Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý công ty cổ phần dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ thực tế khách quan do đòi hỏi của sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường. Do đó,việc hình thành các công ty cổ phần (CTCP) và vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là tất yếu đối với quá trình phát triển mạnh của nền kinh tế thị trường. Hình thức Công ty cổ phần đã xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, mà trước tiên là ở nước Anh sau đó là nước Pháp. Trải qua quá trình phát triển của nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn mà cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra thì Công ty cổ phần phát triển rất mạnh mẽ. Đến những năm đầu thế kỷ XX thì Công ty cổ phần đã trở thành hình thức kinh doanh rất phổ biến trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập và phát triển, các loại hình doanh nghiệp, công ty ngày càng đa dạng.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc tổ chức và quản lý Công ty cổ phần còn là một vấn đề khá mới mẻ nếu so với hàng trăm năm phát triển của nó ở các nước Châu Âu. Là nước đi sau, mặc dù có lợi thế lớn trong việc học tập kinh nghiệm của các nước đi trước nhưng việc tổ chức quản lý Công ty cổ phần ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, chưa thể bứt ra khỏi những ảnh hưởng nặng nề của cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây. Chẳng hạn như những khó khăn, bất cập xuất phát từ việc ban lãnh đạo công ty can thiệp vào quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông, một số cổ đông lớn (chủ yếu là cổ đông nhà nước) nắm giữ quyển khống chế công ty, xâm hại vào quyền lợi của đa số cổ đông thiểu số; Ban Kiểm soát mang tính hình thức, không phát huy được chức năng giám sát, …. Có thể nói, những thực trạng nêu trên đã ảnh hưởng rất lớn tới sự lành mạnh hóa việc quản lý Công ty cổ phần ở nước ta trong thời gian qua. Do đó, đòi hỏi phải có sự quan tâm, nghiên cứu thấu đảo việc quản lý Công ty cổ phần về mặt lý luận cũng như thực tiễn đồng thời đưa ra các biện pháp về mặt pháp lý để giải quyết những thực trạng đó.
Cho đến nay khung pháp Luật về vấn đề tổ chức và quản lý công ty nói chung và công ty cổ phần nói riêng đã từng bước được đẩy mạnh và hoàn thiện. Luật doanh nghiệp 2020 đã có nhiều đổi mới về vấn đề tổ chức và quản lý Công ty cổ phần nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện, nhiều bất cập từ Luật doanh nghiệp 2014 vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung triệt để, đặc biệt cần đồng bộ Luật doanh nghiệp 2020 với các văn bản luật chuyên ngành, văn bản dưới luật để tạo thành một hệ thống thống nhất. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức và quản lý Công ty cổ phần trong giai đoạn này là việc làm cần thiết. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: Pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý công ty cổ phần làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Tổ chức và quản lý Công ty cổ phần không những là vấn đề thực tế cần quan tâm của các chủ thể thực hành trong công ty, mà còn trở thành để tài của các nhà nghiên cứu, cả ở góc độ kinh tế cũng như góc độ pháp lý. Trên thế giới, những lý thuyết pháp lý về Tổ chức và quản lý Công ty cổ phần hiện đại đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ trước được đánh dấu bằng các công trình nghiên cứu mang tính kinh điển của Berler và Means. Hiện có khá nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đến hoạt động tổ chức và quản lý, trong đó tiêu biểu là các các công trình nghiên cứu sau:
Dan Cimpoeru, The Management of the Joint Stock Companies Manager Journal, Faculty of Business and Administration, University of Bucharest, 2013. Tác giả đã chỉ vai trò quan trọng trong tổ chức của một công ty là các quản trị viên có trách nhiệm trong lĩnh vực quản lý nội bộ và đại diện trong các mối quan hệ với bên thứ ba.
Công trình nghiên cứu của tác giả Mir Kalia và Midend 2018, Về thực trạng áp dụng Luật thương mại của Thổ Nhĩ Kỳ . Tác giả đã chỉ ra các quyền và nghĩa vụ của hội đồng quản trị trong Công ty cổ phần tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong việc đảm bảo quyền lợi của cổ đông.
Angephut, Mento The creation of joint stock companies MSc diss., University of Economics and Business, 2017. Tác giả đã nói tới sự ra đời của các công ty cổ phần và chỉ ra được tầm quan trọng trong công tác tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo pháp luật Thụy Điển.
Hisdent J. Caton, Organization and management of joint stock companies in the context of integration University of Economics American, 2017. Tác giả đã nễu ra được việc cần thay đổi trong bộ máy tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa từ đó đề ra một số biện pháp nâng cao trách nhiệm và quyền hạn của Hội đồng cổ đông.
Elizabeth, Business Law and the Legal Environment, Standard Edition 9th Edition, 2018.Tác giả đã chỉ ra được mối quan hệ trong sự phát triển kinh doanh sẽ phải ràng buộc bởi môi trường pháp lý. Bởi lẽ pháp luật sẽ là chế tài công bằng nhất trong hoạt động của công ty.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu, báo cáo khoa học về Công ty cổ phần, trong đó có những nghiên cứu chuyên sâu về khía cạnh kinh tế cũng như khía cạnh pháp lý, chẳng hạn như:
Sách của TS. Nguyễn Thị Dung và tập thể giảng viên bộ môn luật thương mại Đại Học Luật Hà Nội,Chuyên khảo Luật kinh, NXB Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2020; Cuốn sách này tập trung phân tích các khía cạnh pháp luật về doanh nghiệp đặc biệt nhấn mạnh về công tác tổ chức và quản lý công ty cổ phần trong cuộc cách mạng CNH, HĐH đất nước.
Sách của PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Huệ – TS. Lê Thị Hương Lan Công ty cổ phần và thị trường chứng khoán, NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội năm 2019; Cuốn sách này đã chỉ ra được mối quan hệ mật thiết của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán nhờ vào bộ máy tổ chức lãnh đạo của công ty cổ phần. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Sách của TS. Nguyễn Thị Ngọc Luật doanh nghiệp bảo vệ cổ đông pháp luật và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2017; Cuốn sách này tập trung phân tích làm rõ thực trạng pháp luật về quyền của cổ đông, cách thức và biện pháp bảo vệ cổ đông Công ty cổ phần trên cơ sở có so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp năm 2005 nhằm tăng cường bảo vệ cổ đông Công ty cổ phần.
Luận án tiến sỹ Luật học của tác giả Ngô Minh Quý Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần theo pháp luật CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2014; Luận án đã chỉ ra được mô sự khác nhau trong công tác tổ chức và quản lý công ty cổ phần của Việt Nam so với Trung Hoa. Từ đó đưa ra một số giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý công ty cổ phần.
Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương Một số so sánh về Công ty cổ phần theo Luật Công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, số 25/2019; Bài viết đã nêu ra được sự khác biệt trong tổ chức và quản lý Công ty cổ phần của Nhật Bản và Việt Nam từ đó cho thấy được những mặt tồn tại trong công tác tổ chức và quản lý Công ty cổ phần. Từ đó, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện trong quá trình tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2014.
Bài báo cáo của TS. Bùi Xuân Hải Một số vấn đề về mô hình tổ chức và quản lý công ty trên thế giới và Việt Nam, Hội thảo khoa học: Pháp luật về quản trị công ty.
Những vấn đề lý luận và thực tiễn, 2011; Bài báo cáo đã chỉ ra được các mô hình tổ chức và quản lý trên thế giới để từ đó rút ra bài học cho Công ty cổ phần tại Việt Nam trong công tác tổ chức và quản lý.
Bài viết của TS. Phạm Văn Tuyết So sánh cấu trúc quản trị công ty điển hình trên thế giới, Tạp chí Khoa học pháp lý số 6/2006; Bài viết đã chỉ ra được cấu trúc quản trị công ty điển hình trên thế giới và mô hình quản trị công ty tại Việt Nam.
Bài viết của Phan Huy Hồng Tạo thuận lợi hơn cho việc thực hiện quyền cổ đông trong Luật Liên minh châu Âu và luật Đức – Kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí khoa học pháp lý, tháng 3/2010; Bài viết đã chỉ ra được tầm quan trọng của cỏ đông trong việc tổ chức và quản lý Công ty cổ phần từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
Những công trình này đã có những đóng góp to lớn về mặt khoa học, tuy nhiên chỉ tập trung vào phân tích các vấn đề có tính nguyên tắc về Công ty cổ phần như thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức quản lý, quyền và nghĩa vụ của cổ đông. Theo đó vấn đề quản trị nội bộ Công ty cổ phần đã được đề cập ở mức độ ít nhiều nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát. Chính vì vậy, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu phân tích các vấn để có liên quan đến việc quản trị nội bộ trong Công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, làm rõ mối quan hệ và sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau của các bộ phận cấu thành công ty cổ phần, trong đó để cập đến quyền và nghĩa vụ cổ đông, việc đối xử công bằng với cổ đông, minh bạch hoá thông tin trong công ty, quản lý điều hành và cơ chế giám sát trong công ty.
2.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật công ty của các nước phát triển trên thế giới, trong thời gian qua, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong nhận thức và thực tiễn thi hành pháp luật, nếu so sánh với những quy định về Công ty cổ phần nói chung và vấn để tổ chức và quản lý Công ty cổ phần nói riêng thì pháp luật của nước ta đã có cách tiếp cận và phát triển khá bài bản đã giải quyết được những yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội đất nước và nhu cầu mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng cao, pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần đang bộc lộ nhiều vấn đề chưa hoàn thiện. Nhiều vụ việc tranh chấp nội bộ, nhiều hành vi lợi dụng vai trò, ảnh hưởng của người quản lý để trục lợi, làm thiệt hại đến lợi ích của cổ đông vẫn xảy ra thường xuyên mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những bất cập và thiếu sót của pháp luật về quản lý Công ty cổ phần. Luật doanh nghiệp 2020 đã có nhiều đổi mới về vấn đề tổ chức và quản lý Công ty cổ phần nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện, nhiều bất cập từ Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung triệt để, đặc biệt hiện tại chưa có một công trình nào nghiên cứu nào về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2020 đây là một khoảng trống nghiên cứu lớn.
3. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về tổ chức và quản lý của Công ty cổ phần. Đồng thời, tác giả đi vào nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về tổ chức và quản lý của Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2020 để làm cơ sở phân tích những tồn tại, hạn chế và từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về Công ty cổ phần.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu quy định của pháp luật về Công ty cổ phần trong phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và so sánh với pháp luật về Công ty cổ phần ở các nước Anh, Nhật Bản và Đức.
- Phạm vi thời gian: Tác giả sẽ chủ yếu tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về Công ty cổ phần từ năm 2018 – 2021.
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu pháp luật về Công ty cổ phần, thực tiễn áp dụng và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về Công ty cổ phần
5. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2020; Qua đó phân tích, đánh giá thực trạng việc áp dụng các quy định pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020 và đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Với mục đích nghiên cứu như trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thể là:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần
- Nghiên cứu so sánh với các chuẩn mực, thông lệ tốt trên thế giới về khung pháp lý trong việc quản lý Công ty cổ phần
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020 ở Việt Nam hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể:
Phương pháp phân tích được sử dụng nhằm đánh giá các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực thi pháp luật về Công ty cổ phần. Các yêu cầu của việc hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như những đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật về Công ty cổ phần theo mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để đánh giá, tổng kết những vấn đề đã phân tích, chứng minh từ đó rút ra những kết luận, kiến nghị, giải pháp nhằm đạt được mục tiêu của đề tài.
Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lôgíc để nghiên cứu từng vấn đề trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước với thực tiễn áp dụng pháp luật đối với loại hình Công ty cổ phần.
Phương pháp so sánh luật học được sử dụng trong quá trình phân tích những luận điểm khoa học của đề tài, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, những kiến nghị phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay.
Phương pháp thống kê được áp dụng trong quá trình đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về Công ty cổ phần. Thông qua các số liệu thực tế về hành vi để thấy được những hạn chế, vướng mắc trong việc thực thi các quy định của pháp luật về Công ty cổ phần. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch: Đề tài đi từ những vấn đề chung đến những vấn để riêng, từ những hiện tượng riêng lẻ đến những cái chung.
8. Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần
9. Tóm tắt kết quả nghiên cứu
Luận văn Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề pháp lý về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần mô hình theo Luật Doanh nghiệp 2020. Ở phương diện lý luận và thực tiễn, Luận văn có những đóng góp cụ thể như sau:
- Nghiên cứu và luận giải trên cơ sở lý luận khái niệm và các vấn đề khác có liên quan đến tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020;
- Phân tích, đánh giá, bình luận thực trạng các quy định pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020, chỉ ra những điểm mới, tiến bộ và những điểm còn tồn tại, bất cập của các quy định pháp luật đó.
- Đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật mà cụ thể luật LDN 2020 và các văn bản có liên quan về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần.
Luận văn cũng có thể có giá trị tham khảo, là tài liệu cho việc học tập, nghiên cứu pháp luật về tổ chức và quản lý công ty.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái niệm và đặc trưng pháp lý về công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Khái niệm về Công ty cổ phần của các nước trên thế giới không giống nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất quan niệm: Công ty cổ phần là loại hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn với đặc điểm quan trọng là có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty, vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần, trong quá trình hoạt động, Công ty cổ phần được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn.
Chẳng hạn Điều 1041 Luật Công ty Anh 2006 định nghĩa: Công ty cổ phần có nghĩa là một công ty – (A) có vốn điều lệ đã góp hoặc cổ phần danh nghĩa của tổng số vốn cố định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng số vốn cố định, hoặc nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được chia và nắm giữ một phần bằng cách này và một phần bằng cách khác và (B) thành lập trên nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng khoán đó và không có những người khác.
Ở Pháp, Công ty cổ phần hay còn gọi là công ty vô danh được ra đời khá sớm (Luật công ty ngày 14/12/1985). Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần. Công ty nếu đủ điều kiện, có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn. Theo Luật quy định điều kiện để công ty phát hành các loại chứng khoán là: phải có ít nhất 7 cổ đông, vốn pháp định tối thiểu là 25.000 FF (đối với các công ty không phát hành chứng khoán) và 1.500.000 FF (đối với các công ty phát hành chứng khoán), mệnh giá thống nhất mỗi cổ phiếu là 100 FF.
Về bản chất, pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới tương đối tương đồng khi quy định về khái niệm Công ty cổ phần. Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Công ty cổ phần là DN, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. Tương tự như Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 không đưa ra một khái niệm khái quát mà chỉ liệt kê những dấu hiệu pháp lý để nhận diện Công ty cổ phần nhưng quy định này đã xác định tư cách pháp lý tồn tại của Công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, giúp phân biệt loại hình Công ty cổ phần với các loại hình DN khác. Luật Doanh nghiệp 2020 không sửa đổi về khái niệm Công ty cổ phần so với Luật Doanh nghiệp 2014. Theo đó, Công ty cổ phần giới hạn việc huy động vốn bằng việc phát hành các loại cổ phần, chứ không quy định chung là chứng khoán các loại như trước đây. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
- Từ khái niệm về Công ty cổ phần quy định tại Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020, có thể nhận thấy CTCP theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm sau:
Một là, vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần.
Hai là, về tư cách pháp lý: Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký DN (trước đây gọi là giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh; Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế), hoạt động độc lập, tự mình tham gia vào các giao dịch; xác lập các quyền và nghĩa vụ cho công ty.
Ba là, về số lượng cổ đông: Công ty cổ phần phải có ít nhất ba cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa. Như vậy, về lý thuyết các Công ty cổ phần có thể có hàng ngàn, hàng vạn cổ đông… và cổ đông có thể mang quốc tịch khác nhau. Tuy nhiên, do có quá nhiều cổ đông nên việc sở hữu vốn điều lệ của công ty sẽ bị phân tán cho nhiều cổ đông, lợi ích của các cổ đông cũng có thể không thống nhất hay đôi khi là sự xung đột lợi ích giữa các nhóm cổ đông. Khác với công ty Trách nhiệm hữu hạn, nhiều cổ đông Công ty cổ phần không biết nhau và chủ yếu họ quan tâm đến cổ phần và cổ tức, giá trị gia tăng của cổ phần.
Bốn là, chế độ trách nhiệm: cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; như vậy, cổ đông của Công ty cổ phần chỉ chịu Trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty. Công ty cổ phần với tư cách là một pháp nhân sẽ tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty, cổ đông không phải chịu trách nhiệm thay Công ty cổ phần về các khoản nợ của công ty.
Năm là, về khả năng chuyển nhượng cổ phần: So với mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn, phần vốn góp của cổ đông trong Công ty cổ phần (tức là cổ phần) có khả năng chuyển nhượng dễ dàng hơn. Về nguyên tắc, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần mà mình sở hữu, trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (Điều 84) và cổ phần ưu đãi biểu quyết (Điều 81).
Sáu là, huy động vốn: Tại khoản 3 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. Như vậy, điều luật này không hạn chế quyền phát hành các loại chứng khoán khác của Công ty cổ phần, nhưng cũng không thừa nhận rõ ràng quyền phát hành các loại chứng khoán khác. Vì vậy, sẽ dẫn đến tình trạng phải áp dụng pháp luật chứng khoán để điều chỉnh vấn đề này.
1.1.2. Khái niệm về tổ chức và quản lý công ty cổ phần Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Khi nói đến quản lý Công ty cổ phần là nói đến các trung tâm hay cơ cấu quyền lực ở đó. Theo quan niệm của luật học, quản lý Công ty cổ phần là phương thức tổ chức các cơ quan quyền lực trong công ty và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan đó. Chính vị có liên quan đến việc bố trí và tổ chức quyền lực, nên quản lý Công ty cổ phần còn được gọi là Cơ cấu quản lý Công ty cổ phần (Corporate Governance Structure). Nhìn chung, trong các Công ty cổ phần thông thường thiết lập ba cơ quan có quyền lực chủ yếu là Đại hội đồng cổ đồng. Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Theo nghĩa hẹp, quản lý Công ty cổ phần có nghĩa là cách thức tổ chức và phân chia quyền lực giữa ba cơ quan và mối quan hệ giữa chúng. Luật Công ty Anh Quốc (năm 1985) xác định quản lý công ty là một thiết chế pháp lý về mối quan hệ giữa cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị và kiểm soát viên. Theo đó, các thành viên Hội đồng quản trị là người quản lý điều hành và lãnh đạo công ty thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận; các cổ đông bảo đảm các thành viên Hội đồng quản trị làm việc đúng hướng và đúng luật pháp; và các kiểm soát viên thực hiện quyền và nhiệm vụ giám sát hoạt động quản lý kinh doanh của Hội đồng quản trị để bảo đảm công ty không có sai phạm về tài chính và bảo đảm Hội đồng quản trị được để xuất bảo cáo tài chính một cách chân thực và công bằng
Tại Việt Nam, khái niệm quản lý Công ty cổ phần cũng tương tự như ở các nước khác. Theo Tiến sỹ Phạm Ngọc Côn: Cơ cấu quản lý doanh nghiệp là sự thiết lập, vận hành của các cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực đó. Một cơ cấu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả được thể hiện ở sự hợp tác lâu dài giữa những người có quan hệ lợi ích trên cơ sở cân đối trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích. Ở đây, doanh nghiệp có thể được hiểu là Công ty cổ phần.Ngoài ra có quan điểm cho rằng quản lý công ty có thể hiểu theo hai nghĩa, quản lý công ty theo nghĩa hẹp được hiểu là cơ chế quản lý giám sát của chủ sở hữu với người quản lý công ty theo những mục tiêu và định hướng của chủ sở hữu. Theo nghĩa rộng hơn, quản lý công ty gắn chặt với quyền lợi của chủ sở hữu cũng như các chủ nợ, người cung cấp, người lao động, thậm chí khách hàng của công ty. Về mặt tổ chức và quản lý công ty là tập hợp các mối quan hệ giữa chủ sở hữu, Hội đồng quản trị và các bên liên quan nhằm: xác định mục tiêu, hình thành các công cụ để đạt đạt được mục tiêu và giám sát việc thực hiện mục tiêu của công ty.
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), quản lý công ty là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó. Định nghĩa này của OECD có thể coi là định nghĩa rộng nhất về quản trị công ty, nó đã và đang được rất nhiều nước trên thế giới vận dụng để xây dựng hệ thống pháp luật về quản trị công ty, trong đó có Việt Nam. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Theo Quy chế tổ chức và quản lý Công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng Khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán do Bộ Tài Chính ban hành tháng 03 năm 2007, quản lý công ty được định nghĩa như sau: Tổ chức và Quản lý công ty là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty.
Như vậy, khái niệm tổ chức và quản lý Công ty cổ phần dưới góc độ luật học có thể hiểu là: hệ thống các thiết chế, theo đó việc tổ chức quản lý công ty được thực hiện trên cơ sở phân định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các chủ sở hữu, người quản lý, những người có lợi ích liên quan, và các phương pháp áp dụng theo một trình tự thủ tục nhằm đảm bảo tổ chức và hoạt động công ty một cách hiệu quả nhất.
1.1.3. Đặc trưng pháp lý về công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và tư cách pháp nhân được xác lập kể từ thời điểm mà doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Công ty cổ phần là điển hình của công ty đối vốn. Loại hình công ty này có những đặc điểm cơ bản để phân biệt với công ty Trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh. Căn cứ theo quy định tại Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020, Công ty cổ phần là doanh nghiệp mang các đặc điểm sau:
- Về vốn điều lệ
Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. Tư cách cổ đông của công ty được xác định dựa trên căn cứ quyền sở hữu cổ phần. Luật không hạn chế mỗi thành viên được mua tối đa bao nhiêu % vốn điều lệ nhưng các thành viên có thể thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tối đa số cổ phần mà một thành viên có thể mua nhằm chống lại việc một thành viên nào đó kiểm soát công ty. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
- Về cổ đông công ty
Đặc điểm về cổ đông công ty là hệ quả đặc điểm về cấu trúc vốn. Với căn cứ xác lập tư cách cổ đông là quyền sở hữu cổ phần, trong khi cổ phần có thể được chào bán rộng rãi cho các đối tượng khác nhau, cổ đông của công ty cổ phần thường rất lớn về số lượng và không quen biết nhau. Luật Doanh nghiệp chỉ hạn định số lượng tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa số cổ đông Công ty cổ phần. Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có 03 cổ đông tham gia Công ty cổ phần. Là loại hình công ty đặc trưng cho công ty đối vốn nên có sự liên kết của nhiều cổ đông. Vì vậy, việc quy định số cổ đông tối thiểu phải có đã trở thành thông lệ quốc tế trong mấy trăm năm tồn tại của Công ty cổ phần.
- Về chuyển nhượng cổ phần vốn góp
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật Doanh nghiệp 2020. Phần vốn góp (cổ phần) của các cổ đông được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa. Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần. Một số trường hợp bị pháp luật cấm chuyển nhượng. Cụ thể, các cổ đông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của các sáng lập viên trong 03 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Về chế độ chịu trách nhiệm
CTCP phải tự chịu trách nhiệm độc lập về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty. Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp (đến hết giá trị cổ phần sở hữu). Tuy nhiên, chế độ trách nhiệm hữu hạn mà cổ đông được hưởng cũng kèm theo những ràng buộc nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba. Khi công ty thanh toán cổ phần mua lại hoặc trả cổ tức trái quy định, tất cả số cổ đông phải hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã nhận của công ty. Tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn trên đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư đầu tư vào Công ty cổ phần nhiều hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng hiểu rằng khi mình đầu tư vào Công ty cổ phần với tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông thì không bao giờ mình bị mất nhiều hơn so với số vốn đã bỏ ra đầu tư nên họ ít sợ rủi ro hơn đầu tư vốn vào công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân.
- Về phát hành chứng khoán Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn. Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn và rộng ra công chúng của Công ty cổ phần. Công ty cổ phần có khả năng chủ động vốn một cách linh hoạt khi cần nguồn vốn lớn để tham gia các dự án đầu tư. Sự chủ động này là yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần vào thành công của doanh nghiệp. Khả năng huy động vốn lớn và rộng rãi trong công chúng cũng kéo theo nguy cơ gây rủi ro rất cao. Bởi vậy, Công ty cổ phần phải chịu nhiều quy chế pháp lý khắt khe hơn so với loại hình doanh nghiệp khác.
- Về tư cách pháp lý
CTCP là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCN ĐKDN. Pháp luật về công ty xác lập một cách cụ thể Công ty cổ phần với tư cách là một pháp nhân độc lập, có năng lực pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo luật định và tách biệt với cổ đông công ty. Trong quá trình hoạt động công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng chính tài sản của mình. Thông qua người đại diện của mình theo quy định của pháp luật, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án.
1.2. Tổng quan về tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo cách tiếp cận của một số nước trên thế giới Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
1.2.1. Mô hình tổ chức và quản lý công ty cổ phần của Anh – điển hình cho cấu trúc hội đồng đơn
Về mặt nguyên tắc hoạt động, mô hình tổ chức và quản lý Công ty cổ phần của Anh là điển hình cho mô hình quản lý, điều hành kiểu Anh, Mỹ có nền tảng là sự tách biệt giữa quản lý với sở hữu vốn trong Công ty cổ phần. Trong mô hình tổ chức và quản lý Công ty cổ phần kiểu Anh, Mỹ, dựa trên các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, sử dụng các thành viên Hội đồng quản trị độc lập để kiềm chế quyền lực của ban GĐ, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các cổ đông.
Thứ hai, sử dụng và tín nhiệm giới kế toán để trình Báo cáo tài chính có tính xác thực nhằm giúp cổ đông có thông tin đầy đủ khi đầu tư vào công ty.
Thứ ba, sử dụng và tín nhiệm các nhà phân tích tài chính để xem xét và phân tích các triển vọng kinh doanh và mức độ lành mạnh về tài chính của các công ty dự kiến phát hành cũng như đang phát hành chứng khoán ra công chúng, nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho công chúng muốn đầu tư. Khi một Công ty cổ phần hoạt động kém hơn mức trong ngành hay của thị trường, hoặc thiếu cơ chế quản trị thích đáng, các nhà đầu tư sẽ phản ứng bằng cách bán cổ phần của họ, là một hình thức áp đặt kỷ luật của thị trường lên ban GĐ công ty.
Về quy định pháp luật cụ thể, theo luật công ty Anh, cấu trúc quản lý nội bộ của một Công ty cổ phần gồm có: Đại hội đồng cổ đông (shareholders’ meeting) và Hội đồng GĐ (board of directors). Bộ phận quản trị – điều hành của Công ty cổ phần chỉ do một cơ quan đảm nhiệm là Hội đồng GĐ – cấu trúc hội đồng đơn (unitary board model). Đại hội đồng cổ đông sẽ bầu chọn các thành viên của Hội đồng GĐ (thường có từ ba đến hai chục thành viên), đươc gọi là các directors. Mọi quyền lực và các vấn đề của công ty được pháp luật đặt vào tay của Hội đồng GĐ, trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc điều lệ công ty quy định phải thuộc về Đại hội đồng cổ đông. Cũng vì thế, Hội đồng GĐ theo pháp luật Anh có rất nhiều quyền lực, hơn rất nhiều so với thành viên trong Hội đồng quản trị công ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam.
Mô hình tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo cấu trúc hội đồng đơn kiểu Anh không có một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý – điều hành công ty như Ban kiểm soát trong luật công ty Việt Nam và Luật Công ty Nhật Bản hay như Hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng hai tầng của Đức.
1.2.2. Mô hình tổ chức và quản lý công ty cổ phần của Đức – điển hình cho cấu trúc hội đồng hai tầng Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
- Cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty Đức có hai đặc điểm quan trọng nhất:
Thứ nhất cấu trúc quản trị – điều hành có hai hội đồng theo thứ bậc, và thứ hai có thể có sự tham gia nhất định của đại diện người lao động vào hội đồng phía trên. Cấu trúc tổ chức và quản lý nội bộ của Công ty cổ phần theo luật Đức gồm có: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng giám sát, và Hội đồng quản trị. Theo luật Đức, việc quản lý – điều hành Công ty cổ phần được phân chia cho hai cơ quan là: Hội đồng giám sát và Hội đồng quản trị, như một thiết chế hai tầng, mà ở đó, Hội đồng giám sát nằm ở tầng trên. Vì thế, giới luật học trên thế giới gọi đây là cấu trúc hội đồng kép hay hội đồng hai tầng.
Hội đồng giám sát có thẩm quyền chọn,bổ nhiệm, cách chức các thành viên của Hội đồng quản trị. Không những thế, Hội đồng giám sát còn tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty và giám sát các hoạt động của Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty. Các thành viên của Hội đồng quản trị cùng nhau chịu trách nhiệm về việc điều hành, phát triển chiến lược kinh doanh của công ty trong mối liên hệ thường xuyên và báo cáo thường xuyên với Hội đồng giám sát.
Về nguyên tắc, ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn thành viên của Hội đồng giám sát. Song, người lao động cũng có quyền lựa chọn thành viên của Hội đồng giám sát theo đạo luật về sự tham gia của người lao động vào quản trị công ty năm 1952 và 1976. Theo đó, tỷ lệ số thành viên của Hội đồng giám sát do người lao động bầu chọn và cổ đông bầu chọn sẽ phụ thuộc vào số lao động của công ty. Đại diện do phía người lao động và cổ đông bầu chọn trong Hội đồng giám sát đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Đối với các Công ty cổ phần sử dụng trên 500 lao động, một phần ba tổng số thành viên của Hội đồng giám sát sẽ do phía người lao động bầu chọn. Nếu công ty sử dụng trên 2000 lao động, thì một nửa số thành viên của Hội đồng giám sát phải là đại diện do người lao động và công đoàn bầu chọn, song, chủ tịch của Hội đồng giám sát sẽ phải là người do cổ đông lựa chọn, và người này sẽ có lá phiếu quyết định khi số phiếu thuận và phiếu chống bằng nhau. Hội đồng giám sát có thẩm quyền chọn, bổ nhiệm, cách chức các thành viên của Hội đồng quản trị. Không những thế, Hội đồng giám sát còn tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty và giám sát các hoạt động của Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty.Các thành viên của Hội đồng quản trị cùng nhau chịu trách nhiệm về việc điều hành, phát triển chiến lược kinh doanh của công ty trong mối liên hệ thường xuyên và báo cáo thường xuyên với Hội đồng giám sát. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Như vậy, Hội đồng giám sát trong cấu trúc hội đồng hai tầng theo luật Đức, không giống với Ban kiểm soát hay Hội đồng quản trị trong các Công ty cổ phần ở Việt Nam. Bởi lẽ: Thứ nhất, Ban kiểm soát trong Công ty cổ phần ở Việt Nam do Đại hội đồng cổ đông bầu và chỉ có chức năng cơ bản nhất là giám sát công tác quản lý, điều hành của bộ máy tổ chức và quản lý; Thứ hai nó không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên của bộ máy quản lý, điều hành; Thứ ba cũng không có chức năng tham gia quyết định các vấn đề quan trọng về tổ chức và quản lý công ty như Hội đồng giám sát theo luật Đức. Thứ hai, Hội đồng quản trị theo luật Việt Nam là cơ quan quản lý công ty do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn, và chỉ bao gồm các thành viên do cổ đông bầu chọn mà thôi. Khác với ở Đức, người lao động trong các Công ty cổ phần ở Việt Nam không có quyền lựa chọn và cử đại diện của mình tham gia Hội đồng quản trị cũng như Ban kiểm soát. Hội đồng quản trị trong các Công ty cổ phần ở Việt Nam có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc và những chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty. Nó cũng giám sát bộ máy điều hành, nhưng nó không có chức năng giám sát rộng như Hội đồng giám sát theo luật Đức vì một phần quyền lực này đã thuộc về Ban kiểm soát của công ty theo luật định. Thứ ba, thành viên của Hội đồng giám sát theo luật Đức không thể đồng thời có mặt trong ban quản trị, trong khi thành viên của Hội đồng quản trị trong Công ty cổ phần của Việt Nam thì có thể nắm giữ các chức vụ điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty.
1.2.3. Mô hình tổ chức và quản lý công ty cổ phần của Nhật Bản
Mô hình tổ chức và quản lý Công ty cổ phần của Nhật Bản tuân theo mô hình không hoàn toàn là mô hình hội đồng đơn, nhưng cũng không hẳn là hội đồng kép. Tổ chức nội bộ quản lý truyền thống của CTCTP ở Nhật Bản có thiết lập Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Tuy nhiên, Ban kiểm soát khác với Hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng kép là không tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc tổ chức và quản lý công ty mà chủ yếu thiên về giám sát các hoạt động của Hội đồng quản trị.
Cổ đông góp vốn vào Công ty cổ phần, thông qua Đại hội đồng cổ đông quyết định phương hướng kinh doanh và những vấn đề quan trọng của công ty như bầu và bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị.
- Theo Luật Công ty Nhật Bản, về nguyên tắc trong Công ty cổ phần không cần thiết lập Hội đồng quản trị.
Tuy nhiên, Luật Công ty quy định có 3 loại Công ty cổ phần phải thiết lập Hội đồng quản trị đó là công ty đại chúng, công ty có thiết lập Ban kiểm soát và công ty có thiết lập các ủy ban. Còn công ty có thiết lập Ban kiểm soát là Công ty cổ phần là công ty đại chúng trừ công ty có thiết lập các ủy ban. Đối với những Công ty cổ phần không cần thiết phải thiết lập Ban kiểm soát thì cũng có thể thỏa thuận thành lập Ban kiểm soát. Trong Công ty cổ phần có thiết lập Hội đồng quản trị thì phải bầu một thành viên làm đại diện Hội đồng quản trị. Theo pháp luật Nhật Bản, đại diện Hội đồng quản trị là đại diện công ty, điều hành hoạt động trong công ty, tiến hành giao dịch và ký kết hợp đồng với bên ngoài.
Để giải quyết những bất cập phát sinh đảm bảo hoạt động giám sát nội bộ có hiệu quả, Nhật Bản đã du nhập mô hình Công ty cổ phần có thiết lập các ủy ban. Trong Công ty cổ phần có thiết lập các ủy ban thì có đại diện điều hành, còn trong Công ty cổ phần chỉ có một người điều hành thì người này trở thành đại diện điều hành (LCT Điều 420 Khoản 1). Trong trường hợp công ty có nhiều người điều hành, thì Hội đồng quản trị sẽ xác định mối quan hệ giữa những người điều hành, xác định công việc và nhiệm vụ của từng người trong thực hiện Nghị quyết của Hội đồng quản trị (Điều 416 Khoản 1 Mục 1). Hội đồng quản trị có nghĩa vụ giám sát đại diện Hội đồng quản trị điều hành hoạt động kinh doanh, các vấn đề liên quan đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ, nhà nước và người lao động. Bởi vậy, Luật Công ty Nhật Bản có mục đích hướng tới điều chỉnh lợi ích giữa các chủ thể và duy trì sự tồn tại của nó. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Mô hình quản lý, điều hành kiểu Nhật Bản còn có đặc điểm khá nổi bật là vai trò của các cổ đông pháp nhân (ngân hàng, các quỹ, các công ty…) rất lớn, có thể xem là đóng vai trò trung tâm. Trên thực tế, ở Nhật, các ngân hàng lớn thường được uỷ quyền thay mặt cổ đông giám sát, quản lý các công ty, xem xét các kế hoạch của công ty, trong trường hợp công ty làm ăn kém thì những ngân hàng này thường can thiệp và sẽ buộc công ty phải thay bộ máy điều hành quản lý công ty hoặc buộc phải đưa ra các chiến lược kinh doanh mới.
Qua tổng kết các mô hình nêu trên, có thể thấy rằng, hiện nay trên thế giới cơ bản tồn tại hai chế độ pháp luật khác nhau, một là chế độ tổ chức quản lý Công ty cổ phần theo kiểu đơn lớp (One-tier Board), hai là chế độ tổ chức quản lý Công ty cổ phần theo kiểu song lớp (two-tier Board). Nói riêng về chế độ thứ hai, ngoài việc thiết lập một cơ quan chuyên trách thực hiện các hoạt động quản lý điều hành, các Công ty cổ phần còn phải thiết lập một cơ quan khác chuyên trách thực hiện chức năng kiểm soát. Trong thực tiễn, các công ty theo kiểu đơn lớp cũng thực hiện sự tách biệt chức năng quản lý điều hành với chức năng kiểm soát, tức là các thành viên điều hành chuyên trách công việc quản lý kinh doanh, trong khi các thành viên không điều hành thi có quyền và nhiệm vụ giám sát hoạt động quản lý kinh doanh. Đối với hai chế độ tổ chức quản lý này, điều quan trọng nhất là phải phân định rõ ràng chức trách của hai nhóm người của từng loại. Việc hoàn thiện sự phân định này có thể sẽ khuyến khích các nhà đầu tư từ các nước khác nhau cùng nhau thành lập công ty, và hơn nữa, sẽ đẩy mạnh tiến trình hòa hợp giữa các công ty ở các nước khác nhau trên thế giới.
So sánh với ba mô hình quản lý Công ty cổ phần điển hình nêu trên thì mô hình quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam có nhiều điểm tương đồng nhất với mô hình quản lý Công ty cổ phần theo Luật Công ty của Nhật Bản. Theo đó, Luật Công ty của Nhật và Luật Doanh nghiệp VN 2020 đều quy định cơ cấu quản lý Công ty cổ phần bao gồm (i) Đại hội đồng cổ đông – cơ quan quyết định cao nhất của công ty; (ii) Hội đồng quản trị – cơ quan chấp hành nghiệp vụ và đại diện công ty; (ii) Ban kiểm soát – cơ quan giám sát. Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có nghĩa vụ báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát là hai cơ quan chức năng và thường trực có địa vị pháp lý ngang nhau. Công ty cổ phần ở Việt Nam có sự tham gia của cổ đông nhà nước trong cơ cấu cổ đông, mặc dù đạt được mục đích duy trì quyền chi phối trong công ty nhưng trong nhiều công ty, vị thế của cổ đông nhà nước bị lạm dụng dẫn tới làm thiệt hại cho cổ đông nói chung. Ở Nhật Bản nhằm khắc phục tình trạng hình thức hóa của Hội đồng quản trị. Ban kiểm soát đã xây dựng mô hình tổ chức nội bộ mới trong đó thiết lập các Ủy ban trực thuộc Hội đồng quản trị trong đó có Ủy ban giám sát làm nhiệm vụ giảm sát thường xuyên hoạt động quản lý điều hành công ty thay cho Ban kiểm soát của mô hình cũ.
Từ việc nghiên cứu các mô hình tổ chức và quản lý Công ty cổ phần khác nhau trên thế giới cũng như tìm ra mối liên hệ của chúng tới mô hình quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam, có thể kết luận rằng, việc lựa chọn mô hình tổ chức quản lý nào không phải là điều quan trọng nhất. Thực ra, điều quan trọng nhất khi lựa chọn bất kỳ một mô hình quản lý nào là pháp luật của mỗi quốc gia cần có quy định cho phép cơ quan quản lý điều hành có đầy đủ thẩm quyền để nó có thể thực hiện chức trách một cách năng động, tích cực và cũng phải luôn chú trọng đến việc thiết lập một cơ chế kiểm soát đắc lực để thực hiện chức năng giám sát mọi hoạt động của cơ quan quản lý điều hành đó.
1.3. Vai trò của tổ chức và quản lý công ty cổ phần Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
- Đối với quyền và lợi ích của các thành viên trong Công ty cổ phần
Thành viên Công ty cổ phần chính là các cổ đông, người góp vốn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty. Tất nhiên mỗi cổ đông luôn mong muốn có được lợi nhuận khi bỏ vốn đầu tư. Một hệ thống quản lý tốt sẽ tạo ra sự tin tưởng, làm cho cổ đông gắn bó với công ty.
Quản lý và tổ chức trong Công ty cổ phần không chỉ là sự đảm bảo về mặt kinh tế cho các thành viên của công ty mà còn là yếu tố đảm bảo tiếng nói của các cổ đông trong công ty, đặc biệt là với các cổ đông thiểu số. Một hệ thống quản lý và tổ chức tốt luôn đáp ứng được quyền lợi của mỗi cổ đông trong việc đưa ra những quyết định về hoạt động kinh doanh, nói cách khác đó chính là tạo điều kiện cho cổ đông thực sự được sử dụng vốn góp của mình thông qua điều hành công ty.
- Đối với sự ổn định và phát triển của chính công ty.
Hoạt động của mọi doanh nghiệp nói chung và với Công ty cổ phần nói riêng đều vì mục tiêu lợi nhuận. Mọi thành viên của công ty luôn muốn phát triển trụ thế, đem lại lợi ích cho họ. Vai trò của quản lý vì thế lại được thể hiện. Quản lý tốt không chỉ là giúp cho công ty hoạt động ổn định với nguồn vốn bỏ ra mà càng làm cho nguồn vốn đó tăng lên, đó mới thực sự là quản lý có hiệu quả.
- Đối với đối tác và khách hàng của công ty. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Khi lựa chọn đối tác, bộ máy quản lý cũng là một yếu tố cần xem xét. Vì vậy, hoàn thiện quản lý cũng là tăng sức hấp dẫn của doanh nghiệp. Có nhiều đối tác cũng có nghĩa là cơ hội phát triển dành cho công ty lớn hơn. Còn với người tiêu dùng, vai trò quản lý công ty mờ nhạt hơn. Trong thương mại hàng hóa, quản lý và tổ chức công ty chủ yếu thể hiện vai trò với khách hàng thông qua phân phối sản phẩm: người tiêu dùng luôn lựa chọn sản phẩm từ điểm mua bán uy tín, muốn vậy cần phải có bộ máy quản lý tốt. Trong thương mại dịch vụ thì quản lý nội bộ của một công ty có ý nghĩa lớn hơn với khách hàng bởi tiêu dùng dịch vụ là một quá trình, muốn chọn được dịch vụ tốt, người tiêu dùng cũng cần xem xét nhà cung cấp có hoạt động ổn định hay không.
- Với nền kinh tế
Doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần nói riêng là một bộ phận của nền kinh tế. Chính vì vậy sự tăng trưởng của chúng góp phần ổn định và phát triển cho cả nền kinh tế. Số lượng Công ty cổ phần là ít hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác nhưng đóng góp của chúng không nhỏ, bởi Công ty cổ phần thường là các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn vốn dồi dào. Một hệ thống quản lý yếu kém sẽ đưa công ty đến suy yếu, hơn thế nữa còn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng, kết quả tất yếu là sẽ gây thiệt hại cho nền kinh tế.
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và quản lý công ty cổ phần
- Điều lệ công ty
Điều lệ Công ty cổ phần là bản cam kết của tất cả các thành viên công ty về mục đích thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty được các thành viên công ty thông qua và được cơ quan đăng ký kinh doanh xác nhận. Bởi vậy quy định của điều lệ công ty có tính bắt buộc thi hành. Điều lệ công ty không chỉ điều chỉnh các quan hệ đối nội giữa các thành viên trong công ty, thành viên công ty với công ty mà còn điều chỉnh mối quan hệ đối ngoại của công ty với những người liên quan. Quản trị công ty là quá trình phức tạp và điều lệ công ty cho ta thấy tương đối tổng quát về quá trình đó. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà đầu tư đưa ra quyết định có bỏ vốn hay không và bỏ bao nhiêu vốn. Do đó, một bản điều lệ tốt cũng là nhân tố khẳng định khả năng quản trị, phát triển công ty.
- Cấu trúc vốn Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
CTCP là loại hình doanh nghiệp đa sở hữu, khi tham gia vào Công ty cổ phần các cổ đông chủ yếu quan tâm đến phần vốn góp. Vốn là toàn bộ tài sản hữu hình thuộc sở hữu của công ty có quyền quản lý, sử dụng và được đưa vào bất kỳ giai đoạn nào của chu trình sản xuất kinh doanh nhằm kiếm lợi nhuận. Vốn của công ty được hình thành từ nhiều nguồn: vốn vay, vốn tích lũy, vốn góp… Với Công ty cổ phần, vốn điều lệ được thể hiện dưới dạng các cổ phần, đó là phần chia nhỏ nhất của vốn điều lệ và được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu.Cổ phần bao gồm: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi.
Với tính chất sở hữu, cơ cấu bộ máy và cơ chế quản trị trong Công ty cổ phần dựa trên sức mạnh kinh tế của nhóm sở hữu công ty. Trong cơ cấu bộ máy quản trị công ty có sự phân quyền rõ ràng giữa các bộ phận. Sự phân quyền này trước hết dựa trên tỷ lệ vốn góp của các cổ đông nhằm đảm bảo một cơ cấu quản trị chặt chẽ, bảo vệ đến mức tối đa quyền lợi của các cổ đông.
Trong cơ cấu tổ chức quản trị Công ty cổ phần, Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có quyền lực cao nhất, nơi thể hiện tập trung nhất vai trò của các cổ đông. Cổ đông là người góp vốn tạo nên công ty, tùy thuộc vào số lượng cổ phần nắm giữ, họ có vai trò lớn trong việc tồn tại và phát triển của công ty. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý điều hành hoạt động của Công ty cổ phần. Cấu trúc vốn góp phần quan trọng trong việc hình thành Hội đồng quản trị. Điều này thể hiện rằng các cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu tỷ lệ nhất định trong vốn điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị do cổ đông bầu tại Đại hội đồng cổ đông theo nguyên tắc bầu dồn phiếu. Quyền bỏ phiếu gắn liền với cổ phần mà cổ đông nắm giữ.Sự chi phối này cũng thể hiện qua tỷ lệ cổ phần có quyền bầu thành viên Ban kiểm soát.
- Cơ cấu thành viên của Công ty cổ phần
CTCP thường có số lượng cổ đông lớn và dễ thay đổi cơ cấu thành viên. Với khả năng huy động, chuyển nhượng vốn linh hoạt, cổ đông Công ty cổ phần dễ dàng ra nhập hoặc rút khỏi công ty, linh động trong việc chuyển nhượng cổ phần giữa các cổ đông trong công ty với nhau. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới tính ổn định trong nội bộ công ty, vì vậy quản trị công ty cũng gặp phải những khó khăn như ảnh hưởng đến việc thành lập hoặc không thành lập Ban kiểm soát tại Công ty cổ phần.
- Quy mô hoạt động của Công ty cổ phần
CTCP có khả năng thu hút vốn thông qua việc phát hành chứng khoán ra công chúng để đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Chính vì vậy, Công ty cổ phần thường có quy mô hoạt động rộng trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề và cũng kéo theo việc quản trị Công ty cổ phần thường gặp nhiều khó khăn, không đơn giản so với một số loại hình doanh nghiệp khác.
- Trình độ cổ đông, năng lực đội ngũ lãnh đạo Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
Hoạt động của Đại hội đồng cổ đông là hoạt động tập thể nên trình độ, kinh nghiệm của cổ đông có ảnh hưởng lớn đến Công ty cổ phần. Nếu cổ đông là người có năng lực, trình độ cao thì dễ dàng lựa chọn những phương pháp hợp lý để quản lý hữu hiệu. Là cơ quan quyền lực cao nhất có sự tham gia của các cổ đông nhưng Đại hội đồng cổ đông lại không hoạt động thường xuyên, 01 năm chỉ tiến hành một vài lần. Vì vậy, hoạt động điều hành hàng ngày của lãnh đạo công ty giữ vai trò quan trọng. Các nhà lãnh đạo giỏi là những người có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm làm việc và hơn hết là tâm huyết với công ty. Những quyết sách đúng đắn của họ góp phần không nhỏ tới hiệu quả hoạt động của công ty.Vì vậy, đội ngũ lãnh đạo giỏi là chìa khóa thành công của doanh nghiệp.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại, CTCP đã trở thành một hình thức tổ chức kinh doanh có khả năng huy động vốn lớn cho việc thực hiện hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của loại hình Công ty cổ phần, vấn đề tổ chức và quản lý Công ty cổ phần ngày càng được quan tâm, đó là giải quyết vấn đề phát sinh từ việc tách quyền sở hữu và quản lý doanh nghiệp. Nghiên cứu về quản trị công ty là tập trung nghiên cứu về cấu trúc nội bộ và các nguyên tắc quản lý công ty. Thực hiện quản lý công ty tốt sẽ góp phần cải thiện hoạt động của Công ty cổ phần, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh tế bền vững. Đó là những nội dung cần thiết làm cơ sở cho việc phân tích và bình luận về pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần được trình bày tại Chương 2. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần