Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Điều kiện và thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1  Khái quát về sự phát triển sản phẩm du lịch ở Việt Nam

Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch [Điều 4, Luật Du lịch , các sản phẩm du lịch này phụ thuộc vào các loại hình du lịch mà địa phương hay quốc gia có dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch của mình, nói các sản phẩm du lịch phụ thuộc vào các loại hình du lịch bởi lẽ các loại hình du lịch mới là cơ sở để tạo ra các sản phẩm du lịch. Với cách hiểu này thì trong mỗi một loại hình du lịch sẽ có rất nhiều các sản phẩm du lịch khác nhau phục vụ cho từng nhu cầu, mục đích du lịch khác nhau và cũng là để khai thác được triệt để tài nguyên du lịch của loài hình du lịch đó.

Hiện tại ở Việt Nam có rất nhiều các loại hình du lịch khác nhau với đa dạng các loại sản phẩm du lịch. Trong đó có thể kể đến một số loại hình với những sản phẩm tiêu biểu như:

  • Du lịch biển

Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển khá dài trên 3.200 km với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, hàng loạt những bãi tắm cát trắng, nước trong xanh trải dài với điều kiện khí hậu nắng ấm là những điều kiện thuận lợi cho du lịch biển Việt Nam phát triển. Những bãi biển, vịnh biển của Việt Nam được du khách cả thế giới biết đến như vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang hay bãi biển Đà Nẵng được Tạp chí Forbes bầu chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh… đều nói lên sức hút của biển Việt Nam đối với du khách trong và ngoài nước.

  • Du lịch sinh thái

Trong những năm qua, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới, và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch và nghỉ ngơi, trong đó có Việt Nam. Với nhiều điều kiện về khí hậu, canh quan, địa hình và đặc biệt là trên lãnh thổ đó là nơi sinh sống của cộng đồng nhiều dân tộc với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, đấu tranh giữ nước với nhiều truyền thống có những nét đặc trưng riêng, nhiều di tích văn hóa lịch sử nên Việt Nam có nhiều điều kiện phát triển du lịch sinh thái.

Về các tiềm năng tự nhiên cho phát triển du lịch sinh thái, nét thể hiện rõ nhất là ở Việt Nam có sự đa dạng sinh học khá cao, cũng như các hệ sinh thái đặc trưng. Về các hệ sinh thái tự nhiên, Việt Nam có một số hệ sinh thái đặc trưng như: Hệ sinh thái san hô; Hệ sinh thái đất ngập nước; Hệ sinh thái vùng cát ven biển và các hệ sinh thái rừng nhiệt đới.

  • Du lịch Văn hóa – Tâm linh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Trong thời gian qua, du lịch văn hóa được coi là những sản phẩm mũi nhọn và rất thành công của ngành du lịch Việt Nam, đạt được điều này là vì ngành du lịch Việt Nam đã khai thác hiệu quả các giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc đưa vào trong kinh doanh du lịch. Theo thống kê của ngành du lịch Việt Nam thì du khách quốc tế đến Việt Nam hay quyết định quay trở lại Việt Nam vì những cuốn hút về mặt văn hóa. Theo thống kê: Trong số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hàng năm chỉ có khoảng 5 – 8% tham gia vào các tour du lịch sinh thái tự nhiên và khoảng 40 – 45% tham gia vào các tour du lịch tham quan – sinh thái nhân văn [Ths. Lê Văn Minh, Du lịch sinh thái – tiềm năng và thế mạnh của du lịch Việt Nam, http://www.itdr.org.].

Nắm bắt được nhu cầu này của du khách đặc biệt là du khách quốc tế du lịch Việt Nam đã phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa mà điểm đến các địa chỉ văn hóa, dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng… đã tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới.

Về du lịch Tâm linh tại Việt Nam trong thời gian qua cũng có sự phát triển mạnh mẽ, trước đây khi nhắc đến du lịch tâm linh thì chỉ là sự hành hương hoặc thăm quan của một bộ phận nhỉ những người nhưng trong thời gian gân đây du lịch tâm linh đã có sự phát triển mạnh mẽ với sự phát triển của ngày càng nhiều các điểm du lịch tâm linh ra đời và phát triển tại khắp các địa phương như Đền Hùng (Phú Thọ), Yên Tử (Quảng Ninh), Chùa Hương (Hà Nội), Núi Bà Đen, Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh), Đền Trần-Phủ Dầy (Nam Định), Chùa Bái Đính ( Ninh Bình)…

Theo thống kê của Tổng Cục Du lịch thì số lượng khách du lịch tâm linh Việt Nam chiếm tỷ trọng khá lớn. Trong số 32,5 triệu lượt khách du lịch nội địa năm 2012, riêng khách đến các điểm tâm linh có khoảng 13,5 triệu lượt. Một số điểm du lịch tâm linh đón lượng khách lớn như Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang) 3,6 triệu lượt khách; Chùa Hương 1,5 triệu lượt khách; Chùa Bái Đính 2,1 triệu lượt khách; Yên Tử 2,3 triệu lượt khách…Tuy nhiên, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đi du lịch tâm linh chưa nhiều, trong số 6,8 triệu khách năm 2012 chỉ có khoảng 12% khách đến điểm du lịch tâm linh.

Hạn chế này là do chúng ta chưa chú trọng xúc tiến quảng bá loại hình du lịch tâm linh này với bạn bè quốc tế, cộng với sản phẩm du lịch, dịch vụ đi kèm chưa phong phú hấp dẫn, chưa có sự kết hợp linh hoạt giữa du lịch tâm linh với các loại hình du lịch văn hóa truyền thống khác nên du lịch tâm linh Việt Nam chưa đến được với khách quốc tế.

  • Du lịch MICE Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Du lịch MICE là loại hình du lịch được xây dựng trên cơ sở đáp ứng các nhu cầu không chỉ tham quan, nghỉ dưỡng mà còn là để gặp gỡ các đối tác làm ăn, tổ chức các hội nghị phát triển việc kinh doanh, phát triển thị trường. Những năm gần đây, du lịch MICE đang có những bước phát triển khá mạnh mẽ ở Việt Nam bởi Việt Nam được đánh giá là một điểm đến an toàn và thân thiện, điểm đầu tư hấp dẫn. Bên cạnh đó, mỗi một địa phương của Việt Nam có những thế mạnh để phát triển được loại hình du lịch này.

  • Du lịch miền quê, vùng núi

Trước đây khi nhắc đến du lịch vùng quê, miền núi thì chỉ đơn giản là các sản phẩm tham quan, ngắm cảnh hoặc nghỉ dưỡng ở những địa điểm có khí hậu ôn hòa như Sa Pa, Đà Lạt, Tam Đảo…nhưng hiện nay loại hình du lịch miền quê, vùng núi xuất hiện thêm rất nhiều sản phẩm du lịch mới như sản phẩm du lịch Trekking ở một số tỉnh khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam như Sa Pa, Phanxipăng, cao nguyên đá Đồng Văn… Trên thế giới, đây là loại hình du lịch đã trở nên phổ biến từ lâu. Tại Việt Nam, khoảng 10 năm trở lại đây du lịch trekking mới bắt đầu phát triển nhờ những người yêu thiên nhiên và thích vận động bởi điều kiện khí hậu và địa hình của Việt Nam đặc biệt phù hợp cho những ai muốn vừa đi du lịch ngắm cảnh đẹp, vừa kết hợp rèn luyện sức khỏe và tinh thần.

Du lịch homestay (ngũ nhà dân) cũng là loại hình du lịch mới phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam, đây cũng là loại hình du lịch xanh lý tưởng đối với du khách yêu thích khám phá văn hóa bản địa cũng như mang đến góc nhìn gần gũi và thực tế hơn về văn hóa, lịch sử, đời sống hàng ngày và con người hay ẩm thực… của các vùng miền và dân tộc Việt Nam. Trước đây, loại hình này cũng chỉ mới xuất hiện ở một số địa phương miền núi phía Bắc như Sa pa, Bản Lát –Hòa Bình nhưng hiện nay đã xuất hiện tại rất nhiều địa phương như ở Ba Vì – Hà Nội với du lịch cộng đồng – Homestay người Mường. Ở đây du khách có cơ hội được tự nấu, chế biến món ăn như đồ xôi, cơm lam, luộc măng…Khách cùng ngồi trên sàn với chủ nhà thưởng thức ẩm thực. Họ được nghe chủ nhà kể chuyện về mo “Te tấc te đác” (Để đất đẻ nước) và phong tục tập quán.

Du lịch homestay gần đây cũng phát triển khá mạnh ở đồng bằng sông Cửu Long. Một số tour du lịch đã trở thành thương hiệu của du lịch miệt vườn như chương trình “Về quê tát mương bắt cá” tại Cồn Phụng (Bến Tre), “Một ngày làm nông dân”, ở huyện Cái Bè (Vĩnh Long) hay “Bike Tour” ở Thanh phố Cần Thơ…  

  • Du lịch sáng tạo  Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Du lịch sáng tạo là một loại hình du lịch với rất nhiều các sản phẩm hoàn toàn mới mang tính sáng tạo. Ở Việt Nam, đây cũng là loại hình du lịch mới xuất hiện nhưng đã có sự phát triển rõ nét bởi chúng ta có khá nhiều các điều kiện cung đặc trưng của du lịch sáng tạo như tài nguyên du lịch sáng tạo, nguồn nhân lực du lịch sáng tạo, môi trường sáng tạo và sản phẩm sáng tạo. Chính vì vậy, trong thời gian qua đã có một số ý tưởng sáng tạo trong phát triển du lịch ở nước ta. Tiêu biểu là các ý tưởng sáng tạo ra các sản phẩm du lịch mới, khác biệt dựa trên cả những tài nguyên tiềm ẩn của TS-KTS Nguyễn Thu Hạnh1 và đồng nghiệp. Đó là ý tưởng về sản phẩm du lịch mưa Huế (thưởng thức trà cung đình, chơi và nghe ca nhạc về mưa, chế biến làm đồ lưu niệm trong lúc mưa…), lụt Hội An (khám phá, chia sẻ nỗi khổ của người dân trong những ngày lũ lụt). Sản phẩm du lịch “Giờ Trái đất” cũng là một ý tưởng sáng tạo.  Du khách sẽ được chìm mình trong bóng tối với việc tiêu thụ năng lượng ít nhất, tiết kiệm nhất, chia sẻ cảm thông với những lao động khiếm thị. Ý tưởng du lịch trên cơ sở khai thác các giá trị khác nhau của muối, cát và đặc biệt là rác thải để tạo nên những sản phẩm du lịch cũng là những ý tưởng khá đọc đáo. Việc tìm tòi, xây dựng một tour liên kết 7 hòn đảo nổi tiếng trên vịnh Hạ Long để tạo nên một con rồng huyền thoại thành sản phẩm du lịch rồng thiêng thể hiện sự sáng tạo của những tác giả dự án biết khai thác các giá trị văn hóa đặc trưng của vùng miền.

Ở Hà Nội có ba địa điểm triển khai thường xuyên loại hình du lịch sáng tạo dạy nấu ăn. Đó là Khách sạn Sofitel Metropole, nhà hàng Ánh Tuyết và nhà hàng Highway. Khách du lịch được dẫn đi chợ, được hướng dẫn chọn mua rau quả, thực phẩm.  Sau đó khác được hướng dẫn các công đoạn từ nhặt rau, thái thịt, đến xào nấu … Trong mỗi công đoạn, sau khi được hướng dẫn, khách du lịch phải tự mình làm lấy các công việc. trong giai đoạn này khách du lịch phải phát huy óc sáng tạo để thực hiện nhiệm vụ một cách hoàn hảo nhất.

Như vậy, rõ ràng rằng, tiềm năng du lịch sáng tạo của Việt Nam rất lớn. Ở Việt Nam có đầy đủ các điều kiện cung đặc trưng cho phát triển du lịch sáng tạo. Đó là nguồn tài nguyên du lịch sáng tạo rất phong phú và đa dạng, có giá trị văn hóa cao, người Việt Nam có khả năng và rất ưa sáng tạo, có nhiều nghệ nhân, thợ lành nghề, có môi trường tốt cho phát triển du lịch sáng tạo và có nhiều sản phẩm được chế tác trên cơ sở sự sáng tạo. Tuy nhiên để phát triển du lịch sáng tạo, rất cấn sự nhiệt tình sáng tạo của chính những người làm du lịch.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch – Khách Sạn

2.2. Khả năng cung du lịch sáng tạo Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.      

2.2.1. Tài nguyên du lịch sáng tạo

Tài nguyên du lịch sáng tạo ở nước ta rất phong phú, đa dạng, trải dài đồng đều từ Bắc đến Nam, có thể đáp ứng được các điều kiện để triển du lịch sáng tạo

2.2.1.1. Các nghề thủ công truyền thống

Việt Nam với bề dầy lịch sử hàng ngàn năm và nền văn hoá lấy cộng đồng làng làm đơn vị tổ chức xã hội cơ bản đã là điều kiện để nhiều nghề thủ công truyền thống xuất hiện và có điều kiện phát triển thành các làng nghề truyền thống, tạo ra rất nhiều sản phẩm không chỉ đơn thuần là trao đổi thương mại mà còn có mặt giá trị về văn hoá và lịch sử như:

Nghề gốm, ở Việt Nam đã có từ lâu. Ở miền Bắc thì có gốm Bát Tràng (Hà Nội), gốm Đông Triều (Quảng Ninh), gốm Phù Lãng (Bắc Ninh), gốm Thổ Hà (Bắc Giang), gốm Chu Đậu –Mỹ Xá (Hải Dương)… Ở miền Trung thì có gốm Thanh Hà  (Hội An), Gốm Chăm Bầu Trúc (Ninh Thuận). Còn ở miền Nam có gốm Sài Gòn, gốm Bình Dương, gốm Biên Hoà (Đồng Nai)…

Các làng nghề gốm này đều tạo nên những nét đặc trưng riêng có của từng loại gốm khác nhau để tạo nên những sản vật phong phú và đa dạng phục vụ đời sống không chỉ người dân trong nước mà còn trở thành mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu được thị trường thế giới ưa chuộng.

Du khách đến tham các làng gốm ngoài việc chụp hình, chiêm ngưỡng hay mua sắm du khách còn có thể hiểu biết thêm về các giá trị văn hóa, phong tục tập quán của con người Việt Nam thông qua các sản phẩm.

Đặc biệt du khách đến tham quan các làng gốm, du khách có cơ hội tham gia trực tiếp vào công việc sản xuất các sản phẩm với người dân địa phương hoặc có thể sáng tạo, đưa các ý tưởng mới của mình vào sản phẩm, như các họa tiết trang trí, hay vẽ tên mình hay quốc k  lên sản phẩm đó, sử dụng ngôn ngữ, họa tiết đặc trưng của từng quốc gia, từng dân tộc để đưa vào từng sản phẩm rồi mỗi du khách sẽ mua luôn sản phẩm đó hoặc có thể giúp người dân có thêm nhiều ý tưởng mới trong công việc của họ. Đây cũng được xem như một ý tưởng mới, một nguồn tài nguyên du lịch mới cho ngành du lịch Việt Nam phát triển loại hình du lịch sáng tạo để tạo nên sự phong phú cho các sản phẩm du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Nghề mây tre đan. Cây tre, cây song và cây mây là đặc sản của xứ sở Việt Nam nhiệt đới. Ba loại cây này trở thành nguồn nguyên liệu vô tận của những người thợ thủ công làm hàng mây tre đan. Hàng mây tre đan Việt Nam đã có mặt ở Hội chợ Pari năm 1931. Đến nay, hơn 200 mặt hàng này đã đi khắp năm châu, được khách hàng ưa chuộng. Với bàn tay khéo léo của những người thợ, những thân cây tưởng như vô dụng đã trở thành những sản phẩm hữu dụng và có tính thẩm mỹ cao.

Nghề mây tre đan phát triển ở khắp các vùng trên cả nước nhưng nổi tiếng nhất phải kể đến: làng nghề mây tre đan ở Ninh Sở, Hà Nội; Phú Vinh (Chương Mỹ); Hoàng Đông (Hà Nam); Bình An, Phú Ninh (Quảng Nam)….

Cũng như các ngành thủ công truyền thống khác, khi du khách đến tham quan làng nghề mây tre đan họ có thể trực tiếp cùng tham gia với các nghệ nhân, hoặc có thể tham gia công việc trang trí màu sắc cho sản phẩm. Người dân sẽ vui vẻ hướng dẫn du khách cách làm các công đoạn ban đầu của sản phẩm, qua đó có sẽ có sự giao lưu về văn hóa để có thể hiểu biết thêm về đất nước và con người lẫn nhau, giúp du khách thích thú hơn với chuyến đi của mình, hoặc tạo cơ hội cho du khách chia sẽ những ý tưởng của mình để có thể giúp đỡ người dân địa phương trong việc đa dạng hoá sản phẩm của họ.

Nghề Sơn mài. Trên thế giới hiện nay nhiều nước làm hàng sơn mài, tuy nhiên chỉ có hàng sơn mài của nước ta được đánh giá cao có cây sơn Việt Nam trồng ở đất Phú Thọ là có giá trị nhất. Nhựa cây sơn Phú Thọ tốt hơn hẳn nhựa sơn trồng ở nơi khác. Chính vì vậy, hàng sơn mài Việt Nam đã nổi tiếng đẹp lại bền. Từ thế kỷ 18 nước ta đã hình thành làng nghề Sơn Mài đến nay nghề này đã phát triển nhiều nơi trong cả nước với kỹ thuật phát triển, bảng màu của sơn mài ngày càng phong phú, tạo cho sản phẩm sơn mài đẹp lộng lẫy và sâu thẳm.

Sản phẩm sơn mài hiện nay ở nước ta rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên một sản phẩm mang dấu ấn riêng, phong cách riêng hay sản phẩm thể hiện một ý tưởng, ghi dấu một kỷ niệm cho du khách hiện nay là điều còn thiếu vì vậy chúng ta hãy mạnh dạn tổ chức sản phẩm du lịch sáng tạo này đến với du khách càng sớm càng tốt. Chúng ta hãy tạo cơ hội cho họ được nói lên những yêu cầu của họ vào sản phẩm của mình trước khi họ mua sản phẩm đó, hoặc du khách trực tiếp vẽ những điều họ thích lên sản phẩm đó hoặc họ có thể sáng tạo thêm các chi tiết khác lạ lên sản phẩm.

Khảm trai, ốc. Người thợ khảm dùng những mảnh có vân ngũ sắc vỏ trai, vỏ hến, ốc biển để khảm (gắn) lên các đồ vật. Công việc của thợ khảm khá tỷ mỷ và qua nhiều công đoạn: Vẽ mẫu tranh, mài, cưa, đục mảnh, khảm (gắn) lên tranh rồi lại mài nhẵn và đánh bóng. Bức tranh khảm hiện lên trên mặt đồ vật với nhiều màu sắc lung linh. Từ chiếc hộp gỗ, cái khay, bàn cờ, mặt bàn, thành ghế, cánh tủ, bình phong, tranh treo tường… bằng gỗ đều có thể khảm trai.

Việt Nam với hơn 3.200km bờ biển, nguồn nguyên liệu của nghề khảm trai ở Việt Nam là vô tận. Hiện nay, có các làng nghề nổi tiếng như làng Chuyên Mỹ – Hà Nội; Vân Từ – Phú Xuyên… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Đây cũng là một nguồn tài nguyên du lịch còn bỏ ngõ, chúng ta chưa khái thác hết giá trị nhân văn của nó. Mua một món quà làm bằng vỏ động vật biển là một điều thú vị với bất k  du khách nào. Tuy nhiên sản phẩm đó mà do chính mình làm ra thì con tuyệt vời hơn. Vì vậy chúng ta cần phối hợp với các chủ cơ sở này để hai bên cộng tác với nhau và cùng giúp cho khách du lịch đến Việt Nam càng hài lòng hơn khi được trực tiếp tham gia vào công việc thiết kế sản xuất.

Chạm khắc đá. Từ những khối đá cẩm thạch, người thợ chạm khắc đá đã làm ra nhiều sản phẩm có giá trị như vòng đeo tay, gạt tàn thuốc lá, tượng phật, tượng thiếu nữ, hoa lá và cây cảnh, các con vật đáng yêu như mèo, chim công… Nghề chạm khắc đá có ở nhiều nơi nhưng nổi tiếng là ở Đà Nẵng. Dưới chân núi Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) là các làng Quan Khái, Hoà Khê, dân làng có nghề chạm khắc đá truyền thống hay ở Ninh Vân- Hoa Lư- Ninh Bình, Phụng Châu- Chương Mỹ; Núi Nhồi – Thanh Hóa….

Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng là một điểm tham quan rất nổi tiếng và rất thu hút du khách mỗi khi họ đến thành phố năng động nhất Miền Trung này. Và nghề chạm khắc đá là một nghề truyền thống lâu đời ở đây, hàng lưu niệm ở đây chủ yếu là làm từ đá non nước. Tuy nhiên chúng ta còn thấy sản phẩm lưu niệm ở đây còn rất hạn chế về mặt ý tưởng, các ý tưởng ở đây chủ yếu là về tín ngưỡng, phong cảnh đất nước, các món trang sức cho con người với sự giới hạn về văn hoá truyền thống. Vì vậy một sản phẩm mang dấu ấn văn hoá bên ngoài lãnh thổ Việt Nam là điều còn thiếu, vì vậy hãy tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người du khách quốc tế được có cơ hội để thể hiện ý tưởng của mình vào sản phẩm thủ công mỹ nghệ của mỗi địa phương.

Thêu ren. Nghề thêu ren có từ lâu đời, ở nhiều địa phương nhưng có lẽ bắt nguồn từ làng Quất Động (Hà Tây). Trong danh mục các tên phố cổ của Hà Nội có tên phố Hàng Thêu chuyên bán các đồ thêu và rất nhiều địa phương trong cả nước cũng phát triển nghề này trong đó nổi tiếng nhất là thuê tranh XQ Đà Lạt, làng Văn Lâm, Ninh Hải Ninh Bình…Những làng nghề này làm nên những sản phẩm hết sức đa dạng như: Hoa sen, hoa cúc, rồng phượng, đôi chim tùng hạc, đôi chim uyên ương, phong cảnh, chân dung… Tùy theo ý nghĩa của từng đồ dùng mà người thợ thêu chọn mẫu. Có loại mẫu thêu dành cho áo sơ mi, có loại mẫu thêu dành cho áo gối, có loại để thêu áo kimono, có loại để thêu khăn trải bàn, khăn phủ giường, tranh treo tường…

Với nghề thêu ren truyền thống này thì các làng nghề và các nghệ nhân có thể mở những lớp học thêu để dạy cho khách du lịch cách thêu, ren để họ có thể biết thêm về một công việc tỉ mỉ nhưng đầy tính nghệ thuật của làng nghề truyền thống Việt Nam.

Nghề kim hoàn. Từ thế kỷ thứ 2, người Việt Nam đã biết dùng vàng bạc để làm đồ trang sức. Trong nghề kim hoàn có ba nghề khác nhau nhưng liên quan mật thiết với nhau. Đó là: Nghề chạm: Chạm, trổ những hình vẽ, hoa văn trên mặt đồ vàng, đồ bạc. Nghề đậu: Kéo vàng, bạc (sau khi đã nấu chảy) thành sợi dài rồi uốn ghép thành những hình hoa, lá, chim muông, gắn lên các đồ trang sức. Nghề trơn: Chuyên đánh vàng, bạc thành những đồ trang sức mà không cần chạm trổ.

Các mặt hàng từ vàng, bạc rất đa dạng: Nhẫn, vòng, dây chuyền, hoa tai, bộ đồ ăn; bộ ly uống rượu, khung gương, hộp phấn, lược, chân cây nến… và đã được xuất khẩu đi nhiều nước. Nghề vàng được bắt nguồn từ làng Định Công (Hà Nội) và nghề bạc bắt nguồn từ làng Đồng Xâm (Thái Bình). Hà Nội ngày nay vẫn có phố Hàng Bạc, phố này từ xa xưa chuyên chế tác và mua bán vàng bạc. Ngày nay các cửa hiệu vàng bạc có ở khắp nơi trên đất nước.

Nghề đồ gỗ mỹ nghệ. Nghề làm đồ gỗ mỹ nghệ đã có ở Việt Nam từ lâu và đã đạt đến trình độ khá cao. Sau một thời gian mai một, từ đầu những năm 80, nghề làm đồ gỗ mỹ nghệ lại được phát triển mạnh mẽ vừa phục vụ nhu cầu trong nước, vừa để xuất khẩu. Nghề này phát triển mạnh nhất trong các nghề thủ công truyền thống nhưng hiện nay nổi tiếng nhất phải kể đến làng nghề Đồng Kỵ ở Bắc Ninh; Vân Hà – Đông Anh, Thiết Ứng – Hà Nội; Ý Yên – Nam Định, Mỹ Xuyên – Huế…

Nghề làm tranh nghệ thuật. sản xuất thủ công rất công phu và tỉ mỉ, điều đó làm nên độ “độc” và “đẹp” cho bức tranh. Hiện nay tại nước ta có rất nhiều làng nghề làm tranh nghệ thuật khác nhau như tranh đá quý, tranh phong thủy, tranh chân dung, tranh kính; tranh cát; tranh sơn mài; tranh thêu tay; tranh sơn dầu; tranh nghệ thuật thanh tre….

Dệt lụa và dệt thổ cẩm. Nghề này cũng khá phát triển với phương thức dệt thủ công truyền thống mà hiện này nổi tiếng nhất vẫn là dệt lụa từ tơ tằm ở làng Vạn Phúc – Hà Đông, Hội An, Huế. Đà Lạt và dệt thổ cẩm của đồng bào dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó, ở nước ta còn có rất nhiều các nghề thủ công truyền thống như nghề làm trống, đan lát, làm giấy, đúc đồng, sản xuất tàu thuyền, làm chiếu, trồng hoa cây cảnh, chế biến thực phẩm……Những làng nghề này làm nên tính đa dạng cho các nghề thủ công truyền thống của Việt Nam. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Tất cả các ngành nghề truyền thống nêu trên nếu như chúng ta mạnh dạn và quyết tâm thì chúng đều là những nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quý giá để phát triển loại hình du lịch sáng tạo ở Việt Nam trong tương lai gần.

2.2.1.2. Các nghề chế biến đồ ăn

Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn, nguyên lý pha trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọi người Việt trên đất nước Việt Nam. Tuy hầu như có ít nhiều có sự khác biệt, ẩm thực Việt Nam vẫn bao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổ biến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nhưng đã tương đối phổ thông trong cộng đồng người Việt. Ngoài ra trên lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung, Nam. Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định những đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng – miền. Mỗi miền có một nét, khẩu vị đặc trưng. Điều này vừa góp phần làm ẩm thực Việt Nam phong phú, đa dạng, vừa là cơ sở để tạo nên những làng nghề chế biến đồ ăn trên khắp đất nước với đặc trưng vùng miền khác nhau. Món ăn truyền thống của người Việt Nam luôn thu hút được khách du lịch, có thể kể ra như chả giò, phở, gỏi ngó sen, cá lóc nướng…

Tóm lại các làng nghề chế biến món ăn của Việt Nam đã tạo ra các món ăn Việt Nam được rất nhiều người nước ngoài yêu thích.

Chính vì sự đa dạng và phong phú của món ăn Việt Nam nên hiện nay chúng ta đang rất phát triển tour du lịch dạy học nấu ăn “Cooking class”

Tuy nhiên thông qua việc nghiên cứu thực tiễn tôi nhận thấy rằng hầu hết các du khách hiện nay khi tham gia vào tour học nấu ăn này thì công việc chính của họ chỉ dừng lại ở việc học hỏi và làm theo hướng dẫn của người đầu bếp từ những nguyên liệu và cung thức có sẵn chứ họ chưa có được cơ hội để thể hiện tài năng, ý tưởng sang tạo của họ vào món ăn Việt.

Hãy thay đổi quan điểm và tạo ra nhiều cơ hội hơn nữa cho những du khách này có thể tham gia trực tiếp vào việc sang tạo ra món ăn mới vừa kết hợp món ăn truyền thống của người Việt với món ăn truyền thống của họ

Hay việc trang trí món ăn bằng rau, củ, quả hay bong hoa, lá cây hãy để cho họ tự quyết định các ý tưởng riêng tư mang ý nghĩa của họ.

2.2.1.3. Ca múa nhạc Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Ca múa nhạc Việt Nam rất phong phú và đa dạng. Do các yếu tố về lịch sử nên nền âm nhạc, ca múa Việt Nam mang cả yếu tố bản địa và chịu ảnh hưởng của cả các nền âm nhạc bên ngoài. Cùng với các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản và Mông Cổ, âm nhạc Việt Nam chịu sự chi phối nhiều từ quốc gia láng giềng Trung Quốc. Tuy nhiên, với bề dày lịch sử và phong phú về văn hóa thì Việt Nam đã hình thành nên một nền ca múa nhạc, nhất là ca múa nhạc dân gian độc đáo, phong phú. Trong đó đã có rất nhiều loại hình nghệ thuật này được thế giới công nhận như Nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ Bắc Ninh…Bên cạnh đó, là hàng loạt các hình thức âm nhạc truyền thống khác ở các vùng miền khác nhau như hát Chèo, Cải lương, bài chòi, hò Ví Dặm, hát Dặm; Vọng Cổ, Đờn Ca Tài tử Nam Bộ, Cao Văn Lầu, nhạc lễ Nam Bộ, Ca trù, Xẩm…Đây là những hình thức ca múa nhạc truyền thống đặc sắc thể hiện được nét văn hóa đa dạng của đất nước và được nhiều du khách nước ngoài ưa thích.

2.2.1.4. Các tài nguyên khác

Bên cạnh những tài nguyên góp phần phát triển mạnh hoạt động du lịch sáng tạo như đã phân tích trên thì có có rất nhiều các điều kiện khác như:

Lễ hội: Bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, và bất cứ mùa nào cũng có những ngày lễ hội. Lễ hội là hoạt động sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra trên địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định nhằm nhắc lại những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử hay một huyền thoại, đồng thời là dịp để hiểu biết cách ứng xử văn hoá của con người với thiên nhiên thần thánh và con người với xã hội. Các lễ hội có sức hấp dẫn du khách không kém gì các di tích lịch sự văn hoá.   Ở nước ta “Lễ hội là kho tàng lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc. Lễ hội còn là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Việt. Chúng đã sống, đang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuốn hút và thuyết phục mạnh mẽ nhất.

Một số lễ hội lớn ảnh hưởng cả một vùng rộng lớn, thu hút  khách du lịch như lễ hội đền Hùng (Phú Thọ ), lễ hội chùa Bái Đính (Ninh Bình), lễ hội đền Trần (Nam Định), lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh), lễ hội Chùa Hương (Hà Tây), lễ hội bà chúa Xứ (An Giang), Lễ hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng).

Tiềm năng du lịch gắn với dân tộc học: Mỗi dân tộc trên lãnh thổ có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng. Và con người khi đi du lịch chính là đi tìm “những xúc cảm mới lạ” mà quê mình không có. Cảm xúc khác lạ đấy chính là những tập tục là về cư trú, thói quen ăn uống sinh hoạt, kiến trúc cổ, trang phục dân tộc.v.v… Việt Nam với đất nước của 54 dân tộc anh em cùng sinh sống sẽ tạo nên sự đa dạng, phong phú và hấp dẫn về văn hóa.

2.2.2. Con người của du lịch sáng tạo Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Để phát triển du lịch sáng tạo, ngoài những tài nguyên du lịch cần có như đã phân tích ở trên thì con người, nhất là những người tham gia vào các hoạt động du lịch càng có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó có thể kể đến:

2.2.2.1. Nghệ nhân

Có thể nhận thấy nghệ nhân thực chất cũng có thể coi là nghệ sĩ. Tuy nhiên, trên người Việt thường sử dụng từ nghệ nhân để chỉ những làm nghề thủ công mĩ nghệ và một số hình thái nghệ thuật biểu diễn truyền thống, như gốm, kim hoàn, tuồng, ca trù,… khi họ đạt tới một trình độ điêu luyện. Những nghệ nhân này có sự khác biệt với các nghệ sĩ là không học ở trường lớp nào cả, mà phần lớn là được truyền dạy ngay tại chính làng nghề của mình. Ví dụ trong văn hóa dân gian Ở Tây Nguyên thường gọi các nhóm đối tượng này là: Nghệ nhân Cồng chiêng, nghệ nhân Hát kể Sử thi, nghệ nhân dệt thổ cẩm, đan lát, trong đó chỉ tính riêng tại Lâm Đồng qua tổng kết 3 năm (2010 – 2013) thực hiện đề án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng, trên địa bàn tỉnh này đã có 59 nghệ nhân cồng chiêng người dân tộc Mạ, Cơho và Churu được cấp bằng công nhận là nghệ nhân. Hay nhắc đến Hát kể sử thi E Đê, M’nông thì người Tây Nguyên thường nhắc tới nghệ nhân Linh Nga Niê Kdam, đoàn nghệ nhân làng Đăk Vơt, Già làng A Thút, Đẩu Khâu….

Mới đây nhất, trong Fetival nghề truyền thống tại Huế là một dịp quan trọng để các nghệ nhân làng nghề truyền thống Việt Nam tụ họp để trình diễn những kỹ năng nghề nghiệp đặc biệt của mình như  nghệ nhân làng gốm Bát Tràng, làng Gốm Bầu Trúc, nghệ nhân dệt lụa Hội An, nghệ nhân đính hạt cườm A Lưới, nghệ nhân làng hoa giấy Thanh Tiến – Huế

Cũng nhờ những nghệ nhân này mà xã hội có nhiều cử nhân, tiến sĩ, thậm chí là giáo sư trong lĩnh vực Văn hóa đồng thời họ chính là những “báu vật sống” lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nghệ nhân là những tài năng sáng tạo, góp phần bổ sung, làm đẹp thêm truyền thống và bản sắc văn hóa cộng đồng, với vai trò then chốt trong việc giữ gìn, thực hành, truyền nghề, lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc trong những sản phẩm làng nghề. Cũng chính nghệ nhân là những người không ngừng hoàn thiện và phát triển kỹ thuật, công nghệ sáng tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đưa nhiều sản phẩm từ phục vụ đời sống một cách giản đơn thành những sản phẩm mỹ nghệ đặc sắc; mỗi sản phẩm từ đó mà trở thành một tác phẩm mỹ thuật… Và nghệ nhân chính là người giữ nghề, bảo đảm cho làng nghề tồn tại và phát triển bền vững.

Tuy nhiên hiện nay nước ta vẫn chưa coi trọng việc ghi nhận danh hiệu cho các nghệ nhân là một việc làm cấp thiết để trả ơn với những bậc thầy văn hóa cũng như chưa khai thác hết những giá trị mà những nghệ nhân này có thể mang lại không chỉ trong lĩnh vực hoạt động của họ và còn của hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch sáng tạo.

2.2.2.2. Nghệ sĩ Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Nghệ sĩ là người chuyên hoạt động (sáng tác hoặc biểu diễn) trong một bộ môn nghệ thuật. Nghệ sĩ là người sáng tạo ra loại hình nghệ thuật như vẽ, đồ họa, chạm khắc, chụp ảnh, làm mô hình, diễn kịch sân khấu về các ý tưởng và cảm xúc lành mạnh với văn hóa xã hội. Có thể nói, khái niệm nghệ sĩ gắn liền với khái niệm nghệ thuật. Vì vậy khái niệm nghệ sĩ phụ thuộc nhiều vào cách hiểu về nghệ thuật.

Hiện nay, ở nước ta nghệ sĩ tùy vào cống hiến và trình độ của mình được nhà nước gắn danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, ưu tú. Trong đó tính từ năm 1984 đến năm 2011 có 7 đợt phong tặng nghệ sĩ nhân dân với 266 người được phong tặng, đến năm 2014 phong tặng thêm 74 nghệ sĩ nâng tổng số nghệ sĩ nhân dân của nước ta lên 349 nghệ sĩ.

Chuyên gia là thuật ngữ chỉ về những người người được đào tạo theo hướng chuyên sâu có kinh nghiệm thực hành công việc và có kỹ năng thực tiễn, lý luận chuyên sâu về một lĩnh vực cụ thể hoặc có hiểu biết vượt trội so với mặt bằng kiến thức chung. Các chuyên gia có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua việc cho ý kiến, tham vấn) vào một công việc hay một lĩnh vực cụ thể. Một trong những đặc điểm quan trọng để nhận dạng chuyên gia so với các chuyên viên, đồng nghiệp thông thường là kỹ năng, nghề nghiệp vượt trội đồng nghiệp; trong công việc luôn cho kết quả chính xác; tinh thông nghiệp vụ, am tường về công việc đang làm. Với đội ngũ chuyên gia đông đảo như hiện nay của nước ta sẽ là một nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp cho sự phát triển các ngành kinh tế- xã hội trong cả nước.

2.2.3. Môi trường của du lịch sáng tạo

2.2.3.1. Làng nghề

Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm. Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ). Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công. Như vậy, làng nghề đã xuất hiện là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam.

Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Các làng nghề truyền thống hầu hết tập trung ở vùng châu thổ sông Hồng như Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định … Một số ít rải rác ở các vùng cao và châu thổ miền Trung và miền Nam. Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây. Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc phụ tranh thủ làm lúc nông nhàn, để chế tại những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhập ngoài nghề nông. Dần dà, các nghề thủ công được truyền bá giữa các gia đình thợ thủ công, dần được truyền ra lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau theo nguyên tắc truyền nghề. Và bởi những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng chiếu, làng lụa, làng chạm gỗ, làng đồ đồng…

Hiện nay, Việt Nam có hơn 2000 làng nghề, thuộc 11 nhóm ngành nghề khác nhau, trong đó gồm 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất (cả hộ kiêm), thu hút hơn 11 triệu lao động. Nhiều tỉnh có số lượng các làng nghề lớn như Hà Tây (cũ) với 280 làng nghề, Bắc Ninh (187), Hải Dương (65), Hưng Yên (48)… với hàng trăm ngành nghề khác nhau, phương thức sản xuất đa dạng. Tuy nhiên, sự phân bố và phát triển các làng nghề lại không đồng đều trong cả nước. Các làng nghề ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 70% số lượng các làng nghề trong cả nước (1594 làng nghề), trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng. Miền Trung có khoảng 111 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 300 làng nghề [Hiệp Hội làng nghề Việt Nam, 2009].

Hình 2.1. Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực

Trong thời gian gần đây, với sư phát triển mạnh mẽ của các làng nghề truyền thống cũng như nhu cầu bảo tồn và phát huy giá trị tuyền thống của dân tộc đã có rất nhiều các câu lạc bộ được hình thành để sinh hoạt và phát huy, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống. Những câu lạc bộ này xuất hiện ở nhiều làng nghề và các nhóm ngành thủ công truyền thống khác nhau. Bên cạnh những làng nghề tự phát thì Hiệp hội làng nghề Việt Nam cũng đã tổ chức Hội nghị tư vấn về việc thành lập Câu lạc bộ nghệ nhân thợ giỏi làng nghề Việt Nam. Tham dự hội nghị là các nghệ nhân tiêu biểu, đại diện các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống trong cả nước.

Hiện nay, cả nước có 145 nghệ nhân làng nghề Việt Nam, 238 nghệ nhân dân gian, và khoảng hơn 2000 nghệ nhân của các tỉnh. Đây là những con số đáng ghi nhận đối với ngành nghề thủ công truyền thống. Với mong muốn tạo sự đoàn kết, khối liên mình giữa các thế hệ nghệ nhân, tạo sức mạnh cho làng nghề, góp phần duy trì và bảo tồn sự phát triển của làng nghề, Hội nghị tư vấn chính là bước đi đầu tiên để chuẩn bị cho sự ra đời của Câu lạc bộ nghệ nhân làng nghề Việt Nam. Như đã phân tích ở trên thì nghệ nhân là những tài năng sáng tạo, góp phần bổ sung, làm đẹp thêm truyền thống và bản sắc văn hóa cộng đồng, với vai trò then chốt trong việc giữ gìn, thực hành, truyền nghề, lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc trong những sản phẩm làng nghề. Cũng chính nghệ nhân là những người không ngừng hoàn thiện và phát triển kỹ thuật, công nghệ sáng tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đưa nhiều sản phẩm từ phục vụ đời sống một cách giản đơn thành những sản phẩm mỹ nghệ đặc sắc; mỗi sản phẩm từ đó mà trở thành một tác phẩm mỹ thuật… Và nghệ nhân chính là người giữ nghề, bảo đảm cho làng nghề tồn tại và phát triển bền vững. Do đó, những nghệ nhân, nghệ sĩ này cũng cần có những tổ chức để hoạt động, trao đổi nghề nghiệp. Việc tập hợp được trí tuệ, đóng góp của các nghệ nhân thành một tổ chức hội để tạo nên sức mạnh, tiếng nói chung cho các lớp nghệ nhân, cho làng nghề là rất cần thiết. Đây sẽ là môi trường để các nghệ nhân giao lưu, học hỏi, hợp tác, giúp đỡ nhau trong sáng tác và bổ sung thêm kiến thức. Các cuộc gặp mặt, giao lưu sẽ làm tăng thêm nhiệt tình và sự tin tưởng của nghệ nhân trong việc giữ nghề và phát triển nghề truyền thống; tạo ra những mối liên kết giữa các thế hệ thợ nghề và giữa thế hệ trước với thế hệ sau, như một sự tiếp nối truyền thống.

2.2.3.3. Lớp học nghề  Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Về các lớp học nghề truyền thống ở nước ta hiện nay thì còn có nhiều hạn chế do chúng ta chưa hình thành nên một hệ thống các lớp học nghề chuyên nghiệp hay có hệ thống mà hiện chỉ dừng lại ở các lớp dạy nghề do chính các nghệ nhân trong từng làng nghề mở để truyền nghề cho con cháu, hoặc do các doanh nghiệp mở để đào tạo công nhân của mình. Còn trên bình diện xã hội thì các lớp học nghề này cũng chưa mấy phát triển, trong trường phổ thông chỉ có các lớp hướng nghiệp dậy nghề mà chưa có dậy nghề thực thụ, hoặc một số lớp được mở ra nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội như lớp học nấu ăn, cắm hoa nghệ thuật, lớp học múa, hát, thêu, may….

Có thể kể đến một số lớp học nghề nổi tiếng hiện nay tập trung tại một số địa phương mà điển hình là Hà Nội như lớp học ca trù của Giáo phường Ca trù Thăng Long – Chủ nhiệm là ca nương Phạm Thị Huệ cùng nhiều danh cầm, danh ca là nơi tụ hội và được nhiều người yêu âm nhạc dân tộc. Lớp học được mở ra với niềm mong mỏi đưa ca trù thực sự trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu và là nơi giới thiệu văn hóa bản địa tới du khách trong nước và quốc tế. Đồng thời để cùng thế hệ trẻ chia sẻ niềm đam mê âm nhạc truyền thống, duy trì, phát triển âm nhạc truyền thống Việt. Ở lớp học này, học viên không chỉ học cách hát mà còn học cách sử dụng cỗ phách, một trong những nhạc cụ độc đáo của Di sản Ca trù.

Hãy cùng Ca trù Thăng Long khám phá Nghệ thuật ca trù đặc sắc, độc đáo.

Bên cạnh đó, là các lớp học nấu ăn như Ở Hà Nội hiện nay có nhiều điểm dạy nấu ăn cho người nước ngoài như: nhà hàng Spices Garden của Sofitel Legend Metropole Hà Nội, trường Hoa Sữa, nhà hàng Ánh Tuyết, nhà hàng Highway 4, Hanoi Cooking centre, Old Hanoi Restaurant Cooking Class, Hidden Hanoi Vietnamese Language, Cultural & Culinary Center… Tuy nhiên, hầu hết các điểm này đến thời điểm hiện nay đều có quy mô tương đối nhỏ, chưa khai thác được hết tinh hoa của ẩm thực Hà Nội cũng như chưa quảng bá được đến với nhiều du khách. Còn ở Hội An, những lớp dạy nấu ăn tại Hội An được tổ chức ở nhiều nơi trong phố cổ: đầu tiên là Nhà hàng Morning Glory (106 đường Nguyễn Thái Học), nơi du khách sẽ được học đầy đủ nhất về các món ăn đường phố của Hội An, đặc biệt là khám phá những bí quyết để làm món bánh xèo trứ danh; kế tiếp là tại Nhà hàng Cầu Đỏ (ở thôn 4, xã Cẩm Thạnh) rồi Nhà hàng Green Bamboo (đường Trương Minh Hùng, phường Cẩm An), nơi du khách được đầu bếp của nhà hàng hướng dẫn nấu các món ăn ngay trong bếp ăn của gia đình bà, điều này đã tạo cho du khách cảm giác như trong một gia đình thực sự, nơi bạn được chào đón như những người thân được quý mến nhất”. Nhưng đáng chú ý nhất là lớp dạy nấu ăn được tổ chức ngay tại vườn rau Trà Quế – một điểm đến không thể thiếu ở Hội An, nơi du khách tự trồng rau theo kiểu dân địa phương và còn có thể trải nghiệm mát-xa chân với các loại thảo dược được trồng tại vườn.

Ngoài ra, tại các làng nghề và các câu lạc bộ nghệ thuật truyền thống đều mở các lớp học nghề để lưu giữ những nét văn hóa truyền thống dân tộc như lớp học Trống quân ở Thuận Thành- Bắc Ninh, lớp học hát quan họ ở Làng Lim Bắc Ninh, lớp học thêu ren ở làng thêu Quất Động – Thường Tín….

2.2.4. Sản phẩm của du lịch sáng tạo Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

2.2.4.1. Sản phẩm vật thể  

Sản phẩm vật thể ở đây được hiểu là những sản phẩm cụ thể mà khách du lịch khi tham gia vào các tour du lịch sáng tạo có thể tự mình trải nghiệm và làm ra những sản phẩm sáng tạo mang tính độc đáo của riêng mình.

Ở Việt Nam với hệ thống khoảng 2017 làng nghề, thuộc 11 nhóm ngành nghề khác nhau đã tạo ra rất nhiều các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sản phẩm phục vụ đời sống khác nhau của người dân, chính những sản phẩm của các làng nghề này sẽ là những sản phẩm vật thể để khách du lịch có thể thể hiện sự sáng tạo của mình khi tham gia vào các tour du lịch sáng tạo.

Trong vô vàn những sản phẩm của các làng nghề truyền thống khác nhau thì chúng ta có thể thấy một số sản phẩm hiện nay được khách du lịch ưa chuộng đó chính là các sản phẩm gốm. Các sản phẩm làm từ gốm thì hết sức đa dạng và phong phú, mỗi làng gốm sẽ có những sản phẩm đặc trưng, cách thức làm sản phẩm cũng như hoa văn, mầu men khác nhau, không có nơi nào giống nơi nào. Điều này tạo nên sự đa dạng và gây sự thích thú cho du khách khi đến tham quan các làng gốm. Một du khách thích các sản phẩm gốm nhưng nếu họ đến thăm làng Gốm Bát Tràng họ có thể làm được các sản phẩm gia dụng từ gốm với mầu men Ngọc, men rạn, nhưng nếu họ đến làng Gốm Bầu Trúc, làng gốm Chu Đậu thì họ lại được làm các sản phẩm với cách thức khác và sản phẩm khác nhau.

Bên cạnh những sản phẩm của làng gốm thì có sản phẩm của các nghề thêu ren, dệt vải, dệ lụa. Đây là những sản phẩm thủ công có giá trị nghệ thuật cao của nhiều làng nghề truyền thống Việt Nam. Tại các làng nghề này, khách du lịch có thể tự tay thêu, hoặc dệt nên những tấm lụa từ tơ tằm, hay dệt khăn, túi từ thổ cẩm, sợi đay hoặc thêu được những bức tranh, khăn tay tại các làng nghề thêu ren. Tại Việt Nam, mỗi làng nghề truyền thống đều có những sản phẩm thêu, ren, dệt đặc trưng của mình. Ví dụ đến với làng Vạn Phúc – Hà Đông, Hội An khách du lịch có thể tham gia xe tơ, dệt lụa, nhuộm màu cho các tấm vải lụa. Hay đến với Đà Lạt, Ninh Vân (Ninh Bình), Quất Động ( Hà Nội) khách có thể học và làm các sản phẩm thêu ren…

Đến các làng nghề mây tre đan khách du lịch có thể tham gia học và làm các sản phẩm liên quan đến mây tre như các sản phẩm gia dụng như rổ, rá, quạt nan, đến các vật dụng trang trí như chuồn chuồn tre, lồng đèn, tranh tre hay các sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao như bàn ghề, tủ, giường bằng mây, tre….Hay đến các làng nghề sơn mài, khảm trai, khảm bạc thì khách du lịch có thể tham gia làm các sản phẩm tranh khảm trai, đồ lưu niệm bằng sơn mài, đồ bạc, đồ đồng…

2.2.4.2. Sản phẩm phi vật thể Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Cũng tương tự như sản phẩm vật thể, sản phẩm văn hóa phi vật thể ở nước ta khá đa dạng và phong phú. Dựa trên sự đa dạng về văn hóa và truyền thống thì chúng ta có rất nhiều các sản phẩm phi vật thể có thể khai thác phục vụ nhu cầu du lịch sáng tạo. Có thể nói các sản phẩm phi vật để của các làng nghề truyền thống Việt Nam là hết sức đa dạng và phong phú, từng loại sản phẩm khác nhau thì khách du lịch có thể trực tiếp học hỏi và tự tay làm ra những những sản phẩm riêng biệt theo ý tưởng của mình. Đây là điều đặc biệt hứng thú với rất nhiều khách du lịch tham gia vào các sản phẩm du lịch sáng tạo. Ví dụ trước đây, khi du khách yêu thích nghệ thuật múa rối thì chỉ có thể đến xem các chương trình biểu diến múa rối nước, múa rối cạn do các phường rối tổ chức nhưng hiện nay khách du lịch có thể được học và biểu diễn.

Như vậy, với một hệ thống dầy đặc các sản phẩm văn hóa phi vật thể cả ở tầm quốc gia và nhân loại được phân bố khắp các vùng trên cả nước với đa dạng nhiều loại hình khác nhau có thể thấy được sự phong phú, đa dạng của các sản phẩm phi vật thể của đất nước ta. Cùng với các sản phẩm vật thể khác và hướng đi sáng tạo, đây sẽ là điểm mạnh, con át chủ bài trong chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam trong tương lai.

2.3. Cầu du lịch sáng tạo

Để xác định được điều kiện để phát triển du lịch sáng tạo thì việc đánh giá nhu cầu cũng như khả năng chi trả của khách du lịch về các hoạt động, sản phẩm du lịch sáng tạo hiện nay như thế nào là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Để trả lời cho câu trả lời này, trong điều kiện cho phép chúng tôi tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi để có thể xác định được có nhu cầu cơ bản của khách du lịch về hoạt động du lịch sáng tạo tại một số địa phương có đông khách du lịch, nhất là du khách quốc tế như khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Khánh Hòa, Bình Thuận và một số tỉnh khác.

Đối tượng khảo sát tập trung nhiều vào khách du lịch quốc tế với sự đa dạng về quốc tịch, độ tuổi, thu nhập. Cụ thể là chúng tôi tiến hành tiếp xúc với các khách du lịch (tuổi từ 16 đến 60) ở tại các khách sạn ở các mức phân hạng khác nhau và các điểm du lịch của các địa phương. Để tránh hiện tượng trùng lắp, vào từng thời điểm chúng tôi chức điều tra ở một vài địa điểm nhất định. Ngoài ra, với mục đích thu thập các thông tin rộng rãi, chúng tôi cũng tiếp xúc điều tra với một số người nước ngoài hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam. Đây là những người nước ngoài có trình độ học vấn cao, có thời gian ở Việt Nam tương đối dài nên có cái nhìn sâu hơn về Việt Nam.

Thời gian khảo sát tiến hành trong khoảng 1 tháng. Số phiếu được thực hiện và đưa vào  xử lý là: 250 phiếu. Tuy nhiên có rất nhiều phiếu du khách không trả lời đầy đủ bảng hỏi, mà chỉ trả lời một số câu hỏi trong bảng hỏi.

Dựa trên kết quả phiếu điều tra cho thấy có tổng số 138 phiếu trong tổng số 250 phiếu trả lời về độ tuổi của mình. Và có sự khá đồng đều giữa các lứa tuổi khác nhau. Trong đó lứa tuổi cao nhất là trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 27,54% và tỷ lệ thấp nhất là ở độ tuổi trẻ nhất là từ 16-25 tuổi. Điều này hoàn toàn phù hợp ,với độ tuổi của khách đi du lịch thông thường. Còn các độ tuổi còn lại là 26-39 và 40- 60 chiếm tỷ lệ bằng nhau là 25,36%.

Bảng 2.2. Bảng cơ cấu giới tính Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Về cơ cấu giới tính có tổng số 250 số phiếu trả lời. Trong đó Nam là 104 người chiếm 42%, còn lại là 146 Nữ chiếm 58%. Như vậy, có thể thấy tỷ lệ nữ du khách lớn hơn nhưng không có sự chênh lệch lớn giữa Nam – Nữ.

Trong tổng số 250 trả lời thì chỉ có 72 phiếu có cấu trả lời về trình độ học vấn của khách du lịch. Trong đó số khách du lịch có trình độ trừ trung học phổ thông trở xuống chiếm tỷ lệ lớn nhất là 50%, còn lại trình độ trên đại học và đại học/ cao đẳng tương đương nhau lần lượt là 24% và 26%.

Trong tổng số 250 phiếu trả lời thì có 79 khách du lịch đến từ các quốc gia Châu Âu chiếm 34%, tiếp đến là thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản chiếm vị trí thứ 2 với 62 người chiếm 26%. Thị trường các quốc gia Châu Á chiếm vị trí thứ 3 với 56 người chiếm 24%, còn lại là thị trường Úc và một số thị trường khác chiếm lần lượt 9% và 7%. Đặc biệt, trong điều tra này không có khách du lịch nào đến từ quốc gia Bắc Mỹ, Tây và Nam Âu. Như vậy, qua cơ cấu này có thể thấy thị trường khách của Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng vẫn là thị trường truyền thống chủ yếu là các quốc gia Châu Âu và Đông Á.

Về nghề nghiệp của khách du lịch thì số khách du lịch là dân kinh doanh, những người đi du lịch để tìm kiếm cơ hội làm ăn là đông nhất 88/250 người chiếm tỷ lệ 31%, tiếp đến là học sinh sinh viên là 28%, khách du lịch đã về hưu chiếm vi trí thứ 3 với 22%, kế đến là giáo viên, nhà nghiên cứu chiếm 19%. Như vậy, có thể thấy đối tượng đi du lịch sáng Việt Nam phần lớn là những người có trình độ, sang du lịch với mục đích tìm kiếm cơ hội đầu tư, làm ăn, học tập và nghiên cứu, số còn lại là những người nghỉ hưu thì đi thăm quan, nghỉ dưỡng.

Về nhu cầu tham gia các sản phẩm du lịch sáng tạo 

Về nhu cầu tham gia các sản phẩm du lịch sáng tạo, thì trong câu hỏi “Trong chuyến du lịch sang Việt Nam, quý vị muốn học gì?” thì có tới  42,38 %  du khách trả lời là muốn học một nghề thủ công truyền thống và 49,62% số du khách muốn học nấu món ăn Việt Nam, có 8% du khách không quan tâm việc này. Như vậy, có thể thấy tỷ lệ khách du lịch muốn tham gia học hỏi và trải nghiệm qua các sản phẩm du lịch sáng tạo của chúng ta là rất lớn.

Về khả năng chi trả cho du lịch sáng tạo

Về kết hợp du lịch với học nghề truyền thống thì khách du lịch có thể chi trả bao nhiêu tiền một ngày thì số người trả 50USD/ ngày là khá cao 181/250 người chiếm 72.4%, còn số người chi trả ở mức 100USD/ ngày 28 người/250 người chiếm 11.2%. Còn lại số người chọn ở mức 30USD/ ngày là 12% còn số chọn 150USD/ ngày chỉ có 11 người chiếm 4.4.%.

Về thời gian tham gia du lịch sáng tạo

Về thời gian tham gia các sản phẩm du lịch thì thời gian 1 tuần là thời gian được nhiều khách du lịch lựa chọn nhất với tỷ lệ 75%. Đây cũng là mức thời gian hoàn toàn hợp lý.

Tóm lại, thông qua việc khảo sát nhu cầu của khách du lịch về các sản phẩm du lịch sáng tạo tại Việt Nam, chúng ta có thể thấy nhu cầu về các sản phẩm du lịch sáng tạo là rất lớn và hoàn toàn có cơ sở để phát triển loại hình sản phẩm du lịch này trong tương lai.

2.4. Một số sản phẩm du lịch sáng tạo tại Việt Nam  Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Du lịch sáng tạo mặc dù là loại hình du lịch mới xuất hiện ở Việt Nam nhưng đã chứng tỏ được những lợi thế phát triển của mình. Điều này được minh chứng qua hàng loạt các sản phẩm du lịch sáng tạo được ngành du lịch tại các địa phương đưa vào khai thác trong thời gian qua.

Trước hết, phải kể đến các sản phẩm du lịch sáng tạo liên quan đến ẩm thực Việt Nam.

Du khách đến với Việt Nam, tìm hiểu văn hóa Việt Nam nếu bỏ qua ẩm thực Việt Nam thì quả thực đó là một sự thiếu sót trong cuộc hành trình văn hóa. Để tìm hiểu về ẩm thực Việt Nam, không chỉ đơn giản là đến nhà hàng thưởng thức các món ăn như trước nay vẫn làm mà hiện nay đến với ẩm thực Việt Nam là du khách sẽ được biết đến các lớp dạy nấu ăn, du khách không chỉ hiểu biết về ẩm thực Việt Nam nói chung mà còn có được những trải nghiệm khó quên trong qua trình học và thực hành chế biến.

Thành công nhất trong sản phẩm du lịch dạy nấu ăn cho khách ở Hà Nội phải kể đến khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội. Đây là loại hình dịch vụ bổ sung đặc trưng riêng mà khách hàng không thể tìm thấy tại các khách sạn khác trên địa bàn Hà Nội. Dịch vụ này của khách sạn ra đời vào năm 1996 dưới thời tổng giám đốc Gilles Cretallar – người luôn quan tâm chú trọng phát triển hoạt động kinh doanh các sản phẩm ẩm thực tại khách sạn. Đây cũng là dịch vụ góp phần khẳng định tên tuổi của khách sạn này. Dịch vụ đã thu hút rất nhiều khách có nhu cầu học nội trợ và thích tìm hiểu về ẩm thực Việt Nam. Khách hàng – học viên đăng ký loại hình lớp học nấu ăn thông qua bộ phận “Concierge”. Các sản phẩm đưa ra để dạy học viên rất đa dạng bao gồm món chính và món khai vị đậm đà chất Việt. Món khai vị bao gồm: nộm hoa chuối, nem rán Hà Nội. Các món chính gồm có: ngọn bí xào tỏi, cá quả hấp bia và rau gia vị, gà nướng lá chanh, thịt lợn nướng ống tre… Bên cạnh đó, khách sẽ được tự mình lựa chọn một trong ba chương trình học đã được các đầu bếp soạn sẵn.

Chương trình 1: “Khám phá hương vị địa phương”. Chỉ với 100USD, khách hàng được tham gia một lớp học từ 10h00 sáng cho tới 14h00. Bắt đầu là việc gặp gỡ đầu bếp và cùng đi chợ với đầu bếp bằng xích lô – các học viên được đóng vai người nội trợ và khám phá từng loại hương liệu truyền thống của người Việt. Sau đó các học viên quay trở lại khách sạn chế biến thực phẩm và kết thúc bằng việc thưởng thức các món ăn do chính tay mình nấu tại nhà hàng Spices Garden.

Chương trình 2: “Niềm đam mê của những người sành ăn”. Cũng chỉ với 100USD, khách được tham gia một lớp học nấu ăn tương tự như chương trình 1, tuy nhiên lớp học này phục vụ cho những học viên có thời gian rảnh rỗi từ 15h00 tới 21h00 và học viên sẽ được thưởng thức bữa tối tại nhà hàng Spices Garden.  Chương trình 3: “Cuộc hành trình tìm hiểu nội trợ Việt”. Từ 8h30 sáng, các học viên được đưa đi khám phá chợ quê Đình Bảng với món bánh “phu thê” nổi tiếng của ngôi làng cổ Bắc Ninh. Sau đó các học viên trở về thưởng thức bữa trưa tại nhà hàng Spices Garden và bắt đầu thực hành việc học nấu ăn, thưởng thức những thành quả lao động của mình từ 14h30 tới 16h00. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Khi tham gia các chương trình học trên, khách hàng sẽ có những trải nghiệm khó quên về công việc bếp núc của người Việt. Đồng thời, những lớp học nấu ăn tại khách sạn Metropole và các cơ sở khác không chỉ đem lại hiệu quả về kinh tế mà còn góp phần đưa văn hóa ẩm thực của Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Đây là một hướng đi đầy tính sáng tạo cho ngành du lịch Việt Nam nói chung và cũng là để khai thác hết tiềm năng về văn hóa ẩm thực của Việt Nam.   Bên cạnh Hà Nội, thì Hội An cũng đang tích cực khai thác các sản phẩm sáng tạo liên quan đến ẩm thực truyền thống của mình. Sách kim chỉ nam du lịch Lonely Planet đã xếp dịch vụ dạy nấu ăn ở Hội An trong Top 10 những trải nghiệm du lịch đặc biệt trên thế giới, bên cạnh các hoạt động: lướt sóng ở Hawaii (Mỹ), tập yoga tại Rishikesh (Ấn Độ),…Học thư pháp tại Kyoto (Nhật), tập kung fu tại chùa Thiếu Lâm (Trung Quốc), học tiếng Tây Ban Nha ở Patagonia (Argentina)… Như vậy, với sự xếp hạng này có thể thấy sản phẩm du lịch nấu ăn là một sáng tạo độc đáo của Hội An. Sản phẩm này sẽ tạo cơ hội cho khách hàng có những trải nghiệm tuyệt vời với cơ hội đi chợ tự chọn nguyên liệu, gia vị… rồi tự nấu món ăn. Các lớp dậy nấu ăn cho du khách thường được tổ chức trong khu vườn êm ả hay trong các ngôi nhà cổ; những đặc sản địa phương độc đáo mà không nơi nào có được bên cạnh những món đặc trưng của ẩm thực Việt như phở, bún bò…. Tại đây, học viên được hướng dẫn đi chợ Hội An, nơi người bán hàng hết sức thân thiện đồng thời các nguyên vật liệu để chế biến món ăn luôn tươi ngon, và phải kể đến sự tận tâm cùng tay nghề giỏi của những đầu bếp – giáo viên.  Với rất nhiều du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài thì lớp dạy nấu ăn ở Hội An là một kinh nghiệm du lịch có một không hai. Một số du khách cho biết: “Trước hết, họ được ra chợ và đầu bếp giải thích các loại rau trái lạ lùng của địa phương – tất cả được dùng để nấu ăn. Từ chợ về, du khách vào lớp học, nơi họ được trang bị tạp dề và mũ đội đầu màu trắng. Mê nấu ăn nhưng sau vài chuyến du hành không gắn với bếp núc, giờ đây một số du khách thực sự thích thú chuẩn bị các loại rau để làm các món ăn đặc trưng của Hội An.

Nhìn chung, những lớp nấu ăn dành cho khách du lịch thường được tổ chức tại nhà hàng, khách sạn và một số trung tâm dạy nấu ăn. Du khách thường được đón tại khách sạn vào buổi sáng và buổi học nấu ăn bắt đầu với việc đi chợ chọn mua nguyên liệu. Đi chợ ngắm nghía tham quan và nắm bắt nhịp sống của cư dân địa phương đã rất thú vị, lại còn được bếp trưởng đích thân hướng dẫn cách chọn thịt cá rau tươi ngon, giá cả phải chăng, khiến du khách nào cũng thích thú.  Ngoài những lớp học nấu ăn tại các khách sạn, trung tâm, lớp dậy nấu ăn cho du khách thì thời gian gần đây hình thức home cooking (nấu ăn tại nhà dân) rất hấp dẫn các gia đình và du khách đứng tuổi. Không chỉ trải nghiệm không khí chuẩn bị bữa ăn trong gia đình Việt, du khách còn được giao lưu với người dân địa phương và nghe họ chia sẻ kinh nghiệm nấu các món ăn…

Thứ hai, là các sản phẩm du lịch sáng tạo liên quan đến các làng nghề thủ công truyền thống.

Việt Nam có hơn 2000 làng nghề; trong đó có 400 làng nghề truyền thống gồm 53 nhóm nghề làm ra khoảng 200 loại sản phẩm thủ công khác nhau, trong đó nhiều sản phẩm nghề có lịch sử phát triển hàng mấy trăm năm. Tiềm năng là vậy nhưng khách đến làng nghề vẫn rất ít dù đã có khá nhiều chương trình tour giới thiệu. Ở nhiều địa phương, mặc dù đã có chủ trương từ cấp quản lý gắn làng nghề với phát triển du lịch các làng nghề cũng đã có định hướng phát triển du lịch, thậm chí có tên trong sản phẩm tour của các hãng lữ hành, song vẫn chưa có biến chuyển tích cực. Bởi lẽ, hiện nay hình thức du lịch này thường được biết đến với hình thức thăm quan làng nghề thủ công, mỹ nghệ và phát triển sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm đồ lưu niệm là chủ yếu. Nghĩa là, hiện này các làng nghề chỉ là nơi để khách du lịch đến thăm quan nơi sản xuất ra các sản phẩm nổi tiếng được biết đến trên thị trường mà chưa được khai thác ở các khía cạnh không gian văn hóa. Các hoạt động nhằm giúp du khách có được các trải nghiệm thực tế về việc sản xuất ra các sản phẩm thủ công, mỹ nghệ đó cũng chưa được quan tâm đúng mức để khai thác được hết giá trị của các làng nghề truyền thống của nước ta.

Hiện nay, chủ yếu du lịch các làng nghề mới chỉ dừng lại ở việc tham quan, ngắm nhìn, mua các sản phẩm lưu niệm, nhưng vượt qua “lối mòn” đó của làng nghề truyền thống thì đã có một số làng nghề mạnh dạn, sáng tạo xây dựng các sản phẩm du lịch mới, giúp khách du lịch được cùng sống, cùng làm và cùng trải nghiệm công việc thủ công của người thợ thủ công, của làng nghề thủ công. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Ở miền Bắc, nối tiếng nhất phải kể đến làng Gốm Bát Tràng- Hà Nội thực sự đã có sự đổi mới trong việc xây dựng các sản phẩm du lịch. Trước đây, nhắc đến Bát Tràng là khiến chúng ta liên tưởng đến vài chiếc xe trâu lững thững đưa khách du lịch đi thăm làng gốm cổ, những lò nung đỏ lửa và cả khu chợ gốm sầm uất nhưng đến nay Bát Tràng lại nổi tiếng bởi sản phẩm du lịch sáng tạo là “chơi gốm” hoặc “chơi với đất”, những sản phẩm du lịch này không chỉ giúp cho khách du lịch thấy được những giá trị truyền thống, lịch sử của làng nghề mà còn được  trực tiếp, tự tay làm ra những sản phẩm gốm của riêng mình. Khi tới đây ngoài mục đích mua sắm, khách du lịch còn muốn tìm hiểu các công đoạn sản xuất. Vì vậy mà họ tìm tới tận các xưởng gốm để được làm quen với các công nghệ sản xuất và đặc biệt tại đây khách du lịch có thể tự làm sản phẩm cho chính mình.

Ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài và các bạn trẻ chọn Bát Tràng là điểm đến cho ngày nghỉ cuối tuần bởi dịch vụ “chơi gốm” ở đây.Khách đến chơi gốm, dù quần áo lấm lem, dù chân tay nhem nhuốc sau khi tự tay làm sản phẩm của mình, có dịp được trải nghiệm với các công đoạn làm gốm truyền thống này. Và còn gì thú vị khi sau buổi đi chơi, bạn có thể mang về một tác phẩm do chính tay mình làm để dành tặng cho người thân.

Bên cạnh nghề Gốm thì ở rất nhiều làng quê của Việt Nam có nghề thuê ren truyền thống, trong đó phải kể đến làng nghề thuê ren Văn Lâm (xã Ninh Hải, Hoa Lư). Đây là một làng nghề thêu ren truyền thống qua nhiều đời và trở thành “vương quốc của thêu ren” với lịch sử trên 700 năm. Với tuổi đời của mình, đến nay Văn Lâm đã trở thành một làng nghề lớn mạnh, luôn được bảo tồn và phát huy. Đồng thời Văn Lâm đang kết hợp hài hoà giữa làng nghề và du lịch, nồng nhiệt đón chào du khách thập phương. Đến với Văn Lâm, du khách sẽ có một sự hiểu biết cụ thể hơn với những sản phẩm đẹp đẽ mà mình sử dụng. Hoặc du khách có thể chọn hình thức trải nghiệm để trở thành một người thợ thêu ren của làng nghề bằng cách có thể lưu lại nghỉ ngơi sinh hoạt cùng với những người thợ nghề. Du khách sẽ khám phá những nét tinh xảo của người thợ, hiểu được những hình ảnh văn hóa đậm nét được truyền tải vào mỗi sản phẩm là tâm hồn, là cuộc sống và con người đất Việt. Bằng những sợi chỉ mảnh mai, cùng những miếng vải đủ mọi sắc màu, với đôi bàn tay vàng, người thêu ren đã tạo nên những tác phẩm nghệ thụât khéo léo. Ở lại làng Văn Lâm, du khách sẽ hoà nhịp vào cuộc sống sinh hoạt của người dân vùng quê Việt Nam chất phác, thuần hậu, thân thiện; được ngủ trên những chiếc giường tre làm từ cây tre Việt Nam đã gắn bó bao đời nay.Với du khách nước ngoài sẽ có một điều khá thú vị khi đến nơi này vì người dân Văn Lâm đang tiến tới mỗi nhà sẽ có một người hiểu và nói được ngôn ngữ của du khách. Và với môi trường trong lành, không khí thanh bình, êm ả, thoáng mát của một vùng nông thôn tươi đẹp, du khách sẽ không phải bận lòng vì sự an toàn của bản thân vì nơi đây môi trường an ninh được đảm bảo.

Thứ ba, phải kể đến các sản phẩm du lịch sáng tạo liên quan đến miền quê, vùng núi và nông nghiệp.

Du lịch nông nghiệp trên thế giới rất được coi trọng vì đã chứng minh được sự đóng góp to lớn không những về mặt kinh tế mà còn về các mặt xã hội, bảo vệ môi trường gốc rễ về tự nhiên, văn hóa và lịch sử. Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa các nước đều dùng giải pháp này để giảm thiểu khoảng cách bất công giàu nghèo về khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn khi chỉ chú trọng thái quá đến sự phát triển bất động sản đô thị và xây dựng các khu công nghiệp .Thực chất đây là một hình thức phát triển mối giao hòa về mặt tự nhiên, văn hóa và con người giữa các đô thị và nông thôn thông qua việc đến ở (homestay) hoặc tham quan có mục đích nhằm hưởng thụ các sản vật địa phương tại từng nông hộ gia đình hoặc trang trại hay sự trải nghiệm thực tế các công việc của người nông dân như cấy lúa, trồng cây, đánh bắt thủy hải sản. Bên cạnh đó còn được thưởng ngoạn các danh lam thắng cảnh và tham gia văn hóa đồng quê nên du lịch nông nghiệp đã được khẳng định là một hình thức du lịch mang tính cộng đồng bình đẳng và bền vững. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, có khá nhiều điều kiện để phát triển nền kinh tế nông nghiệp và đã thành công trên nhiều lĩnh vực nông nghiệp như xuất khẩu nông sản, thủy hải sản, trồng trọt còn việc khai thác các lợi thế nông nghiệp cho phát triển du lịch vẫn còn hạn chế, hiện nay mới chỉ phát triển du lịch sinh thái tại một số khu vực, trạng trại nông nghiệp, vườn cây ăn trái chứ chưa có nhiều sản phẩm du lịch sáng tạo trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, hiện nay để khai thác ưu thế vốn có của ngành nông nghiệp nước nhà, một số địa phương trong cả nước đã có sự sáng tạo trong việc xây dựng các sản phẩm du lịch gắn liền với các hoạt động nông nghiệp của vùng miền mình. Đi tiên phong trong việc phát triển các sản phẩm sáng tạo này tại nước ta phải kể đến Ba Vì – Hà Nội; Hội An, An Giang, và một số tỉnh miền núi phía Bắc, một số tỉnh miền Trung…

Miền Bắc vốn là nơi có nền nông nghiệp phát triển lâu đời nhất nên cũng là nơi có nhiều “chất liệu nông nghiệp” để xây dựng các sản phẩm du lịch nông nghiệp nổi tiếng như mô hình du lịch nông nghiệp tại Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, Ninh Bình – làng quê đặc trưng vùng Đồng bằng Bắc Bộ, có “cây đa bến nước mái đình”. Trên chiếc xe trâu, du khách sẽ được ghé thăm các thôn, làng, viếng các đình chùa, nghe hát chèo, được sinh hoạt cùng người dân bản địa, cùng nông dân ra đồng mò cua, bắt ốc, gặt lúa, tắm giếng, cùng nấu nướng và thưởng thức bữa cơm trưa đạm bạc, ngủ trên chiếc chõng tre.

Hay đến với Ba Vì Hà Nội, du khách có thể được trải nghiệm công việc và cuộc sống nhà nông tại trang trại đồng quê Ba Vì hay có thể tham gia khá phá một loại hình du lịch mới: Du lịch cộng đồng – Homestay người Mường. Tại đây, du khách được tận mắt xem kết cấu bản, làng, xóm và những ngôi nhà sàn xinh nép dưới rừng cây, bóng núi. Hoặc tham gia Tết nhảy của người Dao. Tết nhảy là một nét đẹp văn hóa truyền thống và cũng là lễ hội nhảy múa rộn nhịp, náo nhiệt nhất của người Dao.

Đặc biệt, tại làng cổ Đường Lâm với sản phẩm du lịch nông nghiệp “Mùa lúa chín” với các hoạt động thưởng ngoạn cánh đồng lúa chín, thi làm hình nộm, ngủ đêm trên cánh đồng để hưởng thụ hương lúa vào đêm; ngắm trăng Đường Lâm; đốt lửa trại, thả đèn đom đóm, ăn đồ nướng, biểu diễn thời trang rơm, thi hát đối, ghẹo. Bên cạnh đó còn có các sản phẩm như “Du lịch tìm hiểu nông thôn”, “Nghỉ ngơi thư giãn”, “Thưởng thức văn hóa ẩm thực từ hạt gạo”… để du khách tìm hiểu nông thôn, tham gia cấy lúa, bắt cua ngoài đồng, xem cò về cánh đồng; hay tổ chức câu cá, thả diều, hái sen, đi thuyền trên sông Tích với các hình thức lưu trú tại nhà (home stay) ven sông Tích; thưởng thức các bữa cơm theo nhiều chủ đề khác nhau như: cơm tết, cơm vua, cơm chay, cơm rằm, cơm làng, cơm phố, các món ăn đặc sản từ cánh đồng, các món ăn truyền thống của Đường Lâm…, giúp du khách trải nghiệm sâu sắc các giá trị văn hóa ẩm thực của hạt gạo Việt Nam.

Ở miền Trung khi đến Hội An, du khách có cơ hội để trở thành một người nông dân thực sự với việc trải nghiệm từ cách ăn mặc đến việc cùng tham gia các công việc của người nông dân nơi đây. Khi tham gia vào một số sản phẩm du lịch nông nghiệp ở đây du khách sẽ được mặc áo màu nâu, đội nón lá, đi chân không – ngày mưa sẽ mang tơi chằm bằng lá – để đạp nước, tát gàu dai đưa nước vào ruộng, gánh lúa qua cầu tre, hoặc du khách có thể tham gia hoặc du khách được lùa trâu ép mía đường, dệt chiếu Bàn Thạch, nấu rượu hồng đào, đan lát các dụng cụ bằng tre như rổ, rá, giần sàng, đúc đồng như một người thợ đúc ở làng đúc Phước Kiều nổi tiếng….Thú vị hơn, là được cùng các thôn nữ ngồi vào khung dệt củi để dệt vải hay tham gia ép dầu phụng bằng bông gỗ thủ công từ gỗ cây mít hay khi du khách đến ngôi làng Cẩm Nam, hay còn gọi là cồn Nam Ngạn thuộc thị xã Hội An. Ðến đây, du khách như bước vào một làng quê yên bình với những nếp nhà tranh phủ khói lam chiều, thơm ngát hương hoa cau trong những khu vườn đầy cây trái. Du khách cũng sẽ gặp những chiếc ghe chở đầy bắp mới bẻ còn thơm mùi sữa, được các cô thôn nữ hối hả chèo về, theo chân họ, du khách đến thăm các lò nấu bắp, chỉ đỏ lửa khi màn đêm buông xuống. Không chỉ có vậy, du khách còn được thưởng thức không gian văn hóa ẩm thực đậm chất “nhà quê” như: gói bánh chưng, bánh tét vào dịp lễ, Tết của người Việt. Hay cùng những lều, chõng, quán nước chè xanh, quán ăn cổ với những món cổ truyền đặc sản của xứ Quảng như mì Quảng, cao lầu, bánh bao, bánh bèo, những món ăn dân dã như hến trộn, hến xào xúc bánh tráng, bánh tráng dập chấm mắm nêm, chè bắp Cẩm Nam. Tất cả những sự trải nghiệm này đã tạo nên sự thú vị cho rất nhiều du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Ở Miền Nam, du lịch nông nghiệp luôn gắn liền với vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long với những sản phẩm du lịch gắn liền với đời sống của người nông dân nơi đây như đánh bắt cá, tham gia nuôi trồng thủy sản, trồng rừng ngập mặn…..

Bên cạnh những sản phẩm du lịch sáng tạo đã hình thành và đưa vào khai thác ổn định như trên thì hiện nay tại nhiều địa phương ở nước đã cũng tiếp tục nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm rất nhiều ý tưởng các sản phẩm du lịch sáng tạo độc đáo khác như sản phẩm du lịch biển với cát, muối và rác của nhóm các nhà khoa học của Liên hiệp khoa học phát triển du lịch bền vững. Theo các nhà khoa học này thì Việt Nam có đường bờ biển kéo dài, nhiều bãi tắm tuyệt đẹp với cát vàng óng ánh, mịn màng, nhất là tại khu vực miền Trung. Tuy nhiên, từ bao năm qua, sản phẩm du lịch từ cát vẫn cứ nghèo nàn, đơn điệu, chủ yếu là các hoạt động như tắm biển, phơi nắng, thể thao trên cát, trượt cát, xây lâu đài cát…Gần đây có thêm sản phẩm lưu niệm từ tranh cát thiên nhiên. Trên thực tế, có thể sử dụng cát để làm thành nhiều sản phẩm hơn nữa như xây dựng khu nghỉ dưỡng chữa bệnh như vùi mình trong cát chữa bệnh về cơ và da, spa…

Theo các nhà nghiên cứu của Liên hiệp khoa học phát triển du lịch bền vững, muối cũng là nguồn tài nguyên nổi trội của biển nước ta, nhưng người dân ven biển vẫn không thể sống bằng nghề muối vì giá muối quá rẻ, thậm chí đã có lúc Việt Nam còn phải nhập khẩu muối từ nước ngoài. Người Việt Nam vẫn chỉ nhìn nhận muối là một loại gia vị. Nhưng trên thực tế muối và các sản phẩm từ muối có thể khai thác để tạo thành sản phẩm du lịch độc đáo, có giá trị hàng hóa cao. Các khu du lịch với muối đã được nhiều nước trên thế giới khai thác hiệu quả như các ma trận muối, hang động, trượt muối, bảo tàng muối, lễ hội muối hay nhiều sản phẩm ẩm thực, nghỉ dưỡng – chữa bệnh (khách sạn muối, biệt thự muối, vườn thiền muối)…

 Còn rác thải từ các bãi biển, một vấn đề gây bức bối tại các bãi biển hiện nay, vừa gây ô nhiễm môi trường, vừa phá vỡ cảnh quan du lịch cũng có thể tận dụng để  trở thành tài nguyên tái sinh, phục vụ phát triển du lịch. Các nhà khoa học nói trên đã chỉ ra giá trị du lịch từ rác với các sản phẩm tạo hình tái sinh từ rác, vật liệu xây dựng và cả công viên tái sinh trên biển.

Cũng là các nhà khoa học của Liên hiệp phát triển bền vũng đã đưa ra sản phẩm “Mưa- bão- lụt”. Sản phẩm này được đưa ra trên ý tưởng về sự khác nghiệt về thời tiết ở miền Trung nước ta với việc gắn từng loại hình thời tiết khắc nghiệt thành sản phẩm du lịch sáng tạo như là mưa Huế, bão ở Đà Nẵng, lụt ở Hội An. Với ý tưởng này nhiều loại hình nghệ thuật có thể trở thành sản phẩm du lịch trong khung cảnh trời mưa ở Huế. Thưởng trà cung đình Huế, chơi và nghe đàn chủ đề mưa, ngắm mưa, thiền mưa, thưởng thức các món ăn Huế ngày mưa, tự làm đồ lưu niệm trong thời gian mưa lụt… là những đề xuất đơn giản nhưng sáng tạo của nhóm. Bên cạnh đó, các sản phẩm du lịch ngoài trời như xem múa rối nước, đua xe và lội nước trong ngày lụt, thả đèn hoa đăng, bơi thuyền, câu cá… cũng được k vọng sẽ thu hút được đối tượng khách là thanh, thiếu niên thích khám phá, mạo hiểm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Một ý tưởng khá thú vị khác là xây dựng sản phẩm du lịch từ hiện tượng lũ, lụt. Đây là một trong những hiện tượng thiên tai khắc nghiệt mà hầu như năm nào phố cổ Hội An cũng phải chịu đựng vài ba lần. Thế nhưng, trong những mùa lũ, cũng có không ít du khách bỏ ra nhiều tiền để thuê thuyền xuôi theo dòng nước lũ trong phố cổ, chụp hình những mái nhà rêu phong chìm trong biển nước, khám phá đời sống cư dân Hội An mùa nước lũ.

Được ngắm cảnh quan tổng thể của mái nhà cổ Hội An khi nước lũ dâng cao, đi thuyền tham quan các ngõ ngách quanh co của Hội An, dừng chân ở các quán cà phê trên tầng 2 của các ngôi nhà cổ để thưởng thức các loại hình nghệ thuật từ mưa sẽ là một tuyến du lịch đặc thù trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Với nhiều du khách và cả nhiếp ảnh gia, lũ lụt là cơ hội để họ tiếp cận, quan sát và tìm hiểu các giá trị kiến trúc, nghệ thuật của tầng 2, tầng 3 và tầng mái của các ngôi nhà cổ ở Hội An.

Còn với Đà Nẵng được đề xuất xây dựng Công viên bão Đà Nẵng. Công viên này sẽ bao gồm các hoạt động cả ngoài trời lẫn trong nhà với hệ thống công viên, khách sạn và công trình bão được Hiệp hội kiến trúc quốc tế thiết kế riêng cho chiến dịch kiến trúc giảm nhẹ thiên tai, phù hợp với thành phố bão Đà Nẵng. Du lịch mạo hiểm và du lịch thiên tai sẽ là hai loại hình du lịch đặc trưng cho Đà Nẵng khi dự án “Thành phố bão Đà Nẵng” được triển khai. Các hoạt động trong nhà như chiếu phim 3D, dựng mô hình ảo, tạo bối cảnh về bão, sét và các hiện tượng thiên nhiên dưới góc nhìn khoa học… cùng hoạt động cứu trợ, thăm hỏi người dân vùng bão sẽ là những điểm nhấn cho sản phẩm du lịch bão Đà Nẵng. Không chỉ dừng lại ở việc khai thác các hạn chế về thiên nhiên, thời tiết ở nước ta để xây dựng các sản phẩm du lịch sáng tạo mà các nhà khoa học này có dựa trên những sự kiện hiện có của đất nước để sáng tạo các sản phẩm du lịch như sản phẩm du lịch “Giờ Trái Đất” – với việc xây dựng mô hình “Khách sạn Bóng đêm. Ý tưởng khai thác giá trị bóng tối đến việc hình thành sản phẩm “khách sạn bóng đêm”, từ mong muốn Giờ trái đất (Earth hour) trở thành hành động thiết thực thường xuyên nhằm tiết kiệm điện và có ý thức sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng thì các nhà khoa học này đã nghĩ tới việc xây dựng khách sạn không ánh sáng và lên kế hoạch xây dựng mô hình”.

Giờ trái đất hay còn gọi là giờ bóng tối, hạn chế sử dụng điện, nếu nhìn bóng tối ở một góc nhìn khác, với một tư duy mới sẽ khai thác được những giá trị, vẻ đẹp mà bóng tối đem lại. Khách sạn bóng đêm ra đời để khai thác những giá trị đó.

Đây là mô hình khách sạn sử dụng nguồn năng lượng điện ở mức tối thiểu, nội thất tại các phòng ăn, phòng ngủ được thiết kế bằng những vật liệu phát sáng để khai thác vẻ đẹp cuốn hút của bóng tối.

Khách đến được trải nghiệm trong bóng tối với phòng ăn tình nhân trong bóng tối trong ánh sáng huyền ảo từ các đồ vật phát quang tự nhiên; phòng bữa ăn âm phủ dành cho du khách yêu thích cảm giác mạnh; phòng bữa ăn quê xưa giúp khách trở lại không khí của làng quê với ánh trăng, ánh sao, đèn dầu. Ngoài ra là các hoạt động vui chơi giải trí, trò chơi dân gian, lễ hội văn hóa, khám phá thiên văn, vũ trụ trong bóng tối.

2.5. Nhận xét về tiềm năng và thực trạng du lịch sáng tạo ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Thông qua việc giới thiệu về một số sản phẩm du lịch Việt Nam kể trên có thể nói sản phẩm du lịch ở Việt Nam hiện nay khá đa dạng, phong phú và hết sức độc đáo cũng như thể hiện được những nét văn hóa, nhân văn đặc trưng của đất nước Việt Nam.

Về tính đa dạng và phong phú thì hiện nay trong các địa phương trong cả nước có rất nhiều các sản phẩm du lịch sáng tạo khác nhau tùy vào điều kiện và thế mạnh của mỗi một địa phương như các sản phẩm du lịch nông nghiệp – lúa nước, văn hóa làng nghề của những vùng đồng bằng, sản phẩm du lịch sáng tạo từ thiên nhiên ở khu vực miền trung, các sản phẩm homestay tại các vùng có người dân tộc thiểu số sinh sống, đến các vùng đô thị thì có các lớp học nấu ăn….mỗi vùng một sản phẩm, một loại hình du lịch đặc trưng đã thể hiện được tính phong phú và đa dạng của các sản phẩm du lịch. Tính đa dạng và phong phú này không chỉ thể hiện ở các sản phẩm du lịch mà nó còn thể hiện đa dạng ở việc áp dụng sản phẩm này cho nhiều địa phương khác nhau nhưng không vì thế mà tạo nên sự lặp lại, nhàm chán cho du khách trái lại nó tạo cho du khách có những trải nhiệm khác biệt hoàn toàn. Ví dụ cung là sản phẩm về trồng lúa nước, nhưng nếu du khách tham gia trồng lúa ở Hội An thì họ sẽ có trải nghiệm khác với việc trồng lúa ở làng cổ Đường Lâm  – Ba Vì, bởi kèm theo hoạt động nông nghiệp là trồng lúa này thì còn có cả những hoạt động cụ thể của cư dân nông nghiệp với những nét văn hóa vùng miền khác nhau thậm chí là cả những khác biệt về cách gieo trồng, cộng cụ sản xuất cũng tạo nên sự khác biệt cho sản phẩm và tạo nên trải nghiệm khác biệt cho du khách tham gia.

Tính đa dạng và phong phú của các sản phẩm sáng tạo này còn thể hiện ở khách hàng mà sản phẩm hướng tới. Một số nhà làm du lịch thường nói du lịch sáng tạo là sản phẩm du lịch chủ yếu dành cho du khách nước ngoài, không thể phủ nhận một thực tế hiện nay là rất nhiều du khách nước ngoài thích thú và ưu chuộng các sản phẩm du lịch sáng tạo của nước ta. Tuy nhiên rất nhiều mô hình hay sản phẩm du lịch sáng tạo được người Việt Nam yêu thích như mô hình trang trại đồng quê Ba Vì hay sản phẩm của vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long.

Về tính độc đáo thì có thể thấy đây là đặc tính quan trọng của các sản phẩm du lịch sáng tạo, bởi lẽ nhiều sự sáng tạo dựa trên tính độc đáo của sản phẩm, dựa trên tính độc đáo của từng địa phương mà nơi khác không thể có được. Ví dụ các sản phẩm du lịch khai thác từ các hiện tượng thiên nhiên như mưa Huế, lụt Hội An là những sản phẩm độc đáo, riêng có chỉ tại những địa phương này mới hội tụ đủ điều kiện để phát triển.

Khai thác triệt để được lợi thế về văn hóa của đất nước, có thể nói phần lớn các sản phẩm sáng tạo được lấy “chất liệu” từ văn hóa truyền thống, dân gian của người Việt Nam như ẩm thực truyền thống, làng nghề truyền thống, sản phẩm du lịch nông nghiệp cũng gắn với nền văn minh lúa nước lâu đời của người Việt. Với việc sáng tạo các sản phẩm du lịch sáng tạo, độc đáo từ những giá trị văn hóa truyền thống của đât nước đã phần nào thể hiện được sự đa dạng, phong phú và giá trị nhân văn của nền văn hóa Việt Nam, đông thời cũng thông qua các sản phẩm này mà du khách có cơ hội trải nghiệm thực sự nền văn hóa Việt Nam chứ không chỉ là tham quan, ngắm nhìn như những hình thức du lịch trước đây.

Một điểm tích cực không thể không được nhắc tới trong việc phát triển các sản phẩm du lịch sáng tạo tại Việt Nam đó chính là việc thực hiện các sản phẩm này sẽ có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương. Với sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch mang lại rất nhiều lợi ích, cụ thể: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Thứ nhất, người dân bản địa có được những kinh nghiệm truyền thống rất quý báu về tự nhiên về nơi mà họ đã sinh ra, lớn lên và đang sống. Những kinh nghiệm và kiến thức mang tính truyền thống này được đúc kết từ bao đời, thậm chí phải trải qua những hy sinh, tranh đấu để tồn tại trong thiên nhiên mới có được.

Thứ hai, kiến thức về thiên nhiên, lịch sử, văn hóa của người dân địa phương có lợi và mang lại nhiều thông tin bổ ích cho các nhà khoa học, hướng dẫn viên làm việc trong các công ty lữ hành, những người làm công tác bảo vệ rừng quốc gia và ngay cả những tổ chức, cá nhân triển khai các dự án kinh tế nói chung và du lịch nói riêng tại một địa bàn nhất định

Thứ ba, khi người dân bản địa được hưởng lợi ích trực tiếp từ các di sản do thiên nhiên ban cho và tổ tiên để lại thì họ không coi đó nó như di sản và coi đó là tài sản. Điều này có nghĩa là trong nhận thức, tư duy, hành động và thái độ của họ luôn được khuyến khích để đóng góp những kiến thức truyền thống đó vào kho tàng kiến thức của nhân loại.

Thứ tư, khi mà cuộc sống của họ trở nên tốt hay xấu là tùy thuộc vào việc gìn giữ và bảo tồn bền vững các tài nguyên tự nhiên, nhân văn mà họ đang có thì họ sẵn sàng tích cực tham gia đóng góp vào các dự án phát triển du lịch tại địa phương.

Ngược lại, sự phát triển của du lịch sáng tạo cũng có vai trò quan trọng đối với cộng đồng địa phương như:

Góp phần tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, đặc biệt ở vùng nông thôn nơi tỷ lệ đói nghèo còn cao. Đây sẽ là yếu tố tích cực góp phần làm giảm tác động của cộng đồng đến các giá trị cảnh quan, tự nhiên và qua đó sẽ góp phần bảo tồn tài nguyên, môi trường đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững.

Góp phần để cộng đồng, đặc biệt là những người dân chưa có điều kiện trực tiếp tham gia vào các dịch vụ du lịch, được hưởng lợi từ việc phát triển hạ tầng du lịch (giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, v.v.). Đây cũng sẽ là yếu tố tích cực để đảm bảo sự công bằng trong phát triển du lịch, một trong những nội dung quan trọng của phát triển du lịch có tính bền vững.

Góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng và qua đó sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao động khu vực này. Đây sẽ là yếu tố quan trọng góp phần hạn chế được dòng di cư của cộng đồng từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị, ổn định xã hội đảm bảo cho phát triển bền vững chung.

Góp phần tích cực trong việc phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làng nghề truyền thống.

Tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu văn hóa và kế đến là giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, giữa quốc gia với các dân tộc trên thế giới. Đây cũng sẽ là yếu tố quan trọng trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đất nước đồng thời tạo cơ hội để phát triển kinh tế ở những vùng còn khó khăn, đảm bảo sự phát triển bền vững nói chung, du lịch nói riêng.

Với những tác động tích cực trên, việc đẩy mạnh phát triển du lịch nói chung, du lịch sáng tạo nói riêng sẽ có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ người dân nông thôn còn chiếm tới hơn 70% dân số cả nước, trong đó tỷ lệ đói nghèo còn cao.

Như vậy, có thể thấy giữa người dân địa phương hoạt động phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn có mối quan hệ qua lại mật thiết và tương hỗ lẫn nhau, do đó nếu biết khai thác hợp lý các hoạt động phát triển du lịch và kinh nghiệm của người địa phương sẽ mang lại lợi ích bền vững cho cả hai bên. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

Như vậy, hiện nay tại các địa phương của nước ta có rất nhiều các sản phẩm du lịch sáng tạo đã được khai thác. Tuy nhiên, việc khai thác những sản phẩm này vẫn chỉ là một phần rất nhỏ trong nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn phong phú và da dạng của đất nước ta. Vấn đề được đặt ra hiện nay chỉ là chúng ta khai thác các giá trị đó như thế nào để đạt hiệu quả kinh tế cao mà vẫn có sự phát triển bền vững cũng như giới thiệu được các giá trị sáng tạo này đến với du khách thập phương.

Tiểu kết chương 2 

Với điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, địa hình và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên về xã hội và nhân văn đã tạo cho du lịch Việt Nam một hệ thống sản phẩm du lịch da dạng, phong phú với nhiều loại hình du lịch khác nhau như: du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – tâm linh, du lịch miền núi- vùng quê, đến những loại hình du lịch hiện đại như du lịch khám phá, mạo hiểm, thể thao, du lịch MICE. Đặc biệt là du lịch sáng tạo, tuy là loại hình du lịch xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu nhưng đã có sự phát triển mạnh mẽ và bước đầu mang lại kết quả đáng mừng cho ngành du lịch Việt Nam nói chung. Có được những kết quả này là do, Việt Nam hội tụ được khá nhiều các điều kiện cung du lịch sáng tạo, trong đó quan trọng nhất đó chính là các tài nguyên du lịch sáng tạo như các ngành nghề truyền thống, nghề chế biến đồ ăn, các loại hình ca múa nhạc truyền thống, các lễ hội….nhất là, con người Việt Nam mà cụ thể là các nghệ nhân, nghệ sĩ, những người thợ.. là những người tạo nên những giá trị sáng tạo phụ vụ cho nhu cầu phát triển du lịch sáng tạo hiện nay. Bên cạnh đó, là các làng nghề, các lớp học, các câu lạc bộ là nơi để các nghệ nhân sáng tạo ra hệ thống các sản phẩm, vật phẩm vô cùng phong phú và đa dạng phục vụ cho nhu cầu phát triển du lịch sáng tạo ngày càng phát triển tại Việt Nam.

Với các điều kiện như đã nêu trên, thực tế tại các địa phương trong cả nước ta đã sáng tạo và xây dựng được hệ thống một số sản phẩm du lịch sáng tạo khác nhau. Trong đó, phải kể đến một số sản phẩm du lịch sáng tạo liên quan đến ẩm thực Việt Nam; liên quan đến các làng nghề thủ công truyền thống; liên quan đến miền quê, vùng núi và nông nghiệp. Bên cạnh những sản phẩm du lịch sáng tạo đã hình thành và đưa vào khai thác ổn định như trên thì hiện nay tại nhiều địa phương ở nước đã cũng tiếp tục nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm rất nhiều ý tưởng các sản phẩm du lịch sáng tạo độc đáo khác như sản phẩm du lịch biển với cát, muối và rác hay xây dựng sản phẩm du lịch từ hiện tượng lũ, lụt…Những sản phẩm trên đã tạo nên sự sáng tạo và độc đáo trong phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam trong thời gian qua. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam

One thought on “Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam

  1. Pingback: Luận văn: Phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464