Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
An toàn thực phẩm (ATTP) là vấn đề nóng bỏng mang tính thời sự được toàn xã hội quan tâm vì tầm quan trọng của nó tới sức khoẻ, trí tuệ, kinh tế và giống nòi. An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe, mà còn liên quan chặt chẽ đến sự phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội. Vấn đề đảm bảo An toàn thực phẩm đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm, không chỉ các nước phát triển như Nhật Bản, EU, Mỹ,… mà ngay cả các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước Đông Nam Á đặc biệt quan tâm.
Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) về An toàn thực phẩm: Luật An toàn thực phẩm, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật của Chính Phủ, Nghị định về xử lý vi phạm hành chính về An toàn thực phẩm, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm của Bộ quản lý chuyên ngành và các văn bản pháp luật liên quan như: Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa; luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; Nghị định về ghi nhãn hàng hóa, …; cùng hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm từ Trung ương đến cơ sở. Tuy nhiên, tình trạng thực phẩm nhiễm hóa chất độc hại, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, chất kháng sinh, hoóc môn; việc sử dụng hóa chất, phụ gia không đúng quy định trong chế biến, bảo quản thực phẩm; ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể, các khu công nghiệp, trong trường học vẫn xảy ra làm ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân và ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, du lịch, văn minh đô thị. Tình trạng thực phẩm giả, kém chất lượng, thực phẩm nhập lậu qua biên giới chưa được kiểm soát chặt chẽ; các vi phạm pháp luật chưa được xử lý kịp thời, nghiêm túc và triệt để; công tác bảo đảm vệ sinh môi trường, An toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ.
Chính vì thế, việc đầu tiên và cấp bách hiện này cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về An toàn thực phẩm để làm căn cứ xây dựng hành lang pháp lý nhằm điều chỉnh và tạo điều kiện các quan hệ pháp luật An toàn thực phẩm hoạt động và phát triển đồng thời khắc phục và hạn chế tình trạng mất An toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế,… Muốn vậy, cần có nghiên cứu 1 cách hệ thống, toàn diện cả về cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật An toàn thực phẩm nhằm đánh giá những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục hạn chế, tồn tại góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả pháp luật An toàn thực phẩm. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Trên cơ sở thực tiễn công tác quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm tại sở Công Thương Hà Nội và nghiên cứu về hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm hiện nay, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương thành phố Hà Nội” nhằm bước đầu đưa ra giải pháp để hoàn thiện pháp luật An toàn thực phẩm.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan tới vấn đề An toàn thực phẩm hiện đã có rất nhiều các công trình, đề tài, bài viết liên quan tới vấn đề trên mà chủ yếu tập trung vào 3 vấn đề chính: các vấn đề liên quan đến lý luận quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm, về cơ cấu tổ chức quản lý An toàn thực phẩm, thực trạng quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm, giải pháp quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm.
Luận án Tiến sĩ luật học (2019), Pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam của Tác giả Đặng Công Hiển đã đề cập đến những vấn đề lý luận về pháp luật An toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật An toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam; đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật An toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam [10].
Luận án tiến sĩ (2012), Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực quản lý việc sử dụng một số phụ gia trong chế biến thực phẩm tại Quảng Bình của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương, luận án tiến sĩ dinh dưỡng của Viện dinh dưỡng. Luận án đã đánh giá thực trạng quản lý việc sử dụng một số phụ gia trong chế biến thực phẩm tại Quảng Bình và đưa ra giải pháp nâng cao năng lực quản lý việc sử dụng một số phụ gia trong chế biến thực phẩm tại Quảng Bình [12].
Luận văn Thạc sĩ Luật học (2016), Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội của tác giả Lê Thị Linh đã đề cập đến những vấn đề lý luận về pháp luật và thực hiện pháp luật An toàn thực phẩm hiện nay; đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam về An toàn thực phẩm; đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện pháp luật An toàn thực phẩm [15].
Tác giả Đinh Thị Quế với Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm”, Đại học Huế, năm 2018 [13].
Vấn đề An toàn thực phẩm không phải mới nhưng cũng không hề cũ. Nó không chỉ dừng lại ở mặt lý luận như các các khái niệm về An toàn thực phẩm, nguyên tắc quản lý An toàn thực phẩm, pháp luật về An toàn thực phẩm,… mà còn ở thực tiễn công tác quản lý An toàn thực phẩm, đó là thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, các mô hình quản lý An toàn thực phẩm, dự báo xu hướng phát triển và diễn biến tình hình an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, chưa có một đề tài nghiên cứu về thực tiễn công tác quản lý An toàn thực phẩm cũng như đi sâu phân tích những tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm, đặc biệt trong lĩnh vực An toàn thực phẩm ngành Công Thương nói chung cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về An toàn thực phẩm tại Sở Công Thương Hà Nội. Chính vì thế tôi đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về An toàn thực phẩm tại sở Công Thương thành phố Hà Nội”.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
3.1 Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận pháp luật về An toàn thực phẩm, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về An toàn thực phẩm trong lĩnh vực Công Thương trên địa bàn Hà Nội, đề tài đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về An toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu quản lý về An toàn thực phẩm hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của pháp luật về an toàn thực phẩm hiện nay.
- Nghiên cứu, đánh giá, phân tích thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về An toàn thực phẩm tại Sở Công Thương thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về An toàn thực phẩm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm hiện hành và thực tiễn quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm tại Sở Công Thương thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: đề tài giới hạn trong phạm vi quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền Sở Công Thương Hà Nội.
Về thời gian: đề tài nghiên cứu pháp luật về An toàn thực phẩm và thực tiễn quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm tại Sở Công Thương thành phố Hà Nội từ năm 2015 đến nay. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trên quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về An toàn thực phẩm.
- Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tiễn, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận của pháp luật về an toàn thực phẩm, đánh giá và chỉ ra những hạn chế của pháp luật An toàn thực phẩm hiện nay, đề xuất giải pháp bảo đảm hiệu quả pháp luật An toàn thực phẩm. Do đó, luận văn đóng góp một phần lý luận làm căn cứ xây dựng và hoàn thiện pháp luật An toàn thực phẩm.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Từ những căn cứ lý luận về pháp luật An toàn thực phẩm và thực tiễn quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương thành phố Hà Nội, những giải pháp mà đề tài đưa ra có ý nghĩa trong việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật về An toàn thực phẩm của Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thảm khảo, luận văn có 3 Chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung của pháp luật về an toàn thực phẩm
- Chương 2: Pháp luật an toàn thực phẩm từ thực tiễn Sở Công Thương thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn thực phẩm từ thực tiễn Sở Công Thương thành phố Hà Nội
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1. Một số vấn đề về an toàn thực phẩm và bảo đảm an toàn thực phẩm
1.1.1. Khái niệm Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Thực phẩm là khái niệm tồn tại đã lâu và cũng có nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau về nó.
Thực phẩm là những sản phẩm dùng cho việc ăn uống của con người ở dạng nguyên liệu tươi sống hoặc đã qua chế biến cùng các chất được sử dụng cho sản xuất, chế biến thực phẩm nhằm cung cấp năng lượng, tăng trưởng, phát triển và duy trì sự sống của con người.
Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm [14, tr.3].
An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người [14, tr.1].
An toàn thực phẩm là tất cả các điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu thu hoạch, sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển và tiêu dùng nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại sức khoẻ, tính mạng người tiêu dùng. Vì vậy, an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như Nông nghiệp, Y tế, Công Thương, người sản xuất, kinh doanh thực phẩm, người tiêu dùng, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội,….
Như vậy, có thể hiểu an toàn thực phẩm là việc sử dụng các biện pháp, giải pháp để thực phẩm không gây tác động xấu đến con người (có thể được hiểu là khả năng gây ngộ độc hoặc tác động cơ học, vật lý đối với con người).
Điều kiện bảo đảm An toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khoẻ, tính mạng con người [14, tr.2].
Đây là những quy định, nguyên tắc trong quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, kinh doanh, vận chuyển, phân phối và tiêu dùng do chính nhà nước, nhà sản xuất và kinh doanh thực phẩm quy định. Các điều kiện đảm bảo An toàn thực phẩm nhằm đảm bảo, duy trì việc kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất từ đầu vào nguyên liệu đến thành phẩm thực phẩm đầu ra hướng tới mục tiêu thực phẩm an toàn. Quy định các điều kiện đảm bảo An toàn thực phẩm gồm các nhóm quy định như: quy định về cơ sở vật chất, mặt bằng, trang thiết bị, dụng cụ; quy định về con người và thực hành sản xuất đảm bảo An toàn thực phẩm; quy định về nguyên liệu đầu vào và thành phẩm đầu ra.
Bảo đảm An toàn thực phẩm là những hành động của con người nhằm ngăn chặn các mối nguy, hạn chế và xử lý hậu quả do thực phẩm không an toàn gây ra đối với con người, động thực vật. Cụ thể là: phòng ngừa các mối nguy về An toàn thực phẩm; kiểm tra, kiểm soát, xử lý các trường hợp vi phạm về An toàn thực phẩm; và can thiệp để loại trừ hậu quả do thực phẩm gây nên đối với con người, môi trường và phát triển kinh tế – xã hội.
Như vậy, mục đích trực tiếp của việc bảo đảm An toàn thực phẩm là bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Tuy nhiên, vấn đề An toàn thực phẩm còn có ý nghĩa to lớn hơn đó là vấn đề phát triển con người, chất lượng cuộc sống, an sinh xã hội, hội nhập quốc tế và văn hoá.
1.1.2. Vai trò của bảo đảm an toàn thực phẩm Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Thứ nhất, bảo đảm an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển giống nòi, an sinh xã hội, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, văn hoá xã hội và thể hiện nếp sống văn minh. Cùng với sự phát triển khoa học công nghệ, sự bùng nổ dân số thế giới khiến cho nhu cầu về thực phẩm càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Các biện pháp canh tác mới (chẳng hạn thuỷ canh, canh tác ngắn ngày,…), sử dụng các chất hoá học mới, đột biến gen,… đi cùng với đó là quy trình sản xuất đồng bộ, hiện đại đem đến cho con người nguồn thực phẩm vô cùng phong phú, đa dạng. Chính nguồn thực phẩm đó giúp con người cung cấp năng lượng duy trì sự sống, sức lao động, học tập từ đó ảnh hưởng tới chất lượng lao động của cả nền kinh tế hiện tại và tương lai, duy trì và phát triển nòi giống của dân tộc.
Thứ hai, bảo đảm An toàn thực phẩm còn là lợi thế cạnh tranh trong thương mại quốc tế và tiếp cận thị trường thế giới. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, An toàn thực phẩm đóng vai trò rất lớn đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế. Việt Nam là nước đang phát triển, trình độ kinh tế, khoa học kỹ thuật hạn chế nhưng có thế mạnh rất lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, nông lâm thủy sản. Các sản phẩm nông nghiệp, thủy hải sản nước ta đã xuất khẩu và chiếm lĩnh các thị trường quốc tế như: EU, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc,… Có thể kể đến các sản phẩm nông sản là thế mạnh của Việt Nam khi xuất khẩu như: cá tra, cá basa, tôm, mực, cá ngừ, thanh long, dưa hấu, dứa, nhãn, gạo, hạt tiêu, hạt điều, chè, cà phê, ca cao,… Các sản phẩm trên không chỉ cạnh tranh tốt về giá cả mà còn chất lượng, đảm bảo An toàn thực phẩm. Nhờ đó, thị trường thế giới biết đến Việt Nam là 1 nước có thế mạnh nông nghiệp, nông sản, thực phẩm từ đó các ngành kinh tế khác cũng dễ dàng tiếp cận với thị trường thế giới hơn.
Thứ ba, bảo đảm An toàn thực phẩm tạo môi trường thuận lợi thu hút ngoại lực như đầu tư nước ngoài, du lịch, nâng tầm quốc gia trên trường quốc tế. Lĩnh vực thực phẩm trong những năm gần đây là một trong những lĩnh vực đầu tư hấp dẫn không chỉ với các nhà đầu tư trong nước mà còn với các nhà đầu tư ngoại quốc. Các tập đoàn đa quốc gia đã đầu tư mạnh vào mảng bán lẻ thực phẩm, kênh phân phối thực phẩm, các chuỗi sản xuất – cung ứng thực phẩm an toàn. Bên cạnh đó, ẩm thực cũng là một kênh thu hút đầu tư, tạo vị thế cho đất nước.
Thứ tư, bảo đảm An toàn thực phẩm góp phần xây dựng yếu tố văn hóa – xã hội của đất nước. Ẩm thực là một trong nét văn hóa đặc sắc – độc đáo của Việt Nam, đó không chỉ thể hiện sức hấp dẫn của nền ẩm thực truyền thống mà còn ở con người Việt
Thứ năm, bảo đảm An toàn thực phẩm góp phần tạo niềm tin của người dân đối với cơ quan quản lý nhà nước và nền sản xuất nông nghiệp – thực phẩm trong nước. Thực phẩm được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm an toàn sẽ tạo dựng niềm tin của người dân vào nền sản xuất thực phẩm trong nước cũng như cơ quan quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm.
1.2. Pháp luật an toàn thực phẩm Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
1.2.1. Khái niệm
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước [9].
Pháp luật An toàn thực phẩm là bộ phận của hệ thống pháp luật, một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành tập hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa chủ thể trong quá trình các chủ thể trong chuỗi sản xuất – cung ứng – tiêu dùng thực phẩm.
Như vậy, pháp luật An toàn thực phẩm là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ và tiêu dùng thực phẩm.
Các chủ thể pháp luật An toàn thực phẩm có thể là cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào chuỗi sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh, bảo quản, vận chuyển, phân phối, tiêu dùng thực phẩm hoặc có liên quan tới thực phẩm. Khách thể của pháp luật An toàn thực phẩm là những quan hệ xã hội phát sinh trong trình sản xuất, cung ứng dịch vụ và tiêu dùng thực phẩm.
Hiện ở nước ta, hệ thống pháp luật về An toàn thực phẩm gồm: Luật của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các Bộ quản lý chuyên ngành, Thông tư liên tịch của các Bộ quản lý chuyên ngành, Quyết định của Bộ quản lý chuyên ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương,… Đây là hành lang pháp lý để kiểm soát chất lượng An toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và yêu cầu hội nhập quốc tế.
1.2.2. Đặc điểm Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Pháp luật An toàn thực phẩm là pháp luật chuyên ngành, cụ thể:
- Mục đích pháp luật An toàn thực phẩm hướng tới là bảo vệ sức khỏe, tính mạng và các lợi ích khác của người dân.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật An toàn thực phẩm là các quan hệ pháp luật phát sinh giữa các chủ thể trong suốt quá trình trồng trọt/chăn nuôi/thu hái/đánh bắt, sơ chế, chế biến, sản xuất, bảo quản, vận chuyển, phân phối, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm.
Các chủ thể liên quan đến pháp luật An toàn thực phẩm gồm: nhà nước; các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm; người tiêu dùng thực phẩm.
Phạm vi điều chỉnh của pháp luật An toàn thực phẩm rất đa dạng, bao gồm hầu hết các vấn đề liên quan đến thực phẩm và An toàn thực phẩm như: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm An toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với An toàn thực phẩm; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về An toàn thực phẩm; thông tin, giáo dục, truyền thông về An toàn thực phẩm; trách nhiệm quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm…
1.2.3. Vai trò của pháp luật an toàn thực phẩm
Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật an toàn thực phẩm vừa có những vai trò của pháp luật nói chung, vừa có những vai trò riêng của nó đối với lĩnh vực chuyên ngành An toàn thực phẩm. Thời gian qua, pháp luật An toàn thực phẩm ở nước ta đã và đang được xây dựng và hoàn thiện, góp phần điểu chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực An toàn thực phẩm. Đó là những quy phạm pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này, là cơ sở pháp lý cho công tác kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm trên địa bàn cả nước; quy phạm về điều kiện đảm bảo An toàn thực phẩm đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm,… Nó được thể hiện như sau:
Thứ nhất, là cơ sở pháp lý quan trọng trong quy định hệ thống và hoạt động của các cơ quan làm nhiệm vụ chức năng trong việc bảo đảm An toàn thực phẩm trong cả nước từ địa phương đến Trung ương. Pháp luật An toàn thực phẩm quy định vị trí, vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý An toàn thực phẩm. Từ đó phân định rõ ranh giới, tạo cơ chế cho các cơ quan quản lý nhà nước hoạt động quản lý An toàn thực phẩm từ Trung ương tới địa phương, bảo đảm hệ thống quản lý An toàn thực phẩm được thông suốt và thống nhất. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Thứ hai, pháp luật An toàn thực phẩm nhằm bảo đảm sức khỏe, tính mạng người dân và góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. An toàn thực phẩm tác động trực tiếp, thường xuyên đến sức khoẻ, tính mạng của mỗi người dân; từ đó tác động tới sức lao động, trí tuệ của người lao động và ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, du lịch và an sinh xã hội, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển nòi giống dân tộc. Tình hình ô nhiễm, ngộ độc thực phẩm ở nước ta hàng năm vẫn diễn biến phức tạp đe doạ sức khoẻ và tính mạng người dân như: ngộ độc Methanol gây chết người, ngộ độc thực phẩm tập thể trong các bếp ăn tập thể hay sử dụng tràn lan, không kiểm soát các chất kích thích tăng trưởng, thuốc kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật,… trong thời gian qua đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe, an sinh xã hội, tính mạng người dân, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế.
Thứ ba, là khuôn mẫu cho việc điều chỉnh các hành vi, các quan hệ xã hội để bảo đảm an toàn thực phẩm. Pháp luật An toàn thực phẩm là cơ sở để cho mọi người biết mình được làm gì, không được làm gì, phải làm gì để đảm bảo an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm; các chế tài xử lý vi phạm An toàn thực phẩm đủ sức răn đe nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật gây mất An toàn thực phẩm. Từ đó nâng cao nhận thức xã hội đối với vấn đề bảo đảm An toàn thực phẩm.
Trong thực tế các chủ thể khi tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm thường chú ý tới lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích của người khác, của cộng đồng, bỏ qua hoặc không tự giác thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm phải bảo đảm An toàn thực phẩm. Việc sử dụng nguyên liệu hết hạn sử dụng, ôi mốc, không đảm bảo chất lượng; sử dụng các chất cấm trong sản xuất thực phẩm hoặc kinh doanh thực phẩm nhập lậu, không rõ nguồn gốc xuất xứ,… là những hành vi vi phạm pháp luật mà pháp luật An toàn thực phẩm cấm. Khi đó, những chế tài mà pháp luật An toàn thực phẩm quy định đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của chính tổ chức, cá nhân và lợi ích chung lâu dài của xã hội. Các chế tài đó không chỉ là biện pháp trừng phạt vi phạm pháp luật bảo đảm An toàn thực phẩm, ngăn ngừa, giáo dục cải tạo chủ thể vi phạm mà còn răn đe chủ thể khác để họ tự giác tuân theo các quy phạm pháp luật, qua đó ngăn ngừa và hạn chế những hành động sai trái tác động đến An toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, các chế tài xử phạt còn tạo ra sự đồng thuận cao, trách nhiệm và tự giác trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm An toàn thực phẩm. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Thứ tư, là cơ sở pháp lý cho việc thanh tra, giám sát, quản lý, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực này của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Pháp luật An toàn thực phẩm tạo hành lang pháp lý cho các quan hệ pháp luật An toàn thực phẩm được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, pháp luật An toàn thực phẩm là “cây gậy” để nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật theo mục tiêu quản lý của mình. Từ đó góp phần làm cho An toàn thực phẩm được nâng cao, ngăn chặn và đẩy lùi mọi hành vi làm mất An toàn thực phẩm.
Thứ năm, là cơ sở pháp lý cho mọi người dân được kiểm tra, giám sát các hành vi trái pháp luật, làm mất An toàn thực phẩm. Muốn bảo đảm An toàn thực phẩm cần có sự tham gia tích cực của người dân. Pháp luật An toàn thực phẩm ở nước ta thể hiện rõ quan điểm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Mục tiêu pháp luật An toàn thực phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe, lợi ích người dân. Sự giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với công tác xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật sẽ giúp hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn thiện hơn. Vì thế, nội dung pháp luật An toàn thực phẩm quy định quyền, nghĩa vụ của người dân – người tiêu dùng trong lĩnh vực An toàn thực phẩm, vai trò kiểm tra, giám sát của người dân đối với cơ quan quản lý nhà nước; vai trò giám sát, thông tin của người dân đối với hành vi gây mất An toàn thực phẩm,…
Thứ sáu, pháp luật An toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, pháp luật về An toàn thực phẩm đóng vai trò quan trọng nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa thực phẩm của Việt Nam ra thế giới như: nông sản, thủy sản, thực phẩm tươi sống và chế biến,… Những quy định, tiêu chuẩn về thực phẩm phù hợp với các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về An toàn thực phẩm sẽ tạo điều kiện để các sản phẩm thực phẩm của chúng ta dễ dàng thâm nhập vào các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ,… tham gia ngày càng mạnh vào chuỗi giá trị thực phẩm toàn cầu. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, mặt hàng nông, thuỷ sản vẫn chiếm tỉ trọng lớn về kim ngạch xuất khẩu, giúp cân bằng cán cân thương mại và hạn chế thâm hụt thương mại.
Như vậy, có thể thấy pháp luật An toàn thực phẩm ngày càng đóng vai trò quan trọng, và cũng thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với lĩnh vực này ngày một cao hơn.
1.2.4. Nội dung pháp luật an toàn thực phẩm Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm
Luật An toàn thực phẩm 2010 phân rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân thuộc 3 hình thức khách nhau: sản xuất thực phẩm, kinh doanh thực phẩm, tiêu dùng thực phẩm. Đây là 3 đối tượng thuộc 3 khâu: sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm. Mỗi đối tượng khác nhau sẽ có vai trò khác nhau trong bảo đảm An toàn thực phẩm. Vì thế, pháp luật An toàn thực phẩm cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của từng đối tượng trong bảo đảm An toàn thực phẩm.
Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm có quyền: Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu thực phẩm hợp tác trong việc thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn;… Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật; Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” đồng thời có nghĩa vụ: Tuân thủ quy định của pháp luật, quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi thực phẩm mất an toàn do mình kinh doanh gây ra [14].
Đối với người tiêu dùng thực phẩm có quyền: được cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn, cách phòng ngừa khi nhận được thông tin cảnh báo đối với thực phẩm;… Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật; Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra. Đồng thời có nghĩa vụ: Kịp thời cung cấp thông tin khi phát hiện nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, khai báo ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm với Ủy ban nhân dân nơi gần nhất, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm [14].
- Quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm
Trong lĩnh vực thực phẩm, các quy định về điều kiện bảo đảm An toàn thực phẩm đó là các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu khác do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm bảo đảm An toàn thực phẩm trong quá trình các tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, khai thác, sơ chế, chế biến, sản xuất, kinh doanh, bảo quản, vận chuyển, phân phối và tiêu dùng thực phẩm. Khi thực hiện các hoạt động đó, các tổ chức, cá nhân, ngoài việc đáp ứng các điều kiện chung về An toàn thực phẩm, tùy từng trường hợp còn phải đáp ứng thêm các điều kiện riêng đối với từng loại hình, từng đối tượng, từng quá trình, từng sản phẩm cụ thể.
Điều kiện chung về bảo đảm An toàn thực phẩm là các yêu cầu chung nhất bắt buộc phải tuân thủ đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Đó là các yêu cầu tối thiểu các tổ chức, các nhân phải đáp ứng khi tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm và các hoạt động khác có liên quan: yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị, con người, thực hành đảm bảo An toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh thực phẩm,…. Điều 7 và Điều 8 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải có nghĩa vụ: tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất và kinh doanh thực phẩm và chịu trách nhiệm về An toàn thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh [14].
Ngoài điều kiện chung phải đáp ứng, các tổ chức, các nhân khi sản xuất, kinh doanh thực phẩm trong trường hợp cụ thể cần phải đáp ứng thêm một số yêu cầu để bảo đảm An toàn thực phẩm tùy từng đối tượng, loại hình cụ thể. Đó là điều kiện bảo đảm An toàn thực phẩm trong kinh doanh thực phẩm tươi sống, trong chế biến thực phẩm, điều kiện trong kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến, điều kiện trong kinh doanh thức ăn đường phố,… Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Những tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật về An toàn thực phẩm là một trong những điều kiện để bảo đảm An toàn thực phẩm, trong đó có các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật liên quan nhằm bảo đảm An toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Đây là một trong những “rào cản kỹ thuật” nhằm “sàng lọc” thực phẩm trước khi lưu thông trên thị trường. Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về An toàn thực phẩm là kết quả của hoạt động tiêu chuẩn hóa, quy chuẩn hóa những yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật, quy trình,… đối với thực phẩm, cơ sở trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về An toàn thực phẩm bao gồm các quy định về đặc tính kỹ thuật và mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật cho thực phẩm và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhằm bảo đảm thực phẩm an toàn, không gây hại đến tính mạng và sức khỏe cho người tiêu dùng. Ví dụ: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 6-3:2010/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm đồ uống có cồn, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 6-2:2010/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm đồ uống không cồn; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 8-1:2011/BYT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn độc tố vi nấm,… Chính vì thế, lĩnh vực thực phẩm ngoài chịu quy định của Luật An toàn thực phẩm và các hướng dẫn thực hiện liên quan còn phải thực hiện các quy định khác như Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật,…
- Về điều kiện kinh doanh thực phẩm
Đối với các chủ thể muốn tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm, pháp luật đặt ra những yêu cầu bắt buộc phải đáp ứng, đó là những quy định về điều kiện kinh doanh. Phụ lục 4 Luật số 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư 2014 quy định về 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, trong đó có lĩnh vực kinh doanh thực phẩm. Chính phủ quy định rõ điều kiện đầu tư kinh doanh đối với lĩnh vực này.
- Về đăng kí kinh doanh
Khoản 2, Điều 66, Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định đối tượng không phải đăng kí kinh doanh: “Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương” [5]. Như vậy, đối với lĩnh vực kinh doanh thực phẩm là ngành nghề kinh doanh có điều kiện nên tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều phải đăng ký kinh doanh trừ đối tượng là hộ gia đình sản xuất ban đầu, những người bán hàng rong, kinh doanh lưu động.
Căn cứ vào quy định trên có thể khẳng định, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành Công Thương đều phải thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đây là điều kiện đầu tiên mang tính bắt buộc đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành Công Thương. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Về giấy phép kinh doanh
Tùy từng đối tượng và đặc điểm khác nhau, pháp luật An toàn thực phẩm quy định hình thức quản lý khác nhau. Hiện nay, hình thức quản lý đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm gồm: quản lý thông qua các loại giấy phép như giấy chứng nhận đủ điều kiện, giấy phép lưu hành tự do, đăng kí bản công bố sản phẩm; quản lý thông qua ký cam kết với cơ quan quản lý nhà nước; quản lý thông qua hình thức kiểm tra, hậu kiểm, giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trong và sau khi hoạt động hoặc sau khi được cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận.
Điều 12, Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định 10 đối tượng không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm [7]. Các cơ sở này phải ký cam kết với cơ quan có thẩm quyền do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp quản lý về an toàn thực phẩm trên địa bàn theo Điểm b, Khoản 2, Điều 24 Nghị định 77/2016/ NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, phân bón, kinh doanh khí, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.
Đối với đối tượng phải cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện An toàn thực phẩm, điều kiện cần và đủ để kinh doanh là phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện An toàn thực phẩm. Các cơ sở này sẽ bị mất quyền kinh doanh thực phẩm khi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện An toàn thực phẩm hết hạn hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện bảo đảm An toàn thực phẩm.
Việc quy định điều kiện kinh doanh thực phẩm vừa là hình thức quản lý, vừa là rào cản nhằm hạn chế các cơ sở không đủ điều kiện tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm, góp phần bảo đảm An toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Quy định về giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm
Đây là một trong những điều kiện kinh doanh đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Luật đầu tư 2014 quy định kinh doanh thực phẩm thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện và Chính phủ quy định rõ điều kiện kinh doanh đối với lĩnh vực này. Luật An toàn thực phẩm 2010 và Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ đối tượng phải cấp và không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm. Giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm là một trong những hình thức quản lý của cơ quan quản lý nhà nước, là một thủ tục hành chính. Pháp luật An toàn thực phẩm quy định rõ hồ sơ, quy trình, trình tự thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm, thời hạn hiệu lực giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm.
- Luật An toàn thực phẩm 2010 của Quốc hội dành chương V quy định về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm. Cụ thể:
Đối tượng phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm: ngoài các đối tượng không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm do Chính phủ quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ.
Điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm: Có đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm phù hợp với từng loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm; có đăng ký ngành, nghề kinh doanh thực phẩm trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh [14].
Như vậy, các cơ sở muốn được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện phải đáp ứng các điều kiện đảm bảo An toàn thực phẩm tương ứng với từng loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phải thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh và trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh đó phải có ngành nghề kinh doanh thực phẩm loại sản phẩm mà cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh. Tổ chức, cá nhân bị thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm khi không đáp ứng đủ điều kiện quy định trên.
Thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện An toàn thực phẩm là 03 năm; Trước 06 tháng tính đến ngày Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm hết hạn, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải nộp hồ sơ xin cấp lại Giấy chứng nhận trong trường hợp tiếp tục sản xuất, kinh doanh [2].
Pháp luật An toàn thực phẩm phân công quản lý An toàn thực phẩm cho 3 Bộ quản lý chuyên ngành: Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Y tế. Bộ trưởng Bộ: Y tế, Nông nghiệp &PTNT, Công Thương quy định thẩm quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của 3 Bộ trên. Cụ thể:
Bộ Công Thương ban hành Thông tư 43/2018/TT-BCT ngày 15/11/2018 quy định về quản lý An toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm của Bộ Công Thương [2]. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn ban hành Thông tư 38/2018/TT-BNNPTNT ngày 25/12/2018 quy định thẩm định, chứng nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản đủ điều kiện An toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn.
- Quy định về nhập khẩu và xuất khẩu thực phẩm
Nhập khẩu và xuất khẩu thực phẩm là một trong hoạt động thương mại lĩnh vực thực phẩm. Quy định về xuất khẩu bao gồm các quy định về điều kiện bảo đảm An toàn thực phẩm tại Việt Nam, phù hợp với quy định của nước xuất khẩu và quy định quốc tế về thực phẩm mà Việt Nam tham gia là thành viên; các quy định về chứng nhận đối với thực phẩm xuất khẩu. Quy định về nhập khẩu bao gồm các quy định về điều kiện nhập khẩu và quản lý nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu thực phẩm tại Việt Nam.
Quy định về xuất khẩu thực phẩm đòi hỏi phải vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu sản phẩm thực phẩm, vừa phù hợp với các quy định quốc tế hay các quy định tại nước nhập khẩu.
Quy định về nhập khẩu cần đảm bảo phù hợp với thông lệ, quy định quốc tế về thực phẩm hoặc các Hiệp ước mà Việt Nam là thành viên, vừa tạo được “rào cản” về kỹ thuật, thuế, chính sách đảm bảo “sàng lọc” được thực phẩm chất lượng, an toàn, bảo vệ được nền sản xuất thực phẩm trong nước.
- Quy định về quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm
Quảng cáo thực phẩm được thực hiện theo các quy định ở Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Quảng cáo năm 2012 và văn bản hợp nhất số 47/VBHN-VPQH ngày 10/12/2018 của Quốc hội, các văn bản hướng dẫn thi hành hai luật này như: Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm; Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo; Thông tư số 09/2015/TT-BYT ngày 25/5/2015 của Bộ Y tế quy định xác nhận nội dung quảng cáo đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Trong hoạt động quảng cáo thực phẩm, ngoài tuân thủ các quy định của pháp luật về quảng cáo nói chung, các chủ thể còn phải tuân thủ những quy định riêng đối với quảng cáo sản phẩm thực phẩm. Các quy định này nhằm kiểm soát và quản lý chặt chẽ nội dung trong quảng cáo sản phẩm thực phẩm, ngăn chặn hành vi quảng cáo gian dối gây thiệt hạn cho người tiêu dùng.
Việc ghi nhãn thực phẩm được thực hiện theo quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/04/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa, Thông tư liên tịch 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 27/10/2014 của liên Bộ: Y tế, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Công Thương về hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm bao gói sẵn.
Đối với hàng hóa là thực phẩm bắt buộc phải thể hiện các nội dung gồm: Tên hàng hóa; Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; Xuất xứ hàng hóa; định lượng, thành phần cấu tạo; ngày sản xuất, hạn sử dụng, thông tin cảnh báo (nếu có); với rượu, phải có định lượng, hàm lượng ethanol, hạn sử dụng (nếu có), hướng dẫn bảo quản (đối với rượu vang), thông tin cảnh báo (nếu có), mã nhận diện lô (nếu có); thông tin bắt buộc trên nhãn bao gồm định lượng, ngày sản xuất, thông tin cảnh báo, hạn sử dụng và mã số, mã vạch…
Với việc quy định cụ thể và chặt chẽ về ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm như trên, pháp luật về An toàn thực phẩm đã góp phần bảo đảm quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng đồng thời tạo thuận lợi trong quá trình truy xuất thông tin, nguồn gốc xuất xứ của thực phẩm. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước tác động đến tình hình thực hiện An toàn thực phẩm của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về An toàn thực phẩm. Nội dung các quy định pháp luật về trách nhiệm quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm là sự phân công, phân cấp quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực An toàn thực phẩm tạo thành hệ thống quản lý An toàn thực phẩm thống nhất từ Trung ương tới địa phương. Đó là các quy định về quyền hạn, phạm vi quản lý, trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong lĩnh vực quản lý An toàn thực phẩm, cơ chế phối hợp trong quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm giữa các cơ quan quản lý nhà nước,…
Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm nhằm xác định chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, phạm vi quản lý từ đó phân định rõ quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của các đối tượng trong mối quan hệ pháp luật AT.
Điều này có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với người sản xuất, kinh doanh thực phẩm mà còn bảo đảm vận hành bộ máy quản lý An toàn thực phẩm một cách thuận lợi, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm.
Luật An toàn thực phẩm và các văn bản dưới luật quy định phân cấp quản lý An toàn thực phẩm theo ngành và cấp. Về quản lý ngành, lĩnh vực An toàn thực phẩm được giao cho 3 ngành: Y tế, Nông nghiệp, Công Thương xuyên suốt từ tuyến Trung ương tới tuyến cơ sở. Về cấp quản lý, ở tuyến trung ương có 3 Bộ: Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Y tế; tuyến địa phương có Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã. Tại cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương có đơn vị chuyên ngành quản lý An toàn thực phẩm là 3 Sở: Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Y tế; tại cấp huyện có phòng Y tế, phòng Kinh tế, Trung tâm Y tế dự phòng; tại cấp xã có phòng Văn hóa – xã hội và Trạm Y tế cấp xã. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Quy định về xử lý vi phạm an toàn thực phẩm
Pháp luật An toàn thực phẩm bên cạnh quy định những điều tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm được làm, các hành vi bị cấm còn quy định chế tài xử phạt đối với các hành vi bị cấm và các hành vi trái pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi pháp luật và các mối quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực thực phẩm. Nghị định 178/2013/NĐ-CP của Chính phủ được thay thế bởi Nghị định 115/2018/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính An toàn thực phẩm. Nghị định 115/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định các hành vi vi phạm An toàn thực phẩm được nêu cụ thể hơn và mức xử phạt cao hơn cho thấy tính răn đe, chế tài mạnh hơn so với quy định cũ [8].
Các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm, ngoài chịu sự điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật lĩnh vực An toàn thực phẩm còn bị điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực thương mại, đầu tư kinh doanh, quy định về quảng cáo, ghi nhãn hàng hóa; quy định về chất lượng sản phẩm hàng hóa; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật,… Chính vì thế, bên cạnh quy định về xử phạt vi phạm lĩnh vực An toàn thực phẩm; các tổ chức, cá nhân còn chịu chế tài của các hình thức xử phạt về nhãn, chất lượng sản phẩm hàng hóa, quảng cáo,…
Chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về An toàn thực phẩm được hiểu là những hậu quả pháp lý bất lợi do pháp luật quy định để áp dụng đối với các chủ thể có những hành vi vi phạm pháp luật về An toàn thực phẩm. Theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010, chế tài xử lý đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về An toàn thực phẩm gồm: chế tài hành chính, chế tài hình sự và các biện pháp khắc phục [14].
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật an toàn thực phẩm Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Xã hội không chỉ là sự vận hành của hệ thống kinh tế mà còn còn có hệ thống chính trị, hệ thống đạo đức, hệ thống văn hóa. Đó là một tổng thể phức hợp của các mối quan hệ đa dạng, sự tương tác lẫn nhau của các nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế, kinh tế và văn hóa. Các nhân tố phi kinh tế tác động đến pháp luật trong một chỉnh hợp thống nhất và đa dạng, đan xen nhau. Và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật An toàn thực phẩm cũng không nằm ngoài các nhân tố trên.
1.3.1. Yếu tố chủ quan
- Yếu tố chính trị, pháp lý
- Đường lối, chính sách của Đảng
Trong yếu tố chính trị thì đường lối, chính sách của Đảng là yếu tố đầu tiên, quan trọng và quyết định tới pháp luật, trong đó có pháp luật An toàn thực phẩm. Đường lối, chính sách của Đảng định ra mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định, định ra phương pháp cách thức cơ bản để thực hiện những mục tiêu và phương hướng đó và được nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế. Vì thế đường lối chính sách của Đảng là một trong những yếu tố có sức ảnh hưởng lớn nhất đến nội dung của pháp luật, trong đó có pháp luật An toàn thực phẩm. Nội dung quy định trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, từ hiến pháp, luật các văn bản dưới luật đều phải phù hợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng.
Ở nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo đất nước thông qua các Nghị quyết, các quyết sách chiến lược của Đảng. Đảng cộng sản Việt Nam là cơ quan lãnh đạo, định hướng, chỉ đạo chính sách, pháp luật Nhà nước. An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước Việt Nam từ lâu đã đặc biệt quan tâm và coi đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn về kinh tế – xã hội, về an toàn xã hội, sức khoẻ cộng động, về bảo vệ môi trường và cũng là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến tiến trình hội nhập của Việt Nam. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chỉ đạo và đưa ra các giải pháp nhằm không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Pháp luật An toàn thực phẩm được thể chế hóa bằng Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng làm căn cứ để Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật gồm Luật và các văn bản dưới Luật nhằm quản lý An toàn thực phẩm. Ban Bí thư đã có Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 21/10/2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề an toàn thực phẩm trong tình hình mới; Kết luận số 11-KL/TW ngày 19/01/2017 của Ban bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 21/10/2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề an toàn thực phẩm trong tình hình mới. Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Nghị định thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng – tăng cường và gắn trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị đối với vấn đề An toàn thực phẩm thuộc địa bàn, trách nhiệm quản lý; gắn trách nhiệm của chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp đối với tình hình An toàn thực phẩm tại địa bàn quản lý. Cụ thể: toàn bộ Ban chỉ đạo An toàn thực phẩm tại Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan đề do Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp hoặc Thủ trưởng cơ quan, đơn vị đó làm Trưởng ban chỉ đạo An toàn thực phẩm thay vì các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
- Nhu cầu quản lý đất nước trong thời đại mới Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Việt Nam là đất nước đang pháp triển, đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Vì thế pháp luật An toàn thực phẩm cũng phải được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế đất nước và bối cảnh quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý đất nước.
Việt Nam với đặc điểm nền kinh tế nhiều thành phần, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; tập quán canh tác, sản xuất còn lạc hậu, trình độ tiếp cận kỹ thuật –khoa học còn hạn chế dẫn tới nền kinh tế chưa phát triển. Hầu hết các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở quy mô nhỏ lẻ, trình độ công nghệ – dây chuyền còn hạn chế. Vì thế, việc áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào trong sản xuất, kinh doanh còn hạn chế – đây là một trong những bất lợi trong việc bảo đảm An toàn thực phẩm, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào quản lý chất lượng An toàn thực phẩm.
Với tập quán canh tác, sản xuất nhỏ lẻ, trình độ nhận thức pháp luật An toàn thực phẩm hạn chế cộng thêm tâm lý kinh doanh “chụp giật” dẫn tới tình trạng mất An toàn thực phẩm trong thời gian vừa qua. Điều này có thể xuất phát từ nguyên nhân ý thức của chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm vì chạy theo lợi nhuận, từ yếu tố khách quan do người sản xuất, kinh doanh thực phẩm không nhận thức được tính nguy hại của nguyên liệu hay các chất mà mình đang sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất, chế biến.
Chính từ điều đó, pháp luật An toàn thực phẩm cần điều chỉnh phù hợp, vừa phù hợp với đặc điểm của tình hình An toàn thực phẩm đất nước, vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý. Cần quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật An toàn thực phẩm của người dân, người sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng thực phẩm. Đồng thời, cũng cần có những chế tài đủ mạnh, mang tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật An toàn thực phẩm. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Bên cạnh đó, các quy định, chính sách pháp luật An toàn thực phẩm không được trái với thông lệ quốc tế, các công ước, hiệp định mà Việt Nam là thành viên. Xu thế quốc tế hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi Việt Nam cần xây dựng pháp luật An toàn thực phẩm ngày càng đầy đủ, hoàn thiện nhằm tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật An toàn thực phẩm trong nước, giúp các doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi để đầu tư hoặc xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm ra nước ngoài; ngăn chặn thực phẩm kém chất lượng, không đảm bảo An toàn thực phẩm xâm nhập thị trường trong nước; đồng thời giúp bảo vệ nền sản xuất thực phẩm trong nước.
Từ ngày 01/01/2007, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên phải từng bước tuân thủ các hiệp định của Tổ chức này, trong đó có các dịch vụ về y tế. Các hiệp định chính của WTO bao gồm: Hiệp định về các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), Hiệp định về áp dụng các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS), Hiệp định về các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) và Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS). Theo đó, các quy định về SPS như ghi thời hạn sử dụng ghi trên nhãn sản phẩm thực phẩm nhập khẩu, áp dụng các biện pháp An toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật, đặc biệt là nguyên tắc đánh giá nguy cơ hay các quy định về TBT (hàng rào kỹ thuật trong thương mại) như áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với tiêu chuẩn Codex, các tiêu chuẩn quốc tế do WHO và FAO phối hợp soạn thảo… mà Việt Nam cũng như các quốc gia thành viên đều phải tuân thủ. Bên cạnh đó, trong điều kiện hội nhập, cần thiết phải có cơ chế pháp lý về việc thừa nhận tiêu chuẩn lẫn nhau giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực, cũng như thế giới, đặc biệt là việc áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến trong quản lý an toàn thực phẩm.
Như vậy, các yêu cầu trên cho thấy, Việt Nam cần phải nội luật hóa các quy định của WTO, WHO, FAO, CODEX…về An toàn thực phẩm để có cơ sở pháp lý thực hiện tại Việt Nam.
- Người xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Đây là một trong các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn bản quy phạm pháp luật về An toàn thực phẩm. Yếu tố người xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có thể kể đến như: đơn vị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cán bộ công chức tham gia vào công tác tham mưu – xây dựng – ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các yếu tố ảnh hưởng có thể kể đến như: trình độ, năng lực và quan điểm của đơn vị làm luật hoặc của người làm luật, yếu tố chủ quan của người làm luật – các vấn đề “lợi ích nhóm” trong văn bản quy phạm pháp luật,… Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Ví dụ, Điều 12 Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định rõ 10 đối tượng không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm trong đó có đối tượng “kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ” [7]. Nhưng quan điểm quản lý của Bộ Công Thương với Bộ Y tế và Bộ NN&PTNT có sự không đồng nhất. Cụ thể, với Bộ Công Thương quan điểm: các cơ sở sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm, trong khi Bộ Y tế và Bộ NN&PTNT không đồng nhất với quan điểm quản lý trên. Điều này khiến công tác quản lý ATTP đối với các cơ sở sản uất thực phẩm nhỏ lẻ tại tuyến quận/huyện và xã/phường trở nên phức tạp và khó khăn.
Khoản 3, Điều 28, Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định: từ ngày 01/7/2019, các cơ sở sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe phải áp dụng Thực hành sản xuất tốt (GMP) thực phẩm bảo vệ sức khỏe theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Điều này đồng nghĩa với việc tất cả các cơ sở sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe phải có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện An toàn thực phẩm đạt yêu cầu thực hành sản xuất tốt (GMP) thực phẩm bảo vệ sức khỏe, không phân biệt quy mô, công suất sản xuất. Với đặc điểm của các cơ sở sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe hầu hết ở quy mô nhỏ lẻ, điều kiện về trang thiết bị, nhà xưởng còn hạn chế thì rất nhiều cơ sở khó đạt được tiêu chuẩn GMP theo quy định. Quy định này có thể được coi là quy điều kiện kinh doanh đối với cơ sở sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe và Chính phủ giao thẩm quyền cấp cho Bộ Y tế.
- Yếu tố tài chính
Yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật An toàn thực phẩm. Tài chính ở đây không chỉ nói đến đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất mà còn đầu tư vào con người cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về An toàn thực phẩm. Muốn có hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm hoàn chỉnh cần có những nghiên cứu, điều tra, thậm chí dự báo về tình hình, xu hướng các quan hệ pháp luật để đưa ra những nguyên tắc, quy định điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật sao cho phù hợp với đời sống, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phát triển và dễ thực hiện. Và đương nhiên là cần phải có kinh phí để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Khi hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm đã được ban hành cần được thường xuyên rà soát, đánh giá, sửa đổi bổ sung phù hợp với tình hình thực tiễn công tác quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm.
1.3.2. Yếu tố khách quan Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế xã hội, hệ thống chính sách kinh tế và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong lĩnh vực kinh tế. Pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển kinh tế.
Trình độ nền kinh tế sẽ là điều kiện thuận lợi cho pháp luật phát triển hay kinh tế phát triển kéo pháp luật phát triển theo. Một nền kinh tế ở trình độ cao, phát triển năng động, bền vững sẽ tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của tầng lớp trong xã hội. Ngược lại, khi kinh tế phát triển chậm, kém năng động và kém hiệu quả sẽ tác động tiêu cực tới pháp luật. Điều này được thể hiện rõ ở những mặt sau:
Thứ nhất, pháp luật An toàn thực phẩm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phát triển kinh tế –xã hội. Nước ta là nước đang phát triển, trình độ kinh tế xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau, do đó nó cũng ảnh hưởng nhất định đến pháp luật An toàn thực phẩm. Khi nền kinh tế – xã hội phát triển, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhu cầu đảm bảo sức khỏe, tiêu dùng thực phẩm an toàn càng cao; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật về An toàn thực phẩm cũng cao hơn. Từ đó, trình độ nhận thức, ý thức pháp luật An toàn thực phẩm của người dân cao hơn đòi hỏi quy định pháp luật An toàn thực phẩm cũng phải được nâng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của kinh tế. Ngược lại khi kinh tế kém phát triển, nhu cầu đời sống vật chất chưa đảm bảo thì nhu cầu cập nhật kiến thức pháp luật hạn chế, yêu cầu về pháp luật An toàn thực phẩm cũng chưa cao. Bản thân pháp luật An toàn thực phẩm không thể phát triển đi trước sự phát triển của kinh tế. Nền kinh tế phát triển đến đâu thì pháp luật An toàn thực phẩm cần phải hoàn thiện đến đó nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế.
Đặc điểm nền kinh tế phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa cũng ảnh hưởng không nhỏ tới pháp luật An toàn thực phẩm. Việt Nam xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật cũng phải theo định hướng đó và pháp luật An toàn thực phẩm là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam nên các quy định, các chính sách pháp luật An toàn thực phẩm đều phục vụ mục tiêu xây dựng nhà nước, nền kinh tế theo định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa. Pháp luật An toàn thực phẩm và các văn bản quy phạm dưới luật điều chỉnh đối tượng, phạm vi áp dụng và các quy định liên quan phù hợp với từng đối tượng, thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Pháp luật An toàn thực phẩm quy định rõ điều kiện đảm bảo An toàn thực phẩm với các loại hình kinh doanh khác nhau: kinh doanh nhỏ lẻ, kinh doanh dịch vụ ăn uống, sơ chế nhỏ lẻ, kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn, kinh doanh thức ăn đường phố,… Tương ứng với mỗi đối tượng và loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm khác nhau sẽ có hình thức quản lý khác nhau như: quản lý bằng giấy phép, giấy chứng nhận hay ký cam kết bảo đảm An toàn thực phẩm, quản lý bằng thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm; kiểm tra nhà nước về An toàn thực phẩm,…
Thứ hai, cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới pháp luật An toàn thực phẩm. Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế; từ đó sẽ tác động tích cực hơn đối với hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm, đặt ra yêu cầu – đòi hỏi pháp luật An toàn thực phẩm phải hoàn thiện và đầy đủ hơn. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Cùng với xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển nền kinh tế thị trường và đòi hỏi nhu cầu tiêu dùng thực phẩm an toàn của người dân ngày càng cao đặt ra yêu cầu cần quản lý lĩnh vực thực phẩm. Luật An toàn thực phẩm 2010 đã tạo thuận lợi xây dựng các văn bản dưới luật, trong đó phân cấp rõ ràng, mạch lạc quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực An toàn thực phẩm từ Trung ương (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã. Vấn đề An toàn thực phẩm đã được phân cấp quản lý cho 3 ngành khác nhau: Y tế, Nông nghiệp, Công Thương và tương ứng với lĩnh vực quản lý chuyên ngành sẽ có các Thông tư, Quyết định quản lý tương ứng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương cũng có Quyết định phân cấp quản lý An toàn thực phẩm trên địa bàn. Từ đó hình thành hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm đầy đủ, thống nhất, xuyên suốt từ tuyến Trung ương tới địa phương.
- Yếu tố văn hóa, xã hội
Các yếu tố văn hóa, xã hội cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật về An toàn thực phẩm trong giai đoạn hiện nay. Đó là các quan điểm, lối sống, văn hóa – đạo đức còn tồn tại từ chế độ cũ, thế hệ trước để lại. Với Việt Nam, một đất nước có hơn bốn nghìn năm lịch sử, trong đó có gần nghìn năm Bắc thuộc đô hộ và vừa thoát khỏi chiến tranh kéo dài cả thế kỷ thì không thể tránh khỏi việc tồn tại tư tưởng phong kiến, quan niệm sản xuất manh múm, nhỏ lẻ. Từ đó dẫn tới các hành vi kinh doanh chụp giật, chỉ hướng tới “lợi ích” trước mắt mà không chú trọng tới lợi ích lâu dài, không đi sâu vào chất lượng An toàn thực phẩm, không đầu tư chiều sâu cho việc xây dựng hình ảnh, thương hiệu sản phẩm thực phẩm,… Quá trình thực thi pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước vẫn tồn tại quan điểm “cả nể”, “một trăm cái lý không bằng tí cái tình” dẫn đến vi phạm pháp luật về An toàn thực phẩm còn kéo dài và ngày càng phức tạp.
Ngoài ra, ý thức, niềm tin đối với pháp luật của con người và hoạt động của các cơ quan chức năng cũng ảnh hưởng rất quan trọng đối với hoạt động thực hiện pháp luật.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Việc tìm hiểu, luận giải những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về An toàn thực phẩm có ý nghĩa quan trọng. Nó là những luận cứ về mặt lý luận để phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về An toàn thực phẩm. Trong chương này, luận văn đạt được một số kết quả như sau: Thứ nhất, phân tích và làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài như: “thực phẩm”“An toàn thực phẩm”, “sản xuất thực phẩm”, “điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm”,… ; chỉ ra vai trò bảo đảm An toàn thực phẩm; Thứ hai, làm rõ nội dung chính của pháp luật về An toàn thực phẩm: khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung của pháp luật An toàn thực phẩm. Thứ ba, phân tích các yêu tố ảnh hưởng tới pháp luật An toàn thực phẩm như: yếu tố chính trị – pháp lý, người xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, yếu tố kinh tế, yếu tố phong tục tập quán, yêu tố tài chính. Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương