Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Nguồn luật điều chỉnh về cơ cấu tổ chức và quản lý công ty cổ phần

CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, những vấn đề quản lý nội bộ, quyền và nghĩa vụ của các cổ đông được giải quyết chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn (nghĩa là dựa trên giá trị cổ phần mà các cổ đông nắm giữ).Cơ sở pháp lý về về cơ cấu tổ chức và quản ý công ty cổ phần được cụ thể như sau:

  • Luật doanh nghiệp 2020 được Quốc hội ban hành theo Luật số: 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020;
  • Bộ Luật Dân sự 2015 Công ty cổ phần có đầy đủ các yếu tố để được coi là có tư cách pháp nhân theo Điều 74 Bộ Luật Dân sự 2015;
  • Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp;
  • Căn cứ Luật Đầu tư 2020 số 61/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 ;
  • Căn cứ Luật Quản lý thuế 2019 ngày 13 tháng 06 năm 2019;
  • Căn cứ Luật Chứng khoán 2019 ngày 26 tháng 11 năm 2019;
  • Căn cứ Luật Thi hành án hình sự 2019 Luật số: 41/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019;
  • Căn cứ Luật Phá sản Số: 51/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014
  • Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
  • Căn cứ Luật An toàn thông tin mạng ngày 19 tháng 11 năm 2015
  • Căn cứ Luật An ninh mạng ngày 12 tháng 6 năm 2018;
  • Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 04 năm 2021 của chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp 2020;
  • Thông tư 01/2021/TT-BKHĐT hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành;
  • Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19 tháng 03 năm 2007;
  • Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính.

Như vậy, xét cả trực tiếp và gián tiếp thì các văn bản Luật điều chỉnh về Công ty cổ phần sẽ tác động rất lớn đến phát triển thị trường vốn, giúp doanh nghiệp cơ hội lớn hơn trong huy động nguồn vốn đầu tư ngoài nguồn vốn vay từ tài chính tín dụng truyền thống. Tuy nhiên, việc hoàn thiện và thực thi luật pháp chỉ hướng tới tạo lập môi trường, mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp. Việc tận dụng thành công cơ hội sẽ phụ thuộc phần lớn, nếu không nói chủ yếu vào chính doanh nghiệp: các doanh nghiệp có nhận thức và nỗ lực tích cực thì sẽ có nhiều điều kiện để thành công lớn hơn hoặc nhanh hơn. Luật cũng có một số cải cách khác đã được thực hiện về thuế môn bài, hóa đơn điện tử,… rút ngắn đáng kể cả thời gian và chi phí cho khởi sự kinh doanh, nâng cao xếp hạng của Việt Nam theo đánh giá của quốc tế (cụ thể là đánh giá của WB). Sự thay đổi này đã cải thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý doanh nghiệp và bảo vệ nhà đầu tư, cổ đông; Quản lý doanh nghiệp tốt và hoạt động kinh doanh hiệu quả; Nâng cao hiệu lực tổ chức và quản lý, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có sở hữu nhà nước, thúc đẩy phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên hiện một số hạn chế tác giả sẽ đề cập cụ thể ở phần tiếp theo đó.

2.2. Thực trạng các quy định pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2020 Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

2.2.1. Thực trạng về cấu trúc quản lý nội bộ công ty cổ phần

Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần cho thấy sự thành bại của công ty cổ phần phụ thuộc vào sự tận tâm và lòng trung thành của người quản lý công ty cổ phần. Những bổn phận mang tính đạo đức dần trở thành những trách nhiệm pháp lý của chủ thể đặc biệt này. Pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có những quy định hoặc chuẩn mực về trách nhiệm của người quản lý công ty cổ phần. Ở Việt Nam, trách nhiệm của người quản lý công ty cổ phần cũng bước đầu được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 và tiếp tục được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 2020. Hiện nay, công ty cổ phần là một trong những loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất bởi tính linh hoạt và những ưu điểm vượt trội so với các loại hình doanh nghiệp khác. Với yêu cầu tối thiểu phải có 3 cổ đông sáng lập trở lên và không giới hạn tối đa số cổ đông tham gia góp vốn cùng với quyền được phát hành tất cả các loại chứng khoán để huy động vốn, công ty cổ phần đòi hỏi việc tổ chức và quản lý công ty phải có tính hệ thống, cụ thể và chặt chẽ hơn các loại hình doanh nghiệp khác.Theo quy định tại khoản 2 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty cổ phần có thể được tổ chức dưới 02 mô hình sau:

Mô hình thứ nhất gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Ban kiểm soát. (Trường hợp công ty có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát).

Mô hình thứ hai gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (Trường ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị).

Như vậy về cơ bản, cơ cấu tổ chức quản lý Công ty Cổ phần bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị; Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát. Có thể thấy rằng, kể từ khi Luật Doanh nghiệp được ban hành và đi vào thực tiễn cuộc sống, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phát triển đa dạng và sôi động. Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển mạnh dưới các hình thức đầu tư khác nhau trong đó có Công ty cổ phần, đây là một trong các loại hình công ty đầu tư theo Luật Doanh nghiệp.

Tuy Luật Doanh nghiệp hiện hành tại Việt Nam (LDN năm 2020) đã đi vào thực tiễn và có những vai trò nhất định. Bên cạnh các vai trò, vẫn còn đó một số vấn đề mà các Công ty cổ phần (khu vực kinh tế nhà nước và tư nhân) trong lúc triển khai về công tác quản lý đều còn rất lúng túng, chưa theo kịp những quy định cũng như các thông lệ về tổ chức và quản lý, cụ thể như sau:

  • Thứ nhất, về quyền của cổ đông Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành cho thấy rằng, quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông thiểu số và nhóm các cổ đông thiểu số nói riêng trong công ty cổ phần chưa thực sự được bảo vệ. Cổ đông và nhóm cổ đông thiểu số gần như bị áp đảo hoàn toàn bởi các cổ đông lớn trong công ty cổ phần và luôn chịu những bất lợi. Còn đối với cổ đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng khi phát hiện những sai sót, gian lận trong quá trình điều hành của các cấp quản lý công ty đều có quyền khởi kiện. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật hiện hành chưa tạo những điều kiện thuận lợi nhất để cổ đông thực hiện quyền khởi kiện khi phát hiện các gian lận, sai sót trong quá trình hoạt động của cấp quản lý, hay trình tự thủ tục khởi kiện còn nhiều phức tạp, tốn kém về thời gian và tiền bạc của các cổ đông.

  • Thứ hai, về Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, việc bầu Hội đồng quản trị công ty trong Công ty cổ phần bị chi phối rất nhiều bởi nhóm cổ đông đa số, trong khi đó Ban kiểm soát trong Công ty cổ phần chưa thể hiện vai trò bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư, do đó các rủi ro mà họ, các cổ đông, nhà đầu tư phải gánh chịu là rất lớn.

Thứ ba, các vấn đề công khai và minh bạch thông tin trong công ty cổ phần. Trong Công ty cổ phần, vấn đề công khai và minh bạch thông tin là nghĩa vụ của lãnh đạo công ty, các vấn đề này cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời và chính xác. Tuy nhiên, các quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề này còn sơ lược cũng như chưa có sự tương thích với các thông lệ quốc tế. Điều đó đã dẫn đến các hệ lụy như làm mất niềm tin của cổ đông, nhà đầu tư, gây thiệt hại cho thị trường và các bên liên quan. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Quy định về mối quan hệ giữa các thiết chế trong tổ chức và quản lý công ty

  • Mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với Đại hội đồng cổ đông

Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020, DHDCĐ là cơ quan có thẩm quyền bẩu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Ban kiểm soát. Nói cách khác, trong công ty cổ phần, Ban kiểm soát là thiết chế phái sinh từ Đại hội đồng cổ đông, hoạt động và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông. Khoản 6 Điều 170 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến cổ động hoặc nhóm cổ đông có yêu cầu. Đại hội đồng cổ đông thành lập ra Ban kiểm soát, chi trả thù lao cho kiểm soát viên và chi phí hoạt động của Ban kiểm soát, trong khi đó, Ban kiểm soát phải bảo cáo và chịu trách nhiệm trước ĐHĐCD và các cổ đông về các nhiệm vụ được Đại hội đồng cổ đông giao.

  • Mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với Hội đồng quản trị và ban Giám đốc

Nếu có thể coi Công ty cổ phần như là một nhà nước thu nhỏ, thì Đại hội đồng cổ đông đóng vai trò là cơ quan lập pháp – nơi quyết định phương hướng phát triển và những vấn đề trọng đại khác của công ty; Hội đồng quản trị và Ban GĐ được coi là cơ quan hành pháp – nơi điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty; còn Ban kiểm soát đóng vai trò là cơ quan tư pháp – có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban GĐ, nhất là vai trò kiểm chế và đối trọng với Hội đồng quản trị và Ban GĐ công ty.

Với các chức năng được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2020 và điều lệ công ty, Ban kiểm soát thực hiện việc giám sát Hội đồng quản trị, GĐ (TGĐ) trong việc quản lý và điều hành công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp và tính trung thực, mức độ cần trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính cũng như thẩm định bảo cáo tỉnh hình kinh doanh, bảo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Để có thể thực hiện được chức năng chính là giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và GĐ (TGĐ) công ty cũng như các hoạt động tài chính của công ty, Ban kiểm soát cần phải có sự độc lập trong tổ chức và hoạt động. Thông qua việc thực hiện chức năng của mình, Ban kiểm soát đảm bảo rằng các quyết định của Hội đồng quản trị và GĐ (TGĐ) là phù hợp với pháp luật, với các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và bảo vệ một cách tốt nhất lợi ích của các cổ động. Chính vai trò bảo vệ cổ đông, bảo vệ nhà đầu tư là lý do cho sự ra đời, tồn tại và hoạt động của Ban kiểm soát.

Như vậy, so với Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 đã kế thừa toàn bộ quy định cho phép Công ty cổ phần được tổ chức quản lý dưới một trong hai mô hình là có hoặc không có Ban kiểm soát. Với mô hình quản trị có Ban kiểm soát, cấu trúc quản trị nội bộ công ty sẽ gồm có các thiết chế là: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và GĐ hoặc Tổng giám đốc. Giữa các thiết chế này có mối quan hệ qua lại, có sự phân chia các chức năng, nhiệm vụ, chế ước lẫn nhau nhằm tạo ra sự hiệu quả trong QTCT. Mặc dù vậy, sự giám sát của một nhóm thành viên trong Hội đồng quản trị đối với các thành viên khác được cho là thiếu tính khách quan và hiệu quả so với hoạt động của một cơ quan giám sát độc lập trong cơ cấu quản lý của Công ty cổ phần theo mô hình truyền thống của Luật Doanh nghiệp 2005. Vì vậy, bên cạnh việc trao quyền tự chủ cho Công ty cổ phần trong việc lựa chọn mô hình quản lý, pháp luật cũng cần có thêm các quy định để đảm bảo cho sự hoạt động hiệu quả của thành viên độc lập và Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị, cũng như sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý trong Công ty cổ phần, dù thuộc mô hình nào. Đây là vấn đề cần đặc biệt quan tâm nhằm hoàn thiện hơn nữa hiệu quả tổ chức và quản lý Công ty cổ phần.

Ví dụ 1, Ngày 1/7/2017, Hội đồng quản trị Công ty Hapulico ra Quyết định số 23/2017/QĐ-HĐQT về việc lấy ý kiến bằng văn bản thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông với nội dung: Bãi miễn tư cách cổ đông của Công ty Ba Đình. Tuy nhiên, ngoài phiếu lấy ý kiến nêu trên thì không gửi kèm theo dự thảo quyết định của Đại hội đồng cổ đông và các tài liệu giải trình dự thảo quyết định; không gửi phiếu lấy ý kiến và các tài liệu kèm theo cho cổ đông là Công ty Ba Đình theo quy định của Khoản 2, Điều 105 Luật Doanh nghiệp 2014. Khoản 34.2 Điều 34 Điều lệ của Hapulico cũng quy định về thẩm quyền và thể thức lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản để thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông như sau: Hội đồng quản trị phải chuẩn bị phiếu lấy ý kiến, dự thảo quyết định của Đại hội cổ đông và các tài liệu giải trình dự thảo quyết định và tài liệu giải trình dự thảo quyết định. Phiếu lấy ý kiến kèm theo dự thảo quyết định và tài liệu giải trình phải được gửi bằng phương thức bảo đảm đến địa chỉ thường trú từng cổ đông. Kết quả giải quyết tranh chấp tại bản án phúc thẩm số 21/2017/KDTM-PT ngày 27/01/2017 Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Hà Nội nêu rõ: có căn cứ để xác định Quyết định số 29/2017/QĐ-ĐHĐCĐ ngày 1/8/2017 của Đại hội đồng cổ đông Hapulico đã không thực hiện đúng trình tự và thủ tục ra quyết định tại Khoản 2 Điều 105 Luật Doanh nghiệp 2014 và Điều 34 Điều lệ Công ty. Như vậy, Quyết định số 29/2017/QĐ- Đại hội đồng cổ đông ngày 1/8/2017 của Đại hội đồng cổ đông Hapulico đã vi phạm trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật và Điều lệ công ty, nên cần hủy bỏ theo quy định tài Điều 107 Luật Doanh nghiệp 2017.

2.2.2. Thực trạng về quyền lực của chủ sở hữu trong công ty cổ phần Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Trong khuôn khổ tổ chức và quản lý công ty, OECD khuyến nghị cần phải đảm bảo các quyền của cổ đông và chức năng sở hữu chủ yếu, đảm bảo đối xử công bằng giữa các cổ đông như một yếu tố chủ yếu của quản lý Công ty cổ phần. Chủ sở hữu của công ty (được gọi là cổ đông) mua và sở hữu cổ phần của công ty tương ứng với phần vốn đóng góp của mình vào công ty. Vậy thực trạng quyền lực của cổ đông trong công ty cổ phần hiện nay cụ như sau:

  • Quyền liên quan tới hệ thống quản lý điều hành công ty

Đây là nhóm quyền quan trọng của cổ đông. Nó thể hiện quyền làm chủ sở hữu công ty. Theo Luật Doanh nghiệp 2020 cổ đông có các quyền như tham dự Đại hội đồng cổ đông, quyền biểu quyết, cổ đông tham dự và phát biểu trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện ủy quyền trừ cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại không có những quyền trên. Đối với cổ đông phổ thông thì mỗi một cổ phần có một phiếu biểu quyết còn cổ phần ưu đãi biểu quyết có sổ phiếu biểu quyết cao hơn so với cổ phần phổ thông, số lượng cụ thể do điều lệ công ty quy định. Ngoài ra cổ đông còn có các quyền như là bầu các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, thông qua các quyết định,…

Trong bối cảnh thực thi về quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam còn yếu, việc Luật Doanh nghiệp 2020 được ban hành với những yêu cầu mới về cuộc họp Đại hội đồng cổ đông đã tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho hoạt động của cơ quan này nhưng cũng đang đặt ra nhiều thách thức cho các DN. Cụ thể như sau:

Các quy định về trình tự và thể thức tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông được quy định cụ thể tại luật doanh nghiệp 2020. Tuy nhiên, việc quy định quá chi tiết như vậy, khiến cho việc tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông có thể gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên thực tế, nhất là với những công ty đại chúng. Trong khi đó chỉ với một vi phạm nhỏ về thủ tục, quyết định của Đại hội đồng cổ đông cũng có thể bị hủy bỏ (trừ trường hợp các nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua bởi cổ đông sở hữu 100% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết). Vì vậy, pháp luật có thể quy định đơn giản hoá thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông, hoặc quy định những trình tự là điều kiện bắt buộc, và trao quyền tự chủ cho DN quy định trong Điều lệ các trình tự khác nhằm đơn giản hoá thủ tục cho công ty và người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông, mà vẫn đảm bảo được quyền lợi của các cổ đông có quyền dự họp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Xét dưới góc độ khác, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng thể hiện điểm bất hợp lý và bảo vệ cổ đông đa số nhiều hơn qua việc quy định điều kiện dự họp hợp lệ. Đại hội đồng cổ đông có thẩm quyền rất lớn và là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của Công ty cổ phần. Tuy nhiên, chỉ với cổ đông, hoặc nhóm cổ đông đại diện ít nhất 51%, thậm chí là 33% tổng số phiếu biểu quyết đã có thể tổ chức họp để thực hiện các quyền của Đại hội đồng cổ đông là bất hợp lý, xâm phạm tới quyền lợi của phần lớn cổ đông không tham dự họp. Đồng thời, các quyết định được thông qua bởi số cổ đông đại diện cho số phiếu biểu quyết thấp như vậy sẽ khó nhận được sự đồng thuận của các cổ đông còn lại, dễ gặp phải khó khăn, tranh chấp khi triển khai thực hiện trong Công ty cổ phần. Giả sử Điều lệ công ty quy định tỷ lệ tối thiểu để tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông theo Luật Doanh nghiệp 2020, và xảy ra trường hợp cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 với tỷ lệ cổ đông đại diện 33% tổng số phiếu biểu quyết. Số cổ đông này thông qua một quyết định quan trọng của công ty, nhưng sau đó số cổ đông đại diện hơn 70% tổng số phiếu biểu quyết còn lại cũng tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông và phủ quyết toàn bộ những nội dung đã được cổ đông đại diện 33% tổng số phiếu biểu quyết thông qua trước đó, vậy tranh chấp DN rất dễ xảy ra từ quy định về điều kiện họp Đại hội đồng cổ đông quá dễ dàng. Như vậy, việc Luật Doanh nghiệp 2020 quay lại với quy định tương tự các quy định đã được bãi bỏ của Luật Doanh nghiệp 1999 vẫn còn chứa đựng yếu tố bất hợp lý. Mặt khác, việc cổ đông thiểu số tập hợp thành nhóm chiếm từ 31% đến 51% tổng số phiếu biểu quyết trở lên là khá khó khăn, trong khi đó cổ đông đa số dễ dàng đạt được và quyền lợi của cổ đông thiểu số không tham dự họp dễ dàng bị bỏ qua. Vì vậy, việc xây dựng quy định điều kiện tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hợp lý hơn sẽ buộc cổ đông đa số phải tính đến quyền, lợi ích và mối quan tâm của cổ đông thiểu số, giúp cổ đông thiểu số có cơ hội ảnh hưởng đến các quyết định của công ty; qua đó, cân bằng được mối quan hệ lợi ích với cổ đông đa số, bảo vệ hợp lý các quyền và lợi ích của cổ đông thiểu số.

  • Quyền kinh tế

Đây là nhóm quyền quan trọng nhất của cổ đông. Nó là mục đích, là động lực cho tất cả các cổ đông khi tham gia Công ty cổ phần. Quyền về kinh tế của các cổ đông trong công ty bao gồm: cổ đông được nhận cổ tức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty, được tự do chuyển nhượng cổ phần cho cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông trừ trường hợp quy định: quyền được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản,… Các quy định trên cho thấy pháp luật đã đảm bảo khá tốt những quyền về kinh tế của cổ đông.

Về vấn đề công ty mua lại cổ phần của cổ đông quy định: Nếu cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty, thì có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông đó với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thoả thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu ít nhất ba tổ chức định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng. Quy định này đã đặt ra một số vấn đề sau:

Thứ nhất, trong trường hợp các bên yêu cầu một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Nếu các bên không thống nhất được với nhau về việc lựa chọn tổ chức định giá chuyên nghiệp để định giá cổ phần thì Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép công ty được giới thiệu ít nhất ba tổ chức định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng. Tuy nhiên, luật chưa quy định bên nào phải chịu chi phí thanh toán cho tổ chức định giá chuyên nghiệp? Đây có thể là một vấn đề gây ra tranh chấp giữa các bên nếu Luật Doanh nghiệp không có hướng quy định cụ thể hơn.

Thứ hai, pháp luật lại quy định thời hạn mà công ty phải mua lại cổ phần trong trường hơp này lên đến chín mươi (90) ngày làm việc. Thời hạn nêu trên là quá dài trong khi cổ đông đã không còn muốn gắn bó lâu dài với công ty nữa.

  • Quyền kiểm tra giám sát hoạt động của công ty Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Cổ đông có thể trực tiếp hoặc thông qua hoạt động của Ban kiểm soát để thực hiện việc giám sát toàn bộ hoạt động của công ty, đây cũng là một trong các quyền thể hiện vai trò của cổ đông trong quản trị Công ty cổ phần. Các cổ đông có quyền xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông. Ở Việt Nam, các nghĩa vụ công bố thông tin được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020, riêng đối với các công ty đại chúng có nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định tại Điều 101 Luật Chứng khoán.

Tuy nhiên, so với pháp luật một số nước, quyền tiếp cận thông tin của cổ đông CTCP ở Việt Nam được đánh giá có phần thua kém. Chẳng hạn, đối với quyền tiếp cận sổ sách, chứng từ của công ty, trong khi Luật Công ty Trung Quốc quy định cổ đông có quyền yêu cầu điều tra trực tiếp sổ sách và các chứng từ của công ty và trong trường hợp bị từ chối, cổ đông công ty có quyền yêu cầu tòa án buộc công ty phải chấp thuận. Trong khi đó, Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 chỉ có quyền yêu cầu Ban kiểm soát công ty thực hiện việc điều tra sổ sách, yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết. Do vậy, quyền tiếp cận thông tin của cổ đông Công ty cổ phần cần được tăng cường hơn nữa nhằm nâng cao hơn nữa khả năng kiểm tra, giám sát của cổ đông – chủ sở hữu Công ty cổ phần.

  • Quyền xem xét và trích lục sổ sách, tài liệu của cổ đông

Về nguyên tắc, cổ đông cũng là những người chủ của công ty, nên ho ̣ có quyền tiếp cận các thông tin của công ty. Tuy nhiên, mức độ được tiếp cận thông tin của cổ đông lại phụ thuộc vào tỷ lê ̣sở hữu cổ phần mà ho ̣nắm giữ tuỳ theo pháp luâṭ của từng quốc gia. Theo Luâṭ thương mại Hàn Quốc, cổ đông nắm giữ 3% tổng số cổ phần có quyền đươc yêu cầu xem sổ sách kế toán , hay Luật công ty Nhậṭ Bản cho phép cổ đông nắm giữ trên 10% tổng số cổ phần có quyền yêu cầu xem sổ sách kế toán và tài liệu tài chính khác của công ty. Theo Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông phổ thông có quyền xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông. Người quản lý công ty phải cung cấp kịp thời thông tin sổ đăng ký cổ đông, sửa đổi, bổ sung thông tin sai lệch theo yêu cầu của cổ đông; đồng thời chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời, chính xác thông tin sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Tuy nhiên, chỉ cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có thêm quyền: Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, Báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát. Cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục ít nhất một năm có quyền tự mình hoặc cùng với luật sư hoặc kế toán và kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề trực tiếp xem xét các báo cáo quy định tại Điều này trong thời gian hợp lý.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không có bất kỳ chế tài nào quy điṇh trách nhiệm của người quản lý công ty trong việc gây khó dễ đến quyền tiếp cận thông tin của cổ đông. Do đó, nếu gặp phải sự khó khăn từ Hội đồng quản trị thì cổ đông cũng không có cách nào để thực hiện quyền này, đó là chưa kể đến những khó khăn của ho ̣trong việc tập hợp lại, tạo thành nhóm nhóm cổ đông đáp ứng điều kiện luật định để thực hiện được quyền này. Hay nói cách khác, trong nhiều trường hợp, quyền tiếp cận thông tin của cổ đông vẫn còn thiếu ý nghĩa về mặt thực tế.

  • Quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh

Các cổ đông có quyền yêu cầu các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp xảy ra theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty. Cụ thể cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, GĐ, Tổng giám đốc trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp 2014. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ quyết định hoặc một phần nội dung quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp. Tuy nhiên, trong nhóm quyền này, cổ đông Công ty cổ phần của Việt Nam chưa có quyền phản đối những thay đổi lớn về cấu trúc công ty và quyền kiện trực tiếp. Luật cũng không quy định quyền của cổ đông yêu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc Tòa án xem xét quyết định giải thể công ty hoặc chia, tách công ty trong trường hợp bế tắc không thông qua được các quyết định quan trọng của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị dẫn đến việc công ty không thể hoạt động bình thường…

Ví dụ: Theo Bản án 19/2019/KDTM-ST ngày 11/06/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về tranh chấp giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Đại L là sở hữu 140.000 cổ phần, chiếm 5% vốn điều lệ Công ty; Bị đơn là Công ty cổ phần cung ứng dịch vụ Hàng không. Ông L có nhiều lần yêu cầu lãnh đạo Công ty cung cấp các tài liệu theo quy định của pháp luật, nhưng không được công ty chấp thuận. Do đó, ông đã khởi kiện công ty lên Tòa và kết quả là Công ty đã phải cung cấp cho Ông L những thông tin, văn bản mà ông L yêu cầu. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông chỉ cần sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty sẽ có các quyền: Xem xét, tra cứu, trích lục số biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty; Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông; Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết. Trong khi đó, theo Luật Doanh nghiệp 2014 trước đây, chỉ Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ mới được thực hiện các quyền nói trên. Thông qua việc giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông trong việc thực hiện quyền của mình, Luật Doanh nghiệp 2020 đã mở rộng quyền của CĐTS. Một mặt, trao thêm quyền cho các cổ đông trong việc chủ động tiếp cận các thông tin hoạt động của công ty để giúp họ giám sát công ty, cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ tốt hơn. Đồng thời tương thích với quyền cổ đông sở hữu 5% tại Luật Chứng khoán 2019 cũng như phù hợp với thông lệ quản trị trên thế giới khi đề cao quyền CĐTS để các cổ đông yên tâm bỏ vốn đầu tư.

2.2.3. Thực trạng về trách nhiệm của người giám sát cơ quan điều hành

Công ty cổ phần chính là mô hình kinh tế tiến bộ của xã hội văn minh loài người hiện nay, để hiểu một cách đơn giản nhất thì chúng ta hiểu Công ty cổ phần chính là một nhà nước thu nhỏ và ở đó Đại hội đồng cổ đông Công ty đóng vai trò như là cơ quan lập pháp, là cơ quan quyết định phương hướng phát triển và những vấn đề trọng đại khác của công ty; Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc được coi là cơ quan hành pháp, cơ quan điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của Công ty; còn Ban Kiểm soát đóng vai trò của cơ quan tư pháp, cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc Công ty.

Thực tế cho thấy, Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt nam được thiết kế là một cơ quan (có thể hiển đơn giản là tư pháp) riêng trong cơ cấu hội đồng quản trị nội bộ của Công ty cổ phần, cơ quan này có nhiệm vụ chuyên trách giám sát và đánh giá Hội đồng quản trị và những người quản lý điều hành nhân danh cổ đông vì lợi ích của cổ đông của Công ty cổ phần.

Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam cho thấy Ban kiểm soát đã chưa thể hiện đầy đủ vai trò bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư. Do đó, rủi ro mà nhà đầu tư và cổ đông phải gánh chịu từ sự lép vế của Ban kiểm soát là rất lớn.

Đọc báo cáo của Ban kiểm soát trong các kỳ đại hội, cổ đông thường có cảm giác rằng các báo cáo này chỉ là bản sao các báo cáo của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc. Nội dung chủ yếu là khen Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, rất ít thông tin có ích cho cổ đông. Trong một số trường hợp, những vấn đề cần đưa vào báo cáo của Ban kiểm soát đã được thống nhất trước với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc trong phiên họp trù bị trước đó rồi. Do đó, tại đại hội, vai trò của Ban kiểm soát chỉ là ngồi cho đủ ban bệ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Trong thời gian qua, có rất nhiều việc làm sai trái của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cổ đông nhưng không hề có tiếng nói cảnh báo nào từ Ban kiểm soát cho đến khi sự việc bị phát hiện. Với tư cách là chủ sở hữu công ty và là người bầu ra Ban kiểm soát, chắc chắn cổ đông có lý do để bất bình về vai trò và chức năng của Ban kiểm soát.

Bên cạnh đó, mặc dù các quy định pháp luật đã trao cho Ban kiểm soát quyền được triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông khi Hội đòng quản trị không triệu tập họp hoặc có vi phạm nghĩa vụ quản lý, nhưng trên thực tế ở Việt Nam hiện nay, thực tế cho thấy, rất hiếm trường hợp Ban kiểm soát thực thi quyền hạn này.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc Ban kiểm soát chưa thực sự phát huy được vai trò, trách nhiệm của mình đối với các cổ đông. Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc thường không ưa Ban kiểm soát vì nếu có họ, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc sẽ không thể quyết định các vấn đề theo theo kiểu dọc ngang nào biết trên đầu có ai mà phải luôn dè chừng Ban kiểm soát với tư cách là cơ quan tư pháp có thể thổi còi. Vì thế, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc luôn tìm cách để tránh khỏi sự kiểm soát đó. Đây là nguyên nhân khiến hoạt động của Ban kiểm soát không hiệu quả.

Lập ra Ban kiểm soát để bảo vệ lợi ích cho mình nhưng đôi khi chính cổ đông lại không hiểu đúng vai trò của họ. Đại hội đồng cổ đông chỉ họp một, hai lần trong một năm và mỗi phiên họp thường diễn ra trong một ngày. Do đó, có trường hợp, do thời gian quá gấp rút, Đại hội đồng cổ đông chỉ kịp bầu ra Ban kiểm soát, và trao quyền cho Chủ tịch Hội đồng quản trị ban hành quy chế hoạt động của Ban kiểm soát! Được trao quyền này, lẽ dĩ nhiên là Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ giới hạn quyền của Ban kiểm soát tới mức có thể nhằm mở rộng quyền của mình. Thậm chí, tại một số công ty, cổ đông còn chấp thuận cho Hội đồng quản trị bổ nhiệm thành viên Ban kiểm soát, và tất nhiên là Hội đồng quản trị sẽ bổ nhiệm người trong nhà để tăng thêm quyền lực cho mình và để cùng hội cùng thuyền. Ngoài ra, tại một số công ty, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc nhiều khi cũng không rõ vai trò của Ban kiểm soát, coi Ban kiểm soát chỉ là một phòng Ban trong công ty, thậm chí ngay cả Ban kiểm soát cũng không rõ vai trò và quyền hạn của mình. Vì thế sự tồn tại của Ban kiểm soát nhiều khi mang nặng tính hình thức.

Theo luật định, thành viên Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lý công ty. Nghĩa là thành viên Ban kiểm soát sẽ chỉ là một người lao động bình thường, một nhân viên cấp thấp trong công ty. Trong vai trò kiểm soát viên, họ cần độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, còn trong vai trò người lao động, họ chịu sự quản lý của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc. Một câu hỏi đơn giản là trong hoàn cảnh này, Ban kiểm soát có thể độc lập kiểm soát hoạt động của công ty được không? Chắc chắn là không. Chính mâu thuẫn giữa hai vai trò này khiến cho thành viên Ban kiểm soát cùng lúc chịu nhiều áp lực và thông thường, họ sẽ chọn lựa vai trò người lao động vì dẫu sao, hàng tháng họ vẫn phải nhận tiền lương của công ty.

Ngoài tâm lý dĩ hòa vi quý của các thành viên Ban kiểm soát, trong nhiều trường hợp, các thành viên Ban kiểm soát còn có sự câu kết với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc để hưởng lợi bất chính.Vai trò của Ban kiểm soát chưa được các văn bản luật đề cao. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, văn bản do Ban kiểm soát ban hành về việc kiểm tra, giám sát chỉ có ý nghĩa cảnh báo. Ngay cả khi phát hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ quản lý công ty của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, Ban kiểm soát chỉ có quyền yêu cầu các cá nhân liên quan chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả. Ban kiểm soát không có quyền sa thải người lao động nếu họ sai phạm. Tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước, hoặc bên thứ ba chỉ quan tâm đến người nào là đại diện theo pháp luật của công ty chứ không quan tâm ai là thành viên hoặc trưởng Ban kiểm soát của công ty.

Báo cáo của Ban kiểm soát thường được trình cho Đại hội cổ đông vào mỗi kỳ họp. Thời gian giữa các kỳ họp lại quá xa và như vậy, báo cáo của Ban kiểm soát không còn tính thời sự. Bên cạnh đó, các quy định hiện hành về chế độ kế toán, các báo cáo hàng năm của Công ty cổ phần phải nộp cho cơ quan thuế chỉ gồm bản cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính.

Trong quy định về công bố thông tin của công ty đại chúng, nội dung công bố thông tin về báo cáo tài chính năm cũng chỉ bao gồm các tài liệu trên. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Như vậy, báo cáo của Ban kiểm soát không phải là tài liệu bắt buộc phải nộp cho cơ quan quản lý hoặc công bố thông tin theo quy định. Như đã nêu ở trên, báo cáo của Ban kiểm soát là một tài liệu quan trọng, giúp nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước có được cái nhìn toàn diện về doanh nghiệp từ góc độ mà các bản báo cáo tài chính không đề cập đến. Thông tin trong báo cáo của Ban kiểm soát có tầm quan trọng không kém các báo cáo tài chính. Do đó, cần phải xem xét việc yêu cầu Công ty cổ phần, nhất là công ty đại chúng, phải công bố báo cáo của Ban kiểm soát cùng với báo cáo tài chính.

Nếu toàn bộ quyền lực trong Công ty cổ phần đều tập trung vào Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, thì không ai dám khẳng định rằng họ không lạm quyền và khi đó cổ đông sẽ không được bảo vệ. Ban kiểm soát là một cơ chế phù hợp để cổ đông tự bảo vệ mình. Muốn như thế, hoạt động của Ban kiểm soát cần được điều chỉnh bởi một khung pháp lý rõ ràng hơn, đồng thời chính cổ đông phải hiểu rõ và sử dụng vai trò của Ban kiểm soát một cách thông minh và phù hợp. Ngoài ra, khi được cổ đông tin tưởng và trao quyền, Ban kiểm soát phải có đủ khả năng và dũng khí thực thi nhiệm vụ, các báo cáo của Ban kiểm soát phải thể hiện được tính độc lập và chính xác. Chỉ có như vậy quyền lợi của cổ đông mới được bảo vệ và xã hội mới tránh được những thiệt hại từ sự sụp đổ của các Công ty cổ phần.

Với các đặc điểm nói trên, Ban kiểm soát trên thực tế khó có thể hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ như luật định và trở nên hình thức, chỉ đóng vai trò là người giám sát bị kiểm duyệt chứ chưa phải là một thể chế giám sát nội bộ, độc lập, chuyên môn và chuyên nghiệp để cân bằng lại quyền lực của Hội đồng quản trị và BGĐ, phục vụ cho lợi ích tối đa của công ty và cổ đông của công ty.

Ví dụ: Bản án số 208/2018/KDTM-PT của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội hủy quyết định của Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần Giống cây trồng Hà Tây vì đã không bầu ban kiểm phiếu đúng theo Luật Doanh nghiệp 2014, không tiến hành biểu quyết từng vấn đề và thu từng thẻ biểu quyết theo Luật Doanh nghiệp 2014, sau khi bế mạc cuộc họp bảy ngày mới thông báo đính chính kết quả kiểm phiếu cho cổ đông.

2.2.4. Thực trạng kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên liên quan Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Các giao dịch của công ty với các bên có liên quan được xét ở đây gồm 2 nhóm giao dịch: (i) nhóm giao dịch của người quản lý có khả năng xung đột với lợi ích của cổ đông công ty, và (ii) nhóm giao dịch giữa công ty với những người liên quan của cổ đông chi phối có nguy cơ làm hại đến lợi ích của cổ đông thiểu số. Đây là vấn đề ủy quyền giữa cổ đông và người quản lý, cũng như giữa các cổ động với nhau. Các giao dịch của công ty với các bên có liên được quan quy dinh trong Điều 120 Luật Doanh nghiệp, thí dụ như: Giao dịch với cổ đông có hơn 35% cổ phần, nhất là với công ty mẹ: Giao dịch với những người quản lý công ty mẹ, những người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ; Giao dịch với những người quản lý công ty, vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của người quản lý công ty,…

Các loại giao dịch nêu trên cho thấy Luật Doanh nghiệp nước ta ngay từ đầu đã không cấm các giao dịch giữa công ty với các bên có liên quan . Điều đó xuất phát từ những lý do rất thực dụng. Đó là thành viên Hội đồng quản trị, những người quản lý cao cấp và các cổ đông lớn thường là những bạn hàng mà các công ty nhỏ phải giao dịch. Những khách hàng bên ngoài thường không đánh giá được triển vọng của họ hoặc các công ty này buộc phải cung cấp các bí mật kinh doanh hoặc kế hoạch bí mật để đổi lấy niềm tin của bạn hàng. Thông thường, các giao dịch loại này có thể sinh lợi cao hơn cho công ty so với các giao dịch với những bạn hàng có ít thông tin từ bên ngoài.

LDN đã quy định khá chi tiết và cụ thể các bên có liên quan của công ty và cả chế độ, cách thức kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan. Tuy vậy, trên thực tế việc kiểm soát các giao dịch loại trên ở nước ta còn hết sức yếu kém, thậm chỉ có thể nói chưa hiện diện trong quy chế chỉ đạo các công ty ở nước ta. Trước hết, các cổ đông, các thành viên Hội đồng quản trị, các cơ quan thực thi pháp luật và xã hội nói chung chưa thực sự ý thức được sự tồn tại và tác hại đối với lợi ích của công ty, của cổ đông và những người khác, nếu giao dịch của công ty với các bên có liên quan bị lạm dụng. Trên thực tế, trong hầu hết các trường hợp, các công ty chưa xác định cụ thể các đối tượng thuộc diện các bên có liên quan của công ty chưa có cơ chế và cách thức thu thập, tập hợp, lưu trữ và quản lý hồ sơ về các bên có liên quan: chưa xác định danh tinh cụ thể của từng bên có liên quan của công ty:vv. Vì vậy chùm xác định cụ thể các giao dịch cầu kiểm soát với các bên có liên quan. Như vậy, có thể nói, yêu cầu công khai hóa và kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan hầu như chưa thực hiện được. Đây thực sự đang là một lỗ hổng lớn trong khung chỉ đạo công ty ở nước ta hiện nay.

Ví dụ: Công thức chế biến đố uống nhẹ mang tên Coca Cola là một bí mật kinh doanh của công ty Coca Cola. Chỉ một vài người trong công ty biết được công thức này; và nó được giữ bí mật trong một chiếc hầm của ngân hàng ở Atlanta, bang Georgia; những người biết được công thức bí mật này đã ký hợp đồng không tiết lộ. Chính vì quyết định giữ bí mật về công thức này thay vì đang ký cấp bằng sáng chế, đến nay, công ty Coca Cola vẫn là doanh nghiệp duy nhất có thể sản xuất được loại nước uống đặc biệt được toàn cầu ưa chuộng. Còn nếu công thức này được cấp bằng sáng chế (chỉ đươc bảo hộ tối đa là 20 năm, sau đó sẽ trở thành tài sản chung của nhân loại), mọi thành phần và công đoạn chế biến Coca Cola sẽ được bộc lộ công khai, và cả thế giới đều có thể sản xuất Coca Cola. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Bí mật kinh doanh có thể liên quan đến các loại thông tin khác nhau như kỹ thuật và khoa học (công thức sản xuất, cấu tạo kỹ thuật, mã máy tính, dữ liệu thử nghiệm…); thương mại (danh sách các nhà cung cấp và khách hàng, các chiến lược tiếp thị, quảng cáo và kinh doanh, kết quả nghiên cứu thị trường, phương pháp bán hàng…); tài chính (cơ cấu giá nội bộ, danh mục giá…); thông tin phủ định (tình trạng bế tắc trong nghiên cứu, các giải pháp kỹ thuật đã bị rút bỏ…)….

Cũng theo quy định của Luật SHTT thì các thông tin bí mật sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh như bí mật về nhân thân, như tình trạng hôn nhân, tài sản của cá nhân, bí mật về quản lý nhà nước, bí mật về quốc phòng, an ninh, các thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;

Ngày nay, vấn đề bảo hộ kinh doanh đang được các doanh nghiệp hết sức quan tâm do nhiều yếu tố. Trong đó, mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt nên các đối thủ chắc chắn không hề muốn chia sẽ thông tin cho nhau. Hơn nữa, khi mà người lao động có quyền tự do lựa chọn và thay đổi nơi làm việc, sẽ có khả năng rất cao là họ mang theo thông tin đến nơi làm việc mới mà thông thường là các đối thủ cạnh tranh của công ty cũ. Cuối cùng, bản thân các thông tin bí mật không phải là giải pháp kỹ thuận nên không thể nào bảo hộ được dưới danh nghĩa sáng chế; và cũng không thể giải trình công khai để đăng ký bảo hộ do tinh bảo mật của thông tin.

Với bí mật kinh doanh, chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đọat theo quy định của pháp luật. Những hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh bao gồm: tiếp cận, thu nhập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp; tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh; vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh; tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.

2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật Việt nam về tổ chức và quản lý công ty cổ phần hiện nay Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

2.3.1. Những thành công

  • Về cổ đông và quyền cổ đông:

Bảo vệ cổ đông là một nội dung quan trọng trong khung pháp lý về QTCT. Việc hoàn thiện các quy định về bảo vệ quyền cổ đông sẽ góp phần quan trọng làm cho Công ty cổ phần trở thành một công cụ kinh doanh an toàn, hiệu quả, thông qua đó thúc đẩy đầu tư. Với mục tiêu khi xây dựng Luật Doanh nghiệp 2020 là mở rộng quyền cổ đông, tạo thuận lợi hơn cho cổ đông thực hiện các quyền của mình và bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm phạm, nâng cao trách nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và người quản lý công ty,…. Luật Doanh nghiệp 2020 tiếp tục kế thừa những quy định tích cực, đồng thời có những sửa đổi cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của Luật Doanh nghiệp 2014 về nội dung này, cụ thể là:

Sửa đổi các khoản 2 Điều 114, khoản 2 Điều 135, khoản 4 Điều 149, khoản 1 Điều 161 để mở rộng quyền tiếp cận thông tin của cổ đông về tình hình hoạt động của công ty, tạo thuận lợi hơn cho cổ đông thực hiện quyền của mình, như: Bãi bỏ nội dung hạn chế về thời hạn tối thiểu sở hữu cổ phần đối với cổ đông để có thể thực hiện một số quyền nhất định, bổ sung quyền cho Đại hội đồng cổ đông quyết định thù lao Hội đồng quản trị, quyết định lựa chọn kiểm toán độc lập. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng bổ sung thêm quy định về trách nhiệm của cổ đông trong việc bảo mật các thông tin mà cổ đông có quyền được xem xét, tra cứu, trích lục từ công ty tại Khoản 5 Điều 119.

Bổ sung quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (Điều 113), đồng thời, bổ sung khoản 6 Điều 144 về quyền biểu quyết đối với cổ phần phổ thông đã được lưu ký để phát hành chứng chỉ ký quỹ không có quyền biểu quyết để tương thích với nội dung được sửa đổi tại Điều 113 và Luật Chứng khoản 2019

  • Đại hội đồng cổ đông Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Bổ sung thêm quy định về thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông tại Khoản 2 Điều 138 với các quyền như: Quyết định thù lao cho thành viên Hội đồng quản trị, kiểm soát viên; quyết định ngân sách Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; phê duyệt quy chế quản trị nội bộ; quy chế hoạt động Hội đồng quản trị,53 Ban kiểm soát; phê duyệt công ty kiểm toán độc lập; quyết định công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm tra khi xét thấy cần thiết. Đây là các nội dung quan trọng, có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến quyền và lợi ích của chính các cổ đông. Theo thông lệ quản trị công ty tốt, thì cổ đông phải có quyền tham gia thảo luận và quyết định về những vấn đề như: Quyết định kiểm toán độc lập; quyết định thù lao và ngân sách hoạt động cho Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,….

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 thì thù lao của Hội đồng quản trị và tiền lương của GĐ (TGĐ) và người quản lý khác phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua tại cuộc họp thường niên chứ không phải chỉ cần báo cáo trước Đại hội đồng cổ đông như quy định trước đây của Luật Doanh nghiệp 2014. Quy định mới này nhằm hạn chế lạm dụng quyền hạn của những người này cho lợi ích cá nhân mình (tự mình trả thù lao cao cho chính mình), gây thiệt hại đến lợi ích của cổ đông, đặc biệt là cổ đông, nhà đầu tư nhỏ, lẻ. Sửa đổi khoản 1 Điều 144 để làm rõ thêm quy định về bầu dồn phiếu là một chế định bầu thành viên Hội đồng quản trị đặc biệt, tách bạch với cơ chế thông qua nghị quyết khác quy định tại khoản 1 và 2 Điều 114.

Luật Doanh nghiệp 2020 cũng bỏ yêu cầu phải có mẫu chỉ định đại diện theo ủy quyền dự họp trong thông báo mời họp Đại hội đồng cổ đông (được quy định tại Điều 139 Luật Doanh nghiệp 2014). Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, công ty lạm dụng quy định về ban hành và gửi mẫu chỉ định đại diện uỷ quyền cho cổ đông, để nhằm hạn chế quyền dự họp của cổ đông. Ví dụ, mẫu dự họp thường xuyên thay đổi, gửi mẫu dự họp sát thời gian họp,…. Gây khó khăn hoặc thậm trí khiến cho cổ đông, đặc biệt là cổ đông nước ngoài, không kịp đủ thời gian để ủy quyền cho người khác dự họp, vì các thủ tục hành chính như ủy quyền, hợp pháp hóa lãnh sự,… tốn nhiều thời gian. Do đó, Điều 139 được sửa đổi theo hướng bãi bỏ việc cổ đông chỉ được sử dụng mẫu chỉ định đại diện ủy quyền do công ty phát hành, thay vào đó, họ có quyền thực hiện ủy quyền với hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật dân sự.tính hợp pháp của thể thức tham dự họp và biểu quyết thông qua hội nghị trực tuyến, bỏ phiếu điện tử hoặc hình thức điện tử khác; gửi phiếu biểu quyết đến cuộc họp thông qua gửi thư, fax, thư điện tử. Quy định này cũng phù hợp với pháp luật một số quốc gia trên thế giới. Cổ đông tham gia họp Đại hội đồng cổ đông bằng hình thức thông qua phương tiện điện tử như truyền hình trực tiếp, kết nối hai chiều, cho phép cổ đông biểu quyết trước hoặc trong khi họp Đại hội đồng cổ đông mà không cần có mặt.

  • Hội đồng quản trị Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Sửa đổi Khoản 4 Điều 149 Luật Doanh nghiệp 2014 theo hướng cho phép bất kỳ cổ đông nào của công ty cũng có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu đình chỉ hoặc hủy bỏ nghị quyết của Hội đồng quản trị trái pháp luật hoặc điều lệ công ty gây thiệt hại cho công ty thay vì chỉ có cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục trong thời hạn ít nhất 01 năm mới có quyền yêu cầu Hội đồng quản trị đình chỉ thực hiện nghị quyết nói trên. Quy định này nhằm mở rộng phạm vi quyền của cổ đông, nâng cao mức độ bảo vệ cổ đông, nhà đầu tư. Theo nội dung sửa đổi, cổ đông được trao thêm quyền yêu cầu Tòa án đình chỉ thực hiện hoặc quyết định hủy bỏ nghị quyết được thông qua không phù hợp với pháp luật, điều lệ hoặc nghị quyết Đại hội đồng cổ đông.

Kế thừa quy định đã có tại Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng quy định trong trường hợp cần thiết, Công ty cổ phần có thể có Thư ký công ty để hỗ trợ cho Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị trong việc thực hiện các nghĩa vụ thuộc thẩm quyền nhưng do Hội đồng quản trị quyết định tuyển dụng chứ không phải Chủ tịch Hội đồng quản trị tuyển dụng như quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014. Sửa đổi này hoàn toàn phù hợp bởi lẽ Thư ký công ty là thiết chế được thiết lập nhằm hỗ trợ cho hoạt động của Hội đồng quản trị chứ không phải thư ký riêng của Chủ tịch Hội đồng quản trị

  • Nghĩa vụ của người quản lý công ty

LDN 2020 bổ sung thêm quy định hoàn toàn mới và rõ ràng về trách nhiệm pháp lý mang tính vật chất là trách nhiệm bồi thường thiệt hại, hoàn trả lợi ích đã nhận của người quản lý công ty trong trường hợp vi phạm trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Khoản 2 Điều 165 quy định: Thành viên Hội đồng quản trị, GĐ (TGĐ) và người quản lý khác vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba. Quy định mới này là hoàn toàn hợp lý nhằm nâng cao trách nhiệm của người quản trị đồng thời tạo thuận lợi hơn cho cổ đông trong việc khởi kiện người quản lý cũng như Tòa án, trọng tài trong xử lý tranh chấp có liên quan, phù hợp với thông lệ quốc tế tốt về QTCT.

Khoản 5 Điều 164 quy định thành viên Hội đồng quản trị, GĐ (TGĐ) nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác để thực hiện công việc dưới mọi hình thức trong phạm vi công việc kinh doanh của công ty đều phải giải trình bản chất, nội dung của công việc đó trước Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Họ chỉ được thực hiện công việc này khi được đa số thành viên còn lại của Hội đồng quản trị chấp thuận. Nếu thực hiện công việc đó mà không khai báo hoặc không được sự chấp thuận của Hội đồng quản trị thì tất cả thu nhập có được từ hoạt động đó thuộc về công ty. Rõ ràng đây là tình huống hoàn toàn mới và dường như ít khi xuất hiện trong thực tế kinh doanh tại Việt Nam từ trước đến nay nhưng sẽ trở thành bắt buộc trong tương lai

2.3.2. Những nhược điểm Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

  • Thực thi pháp luật của công ty cổ phần

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đa dạng về hình thức, đồ sộ về số lượng, không được thường xuyên rà soát, hệ thống hoá khiến người dân rất khó tiếp cận, tìm hiểu và tuân thủ đúng yêu cầu của pháp luật. Do có quá nhiều loại văn bản, được nhiều cấp ban hành nên mâu thuẫn và chổng chéo là khó tránh khỏi. Sự cồng kềnh, bất cập và mâu thuẫn làm giảm tính thống nhất, minh bạch của pháp luật, làm cho pháp luật trở nên phức tạp, khó hiểu, khó áp dụng và vì thể kém hiệu lực. Với hệ thống pháp luật như vậy, nên việc hiểu để áp dụng và thực hiện pháp luật là chuyện khó khăn không chỉ đối với người dân, doanh nghiệp mà còn đối với cả các chuyên gia pháp lý.

  • Đại hội đồng cổ đông

Về quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông bất thường trong trường hợp Hội đồng quản trị có vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao, Khoản 3 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại điều lệ công ty có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao. Nhưng Luật Doanh nghiệp 2020 không xác định rõ thế nào là vi phạm nghiêm trọng, và việc xác định vi phạm đến mức độ nào, trong trường hợp nào là nghiêm trọng sẽ rất phức tạp trên thực tế. Do đó, quy định này nếu không được giải thích cụ thể trong điều lệ công ty sẽ khó khả năng được thực thi trên thực tế, làm mất đi tính hiệu quả của Luật Doanh nghiệp trong việc bảo vệ các quyền cổ đông. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Việc Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông thỏa mãn Khoản 2 Điều 115 có quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong một số trường hợp là nhằm bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ trong công ty, hạn chế sự lạm dụng quyền lực kiểm soát công ty của các cổ đông lớn và những chủ thể quản lý công ty (HĐQT và Ban kiểm soát). Tuy nhiên,Khoản 2 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2020 lại cho phép Hội đồng quản trị có quyền duyệt chương trình, nội dung, tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông. Như vậy, nếu cổ đông hoặc nhóm cổ đông nêu trên triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông mà Hội đồng quản trị không thông qua chương trình, nội dung, tài liệu cuộc họp thì Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp này có thể không tiến hành họp được. Điều này rất dễ xảy ra trong trường hợp Hội đồng quản trị trị lạm dụng quyền lực để tư lợi và không thông qua chương trình, nội dung cuộc họp.

LDN 2020 chưa xác định rõ tiêu chí người bị khó khăn trong nhận thức hoặc làm chủ hành vi làm căn cứ cho việc Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị. Theo Điểm đ Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Tiêu chí khó khăn trong nhận thức hoặc làm chủ hành vi cũng được sử dụng tại Khoản 1 Điều 160 Luật Doanh nghiệp 2020 làm căn cứ để Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị công ty. Tuy nghiên, Luật Doanh nghiệp 2020 không có sự giải thích nào và pháp luật Việt Nam hiện nay cũng không có quy định nào cho phép hiểu khi nào thì một người bị coi là khó khăn trong nhận thức hoặc làm chủ hành vi. Đồng thời, luật cũng không quy định các quyền và vị trí của người quản lý hoặc chủ sở hữu có liên quan sẽ được khôi phục một khi người đó không còn ở tình trạng khó khăn trong nhận thức hoặc làm chủ hành vi. Như vậy, trừ khi điều lệ công ty có quy định giải thích, dự liệu về trường hợp này,các công ty và kể cả cơ quan quản lý nhà nước sẽ không thể có cách hiểu và sự áp dụng thống nhất về nội dung này.

  • Hội đồng quản trị

LDN 2020 chưa quy định rõ thành viên Hội đồng quản trị có bắt buộc là cá nhân hay không. Căn cứ vào các quy định của Luật Luật Doanh nghiệp 2020 về Hội đồng quản trị công ty, đặc biệt là các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng quản trị quy định tại khoản 1 Điều 155 thì chưa cho phép chúng ta hiểu rằng thành viên Hội đồng quản trị bắt buộc là cá nhân hay không, mặc dù với quy định thành viên Hội đồng quản trị có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh có lẽ nhà làm luật muốn đề cập tới các thành viên là cá nhân. Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 154 Luật Doanh nghiệp 2020 lại có quy định Một cá nhân chỉ được bầu làm thành viên độc lập Hội đồng quản trị của một công ty không quá 02 nhiệm kỳ liên tục. Quy định này lại làm dấy lên sự hoài nghi về ý chí đích thực của nhà làm luật về việc một thành viên không phải là thành viên độc lập của Hội đồng quản trị có nhất thiết phải là cá nhân hay không? Nếu so sánh với quy định về công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì tại khoản 1 Điều 55 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rất rõ Hội đồng thành viên công ty bao gồm tất cả thành viên công ty là cá nhân và người đại diện theo ủy quyền của thành viên công ty là tổ chức. Việc không quy định rõ thành viên Hội đồng quản trị có bắt buộc phải là cá nhân hay không có thể gây ra cách hiểu không thống nhất trong quá trình áp dụng quy định này tại các công ty. Do đó, để có cách hiểu và áp dụng một cách thống nhất về vấn đề này, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020 cần quy định cụ thể thành viên Hội đồng quản trị công ty là cá nhân.

LDN 2020 chưa quy định rõ người đại diện cho cổ đông là tổ chức có thể là thành viên Hội đồng quản trị hay không. Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2020 về tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên Hội đồng quản trị chưa cho phép chúng ta xác định rõ người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức có thể là thành viên Hội đồng quản trị hay không nếu điều lệ cũng không có quy định về trường hợp này. Theo chúng tôi, tổ chức là một tập thể gồm nhiều người nên không thể trực tiếp tham gia như một cá nhân vào quá trình quản lý công ty. Do đó, cổ đông là tổ chức sẽ thể hiện ý chí và thực hiện quyền cổ đông mình thông qua người đại diện theo ủy quyền. Nếu không thừa nhận tư cách ứng viên Hội đồng quản trị của người này thì sẽ vi phạm nguyên tắc bình đẳng giữa các cổ đông, xâm phạm quyền lợi chính đáng của cổ đông là tổ chức. Đặc biệt, đối với trường hợp Công ty cổ phần có phần vốn góp của Nhà nước thì người đại diện cho phần vốn của Nhà nước không thể bị hạn chế quyền tham gia Hội đồng quản trị. Vì vậy, Luật Doanh nghiệp 2020 cần quy định rõ ràng về quyền tham gia Hội đồng quản trị của người đại diện cho phần vốn của cổ đông là tổ chức theo ủy quyền để trách việc hiểu sai và thực hiện sai về vấn đề này.

Việc cho phép người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức tham gia HĐQT công ty sẽ dẫn đến một vấn đề pháp lý tiếp theo mà Luật Doanh nghiệp 2020 cũng chưa có sự dự liệu và quy định một cách cụ thể, đó là khi cổ đông là tổ chức thay người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn góp của họ thì người đã đại diện theo ủy quyền đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị có đương nhiên bị mất tư cách thành viên Hội đồng quản trị hay không? Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, việc không còn là người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức sẽ không thể trở thành căn cứ đương nhiên làm chấm dứt tư cách thành viên Hội đồng quản trị của một người. Thành viên Hội đồng quản trị công ty chỉ có thể bị miễn nhiệm, bãi nhiệm bởi Đại hội đồng cổ đông. Hơn nữa, bản thân Luật Doanh nghiệp 2020 không bắt buộc thành viên Hội đồng quản trị phải là cổ đông. Do vậy, khi chấm dứt vai trò đại diện phần vốn thì không đương nhiên làm mất đi vai trò thành viên Hội đồng quản trị của họ, và ngược lại nếu thành viên Hội đồng quản trị đó bị bãi nhiệm thì không đương nhiên mất đi vai trò đại diện theo ủy quyền của họ đối với phần vốn góp. Chính vì vậy, khi tổ chức thực hiện Luật Doanh nghiệp 2020, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2020 cần quy định làm rõ vấn đề trên theo hướng này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Về các dạng thành viên của Hội đồng quản trị, Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn duy trì quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về thành viên Hội đồng quản trị thông thường và thành viên độc lập Hội đồng quản trị, tùy theo cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty cổ phần. Riêng về thành viên độc lập Hội đồng quản trị, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng không đưa ra định nghĩa về dạng thành viên này mà chỉ đưa ra các điều kiện và tiêu chuẩn. Ngay cả về tên gọi của dạng thành viên Hội đồng quản trị này, nếu so sánh quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 với các quy định khác có liên quan cũng không có sự thống nhất. Luật Doanh nghiệp 2020 gọi là thành viên độc lập Hội đồng quản trị nhưng Luật Chứng khoán 2019 và Nghị định 155 hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán 2019 lại gọi là thành viên Hội đồng quản trị độc lập. Như vậy cần thiết phải có sự thống nhất về tên gọi và việc định nghĩa một cách chính xác về loại thành viên Hội đồng quản trị này, ngoài quy định về điều kiện, tiêu chuẩn.

Về việc hạn chế một người tham gia Hội đồng quản trị nhiều công ty, cũng như Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 không có bất kỳ quy định nào hạn chế việc một người tham gia Hội đồng quản trị tại nhiều Công ty cổ phần khác nhau. Thậm chí điểm c khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2020 còn quy định thành viên Hội đồng quản trị công ty có thể đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của công ty khác. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 275 Nghị định 155/2020/NĐ-CP lại quy định thành viên Hội đồng quản trị của một công ty đại chúng không được đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị tại quá công ty khác. Việc hạn chế hay không hạn chế một người tham gia làm thành viên HĐQT tại nhiều Công ty cổ phần cần xuất phát từ mối quan hệ cạnh tranh giữa các công ty này để đảm bảo rằng thành viên Hội đồng quản trị của công ty có thể thực hiện được nghĩa vụ trung thành, vì lợi ích công ty mà mình đang tham gia với tư cách là người quản lý điều hành, đảm bảo tốt quyền và lợi ích hợp pháp của công ty, của cổ đông; đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và phù hợp với thông lệ tốt trong QTCT được các tổ chức quốc tế khuyến nghị. Do đó, chúng tôi cho rằng nên có thêm quy định về việc một thành viên Hội đồng quản trị nói riêng là người quản lý công ty nói chung không được phép là người quản lý của công ty khác trong trường hợp giữa các công ty đó có mối quan hệ cạnh tranh với nhau trên cùng một thị trường liên quan, bởi lẽ người quản trị công ty trong trường hợp này nếu hành động theo nghĩa vụ trung thành, vì lợi ích của công ty này thì sẽ đi ngược lại, vi phạm chính nghĩa vụ đó ở công ty kia.

  • Ban kiểm soát Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Trong các Công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng và công ty niêm yết, vai trò của Ban kiểm soát là hết sức quan trọng. Ngoài chức năng chính là giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, GĐ (TGĐ), nhằm ngăn chặn và phát hiện những trường hợp sai phạm, thiếu sót, bất minh, bất hợp lý, xung đột lợi ích… trong việc quản lý, điều hành công ty; Ban kiểm soát còn đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp, giải pháp khắc phục, cải tiến để hoạt động quản lý, điều hành công ty đạt được hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, kể từ khi loại hình Công ty cổ phần được thành lập theo Luật công ty 1990 đến nay ở Việt Nam, hoạt động của Ban kiểm soát luôn tỏ ra mờ nhạt và thiếu hiệu quả. Nhìn tổng thể khung pháp lý về quản trị Công ty cổ phần mô hình có Ban kiểm soát thì các quy định về thiết chế này được xem là có nhiều hạn chế nhất. Trải qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung các quy định có liên quan, tính đến thời điểm hiện nay, các quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 về Ban kiểm soát vẫn còn một số hạn chế như:

LDN 2020 vẫn chưa đảm bảo được sự độc lập thực sự của Ban kiểm soát và thành viên Ban kiểm soát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và giám sát. Luật Doanh nghiệp 2020 mặc dù có tăng cường thêm các quy định tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Ban kiểm soát, nhưng các ràng buộc trong luật lại khá lỏng lẻo, còn nhiều kẽ hở. Theo Điều 169, kiểm soát viên phải đảm bảo điều kiện: Không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp; được đào tạo một trong các chuyên ngành về kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh hoặc chuyên ngành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; không phải là người có quan hệ gia đình của thành viên Hội đồng quản trị, GĐ (TGĐ) và người quản lý khác; không phải là người quản lý công ty; không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao động của công ty, trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định khác. Đồng thời, Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 cũng đã giải thích về khái niệm người có quan hệ gia đình bao gồm: vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, con đẻ, con nuôi, con rể, con dâu, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu, anh ruột của vợ, anh ruột của chồng, chị ruột của vợ, chị ruột của chồng, em ruột của vợ, em ruột của chồng. Tuy nhiên, mối quan hệ thân thiết với các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc/GĐ không chỉ là các thành phần trên mà còn nhiều quan hệ khác như chú, bác, cô, dì, anh, em nhà chú bác… Tại nhiều công ty, cổ đông lớn hoặc người quản lý đã lợi dụng kẽ hở này để đưa người thân vào Ban kiểm soát nhằm có thêm tiếng nói ủng hộ hơn là để đảm bảo chức năng kiểm soát trong công ty. Bản thân quy định thành viên Ban kiểm soát không phải là người quản lý công ty cũng không có nhiều ý nghĩa trong thực tiễn, bởi lẽ họ có thể là người lao động trong công ty hoặc người quản lý cấp thấp (không được xác định là người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp hoặc điều lệ công ty). Trong những trường hợp này, họ chịu sự chi phối, ràng buộc với người quản lý công ty về lương, thưởng, việc làm và cơ hội thăng tiến…

Như vậy, làm thế nào nào để Ban kiểm soát thực sự là một tổ chức độc lập, làm đúng chức năng giám sát và kiểm soát mà không bị vô hiệu hóa hoặc được dựng lên như bù nhìn để hậu thuẫn sau lưng Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc/GĐ. Chúng tôi cho rằng, Luật Doanh nghiệp nên quy định các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc/GĐ không được quyền đề cử và không được quyền bỏ phiếu bầu thành viên Ban kiểm soát. Quy định này nếu có là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ Ban kiểm soát không tham gia quản lý, điều hành công ty, không có vai trò trong việc làm cho công ty hoạt động hiệu quả hay kém hiệu quả, mà chỉ đóng vai trò giám sát hoạt động quản lý điều hành công ty của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc/GĐ và một trong những nguyên tắc quan trọng khi xây dựng quy chế pháp lý về QTCT là hạn chế thấp nhất những xung đột lợi ích trong hoạt động quản lý, điều hành. Khi một người có quyền đề cử, ủng hộ hoặc loại bỏ một người có quyền giám sát mình thì hành vi đó được xem là có xung đột lợi ích nên khi bỏ phiếu thì thành viên có lợi ích liên quan sẽ không được quyền bỏ phiếu.

Với các quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 hiện nay, trong quá trình hoạt động của Ban kiểm soát, các phát hiện, đề xuất của Ban kiểm soát chỉ mới ở dạng kiến nghị; chưa có cơ chế buộc thực thi các kiến nghị hợp lý của Ban kiểm soát. Theo Khoản 8 Điều 170 Luật Doanh nghiệp 2020, khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, GĐ (TGĐ) vi phạm trách nhiệm của người quản lý thì phải thông báo ngay bằng văn bản cho Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả. Ban kiểm soát cũng không có quyền nhân danh công ty kiện thành viên Hội đồng quản trị, người quản lý hoặc các cổ đông khác, nếu xét thấy cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích công ty, quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông công ty

  • Quyền cổ đông Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Có thể nói, trên cơ sở sự kế thừa các quy định trước đó về bảo vệ quyền cổ đông, đặc biệt là việc cân bằng và bảo vệ lợi ích của các cổ đông nhỏ, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có nhiều quy định phù hợp, đáp ứng yêu cầu của các thông lệ tốt về QTCT mà OECD đưa ra. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp vẫn còn một số quy định hạn chế về nội dung này, cụ thể là:

Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông còn yếu xét về số thông tin và loại thông tin mà cổ đông được quyền tiếp cận, hoặc có quyền yêu cầu được cung cấp. Một cổ đông bình thường có sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông (trừ trường hợp công ty cổ phần đại chúng) chỉ được cung cấp bản tóm tắt báo cáo tài chính hàng năm và thông báo về các quyết định của Đại hội đồng cổ đông; có quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong sổ cổ đông và biên bản họp Đại hội đồng cổ đông. Chỉ cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu hơn 10% cổ phần phổ thông mới có quyền xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát; yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết. Không có cổ đông nào được quyền yêu cầu trực tiếp cung cấp thông tin về giấy tờ, hồ sơ kế toán của công ty, v.v….

Không có quy định nào đề cập đến quyền của cổ đông yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc Toà án huỷ bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị trong trường họp khẩn cấp để bảo vệ lợi ích của công ty, của cổ đông và của các bên có liên quan khác.

  • Người quản lý công ty

Về trách nhiệm liên đới của người quản lý công ty, theo Khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020, người quản lý công ty khi vi phạm các quy định về trách nhiệm của người quản lý, sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới đền bù lợi ích bị mất, trả lại lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba. Đây là một quy định chung nhất ràng buộc trách nhiệm của người quản lý. Do vậy, nếu điều lệ không phân định chi tiết trách nhiệm của từng người quản lý (và thường điều lệ sẽ không quy định cụ thể như vậy), thì trong trường hợp một thành viên Hội đồng quản trị vi phạm trách nhiệm của mình và gây thiệt hại cho công ty, những thành viên còn lại của Hội đồng quản trị cũng có thể phải chịu trách nhiệm liên đới với thành viên vi phạm đó. Như đã phân tích và bình luận ở trên, quy định mới này của Luật Doanh nghiệp 2020 có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm của người quản lý công ty, thậm chí có tính răn đe, tạo cơ chế hữu hiệu để loại bỏ những hành vi vi phạm nghĩa vụ của người quản lý gây thiệt hại cho công ty.

Tuy nhiên, cơ chế pháp lý này cũng có nguy cơ đẩy rủi ro cho những thành viên không vi phạm nghĩa vụ, thậm chí là những thành viên mẫn cán, trung thực, trung thành và luôn hết mình vì lợi ích công ty. Việc thiếu vắng các quy định rõ ràng hơn làm căn cứ cho việc áp dụng loại trách nhiệm này sẽ gây hoang mang không nhỏ cho những người quản trị công ty.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

Từ các phân tích, đánh giá, bình luận cụ thể thực trạng các quy định pháp luật về tổ chức và quản lý Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2020 ở nước ta hiện nay, có thể đi đến một số kết luận sau:

Thứ nhất, đối với mô hình Công ty cổ phần Luật Doanh nghiệp 2020 đã xây dựng nên một cấu trúc quản lý tương đối hoàn thiện để các công ty có thể áp dụng. Đó là một cấu trúc có sự phân quyền và chế ước giữa các thiết chế trong quản trị nội bộ một cách có hiệu quả: Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát đều được thành lập bởi Đại hội đồng cổ đông (phái sinh từ Đại hội đồng cổ đông), hoạt động chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông. Ban kiểm soát được trao quyền lực độc lập để có thể giám sát hoạt động quản trị của Hội đồng quản trị, hoạt động điều hành của GĐ (TGĐ) nhưng vẫn đảm bảo Hội đồng quản trị có đủ thẩm quyền để điều hành hoạt động của công ty, đảm bảo nguyên tắc tách bạch giữa chức năng sở hữu và điều hành trong Công ty cổ phần.

Thứ hai, với các quy định hiện có của Luật Doanh nghiệp 2020, các quyền cổ đông được xác lập và đảm bảo thực hiện một cách tương đối đầy đủ, nhà làm luật đã cố gắng cân bằng mối quan hệ giữa các cổ đông (lớn, nhỏ) khác nhau và điều hòa các xung đột lợi ích có thể xảy ra, kiểm soát các giao dịch có nguy cơ dẫn đến tư lợi, nâng cao trách nhiệm của người quản lý công ty bằng các quy định về nghĩa vụ của người quản trị và các hình thức trách nhiệm pháp lý đặt ra khi có vi phạm, gây thiệt hại cho công ty.

Thứ ba, mặc dù Luật Doanh nghiệp 2020 có một số điểm mới so với Luật Doanh nghiệp 2014, song về cơ bản khung pháp lý về QTCT nói chung và quản trị Công ty cổ phần mô hình có Ban kiểm soát nói riêng vẫn kế thừa và dựa trên nền tảng các quy định đã có của Luật Doanh nghiệp 2014 là chủ yếu. Do đó, có một số quy định được đánh giá là hạn chế của Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn tiếp tục tồn tại mà chưa được khắc phục triệt để bởi Luật Doanh nghiệp 2020. Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức quản lý Công ty cổ phần

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464