Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sông là nơi hấp dẫn, thể hiện cả sự quyến rũ tự nhiên và hữu ích cho mọi hoạt động của con người. Vai trò của các con sông trong hoạt động du lịch từ lâu đã được khẳng định tại nhiều nơi trên thế giới. Hầu hết các đô thị ven sông hoặc biển đều có du thuyền (River Cruise). Ở New York với sông Hudson và bến cảng tự nhiên giúp New York phát triển nổi bật trong vai trò thành phố thương mại và du lịch. Hay Brisbane với dòng sông cùng tên luôn tấp nập du khách, hay Melbourne với sông Yarra – là khu vực du lịch và giải trí sầm uất nhất thành phố. Châu Âu có London với sông Thames, còn Amsterdam nổi tiếng với đô thị trên mặt nước, hay như Venise của Ý với những chiếc thuyền Gondoles thơ mộng. Khi nhắc đến điểm du lịch Paris thì quá nổi tiếng với những chuyến Bateaux Mouches (giống như phà) chạy dọc sông Seine, Đức có du thuyền trên sông Rheine, Áo có du thuyền trên sông huyền thoại Danube. Islanbul, Thổ Nhĩ Kỳ có dòng Bosphore. Ngay bên cạnh Việt Nam, Bangkok của Thái Lan có sông Chao Pharaya lúc nào cũng nhộp nhịp thuyền bè dành cho du khách, với ác bữa buffet, party, gala dinner về đêm, có quầy bar, nhạc sống…còn thuyền nhỏ len lỏi đưa du khách thăm viếng đền đài, chùa triền ven sông. HongKong với những con tàu nhuốm màu thời gian nhưng tận tuỵ, trung thành đưa khách từ bán đảo Cửu Long (Kowloon) tới Vịnh Victoria,.…
Thành phố Hồ Chí Minh, nơi được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho hệ thống ngòi dày đặt với 16 phường trên địa bàn quận 8 đều được bao bọc bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch, rất thuận lợi để phát triển mạng lưới giao thông đường thuỷ nối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, bên cạnh kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè vừa hoàn tất, kênh Tàu Hủ, kênh Đôi, kênh Tẻ được nạo vét, 2 bên bờ được chỉnh trang, một trong những con đường đẹp nhất của thành phố là xa lộ Đông – Tây và đường Nguyễn Văn Linh cùng với đại lộ Võ Văn Kiệt chạy song song sẽ tạo ra cảnh quan, sinh hoạt hai bên bờ. Đây chính là cơ sở để Du lịch Thành phố phát triển các tour du lịch đường thuỷ nội đô. Bên cạnh đó có thể phát triển thêm tuyến sông Đồng Nai – Sài Gòn và khu vực Cần Giờ sẽ rất hấp dẫn du khách, người dân cũng có thêm cơ hội giải trí, hóng mát Sài Gòn về đêm,… Chính quyền thành phố và nhất là ngành Du lịch rất nên đầu tư khai thác lợi thế sẵn có, làm phong phú thêm sản phẩm du lịch phục vụ du khách, đáp ứng như cầu ngày càng cao của du khách trong và ngoài nước.
Chính vì những lợi thế trên của TP. Hồ Chí Minh nên rất cần có những công trình nghiên cứu đi sâu vào việc làm thế nào để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao khả năng phục vụ, chiến lược quảng bá và thay đổi hình ảnh loại hình du lịch đường sông tại TP.Hồ Chí Minh. Đề tài luận văn “GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐƯỜNG SÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” với mong muốn định hướng và giải pháp để góp phần phát triển tuyến du lịch đường sông của thành phố như một điểm đến không thể thiếu cho du khách trong và ngoài nước khi đến TP. Hồ Chí Minh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất các giải pháp góp phần phát triển loại hình du lịch đường sông nói riêng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch tại TP. Hồ Chí Minh nói chung.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa chọn lọc các lý thuyết liên quan đến phát triển du lịch đường sông.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển sản phẩm du lịch đường sông tại thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
Đối tượng chính của đề tài nghiên cứu là những giải pháp góp phần phát triển du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời gian: Thực trạng phát triển du lịch đường sông trong giai đoạn 5 năm vừa qua; Đề xuất giải pháp cho 5 năm tới.
Về nội dung: Tập trung phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đề ra giải pháp góp phần phát triển du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm đánh giá tình hình phát triển du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua từ đó có những giải pháp thiết thực thông qua các thông tin, số liệu thành hệ thống các biểu bảng, đồ thị thống kê mô tả, phân tích, điều tra xã hội học, so sánh và hỏi ý kiến chuyên gia về tình hình hoạt động du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Những phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giá theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu.
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tác giả tổng hợp được các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài để đánh giá thực trạng về phát triển du lịch đường sông và đưa ra những hàm ý chính sách thiết thực.
5.1 Nước ngoài
Du lịch đường sông đã phát triển lâu đời tại nhiều nơi trên thế và cũng đã thu hút được sự quan tâm của giới học giả với những công trình giá trị như:
Nhóm tác giả Bruce Prideaux và Malcolm Cooper, (2009) “River Tourism” đề cập đến khám phá du lịch đường sông bằng nhiều cách nhìn, bao gồm sử dụng sông, di sản, quản lý, mối quan tâm về môi trường và tiếp thị.
Tác giả Steve Cheseborough (2009), “Cruise Tourism – Current Situation and Trends ” viết về nguồn cung hiện tại và nhu cầu du lịch trên biển, đặc điểm và xu hướng của nó. Một yếu tố mới bao gồm mối quan hệ giữa điểm đến và tuyến tàu, phân tích các yếu tố chính như luật pháp, khuyến mãi và tác động kinh tế của du lịch trên biển thông qua các trường hợp tham chiếu. Công trình nghiên cứu cũng trình bày các xu hướng hiện tại trong ngành về đổi mới, an toàn và an ninh, tính bền vững.
Tác giả Juan Gabriel Brida, (2009), “Cruise Tourism: Economic, Socio Cultural and Environmental Impacts” viết về vai trò và những tác động đến kinh tế, xã hội văn hóa và môi trường của du lịch đường thủy nhưng chưa đề cập sâu đến việc làm thế nào để khai thác hiệu quả du lịch đường thủy cũng như xây dựng sản phẩm hấp dẫn du khách.
Còn nhiều công trình khác của nước ngoài nghiên cứu du lịch đường sông ở nhiều góc độ khác nhau như văn hóa, lịch sử, ẩm thực.
5.2. Trong nước Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
Du lịch đường sông và các phương tiện giao thông đường thuỷ phục vụ du lịch tại Việt Nam được nhiều người quan tâm và đã có bài báo, tạp chí trên mạng và khóa luận đã khai thác vấn đề này. Tuy nhiên, du lịch đường sông tại TP. Hồ Chí Minh còn là một đề tài còn khá mới. Theo tìm hiểu của học viên có Châu Văn Bình (2015), nghiên cứu về “Phát triển sản phẩm du lịch đường sông tại Thành phố Hồ Chí Minh” nhưng vẫn chưa định vị được vị thế của du lịch đường sông, chưa nhận dạng rõ nguyên nhân dẫn đến việc khai thác du lịch đường sông chưa hiệu và chưa định hướng cụ thể. Hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về du lịch đường sông tại TP. Hồ Chí Minh, đây cũng là tính cấp thiết của đề tài.
6. Bố cục luận văn
Kết cấu đề cương theo hướng luận văn giải pháp, ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phục lục, nội dung chính của luận văn có kế cấu 03 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm phát triển du lịch đường sông trong và ngoài ước trình bày các khái niệm và vấn đề lý luận liên quan; kinh nghiệm phát triển du lịch đường sông trong và ngoài nước làm cơ sở cho nghiên cứu loại hình du lịch đường sông TP. Hồ Chí Minh;
Chương 2. Thực trạng hoạt động du lịch đường sông tại TP. Hồ Chí Minh phân tích thế mạnh, thực trạng hoạt động và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch đường sông TP. Hồ Chí Minh;
Chương 3. Một số định hướng và giải giáp phát triển loại hình du lịch đường sông tại TP. Hồ Chí Minh được dựa trên phân tích tổng quan về du lịch đường sông và thực trạng của các hoạt động du lịch đường sông tại TP. Hồ Chí Minh.
Chương 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐƯỜNG SÔNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch đường sông
1.1.1. Khái niệm và phân loại du lịch đường thủy
1.1.1.1. Khái niệm
Theo Trần Văn Thông (2002), định nghĩa “Du lịch đường thủy là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch ven sông và trên bờ, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch gắn với các tuyến giao thông đường thủy”. Theo đó, ta thấy Thành phố Hồ Chí Minh có tiềm lực lớn để phát triển loại hình du lịch đường sông.
Theo Đỗ Quốc Thông (2009), định nghĩa “Du lịch đường thủy là một hình thức tổ chức các chuyến du lịch chủ yếu dựa vào các dòng chảy tự nhiên, các vùng nước kết hợp với các mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, tìm hiểu, khám phá,…”. Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống sông ngòi dày đặc chảy qua các quận trung tâm kết nối nhiều điểm tham quan hấp dẫn như đền, chùa, di tích lịch sử, văn hóa,… là lợi thế để đưa vào hoạt động du lịch.
1.1.1.2. Phân loại du lịch đường thủy
Theo Đỗ Quốc Thông (2009), du lịch đường thủy được chia thành các loại hình như sau:
Du lịch đường biển: Là loại hình du lịch tham quan tìm hiểu có quy mô quốc tế, di chuyển bằng tàu biển sang trọng, đi qua những vùng biển rộng lớn, kết nối các quốc gia, thậm chí kết nối các châu lục. Hiện nay, du lịch tàu biển đón một lượng khách lớn trên phạm vi thế giới. Du lịch biển với các chức năng chính là chữa bệnh và thể thao… nên có thể gọi đây là loại hình du lịch tổng hợp (du lịch nghỉ dưỡng và du lịch thể thao). Ngày nay, nhiều hãng du lịch tàu biển có các loại tàu lớn chứa hàng nghìn khách với chất lượng tương đương khách sạn 5 sao với nhiều loại dịch vụ phong phú có thể đáp ứng nhu cầu cao của du khách, đặc biệt là những người có thu nhập cao. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
Du lịch trên hồ, đầm, phá: Là hình thức tổ chức các chuyến du lịch tham quan, tìm hiểu, giải trí trên các khu vực hồ nước, đầm, phá có cảnh quan thiên nhiên thu hút, có các công trình văn hóa phục vụ du lịch. Du lịch trên hồ, đầm, phá chủ yếu thực hiện bằng phương tiện di chuyển là thuyền, với quy mô nhỏ, di chuyển theo nhóm từ 5-10 người. Du lịch trên hồ, đầm, phá giúp du khách thư giãn, ngắm cảnh tự nhiên của hồ.
Du lịch trên sông, kênh, rạch: Là hình thức tổ chức các chuyến du lịch tham quan, tìm hiểu, giải trí trên các sông, kênh, rạch ngắm cảnh quan hai bờ và trên sông, kênh, rạch…Du lịch trên sông, kênh, rạch chủ yếu thực hiện bằng phương tiện di chuyển là thuyền, tàu. Đây là loại hình du lịch đường thủy khá phổ biến và là đối tượng nghiên cứu của luận văn này, nên sẽ phân tích kỹ ở tiểu mục tiếp theo.
1.1.2. Khái niệm về du lịch đường sông
Tùy theo những mục đích nghiên cứu khác nhau mà có những khái niệm du lịch đường sông khác nhau, sau đây là một số khái niệm cơ bản:
Theo Đỗ Quốc Thông (2009): Du lịch đường sông là là một loại hình du lịch mà trong đó người ta dùng thuyền, cano để di chuyển trên những con sông tự nhiên, sông đào, những con kênh, con rạch nhỏ; thưởng thức những phong cảnh đẹp trên sông, gặp gỡ những người dân sống ở đây, trò chuyện với họ để có thể cảm nhận được cuộc sống của họ; tìm hiểu nền kinh tế xã hội của những quốc gia và những vấn đề về môi trường sinh thái mà hằng ngày vẫn liên quan đến cuộc sống của người dân địa phương.
Theo quan điểm của nhóm tác giả ở trường đại học Nicolaus Copemicus, Viện Nghiên cứu Sinh thái và Địa chất Phần Lan: Du lịch đường sông là một phần của du lịch sinh thái và liên kết với liên khu kinh tế của vùng đó. Du lịch kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái trên các con sông, kênh rạch, điều chỉnh tốc độ dòng chảy, đồng thời phát triển kinh tế dọc bờ sông. Đầu tư phát triển cung cấp những dịch vụ du lịch xuất phát từ đời sống xã hội, thắng cảnh từ văn hóa của địa phương.
Theo tìm hiểu của mình thì hiện tại chưa tìm thấy khái niệm cụ thể nào về “du lịch đường sông” ở Việt Nam, vì vậy dựa trên các khái niệm được đề cập phần trên học viên xin phép được tổng hợp như sau: Du lịch đường sông là hình thức tổ chức các chuyến du lịch ngắn ngày dọc theo dòng chảy của các con sông, kênh, rạch, kết hợp các hoạt động vui chơi giải trí, ăn uống, nghỉ ngơi cùng với việc tìm hiểu đời sống văn hóa của cư dân các địa phương mà tuyến du lịch đường sông đi qua. Trong đó việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái được quan tâm hàng đầu.
Du lịch đường sông là một loại hình du lịch có sức thu hút đặc biệt, tạo cho du khách cảm giác thư thái, hòa mình vào thiên nhiên, tránh xa những ồn ào, khói bụi của cuộc sống thường nhật.
1.1.3. Tuyến du lịch đường sông Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
1.1.3.1. Khái niệm tuyến du lịch đường sông
Tuyến du lịch đường sông là lộ trình liên kết các khu du lịch; điểm du lịch ven sông và trên bờ, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường sông. Cũng như các tuyến du lịch khác, tuyến du lịch đường sông phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố về lực hút của các điểm tham quan, các cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, các dịch vụ du lịch, các yếu tố đảm bảo an toàn giao thông đường thủy. (Đỗ Quốc Thông (2009).
Các tuyến du lịch đường sông thường là những tuyến ngắn ngày, từ 1 đến 2 ngày. Tuy nhiên, cũng có những tuyến dài ngày, kết hợp với việc tham quan các vùng hay các nước lân cận dựa vào những con sông lớn mang tính khu vực, thuyền có sức hấp dẫn khá lớn và đang được ưa chuộng.
1.3.2.2. Các yếu tố hình thành tuyến du lịch đường sông
a) Thành phần tạo lực hút
Lực hút khách du lịch đường sông là cảnh quan ven bờ, cảnh quan trên sông, nguồn nước và thủy văn. Cảnh quan ven bờ bao gồm cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan nhân văn càng đa dạng, phong phú, càng hấp dẫn du khách. Các công trình tôn tạo cảnh quan hai bên bờ sông, công trình kiến trúc đặc sắc, độc đáo; các điểm, khu du lịch sinh thái ven bờ; các làng nghề thủ công truyền thống; vườn cây trái,… chính là những nét thu hút của tuyến du lịch đường sông. Cảnh quan trên sông với những sinh hoạt của cư dân miền sông nước, có những công trình nổi trên sông, những vườn trái cây trên cù lao rất hấp dẫn khách du lịch. Bên cạnh hai yếu tố trên, thì nguồn nước sông và chế độ thủy văn của sông cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc thu hút, hấp dẫn khách. Nguồn nước sông không bị ô nhiễm, không bốc mùi hôi thối, không có rác thải hữu cơ gây tắt nghẽn đường giao thông thủy thuận lợi cho hoạt động du lịch đường sông. Tuyến sông phải đảm bảo cho các loại phương tiện giao thông phục vụ du lịch đường sông có thể hoạt động được, độ sâu của mực nước phải đạt từ 3 m trở lên khi nước ở trạng thái thấp nhất, để loại tàu có bánh lái thấp vẫn có thể hoạt động được, cường độ dòng chảy phải tương đối ổn định, ít có các dòng xoáy nước nguy hiểm, nhật triều ổn định. b)Cơ sở du lịch và phương tiện du lịch đường sông:
Theo Luật Du lịch (2017), cơ sở du lịch và phương tiện du lịch được sông được hiểu như sau:
Cơ sở du lịch: Cơ sở du lịch là một trong những yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch. Với loại hình du lịch đường sông thì các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm: Cơ sở hạ tầng của du lịch đường sông và Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
Cơ sở hạ tầng của du lịch đường sông bao gồm: Hệ thống giao thông vận tải đường sông, hệ thống bến tàu du lịch, hệ thống thông tin liên lạc, công trình điện nước, phương tiện vận chuyển, các điểm, khu du lịch…
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch bao gồm: Hệ thống các cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú; mạng lưới cửa hàng thương nghiệp, các cơ sở thể thao, các cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa, các cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác,… Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
Một số phương tiện du lịch đường sông: Các phương tiện du lịch đường sông phổ biến là du thuyền, tàu nhà hàng, canô, tàu cách ngầm. Du thuyền là phương tiện vận tải hành khách đường thủy nội địa, đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ phục vụ du lịch đường thủy. Tàu nhà hàng là phương tiện vận tải hành khách đường sông nội địa, đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ về hoạt động ăn uống cho du khách trên tàu. Canô là phương tiện vận tải hành khách đường sông nội địa, có kết cấu gọn nhẹ, sức chở từ 2 đến 10 người. Tàu cánh ngầm là dạng tàu có cánh bằng hợp chất hình chiếc lá lắp trên các thanh giằng phía dưới thân. Khi tàu tăng tốc, các cánh ngầm tạo ra lực nâng nâng thân tàu lên khỏi mặt nước giúp làm giảm lực cản và gia tăng tốc độ. c) Dịch vụ du lịch
Các loại hình dịch vụ phục vụ du khách tham gia tuyến du lịch đường sông bao gồm dịch vụ thuê tàu thuyền, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống, nhà hàng nổi, dịch vụ tổ chức các hoạt động theo yêu cầu của khách hàng,…
Dịch vụ cho thuê tàu thuyền: Nhằm tạo cho du khách được chủ động và thoải mái hơn trong thời gian du lịch cũng như để cho du khách có cơ hội được vào vai như những người dân địa phương, dịch vụ cho thuê tàu thuyền có vai trò rất quan trọng. Các tàu thuyền cho thuê cần được thiết kế phù hợp với từng địa phương thể hiện được văn hóa đặt trưng như miền Tây Nam Bộ có xuồng ba lá, khu vực tây Nguyên có thuyền độc mộc, kayak, thuyền Gondola ở Venice – Ý, … Bên cạnh đó, có thể sáng tạo tàu thuyền mang tính hiện tượng nhằm thu hút sự tò mò của du khách như thuyền kayak đáy kính ở Mỹ là ví dụ tiêu biểu.
Dịch vụ vui chơi giải trí: Bên cạnh những khoảnh khắc tĩnh lặng, chiêm ngưỡng thiên nhiên hai bên bờ sông, du lịch đường sông cần phong phú hơn những hoạt động mang tính giải trí như văn nghệ trên thuyền, câu cá, những điểm dừng chân trên tuyến đường sông như mua sắm quà lưu niệm, tham quan vườn cây, nông trại, cánh đồng,….
Dịch vụ ăn uống: Thưởng thức đặc sản trên thuyền sẽ mang lại cảm xúc trọn vẹn, khó quên trong lòng mỗi du khách khi thuyền trôi giữa sông nước mênh mông, gió mát. Đây là dịch vụ không thể thiếu trong mỗi hành trình của khách du lịch. – Dịch vụ tổ chức các hoạt động theo yêu cầu: Bên cạnh các hoạt động tham quan được các đơn vị lữ hành chủ động tổ chức, cần linh động đáp ứng thêm những hoạt động du khách yêu cầu. Thông qua đó, các đơn vị lữ hành có cơ hội làm phong phú hơn sản phẩm cung ứng của chính mình.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch đường sông Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
Tất cả các ngành từ kinh tế đến khoa học, xã hội muốn phát triển đều chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện, hoàn cảnh nhất định và đó cũng là lực đẩy nhiều niềm năng. Ngành Du lịch nói chung và loại hình du lịch đường sông tại Thành phố Hồ
Chí Minh nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên, là một hoạt động đặc trưng, du lịch đường sông chỉ có thể phát triển được trong những điều kiện mà nó cho phép. Trong những điều kiện này có những điều kiện mang đặc tính chung thuộc về các mặt của đời sống xã hội, điều kiện tự nhiên, hệ thống sông ngòi tạo nên nét đa dạng cho du lịch đường sông và đích cuối cùng là thu hút khách du lịch. Tuy có sự phân chia giữa các nhóm nhưng những điều kiện này có mối quan hệ tương hỗ với nhau.
1.2.1 An ninh, chính trị và an toàn xã hội
Đây là điều kiện quyết định cho các hoạt động du lịch đường sông nói riêng và hoạt động du lịch nói chung. Chiến tranh, các cuộc xung đột vũ trang trong từng khu vực, sự bất ổn về chính trị đã hạn chế rất lớn đến việc phát triển du lịch. Điều này được chúng minh rằng, du lịch trên thế giới chỉ phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh thế giới thứ II, đất nước Irắc mặc dù nổi tiếng với vườn treo Bavilion, là trung tâm của nền văn minh Trung Đông, nhưng do chiến tranh và nội chiến nên hoạt động du lịch không thể phát triển. Ở Việt Nam, trong những năm kháng chiến hoạt động du lịch rất hạn chế.
Bất cứ một đất nước hoặc một vùng lãnh thổ hoặc địa phương nào không đảm bảo được điều kiện về an ninh, an toàn cho khách du lịch thì không thể phát triển hoạt động du lịch. Con người đi du lịch với nhiều mục đích trong đó có mục đích được đảm bảo an ninh, an toàn tính mạng, thoải mái về về tinh thần, vì thế những địa điểm du lịch dù có nổi tiếng đến đâu nhưng điều kiện trên không được đảm bảo thì không thể nào thu hút được khách du lịch. Bali – Indonesia nổi tiếng trong khu vực và trên thế giới thu hút rất nhiều khách du lịch từ nhiều nơi trên thế giới nhưng chỉ một sự kiện khủng bố, số lượng khách đã giảm sút nghiêm trọng. Hay Thái Lan, Thổ Nhỉ Kỳ và nhiều quốc gia khác cũng từng chịu ảnh hưởng bởi chính trị bất ổn trong những mốt thời gian nhất định, ảnh hưởng lớn đến ngành Du lịch của những quốc gia này. Trong những năm qua, số lượng khách du lịch nước ngoài đến với Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng tăng lên và nước ta được đánh giá là điểm đến du lịch an toàn và thân thiện của khu vực và thế giới. (Nguyễn Bá Lâm (2007).
1.2.2 Cơ chế, chính sách nhà nước về phát triển du lịch đường sông
Nhận thức vai trò quan trọng của du lịch, nhiều quốc gia trên thế đã có những cơ chế, chính sách kịp thời, phù hợp nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch. Thái Lan là quốc gia điển hình có cơ chế, chính sách nhà nước thuận lợi để ngành Du lịch Thái Lan có được chỗ đứng như hôm nay. Trãi qua suốt thời gian dài, nhà nước có chính sách hỗ trợ giá để các doanh nghiệp kinh doanh du lịch vững vàng kinh doanh.
Theo Tổng cục Du lịch Thái Lan, lượt khách quốc tế đến Thái Lan năm 2016 đạt kỷ lục là 32,59 triệu lượt, doanh thu khoảng 71,4 tỷ USD tăng 11% so với năm 2015, một con số vô cùng ấn tượng khiến nhiều quốc gia khác chỉ có ước ao. Bên cạnh chính sách hỗ trợ giá, Thái Lan còn tăng cường an ninh, cảnh sát du lịch luôn hỗ trợ và bảo vệ an toàn cho du khách. Đến thời điểm hiện tại, có thể nói Thái Lan đã thành công trong chiến lượt phát triển du lịch dù rằng tài nguyên du lịch Thái Lan còn thua xa tài nguyên du lịch Việt Nam. Đối với Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cần xây dựng cơ chế, chính sách và luật pháp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch như chính sách thu hút đầu tư, liên doanh, liên kết hoặc độc quyền khai thác nhằm tạo ra môi trường pháp lý hoạt động du lịch và cả hoạt động du lịch đường sông.
1.2.3 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là điều kiện cơ bản cho sự phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch đường sông nói riêng. Đó là hệ thống bến cảng, tàu thuyền, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí cho việc kết nối tuyến điểm tham quan, các công trình tạo điểm nhấn,… trên lộ trình tham quan. Để thu hút khách du lịch cơ sở vật chất cần hoàn thiện nhằm bảo an toàn cho du khách khi di chuyển trên sông, tạo không gian thái và hấp dẫn trên tuyến điểm đường sông. Hầu hết các nước trên thế giới đều có hệ thống bến cảng rất chỉnh chu cho phát triển du lịch đường sông, các bến cảng đều được xây dựng ngay điểm tham quan rất thuận tiện cho du khách di chuyển như Veice – Ý, Sydney – Úc,…. Điều mà hiện nay đối với Việt Nam, một quốc gia có thế mạnh về tiềm năng du lịch còn là vấn đề nan giải, vẫn loay hoay chưa có lời giải.
1.2.4 Nguồn nhân lực
Du lịch là ngành dịch vụ đặc thù con người đóng vai trò rất quan trọng trong sự hài lòng của du khách. Vì vậy, nhân lực hoạt động trong ngành du lịch đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ và hiểu rõ tâm lý du khách. Đặc việc với khách du lịch đường sông là những người biết thưởng thức nên đội ngũ làm du lịch đường sông đòi hỏi kỹ năng nghề nghiệp cao. Việc đào đạo, nâng cao, bồi dưỡng nguồn nhân lực là việc cần thực hiện song song với quá trình vận hành du lịch đường sông. Hiện nay ở nước ta chủ yếu chỉ có nhân viên của các khách sạn có hệ thống quốc tế mới được ra nước ngoài tham gia các lớp tập huấn, đào tạo định kỳ. Đa số các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam đều không có chính sách đào tạo như thế cho nhân viên của mình mà chủ yếu là người đi trước hướng dẫn lại người đi sau. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho du Việt Nam chỉ thu hút du khách đến một lần rồi thôi. Khác hẳn với chúng ta, những người làm việc trong ngành Du lịch Nhật Bản đều làm rất tốt vai trò của họ luôn chuyên nghiệp, tận tâm và thân thiện. Thiết nghĩ, khi hệ thống du lịch đường sông Thành Phố Hồ Chí Minh hoàn thiện đưa vào hoạt động cùng với đội ngũ nhân sự như nhân sự của Nhật Bản thì chẳng bao lâu du lịch đường sông Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ là điểm đến được nhiều du khách mông muốn.
1.2.5 Tài nguyên du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Để khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch cần đánh giá hiện trạng khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo ngành và theo lãnh thổ, đưa ra những nguyên tắc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển bền vững.
Nhiều quốc gia khác hàng năm phải gánh chịu những trận thiên tai thảm khóc như động đất, bão lũ ở Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc,…ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động du lịch. Việt Nam của chúng ta vốn được thiên nhiên ưu ái ban tặng môi trường tự nhiên thuận lợi, mưa thuận gió hòa, hiếm khi bị gánh chịu những trận thiên tai thương tâm. Đặc biệt, Thành phố hồ Chí Minh có hệ thống sông ngòi dày đặc góp phần cho thành phố xanh mát, nguồn nước dồi dào thuận lợi phát triển xe buýt đường sông và là tiềm năng lớn cho phát triển du lịch đường sông. Với tiềm năng này, nếu được quy hoạch đúng, giữ nguồn nước sạch và đầu tư hợp lí sẽ góp phần giảm tải tình trạng quá tải của giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố như hiện nay cũng như tạo nên sản phẩm du lịch độc đáo của du lịch Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
1.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch đường sông tại một số nước trên thế giới và Việt Nam, bài học vận dụng cho TP. Hồ Chí Minh
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch đường sông một số nước trên thế giới
Du lịch trên sông cung cấp một loạt các trải nghiệm độc đáo, du khách có cơ hội ngắm nhìn cảnh quan đặc biệt, trải nghiệm văn hóa địa phương và thăm một loạt các di sản di sản bao gồm di tích lịch sử, lâu đài, các ngôi làng nhỏ kỳ lạ, tham gia với cộng đồng, mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực địa phương theo một cách rất riêng so với các loại hình du lịch khác. Với ý nghĩa đó, hệ thống sông ngòi khắp nơi trên thế giới đều được chú trọng trong khai thác du lịch.
Sông Mississippi, dài thứ hai ở Mỹ với hơn 3730 km bắt nguồn từ Minnesota đến vịnh Mexico gần New Orleans. Các nhánh chính của nó là sông Missouri, Arkansas và sông Ohio và là nguồn cung cấp nước chính cho 31 trong số 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, hệ thống sông Mississippi vẫn là một hành lang vận chuyển quan trọng trong thương mại. Nhiều khu vực gắn liền với Mississippi nằm trong số những khu vực nghèo nhất ở Mỹ. Để cải thiện mức sống ở địa phương, một số hành lang du lịch và giải trí đã được phân định và kế hoạch trong những năm gần đây để tăng du lịch ven sông dọc theo sông Mississippi như mở sòng bạc trên sông nhưng sẽ không được phép trên bờ hay trong lãnh thổ quốc gia. Ngoài ra, hệ thống sông Mississippi đều thu hút du khách từ khắp nơi trên nước Mỹ và nước ngoài về giải trí dưới nước, câu cá, chèo thuyền tốc độ, chèo thuyền và trượt tuyết. Các dòng sông của Mỹ đều là nguồn tài nguyên văn hoá và tự nhiên cho giải trí và du lịch. Các dòng sông chảy qua một trong số các quốc gia phong cảnh tự nhiên ngoạn mục đồng thời chảy qua một số khu vực văn hoá thú vị nhất mà hình ảnh của sự đa dạng văn hoá và sắc tộc cũng là một bộ phận của ngành công nghiệp du lịch Mỹ. (Bruce Prideaux, 2009)
Sông Mekong mở rộng trên cao nguyên Tây Tạng, và sau đó chảy qua Tỉnh Vân Nam, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam đến biển Đông. Khu vực rộng lớn này được gọi là Tiểu vùng sông Mêkông. Nó đã để lại nhiều di sản thế giới dưới bảo vệ của UNESCO. Tiềm năng du lịch của Tiểu vùng sông Mekông được tăng cường bởi sự đa dạng của các nhóm văn hoá, và môi trường sinh thái phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, phần lớn trong khu vực đang thiếu cơ sở hạ tầng hiện đại và đã phải chịu những bất ổn lớn về chính trị và quân sự trong những thập kỷ gần đây. Ngân hàng Phát triển đang tích cực khuyến khích sự phát triển của họ, với du lịch được xác định là một ngành dẫn đầu.
Đầu năm 2000, Ngân hàng Phát triển bắt đầu triển khai một dự án vay vốn được gọi là Dự án Phát triển Du lịch Mêkông cho hạ lưu sông Mekong ước tính 47 triệu đô la Mỹ trong 5 năm đã được đề xuất cho Dự án Hành lang sông Mê Kông, dự kiến sẽ tập trung vào bốn lĩnh vực ưu tiên, bao gồm: (i) phát triển du lịch bền vững trong các khu du lịch tự nhiên, văn hoá và đô thị; (ii) Các tiểu dự án PPT; (iii) thúc đẩy du lịch xuyên biên giới và hành lang kinh tế và (iv) các tiểu dự án phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, tiên phong là: Phát triển các tuyến đường phụ và đường cấp nước giữa các khu du lịch lớn; Phát triển cơ sở hạ tầng trên sông như phát triển bờ sông, cầu tàu hành khách, đào tạo dòng sông, hàng hải và an toàn; Cấp nước hợp vệ sinh quy mô nhỏ, điện, vệ sinh, chợ, làm đẹp cảnh quan, quản lý chất thải,… ở các thành phố, thị xã, làng xã; Cung cấp các cơ sở biên giới hiệu quả và hiện đại ở các khu vực ngoài sáu khu du lịch ưu tiên; Cơ sở hạ tầng khách du lịch cơ bản bao gồm các khu vực nghỉ ngơi và nhà vệ sinh, biển báo và giải thích, thông tin, cơ sở y tế và an toàn; và nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực, tiếp thị và xây dựng năng lực và thực hiện các hoạt động. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
Du lịch trong Tiểu vùng sông Mêkông ngày càng trở nên đa quốc gia. Trong một cuộc cạnh tranh cao so với thị trường du lịch thế giới, Tiểu vùng sông Mêkông có thể tồn tại và phát triển chỉ khi nó thúc đẩy một kỳ nghỉ du lịch, một số loại hình du lịch. Ngành du lịch cá thể trong Các nước Tiểu vùng sông Mêkông chỉ có thể thành công khi họ liên kết chặt chẽ với các nước khác. Nhưng phát triển du lịch không nhất thiết góp phần xoá đói giảm nghèo hoặc hợp tác giữa các chính phủ láng giềng; thành tựu này và các mục tiêu khác phụ thuộc vào quản lý hiệu quả ở qui mô vùng. Hình thức này vốn đã được các nước Châu Âu áp dụng từ nhiều thập kỷ trước như du thuyền từ Kênh Caledonian ở Scotland đến phía Nam của Pháp, cũng như ở Ý, Đức, Ireland, Anh, Hà Lan, Bỉ và nước Cộng hòa Czech. (Bruce Prideaux, 2009)
Ở Đức, vua Ludwig I của Bavaria đã vì lòng yêu nước của mình đã lên kế hoạch đào kênh nối liền tất cả các bang nhỏ hơn của Đức. Đoạn đầu tiên (dài 173 km) được xây dựng giữa năm 1836 và năm 1845 (Maritimes Lexikon, 2008) và là tiền thân của kênh sông Rhine-Main-Danube. Năm 1992, sông Rhine và sông Danube được kết nối cuối cùng, mang đến cho du khách tuyến xuyên lục địa từ Biển Bắc đến Biển Đen gần Odessa.
Khoảng 100 năm trước đây, mạng lưới đường thủy của Pháp được đánh giá độc đáo hơn 12.000 km chiều dài và đã được quốc tế hoan nghênh như một ví dụ về phát triển kênh rạch hiệu quả. Nhưng sau đó vấp phải sự cạnh tranh từ đường sắt nên nhu cầu sử dụng kênh rạch rơi vào tình trạng đổ vỡ. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, đã có đã được một sự hồi sinh khi có sự quan tâm đến các tuyến đường thủy nhằm phục vụ du lịch với nhiều hoạt động vui chơi giải trí trên sông.
Tại Hà Lan, mạng lưới các kênh thoát nước ban đầu được xây dựng để kiểm soát mực nước và các mục đích quốc phòng, cũng như vận chuyển hàng hoá và di chuyển của con người, nay đã trở thành những điểm nổi tiếng để đi du lịch. Amsterdam, từ một làng đánh cá bùn ở cuối con sông Amstel, giờ phát triển thành một nhân vật riêng biệt thông qua việc lập kế hoạch và phát triển có chủ ý đất dưới mực nước biển. Các kênh khác đã được thêm vào trong khi thành phố đã được phát triển và kênh rạch bây giờ chiếm khoảng một phần tư địa phận thành phố. Theo thời gian mạng lưới kênh rạch rộng khắp của thành phố tăng lên khoảng 100 km chiều dài và được kéo dài bởi hơn 400 cây cầu. Amsterdam bây giờ là đôi khi được gọi là Venice của miền Bắc với một trung tâm lịch sử văn hóa, thu hút khách du lịch. Riêng tại Amsterdam, có khoảng 15.000 nghề thủ công được đăng ký, trong mùa hè, thuyền và du thuyền từ Hà Lan và Đức đến du ngoạn trên các kênh rạch tại Amsterdam như kỳ nghỉ lý tưởng. (Bruce Prideaux, 2009)
Đây thật sự là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng về việc nhìn nhận vai trò của hệ thống kênh rạch, xây dựng các chính sách và chiến lược phát triển du lịch đường sông.
1.3.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch đường sông một số nơi của Việt Nam Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây ngành du lịch đã bắt đầu có những quan tâm đến hệ thống sông ngòi, kênh rạch trong phát triển du lịch.
Ở Đà Nẵng, Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch cùng với các Sở và các đơn vị liên quan đã đẩy mạnh hơn nữa trong việc khác tuyến du lịch đường sông, trước mắt mở thêm 3 tuyến mới: Tuyến du lịch sông Hàn – sông Cổ Cò (tham quan Làng văn hóa K20, chùa Quán Thế Âm, danh thắng Ngũ Hành Sơn, Làng đá Mỹ Nghệ,…), tuyến du lịch sông Cu Đê – Trường Định (tham quan cụm văn hóa Nam Ô như Giếng Cổ, mộ Tiền hiền, miếu thờ bà Bô Bô, Làng nghề nước mắm Nam Ô,…) và tuyến du lịch sông Hàn – Túy Loan (tham quan Làng chiếu Cẩm nê, Làng sinh hoạt cộng đồng, đình làng Túy Loan,…). Bên cạnh đó, thu hút các hoạt động du lịch đường sông hấp dẫn theo tuyến Bảo tàng Chăm – cửa biển; Bảo tàng Chăm – Bán đảo Sơn Trà, Bảo tàng Chăm – K20; đầu tư thêm các bến bãi để các doanh nghiệp cùng vào khai thác; xây dựng tiêu chuẩn cụ thể của các tàu thuyền tham gia hoạt động trên sông; nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc tổ chức các chương trình nghệ thuật trên tàu. Đặc biệt, chú trọng đa dạng các dịch vụ trên thuyền như ăn uống, xây dựng bản thuyết minh du lịch đường sông, đào tạo và nâng cao nghiệp vụ cho các lái tàu, nhân viên phục vụ,…cũng như tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá về du lịch đường sông đến với người dân và du khách mạnh mẽ hơn. (Công Tâm, 2017)
Tại Nha Trang, Du lịch biển đã quá quen thuộc như hòn Mun, Ðầm Bái, Làng Chài, bãi Sỏi…, nên khách du lịch cần một tuyến đường khác, mới mẻ hơn, hay hơn. Tuyến du lịch đường sông được hình thành. Bãi khởi hành của những tuyến du lịch đường sông nằm ở khu vực Hà Thanh và có khi là ở dưới chân núi Tháp Bà – nơi tụ họp của những chiếc ghe chở cát từ nhánh sông Hà Ra, cung cấp cất xây dựng của thành phố. Con thuyền khởi hành bằng một vòng ôm ngược ra biển. Tàu đi vòng nhìn ngắm Tháp Bà, chen vào giữa những con thuyền đang neo đậu. Cuộc hành trình dài thì có thể lên tận khu vực Cổ Thành, ngắn hơn thì sẽ kết thúc tại cầu gỗ Vĩnh Phương. Ước tình đoạn sông dài gần 9 km, điểm đầu tiên là Hải Ấn Tự (còn có tên là Chùa Hang). (Du lịch Nha Trang, 2010)
Bên cạnh đó, Cần Thơ nằm trên bờ phải sông Hậu, ở đồng bằng sông Cửu Long, là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam. Các tour du lịch tại Cần Thơ chủ yếu là du lịch trên sông nước và các vườn cây ăn trái, được ví như “đô thị miền sông nước”. Hệ thống sông ngòi chằng chịt, vườn cây ăn trái bạt ngàn, đồng ruộng mênh mông. Các cù lao như: Tân Lộc, cồn Sơn, cồn Khương, cồn Ấu… bồng bềnh trên sông Hậu hết sức độc đáo để phát triển loại hình du lịch sông nước.
Bến Ninh Kiều là nơi giao thoa giữa sông Hậu và sông Cần Thơ. Sau khi bồng bềnh trên sông uốn khúc, xuồng ghe tấp nập, du khách tham quan Chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phong Điền – chợ mua bán trên sông một nét sinh hoạt đặc trưng văn hóa Nam bộ. Tờ mờ sáng, hàng trăm ghe hợp lại thành chợ trên một khúc sông. (Nguyễn Trọng Nhân và Đào Ngọc Cảnh, 2011)
Để hỗ trợ doanh nghiệp du lịch xây dựng sản phẩm mới, Sở Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch Cần Thơ đã tổ chức giới thiệu và khảo sát tour du lịch đường sông, tuyến Cái Răng – Bình Thủy – Phong Điền cho các công ty lữ hành trên địa bàn thành phố. Đồng thời, Sở sẽ đề nghị Tổng cục Du lịch hỗ trợ địa phương triển khai Đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù Đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Cần Thơ, nhằm tạo nên sự phong phú, mới lạ, hấp dẫn cho du lịch khu vực này thời gian tới. (Hoàng Diễm, 2015) Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
1.3.3. Bài học vận dụng cho Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh nơi hội tụ đủ các tài nguyên để phát triển loại hình du lịch đường sông. Tuy nhiên, loại hình du lịch này chỉ mới được Sở Du lịch Thành phố và các đơn vị kinh doanh lữ hành quan tâm từ năm 2013. Saigontourist là đơn vị tiên phong khai thác tuyến du lịch đường sông nhưng quả thật đến nay những gì đạt được còn rất hạn chế. Nhìn hoạt động du lịch đường sông tại một số nơi trên thế giới và trong nước, du lịch đường sông Thành phố Hồ Chí Minh có thể kế thừa, vận dụng để việc khai thác loại hình này hiệu quả hơn.
Thứ nhất, cần có quy hoạch tổng thể hệ thống đường sông, nạo vét và có biện pháp giữ gìn nguồn nước sạch. Xây dựng bến cảng phù hợp, đầu tư thuyền tàu đồng bộ, an toàn tạo hình ảnh đặc trưng cho loại phương tiện di chuyển trên sông như nét đặc trưng của thuyền gondola của Venice.
Thứ hai, có chính sách thu hút đầu tư phù hợp, xây dựng nhiều điểm tham quan, vui chơi, giải trí, tạo ra nhiều hoạt động trên tuyến du lịch đường sông. Sáng tạo các sự kiện định kỳ của thành phố nhằm thu hút du khách.
Thứ ba, cần hoàn chỉnh luật pháp về du lịch nhằm hỗ trợ người kinh doanh du lịch. Đặc biệt là có qui định bản quyền trí tuệ về sản phẩm, các đơn vị kinh doanh lữ hành được khai thác độc quyền loại hình du lịch đường sông trong thời hạn nhất định thông qua đấu thầu và chứng minh năng lực. Làm được điều này sẽ hạn chế vấn nạn sao chép sản phẩm du lịch của hàng ngàn công ty du lịch hiện nay tại Thành phố Hồ Minh làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và đặc biệt là lợi nhuận. Thực trạng hiện nay các đơn vị lữ hành cạnh tranh nhau, ra sức giảm giá để rồi tự họ dìm nhau đi xuống và cho ra những sản phẩm du lịch kém chất lượng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến doanh thu, lợi nhuận từ ngành du lịch thành phố còn rất hạn chế và quan trọng hơn nữa là rất nhiều khách du lịch nước ngoài không có tư tưởng quay lại Việt Nam lần thứ hai.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
Từ những khái niệm về du lịch đường sông với những thành tố liên quan, Chương 1 luận văn đã thể hiện những mối quan hệ trực tiếp giữa du lịch và sông nước.
Thứ nhất, hệ thống sông nước cung cấp nhiều điểm tham quan hấp dẫn cho du khách. Ở một số nơi trên thế giới, hình thái vật lý được tạo ra bởi các hệ thống sông ngòi, tạo ra cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới.
Thứ hai là các con sông như các hành lang vận chuyển. Các con sông có thể đi lại là một tài sản có giá trị cho bất kỳ khu vực hoặc quốc gia nào, nơi mà các dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng hơn việc khai thác và sản xuất tài nguyên nguyên sinh, ở hầu hết các nước phát triển, các con sông đang chiếm một phần trong thương mại và thương mại – tham quan du lịch.
Thứ ba, sông ngòi là nguồn tài nguyên quan trọng cho các điểm du lịch theo ba cách: cung cấp nước uống và nước sinh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các môi trường hướng về du lịch mạnh mẽ như sân vườn và sân gôn và điền vào bể bơi. Đây là những cân nhắc đặc biệt quan trọng ở các vùng khô cằn (ví dụ: Las Vegas và vùng đô thị Phoenix/Scottsdale), nơi mà người dân địa phương thường phải hy sinh việc sử dụng nước của mình để có lợi ích lớn hơn cho du lịch.
Tóm lại, các hệ thống sông ngòi là các hệ sinh thái phức tạp, chịu ảnh hưởng đáng kể bởi nhiều hoạt động của con người, bao gồm du lịch và giải trí. Việc tiếp tục khai thác du lịch trên các con sông trên thế giới phải được giám sát và quản lý tốt để có thể bảo tồn sự giàu có tự nhiên và văn hoá của các hệ sinh thái độc đáo này cho thế hệ hiện tại và tương lai. Chương một tạo khung khái niệm và định hình cho những nhận thức về du lịch đường sông để những chương sau có thể triển khai và đánh giá chính xác thực trạng nhằm đề ra những giải pháp đúng yêu cầu cấp thiết hiện nay cho phát triển du lịch đường sông Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch đường sông ở Hồ Chí Minh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải giáp phát triển du lịch đường sông tại Hồ Chí Minh