệm vụ chưa cao, lúng túng trong tham gia xây dựng, phản biện chính sách nông nghiệp… Ngoài ra, tác động tiêu cực của nền kinh tế theo cơ chế thị trường khiến một bộ phận nông dân có lối sống thực dụng, ham hưởng thụ, buông thả; những thông tin phản động, quan điểm sai trái cũng tác động đến tâm trạng, đạo đức, tư tưởng lối sống của nông dân. Do đó, tình trạng vi phạm pháp luật trong nông dân ngày càng có biểu hiện gia tăng. Một trong những nguyên nhân vi phạm pháp luật gia tăng ở nông dân là do thiếu hiểu biết xã hội, nhận thức chưa đúng hoặc không nhận thức được hành vi nào là vi phạm pháp luật, đời sống khó khăn, văn hóa cổ hủ cũng gây ra những tác động xấu đến bộ phận này.

Trong những năm qua, cấp ủy và chính quyền các cấp tỉnh Ninh Bình đã bám sát kế hoạch, nội dung các văn bản của Trung ương trong việc chỉ đạo phổ biến, giáo dục pháp luật. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều văn bản và trực tiếp chỉ đạo các huyện, thành phố nâng cao vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho nông dân nói chung và lực lượng thanh niên nông thôn nói riêng. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân ở tỉnh Ninh Bình còn có những hạn chế cần phải khắc phục như: công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có nơi còn mang tính hình thức nên nhiều văn bản về chủ trương, chính sách mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước gắn với nông dân cập nhật chưa kịp thời; ý thức chấp hành pháp luật của một số người dân còn chưa cao; mặt khác, trình độ, năng lực của cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế, do đó việc nắm bắt, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nông dân còn chậm….

Từ tình hình, thực trạng và kết quả triển khai nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, cũng như trong quá trình công tác tại địa phương, tôi đã lựa chọn đề tài: “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành Luật Hiến pháp – Luật Hành chính của mình nhằm làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân đã có nhiều các luận án, luận văn, bài báo, tạp chí nghiên cứu ở nhiều phạm vi khác nhau, trong đó phải kể đến một số công trình tiêu biểu như:

Luận văn thạc sĩ luật học: Nguyễn Xuân Hạnh (2014), “Phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”; Dương Thị Thu Hiền (2013), “Phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình – thực trạng và giải pháp”[22]; Trần Thị My Ly (2018), “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình”[23]; Hoàng Thị Thanh Thủy (2016), “Phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện Vân Đồn – Quảng Ninh” [46]; Hà Thị Tuyến (2011), “Phổ biến pháp luật cho người nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền”[53].

Bên cạnh đó, các bài viết, sách chuyên khảo nghiên cứu về phổ biến, giáo dục pháp luật, về nông nghiệp, nông thôn như: Nguyễn Đình Hùng (2016), “Bộ Tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới chế độ, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn”, Nhà xuất bản Nông nghiệp[34]; Nguyễn Tất Viễn (2015), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phổ biến, giáo dục pháp luật, Nhà xuất bản Tư pháp [57].

Các bài báo, tạp chí có các bài viết đề cập đến nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật như của tác giả Ngô Quỳnh Hoa (2016), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật”, Số chuyên đề Thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật tr.99-104[24]; Hoàng Thị Kim Quế (2016), “Hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật – Nhận thức từ thực tiễn và giải pháp”, Tạp chí Dân chủ pháp luật – Số chuyên đề Thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật tr.24-33[37]. Lý Anh Tuấn (2016), Kết quả tuyên truyền, phổ biến, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số tuân thủ, chấp hành pháp luật và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật – Số chuyên đề thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật tr76-83[52].

Các công trình nghiên cứu đã phân tích tương đối toàn diện và có hệ thống về vấn đề phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân dưới góc độ lý luận, cũng như sự vận dụng lý luận đó vào tình hình thực tiễn ở các địa phương cụ thể như Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Ninh…. cũng như Phổ biến, giáo dục pháp luật chung. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng. Để thực hiện luận văn, tác giả tiếp thu có chọn lọc nghiên cứu một số công trình khoa học liên quan đến đề tài. Đây là lý do để đề tài này được lựa chọn bởi không trùng lặp với các công trình liên quan được công bố.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân, đề tài đánh giá thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình để từ đó có cơ sở đề xuất những giải pháp tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện mục đích nghiên cứu của Luận văn như đã nêu ở trên, Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể như sau:

  • Làm rõ những vấn đề lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.
  • Phân tích thực trạng về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong những năm gần đây, qua đó rút ra những hạn chế cần khắc phục và những nguyên nhân của hạn chế đó.
  • Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về vấn đề lý luận và thực tiễn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân
  • Về không gian: Đề tài nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
  • Về thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2016 đến năm 2020.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tham khảo một số công trình nghiên cứu, các bài viết, bài báo về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân để khẳng định việc nghiên cứu của luận văn nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp, linh hoạt, có hiệu quả nhiều phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ, trong đó tập trung một số phương pháp sau: Phương pháp khảo cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, chọn lọc những kinh nghiệm thực tiễn từ đó có những đánh giá sát thực để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

  • Luận văn góp phần vào hệ thống hoá cơ sở lý luận về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

  • Về thực tiễn: Các khuyến nghị của luận văn có giá trị tham khảo trong thực tế hoàn thiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.
  • Đề tài còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu liên quan sau này.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, thì nội dung Luận văn gồm có 03 chương như sau:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.
  • Chương 2: Thực tiễn việc thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân tại tỉnh Ninh Bình
  • Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NÔNG DÂN

1.1. Khái niệm, mục đích, nguyên tắc, đặc điểm, vai trò và tầm quan trọng của phổ biến, giáo dục cho nông dân.

1.1.1. Khái niệm nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Cho đến nay chúng ta vẫn khẳng định Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm hơn 70% dân số cả nước. Người nông dân giàu lòng yêu nước, nhiệt tình cách mạng, chịu đựng gian khổ, hy sinh, lao động cần cù, sáng tạo và là đội quân chủ lực trong lịch sử đấu tranh lâu dài của dân tộc Việt Nam.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin năm 1999) “Nông dân là người sống bằng nghề làm ruộng” [14, tr.1283], do đó khi nói về nông dân, có thể hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng khái niệm phổ biến nhất đó là: “Nông dân là những người cư trú ở khu vực nông thôn và tham gia sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác mà tư liệu sản xuất chính là đất đai”. Trong sự phát triển đời sống xã hội của đất nước, giai cấp nông dân Việt Nam đóng một vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng sống của toàn xã hội. Hiện nay, nông dân đang là lực lượng chủ lực trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, là lực lương nòng cốt xây dựng nông thôn mới, nông thôn kiểu mẫu.

Lịch sử Việt Nam ghi nhận giai cấp nông dân đã được hình thành từ rất sớm. Trong thời kì phong kiến, họ là nhưng người làm thuê cho phú nông và địa chủ để sản xuất nông nghiệp. Khi đời sống xã hội dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nói chung và đất đai nói riêng, họ là những người sống lâu đời ở nông thôn và lấy sản xuất nông nghiệp làm nguồn sống chính dưới hình thức tư hữu tư nhân nhỏ.

Kể từ năm 1930, khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và trong quá trình phát triển, Đảng giữ vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì giai cấp nông dân là lực lượng quan trọng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân lao động là người quyết định, người sáng tạo nên lịch sử xã hội [9, tr.404]. Ở nước ta, nông dân là một bộ phận dân cư chiếm số đông trong cơ cấu lao động và là động lực cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính họ đã trực tiếp tạo ra của cải nuôi sống xã hội.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến nông dân – lực lượng to lớn của cách mạng. Người khẳng định nông dân Việt Nam là gốc của cách mạng Việt Nam, là thành phần chủ đạo trong khối đại đoàn kết toàn dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhờ có sự lãnh đạo đó, giai cấp nông dân Việt Nam đã phát huy được những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nông dân ngày càng có vai trò quan trọng góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam ngày một phát triển và giàu mạnh.

1.1.2. Khái niệm, mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt (NXB Văn hóa – Thông tin năm 1999) “Phổ biến là truyền đạt rộng khắp làm cho nhiều người cùng biết” [14, tr.1341]. Phổ biến được hiểu theo nghĩa động từ đó là: “ Làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, sự kiện, nhân vật nào đó bằng cách truyền đạt rộng khắp thông qua các phương thức truyền thông tin trực tiếp và gián tiếp”.

Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển, năm 2003) “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [51, tr.394].

Theo Cẩm nang công tác PBGPL thì: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành [8, tr.4].

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội.

Như vậy ta có thể hiểu phổ biến, giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp là: giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho người có nhu cầu; theo đó phổ biến, giáo dục pháp luật là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng.

Hiểu theo nghĩa rộng: phổ biến, giáo dục pháp luật là một khâu của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định thông qua các hình thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương nhằm mục đích hình thành ở đối tượng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành với các hình thức, phương tiện, phương pháp đặc thù.

Vậy phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân là quá trình nhằm nâng cao dân trí pháp lý cho người nông dân nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật do thiếu kiến thức về pháp luật, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của nông dân. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

  • Mục đích của việc Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân

Công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong xã hội. Phổ biến, giáo dục pháp luật phải có bước đi thích hợp, không chạy theo phong trào, thành tích, mà cần đi vào chiều sâu, làm cho pháp luật thấm dần vào ý thức người dân, tạo dần thói quen tôn trọng và chấp hành pháp luật trong cuộc sống [57, tr.32].

PBGDPL là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào đời sống xã hội. Thực hiện pháp luật dưới bất cứ hình thức nào – tuân thủ, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng (vận dụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật thì mục đích mục đích Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân đều có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn bởi lẽ:

Thứ nhất, tạo điều kiện tốt nhất để nông dân hiểu biết về pháp luật, nếu không nhận thức đầy đủ vấn đề này và không thực hiện tốt công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật thì dù công tác xây dựng pháp luật có làm tốt đến mấy thì vấn đề thực thi pháp luật vẫn không đạt được hiệu quả.

Trong thực tế đời sống, pháp luật không phải lúc nào cũng được người dân biết đến, tìm hiểu, ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh. Mặc dù bản chất pháp luật của Nhà nước ta là tốt đẹp và nhân văn. Nó phản ánh ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đại đa số quần chúng nhân dân. Những mong muốn ấy phải được đông đảo người dân biết đến thì pháp luật mới đi vào cuộc sống.

PBGDPL chính là phương tiện truyền tải những thông tin về pháp luật đến người dân, giúp họ hiểu biết chính xác, nắm bắt kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập. Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân nói chung và nông dân nói riêng.

Thứ hai, phải hình thành lòng tin vào pháp luật của nông dân, pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật. Pháp luật được xây dựng là để bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội. Khi nào người dân nhận thức đầy đủ được như vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà mọi người vẫn tự giác thực hiện.

Tạo lập niềm tin vào pháp luật cho mỗi người và cả cộng đồng đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố. Một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng là Phổ biến, giáo dục pháp luật để mọi người hiểu biết về pháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật. Pháp luật cũng như mọi hiện tượng khác trong xã hội bao giờ cũng có hai mặt, không phải lúc nào nó cũng thoả mãn hết, phản ánh được đầy đủ nguyện vọng, mong muốn của tất cả mọi người trong xã hội. Quá trình điều chỉnh pháp luật sẽ lấy lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội làm tiêu chí, thước đo, do đó sẽ có một số ít không thoả mãn được. Chính các yếu tố hạn chế của các quy định pháp luật càng tạo nên sự cần thiết của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật để mọi người hiểu đúng pháp luật, đồng tình ủng hộ pháp luật. Có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của đông đảo nhân dân trong xã hội.

Thứ ba, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nông dân. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật.

Tri thức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua việc học tập, tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích luỹ kiến thức của hoạt động thực tiễn và công tác. Tình cảm pháp luật chính là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực hiện và áp dụng pháp luật, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực hiện đúng pháp luật, lên án các hành vi vi phạm pháp luật.

Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của Nhân dân chỉ có thể được nâng cao khi công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục. Phổ biến, giáo dục pháp luật không đơn thuần là phổ biến các văn bản pháp luật đang có hiệu lực mà còn lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng tình ủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận và tâm lý đồng tình ủng hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi vi phạm pháp luật.

PBGDPL nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của con người với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của con người đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của Nhân dân.

1.1.3. Đặc điểm của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân.

Thứ nhất, hiện nay mặc dù trình độ dân trí đã từng bước được nâng cao, song nhìn chung trình độ hiểu biết pháp luật của người nông dân còn thấp, vẫn còn bị ảnh hưởng nhiều phong tục tập quán lạc hậu… nên trong cuộc sống hằng ngày nhiều người có những xử sự có tính chất tự phát không đúng pháp luật, không phù hợp với đạo lý, văn hóa truyền thống dẫn đến những vi phạm pháp luật. Bởi vậy khi Phổ biến, giáo dục pháp luật phải có sự sàng lọc, cung cấp những thông tin phù hợp cho nông dân.

Thứ hai, Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật nói chung và từng văn bản pháp luật nói riêng. Trong mối quan hệ với hoạt động thực hiện pháp luật thì Phổ biến, giáo dục pháp luật được coi là khâu đầu tiên của quy trình tổ chức thực hiện pháp luật. Quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật bởi vì muốn thực hiện pháp luật phải có hiểu biết pháp luật. Công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật có tác động tích cực tới việc tổ chức thực hiện pháp luật, vì nếu công dân không có ý thức pháp luật và hiểu biết pháp luật thì không thể tự giác tuân theo và chấp hành nghiêm chỉnh, cũng không thể áp dụng đúng pháp luật trong quản lý xã hội. Ngược lại, công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động thực thi pháp luật. Việc tổ chức thực hiện pháp luật tốt hay chưa tốt sẽ tạo ra môi trường thuận lợi hay không thuận lợi cho việc thực hiện công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật, cho quá trình xây dựng niềm tin pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật trong Nhân dân. Từ đó, nông dân có thể nhận thức đúng đắn về pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật tránh để xảy ra vi phạm pháp luật.

Thứ ba, Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân đòi hỏi phải sử dụng các phương pháp, hình thức phù hợp với trình độ dân trí, văn hóa, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc điểm về nhận thức, tư duy, lối sống của nông dân. Do đó, cần phải đổi mới, nâng cao hiệu quả các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật truyền thống, triển khai trên diện rộng những hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật mới đang phát huy trên thực tế. Đặc biệt cần phải ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân để nâng cao chất lượng hiệu quả phổ biến.

1.1.4. Vai trò của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

  • Thứ nhất, Phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.

Đây là vai trò hết sức quan trọng của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân, nó bắt nguồn từ vai trò và giá trị xã hội của pháp luật – phương tiện hàng đầu để quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Phổ biến, giáo dục pháp luật giúp cho mọi người có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp, là tiền đề cho việc sử dụng quyền lực Nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ, mở rộng quyền tự do của mỗi người. Phổ biến, giáo dục pháp luật còn tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ xã hội trong môi trường quản lý Nhà nước, tạo ra khả năng hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; tạo ra khả năng phát hiện và kiên quyết loại trừ những hiện tượng tiêu cực, chống đối pháp luật diễn ra trong quá trình quản lý.

  • Thứ hai, Phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý cho nông dân.

Giáo dục pháp luật nó là quá trình tác động nhằm hình thành tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành. Vì vậy, kết quả đạt được các mục đích do sự tác động định hướng là góp phần xây dựng ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của công dân. Giáo dục chính là đòi hỏi khách quan bắt nguồn từ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của mọi công dân.

Như vậy, Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân giúp cho nông dân có tri thức pháp lý, tình cảm, hành vi hợp pháp góp phần nâng cao ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý của nông dân, phòng ngừa có hiệu quả các hành vi vi phạm của người nông dân.

1.2. Các yếu tố cấu thành phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

1.2.1. Chủ thể của phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân

Hiểu một cách đơn giản chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật là những người thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, có nhiệm vụ truyền đạt nội dung, quy định của pháp luật tới các đối tượng thông qua các hình thức, phương tiện, biện pháp thích hợp. Chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay đông về số lượng, đa dạng về ngành nghề với 3 nhóm chính [10, tr.14]

Nhóm 1: Những người làm công tác xây dựng và hoạch định chính sách về Phổ biến, giáo dục pháp luật, những người làm công tác quản lý tổ chức và hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật.

Nhóm 2: Những người trực tiếp thực hiện công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.

Nhóm 3: Những người thực hiện công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của mình, hoặc lồng ghép công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật với các hoạt động xã hội khác và những tình nguyện viên khác tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

  • Yêu cầu đối với chủ thể làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật: Thứ nhất, có kiến thức hiểu biết về pháp luật.

Thứ hai, có sự nhiệt tình, tâm huyết, tận tụy với công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật, bởi vì Phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động mang tính chất xã hội, đối tượng phục vụ của PBGDPL là quảng đại quần chúng nhân dân, do đó một trong những yêu cầu hết sức quan trọng của người làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật là có tinh thần nhiệt tình, tận tụy với công tác. Không quản ngại khó khăn, gian khổ, luôn phấn khởi, hăng say trong công tác, lấy công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật làm niềm vui, niềm say mê; nó không đơn thuần là trách nhiệm được giao phó mà còn là niềm vui của người làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Họ luôn phấn khởi phục vụ cho mọi đối tượng, không quản ngại vấn đề mới, văn bản pháp luật mới, bản thân luôn cố gắng học tập, phấn đấu vươn lên; tích lũy kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội để hoàn thành công việc được giao.

Thứ ba, có khả năng nói và viết, Phổ biến, giáo dục pháp luật là truyền đạt thông tin pháp luật và giải thích pháp luật cho người khác, chính vì thế ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết đóng vai trò rất quan trọng cho sự thành công của người làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Sự kết hợp giữa khả năng nói và viết trong người làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác này.

Thứ tư, có khả năng hòa đồng và giao tiếp, Phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động mang tính chất hai chiều, không đơn thuần là sự truyền đạt thông tin và giải thích pháp luật của người làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật mà còn có sự phản hồi của đối tượng tuyên truyền. Do đó người làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật phải có khả năng hòa đồng và giao tiếp tốt.

1.2.2. Đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Đầu tiên là những người trong độ tuổi thanh niên, học sinh, họ là con em người nông dân. Ở nông thôn hầu như trẻ em đều phải tham gia lao động, sản xuất cùng gia đình, các em không chỉ phụ giúp cha, mẹ những việc hằng ngày đơn giản mà ngay cả những việc nặng nhọc như khi vào vụ mùa, vào vụ sản xuất các em cũng đều phải tham gia. Do đó, giáo dục, phổ biến pháp luật cho thanh niên, học sinh là hoạt động và nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết của các ngành, các cấp bởi đây là thế hệ trẻ, là những người chủ tương lai của đất nước.

Hai là phụ nữ, họ là một lực lượng lao động xã hội đông đảo, trong công cuộc xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay, phụ nữ đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội. Vai trò này đang được khẳng định một cách rõ nét hơn bao giờ hết. Hơn ai hết, chính chị em phụ nữ là người cần phải nâng cao tính tự chủ, quyết đoán để tham gia tích cực hơn nữa vào các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội. Đồng thời chị em cũng cần trau dồi thêm các kiến thức để nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân, cũng như các kiến thức về pháp luật, để tự bảo vệ mình và con cái trong xu hướng xuất hiện nhiều các loại tội phạm liên quan đến các nạn nhân là phụ nữ và trẻ em như: các vụ bạo lực gia đình, xâm hại tình dục, mua bán phụ nữ và trẻ em…

Ba là cựu chiến binh, đối tượng này tham gia rất tích cực trong các hoạt động xã hội, thông qua họ sẽ giúp cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật được mở rộng giúp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội từ cơ sở.

Bốn là người dân tộc, đời sống của đồng bào dân tộc ở nước ta nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, còn có khoảng cách đáng kể so với dân tộc đa số, giữa miền xuôi và miền ngược. Do đó, cần tập trung công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân là người dân tộc nhằm tạo chuyển biến về nhận thức và ý thức tự giác chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước; vận động đồng bào các dân tộc xây dựng xã hội lành mạnh, sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, nhằm ổn định chính trị, tạo sự đồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

1.2.3. Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân

  • Đề cao tính Đảng trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Pháp luật và đường lối chính sách của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Pháp luật bao giờ cũng là sự thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng, đường lối chính sách của Đảng là “linh hồn” của pháp luật. Do đó, phổ biến, giáo dục pháp luật cũng chính là việc phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng.

Thực hiện không đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật đều làm tổn hại tới Nhà nước và xã hội, tổn hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng. Pháp luật được thực hiện nghiêm minh, chính xác và đầy đủ thì uy tín lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được khẳng định. Do đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bao giờ cũng phải đề cao tính Đảng.

Phổ biến, giáo dục pháp luật có thể là phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật, có thể tuyên truyền về việc thực hiện và áp dụng pháp luật, phổ biến từ cái chung đến cái cụ thể đều phải đề cao đến tính Đảng. Sự lơ là, coi thường và không quán triệt đầy đủ tính Đảng sẽ rơi vào chủ quan duy ý chí, phiến diện. Bởi vì đường lối chính sách của Đảng bao giờ cũng phản ánh quy luật khách quan của quá trình vận động xã hội, nêu lên những yêu cầu, đòi hỏi và đường lối phát triển kinh tế, văn hoá xã hội. Pháp luật cụ thể hoá đường lối đó, nhưng không phải là cụ thể hoá tất cả, chi tiết hoá đầy đủ thành các quy định để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mặt khác, các quan hệ xã hội luôn biến đổi vận động, do đó việc thực hiện và áp dụng pháp luật và việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật phải lấy đường lối chính sách của Đảng là kim chỉ nam cho các hoạt động đó.

Muốn đề cao tính Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thì phải hiểu biết, quán triệt đầy đủ đường lối chính sách của Đảng đối với từng thời kỳ, từng vấn đề và đường lối chung xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội. Đường lối chính sách của Đảng cũng như pháp luật là những hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, phản ánh cơ sở kinh tế, do đó nó cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và có quá trình vận động như các hiện tượng khác. Chính vì thế, phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng phải luôn bắt nhịp được với những thay đổi trong đời sống chính trị – pháp luật của đất nước.

  • Bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản.

Phổ biến, giáo dục pháp luật không giống với việc tuyên truyền phổ biến về văn hoá văn nghệ. Khi tuyên truyền, phổ biến về văn hoá văn nghệ, người ta có thể nhân cách hoá, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để phục vụ cho mục đích của họ.

Phổ biến, giáo dục pháp luật khác với các loại hình phổ biến giáo dục khác ở chỗ nội dung được phổ biến, giáo dục là pháp luật, là những quy tắc xử sự được Nhà nước ban hành, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ tới nội dung và yêu cầu của các quy định đó. Do đó, phổ biến, giáo dục pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ thông tin cho người nghe về pháp luật, truyền đạt cho họ biết được các văn bản pháp luật và những điều luật mới được ban hành mà còn phải giải thích về các văn bản pháp luật và các điều luật đó. Một trong những yêu cầu đã trở thành nguyên tắc trong giải thích pháp luật là phải bảo đảm tính khoa học.

  • Bảo đảm tính đại chúng: phù hợp với đối tượng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ áp dụng.

Phổ biến, giáo dục pháp luật không những phải xuất phát từ nhu cầu của đối tượng được phổ biến (họ đang thiếu và cần cái gì) mà còn phải phù hợp với trình độ văn bản, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, dân tộc … của đối tượng được phổ biến; đồng thời khi thực hiện Phổ biến, giáo dục pháp luật cần sử dụng ngôn ngữ đại chúng, hành văn (hoặc truyền đạt) giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu.

  • Lựa chọn được hình thức phù hợp.

Có nhiều hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật khác nhau, mỗi hình thức có sự phù hợp với một hoặc một số đối tượng nhất định. Do đó, khi Phổ biến, giáo dục pháp luật phải xuất phát từ đối tượng được Phổ biến, giáo dục pháp luật để lựa chọn hình thức tối ưu.

Ngoài ra, hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật còn phải phù hợp với từng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội nhất định, do đó khi Phổ biến, giáo dục pháp luật cũng phải xuất phát từ địa bàn, điều kiện kinh tế của nơi tiến hành Phổ biến, giáo dục pháp luật.

Nhìn chung, khi tiến hành Phổ biến, giáo dục pháp luật cần chọn một hình thức phù hợp cho đối tượng được phổ biến hoặc đan xen giữa hình thức này với hình thức khác để đạt hiệu quả tốt nhất.

1.2.4. Nội dung của phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân

Nội dung của Phổ biến, giáo dục pháp luật là yếu tố quan trọng, xác định đúng nội dung là việc cần thiết để Phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả. Theo quy định tại Điều 10 của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 thì việc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật tập trung vào các nội dung sau: Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

  • Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.
  • Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế.
  • Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật.

Công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân giúp họ hiểu rõ được nội dung, nắm được bản chất của các quy định pháp luật, vai trò, sự cần thiết của pháp luật trong đời sống xã hội. Từ đó, nông dân ý thức được trách nhiệm của bản thân, vận dụng một cách linh hoạt, chủ động, sáng tạo các quy quy phạm pháp luật vào cách ứng xử, giao tiếp, quá trình làm việc.

1.2.5 Hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân

  • Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân

Điều 11 của Luật Phổ biến, giáo dục năm 2012 đã quy định rất cụ thể về hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, trong đó có các hình thức có thể áp dụng khi phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân như:

Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật. Phổ biến pháp luật thông qua hình thức tổ chức các hội nghị Phổ biến, giáo dục pháp luật, các hoạt động của các câu lạc bộ pháp luật như “nông dân với pháp luật”, “phụ nữ với pháp luật”, “thanh niên với pháp luật”. Cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật gắn với nông dân như Luật Chăn nuôi, Luật Trồng trọt, Luật Thủy sản, Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình…

Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư.

Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật thông qua các hình thức như: hái hoa dân chủ, nhà nông đua tài, hội thi tuyên truyền viên, hòa giải viên giỏi hội thi nông dân tìm hiểu các kiến thức pháp luật.

Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở.

Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được thực hiện bằng 02 hình thức: Giáo dục chính khóa thông qua việc lồng ghép trong các môn học giáo dục công dân ở cấp trung học phổ thông; môn học pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân và Giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.

Các hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm.

  • Phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân

Phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật là hệ thống các cách thức sử dụng để tiến hành hoạt động giáo dục pháp luật; là hệ thống những cách thức tuyên truyền, tác động của chủ thể giáo dục lên đối tượng nhằm hình thành ở nông dân ý thức chấp hành pháp luật, xử lý hiệu quả các tình huống pháp luật nảy sinh trong đời sống xã hội.

Có nhiều quan điểm khác nhau về các phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo quan điểm của các nhà luật học, phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân bao gồm phương pháp thuyết trình, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận,… Tóm lại, người làm công tác phổ biến, giáo dục thường sử dụng hai phương pháp cơ bản là phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại.

Phương pháp truyền thống là phương pháp sử dụng các công cụ, phương tiện lâu đời như: thuyết trình, giảng dạy pháp luật; nói chuyện, tọa đàm pháp luật…

Phương pháp hiện đại là phương pháp có sử dụng kết hợp các thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại như máy tính, máy quay phim… để chủ thể Phổ biến, giáo dục pháp luật có thể dễ dàng thực hiện các phương pháp mô hình hóa, trực quan hóa gắn với các tình huống quan sát thực tế.

Khi sử dụng các phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân cần kết hợp được lý luận với thực tiễn thi hành pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nông dân nên bao gồm những phương pháp như sau: phương pháp thuyết phục, phương pháp thông tin pháp luật, phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật, phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật; hệ thống phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen thực hiện pháp luật; hệ thống phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi.

Phương pháp thuyết phục tác động vào nhận thức, tư duy, tình cảm của nông dân để hình thành ý thức và thái độ pháp luật đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực pháp luật. Chủ thể phải dùng lý lẽ chuẩn xác, dẫn chứng sinh động, thiết thực trong thực tế để cho nông dân nắm được, từ đó chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật

Phương pháp thông tin pháp luật là phương pháp sử dụng phương tiện truyền thông như báo, tạp chí chuyên ngành pháp luật, truyền hình, truyền thanh, các loại hình nghệ thuật như phim, ảnh… để chuyển tải những kiến thức pháp luật.

Phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật thường được sử dụng chủ yếu khi một văn bản pháp luật mới được ban hành.

Phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật là việc các đối tượng giáo dục pháp luật thảo luận, trao đổi về một sự kiện, hiện tượng, tình huống pháp lý trong thực tiễn xã hội.

Nhìn chung, phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật rất đa dạng, mỗi phương pháp đều có chức năng, ưu điểm riêng, vì vậy, với từng hoàn cảnh và đối tượng cụ thể cần lựa chọn các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp giữa chúng bởi các phương pháp đều có mối liên hệ chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau.

1.3. Điều kiện đảm bảo phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã quy định các biện pháp bảo đảm về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

1.3.1. Điều kiện đảm bảo về pháp lý cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Mọi hoạt động trong xã hội diễn ra đều chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật. Giáo dục nói chung và giáo dục pháp luật nói riêng cũng được thực hiện dưới sự đảm bảo của pháp luật. Nhà nước ta đã hình thành cơ chế đồng bộ, thống nhất, điều chỉnh toàn diện về công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật; trong đó xác định cụ thể trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức, xây dựng nguồn lực, và các điều kiện đảm bảo hoạt động.

Các điều kiện đảm bảo về pháp lý vừa đưa hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, vừa ngăn chặn và xử lý các trường hợp vi phạm. Ngoài ra, đảm bảo về pháp lý còn thể hiện ở hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật (Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Cơ quan nội vụ…), hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân), cơ quan hành pháp… luôn giám sát việc thực thi tất cả các hoạt động của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật.

1.3.2. Đảm bảo về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất và phương tiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật từ trung ương đến cơ sở. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng kỹ thuật, phương tiện hiện đại đáp ứng yêu cầu của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật trong tình hình mới. Đây là một trong những điều kiện trọng tâm để đảm bảo việc thực hiện Phổ biến, giáo dục pháp luật bởi công tác này trước những yêu cầu đổi mới của đất nước cần phải được thực hiện ở một tầm cao hơn, với một tư duy mới, toàn diện, thiết thực và khoa học hơn. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Số lượng và chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật.

Bên cạnh đó, cần có sự đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Sử dụng cơ sở vật chất và phương tiện hiện đại sẽ giúp cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật được diễn ra thuận lợi, dễ dàng, có hiệu quả, chuyển tải kiến thức pháp luật một cách nhanh chóng. Ngược lại, cơ sở vật chất và các phương tiện lạc hậu, lỗi thời sẽ làm giảm hiệu quả của công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật.

1.3.3. Đảm bảo kinh phí dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Yếu tố kinh phí là một điều kiện đảm bảo vô cùng cần thiết. Thực tế những năm qua cho thấy kinh phí dành cho hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật quá hạn hẹp. Để công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân đạt hiệu quả cao và được tiến hành thông suốt thì cần có một nguồn kinh phí thích đáng. Các công tác như duy trì hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật; tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm; biên soạn tài liệu, xây dựng chương trình, đề án, kế hoạch Phổ biến, giáo dục pháp luật… đều cần có kinh phí để thực hiện.

Sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân và các Chương trình, Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, việc đầu tư nguồn lực về bộ máy, đội ngũ cán bộ và kinh phí cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật được tăng cường. Các bộ, ngành, địa phương đã bố trí kinh phí cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật trong kế hoạch ngân sách hàng năm của mình theo Thông tư số14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/01/2014 của liên bộ Tài chính và Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 30/7/2014 của liên bộ Tài chính và Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách Nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ, ngành, địa phương chủ động trong việc bố trí ngân sách hằng năm cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật. Ngoài khoản ngân sách Nhà nước cấp cho hoạt động Phổ biến, giáo dục pháp luật thì sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, dự án; sự đóng góp từ phía doanh nghiệp, cá nhân trong nước và ngoài nước cũng là một phần quan trọng trong việc đáp ứng kinh phí cho công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân nói riêng.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Trên đây là những vấn đề lý luận cơ bản về Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân nói riêng, có thể thấy Phổ biến, giáo dục pháp luật là khái niệm được hiểu dưới nhiều khía cạnh khác nhau nhưng ta có thể hiểu Phổ biến, giáo dục pháp luật là một hoạt động có định hướng, có tổ chức nhằm trang bị tri thức pháp luật cho nông dân, hình thành ở họ lòng tin vào pháp luật và có các hành vi tích cực theo pháp luật.

PBGDPL là một công tác cực kỳ quan trọng đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều cơ quan Nhà nước, nhiều cấp, nhiều ngành và các tổ chức xã hội. Với tính chất và quy mô như vậy, Phổ biến, giáo dục pháp luật đòi hỏi phải được tổ chức hết sức chặt chẽ, có định hướng, có kế hoạch và phải đúng đối tượng để áp dụng hình thức, phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp nhằm mang lại hiệu quả, chất lượng. Vì vậy, khi tiến hành Phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải phân loại đối tượng, đặc biệt là nông dân thì phải có phương pháp Phổ biến, giáo dục pháp luật đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu, tránh lấy tư duy vòng vo, trừu tượng.

Ngoài ra, hình thức, nội dung Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân cũng phải phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội từng vùng, từng địa phương, cần phổ biến các văn bản pháp luật gắn với quyền và lợi ích chính đáng, các văn bản có liên quan đời sống hằng ngày, những vấn đề dư luận xã hội đang quan tâm nhằm nâng cao dân trí, ý thức, nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nông dân. Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình.

Những nội dung cơ bản được trình bày, phân tích tại chương 1 sẽ là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng Phổ biến, giáo dục pháp luật cho nông dân được trình bày ở những chương tiếp theo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình

One thought on “Luận văn: Phổ biến giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp giáo dục pháp luật cho nông dân tại Ninh Bình

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464