Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Căn cứ đề xuất các giải pháp
Để có thể đưa ra những giải pháp có tính hiệu quả nhằm phát triển hoạt động du lịch sáng tạo tại Việt Nam, tác giả đã căn cứ vào một số vấn đề cụ thể như sau:
Thứ nhất, xu hướng phát triển du lịch trên thế giới. Từ năm 2011 đến nay tình hình du lịch thế giới mặc dù có những lúc trầm lắng nhưng cũng đã có bước lạc quan hơn. Ngành du lịch thế giới bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc và là ngành có tốc độ phục hồi nhanh nhất so với các ngành kinh tế khác. Bởi vì tham quan, thưởng thức phong cảnh, nghỉ ngơi thư giãn, tĩnh dưỡng, học hỏi, trải nghiệm… hiện là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người, cho dù thu nhập cá nhân có bị giảm sút. Năm 2012, khách du lịch quốc tế toàn cầu đạt trên 1 tỷ lượt, với tốc độ tăng trưởng 3%-4%. Năm 2011, nguồn thu từ du lịch quốc tế, bao gồm cả vận chuyển hành khách quốc tế, xuất khẩu từ du lịch đạt 1,03 nghìn tỷ USD, bằng gần 6% xuất khẩu của thế giới của hàng hóa và dịch vụ.
Để có được tốc độ phục hồi nhanh như vậy, ngành du lịch các nước đã tích cực đẩy mạnh chiến dịch giới thiệu và đưa ra nhiều gói du lịch rất hấp dẫn, cạnh tranh và đặc biệt là đưa ra nhiều hình thức, sản phẩm du lịch mang tính sáng tạo và độc đáo. Tuy vậy, tình hình du lịch thế giới hiện nay vẫn chưa thể hồi phục hoàn toàn, trong bối cảnh du lịch thế giới như vậy thì điểm rất đáng lưu ý là các nước đang trỗi dậy và đang phát triển vừa là điểm đến mới, vừa là nguồn cung to lớn những sản phẩm du lịch sáng tạo và độc đáo mới cho ngành du lịch thế giới. Tiếp đó khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ cũng tạo ra nhiều sản phẩm du lịch mới thu hút du khách. Ngoài ra, các sự kiện thể thao lớn của khu vực và thế giới cũng như các hoạt động văn hóa đều là điểm đến hấp dẫn du khách thế giới. Những hoạt động này đang ngày càng phát triển. Vì vậy, ngành du lịch 10 năm tới có tương lai phát triển rất sáng sủa. Bên cạnh đó, nhiều nước đang đẩy mạnh hợp tác du lịch, tạo ra những “tour du lịch trọn gói xuyên quốc gia”, mở ra cơ hội cho ngành du lịch toàn cầu phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, các nước có rất nhiều sáng kiến để giới thiệu, tuyên truyền và cho ra đời các sản phẩm du lịch mới sáng tạo thích hợp với tất cả các loại du khách, bất kể họ giàu hay nghèo, chi tiêu nhiều hay ít. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Mặc dù thế giới đang có nhiều biến đổi bất ổn như: Suy thoái về môi trường sinh thái, hiện tượng hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất thay đổi bất lợi cho con người, nguồn nước sạch bị ô nhiễm, tệ nạn phá rừng, sự mất cân bằng về tài nguyên và dân số, tình trạng chạy đua vũ trang, khai thác tài nguyên bừa bãi… nhưng xu thế phát triển của du lịch thế giới vẫn có những tiềm năng sáng sủa và nhiều hy vọng. Tổng thư ký Tổ chức Du lịch Thế giới, ngài Taleb Rifai cho rằng, du lịch sẽ là động lực, là ngành đi đầu trong phát triển và sáng tạo năng lượng mới bền vững. Các khoản đầu tư đang được đổ vào để tái tạo nguồn năng lượng hàng không hoặc các giải pháp năng lượng công nghệ đã được dùng trong các khách sạn trên toàn thế giới, khẳng định năng lượng bền vững là lĩnh vực ưu tiên đối với ngành này.
Thứ hai, chủ trương phát triển du lịch của đất nước thì trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam vẫn khẳng định quan điểm:
- Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
- Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh.
- Phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế; chú trọng du lịch quốc tế đến; tăng cường quản lý du lịch ra nước ngoài.
- Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.
- Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia về yếu tố tự nhiên và văn hóa dân tộc, thế mạnh đặc trưng các vùng, miền trong cả nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch.
Và đặt ra mục tiêu đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển.
Để đạt được mục tiêu này thì chiến lược cũng đưa ra những giải pháp cơ bản, trong đó giải pháp quan trọng nhất là về phát triển sản phẩm du lịch với hệ thống sản phẩm du lịch chất lượng, đặc sắc, đa dạng và đồng bộ, có giá trị gia tăng cao, đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nội địa và quốc tế; phát triển sản phẩm du lịch “xanh”, tôn trọng yếu tố tự nhiên và văn hóa địa phương. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Quy hoạch, đầu tư phát triển sản phẩm du lịch dựa trên thế mạnh nổi trội và hấp dẫn về tài nguyên du lịch; tập trung ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo, du lịch văn hóa và du lịch sinh thái; từng bước hình thành hệ thống khu, tuyến, điểm du lịch quốc gia; khu tuyến, điểm du lịch địa phương và đô thị du lịch. Phát huy thế mạnh và tăng cường liên kết giữa các vùng, miền, địa phương hướng tới hình thành sản phẩm du lịch đặc trưng theo các vùng du lịch.
Tiếp đó là phát triển hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch và phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và thương hiệu du lịch. Đẩy mạnh đầu tư và xây dựng chính sách hợp lý để phát triển du lịch, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế về du lịch và quản lý nhà nước về du lịch.
Thứ ba, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đã được tác giả điều tra của khách du lịch đã đến một số địa điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam cho thầy xu hướng sử dụng các sản phẩm du lịch và dịch vụ sáng tạo ngày càng được ưa chuộng và có nhu cầu tham gia nếu trở lại Việt Nam.
Căn cứ vào các lý do trên, tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể:
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
3.2. Các giải pháp phát triển du lịch sáng tạo tại Việt Nam
3.2.1. Nghiên cứu x y dựng sản phẩm du lịch sáng tạo
Sự phát triển của Du lịch Việt Nam nói chung và du lịch sáng tạo trong những năm qua đã cho thấy vai trò quan trọng trong việc xây dựng sản phẩm du lịch là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển du lịch, nhất là đối với du lịch sáng tạo đang trong quá trình phát triển. Do đó, mỗi địa phương cần căn cứ vào tiềm năng, điều kiện cụ thể của mình để tạo ra những sản phẩm du lịch sáng tạo đặc trưng phục vụ nhu cầu ngày càng thay đổi của du khách.
Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ mang tính tổng hợp cao nhằm phục vụ và làm thỏa mãn các nhu cầu của con người, do vậy, trong quá trình phát triển của mình ngày du lịch càng cần tạo ra các sản phẩm du lịch mang tính sáng tạo phục vụ du khách. Theo Luật Du lịch, “sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”(1). Trong quá trình đi du lịch, du khách sẽ tiêu dùng các sản phẩm du lịch đa dạng đó. Không chỉ thỏa mãn những nhu cầu sinh học, du khách còn mong muốn được thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, sáng tạo, trải nghiệm ngày càng cao. Những nhu cầu này phụ thuộc nhiều vào các yếu tố quốc gia, dân tộc, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, vị trí xã hội, sức khỏe, khả năng tài chính và các yếu tố tâm sinh lý khác… Do vậy, để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của du khách, nhất là nhu cầu về du lịch sáng tạo ngày càng cao thì việc nghiên cứu các sản phẩm du lịch ngày càng đặt ra một cách bức thiết. Trên thực tế, hoạt động du lịch sáng tạo là mang đến cho khách du lịch những trải nghiệm, sáng tạo thực sự trong quá trình tham gia vào các sản phẩm du lịch, hơn nữa sản phẩm du lịch sáng tạo còn chứa đựng các giá trị nhân văn đặc sắc mang sắc thái bản địa, của từng điểm đến khác nhau. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Sản phẩm du lịch nói chung và sản phẩm du lịch sáng tạo nói riêng trước hết là một loại hàng hóa nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt. Nó cũng như các loại sản phẩm khác nên cần có quá trình nghiên cứu, đầu tư, có người sản xuất, có người tiêu dùng… như mọi hàng hóa khác. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch sáng tạo thường mang tính sáng tạo, trải nghiệm, thỏa mãn nhu cầu sáng tạo và trải nghiệm của các đối tượng du khách. Đó có thể là một chương trình du lịch với thời gian và địa điểm khác nhau và sẽ mang lại những trải nghiệm khác nhau. Sản phẩm du lịch sáng tạo thể hiện trong các tour du lịch sáng tạo này chính là việc khai thác các tiềm năng, nguồn lực sẵn có trên một địa bàn hoặc được sáng tạo ra khi biết kết hợp những tiềm năng, nguồn lực này theo những thể thức riêng của từng cá nhân hay một công ty nào đó. Đó chính là việc khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các địa phương vào hoạt động du lịch như việc đưa các loại hình nghệ thuật, dân ca, dân vũ, văn hóa ẩm thực hay các hình thức hoạt động thể thao, các hoạt động lễ hội truyền thống, trình diễn, diễn xướng dân gian… vào phục vụ du khách. Những hoạt động như vậy giúp cho du khách trực tiếp thẩm nhận và hưởng thụ, trải nghiệm văn hóa mà họ vốn có nhu cầu nhưng không biết tiếp cận như thế nào, ở đâu, thời gian nào…? Sản phẩm du lịch sáng tạo còn là những dịch vụ học tập, chăm sóc sức khỏe, nghiên cứu … tiện lợi, đem lại nhiều lợi ích to lớn cho du khách.
Sản phẩm du lịch sáng tạo thường được cụ thể hóa bằng các sản phẩm du lịch mà khách du lịch có thể tham gia vào quá trình tạo ra các sản phẩm vật chất cụ thể như chế tạo một món đồ gốm theo ý tưởng của khách du lịch hay tham gia vào các công đoạn của quá trình chế tác đồ thủ công, hoặc học nấu món ăn nào đó mang tính đặc trưng của từng vùng miền của điểm đến. Dù sản phẩm du lịch sáng tạo được biểu hiện bằng hình thức nào đi nữa thì, giá trị của tất cả các sản phẩm du lịch sáng tạo khác nhau được đánh giá bằng số lượng khách đến và đi du lịch trên một địa bàn cụ thể. Chất lượng sản phẩm du lịch sáng tạo sẽ làm tăng hay giảm lượng khách trên địa bàn đó. Giá trị của sản phẩm du lịch nói chung, trong đó có du lịch sáng tạo được “đo” bằng mức chi tiêu của du khách trong một chuyến du lịch và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, tổng các nguồn thu cho ngân sách địa phương từ hoạt động du lịch và thu nhập của cư dân bản địa tham gia kinh doanh các dịch vụ phục vụ du khách. Giá trị của các sản phẩm du lịch sáng tạo cũng được thể hiện qua những ảnh hưởng, tác động của hệ thống sản phẩm du lịch đến sự phát triển kinh tế – xã hội của một địa phương, đất nước. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển hoạt động du lịch sáng tạo, đòi hỏi phải nhanh chóng tạo ra các sản phẩm du lịch mới độc đáo, sáng tạo mang bản sắc riêng của từng địa phương, của doanh nghiệp trên cơ sở khai thác tiềm năng du lịch, văn hóa của đất nước mà xây dựng cho mình sản phẩm sáng tạo riêng có. Để xây dựng được chiến lược sản phẩm cũng như tạo ra các sản phẩm sáng tạo đặc thù thì ngành du lịch nói chung, các địa phương, các doanh nghiệp nói riêng cần tiến hành điều tra, đánh giá về hiện trạng sản phẩm du lịch sáng tạo hiện đang được cung cấp trên thị trường (số luợng, chất lượng, khả năng đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của du khách) và những tiềm năng tạo sản phẩm du lịch còn chưa được khai thác… để từ đó có kế hoạch xây dựng sản phẩm có tính sáng tạo, có tính đặc thù, có chất lượng cao và đáp ứng được yêu cầu của nhiều loại thị trường, nhiều loại khách khác nhau.
Thế mạnh của du lịch Việt Nam nói chung là du lịch văn hoá và sinh thái, du lịch biển đặc biệt là du lịch văn hoá tâm linh, lịch sử. Do vậy, cần coi văn hoá là cội rễ là động lực để phát triển du lịch sáng tạo và đẩy mạnh công tác nghiên cứu các giá trị văn hoá để tạo nên các sản phẩm du lịch sáng tạo của Việt Nam. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Trên cơ sở định hướng sản phẩm du lịch sáng tạo của đất nước, của từng địa phương, các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn cũng cần có những định hướng cho hệ thống sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho các loại thị trường khác nhau và cho các đối tượng khách hàng khác nhau.
Bên cạnh việc đa dạng hoá các sản phẩm du lịch sáng tạo và xây dựng những sản phẩm mang tính đặc thù thì việc ở rộng và phát triển thị trường cho các sản phẩm du lịch này là vấn đề hết sức cần thiết. Thị trường là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với mọi loại hình kinh doanh và đối với mọi doanh nghiệp. Để mở rộng và phát triển thị trường sản phẩm du lịch sáng tạo này đòi hỏi phải có chính sách đơn giản hoá các thủ tục xuất nhập cảnh cho các đối tượng là khách du lịch nước ngoài, tăng cường đầu tư chiều sâu đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch sáng tạo. Đẩy mạnh công tác liên doanh liên kết và tuyên truyền quảng bá, tiếp thị du lịch, phát triển sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ, văn hóa truyền thống để làm tài nguyên cho sự phát triển sản phẩm du lịch sáng tạo.
Trong thời gian tới, để phát triển thị trường cho các sản phẩm du lịch sáng tạo của nước ta nói chung cần có những chiến lược cụ thể:
Chiến lược tiếp thị, sản phẩm du lịch: để thực hiện chiến lược này, ngành du lịch, các doanh nghiệp du lịch cần nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch sáng tạo rất đa dạng, … đặc biệt phải nghiên cứu và xây dựng được một số các sản phẩm mang tính đặc trưng cao của du lịch Việt Nam. Bên cạnh đó, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế như hiện nay thì để phát triển thị trường không thể chỉ dựa vào các sản phẩm mà còn phải áp dụng chiến lược tiếp thị (Nhiều sản phẩm cho nhiều thị trường hoặc lựa chọn sản phẩm riêng biệt cho thị trường đặc biệt thích hợp) để khách hàng biết đến sự đa dang sản phẩm của ngành du lịch nước ta.
Ở mỗi một địa phương trong cả nước ta, đều có những thế mạnh du lịch nhất định do vậy, cần có sự đầu tư thích đáng cho từng địa phương khai thác thế mạnh của mình để xây dựng những sản phẩm du lịch sáng tạo đặc trưng. Nếu ở khu vực miền Trung có những ưu điểm về du lịch biển, khai thác được các yếu tố bất ngờ về thời tiết thì có thể xây dựng những sản phẩm sáng tạo liên quan. Còn khu vực miền Bắc có thế mạnh về văn hóa với những làng nghề truyền thống, với những đặc trưng văn minh lúa nước thì có thể phát triển các sản phẩm du lịch sáng tạo mang tính văn hóa. ..
- Chiến lược phân đoạn thị trường bao gồm:
Định hướng thị trường khách quốc tế, căn cứ vào cơ cấu khách du lịch đến Việt Nam cũng như hiện trạng khách du lịch tham gia các sản phẩm du lịch sáng tạo trong thời gian qua, cũng như thông qua những khảo sát những đối tượng thị trường khách sau cần được ưu tiên đầu tư cần được khai thác và thu hút: thị trường khách Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, thị trường Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Tây Á.
Chiến lược cạnh tranh thị trường: có khả năng có thể áp dụng là chiến lược giá rẻ hoặc chiến lược sản phẩm độc đáo và chiến lược thị trường đặc biệt thích hợp. Do Việt Nam hiện chưa có nhiều sản phẩm sáng tạo gì đặc biệt nổi trội và độc đáo riêng, lại đang cần thâm nhập thị trường khách quốc tế và nội địa nên để cạnh tranh hiệu quả thì ngành du lịch nói chung và các doanh nghiệp du lịch nói riêng nên áp dụng chiến lược giá rẻ, được coi là một lợi thế của du lịch sáng tạo.
3.2.2. Xây dựng mô hình du lịch khác nhau để phát triển du lịch sáng tạo Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Các hoạt động du lịch sáng tạo không phải là các hoạt động du lịch bị bó buộc trong một loại hình du lịch cụ thể nào mà ở từng loại hình du lịch khác nhau đều có thể sáng tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo. Do vậy, để phát triển du lịch sáng tạo cần xây dựng đa dạng mô hình du lịch khác nhau, trên cơ sở các mô hình này sáng tạo ra những sản phẩm du lịch nhằm khai thác được lợi thế của từng loại hình du lịch khác nhau.
Ví dụ, để phát triển các sản phẩm du lịch sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa thì chúng ta có thể xây dựng mô hình và làng du lịch văn hóa. Tại đây, có thể xây dựng những sản phẩm du lịch sáng tạo liên quan đến những giá trị văn hóa truyền thống của làng này. Bởi đây sẽ là một điểm du lịch có tài nguyên du lịch văn hóa và có tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch văn hóa để phục vụ du khách. Do đó, để xây dựng thành công mô hình này cần phải tiến hành khảo sát các tài nguyên nguồn lực du lịch văn hoá (các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể có giá trị độc đáo, hấp dẫn), tổ chức các hoạt động phục vụ du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu xem, tham gia trải nhiệm các hoạt động cụ thể, nghỉ ngơi, ăn uống sinh hoạt của du khách…
Để xây dựng được mô hình làng văn hóa này thì các điểm đến phải đảm bảo các yếu tố
Một là, làng du lịch văn hoá phải có các cảnh quan môi trường sạch đẹp, có sắc thái tộc người:
Cảnh quan thiên nhiên đẹp: Có rừng cây, suối, thác, núi, hang động… đồng thời phải mang bản sắc đặc trưng văn hoá từng tộc người, từng vùng. Làng của người Hmông có đặc trưng khác với làng người Tày, người Giáy. Đặc trưng này phản ánh cả ở cấu trúc không gian vật chất của làng gồm: đường làng, không gian ở, không gian sản xuất (nương rẫy, ruộng bậc thang, cánh đồng…). Thậm chí ngay cả các cây trồng ở làng cũng trở thành những đặc điểm để phân biệt làng người Hmông với làng người Giáy.
Môi trường cư trú của dân làng phải đảm bảo yếu tố sạch, hợp vệ sinh (có nguồn nước sạch, chuồng trại gia súc làm xa nhà, nhà nghỉ phải có công trình vệ sinh, đường làng sạch sẽ…). Đồng thời môi trường đó cũng an toàn , không có các sự cố như lũ quét, cháy rừng, nhiễm xạ…
Hai là, phải có các di sản văn hoá phong phú và mang tính độc đáo, hấp dẫn đối với du khách.
Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị văn hoá khoa học lịch sử như các di vật về nghề thủ công, trang phục truyền thống, sản phẩm thủ công mỹ nghệ…
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, các bài hát, dân ca…… Di sản văn hoá phi vật thể ở các làng du lịch văn hoá như văn nghệ dân gian, các tri thức về bí quyết ẩm thực, chữa bệnh…
Các di sản này càng hấp dẫn với du khách hơn khi nó khác lạ với các làng du lịch văn hoá xung quanh, có sắc thái riêng. Càng lạ, càng độc đáo sẽ càng thu hút du khách. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Ba là, các nguồn lực tài nguyên du lịch văn hoá nhằm phục vụ các hoạt động du lịch:
Khai thác các tài nguyên, nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu xem, giải trí của du khách như tổ chức tham quan cảnh đẹp thiên nhiên, tổ chức lễ hội, sinh hoạt văn hoá, giới thiệu trình diễn văn nghệ dân gian…
Khai thác các nguồn lực, tài nguyên du lịch văn hoá đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống. Xây dựng các nhà nghỉ, phòng nghỉ mang phong cách dân tộc, tổ chức các cửa hàng ăn uống, nấu ăn, phòng ăn…
Tổ chức các dịch vụ phục vụ du lịch khác như dẫn đường leo núi, xây dựng quầy bán hàng lưu niệm gắn với nghề thủ công truyền thống…
Bốn là, đảm bảo đi lại cho du khách thuận lợi (có lối đi sạch sẽ thuận tiện, có đường leo núi phù hợp với môi trường tự nhiên). Đặc biệt, làng du lịch văn hoá phải nằm trong tuyến du lịch, có thị trường du lịch. Yếu tố này rất quan trọng, vì một làng dù giàu tài nguyên du lịch văn hoá đến mấy nhưng không nằm liền kề thị trường du lịch cũng rất khó thu hút du khách. Du khách không thể đi hàng trăm cây số đường vùng cao khó khăn chỉ để đến thăm một làng.
Như vậy, trong thực tế làng du lịch văn hoá được quyết định bởi ba nhóm nhân tố khác nhau:
- Nhóm nhân tố thứ nhất là các nhân tố liên quan đến sức hấp dẫn của làng du lịch văn hoá. Nhóm này bao gồm các vị trí địa lý (gần trung tâm du lịch, nằm trên tuyến du lịch), tài nguyên du lịch văn hoá (sự độc đáo và phong phú của nguồn tài nguyên).
- Nhóm nhân tố thứ hai là những nhân tố liên quan đến việc bảo đảm du khách lưu lại ở làng du lịch văn hoá. Đó là các cơ sở phục vụ việc nghỉ ngơi (cơ sở lưu trú như phòng ngủ, nhà nghỉ…), các cơ sở phục vụ ăn uống, phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí (xem văn nghệ, lễ hội…), mua sắm hàng thủ công lưu niệm…
- Nhóm nhân tố thứ ba gồm những nhân tố đảm bảo giao thông cho khách đến điểm du lịch (bao gồm những điều kiện đã có và khả năng mở các tuyến đường mới thuận tiện…).
Nhóm nhân tố thứ nhất là tạo ra vẻ hấp dẫn của làng du lịch văn hoá. Nhưng nhóm nhân tố thứ hai, thứ ba lại có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành làng du lịch văn hoá. Nhân tố thứ nhất đóng vai trò tiềm năng, còn nhóm nhân tố thứ hai, thứ ba mới biến “tiền năng” thành khả năng hiện thực. Vì vậy đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (hệ thống đường giao thông, thông tin liên lạc) và xây dựng cơ sở lưu trú, khai thác các nguồn lực văn hoá phục vụ du lịch vẫn là vấn đề cấp thiết nhằm xây dựng làng du lịch văn hoá. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Bên cạnh mô hình làng nghề văn hóa thì việc xây dựng mô hình làng nghề phát triển các sản phẩm du lịch sáng tạo theo hướng thông qua các làng nghề, tiếp cận với các sản phẩm thủ công tại các vùng, địa phương là mô hình thích hợp hiện nay và về lâu dài ở nước ta, bởi các yếu tố đáng chú ý dưới đây:
Thứ nhất, làng nghề là một nguồn tài nguyên rất quan trọng của du lịch Việt Nam nói chung và du lịch sáng tạo nói riêng
Hệ thống làng nghề là một nguồn tài nguyên du lịch sáng tạo quan trọng của nước ta. Tiềm năng du lịch làng nghề Việt Nam hiện nay rất lớn, đặc biệt mỗi làng nghề gắn với một vùng văn hóa, hệ thống di tích và truyền thống riêng.
Thứ hai, du lịch làng nghề nói chung mang lại hiệu quả kinh tế cao. Theo số liệu đã được thống kê, doanh thu tại chỗ của các làng nghề hàng năm từ 0,9 tỷ USD (năm 2005) đến nay đã vượt hơn 1 tỷ USD. Điều quan trọng và lợi ích thiết thực của du lịch làng nghề ở chỗ tổ chức xuất khẩu vừa ít tốn kém, mang lại lợi nhuận đáng kể: sản phẩm làng nghề bán trực tiếp cho khách tham quan tại nơi sản xuất hoặc vùng lân cận, không qua các thủ tục hải quan rườm rà, không phải vận chuyển xa tốn kém.
Thứ ba, du lịch làng nghề là xu thế phát triển thế giới, không chỉ ở Việt Nam. Du lịch làng nghề hiện là xu thế phát triển không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới. Nhu cầu phát triển cùng với mối quan tâm chung của các quốc gia chính không chỉ kinh doanh mà còn hướng đến bảo tồn các làng nghề truyền thống. Mỗi quốc gia, tùy theo hoàn cảnh, điều kiện riêng mà có những phương pháp, kế hoạch phát triển du lịch sáng tạo làng nghề khác nhau.
Với những điểm mạnh như trên thì mô hình phát triển du lịch sáng tạo gắn với phát triển làng nghề sẽ mang lại nhiều hiệu quả. Tuy nhiên để xây dựng thành công mô hình này cần thống nhất quản lý và rõ ràng cơ chế, chính sách. Hiện nay tình trạng quản lý khai thác làng nghề trong hoạt động du lịch nói chung và du lịch sáng tạo nói riêng có nhiều cơ quan quản lý dẫn đến tình trạng chồng chéo. Có một cách làm hay mà nhiều nước áp dụng thành công cho du lịch làng nghề, đó chính là đưa sản phẩm sáng tạo của làng nghề vào các điểm tham quan du lịch.
Việc xây dựng các tour du lịch sáng tạo gắn với làng nghề là một trong những giải pháp quan trọng và không chỉ thúc đẩy ngành du lịch phát triển mà còn thúc đẩy các loại hình kinh tế khác của các địa phương phát triển đúng hướng và bền vững. Để làm được điều này cần có thêm yêu cầu tự vận động từ phía các làng nghề và sự nỗ lực hợp tác của các ngành các cấp.
Bên cạnh đó, cần tích cực quảng bá và luôn chú trọng tìm kiếm, khai thác những địa điểm, sản phẩm mới, sáng tạo và cần có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau, nhất là trong khâu xúc tiến, quảng bá để thu hút du khách.
3.2.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và xúc tiến quảng bá du lịch sáng tạo Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Xúc tiến, quảng bá du lịch nói chung và du lịch sáng tạo nói riêng là một khâu quan trọng hàng đầu trong việc thu hút khách hàng, đặc biệt là khách hàng quốc tế. Mục đích của xúc tiến là tăng cường quảng cáo trong du lịch sáng tạo là nhằm giới thiệu, hình thành, định hướng các sản phẩm du lịch sáng tạo của đất nước, của từng doanh nghiệp đối với du khách quốc tế.
Việc xúc tiến, tuyên truyền quảng cáo sẽ chiếm một phần chi phí khá lớn không chỉ của các doanh nghiệp du lịch mà còn của ngân sách nhà nước nhưng lại rất cần thiết và thường mang lại hiệu quả rất lớn. Trên thực tế tổ chức du lịch thế giới chẳng những quan tâm đến số thu nhập ngoại tệ do du lịch mang lại, sự tiến bộ của giao thông- vận chuyển, thông tin liên lạc … mà còn theo dõi sát ngân sách chi cho xúc tiến của các thành viên, khuyến khích các nước, các doanh nghiệp du lịch đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch. Đây được coi là một biện pháp hữu hiệu để tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch của ngành du lịch nói chung và của du lịch sáng tạo nói riêng.
Để công tác tuyên truyền và quảng bá xúc tiến du lịch có hiệu quả, trong bối cảnh hiện nay các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cũng như các doanh nghiệp kinh doanh du lịch sáng tạo cần chú trọng thực hiện một số biện pháp cụ thể sau:
Quảng bá xúc tiến du lịch sáng tạo của Việt Nam nhằm cung cấp thông tin về các chương trình du lịch sáng tạo, các cụm, khu, điểm, tuyến du lịch sáng tạo hiện có của các địa phương tới du khách một cách thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi. Muốn vậy, phải tìm hiểu và nghiên cứu kỹ nhu cầu thị trường bên ngoài, các thị hiếu về sản phẩm du lịch sáng tạo và dịch vụ du lịch của các thị trường, đặc biệt là các thị trường mới mà các doanh nghiệp hiện đang muốn hướng tới. Từ đó, có cách quản lý và tiến hành quảng bá, tuyền truyền riêng với từng đối tượng khách du, từng thị trường cụ thể. Những nghiên cứu này rất thiết thực nhằm hạn chế tình trạng khách du lịch chỉ đến Việt Nam duy nhất một lần và không bao giờ quay trở lại.
Tăng cường sự hiện diện của du lịch sáng tạo Việt Nam, hình ảnh cảnh quan và con người của Việt Nam, các sản phẩm du lịch sáng tạo cụ thể của các doanh nghiệp du lịch lữ hành tại các Hội chợ, Hội nghị và Hội thảo trong nước và quốc tế về du lịch, văn hoá, thể thao. Tổ chức nhiều Hội thảo chuyên đề để quảng bá du lịch sáng tạo, tại các hội chợ, hội thảo này ngành du lịch, các doanh nghiệp cần tích cực trưng bày, quảng cáo các sản phẩm sáng tạo mà doanh nghiệp mình đang khai thác hoặc dự kiến khai thác. Đẩy mạnh các hoạt động quảng bá, trong trường hợp cần thiết ngành du lịch và các doanh nghiệp có thể thuê những tổ chức quảng cáo chuyên nghiệp của nước ngoài thực hiện. Tiến tới, có điều kiện có thể xây dựng và đặt các các văn phòng đại diện, thông tin du lịch sáng tạo ở các thị trường trọng điểm ngoài nước.
Tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến thông tin bằng cách thường xuyên phát hành và phân phát các sách giới thiệu về du lịch sáng tạo, các tờ rơi quảng cáo các tài liệu về các sản phẩm du lịch sáng tạo mà các doanh nghiệp hiện nay đang cung cấp. Tài liệu phải được in ấn rõ ràng, đẹp mắt, thông tin phải chính xác, cập nhập thay thế qua từng thời k để người nhận có thể hiểu rõ về tình hình hoạt động và các dịch vụ du lịch sáng tạo của ngành du lịch, của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, ngày nay với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và bùng nổ internet trên phạm vi toàn cầu thì việc xây dựng và phát triển thêm các trang web giới thiệu về du lịch sáng tạo bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau (trong trường hợp quảng bá đối với du khách quốc tế). Quảng bá và xúc tiến hoạt động du lịch thông qua mạng Internet được coi là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để đưa các thông tin về du lịch sáng tạo Việt Nam và các sản phẩm du lịch khác đến với du khách khắp nơi trên thế giới.
Ngành du lịch và các doanh nghiệp cần phối hợp để xây dựng các chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch sáng tạo hàng năm theo chuyên đề gắn với việc xúc tiến và quảng bá du lịch của cả khu vực và của cả nước. Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, cơ quan thông tin đối ngoại, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, Tổng cục Du lịch để xúc tiến và quảng bá du lịch sáng tạo của Việt Nam và các sản phẩm cụ thể của các doanh nghiệp du lịch ra nước ngoài để thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển du lịch và du khách quốc tế. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Các cơ quan quản lý cần tăng cường cung cấp thông tin, hướng dẫn cho du khách quốc tế, xây dựng hệ thống các trung tâm hướng dẫn và cung cấp thông tin cho du khách ở những đầu mối giao thông quan trọng như nhà gam sân bay. Còn các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn cũng cần quảng bá các sản phẩm du lịch sáng tạo của mình tại các địa điểm công cộng để nhiều người có thể biết đến các sản phẩm do doanh nghiệp mình cung cấp.
Thực hiện chương trình thông tin tuyên truyền, quảng bá về những sự kiện sẽ diễn ra hàng năm tại các địa phương như hoạt động văn hoá, thể thao, lễ hội truyền thống …tổ chức các chiến dịch xúc tiến, sự kiện quảng bá, phát động thị trường theo chuyên đề để giới thiệu tiềm năng du lịch sáng tạo của Việt Nam, kích thích nhu cầu du lịch sáng tạo trong nước và quốc tế.
Về kinh phí cho hoạt động quảng bá và xúc tiến du lịch, kinh phí xúc tiến du lịch của nước ta hiện nay nói chung và du lịch sáng tạo nói riêng bao gồm nguồn chi từ ngân sách trung ương, ngân sách của các địa phương và đóng góp của doanh nghiệp. Nhưng với kinh phí xúc tiến du lịch nguồn ngân sách cấp là chi tiêu hành chính nên quá nhỏ và cứng nhắc. Một năm kinh phí từ ngân sách trung ương chỉ khoảng hơn 01 triệu USD cho tất cả các hoạt động, từ xây dựng ấn phẩm đến tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, tổ chức các sự kiện hoạt động xúc tiến du lịch trong và ngoài nước. Khoản tiền 01 triệu USD chỉ tương đương với chi phí Thái Lan tham gia một hội chợ ITB ở Đức hoặc chỉ đủ để đăng 10 lần quảng cáo trên tờ báo US Today của Mỹ, hoặc chỉ bằng nửa một hợp đồng quảng cáo của du lịch Malaysia với hãng truyền hình BBC… Chỉ một sự kiện những ngày Việt Nam tại Anh do VCCI thực hiện trong khoảng 1 tuần cũng chi khoảng 2,4 triệu USD chưa kể đóng góp của doanh nghiệp. Do đó, cần phải đầu tư thích đáng cho công tác xúc tiến du lịch sáng tạo nếu muốn phát triển tốt hoạt động du lịch. Bên cạnh đó, về cơ chế chi tiêu tài chính nguồn kinh phí xúc tiến du lịch nói chung quốc gia hoặc của địa phương hiện nay được chi từ ngân sách nhà nước. Đương nhiên, việc chi tiêu phải theo các quy định của Luật Ngân sách được cụ thể hóa bởi các thông tư hướng dẫn áp dụng cho chi tiêu của bộ máy hành chính với hệ thống thủ tục hành chính hiện hành hết sức rườm rà; không phù hợp với hoạt động theo cơ chế thị trường đòi hỏi có tính linh hoạt cao nên cần xây dựng một cơ chế mở, hoặc khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn cùng đóng góp để thực hiện việc quảng bá và xúc tiến du lịch sáng tạo.
Việc các doanh nghiệp cùng chung tay chia sẻ chi phí quảng bá du lịch sáng tạo với ngành du lịch nước nhà sẽ mang lại rất nhiều lợi ích không chỉ cho ngành du lịch, cho các doanh nghiệp, cho điểm đến mà còn cho cả người dân bởi hiệu quả quảng bá du lịch của toàn ngành mang lại là lớn hơn các hoạt động quảng bá đơn lẻ.
3.3.4. Đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng dân cư vào phát triển hoạt động du lịch sáng tạo
Vai trò của cộng đồng dân cư trong phát triển một số loại hình du lịch như du lịch sinh thái, cộng đồng, homestay…là rất quan trọng và đã được thừa nhận từ lâu. Còn đối với loại hình du lịch mới như du lịch sáng tạo thì vai trò này cũng không là ngoại lệ, bởi lẽ rất nhiều các hoạt động du lịch sáng tạo, sản phẩm du lịch sáng tạo xuất phát từ chính đời sống, công việc hàng ngày của một cộng đồng dân cư nào đó, của một làng nghề truyền thống nào đó, hoặc của một nhóm người nào đó. Do đó, việc phát huy vai trò của cộng đồng dân cư nói chung trong việc phát triển hoạt động du lịch sáng tạo là việc làm cần thiết nhằm tạo cơ sở và sự liên kết gắn bó giữa phát triển du lịch sáng tạo và cộng đồng dân cư. Vậy để phát triển thành công du lịch sáng tạo thì cộng đồng dân cư cần phải được thể hiện vai trò của họ qua một số nội dung:
Thứ nhất, cần phải có sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư vào việc lập kế hoạch và quản lý các hoạt động du lịch sáng tạo. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Hoạt động du lịch sáng tạo sẽ có điều kiện phát triển khi toàn bộ cộng đồng dân cư có quyết tâm cao và sáng tạo để làm du lịch, tuy nhiên trong thực tế thường khó có được sự tham dự đầy đủ của toàn bộ cộng đồng dân cư nơi có hoạt động du lịch sáng tạo (thường là 1 hoặc 1 số thôn của một xã, cũng có thể là một xã) trong khi đó việc lập kế hoạch và quản lý nhưng thông tin về mục tiêu, ý nghĩa, trách nhiệm và quyền lợi của du lịch sáng tạo cần phải được chuyển tải đến mọi thành viên của cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau. Việc duy trì các kênh giao tiếp và trao đổi thông tin thường xuyên giúp cho tất cả các thành viên cộng đồng và các bên liên quan cảm thấy chính họ là một phần của một tổ chức, được tham gia vào quá trình đưa ra quyết định cho đến quá trình thực hiện dự án du lịch sáng tạo. Quá trình duy trì các kênh giao tiếp và trao đổi thông tin thường xuyên này có thể tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí, nhất là thời điểm bắt đầu xây dựng các dự án, hoạt động du lịch sáng tạo nhưng về lâu dài sẽ giúp cho cộng đồng có thể hoạt động một cách hiệu quả và tự tin dựa trên nền tảng cơ cấu đội ngũ và quy chế sẵn có.
Đối với việc quản lý các hoạt động du lịch sáng tạo thì các cộng đồng có thể tự thành lập Ban quản lý các hoạt động du lịch sáng tạo của cộng đồng mình.
Ban quản lý và các nhóm chức năng đại diện cho cộng đồng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự phát triển du lịch sáng tạo của địa phương sau này. Những người cộng đồng lựac chọn phải là những người tâm huyết với phát triển du lịch sáng tạo, có uy tín với cộng đồng và có thời gian để triển khai các hoạt động của địa phương.
Còn đối với việc lập kế hoạch và quản lý việc thực hiện du lịch cộng đồng cần tránh sự áp đặt, nhất là sự áp đặt thường là “tự nhiên được công nhận” của các thành viên có vị trí cao hơn trong cộng đồng. Các thành viên cần phải có tiếng nói của mình trong việc đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch và quản lý việc thực hiện du lịch sáng tạo.
Một cộng đồng mạnh mẽ và gắn kết có cơ hội lớn hơn để thành công hơn trong hoạt động du lịch sáng tạo bởi mô hình du lịch sáng tạo sẽ khó thành công khi có sự chia rẽ trong nội bộ của cộng hoặc có sự khác biệt về quan điểm, cách điều hành của đội ngũ cán bộ hoặc của các cấp thừa hành. Do vậy, vai trò của cộng đồng trong quản lý, điều hành và lập kế hoạch phát triển các hoạt động du lịch sáng tạo là rất quan trọng.
Thứ hai, đào tạo nâng cao năng lực cho các bên liên quan đến du lịch sáng tạo.
Nâng cao năng lực cho Ban quản lý các dự án, hoạt động du lịch sáng tạo, các nhóm chức năng; các doanh nghiệp du lịch/hộ làm du lịch sang tạo tại địa phương là rất cần thiết bởi vì du lịch sáng tạo hoàn toàn phụ thuộc vào người dân và những trải nghiệm của khách du lịch phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ do người dân cung cấp – đây là những người cần được được đào tạo các kỹ năng và năng lực cần thiết để cung cấp các sản phẩm du lịch sáng tạo tại cộng đồng. Đánh giá và thấu hiểu tầm quan trọng về nguồn nhân lực chính là chìa khóa xác định xem liệu một địa phương đó có khả năng duy trì và phát triển du lịch nói chung và du lịch sáng tạo một cách bền vững hay không. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Cần tiến hành phân tích các kỹ năng hiện có và khoảng thiếu hụt cần cải thiện cho mỗi thành viên liên quan đến du lịch cộng đồng để xác định rõ những mảng nào cần xây dựng năng lực. Xây dựng năng lực địa phương không chỉ dừng ở mức độ nâng cao kỹ năng và kiến thức mà còn nâng cao sự tự tin và động lực tham gia vào du lịch cộng đồng. Đây là yếu tố quan trọng nhằm xây dựng niềm đam mê, niềm tin rằng bản thân họ có thể triển khai kinh doanh du lịch cộng đồng. Việc triển khai đào tạo nên hết sức thực tiễn và nội dung đào tạo cần gắn ngay vào những việc sẽ phải làm trong du lịch cộng đồng tại địa phương. Phương pháp đào tạo nên sử dụng phương pháp có sự tham gia và lấy người học làm trung tâm, tăng cường các bài tập tình huống và xây dựng các nhóm thảo luận chuyên sâu. Giáo viên đào tạo cần là những người đã có kinh nghiệm thực tế và nên mời các công ty du lịch tham gia vào một số hợp phần đào tạo để cung cấp thêm các kinh nghiệm điều hành du lịch.
Thứ ba, xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với các công ty du lịch để phát triển du lịch sáng tạo tại các địa phương
Tại các địa phương khi có điều kiện phát triển du lịch sáng tạo cần xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với một số công ty du lịch, ưu tiên các công ty chuyên khai thác các tuyến trên địa bàn hoặc đi qua địa bàn mình. Mối quan hệ đối tác chiến lược với các công ty du lịch có thể là sự “bao thầu” toàn bộ điểm du lịch sáng tạo trên cơ sở cùng phối hợp đầu tư hoặc cũng có thể là các thỏa thuận khác như cung cấp vốn, kỹ năng kinh doanh và tiếp thị, hoặc hưởng tỷ lệ hoa hồng khi đưa khách đến địa phương…để đảm bảo số lượng khách đến được với địa phương là nhiều nhất. Có thể nói sự tham gia của các công ty du lịch là đặc biệt hữu ích trong giai đoạn đầu của mọi dự án du lịch sáng tạo, tuy nhiên cũng cần phải làm rõ mối quan hệ hợp tác giữa cộng đồng và các doanh nghiệp du lịch để đảm bảo cả hai bên đều thống nhất về các cơ chế giá cả, cách thức hoạt động, phân chia lợi nhuận.
Thứ tư, phát triển các sản phẩm và dịch vụ độc đáo, sáng tạo đề cao giá trị văn hóa truyền thống của từng địa phương nhưng thích ứng với điều kiện của khách du lịch
Cần đề cao triết lý của mô hình sản xuất “mỗi làng một sản phẩm – One Village One Product” trong đó đề cao sự khác biệt và chất lượng cho các nhóm sản phẩm và dịch vụ. Triết lý của mỗi làng một sản phẩm ở đây chính là “hành động địa phương, suy nghĩ toàn cầu – Act locally, Think Globally” thông qua sự tận dụng tối đa các nguồn lực (kiến thức, kỹ năng, truyền thống, nguyên vật liệu…) của địa phương để tạo nên các sản phẩm độc đáo, các sản phẩm có sự khác biệt được khách hàng đại chúng chấp nhận. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Triết lý phát triển các sản phẩm và dịch vụ độc đáo đề cao giá trị văn hóa truyền thống của địa phương còn được thể hiện ở việc đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực (human resource management), phát triển đội ngũ những người sản xuất sáng tạo trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho du lịch một cách chủ động (Self-reliance).
Thứ năm, đảm bảo tối đa sự công bằng về phân chia lợi nhuận giữa các thành viên cộng đồng trong quá trình phát triển du lịch sáng tạo.
Hiện nay có một số mô hình phát triển du lịch sáng tạo tại các địa phương của nước ta như: cả cộng đồng cùng tham gia vào du lịch sáng tạo; mô hình thứ hai chỉ gồm một bộ phận cộng đồng hoặc hộ gia đình tham gia và mô hình thứ ba là mô hình liên doanh giữa cộng đồng hoặc một số thành viên cộng đồng và đối tác kinh doanh. Có thể thấy, khi người dân tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch như trên, việc nảy sinh mẫu thuẫn trong quá trình phân chia lợi nhuận là khó tránh khỏi, nếu không có các quy định rõ ràng về trách nhiệm cho cộng đồng thì rất dễ xảy ra các mâu thuẫn dẫn đến sự bất hòa trong cộng đồng làm ảnh hưởng đến chất lượng của tour du lịch.
Các phương pháp phân chia lợi nhuận cho các thành viên cá nhân trong cộng đồng cần chú ý cẩn thận. Để đạt được điều này, cần thành lập một ban quản lý du lịch cộng đồng như một cơ quan đại diện. Lãnh đạo, chính quyền địa phương, cũng như các tổ chức cộng đồng (ví dụ như hội phụ nữ và hội thanh niên, nhóm thủ công mỹ nghệ) phải có đại diện trong ban quản lý này. Ban quản lý phải quản lý tài chính thu nhập từ du lịch cộng đồng và các vấn đề quản lý khác như đại diện cho cộng đồng trong các cuộc họp và thảo luận với các bên liên quan, giám sát phát triển du lịch để đảm bảo rằng nó đáp ứng các mục tiêu chính sách trong chương trình hoạt động…
Một hệ thống lưu giữ hồ sơ tài chính tốt sẽ cung cấp thông tin quan trọng để quản lý tài chính hiệu quả. Đồng thời cũng giúp đỡ để tạo ra sự minh bạch giữa các thành viên cộng đồng và, do đó, tránh được sự mất lòng tin khi xảy ra những vấn đề liên quan đến doanh thu du lịch sang tạo.
Thứ sáu, không ngừng tăng cường công tác xúc tiến thương mại
Bên cạnh việc xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với các công ty du lịch và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tại địa phương phát triển du lịch, thì những địa phương có điều kiện phát triển du lịch sáng tạo cần chủ động và không ngừng tăng cường công tác quảng bá và xúc tiến thương mại cho tour du lịch sáng tạo tại địa phương mình đối với các nhóm khách hàng mục tiêu khác nhau, ví dụ như các trường học, các tổ chức đoàn thể xã hội như thanh niên, phụ nữ… ở các địa phương khác và nhất là đối với khách du lịch nước ngoài.
Thứ bảy, gắn kế hoạch phát triển du lịch sáng tạo của từng địa phương vào chính sách phát triển du lịch chung của từng tỉnh, từng vùng Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Kế hoạch phát triển du lịch sáng tạo tại địa phương cần được rà soát hàng năm căn cứ vào chính sách phát triển du lịch chung của tỉnh nhằm tận dụng tối đa các cơ hội phát triển du lịch địa phương do các chính sách hỗ trợ này đem lại. Nhiều lĩnh vực đầu tư cho du lịch sáng tạo có thể vượt quá khả năng của cộng đồng, ví dụ đầu tư phát triển hạ tầng để tạo thêm những tour du lịch mới trong cộng đồng dân cư … Ban quản lý du lịch sáng tạo tại các địa phương cũng cần chủ động đề xuất các kế hoạch phát triển du lịch ở địa phương này đến các cơ quan chức năng để tìm kiếm sự hỗ trợ đầu tư, tuy nhiên cần hết sức lưu ý trong việc giữ gìn các giá trị truyền thống, các giá trị cốt lõi để phân biệt tour du lịch sáng tạo ở đại phương mình so với các địa phương khác.
3.3.5. Tăng cường huy động các nguồn lực và vai trò của chính quyền địa phương các cấp trong chiến lược phát triển du lịch sáng tạo
Để phát triển được một loại hình du lịch mới như du lịch sáng tạo thì ngoài một chiến lược phát triển du lịch toàn diện trên cả nước nói chung thì việc phát triển du lịch sáng tạo trong một địa phương, một vùng cần phải có sự chủ động của bản thân chính quyền địa phương đó nên việc trao quyền tự chủ cho địa phương là một giải pháp cần thiết. Đặc biệt là đối với việc phát triển du lịch sáng tạo, đòi hỏi phải có sự chủ động và sáng tạo cao độ. Kinh nghiệm phát triển du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực đã cho thấy việc tăng cường vai trò và trạo quyền tự chủ cho chính quyền địa phương trong phát triển các chương trình và sản phẩm du lịch sáng tạo sẽ tạo nên những bước đột phá cho loại hình du lịch này. Bởi lẽ, chính quyền địa phương là những người sâu sát, hiểu nhất về điều kiện, con người của địa phương mình nếu được quyền tự quyết cao họ sẽ mạnh dạn và sáng tạo hơn trong việc đưa ra các sản phẩm mới cho địa phương mình. Hay nói cách khác việc đưa ra quyết định từ dưới lên sẽ có hiệu quả hơn là từ trên xuống như trước đây chúng ta vẫn làm. Bên cạnh việc tăng cường phân cấp và trao quyền tự chủ cho các địa phương trong phát triển du lịch sáng tạo của địa phương mình thì cơ quan quản lý nhà nước, ngành du lịch nói chung còn phải có những biện pháp để thu hút được vốn FDI vào phát triển du lịch địa phương nói chung. Vốn FDI là một trong nguồn vốn quan trọng giúp đầu tư các dự án du lịch sáng tạo phát triển. Tuy nhiên, trong thời gian qua các địa phương thu hút FDI vẫn còn ở con số khiêm tốn. Do đó, việc xúc tiến đầu tư thu hút FDI vào các tỉnh, địa phương là một trong những giải pháp huy động vốn đầu tư các dự án du lịch, trong đó có du lịch sáng tạo. Khi có quỹ dành riêng cho các hoạt động xúc tiến đầu tư thì các dự án kêu gọi đầu tư trong nước sẽ có nhiều cơ hội để quảng bá ở nước ngoài. Nguồn vốn chủ yếu ban đầu sẽ do ngân sách nhà nước cấp. Nguồn viện trợ quốc tế sẽ là nguồn vốn tốt cho quỹ xúc tiến đầu tư do hiện nay có nhiều tổ chức quốc tế đã cung cấp các nguồn tài trợ và hỗ trợ cải cách hành chính, cải cách doanh nghiệp, khuyến khích phát triển khu vực tư nhân…ở các nước đang phát triển. Do đó, các cơ quan xúc tiến đầu tư có thể tiếp cận và khai thác nguồn này để tổ chức có hiệu quả hơn các hoạt động xúc tiến đầu tư. Cũng có thể huy động một phần từ nguồn tài trợ cho hoạt động xúc tiến từ khu vực tư nhân và chính từ người dân tham gia làm du lịch sáng tạo. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Cùng với coi trọng huy động nguồn nội lực, cần tăng cường các giải pháp đẩy mạnh huy động các nguồn ngoại lực để đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn ODA, nghiên cứu triển khai một số dự án đầu tư theo hình thức hợp tác công tư (PPP); đẩy mạnh xã hội hóa trong thu hút vốn đầu tư. Đây sẽ là một trong những biện pháp cơ bản nhằm giảm dần đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước đối với các lĩnh vực, dự án có thể huy động vốn đầu tư từ các nguồn khác. Hơn nữa, vào thời điểm này, khi các nguồn tài chính truyền thống như phát hành trái phiếu chính phủ, vốn vay nước ngoài và vốn ODA đều làm phát sinh nợ quốc gia… thì PPP là một hình thức phù hợp. Thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương, có những dự án tư nhân tham gia đầu tư hạ tầng xây dựng những công trình chất lượng tốt mà chi phí thấp hơn nhiều so với dự án do Nhà nước đầu tư.
Ngoài việc xây dựng mô hình hợp tác công tư thì khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương là nòng cốt để phát triển không chỉ nền kinh tế địa phương mà còn cả các hoạt động du lịch của địa phương do đó cần khuyến khích phát triển thành phần kinh tế này bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Có thể coi chỉ số PCI là “Giấy chứng nhận” công tác điều hành kinh tế của chính quyền địa phương dưới góc nhìn của khu vực tư nhân. PCI là công cụ phản ánh mong muốn của doanh nghiệp, đồng thời là kênh đối thoại giúp doanh nghiệp bày tỏ quan điểm về các trăn trở trong hoạt động kinh doanh, trong đó có kinh doanh du lịch của mình. Việc nhận thức đầy đủ thông tin và thông điệp do chỉ số PCI cung cấp giúp chính quyền địa phương điều chỉnh công tác quản lý và các hệ thống pháp lý liên quan, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của địa phương.
Cuối cùng, cần có sự liên kết hợp lý giữa các địa phương sẽ tạo nên chuỗi du lịch sáng tạo hấp dẫn, không chỉ hạn chế được tình trạng nhàm chán về hoạt động du lịch mà còn tạo thành khu du lịch mạnh về địa điểm, dịch vụ, cơ sở hạ tầng, từ đó giảm được giá tour và du khách có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn điểm đến. Đây là việc làm không mới đối với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đơn cử như tại một số nước “láng giềng” như Thái Lan, để hút khách theo tour đến các điểm du lịch nhà vườn miền Đông, khi du khách mua vé trọn gói sẽ được giảm giá hay ở Singapore, các địa điểm du lịch vườn chim dù nằm ở các quận khác nhau nhưng khi du khách mua vé cùng lúc ở 3 điểm sẽ được giảm giá 30%… Sự liên kết cần những nỗ lực chung và quyết tâm từ các địa phương, sự vào cuộc của doanh nghiệp cùng làm du lịch để lợi ích sẽ tăng và được chia đều cho các bên, góp phần cho nền du lịch địa phương phát triển bền vững.
3.3. Kiến nghị Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
3.3.1. Đối với các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về du lịch
3.3.1.1. Chính phủ
Để phát triển được ngành du lịch nói chung và du lịch sáng tạo nói riêng, trong thời gian tới Chính phủ cần có những chính sách và biện pháp mang tính vĩ mô để tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ngành. Cụ thể:
- Chính phủ cần tháo gỡ cơ chế về vốn
Đối với ngành du lịch nói chung cần được vay vốn ưu đãi, dài hạn để xây dựng các điểm du lịch, khu du lịch và nâng cấp đổi mới cơ sở hạ tầng trang thiết bị cho ngành cho phép ngành du lịch được trích một phần thu đáng kể từ hoạt động du lịch để ngành chủ động đầu tư trực tiếp phát triển sản phẩm du lịch mới, làm công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
- Đầu tư phát triển có sở hạ tầng du lịch theo hướng hiện đại và chuyên nghiệp
Để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch nói chung và du lịch sáng tạo nói riêng thì cơ sở hạ tầng, kỹ thuật phục vụ hoạt động du lịch đóng góp vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay những điều kiện này ở nước ta còn nhiều điểm hạn chế như hệ thống đường giao thông vào các khu du lịch chưa được quan tâm chú trọng đầu tư. Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, địa phương có địa điểm du lịch thường chưa quan tâm tới bảo vệ, tu sửa các khu du lịch đó một cách thích đáng dẫn tới tài nguyên du lịch có khả năng bị hủy hoại, vừa gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái vừa ảnh hưởng đến ngành và dân cư địa phương. Do đó, việc đảm bảo xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hòi Chính phủ và Tổng cục du lịch Việt Nam cần ban hành các quy chế quản lý hợp lý, khai thác và qui hoạch khu du lịch, các hoạt động du lịch. Hiện nay đã có Luật du lịch, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều vấn đề vẫn còn bất cập, cũng như còn rất nhiều vấn đề chưa nằm trong phạm vi điều chỉnh và bảo vệ của Luật. Tuy phát triển triển du lịch sáng tạo không quá chú trọng vào điều kiện kỹ thuật phục vụ khách nhưng điều kiện về cơ sở hạ tầng vẫn là điều kiện quan trọng để phát triển loại hình du lịch mới này.
- Đảm bảo chính sách thông thoáng, tạo điều kiện cho sự đi lại, ăn ở của du khách trong suốt quá trình lưu trú
Trong kinh doanh lữ hành quốc tế, điều quan trọng trước hết là phải biết tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút được khách du lịch, kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch.Việc hạn chế miễn giảm visa của Việt Nam trong thời gian qua đã làm giảm mất nhiều cơ hội cho phát triển thị trường khách du lịch quốc tế. Chế độ phí visa thông thường, phí dịch vụ visa nhanh của Việt Nam ở nước ngoài cũng góp phần làm tăng giá các tour du lịch vào Việt Nam, làm giảm sức cạnh tranh của thị trường du lịch Việt Nam. Chính vì vậy, Chính phủ nên có chính sách quan tâm, hỗ trợ ngành du lịch cũng như các doanh nghiệp du lịch kinh doanh lữ hành quốc tế phát triển với việc tiếp tục miễn visa cho các thị trường du lịch trọng điểm, vì đây cũng là thị trường ưu thích các sản phẩm sáng tạo của Việt Nam. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Đưa ra những chính sách phù hợp cho Tổng cục Du lịch và các doanh nghiệp du lịch tạo cơ hội chủ động phát triển
- Chính phủ nên có cơ chế phù hợp tạo điều kiện thuận lợi để Tổng cục du lịch Việt Nam được mở văn phòng đại diện ở những thị trường trọng điểm, tại các thị trường có nhiều khách du lịch đến Việt Nam để quảng bá du lịch Việt Nam ra nước ngoài.
- Xem xét thêm về việc áp dụng mức thuế hợp lý cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, nhất là du lịch sáng tạo để các doanh nghiệp này có thể tạo ra được những chương trình du lịch với giá hấp dẫn hơn, cạnh tranh hơn với các chương trình du lịch của các nước trong khu vực.
- Xem xét về những vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp tham gia kinh doanh du lịch sáng tạo như giảm giá điện, giảm thuế …tạo điều kiện cho giá thành các dịch vụ du lịch càng ngày càng hợp lý hơn.
Nhà nước nên khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch sáng tạo trên cơ sở qui hoạch phát triển du lịch tổng thể của nhà nước
Đặc biệt tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân, các hộ gia đình tham gia khai thác phát triển tiềm năng du lịch sáng tạo. Du lịch Việt Nam muốn thành công thì phải làm sao để “Người người làm du lịch, nhà nhà làm du lịch, xã hội làm du lịch”
*Xem xét việc cho phép nhiều hãng hàng không mới, giá rẻ vào Việt Nam
Chính phủ hiện nay vẫn còn dè dặt trong việc cho phép các hãng hàng không tư nhân nước ngoài mở đường bay vào Việt Nam một phần cũng do cảng hàng không nước ta chưa đủ điều kiện đón tiếp, một phần cũng để bảo hộ cho hãng hàng không Quốc gia Việt Nam. Để thu hút nhiều khách đến Việt Nam trong tương lai chắc chắn Chính phủ cần nghiên cứu để đón tiếp các hãng nước ngoài, các hãng vận chuyển giá rẻ. Vấn đề là cần nâng cấp, mở rộng, xây mới những sân bay quốc tế tại các thành phố lớn ở Việt Nam để Việt Nam sẽ được nhiều hãng nước ngoài lựa chọn đặt đường bay trực tiếp.
3.3.1.2. Tổng cục du lịch
Là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, Tổng cục du lịch cần thực hiện hơn nữa vai trò chức năng quản lí, cụ thể:
Có chính sách phát triển du lịch nói chung và du lịch sáng tạo hợp lí, toàn diện và bền vững thông qua việc bảo tồn các tài nguyên du lịch của đất nước.
Tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch sáng tạo nhằm cung cấp thông tin du lịch nước ta cũng như các sản phẩm du lịch sáng tạo tới du khách quốc tế một cách thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi. Muốn vậy, phải tìm hiểu và nghiên cứu kỹ nhu cầu thị trường bên ngoài, các thị hiếu về sản phẩm và dịch vụ du lịch sáng tạo của thị trường các nước trong khu vực và thế giới. Từ đó, có cách quản lý và phục vụ riêng cho phù hợp với từng loại khách. Những nghiên cứu này rất thiết thực nhằm hạn chế tình trạng khách du lịch quốc tế chỉ đến Việt Nam duy nhất một lần và không bao giờ quay trở lại. Tăng cường sự hiện diện của du lịch Việt Nam tại các Hội chợ, Hội nghị và Hội thảo quốc tế. Tổ chức nhiều Hội thảo chuyên đề để quảng bá du lịch sáng tạo Việt Nam. Nếu cần, thậm chí có thể thuê các công ty quảng bá chuyên nghiệp của nước ngoài thực hiện. Trước mắt, xây dựng các văn phòng đại diện, thông tin du lịch Việt Nam ở các thị trường nước ngoài như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ và Châu Âu.
Tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến thông tin còn bằng cách thường xuyên phát hành và phân phát các sách giới thiệu về du lịch sáng tạo Việt Nam, các tài liệu khác có liên quan, phát miễn phí cho khách du lịch tại sân bay khi họ đến Việt Nam. Tài liệu phải được in ấn rõ ràng, đẹp mắt, thông tin phải chính xác, cập nhập thay thế qua từng thời k .
Ngoài ra, cần phải chú trọng đến chiến lược, kế hoạch và việc làm cụ thể để quảng bá cho du lịch sáng tạo Việt Nam. Nếu người Việt Nam chưa đủ trình độ làm thì nên chăng chúng ta có thể thuê chuyên gia nước ngoài. Rất nhiều chuyên gia nước ngoài từ các nước có nền du lịch phát triển sẽ giúp được ta đưa ra một kế hoạch, một chiến lược, một tầm nhìn khiến công việc quảng bá hình ảnh du lịch sáng tạo nước nhà đạt hiệu quả nhất. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Xây dựng và phát triển thêm nhiều trang web giới thiệu về du lịch Việt Nam, du lịch sáng tạo bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau tiến tới xây dựng thêm những trang web phục vụ cho từng thị trường có lượng khách đến Việt Nam nhiều để thu hút thêm số lượng khách trong tương lai. Việc khách tự túc đi du lịch không thông qua các công ty du lịch ở nước họ sinh sống rất phổ biến ở nước ngoài, nơi những du khách có nhiều kinh nghiệm, ngôn ngữ và kiến thức đủ để tự túc đặt tour tại nước ngoài. Những đối tượng khách này tìm kiếm thông tin du lịch chủ yếu qua internet do vậy nếu chúng ta có những trang web chuyên quảng bá về du lịch sáng tạo Việt Nam với đầy đủ các thông tin tư vấn cho khách, chắc chắn sẽ là một công cụ hữu hiệu khiến cho khách yên tâm và quyết định chọn Việt Nam làm điểm đến cho những kế hoạch du lịch của họ.
- Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và khả năng cạnh tranh cho ngành du lịch
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề có tính chiến lược của mọi quốc gia. Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch, góp phần nhanh chóng đưa du lịch sáng tạo trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Nguồn nhân lực phải được phát triển một cách có hệ thống cả vế số lượng và chất lượng.
- Đảm bảo môi trường pháp lí công bằng và thuận lợi cho doanh nghiệp du lịch, khuyến khích việc đầu tư vào sản phẩm du lịch sáng tạo của các doanh nghiệp này
Quan trọng nhất là việc đưa ra các văn bản pháp quy có nội dung hợp lý về quyền khai thác sản phẩm độc quyền đối với các chương trình do các doanh nghiệp tự xây dựng, tránh sự mạo nhận giữa các doanh nghiệp trên cùng một đơn vị sản phẩm. Đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp du lịch chuyên tâm hơn vào việc xây dựng các chương trình du lịch sáng tạo cho riêng mình. Có hình thức khuyến khích các doanh nghiệp đón khách quốc tế đa dạng hóa chương trình du lịch, nâng cao chất lượng của chương trình và làm thêm những chương trình liên tuyến để chi phí của du khách cho chuyến du lịch nhiều nước của họ đổ về cho các doanh nghiệp Việt Nam.
- Chủ động hơn nữa trong việc tham gia các tổ chức quốc tế, các hiệp hội du lịch
Công tác này nhằm phát huy thế mạnh Việt Nam trên trường quốc tế, tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam nói chung và du lịch sáng tạo nói riêng. Đặc biệt là việc tham gia các hội nghị, hội thảo các tổ chức du lịch quốc tế.
Tổng cục du lịch nên có những chương trình phát động du lịch sáng tạo trên nhiều phương tiện truyền thông, đặc biệt là những nơi có tiềm năng du lịch phục vụ khách quốc tế để những chính sách về du lịch đi sâu vào từng người dân, sao cho mỗi người dân đều có tinh thần chuẩn bị phục vụ khách, tất cả dân chúng đều làm du lịch. Để làm được như vậy những người lãnh đạo làm trong ngành du lịch từ cấp trung ương đến từng địa phương phải nghiên cứu một kế hoạch, chiến lược thật kỹ sao cho chính sách có hiệu quả và làm cho dân chúng ở khu vực du lịch hiểu rằng việc phát triển du lịch sáng tạo làm lợi cho nhiều ngành dịch vụ liên quan, làm lợi cho chính bản thân khu du lịch đó và từ đó là làm lợi cho từng người dân trong khu vực mà làm tốt các khai thác bảo vệ tài nguyên du lịch và phục vụ tốt khách du lịch.
Tiểu kết chương 3 Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Căn cứ vào xu hướng du lịch hiên nay trên thế giới cũng như những chủ trương, chính sách phát triển du lịch của chính phủ Việt Nam tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội để du lịch nói chung và du lịch sáng tạo nói riêng cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Để đạt được mục đích này, cần có sự nghiên cứu phát triển thêm các sản phẩm du lịch cũng như việc mở rộng và phát triển thị truờng cho các sản phẩm du lịch này là vấn đề hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu và xây dựng nhiều loại mô hình khác nhau dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch sáng tạo hiện có của các vùng miền để có thể khai thác hết được lợi thể từng loại hình du lịch vào phát triển các sản phẩm du lịch sáng tạo. Việc phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam chỉ có thể đạt được hiệu quả khi có sự hỗ trợ mạnh mẽ của công tác tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá du lịch và huy động sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư vào hoạt động du lịch sáng tạo. Tuy nhiên, để các biện pháp phát triển du lịch sáng tạo có thể triển khai hiệu quả trên thực tế thì cũng cần có sự hỗ trợ và hành động từ phía các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch để tạo hành lang pháp lý và cơ sở hạ tầng cho sự phát triển hoạt động du lịch nói chung và du lịch sáng tạo nói riêng trong thời gian tới.
KẾT LUẬN
Du lịch sáng tạo là một loại hình du lịch văn hóa, là loại hình du lịch liên quan đến phát triển cộng đồng theo hướng bền vững, nhằm nâng cao nhận thức, học hỏi những kinh nghiệm sống mới mẻ, những tri thức độc đáo của các từng dân tộc, của từng vùng dân cư khác nhau trên thế giới thông qua việc trực tiếp tham gia vào các hoạt động tại công đồng điểm đến du lịch chứ không chỉ đơn thuần là những hoạt động chiêm ngưỡng, ngắm nhìn, tham qua như những hình thái du lịch truyền thống. Du lịch sáng tạo sẽ cung cấp cho khách du lịch những cơ hội để phát huy tiềm năng sáng tạo của mình cũng như có thể cảm nhận được những giá trị văn hóa từ những trải nghiệm thực tế. Với những điểm khác biệt với các hình thức du lịch truyền thống như đã nêu trên thì du lịch sáng tạo hiện nay đang có sự phát triển rất mạnh mẽ trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Qua đề tài nghiên cứu: “Phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam”, luận văn đã đạt được một số kết quả nghiên cứu cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa được cơ sở lý luận về phát triển du lịch sáng tạo, trong đó luận văn đã đề cập tới một số vấn đề như khái niệm về du lịch sáng tạo, các điều kiện để có thể phát triển hoạt động du lịch sáng tạo, đồng thời phân tích tình hình phát triển du lịch sáng tạo của một số quốc gia trên thế giới và trong khu vực để rút ra những kinh nghiệm phát triển du lịch sáng tạo cho Việt Nam trong thời gian tới. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
Thứ hai, phân tích, đánh giá về các điều kiện cung và điều kiện cầu hiện nay của Việt Nam trong việc phát triển du lịch sáng tạo. Qua việc phân tích và đánh giá này, tác giả luận văn đã khẳng định Việt Nam có khá nhiều các điều kiện phù hợp để phát triển các hoạt động du lịch sáng tạo, đồng thời qua việc điều tra, khảo sát thực tế về nhu cầu của khách du lịch đối với các sản phẩm du lịch sáng tạo cũng cho thấy nhu cầu về sản phẩm này là tương đối lớn. Do vậy, có thể khẳng định phát triển du lịch sáng tạo là một hướng đi đúng đắn của du lịch Việt Nam trong thời gian tới.
Thứ ba, trên cơ sở xu hướng phát triển du lịch và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển du lịch thì tác giả đã đề xuất một số kiến nghị và giải pháp phát triển du lịch nhằm khai thác được lợi thế và tiềm năng du lịch sáng tạo của Việt Nam.
Quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã thu thập, xử lý để sử dụng một số tài liệu, số liệu của các nhà khoa học, các nhà quản lý, chuyên gia trong và ngoài nước cùng với những ý kiến trao đổi, phỏng vấn để làm sáng tỏ các quan điểm nghiên cứu về phát triển du lịch sáng tạo tại Việt Nam.
Luận văn đã đề cập đến nhiều nội dung theo đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nhưng do hạn chế về thời gian thực hiện luận án, một số nội dung chỉ nêu lên theo lô gíc hệ. Luận văn đã hoàn thành với sự giúp đỡ của các nhà khoa học của …., đặc biệt dưới sự hướng dẫn của …….
Những kết quả nghiên cứu của luận văn là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu thực tế trong việc phát triển du lịch sáng tạo trong thời gian tới, tác giả của luận văn xin nhận được sự đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các thầy, cô giáo và đồng nghiệp. Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
