Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật an toàn thực phẩm từ thực tiễn Sở Công Thương thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng pháp luật an toàn thực phẩm từ thực tiễn Sở Công Thương thành phố Hà Nội
2.1.1. Đánh giá chung về pháp luật an toàn thực phẩm
- Những kết quả đạt được
Hiện nay ở nước ta, hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm gồm: Luật An toàn thực phẩm của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật và Nghị định về An toàn thực phẩm của Bộ quản lý chuyên ngành (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương), Thông tư liên tịch của các Bộ quản lý chuyên ngành; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quản lý chuyên ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/Thành phố trực thuộc Trung ương, Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam đối với sản phẩm thực phẩm, Quy chuẩn kỹ thuật địa phương đối với sản phẩm thực phẩm đặc thù địa phương…
Pháp luật An toàn thực phẩm trong thời gian vừa qua đã đạt được thành tựu đáng kể, tạo hành lang pháp lý cho các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm. Hệ thống pháp luật An toàn thực phẩm cũng khá đầy đủ và điều chỉnh một cách tương đối các mối quan hệ pháp luật An toàn thực phẩm, thể hiện trên một số các mặt sau:
Pháp luật An toàn thực phẩm hiện hành đã đưa ra các quy định về nguyên tắc quản lý An toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành. Ngoài quy định trách nhiệm cụ thể của 3 ngành: Nông nghiệp, Công Thương, Y tế thì pháp luật cũng quy định phải có sự phối hợp liên ngành trong quá trình quản lý. Đối với các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của 3 Bộ, để thống nhất hướng dẫn thực hiện, Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương ban hành 3 Thông tư liên tịch hướng dẫn, trong đó Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 27/10/2014 hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, thực phẩm bao gói sẵn. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Bên cạnh đó, pháp luật An toàn thực phẩm cũng quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp đối với vấn đề An toàn thực phẩm trên địa bàn quản lý; trong đó đáng chú ý tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định trách nhiệm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Từ đó tạo điều kiện cho 1 số địa phương đề xuất và thành lập Ban chỉ đạo An toàn thực phẩm như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bắc Ninh để thống nhất quản lý An toàn thực phẩm của 3 cơ quan: Sở Y tế, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, sở Công Thương thành 1 đầu mối duy nhất về quản lý An toàn thực phẩm trên địa bàn. Một số địa phương đã ban hành quy định về phân công, phân cấp quản lý An toàn thực phẩm trên địa bàn, trong đó quy định cụ thể trách nhiệm quản lý An toàn thực phẩm của cơ quan chuyên môn về An toàn thực phẩm cấp tỉnh (sở Công Thương, sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, sở Y tế), Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong phối hợp quản lý An toàn thực phẩm. Một số địa phương có thể kể đến là: Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 về phân công trách nhiệm quản lý về An toàn thực phẩm trên địa bàn Hà Nội; Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành Quyết định số 24/2019/QĐ-UBND ngày 08/4/2019 về phân cấp quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của ngành Công Thương trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ban hành Quyết định số 10/2019/QĐ-UBND ngày 22/4/2019 quy định phân công, phân cấp quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Bình Thuận; Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 37/2017/QĐ-UBND ngày 15/11/2017 về phân cấp quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của ngành Công Thương trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 37/2017/QĐ-UBND ngày 15/11/2017 về phân cấp quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của ngành Công Thương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 1208/2017/QĐ-UBND ngày 23/4/2019 về phân công quản lý an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm của ngành Công Thương trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
- Pháp luật An toàn thực phẩm bước đầu đã đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về chất lượng An toàn thực phẩm và yêu cầu hội nhập quốc tế. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Với việc giao trách nhiệm cho 3 Bộ chính chịu hoàn toàn trách nhiệm trong quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm cho các sản phẩm thực thẩm thuộc ngành mình quản lý đã bảo đảm được tính xuyên suốt tất cả quá trình từ sản xuất, chế biến và lưu thông trên thị trường đến tay người tiêu dùng là an toàn cho sức khỏe và tính mạng. Trước khi Luật An toàn thực phẩm năm 2010 có hiệu lực, Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 2003 giao trách nhiệm quản lý An toàn thực phẩm cho Bộ Y tế quản lý. Tuy nhiên, thực tế công tác quản lý, việc quản lý An toàn thực phẩm bị phân đoạn: Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn quản lý An toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông lâm thủy sản trong quá trình trồng trọt/chăn nuôi, thu hái, đánh bắt/khai thác và sơ chế, chế biến các sản phẩm trên; Bộ Y tế quản lý quản lý khâu chế biến, Bộ Công Thương quản lý khâu lưu thông (lĩnh vực quản lý thị trường). Luật An toàn thực phẩm năm 2010 ra đời đã chuyển đổi quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm theo chuỗi sản phẩm và nhóm ngành hàng, thông suốt từ khâu trồng trọt, chế biến, lưu thông, phân phối. Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã giao trách nhiệm cụ thể cho 03 Bộ: Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Công Thương. Từ đó hình thành hệ thống tổ chức quản lý An toàn thực phẩm từ Trung ương tới tỉnh, huyện và xã/phường/thị trấn quản lý An toàn thực phẩm xuyên suốt theo chuỗi từ sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, phân phối và tiêu thụ thực phẩm. Quy định trách nhiệm, thẩm quyền rõ ràng trong quản lý An toàn thực phẩm tạo điều kiện thuận lợi trong công tác quản lý An toàn thực phẩm, tăng tính chủ động và phối hợp giữa các cơ quan trong quản lý An toàn thực phẩm.
Những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật đã được tiếp cận theo hướng mới, chuyển từ phương thức quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm (dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn công bố áp dụng); từ quản lý theo công đoạn sang quản lý theo quá trình, chuỗi cung cấp thực phẩm. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về An toàn thực phẩm được các cơ quan có thẩm quyền tích cực ban hành, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thực phẩm, cũng như kiểm soát và quản lý an toàn thực phẩm. Các tiêu chuẩn và quy chuẩn này đã đáp ứng được yêu cầu của quốc tế và phù hợp với CODEX.
Bên cạnh đó, xu thế quốc tế hóa đặt ra đòi hỏi các nước cần tăng cường hội nhập, tự hoàn thiện để theo kịp phát triển của thế giới. Không chỉ ở lĩnh vực kinh tế, mà lĩnh vực pháp luật cần đi trước để tạo hành lang pháp lý cho các quan hệ xã hội đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế. Pháp luật An toàn thực phẩm cũng cần cập nhật các quy định quốc tế nhằm đảm bảo tính phù hợp cho các sản phẩm thực phẩm trong nước xuất khẩu và tạo “hàng rào pháp lý” đối với sản phẩm thực phẩm nhập khẩu đảm bảo an toàn thực phẩm. Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể kiểm tra nhà nước về An toàn thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu: quy định về cơ quan kiểm tra, phương thức kiểm tra, hồ sơ đăng ký kiểm tra, trình tự kiểm tra, xử lý thực phẩm khi không đạt yêu cầu,..
- Pháp luật An toàn thực phẩm bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm
Bên cạnh quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, pháp luật An toàn thực phẩm quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm. Điều này vừa thể hiện vai trò của người tiêu dùng đối với vấn đề bảo đảm An toàn thực phẩm, vừa thể hiện quyền lợi của người tiêu dùng thực phẩm và pháp luật bảo đảm quyền lợi của họ bằng các chế tài pháp luật. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Quy định pháp luật về nhãn phải cung cấp đầy đủ thông tin như: tên sản phẩm, tên và địa chỉ tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm sản phẩm, thành phần, định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, hướng dẫn sử dụng (nếu có),… Người tiêu dùng được cung cấp đầy đủ thông tin sản phẩm thực phẩm giúp họ nhận biết lựa chọn sản phẩm mong muốn đồng thời đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm đó.
Quy định của pháp luật An toàn thực phẩm về quảng cáo cũng giúp hạn chế hành vi quảng cáo gian dối, đặc biệt đối với thực phẩm chức năng, thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Các hành vi quảng cáo gian dối như: khuếch đại hoặc quảng cáo sai sự thật về chức năng hoặc tác dụng của sản phẩm, khai sai về thành phần nguyên liệu sản xuất sản phẩm,… Việc quy định phải xác nhận nội dung trước khi quảng cáo đối với các sản phẩm trên là hết sức quan trọng và cần thiết, đặc biệt đối với các sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới sức khỏe người tiêu dùng.
- Hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật An toàn thực phẩm cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Cụ thể:
- Tính cập nhật của các văn bản quy phạm pháp luật An toàn thực phẩm còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý.
Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011 nhưng đến 25/4/2012 mới ban hành Nghị định 38/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ATTP [3]; Đến ngày 05/10/2012, Bộ Công Thương mới ban hành Thông tư 29/2012/TT-BCT hướng dẫn cấp, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm. Suốt thời gian từ tháng 05/2012 đến tháng 09/2012, sở Công Thương Hà Nội không thực hiện được thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn do chưa có Thông tư hướng dẫn thực hiện.
Khoản 1 Điều 12 Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy định 4 đối tượng không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm không bao gồm cơ sở sản xuất nhỏ lẻ [3], trong khi Thông tư 58/2014/TT-BCT ngày 22/12/2014 của Bộ Công Thương không điều chỉnh đối tượng “sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ” [1]. Đến ngày 31/12/2015, Bộ Công Thương mới ban hành Thông tư 57/2015/TT-BCT về điều kiện bảo đảm An toàn thực phẩm nhỏ lẻ thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công Thương. Trong khi, Điều 6 Nghị định 38/2012/BNĐ-CP của Chính phủ quy định rõ hồ sơ công bố phù hợp quy định An toàn thực phẩm đối với sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc phải có “giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện An toàn thực phẩm”. Như vậy, suốt thời gian từ tháng 12/2014 tháng 12/2015, đối tượng “sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ” ngành Công Thương không được cấp giấy xác nhận công bố phù hợp quy định An toàn thực phẩm.
Điều đó đã tạo một khoảng trống trong thực hiện pháp luật lĩnh vực An toàn thực phẩm, gây khó khăn cho công tác quản lý An toàn thực phẩm và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm khi tuân thủ pháp luật An toàn thực phẩm.
Tính ổn định, khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật An toàn thực phẩm còn chưa cao, cần phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp thực tiễn áp dụng. Có những văn bản được các cơ quan chức năng ban hành chỉ trong một thời gian ngắn đã phải sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ. Do đó, đã gây khó khăn cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm, cũng như công tác kiểm soát An toàn thực phẩm trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước. Nghị định 08/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/01/2018 sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương trong đó bãi bỏ nhiều điều khoản trong lĩnh vực An toàn thực phẩm đã được ban hành tại Nghị định 77/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 chỉ sau hơn 1 năm triển khai thực hiện. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về An toàn thực phẩm còn chồng chéo, chưa đồng nhất khiến cho việc triển khai, thực hiện càng khó khăn. Quan điểm về cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ của ngành Công Thương và ngành Nông nghiệp, Y tế chưa thống nhất khiến cho phương thức quản lý đối với đối tượng này là khác nhau. Ngành Công Thương quan điểm tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ (có hoặc không có đăng kí kinh doanh) là các cơ sở nhỏ lẻ và không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm. Đối với ngành Y tế và Nông nghiệp thì khác, chỉ các cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm.
Cùng hành vi vi phạm “quảng cáo gian dối sản phẩm” nhưng lại quy định ở 2 văn bản với mức phạt khác nhau. Cụ thể: Phạt tiền từ 50 triệu đến 70 triệu đồng đối với hành vi quảng cáo gian dối sản phẩm (Khoản 5 Điều 51 Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ); Khoản 2 Điều 33 Nghị định 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014 của Chính phủ quy định mức phạt tiền từ 80 triệu đến 140 triệu đồng) [4].
Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật còn thiếu, gây khó khăn cho công tác quản lý An toàn thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Trên thực tế, số lượng và chủng loại sản phẩm thực phẩm rất đa dạng, phong phú trong khi số lượng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ban hành còn hạn chế, rất nhiều sản phẩm thực phẩm chưa xây dựng được tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật gây khó khăn cho công tác quản lý và tuân thủ pháp luật của cơ sở, đặc biệt khi các cơ sở tự công bố sản phẩm. Ví dụ: chưa có tiêu chuẩn/quy chuẩn về sản phẩm rượu thủ công, rượu thuốc, rượu bổ, mứt, ô mai,… Quy định giới hạn An toàn thực phẩm tại Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 8-1:2011/BYT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 8-2:2011/BYT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 8- 3:2012/BYT còn thiếu, chưa cụ thể gây khó khăn cho việc áp dụng và khó khăn khi kiểm tra, hậu kiểm.
Mặc dù việc phân công về trách nhiệm của các cơ quan đã được xác định rõ ràng, nhưng vẫn có sự chồng chéo, phân đoạn quản lý dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý dẫn đến hiệu quả quản lý An toàn thực phẩm chưa Ví dụ đối với sản phẩm sữa: sữa nguyên liệu thuộc quản lý của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và phải tuân thủ quy định, giới hạn an toàn do Bộ Nông nghiệp & PTNT quy định, sữa chế biến thuộc quản lý của Bộ Công Thương và phải tuân thủ quy định, giới hạn an toàn do Bộ Y tế quy định. Điều đó tạo sự phân đoạn quản lý: sữa vắt từ con bò thì Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn quản lý nhưng cùng nguyên liệu sữa đó được chế biến mà không bổ sung vi chất thì Bộ Công Thương quản lý, còn bổ sung vi chất thì thuộc quản lý của Bộ Y tế.
Các văn bản quy phạm pháp luật An toàn thực phẩm được ban hành nhiều nhưng phạm vi và mức độ điều chỉnh còn chồng chéo, chưa đầy đủ, thống nhất, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Tính ổn định, khả thi và tính cập nhật của các văn bản quy phạm pháp luật An toàn thực phẩm chưa cao, chưa bắt kịp với thực tiễn tình hình An toàn thực phẩm. Sự trùng lắp, chồng chéo và chưa thống nhất trong quy định pháp luật An toàn thực phẩm gây khó khăn cho công tác triển khai thực hiện.
2.1.2. Pháp luật an toàn thực phẩm từ thực tiễn Sở Công Thương thành phố Hà Nội Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Một số đặc điểm của Hà Nội
Kể từ sau khi sáp nhập tỉnh Hà Tây cũ vào Hà Nội (năm 2008) thì Hà Nội là địa bàn rộng, với số lượng dân cư lớn (bao gồm cả nội thành, ngoại thành và nhập cư). Hà Nội có dân số khoảng 7,9 triệu người và hơn 2 triệu người ngoại tỉnh đến công tác, học tập, lao động, thăm quan du lịch,…Toàn thành phố có 20 trung tâm thương mại, 120 siêu thị (trong đó có 92 siêu thị kinh doanh tổng hợp có kinh doanh thực phẩm), 460 chợ (02 chợ đầu mối, 04 chợ có tính chất đầu mối, 454 chợ dân sinh), hiện có 4/7 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm công nghiệp, có 13/15 cơ sở giết mổ gia súc gia cầm bán công nghiệp, 4 khu giết mổ gia súc gia cầm tập trung thủ công đang hoạt động. Có 1.047 điểm giết mổ nhỏ lẻ thủ công, 59.109 cơ sở thực phẩm. Để đáp ứng thực phẩm nông lâm thủy sản cho khoảng 10 triệu dân, mỗi ngày thị trường Hà Nội cần khoảng 800 – 1000 tấn thịt các loại, 2.500 – 3000 tấn rau quả các loại, 350 – 400 tấn thủy hải sản tươi sống và chế biến,… Sản xuất thực phẩm của Hà Nội mới chỉ đáp ứng 60% nhu cầu, còn lại 40% nhu cầu phải nhập từ các tỉnh và nhập khẩu [25].
Với đặc điểm là địa bàn rộng, lượng dân cư và nhu cầu tiêu thụ thực phẩm lớn; Hà Nội mới chỉ đáp ứng 60% nhu cầu thực phẩm, còn lại 40% thực phẩm nhập khẩu và nhập từ các tỉnh. Bên cạnh đó, với số lượng cơ sở gần 60.000 cơ sở thực phẩm, hơn 1.000 cơ sở giết mổ và hàng triệu hộ nông dân, sản xuất cá thể nhỏ lẻ cho thấy tình hình An toàn thực phẩm trên địa bàn Hà Nội phức tạp và thường xuyên biến động.
- Giới thiệu về Sở Công Thương Hà Nội Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Sở Công Thương Hà Nội là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội có trụ sở tại địa chỉ: số 331 đường Cầu Giấy, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Ngày 08/9/2016, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 39/2016/QĐ-UBND về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở Công Thương thành phố Hà Nội [23]. Cụ thể:
- Về vị trí và chức năng
Sở Công Thương thành phố Hà Nội là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân Thành phố quản lý nhà nước về công thương, bao gồm các ngành và lĩnh vực: Cơ khí; luyện kim; điện; năng lượng mới; năng lượng tái tạo; hóa chất; vật liệu nổ công nghiệp; công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản (trừ vật liệu xây dựng); công nghiệp tiêu dùng; công nghiệp thực phẩm; công nghiệp chế biến khác; an toàn thực phẩm; lưu thông hàng hóa trên địa bàn Thành phố; xuất khẩu; nhập khẩu; quản lý thị trường; xúc tiến thương mại; thương mại điện tử; dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế; quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá; chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; khuyến công, quản lý cụm công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ; về các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân cấp, ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố và theo quy định của pháp luật.
Chịu sự chỉ đạo, quản lý và điều hành của Ủy ban nhân dân Thành phố về tổ chức, biên chế và hoạt động; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn thực hiện về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Công Thương.
- Nhiệm vụ và quyền hạn
Tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố các chương trình, kế hoạch, đề án, giải pháp và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý lĩnh vực Công Thương trên địa bàn.
Hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình và các quy định về phát triển công thương sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hành pháp luật về lĩnh vực Công Thương.
Giúp Ủy ban nhân dân Thành phố chủ trì, kiểm tra, thẩm định thiết kế các dự án đầu tư xây dựng, chất lượng các công trình thuộc ngành công thương trên địa bàn Thành phố theo phân cấp; cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn và thu hồi các loại giấy phép, chứng nhận thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của Sở theo quy định của pháp luật, sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý lĩnh vực công thương trên địa bàn bao gồm: công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong đó có lĩnh vực An toàn thực phẩm từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sản phẩm sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến từ bột, tinh bột, bánh, mứt, kẹo, bao bì chứa đựng và các sản phẩm khác, an toàn thực phẩm đối với các chợ, siêu thị và các cơ sở thuộc hệ thống dự trữ, phân phối hàng hóa thực phẩm; lĩnh vực thương mại
Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về giám định, đăng ký, cấp giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận trong phạm vi trách nhiệm quản lý của Sở theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Quản lý, theo dõi, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội, hiệp hội và các tổ chức phi chính phủ thuộc phạm vi quản lý của Sở trên địa bàn Thành phố theo quy định của pháp luật.
Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở quản lý theo quy định của pháp luật. Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công thương theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực công thương đối với các Phòng Kinh tế hoặc Phòng Kinh tế và Hạ tầng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ trong công nghiệp và thương mại thuộc phạm vi quản lý của Sở; hướng dẫn thực hiện các tiêu chuẩn, quy phạm, định mức kinh tế – kỹ thuật, chất lượng sản phẩm công nghiệp; xây dựng hệ thống thông tin lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ; tổ chức thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch, đề án xây dựng phát triển mạng lưới điện nông thôn và chợ nông thôn tại các xã trên địa bàn Thành phố, đánh giá công nhận xã đạt tiêu chí về điện và chợ theo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Triển khai thực hiện chương trình cải cách hành chính của Sở theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính của Ủy ban nhân dân Thành phố. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Kiểm tra, thanh tra theo ngành, lĩnh vực được phân công quản lý đối với tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công thương; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Quản lý và tổ chức thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh vực công thương thuộc phạm vi quản lý của Sở theo quy định của pháp luật. Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở quản lý, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở theo hướng dẫn chung của Bộ Công Thương, Bộ Nội vụ và theo quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức và số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở; thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Sở theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Quản lý theo quy định của pháp luật đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội và các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực công thương tại địa phương. Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính được giao theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Tổng hợp thông tin, báo cáo định kỳ sáu tháng một lần hoặc đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với Ủy ban nhân dân Thành phố và Bộ Công Thương. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố giao và theo quy định của pháp luật.
- Cơ cấu tổ chức Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Sở Công Thương được tổ chức gồm 01 giám đốc Sở, 03 Phó giám đốc Sở, 01 đơn vị trực thuộc (Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp) và 6 phòng ban chuyên môn gồm: Văn phòng, Thanh tra, phòng Quản lý công nghiệp, phòng Quản lý thương mại, phòng Kế hoạch – Tài chính – Tổng hợp, phòng Quản lý Năng lượng.
- Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương thành phố Hà Nội
- Về công tác chỉ đạo – điều hành
Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách liên quan đến An toàn thực phẩm từ Chính phủ, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, từ năm 2015 đến nay, Sở Công Thương Hà Nội đã ban hành 351 văn bản chỉ đạo điều hành liên quan tới công tác quản lý An toàn thực phẩm. Cụ thể: năm 2015 ban hành 19 văn bản, năm 2016 ban hành 53 văn bản, năm 2017 ban hành 117 văn bản, năm 2018 ban hành 88 văn bản. Và 6 tháng đầu năm 2019 ban hành 74 văn bản triển khai thực hiện công tác quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương trên địa bàn Hà Nội.
- Về công tác tham mưu, góp ý các văn bản quy phạm pháp luật
Sở Công Thương là một trong các đơn vị tích cực trong quá trình tham mưu, góp ý sửa đổi, bổ sung, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật từ cấp Trung ương tới cấp Thành phố, đặc biệt là trong lĩnh vực An toàn thực phẩm ngành Công Thương. Cụ thể:
- Đã tham gia góp ý xây dựng Nghị định của Chính phủ về An toàn thực phẩm: Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018; Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018; Nghị định số 08/2018/ND-CP ngày 15/01/2018.
- Đã tham gia góp ý xây dựng các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm và Nghị định của Chính phủ của Bộ Công Thương: Thông tư 29/2012/TT-BCT, Thông tư 58/2014/TT-BCT, Thông tư 43/2018/TT-BCT.
Đã tham gia góp ý, xây dựng Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố (thay thế Quyết định số 16/2016/QĐ-UBND ngày 09/5/2016 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội).
- Về công tác tuyên truyền – phổ biến pháp luật Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Trong những năm qua, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về An toàn thực phẩm được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đi trước một bước trong các hoạt động bảo đảm An toàn thực phẩm. Việc nâng cao kiến thức và thực hành về An toàn thực phẩm cho các đối tượng được các Bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Các hoạt động tuyên truyền giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng được đã được triển khai đồng bộ, bài bản, đặc biệt tập trung vào các đợt cao điểm như: Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán và Lễ hội, Tháng hành động vì An toàn thực phẩm, Tết trung thu, các đợt cao điểm về ngộ độc rượu,… theo chỉ đạo của Trung ương và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội nhằm nâng cao vai trò của Ủy ban nhân dân các cấp, vai trò quản lý của các cơ quan chức năng, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm, trách nhiệm của cộng đồng và bản thân người tiêu dùng trong công tác bảo đảm An toàn thực phẩm.
Theo số liệu báo cáo của Sở Công Thương Hà Nội giai đoạn 2015-2019 cho thấy công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật về An toàn thực phẩm cho các đối tượng: cán bộ quản lý An toàn thực phẩm tuyến quận/huyện và xã/phường, người quản lý và người trực tiếp sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng thực phẩm,… ngày càng được chú trọng; chủ yếu tập trung vào các nội dung: hướng dẫn thực hiện và phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về An toàn thực phẩm và các văn bản khác có liên quan, hướng dẫn thực hành sản xuất kinh doanh thực phẩm. Cụ thể:
Năm 2015, đã tổ chức 11 lớp tập huấn, phổ biến kiến thức về An toàn thực phẩm, các văn bản quy phạm pháp luật về An toàn thực phẩm, đặc biệt là Thông tư liên tịch 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 09/4/2014 của Liên Bộ Y tế, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công Thương; Quyết định 6409/QĐ-BCT và 6410/QĐ-BCT ngày 21/7/2014 của Bộ Công Thương; Thông tư 58/2014/TT-BCT ngày 22/12/2014 của Bộ Công Thương (với 1.300 người tham gia); tổ chức Hội Nghị tổng kết 3 năm thực hiện Nghị định 38/2012/NĐ-CP, 01 Hội nghị tuyên truyền các quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường cho các DN kinh doanh thực phẩm, Ban quản lý chợ trên địa bàn Thành phố. Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội với vai trò là Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo 389/TP đã phối hợp với Ban chỉ đạo 389 các quận, huyện, thị xã tổ chức ký 180 bản cam kết đến các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn Thành phố về không kinh doanh doanh hàng cấm, hàng lậu, hàng giả, hàng vi phạm về An toàn thực phẩm [16]. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Năm 2016, đã tổ chức 18 lớp tập huấn phổ biến kiến thức về An toàn thực phẩm, hướng dẫn thực hiện Quyết định 16 của Ủy ban nhân dân Thành phố tại các Quận/Huyện/Thị xã: Sơn Tây, Nam Từ liêm, Bắc Từ Liêm, Long Biên, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Hoài Đức (02 lớp), Ứng Hòa, Gia Lâm, Thạch Thất, Thanh Oai, Quốc Oai… ; Hệ thống siêu thị Vinmart, Fivimart và 1 số doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm với khoảng 2.000 người tham gia; tổ chức Hội Nghị tổng kết 5 năm thực hiện Luật An toàn thực phẩm và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật An toàn thực phẩm. Tham dự Hội nghị có đại diện Bộ Công Thương, sở Y tế, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, phòng kinh tế các quận/huyện/thị xã, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Công Thương trên địa bàn. Phối hợp với Ban chỉ đạo 389 các quận, huyện, thị xã tổ chức ký 107.359 bản cam kết đến các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn Thành phố về không kinh doanh doanh hàng cấm, hàng lậu, hàng giả, hàng vi phạm về An toàn thực phẩm [17].
Năm 2017, đã tổ chức 29 lớp tập huấn (trong đó 10 lớp chuyên đề về Đề án trái cây, 19 lớp phổ biến kiến thức An toàn thực phẩm tại các huyện: Quốc Oai, Mê Linh, Ứng Hòa, Gia Lâm, Hoài Đức, Sóc Sơn, Hoàng Mai, Sơn Tây, Thạch Thất, Phúc Thọ…); In ấn 30.200 tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền quy định về An toàn thực phẩm. Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội với vai trò là Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo 389/TP đã phối hợp với Ban chỉ đạo 389 các quận, huyện, thị xã tổ chức ký 19.662 bản cam kết đến các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn Thành phố về không kinh doanh doanh hàng cấm, hàng lậu, hàng giả, hàng vi phạm về An toàn thực phẩm [18].
Năm 2018, đã tổ chức 27 lớp tập huấn các kiến thức An toàn thực phẩm, các quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm, đặc biệt liên quan tới Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, Nghị định 105/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ; Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 cuả Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An toàn thực phẩm [19].
6 tháng đầu năm 2019, đã tổ chức 05 lớp tập huấn, phổ biến kiến thức, quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm, việc tự công bố sản phẩm, các TCVN, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm thực phẩm,.. cho cán bộ quản lý An toàn thực phẩm cấp huyện, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn các quận: Đống Đa, Tây Hồ, Ba Đình; các huyện: Phúc Thọ, Đan Phượng, Thạch Thất, Hoài Đức, Phú Xuyên và thị xã Sơn Tây [21].
Sở Công Thương cũng tích cực phối hợp với cơ quan báo chí, truyền thông trong công tác tuyên truyền, đưa tin, giáo dục pháp luật về An toàn thực phẩm tới người dân. Phối hợp xây dựng các bài đưa tin, phóng sự, chương trình về tình hình An toàn thực phẩm trên địa bàn Thủ đô, đặc biệt là các phóng sự đưa tin về các vụ việc, điểm nóng An toàn thực phẩm như: sản xuất bimbim không đảm bảo An toàn thực phẩm, kinh doanh hàng nhập lậu, không rõ nguồn gốc xuất xứ, ngộ độc Methanol, ….
- Hướng dẫn ủy ban nhân dân các quận/huyện/thị xã thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Ngoài việc thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về An toàn thực phẩm, Sở Công Thương Hà Nội thường xuyên trao đổi chuyên môn, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm cho cán bộ quản lý An toàn thực phẩm tuyến quận/huyện và xã/phường.
Ngay khi có văn bản quy phạm pháp luật mới về An toàn thực phẩm từ cấp Trung ương (Chính phủ, Bộ Công Thương), Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Sở Công Thương đã có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tới Ủy ban nhân dân các quận/huyện/thị xã trên địa bàn để triển khai thực hiện. Từ đó giúp cho việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm được thông suốt và nhanh chóng đi vào cuộc sống. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Về cách thức thực hiện thủ tục hành chính về An toàn thực phẩm:
Năm 2016, để tăng cường hiệu quả quản lý về An toàn thực phẩm ngành Công Thương trên địa bàn, Sở Công Thương Hà Nội đã mạnh dạn đề xuất Ủy ban nhân dân Thành phố phân cấp quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương tới tuyến quận/huyện, xã/phường tại Quyết định 16/2016/QĐ-UBND ngày 09/5/2016 của Ủy ban nhân dân Thành phố. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm, giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm, tiếp nhận cam kết bảo đảm An toàn thực phẩm [22].
Sở Công Thương đã cử cán bộ tới từng quận/huyện để hướng dẫn các làm, cách giải quyết thủ tục hành chính; từ quy trình, cách thức kiểm tra, cách thức tổ chức thi và chấm bài thi xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm đảm bảo nhanh và hiệu quả. Từ đó, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm tại tuyến quận/huyện.
Năm 2019, Sở Công Thương đã phối hợp với Viện kiểm nghiệm quốc gia tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ nghiệp vụ lấy mẫu thực phẩm cho cán bộ các phòng kinh tế của 30 Ủy ban nhân dân quận/huyện/thị xã trên địa bàn nhằm phục vụ công tác kiểm tra, hậu kiểm đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn.
- Việc thực hiện thủ tục hành chính lĩnh vực an toàn thực phẩm
Thủ tục hành chính là chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan quản lý nhà nước với dân và các tổ chức [11], là tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước. Xác định được điều đó nên trong những năm qua, Sở Công Thương luôn thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên các phương diện: đơn giản hóa hồ sơ và cách thức thực hiện, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm
Theo Thông tư 43/2018/TT-BCT ngày 15/11/2018 của Bộ Công Thương [2], Quyết định 14/2019/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội [24], Sở Công Thương cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành Công Thương trên địa bàn.
- Hình 2.1. Kết quả cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương Hà Nội giai đoạn 2015-2019
- Hình 2.2. Kết quả cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo loại hình tại Sở Công Thương Hà Nội giai đoạn 2015-2019
Có thể nhận thấy, biến động về cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm theo các năm tại Sở Công Thương chủ yếu ở lĩnh vực kinh doanh (đặc biệt trong năm 2018). Đối với lĩnh vực sản xuất, số lượng giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm không biến động nhiều (dao động từ 180 – 200 giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP). Điều này cũng dễ hiểu khi số lượng cơ sở sản xuất thực phẩm thường ít hơn rất nhiều lần số lượng cơ sở kinh doanh thực phẩm, ngoài ra cũng do đặc điểm số lượng cơ sở kinh doanh thực phẩm lớn nhưng chủ yếu là cơ sở nhỏ lẻ (chiếm đến hơn 80% số lượng các cơ sở trên địa bàn).
Năm 2018, số lượng các cơ sở kinh doanh thực phẩm trên địa bàn được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm tăng mạnh, chủ yếu do Tập đoàn Vinmart đẩy mạnh mảng bán lẻ thực phẩm, liên tiếp hệ thống các cửa hàng tiện lợi Vinmart+mở cửa, đi đôi với việc đổi tên doanh nghiệp trên giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của đơn vị sở hữu hệ thống Vinmart+. Cuối năm 2018 tại Hà Nội cũng ghi nhận sự kiện hàng loạt siêu thị Fivimart đồng loạt đổi chủ sở hữu sang Vinmart. Bên cạnh đó, quy định Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ mở rộng đối tượng không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm làm cho nhu cầu và số lượng các cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm giảm.
- Việc cấp giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm
Hình 2.3. Kết quả cấp giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương Hà Nội giai đoạn 2015-2018
Kết quả cấp giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm được tính theo số người được xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm. Đó là chủ cơ sở, người quản lý, người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Điều này thể hiện số lượng lao động tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Theo quy định, sở Công Thương cấp giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm cho doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành Công Thương và cá nhân có nhu cầu được xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Kết quả trên cho thấy số người được cấp giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm giảm từ năm 2015 (gần 8.000 người), tới 2017 (hơn 5.000 người), nhưng năm 2018 tăng vọt (gần 10.000 người). Cũng cần nói thêm là giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm có hạn hiệu lực là 3 năm, vì thế cho thấy đang có 1 số lượng không nhỏ lao động mới tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Về tiếp nhận hồ sơ tự công bố sản phẩm
Thực hiện Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, sở Công Thương Hà Nội bắt đầu tiếp nhận hồ sơ tự công bố sản phẩm thực phẩm ngành Công Thương quản lý từ tháng 04/2018. Đối tượng là các sản phẩm do doanh nghiệp, hộ kinh doanh sản xuất thực phẩm ngành Công Thương; các cơ sở, doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm tổng hợp, kinh doanh thực phẩm ngành Công Thương (bao gồm các sản phẩm thực phẩm nhập khẩu). Mặc dù đây không phải là thủ tục hành chính nhưng để đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp, cơ sở và dễ dàng trong công tác quản lý, sở Công Thương Hà Nội đã xây dựng quy trình tiếp nhận và cập nhật hàng ngày trên website của Sở Công Thương. Kết quả: từ tháng 04/2018 đến nay, sở Công Thương Hà Nội đã tiếp nhận 15.403 hồ sơ công bố sản phẩm thực phẩm. Trong đó: năm 2018, sở Công Thương Hà Nội tiếp nhận 11.032 hồ sơ tự công bố sản phẩm thực phẩm; riêng 06 tháng đầu năm 2019, sở Công Thương Hà Nội tiếp nhận 4.371 hồ sơ tự công bố sản phẩm thực phẩm.
- Về thanh tra và xử lí vi phạm về an toàn thực phẩm
Thông qua kết thanh tra, xử lí vi phạm có thể thấy số đơn vị được thanh tra và số tiền xử phạt vi phạm hành chính so với số lượng cơ sở thuộc sở Công Thương quản lý còn khá khiêm tốn. Một phần do tỷ lệ số đơn vị được thanh tra hàng năm thấp do hạn chế về số lượng cán bộ thanh tra (hiện Sở Công Thương không có cán bộ thanh tra chuyên ngành An toàn thực phẩm, các cán bộ tham gia Đoàn Thanh tra hầu hết đều kiêm nhiệm).
Kết quả thanh tra và xử lí vi phạm An toàn thực phẩm tại Sở Công Thương Hà Nội từ năm 2015 đến năm 2018 như sau:
- Hình 2.4. Kết quả thanh tra, xử lí vi phạm an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương Hà Nội giai đoạn 2015-2018
Các lỗi vi phạm chủ yếu bao gồm: không có giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm và khám sức khoẻ của chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; không thực hiện thủ tục công bố sản phẩm; không duy trì điều kiện đảm bảo An toàn thực phẩm. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Về kiểm tra, xử lí vi phạm an toàn thực phẩm
Thông qua kết thanh tra, xử lí vi phạm có thể thấy số đơn vị được thanh tra và số tiền xử phạt vi phạm hành chính so với số lượng cơ sở thuộc sở Công Thương quản lý còn khá khiêm tốn. Một phần do tỷ lệ số đơn vị được thanh tra hàng năm thấp do hạn chế về số lượng cán bộ thanh tra (hiện Sở Công Thương không có cán bộ thanh tra chuyên ngành An toàn thực phẩm, các cán bộ tham gia Đoàn Thanh tra hầu hết đều kiêm nhiệm).
Kết quả thanh tra và xử lí vi phạm An toàn thực phẩm tại Sở Công Thương Hà Nội từ năm 2015 đến năm 2018 như sau:
- Hình 2.5. Kết quả kiểm tra, xử lí vi phạm an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương Hà Nội giai đoạn 2015-2018
Nhìn vào biểu đồ có thể nhận thấy năm 2016 là năm ra quân mạnh của lực lượng quản lí thị trường Hà Nội, tăng cả ở mức xử phạt và giá trị hàng hoá tịch thu, tiêu huỷ. Liên tiếp các vụ buôn bán thực phẩm kém chất lượng, thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, trong đó có mặt hàng bimbim và các nguyên liệu sử dụng để sản xuất bimbim. Sở Công Thương Hà Nội cũng thực hiện nhiều chuyên đề kiểm tra như: Chuyên đề bimbim; Chuyên đề rượu; Chuyên đề gia súc, gia cầm.
Lần đầu tiên, vi phạm An toàn thực phẩm được quy định tại Ðiều 317 của Bộ luật Hình sự 2015 theo Luật sửa ổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 về “Tội vi phạm quy định về An toàn thực phẩm”, tùy theo mức vi phạm, có thể phạt tiền đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù đến 20 năm.
Điều này cho thấy, mức độ và tính răn đe của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật về An toàn thực phẩm. Và đương nhiên khi mức phạt càng nặng, việc thực thi pháp luật càng nghiêm thì đương nhiên số vụ vi phạm và số tiền xử lý vi phạm phải giảm.
2.2. Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại trong công tác thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
2.2.1. Nguyên nhân chủ quan
- Bất cập trong quy định của pháp luật an toàn thực phẩm hiện hành
- Chưa xây dựng được hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm thực phẩm.
Trên thực tế đối với thực phẩm ngành Công Thương quản lý chỉ có 1 số sản phẩm có quy chuẩn kỹ thuật, còn đa phần đều chưa có quy chuẩn kỹ thuật để làm căn cứ quản lý. Ví dụ: Đối với sản phẩm đồ uống có cồn có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 6-3:2010/BYT do Bộ Y tế ban hành. Quy chuẩn kỹ thuật này áp dụng cho các sản phẩm như rượu trắng, rượu vang, bia chai, bia hơi. Tuy nhiên trong nhóm sản phẩm đồ uống có cồn còn rất nhiều dòng sản phẩm khác như: rượu hoa quả (làm từ hoa quả ngoài nho) (rượu táo mèo, rượu chuối, … , rượu ngâm, rượu bổ (rượu ba kích, rượu đông trùng hạ thảo,…), bia tươi,…, rượu thủ công,…; Đối với sản phẩm đồ uống không cồn có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 6-2:2010/BYT do Bộ Y tế ban hành. Quy chuẩn kỹ thuật này áp dụng cho các sản phẩm như: nước giải khát, nước quả,…; Đối với các sản phẩm sữa có quy chuẩn kỹ thuật sau: quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm sữa lên men, quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm sữa tươi, quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm sữa nguyên liệu.
Rất nhiều sản phẩm thực phẩm chưa xây dựng được quy chuẩn kỹ thuật tương ứng để làm căn cứ quản lý và áp dụng thực hiện như: kẹo (kẹo cứng, kẹo mềm, kẹo dẻo, kẹo socola), mứt tết, bánh trung thu (bánh nướng, bánh dẻo), ô mai, bún, phở, miến, bánh ngọt, bánh gato, bánh bông lan, thạch,…
Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo sự thông thoáng cho doanh nghiệp khi quy định các sản phẩm thực phẩm thông thường phải thực hiện thủ tục tự công bố sản phẩm. Các doanh nghiệp sẽ phải tự công bố mức chất lượng đối với các sản phẩm thực phẩm do doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh. Tuy nhiên, do các quy định chất lượng tại các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm thực phẩm hiện nay vừa thiếu, vừa chưa đầy đủ gây khó cho các cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật an toàn thực phẩm chưa đầy đủ, còn chồng chéo, chưa thống nhất
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật An toàn thực phẩm gồm: Luật An toàn thực phẩm, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm của Chính phủ, Nghị định xử lí vi phạm hành chính về An toàn thực phẩm, Thông tư hướng dẫn Luật và Nghị định của các Bộ quản lý chuyên ngành (Y tế, Nông nghiệp, Công Thương), Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương,…Tuy nhiên, chưa có bất kì một văn bản quy phạm nào phân loại hay đưa ra khái niệm các dòng sản phẩm thực phẩm. Chẳng hạn một số sản phẩm thực phẩm như: thạch, bánh chưng, bánh tẻ, tinh bột nghệ,… và chúng chưa được phân loại thuộc nhóm sản phẩm thực phẩm nào? do ai quản lý. Rất nhiều các cơ sở như vậy trong 1 thời gian dài chưa được thực hiện thủ tục hành chính về An toàn thực phẩm, gây khó khăn cho việc sản xuất, kinh doanh do không có giấy phép theo quy định, gây khó khăn cho công tác quản lý, triển khai thực hiện
Ví dụ: đối với sản phẩm truyền thống như bánh trưng, nguyên liệu chủ yếu gồm gạo, đậu xanh, thịt, lá dong và có thể có 1 số nguyên liệu khác. Quy trình sản xuất truyền thống là ngâm, vo gạo, đậu xanh tách vỏ, rửa, thịt được cắt nhỏ sau đó được gói với lá dong rồi đem luộc hoặc hấp. Với quy trình sản xuất và nguyên liệu trên là sản phẩm quản lý và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm của ngành Nông nghiệp. Tuy nhiên, do tên sản phẩm có từ “bánh” trong nhóm “bánh mứt kẹo” của ngành Công Thương quản lý. Trong 1 thời gian dài đối tượng trên không được pháp luật quy định thẩm quyền quản lý dẫn đến “lỗ hổng” trong quy định pháp luật.
Ví dụ: đối với sản phẩm bột nghệ hiện cũng chưa có quy định đối với sản phẩm này. Quy trình sản xuất tinh bột nghệ tương tự như tinh bột sắn (rửa, xay nghiền, lọc, cô đặc, sấy) nhưng sản phẩm không có hoặc có rất ít hàm lượng tinh bột.
Hiện nay, chưa có bất kì văn bản nào của Chính phủ hay hướng dẫn của Bộ Nội vụ về tổ chức bộ máy, hệ thống quản lý An toàn thực phẩm từ tuyến Trung ương tới tuyến địa phương (tuyến tỉnh, tuyến huyện, tuyến xã). Trong khi Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định rõ trách nhiệm của địa phương trong việc để xảy ra vụ việc hay vi phạm trên địa bàn. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm trên địa bàn quản lý. Không có hướng dẫn xây dựng, không có hệ thống quản lý An toàn thực phẩm khiến cho việc quản lý ở từng địa phương theo 1 cách khác nhau. Chẳng hạn, tại Sở Công Thương Hà Nội giao trách nhiệm quản lý An toàn thực phẩm cho nhiều đơn vị: phòng Quản lý công nghiệp và phòng Quản lý thương mại sẽ chịu trách nhiệm quản lý các đơn vị sản xuất và kinh doanh thực phẩm ngành công thương trên địa bàn; Thanh tra Sở thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm An toàn thực phẩm đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn; lực lượng quản lý thị trường tiến hành kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh, vận chuyển thực phẩm trên địa bàn. Còn đối với một số Sở Công Thương các tỉnh khác thì giao quản lý An toàn thực phẩm cho phòng Kỹ thuật An toàn môi trường chịu trách nhiệm quản lý nhà nước các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành Công Thương trên địa bàn; các đơn vị: Thanh tra Sở và lực lượng quản lý thị trường thực hiện chức năng như trên.
Một số địa phương đã thí điểm thành lập Ban quản lý An toàn thực phẩm nhằm thống nhất công tác quản lý An toàn thực phẩm của 3 ngành: Y tế, Nông nghiệp, Công Thương như: Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đà Nẵng, Bắc Ninh. Việc thí điểm thành lập Ban quản lý An toàn thực phẩm được thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và có hiệu lực trong hai năm. Và hiệu quả hoạt động của Ban quản lý An toàn thực phẩm chúng ta vẫn phải chờ tổng kết kết quả hoạt động của 3 đơn vị trên sau 2 năm thí điểm. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Chưa có quy định riêng về điều kiện đảm bảo An toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất rượu, bia, nước giải khát, bánh mứt kẹo,…; quy định riêng đối với sản phẩm rượu thủ công và cơ sở sản xuất rượu thủ công (rượu thủ công là sản phẩm sản xuất theo công nghệ truyền thống, từ nấu cơm – lên mốc – ủ lên men – chưng cất,…); quy định riêng đối với sản phẩm rượu thuốc, thuốc bổ.
- Việc cập nhật danh mục các chất cấm, chất phụ gia được phép sử dụng và giới hạn sử dụng chưa thường xuyên, đầy đủ.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, cộng với nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường thì việc sử dụng các chất phụ gia thực phẩm, các chất kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật,… trong chăn nuôi, trồng trọt, chế biến, bảo quản thực phẩm là điều không thể tránh khỏi nhằm nâng cao, năng suất, chất lượng, thời gian bảo quản, hiệu quả sản xuất – kinh doanh thực phẩm, thậm chí lợi nhuận kinh doanh. Tuy nhiên, việc sử dụng các chất trên phải đảm bảo sản phẩm thực phẩm đó an toàn với con người, không gây gại tới sức khỏe con người.
Người sản xuất, kinh doanh thực phẩm sẽ phải luôn tìm cách để sử dụng các chất phụ gia thực phẩm, các chất kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, các hóa chất khác để đạt được hiệu quả sản xuất, kinh doanh và lợi nhuận cao nhất. Từ đó sẽ ngày càng xuất hiện mới và nhiều các chất phụ gia, các chất kháng sinh, các chất bảo vệ thực vật. Và nếu cơ quan quản lý nhà nước không chịu cập nhật thường xuyên cũng như quy định về danh mục được phép sử dụng cũng như giới hạn sử dụng đối với chúng thì rất khó để quản lý cũng như đảm bảo an toàn thực phẩm.
Thông tư 27/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012 của Bộ Y tế về hướng dẫn quản lý phụ gia thực phẩm quy định danh mục, giới hạn và đối tượng sử dụng của 400 chất phụ gia thực phẩm được phép dùng trong sản xuất, chế biến, bảo quản thực phẩm. Đến năm 2015, Bộ Y tế ban hành Thông tư 08/2015/TT-BYT ngày 11/5/2015 về sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Thông tư 27/2012/TT-BYT; trong đó có sửa đổi, bổ sung danh mục và cập nhật giới hạn tối đa được phép sử dụng của một số chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm. Như vậy, trong 3 năm từ 2012-2015 và cho đến nay chúng ta vẫn sử dụng danh mục quy định các chất phụ gia được phép sử dụng đó trong hai Thông tư trên trong quá trình quản lý An toàn thực phẩm. Nhưng trên thực tế, rất nhiều loại chất, nhiều loại phụ gia được các cơ sở chế biến, chăn nuôi sử dụng trong quá trình sản xuất, chế biến. Không thường xuyên cập nhật các chất mới, chất phụ gia mới trong sản xuất, chế biến thực phẩm đồng nghĩa với việc chúng ta không quản lý được, cũng không kiểm tra, phát hiện được chúng; chỉ khi tình trạng sử dụng chúng không kiểm soát được chúng ta mới “chạy theo” để giải quyết hậu quả. Điều đó thể hiện sự bị động trong công tác quản lý cũng như yếu kém của các cơ quan quản lý nhà nước. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Chưa có quy định về hệ thống cán bộ quản lý an toàn thực phẩm từ tuyến Trung ương tới địa phương
Như đã nói ở trên, hiện chưa có bất kỳ văn bản quy định hệ thống quản lý An toàn thực phẩm xuyên suốt từ tuyến Trung ương tới tuyến cơ sở, đặc biệt đối với ngành Công Thương. Chưa xây dựng được đề án vị trí việc làm đối với cán bộ quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương tại các tuyến Trung ương (Bộ Công Thương); Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (sở công thương); Ủy ban nhân dân cấp huyện (phòng kinh tế), cho tới Ủy ban nhân dân cấp xã; thậm chí không có cán bộ quản lý An toàn thực phẩm tuyến xã.
Hệ thống quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương chỉ dừng lại ở tuyến huyện, không có tuyến xã. Luật An toàn thực phẩm 2010 có hiệu lực 2011, nhưng đến tháng 9/2012 sở Công Thương Hà Nội mới bắt đầu triển khai nhiệm vụ quản lý An toàn thực phẩm trên địa bàn khi có hướng dẫn và Quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Từ đó cho đến nay, Sở Công Thương không được Thành phố giao thêm chỉ tiêu cán bộ quản lý An toàn thực phẩm, mà sử dụng trong chỉ tiêu tuyển dụng hàng năm của Sở. Từ ngày 11/10/2018, Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội tách khỏi Sở Công Thương và thành lập Cục Quản lý thị trường Hà Nội trực thuộc Tổng cục Quản lý thị trường thuộc Bộ Công Thương cộng với số lượng cán bộ quản lý An toàn thực phẩm hạn chế khiến cho công tác quản lý An toàn thực phẩm tại Sở Công Thương trở nên khó khăn, thiếu hụt lực lượng kiểm tra, quản lý tại các địa bàn. Bên cạnh đó số lượng cán bộ quản lý An toàn thực phẩm tại các phòng kinh tế (thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện) còn khá khiêm tốn (2 đến 4 người).
- Hình 2.6. Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ngành Công Thương
Không có đơn vị trực thuộc, không có “hệ thống chân rết” tới tận cấp xã, lại mất đi lực lượng kiểm tra tại địa phương khiến cho công tác quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương trở nên khó khăn. Ngoài 2 phòng chuyên môn (phòng Quản lý Công nghiệp và phòng Quản lý Thương mại) tham gia vào công tác kiểm tra An toàn thực phẩm, sở Công Thương có duy nhất đơn vị Thanh tra Sở là lực lượng thanh tra, kiểm tra, trong đó có An toàn thực phẩm. Điều đó, khiến cho công tác quản lý An toàn thực phẩm gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế hiệu quả quản lý An toàn thực phẩm trên địa bàn.
- Năng lực, trình độ quản lý của các cơ quan quản lý về an toàn thực phẩm
Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý an toàn thực phẩm Sở Công Thương Hà Nội hiện có 04 cán bộ quản lý An toàn thực phẩm có chuyên môn về An toàn thực phẩm (bằng cấp chuyên môn về An toàn thực phẩm), 10 người là cán bộ kiêm nhiệm tham gia vào công tác quản lý An toàn thực phẩm không có bằng cấp chuyên môn về An toàn thực phẩm. Đối với tuyến huyện, cán bộ phòng Kinh tế tham gia vào công tác quản lý An toàn thực phẩm thậm chí có đơn vị không có cán bộ chuyên môn về An toàn thực phẩm. Không có cán bộ chuyên môn về An toàn thực phẩm, trong khi số lượng cán bộ tham gia công tác quản lý An toàn thực phẩm ngành Công Thương thấp dẫn tới hiệu quả công tác quản lý An toàn thực phẩm đối với ngành Công Thương chưa cao. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Bên cạnh đó, công tác quản lý An toàn thực phẩm ngoài trình độ còn đòi hỏi kinh nghiệm thực tế (thực tế quản lý sản xuất và kinh doanh thực phẩm) mới đáp ứng được nhu cầu quản lý An toàn thực phẩm với 1 địa bàn rộng, phức tạp và số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm lớn như Hà Nội. Kinh nghiệm đó chỉ có thể đúc kết được qua thời gian và qua “va chạm” với thực tế sản xuất, kinh doanh và trong quá trình quản lý.
Kinh nghiệm Cán bộ công chức làm quản lý về An toàn thực phẩm chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và xu thế hoà nhập khu vực, quốc tế: Quản lý thực phẩm nhưng thực chất là quản lý con người, thông qua con người mới có thể tác động vào các yếu tố khác đảm bảo có hiệu quả. Nhưng quản lý thực phẩm là một lĩnh vực mới hoàn toàn, ngay cả các trường đại học cũng chưa có chuyên khoa quản lý An toàn thực phẩm, hầu hết các cán bộ Trung ương từ các chuyên ngành khác chuyển sang nên khi làm công tác quản lý An toàn thực phẩm chưa thật sự am hiểu pháp luật, chưa được đào tạo bài bản.
Việc hạn chế về trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ quản lý An toàn thực phẩm khiến cho công tác quản lý cũng như giải quyết các sự việc trong quá trình quản lý, triển khai nhiệm vụ trở nên khó khăn, cứng nhắc, “thiếu uyển chuyển” trong xử lý công việc với các cơ quan khác và ngay cả với công dân.
Chính vì thế, đòi hỏi cán bộ quản lý cần phải có trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và sự linh hoạt để vừa đáp ứng quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động sản xuấ, kinh doanh, vừa phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế.
- Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý an toàn thực phẩm
Đối với Sở Công Thương Hà Nội, các thủ tục hành chính đã được thực hiện ở mức độ 3, 1 số thủ tục đã thực hiện ở mức độ 4. Đối với lĩnh vực An toàn thực phẩm, thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm đang được Sở Công Thương niêm yết công khai, cập nhật trên Website Sở Công Thương và thực hiện ở mức độ 3. Thủ tục cấp giấy xác nhận kiến thức An toàn thực phẩm cũng được niêm yết công khai, cập nhật trên Website Sở Công Thương và thực hiện ở mức độ 4. Thủ tục tiếp nhận công bố sản phẩm của cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành Công Thương trên địa bàn cũng được cập nhật hàng ngày thường xuyên trên Website Sở Công Thương. Tuy nhiên do hạn chế về kinh phí, hệ thống dữ liệu các sản phẩm công bố sản phẩm ngành Công Thương mới chỉ được cập nhật dưới dạng danh sách các sản phẩm, số công bố sản phẩm, tên cơ sở và địa chỉ cơ sở, chưa lưu trữ được hồ sơ công bố sản phẩm dưới dạng file mềm. Điều này sẽ gây khó khăn rất lớn trong việc quản lý hồ sơ, kiểm tra và quản lý sản phẩm sau công bố. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Chúng ta chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu điện tử về các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, một phần do chưa thực hiện tốt công tác điều tra dữ liệu cơ bản, một phần chưa có phần mềm khai báo trực tuyến để các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm tiến hành khai báo. Nếu mỗi 1 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều được gắn 1 mã số định danh và quản lý trên phần mềm trực tuyến thì việc quản lý, giám sát đối với các đơn vị trên sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm thực phẩm rất hạn chế, đặc biệt đối với sản phẩm nông nghiệp (chủ yếu không có bao gói hoàn chỉnh).
- Điều kiện cơ sở vật chất, đầu tư kinh phí cho công tác quản lý an toàn thực phẩm
- Về điều kiện cơ sở vật chất
Hiện trên địa bàn Hà Nội có một số phòng Thí nghiệm có đầy đủ năng lực kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ công tác quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm như: Viện Kiểm nghiệm quốc gia, Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội, Trung tâm kiểm nghiệm thuộc Sở Nông nghiệp Hà Nội,.. Trong đó, chỉ có đơn vị là Viện Kiểm nghiệm Quốc gia, Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng có đầy đủ năng lực kiểm nghiệm chuyên sâu các chỉ tiêu An toàn thực phẩm (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; dư lượng kháng sinh, phát hiện chất mới trong sản xuất, bảo quản thực phẩm); số còn lại do hạn chế về điều kiện chưa đủ máy móc để kiểm nghiệm chuyên sâu.
Đối với ngành Công Thương, chưa có phòng kiểm nghiệm riêng phục vụ công tác quản lý An toàn thực phẩm. Hiện mới chỉ trang bị được một số dụng cụ Test nhanh như: kiểm tra Methanol, nồng độ cồn, kiểm tra hàn the và 1 số Test nhanh khác nhưng số lượng hạn chế. Độ chính xác của các dụng cụ này cũng chưa cao gây khó khăn cho công tác kiểm tra, xử lý vi phạm. 100% các mẫu được kiểm tra đều phải kiểm nghiệm lại qua phòng Lab. Điều này gây khó khăn cho công tác kiểm tra, xử lí vi phạm An toàn thực phẩm.
- Về đầu tư kinh phí
Đối với ngành Công Thương, hiện kinh phí phục vụ công tác quản lý An toàn thực phẩm còn hạn chế. Cụ thể, theo báo cáo của Sở Công Thương Hà Nội tại công văn số 1149/SCT-QLCN ngày 15/3/2019 về khảo sát thực trạng nguồn lực phục vụ công tác quản lý An toàn thực phẩm của ngành Công thương các tỉnh phía Bắc gửi Bộ Công Thương thì kinh phí phục vụ công tác quản lý An toàn thực phẩm từ ngân sách nhà nước như sau [20]: Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
- Năm 2016, kinh phí 2,196 tỷ đồng trong đó chi nghiệp vụ 0,85 tỷ đồng, phí để lại 1,346 tỷ đồng.
- Năm 2017, kinh phí 3,87 tỷ đồng trong đó chi nghiệp vụ 2,85 tỷ đồng, phí để lại 1,02 tỷ đồng.
- Năm 2018, kinh phí 5,297 tỷ đồng trong đó chi nghiệp vụ 2 tỷ đồng, phí để lại 3,297 tỷ đồng.
Nguồn kinh phí phục vụ công tác quản lý An toàn thực phẩm đều lấy từ nguồn ngân sách Thành phố và thu phí thực hiện thủ tục hành chính tại địa phương, không có nguồn ngân sách từ Trung ương. Phần phí để lại là lệ phí thu được trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính về An toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn và phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định về phí và lệ phí.
Với số lượng cơ sở và sản phẩm thực phẩm ngành Công Thương phải quản lý trên địa bàn thì kinh phí trên trong các năm 2016-2018 là rất hạn chế. Rất khó để sở Công Thương Hà Nội có thể triển khai các chương trình, đề án, kế hoạch về An toàn thực phẩm mang tính quy mô. Và trong giai đoạn 2016-2018, sở Công Thương cũng không đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ quản lý An toàn thực phẩm. Toàn bộ kinh phí An toàn thực phẩm chủ yếu phục vụ công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về An toàn thực phẩm cho tổ chức, cá nhân và cán bộ quản lý An toàn thực phẩm trên địa bàn; 1 phần kinh phí phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra An toàn thực phẩm (chủ yếu là kinh phí thê xe, đi lại của cán bộ công chức).
Từ đó có thể thấy hạn chế trong đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất hạ tầng cho công tác quản lý An toàn thực phẩm dẫn tới hạn ché trong hiệu quả quản lý An toàn thực phẩm.
2.2.2. Nguyên nhân chủ quan Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Nhận thức, ý thức trách nhiệm của người dân, người sản xuất, người kinh doanh liên quan tới vấn đề an toàn thực phẩm và quản lý an toàn thực phẩm.
Đây là vấn đề quan trọng mang tính quyết định tới An toàn thực phẩm và quản lý An toàn thực phẩm. Chúng ta đã quen nghe cụm từ “rau 2 luống, lợn 2 chuồng” rồi phải trở thành “người tiêu dùng thông thái” trước các loại hàng hóa thực phẩm có đủ chủng loại thật – giả lẫn lộn, hàng nhái, hàng kém chất lượng – không an toàn tràn lan trên thị trường. Đã có rất nhiều bài báo, phóng sự về tình trạng vi phạm An toàn thực phẩm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm; vì chạy theo lợi nhuận, vì kém hiểu biết mà đưa những sản phẩm không an toàn, sản phẩm nhái tới tay người tiêu dùng. Với hàng rừng các loại thực phẩm đó cùng với những thực phẩm khác vẫn đang trôi nổi trên thị trường khiến người tiêu dùng không biết lựa chọn – phân biệt sản phẩm thực phẩm nào là an toàn là tốt cho sức khỏe. Họ chỉ trông chờ vào “đạo đức” của người sản xuất và kinh doanh thực phẩm mà thôi.
Tuy nhiên, với xu thế hội nhập quốc tế và nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng thì các sản phẩm thực phẩm nhập khẩu với giá thành rẻ, chất lượng cao khiến cho các sản phẩm thực phẩm trong nước cần cải tiến chất lượng, hướng tới quy mô lớn để giảm giá thành sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Vì nếu họ vẫn mang tư tưởng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, “chụp giật”, không chú trọng xây dựng thương hiệu, uy tín thì sẽ chỉ tồn tại được 1 thời gian ngắn. Chính vì thế, có 1 bộ phận các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm đã chịu khó đổi mới công nghệ – máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm; chú trọng xây dựng thương hiệu, uy tín cho riêng mình.
Sự tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và người dân vào công tác quản lý An toàn thực phẩm cũng đóng góp 1 phần vô cùng quan trọng. Bởi họ là người giám sát tích cực, phát hiện và tố giác các hành vi vi phạm An toàn thực phẩm. Từ đó, cơ quan quản lý nhà nước An toàn thực phẩm làm căn cứ để thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về An toàn thực phẩm.
Tính phức tạp trong quản lý, diễn biến an toàn thực phẩm trên địa bàn Hà Nội với địa bàn rộng, số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm lớn, chủ yếu là nhỏ lẻ (trong đó rất nhiều cơ sở không thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh) và thường xuyên biến động thì vấn đề quản lý An toàn thực phẩm diễn biến phức tạp, khó quản lý.
Ví dụ, theo thống kê tại Sở Công Thương trung bình có 10 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm sau 3 năm (khi hết hiệu lực của giấy chứng nhận) có 6 doanh nghiệp tiếp tục xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện An toàn thực phẩm. Điều này có thể do cơ sở dừng sản xuất, chuyển địa điểm, chuyển đổi ngành nghề kinh doanh, hoặc chuyển thẩm quyền quản lý nhưng đa phần do dừng sản xuất, không hoạt động trong ngành nghề kinh doanh thực phẩm, trong số này chủ yếu là các doanh nghiệp quy mô nhỏ, sau 3 năm hoạt động không có hiệu quả nên dừng. Hay việc tồn tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thường xuyên thay đổi địa điểm, địa bàn sản xuất kinh doanh thực phẩm cũng gây khó khăn cho công tác nắm bắt, quản lý cơ sở. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
Bên cạnh đó, sản xuất thực phẩm tại Hà Nội chỉ đáp ứng 60% nhu cầu thực phẩm, còn lại 40% thực phẩm nhập khẩu và nhập từ các tỉnh. Dẫn tới 1 số lượng rất lớn thực phẩm ngoại nhập và thực phẩm nhập từ các tỉnh thành trên cả nước vào Hà Nội đòi hỏi Hà Nội cần phải kiểm soát nguồn thực phẩm nhập về tiêu thụ tại Hà Nội. Điều này khiến cho công tác quản lý An toàn thực phẩm trên địa bàn trở nên khó khăn, phức tạp hơn; cần sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm (sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, sở Công Thương, sở Y tế) và các cơ quan liên quan như lực lượng hải quan, lực lượng quản lý thị trường, chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, lực lượng công an,…
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về An toàn thực phẩm tại sở Công Thương thành phố Hà Nội, luận văn đã đạt được một số kết quả chính như sau: Thứ nhất, luận văn đã có phân tích và đánh giá tổng quát về thực trạng pháp luật về An toàn thực phẩm hiện hành ở Việt Nam, từ đó chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và tồn tại của hệ thống pháp luật này. Thứ hai, luận văn đã đề cập đến một số đặc điểm tình hình An toàn thực phẩm tại Hà Nội; Thực tiễn quản lý nhà nước về An toàn thực phẩm tại sở Công Thương thành phố Hà Nội, nêu bật được những kết quả chung nhất về công tác quản lý nhà nước lĩnh vực An toàn thực phẩm ngành Công Thương trên địa bàn Hà Nội; Thứ ba, luận văn đã đưa ra những nguyên nhân dẫn đến bất cập, hạn chế của trong thực hiện pháp luật An toàn thực phẩm. Luận văn: Thực tiễn PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về an toàn thực phẩm tại Sở Công Thương