Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên toán dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

Hiện nay, nền giáo dục của Việt Nam và Lào đang trong giai đoạn cải cách đổi mới về chương trình cũng như phương pháp dạy học để tối ưu việc phát triển năng lực của sinh viên phù hợp với xu hướng của thời đại và tình hình giáo dục mới sau đại dịch Covid-19. Hầu hết giáo viên, giảng viên và sinh viên phải tự điều chỉnh trách nhiệm trong việc dạy học và đều sẵn sàng tham gia các hoạt động học tập. Điều này có nghĩa là không bỏ qua phương pháp học truyền thống nhưng người dạy phải thiết kế việc học ngoài lớp và trên lớp rõ ràng, ứng dụng các công cụ phần mềm đa phương tiện trực tuyến bên ngoài lớp học để tăng cường sự tiếp cận học liệu và hiệu suất của người học.

Khái niệm lớp học đảo ngược xuất hiện khởi đầu trong công trình của Lage và đồng nghiệp (Lage et al., 2000), sau đó được phổ biến như là một phương pháp dạy học tích cực (Bergmann & Sams, 2014). Các nhà nghiên cứu này đã phác họa mô hình lớp học đảo ngược như là một môi trường dạy và học năng động trong đó người học đảm nhận vai trò chủ động trong việc tiếp thu kiến thức của mình, từ đó tăng cường diễn ngôn tương tác và sự gắn kết tạm thời giữa giáo viên và học sinh. Về bản chất, mô hình lớp học đảo ngược nhấn mạnh khía cạnh lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm, thúc đẩy sự tham gia toàn diện của học sinh vào quá trình dạy học.

Pinnelli et al. (2018) khẳng định rằng lớp học đảo ngược cho phép học sinh tiếp cận nội dung dạy học một cách thuận tiện, vượt qua những rào cản về không gian và thời gian. Học sinh có quyền xem và tương tác với các học liệu từ bất kỳ địa điểm nào và vào bất kỳ thời điểm nào trước khi tương tác trực tiếp trong lớp học. Sau đó, trong lớp học, học sinh được tự do tham gia vào một không gian cho phép họ nói lên ý kiến của mình và chia sẻ kiến thức thông qua các hoạt động hợp tác và sư tham gia.

Theo Subramaniam và Muniandy (2021), sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các hoạt động trước (bên ngoài) lớp học và trong lớp học cũng rất quan trọng đối với mô hình lớp học đảo ngược. Việc cung cấp các tài liệu giáo khoa, các bài giảng được tuyển chọn, các trò giải trí kỹ thuật số mang tính tương tác và các câu hỏi đánh giá trước khi tương tác trực tiếp đóng vai trò như một chiếc la bàn trí tuệ, giúp người học làm quen với lĩnh vực chủ đề để khám phá hoặc thảo luận trong các buổi giảng dạy trực tiếp sau đó.

Trong ngữ cảnh này, mục tiêu tổng quát của luận án là xem xét những thuận lợi và thách thức của mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên toán ở Việt Nam và Lào, đồng thời khám phá những ảnh hưởng của lớp học đảo ngược đến kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ, khả năng học tập tự định hướng và sự gắn kết học tập của giáo viên toán ở Việt Nam, Lào.

Về phương pháp luận nghiên cứu tổng quát, chúng tôi sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng, trong đó chú trọng sử dụng kỹ thuật nghiên cứu dựa trên khảo sát và thiết kế thực nghiệm. Đặc biệt, thực nghiệm thứ nhất chúng tôi có sử dụng phương pháp Delphi (Trong trường hợp này chúng ta sẽ nghiên cứu các chỉ báo liên quan đến những thuận lợi và thách thức của mô hình lớp học đảo ngược đối với giáo viên toán và giảng viên cho kết thức chỉ 3 vòng) để tìm kiếm sự đồng thuận của các chuyên gia với chỉ dấu của những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược trong dạy học đối với giáo viên toán và giảng viên ở Việt Nam, Lào. Tiếp theo đó, với thực nghiệm thứ hai, chúng tôi xem xét ảnh hưởng của lớp học đảo ngược trong dạy học toán cho giáo viên toán tại Ngành Sư phạm Toán, Khoa Giáo dục, Trường Đại học Savannakhet, Lào. Cuối cùng, chúng tôi tiến hành phỏng vấn một số đại diện giáo viên toán đã hoàn thành khóa học đảo ngược để kiểm soát sự thay đổi hành vi của giáo viên toán và sự thay đổi trong môi trường học đảo ngược. Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận án được chia thành năm chương. Trong chương 1, chúng tôi tổng quan lý thuyết học tập kết hợp và lớp học đảo ngược, các nghiên cứu về việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học, chú trọng các tạp chí khoa học quốc tế, các tạp chí khoa học Việt Nam, Lào để tham khảo. Hơn nữa, chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng trong tổng quan nghiên cứu về sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên toán và sự phổ biến của lớp học đảo ngược trong giáo dục đại học sau đại dịch Covid – 19. Cuối cùng, đặt vấn đề nghiên cứu.

Chương 2 chúng tôi tổng hợp cơ sở lý thuyết. Cụ thể, chúng tôi làm rõ các thành phần khái niệm và mô hình lớp học đảo ngược, nguyên tắc tổ chức hoạt động học tập theo mô hình lớp học đảo ngược, thuận lợi và thách thức của mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học, học tập tự định hướng và mối liên hệ với lớp học đảo ngược, tính gắn kết học tập của giáo viên toán và mối liên hệ với lớp học đảo ngược, kỹ năng làm việc nhóm và mối liên hệ với lớp học đảo ngược, kỹ năng sử dụng công nghệ và mối liên hệ với lớp học đảo ngược. Cuối cùng, chúng tôi đặt mục tiêu nghiên cứu.

Chương 3, tập trung đi sâu phân tích cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Cụ thể, chúng tôi lựa chọn phương pháp Delphi chỉ 3 vòng ( để xác định sự đồng thuận về những ưu điểm và thách thức của lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên toán. Sau đó, chúng tôi sử dụng phương pháp kiểm định Paired-Sample T-Test (So sánh hai trị trung bình của 2 nhóm tổng thể riêng biệt) để khám phá tác động của lớp học đảo ngược đến kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ, khả năng học tập tự định hướng, và sự gắn kết học tập của các giáo viên toán qua một khoá học về xác suất thống kê theo hình thức lớp học đảo ngược.

Trong Chương 4, chúng tôi trình bày chi tiết phần kết quả nghiên cứu. Chúng tôi dựa trên dữ liệu phỏng vấn 3 vòng của chuyên gia để tìm kiếm sự đồng thuận về những chỉ báo liên quan đến thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên toán. Sau đó, chúng tôi dùng kiểm định thống kê để có được thông tin về tác động của lớp học đảo ngược đến kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ, khả năng học tập tự định hướng, và sự gắn kết học tập của giáo viên toán.

Chương 5 đi sâu lý giải và bàn luận về kết quả nghiên cứu. Chúng tôi xác định các tiêu chí trong việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Toán. Đặc biệt, những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược đối với giáo sinh môn toán và giảng viên ở một số trường đại học Việt Nam, Lào. Ngoài ra, chúng tôi đánh giá các kết quả nghiên cứu để làm rõ những kết quả và đóng góp của nghiên cứu chúng tôi. Từ đó, chúng tôi trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra.

Chương 1. Đặt vấn đề nghiên cứu Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Trong chương này, chúng tôi đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu đến sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy và học toán và quá trình học tập trong mô hình lớp học đảo ngược để làm cơ sở đặt ra vấn đề nghiên cứu trong luận án này.

1.1. Học tập kết hợp (Blended learning)

Trong những thập kỉ vừa qua, nhiều ngiên cứu đã cho thấy công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cải cách phương thức giáo dục từ phương thức học truyền thống sang phương thức học tích hợp trong nền tảng công nghệ. Sống trong thời đại kỹ thuật số hiện nay cho phép người học dễ dàng truy cập tài liệu học tập bất cứ lúc nào và ở mọi nơi dựa trên sự hỗ trợ các công cụ công nghệ (Elmaadaway, 2019). Như vậy, sự phát triển đáng kể của công cụ công nghệ giáo dục đã thay thế phương thức học truyền thống như thay đổi sử dụng bảng đen để giải thích chủ đề học tập, đảo ngược phương pháp dạy học mới như sử dụng đa phương tiện trực tuyến. Sinh viên dễ dàng tiếp cận nguồn tài liệu thông qua công nghệ thông tin, các phần mềm công nghệ khoa học, làm bài tập về nhà trên máy tính xách tay, hoặc máy tính bảng (Davies, Dean, & Ball , 2015). Hơn nữa, Tabieh & Hamzeh, (2022) cho rằng, nên thiết lập giao tiếp hai chiều giữa người dạy và người học dựa trên một số công cụ công nghệ đã được áp dụng và thích nghi trong giáo dục. Và, nó đã tạo điều kiện giao tiếp chuyên sâu giữa người học và người dạy dù trong lớp học hay bên ngoài.

Mặc dù công nghệ thông tin ngày càng ứng dụng rộng rãi trong giáo dục, nhưng vai trò quan trọng của lớp học truyền thống không thể bỏ qua. Việc học truyền thống như tham gia lớp học trực tiếp là rất quan trọng để tương tác (David et al., 2021). Do đó, học tập kết hợp được coi là một cách tiếp cận kết hợp lớp học truyền thống với việc học tập dựa trên công cụ trong các phần mềm trên mạng, vì nó áp dụng cả hai mặt tương tác, mặt trong lớp học và ứng dụng các công cụ phần mềm đa phương tiện trực tuyến bên ngoài lớp học (Tabieh & Hamzeh, 2022). Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

HỌC TẬP KẾT HỢP: Dạy học kết hợp là sự kết hợp giữa cách học truyền thống với học trực tuyến và công nghệ thông tin. Trong tiếng Anh đọc học tập kết hợp là “Blended learning”, đó là mô hình dạy học kết hợp truyền thống và sự hỗ trợ công cụ công nghệ thông tin (Saman & AZhan, 2016). Vấn đề không chỉ là thời gian học 1-1, có nghĩa là kết hợp, đảo ngược phương pháp học truyền thống và hiệu quả trong lớp học tích cực (Baepler, Walker, & Driessen, 2016).

Trong một lớp học kết hợp, cả phương pháp giảng dạy trực tuyến và truyền thống đều được sử dụng để mang lại trải nghiệm học tập hiệu quả hơn cho sinh viên. Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy truyền thống, giảng viên rất ít sử dụng công nghệ số như video giáo dục, trò chơi, tài liệu điện tử, sinh viên đến trường nghe giảng bài thụ động. Sau đó, sinh viên về nhà làm bài tập và quá trình làm bài tập sẽ khó khăn nếu sinh viên không hiểu bài. Như vậy, nhiệm vụ truyền đạt kiến thức mới thuộc người thầy. Do đó, người học chỉ đạt được tư duy bậc thấp theo thang tư duy “Bloom” thì nhiệm vụ này chỉ ở những bậc thấp tức là “biết và hiểu” còn nhiệm vụ của sinh viên làm bài tập vận dụng và nhiệm vụ này thuộc bậc cao của thang tư duy bao gồm “ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá” thì chưa đạt.

Phương pháp học tập kết hợp có thể phân loại một cách tổng quát thành sáu mô hình tùy theo đặc thù sinh viên của lớp học, tức là: Mô hình giảng dạy trực tiếp (Face-To-Face Driver), Mô hình luân phiên (Rotation), Mô hình linh hoạt (Flex), Mô hình phòng thực hành (Labs), Mô hình tự học (Self-blend), Mô hình học trực tuyến (Online driver). Nhưng học tập kết hợp có điều khác là mô hình một chiều còn lớp học đảo ngược là học hai chiều qua lại nhau. Cả hai phương pháp có thể áp dụng công cụ công nghệ thông tin, không thay thế bất kỳ phương pháp giảng dạy trực tiếp nào mà được sử dụng như một sự hỗ trợ bổ sung.

Còn một ý nghĩa của lớp học đảo ngược, đó là một mô hình học tập mới được phát triển theo mô hình học tập kết hợp, nơi sinh viên sẽ không nghe giảng trên lớp mà ở nhà, bài giảng trên lớp sẽ được chuyển sang video cho phép sinh viên có thể lặp lại nhiều lần nếu cần, có nghĩa là bài giảng video trực tuyến giúp sinh viên xem tài liệu học tập ở mọi lúc mọi nơi. Video bài giảng được giảng viên chia sẻ như một hoạt động học tập bên ngoài lớp học. Mô hình này có hoạt động học tập đảo ngược khi so với hoạt động học tập truyền thống, có nghĩa là sinh viên chuẩn bị bài học hoc nghe bài giảng trước giờ học bằng cách tiếp cận video hướng dẫn bên ngoài lớp học khi lên lớp sinh viên sẽ tập trung giải quyết vấn đề, tương tác, thảo luận với giảng viên và bạn học. Xem Biểu đồ 1.1

  • Biểu đồ 1.1 Các mô hình học tập hỗn hợp (Staker & Horn, 2014)

Trong lĩnh vực đào tạo giáo viên, nhiều nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến việc sử dụng phương pháp lớp học kết hợp (Chuah, 2016 et al; Saman & AZhan, 2016; Mohamed & Ebrahim, 2016; Sofya & Marie, 2024; Tabieh & Hamzeh, 2022; Tiêu Thị Mỹ Hồng, 2023).

1.2. Tổng quan nghiên cứu về sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy và học Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

1.2.1. Các nghiên cứu quốc tế

Hầu hết nhà nghiên cứu đều gọi mô hình “lớp học đảo ngược” là một phương pháp học tập tiềm năng và triển vọng, hoặc được xem là phương pháp tối ưu của giáo dục hiện đại. Lớp học đảo ngược là một mô hình học tập kết hợp sáng tạo, nơi sinh viên được làm quen với nội dung bài học ở nhà và sau đó người học mang các nội dung chưa rõ cho giải quyết vấn đề và thảo luận trong giờ học. Ngày nay, mô hình lớp học đảo ngược đã được triển khai ở nhiều bộ môn khác nhau trong các trường phổ thông, đại học trên thế giới (Yougwei & Kathryn S, 2018). Một số nghiên cứu chỉ ra rằng lớp học đảo ngược mang lại nhiều kết quả giáo dục tích cực, nâng cao kiến thức và kỹ năng thiết yếu của sinh viên (Eugenia & Lai, 2014; Elmaadaway, 2019; Eugenia, 2020; Voigt, Fredriksen, & Rasmussen, 2022).

Mô hình lớp học đảo ngược là một sự đổi mới về hình thức và phương pháp dạy học, tăng cường thời gian được sử dụng để truyền đạt kiến thức cơ bản trong lớp và thời gian ngoài lớp dùng để áp dụng kiến thức hoặc làm bài tập về nhà cá nhân (Bergmann & Sams, 2014). Hơn nữa, mô hình lớp học đảo ngược cũng giúp tạo ra môi trường khuyến khích tính tự chủ trong học tập bởi người học có cơ hội tập theo dịp của riêng mình và trở nên có trách nhiệm với việc xây dựng kiến thức thay vì chờ sự truyền đạt tri thức của giảng viên (Bergmann & Sams, 2014).

Các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của lớp học đảo ngược. Chẳng hạn, Delozier & Rhodes (2018) đã đánh giá các ý tưởng chính và khuyến nghị cho thực hành trong lớp học đảo ngược; Erol et al. (2024) đã nghiên cứu tác động của mô hình lớp học đảo ngược đối với kết quả đạt được và kỹ năng xử lý khoa học của sinh viên. Fetsch & Yang (2002) đã nghiên cứu ảnh hưởng của sở thích học tập, tính cạnh tranh và hợp tác đối với sự tự nhận thức của sinh viên; Sofya & Marie (2024) cho rằng học tập kết hợp trong toán học giúp nâng cao khả năng tự điều chỉnh học tập của người học, khả năng phục hồi năng lực toán và công nghệ. Tabieh & Hamzeh (2022) đã nghiên cứu tác động của phương pháp học kết hợp đối với kỹ năng tư duy sáng tạo toán học của người học. Taner et al. (2022) đã nghiên cứu đến trải nghiệm lớp học đảo ngược của các giáo viên toán tương lai; Thomas & Edward (2017) đã nghiên cứu đến việc học cá nhân hóa, cụ thể là nhận thức của sinh viên và giảng viên về việc học tập và đánh giá linh hoạt trong môi trường lớp học đảo ngược.

Sự khởi đầu của khái niệm lớp học đảo ngược có thể bắt nguồn từ ứng dụng ban đầu của nó bởi Lage et al. (2000) và sự phổ biến sau đó của nó như một chiến lược giảng dạy tích cực của Bergmann và Sams (2014). Những học giả tiên phong này đã giới thiệu mô hình lớp học đảo ngược như một phương pháp sư phạm năng động, trong đó người học đảm nhận vai trò tích cực trong quá trình tiếp thu kiến thức của mình, từ đó tăng cường diễn ngôn tương tác và sự gắn kết tạm thời giữa học sinh và giáo viên. Lớp học đảo ngược thúc đẩy người học không chỉ kiến thức chuyên môn mà còn một loạt các kỹ năng chung như hợp tác, tư duy phê phán, thành thạo công nghệ thông tin, khả năng giải quyết vấn đề và kỹ năng học tập tự định hướng (Eugenia, 2020; Eugenia & Lai, 2014). Về bản chất, lớp học đảo ngược nhấn mạnh phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm nhằm thúc đẩy sự tham gia toàn diện của sinh viên vào hành trình học tập. Xem hình 1.1

  • Hình 1.1 Mô hình lớp học đảo ngược (Lai & Hwang, 2018,p.127)

Mô hình lớp học đảo ngược thể hiện một cách tiếp cận sư phạm nhằm tái cấu trúc sự năng động của lớp học truyền thống bằng cách phân bổ lại thời gian trong lớp thường được sử dụng để truyền tải kiến thức thiết yếu sang các hoạt động ngoài lớp tập trung vào ứng dụng kiến thức và làm bài tập về nhà (Bergmann & Sams, 2014). Việc tái cấu trúc này cho phép các nhà giáo dục thu hút học sinh vào những trải nghiệm học tập tích cực hơn, bao gồm việc áp dụng kiến thức đã học vào thực tế thông qua các dự án, thảo luận, giải quyết vấn đề và nỗ lực hợp tác (Missildine et al, 2015). Thành phần học tập ngoài lớp học chủ yếu giải quyết các quá trình nhận thức ở cấp độ thấp hơn liên quan đến việc nhớ lại và hiểu kiến thức.

Nghiên cứu sâu rộng về cách tiếp cận lớp học đảo ngược liên tục báo cáo những kết quả tích cực về kết quả học tập, phát triển kỹ năng và động lực của học sinh (Cevikbas & Kaiser, 2022, 2025; Kong, 2017; McLaughlin et al, 2016; Murillo-Zamorano et al, 2021; Eugenia, 2020). Theo McLaughlin et al., (2016), phương pháp lớp học đảo ngược thúc đẩy sự hiểu biết sâu sắc hơn về chủ đề và khái niệm, trong đó học sinh bày tỏ rằng kiến thức và kỹ năng thu được có giá trị cho công việc tương lai của họ. Trong bối cảnh giáo dục đại học, Murillo-Zamorano et al. (2021) khẳng định lớp học đảo ngược có tác động tích cực đến việc tiếp thu kiến thức, phát triển kỹ năng và sự tham gia của học sinh. Cevikbas và Kaiser (2025) đã tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng phương pháp giảng dạy toán học đảo ngược trong thời kỳ đại dịch và hơn thế nữa. Phát hiện của họ chỉ ra rằng cách tiếp cận lớp học đảo ngược có nhiều hứa hẹn trong việc nâng cao việc dạy và học toán, tuy nhiên nó cũng đặt ra những thách thức đáng chú ý. Về bản chất, để đảm bảo khả năng phục hồi của giáo dục toán trong thời kỳ khủng hoảng, bài học từ đại dịch phải được xem xét. Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Akçayır và Akçayır (2020) đã nghiên cứu những lợi thế và thách thức liên quan đến cách tiếp cận lớp học đảo ngược đối với cả học sinh và người hướng dẫn. Ưu điểm được báo cáo phổ biến nhất của mô hình lớp học đảo ngược là tiềm năng nâng cao hiệu suất học tập của học sinh. Các nhà nghiên cứu cũng đã xác định được nhiều lợi ích khác, bao gồm tăng động lực học tập, thái độ tích cực của học sinh và phát triển các kỹ năng quan trọng. Tuy nhiên, mô hình này cũng đưa ra những thách thức cụ thể, như Pinnelli et al. (2018). Chúng bao gồm những lo ngại về chất lượng của các nguồn tài nguyên bên ngoài lớp học, sự chuẩn bị cho lớp học của học sinh và năng lực công nghệ của họ để tham gia hiệu quả với cách tiếp cận lớp học đảo ngược.

Một khía cạnh quan trọng được Pinnelli et al nhấn mạnh. (2018) nhấn mạnh vai trò của lớp học đảo ngược trong việc dân chủ hóa việc phổ biến kiến thức. Lớp học đảo ngược vượt qua những hạn chế về thời gian và không gian bằng cách cho phép học sinh truy cập nội dung giảng dạy một cách thuận tiện. Tính linh hoạt này cho phép sinh viên tương tác với tài liệu bài giảng từ bất kỳ địa điểm nào và bất kỳ lúc nào trước khi tương tác trực tiếp trong lớp. Nhờ đó, trong các buổi học trên lớp, học sinh được tự do tham gia tích cực vào các cuộc thảo luận, bày tỏ quan điểm và hợp tác chia sẻ kiến thức.

Một đánh giá có hệ thống về tài liệu do Akçayır và Akçayır (2020) thực hiện đã xác định một số thách thức liên quan đến mô hình lớp học đảo ngược, chủ yếu liên quan đến các hoạt động ngoài lớp học. Đáng chú ý, chất lượng nguồn lực cho các hoạt động ngoài lớp học, sự chuẩn bị của học sinh chưa đầy đủ, công cụ tương tác và năng lực công nghệ là những rào cản tiềm tàng cho việc triển khai lớp học đảo ngược một cách hiệu quả. Đặc biệt, trong toán học, tác động của lớp học đảo ngược trong việc nâng cao kết quả học tập và nhận thức của học sinh vẫn còn là một vấn đề. Bằng cách xem xét một cách có hệ thống, các tác giả này khẳng định rằng bằng chứng vẫn chưa đủ mạnh để kết luận liệu lớp học đảo ngược có tốt hơn lớp học truyền thống về mặt kết quả học tập và nhận thức của học sinh hay không.

Mặc dù đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc hiểu rõ những lợi thế và thách thức của phương pháp lớp học đảo ngược, nhưng một số khía cạnh vẫn chưa rõ ràng, đặc biệt là ảnh hưởng của phương pháp này đến kết quả học tập của học sinh. Cần có nghiên cứu bổ sung về việc triển khai lớp học đảo ngược, chú ý đến các yếu tố theo ngữ cảnh và chủ đề cụ thể để hiểu sâu hơn về cả lợi ích và thách thức liên quan đến mô hình giảng dạy này. Một số nhà nghiên cứu đề xuất rằng các nghiên cứu trong tương lai nên đề cập đến nhiều môn học khác nhau, bao gồm cả những người tham gia từ một số chương trình đào tạo giáo viên Toán và xem xét tác động lâu dài của việc triển khai lớp học đảo ngược.

1.2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam và Lào

  • Các nghiên cứu ở Việt Nam

Hơn một thập kỉ qua, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã được sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học vào nhiều lĩnh vực giáo dục chẳng hạn như khoa học công nghệ thông tin, y học, giáo dục, … và áp dụng mô hình này trong từng cấp học, từ mầm non đến trường đại học. Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, giảng viên có thêm nhiều lựa chọn để tăng tính hiệu quả trong dạy học. Ví dụ: tác giả Lê Thị Minh Thanh, (2018) cho rằng xây dụng mô hình lớp học đảo ngược ở trường đại học để làm rõ lợi ích của phương pháp đảo ngược và xác định vai trò của giảng viên và sinh viên trong mô hình lớp học đảo ngược. Hơn nữa, Lê Thị Phượng & Bùi Phương Anh (2019) nói về việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào giảng dạy một số nội dung trong học phần tin học ứng dụng nhằm phát triển năng lực tự học cho sinh viên.

Ngoài ra, Thái thị Ngọc Thuý et al. (2019) đã nghiên cứu về tác động của thiết kế lớp học đảo ngược đối với hiệu suất học tập trong giáo dục đại học: “Tìm kiếm sự kết hợp tốt nhất giữa bài giảng và hướng dẫn câu hỏi với phản hồi”. Do đó, chúng ta thấy rằng phương pháp học đảo ngược cho phép sinh viên được truy xuất bài giảng và các tài liệu học tập ngoài giờ lên lớp, do đó tăng cường sự chủ động tích cực của người học trong giờ học. Và Thái thị Ngọc Thuý et al. (2019) quan sát thấy rằng việc học tập trong môi trường lớp học đảo ngược có tác động tích cực đến niềm tin về năng lực bản thân và động lực nội tại, nhưng không phải là sự linh hoạt nhận thức. Những phát hiện này cho thấy rằng lớp học đảo ngược là một phương pháp đầy hứa hẹn để nâng cao hiệu học tập của sinh viên và khi so với lớp học truyền thống cho thấy học trong lớp học đảo ngược mang lại hiệu quả học tập cao hơn. Và áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học trực tuyến tại trường đại học cho thấy không chỉ tạo sự chủ động, hứng thú học tập cho sinh viên mà còn góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả học tập, giúp rèn luyện, phát triển tư duy cũng như các kỹ năng cho sinh viên. Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Nguyễn Hoài Nam & Vũ Thái Giang (2019) nói về việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Toán nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học. Như vậy, mô hình này cho thấy kết quả tích cực và mở ra những cơ hội học tập linh hoạt, tích cực, hiệu quả học tập tốt, giúp sinh viên có trải nghiệm phong phú những hình thức học tập khác nhau, tăng hứng thú và phát triển được năng lực học tập. Theo Nguyễn Thị Kim Thoa & Hồ Thị Minh Trang, (2019) cho thấy sự vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học môn toán lớp 4, để tập trung phân tích những lợi thế cũng như những khó khăn khi áp dụng vào bối cảnh dạy học ở Việt Nam. Các tương tác cũng cần toàn năng hơn để tận dụng tối đa các hình thức, các phương tiện, kĩ thuật vào dạy học. Mặc dù giảng viên sẽ tốn công sức và thời gian hơn trong khâu thiết kế học liệu, kịch bản bài học, nhưng nếu được triển khai rộng rãi, đây sẽ là một mô hình dạy học hoàn toàn phù hợp trong thời đại công nghệ số hiện nay.

Nguyễn Thị Hương Huế & Thái Thị Hồng Phúc (2020) nói về giảng dạy các môn chuyên ngành du lịch theo mô hình lớp học đảo ngược. Và Võ Thị Thiên Nga (2021) nói về quy trình dạy học dự án theo mô hình lớp học đảo ngược cho sinh viên khoa sư phạm. Tiếp theo đó, Lê Thị Phương & Bùi Phương Anh, (2021) cho thấy rằng việc ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Sinh học 8 trung học cơ sở, Cù Thị Ngọc Anh, Nguyễn Thị Lan Anh, & Nguyễn Thi Minh Bích, (2021) sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Ngữ văn. Hơn nữa, Đỗ Tùng & Hoàng Công Kiên, (2022) nói về việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học trực tuyến cho thấy không chỉ tạo sự chủ động, hứng thú học tập cho người học mà còn góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả học tập, giúp rèn luyện, phát triển tư duy cũng như các kỹ năng cho người học và phát triển năng lực tự học và sinh viên có nhiều thời gian giao tiếp, làm việc với sinh viên (không chỉ bó hẹp trong không gian lớp học), trong hệ thống bài giảng, học liệu dùng cho giảng dạy được sử dụng, khai thác khoa học hiệu quả hơn, có thể sử dụng học liệu dùng chung, học liệu mở cho các môn học. Hơn nữa, nó cung cấp sự tự do cho giảng viên. Tuy nhiên, ban đầu, giảng viên gặp một số khó khăn trong dạy học trực tuyến (chưa quen với phương thức dạy học mới, chưa đồng bộ về cơ sở vật chất, sử dụng thiết bị, về phương pháp, cách thức tổ chức dạy học qua mạng cũng như chưa khai thác được nhiều thế mạnh của phương thức dạy học này,… dần dần những khó khăn này được tháo gỡ. Sau gần 2 tháng tổ chức hoạt động dạy học trực tuyến, qua tìm hiểu, các bài giảng của giảng viên chủ yếu dành thời gian tương tác trực tiếp để giảng bài theo thời gian thực. Cũng khá giống, Trần Thị Thu Hiền, (2023) nói về dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược với sự phát huy năng lực tự học cho sinh viên trong thời đại công nghệ số. Hơn nữa, Đặng Anh Phương, (2024) đã áp dụng kết hợp mô hình lớp học đảo ngược với giờ dạy trực tiếp trong giảng dạy và tác giả Vũ Văn Tuấn, (2024) đã đánh giá việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học tiếng Anh, chỉ ra rằng sinh viên trải nghiệm trong lớp học đảo ngược đạt được hiệu quả hơn so với lớp học truyền thống.

  • 2) Sơ lược của lịch sử phát triển phương pháp sư phạm môn toán ở Lào

Trước Cách mạng 2/12/1975 tại Lào có 95% dân số mù chữ, đồng thời hạn chế các hoạt động giáo dục (trước 1975 Lào còn bị thực dân nước ngoài xâm lược, tức là Thái Lan, Pháp, Mỹ) và chúng thiết lập hệ thống giáo dục rất nhỏ, vì chỉ nhằm đào tạo một số người dân cho đáp ứng mục đích cai trị. Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Sau 2/12/1975 tại Lào, Chủ tịch nước đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tố cáo tội ác của thực dân, trong đó có vấn đề về giáo dục. Trải qua 48 năm với nhiều nỗ lực, nền giáo dục Lào đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Về mặt giáo dục, ông Phumy Vongvichit là người đầu tiêu xây dựng chữ Lào vào chương trình dạy học. Bộ giáo dục và thể thao xác định chính sách nền giáo dục ở Lào là có hai mục đích. Thứ nhất và quan trọng nhất là nhằm đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo cho chính sách quốc phòng và an ninh. Thứ hai là xây dựng và phát triển nhà nước. Nên hệ thống giáo dục phổ thông được thiết lập và dần tiến bộ từng bước nhằm đào tạo dân trí đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước của người Lào.

Thực trạng giáo dục tại Lào, từ 1975 cho đến nay, có 8 trường Cao đẳng Sư phạm: Trường Cao đẳng Sư phạm Savannakhet, Trường Cao đẳng Sư phạm Salavanh, Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse, Trương Cao đẳng Sư phạm Luangphrabang, Trường Cao đẳng Sư phạm Ban Gern, Trường Cao đẳng Sư phạm Khangkhai, Trường Cao đẳng Sư phạm Luangnamtha, Trường Cao đẳng Sư phạm Dongkhamxang và 4 trường Đại học: Trường Đại học Quốc gia, Trường Đại học Savannakhet, Trường Đại học Suphanouvong, Trường Đại học Champasac. Bộ Giáo dục và Thể thao cho phép các trường đào tạo ngành sư phạm, trong đó bao gồm 15 khung chương trình đào tạo, cụ thể: 1) Sư phạm Toán học, 2) Sư phạm Công nghệ, 3) Sự phạm Hóa học , 4) Sự phạm Vật lý, 5) Sự phạm Sinh học, 6) Sư phạm Địa lý, 7) Sư phạm Lịch sử, 8) Sư phạm Giáo dục Chính trị, 9) Quản lý giáo dục, 10) Sự phạm Ngữ văn – Văn học, 11) Sư phạm tiếng Anh, 12) Sư phạm tiếng Pháp, 13) Tâm lý học giáo dục, 14) Giáo dục Thể chất, 15) Sư phạm Âm nhạc.

Phương pháp dạy học là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng. Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về Phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa giảng viên và sinh viên, trong những điều kiện dạy xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học. Từ Phương pháp dạy học truyền thống sang Phương pháp dạy học tích cực. Trong bài này, chúng tôi sẽ nói về một số phương pháp dạy học tích cực ví dụ: Phương pháp dạy học nhóm, phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp đóng vai, phương pháp trò chơi,… . Ngoài ra, giảng viên thường xuyên sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực hiệu quả, ví dụ kỹ thuật các mảnh ghép (JICSAW), kỹ thuật động não (Brainstorming), kỹ thuật sơ đồ tư duy, kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi (Think, pair, share), kỹ thuật kipling (5W1H), kỹ thuật giao nhiệm vụ, kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật giải quyết vấn đề, kỹ thuật KWL (KWLH), kỹ thuật chia nhóm, kỹ thuật hỏi và trả lời,… . Hầu hết Phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học giảng viên luôn áp dụng tùy theo ngữ cảnh của nội dung bài giảng. Mặc dù đa số giảng viên có thiết kế bài giảng theo mô hình UBD (Understanding by Design) nhưng giảng viên vẫn còn tổ chức hoạt động học tập theo phương pháp truyền thống thường xuyên như khi học trên lớp sinh viên học lý thuyết sau đó sinh viên thực hành và giảng viên giao bài tập ở nhà để ôn tập bài học. Phương pháp này làm cho sinh viên ít có cơ hội rèn luyện bài học.

Từ đại dịch COVID-19 cho đến nay, về xu hướng giáo dục mới ở Lào, dựa trên Toàn văn Nghị định 663, ngày 18/11/2025 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của Bộ Giáo dục và Thể thao, là căn cứ làm cơ sở để tổ chức và hoạt động của Bộ Giáo dục và Thể thao tổ chức mở rọng nhiệm vụ đường lối của Đảng, thực hiện pháp luật và các quy định của Nhà nước trong quản lý và phát triển công tác giáo dục, khoa học và thể thao (dge.moes.edu.la). Và Toàn văn Nghị định 374 ngày 06/12/ 2025 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của Hội đồng Giáo dục Đại học của Quốc gia, làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của giáo dục đại học quốc dân nhằm mục đích tổ chức Mổ rộng chính sách, pháp luật của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội quốc gia, kế hoạch phát triển Nguồn nhân lực quốc gia và các quy định của Nhà nước trong việc khuyến khích và thúc đẩy giáo dục Giáo dục đại học, nghiên cứu khoa học, công nghệ phát triển và đổi mới theo hướng Giáo dục đại học đạt tiêu chuẩn, chất lượng cao, có khả năng kết nối với khu vực và quốc tế, Góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước (dge.moes.edu.la). Như vậy, những lý do trên cho thấy chúng ta rất cần thiết đổi mới phương pháp dạy học hiện đại, chẳng hạn như sử dụng phương pháp dạy học kết hợp (Blended learning), đó có nghĩa là sự kết hợp giũa Phương pháp dạy học tích cực với kỹ thuật sử dụng công nghệ thông tin và điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với giáo dục trong thế kỉ 21. Tuy nhiên trong hiện nay, giảng viên thích áp dụng những mô hình dạy học là mô hình dạy học trực tiếp, mô hình dạy học trực tiếp kết hợp nội dung online, mô hình dạy học trực tuyến (Live streaming kết hợp nội dung online), mô hình dạy học trực tiếp (Live stream) không có nội dung online, mô hình dạy học nội dung online kết hợp câu hỏi, bài tập và phản hồi của giảng viên và Hệ thống quản lý học tập thông minh (Smart Learning Management System). Như vậy, phương pháp học đảo ngược là một trong những phương pháp học kết hợp và phương pháp này mới được sử dụng lần đầu tiên trong việc dạy học môn Toán học ở Lào để khuyến khích giảng viên áp dụng phương pháp học này một cách rộng rãi.

1.3. Tổng quan nghiên cứu về sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên/giảng viên Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

1.3.1. Các nghiên cứu quốc tế

Phương pháp lớp học đảo ngược có nhiều hứa hẹn trong đào tạo giáo viên bằng cách minh họa các phương pháp sư phạm thúc đẩy các mô hình học tập tích cực và hợp tác (Vaughan, 2017). Bất chấp tiềm năng của nó, việc triển khai lớp học đảo ngược trong bối cảnh đào tạo giáo viên vẫn là chủ đề nghiên cứu thực nghiệm còn hạn chế (Yough et al., 2019). Sử dụng mô hình giảng dạy đảo ngược trong một khóa đào tạo giáo viên tương lai, Vaughan (2017) nhấn mạnh rằng giáo viên tham gia vào lớp học đảo ngược thể hiện tinh thần chủ động cao hơn đối với việc học của mình, xu hướng sáng tạo ngày càng tăng trong các hoạt động giảng dạy và năng lực áp dụng kiến thức thu được được nâng cao. Sự khác biệt này được chứng minh thông qua phân tích so sánh của Fraga và Harmon (2016), cho thấy rằng giáo viên tương lai trong môi trường lớp học đảo ngược báo cáo có mức độ tự tin cao trong các khía cạnh sư phạm cụ thể và xu hướng tham gia thảo luận trong môi trường học tập cao hơn khi so sánh với các đồng nghiệp của họ trong thiết lập lớp học truyền thống.

Việc kiểm tra sâu hơn bao gồm nhận thức của giáo viên tương lai về lớp học đảo ngược và việc họ tăng cường sử dụng công nghệ. Ví dụ, Hao và Lee (2018) đã điều tra mối lo ngại của giáo viên tương lai trong giai đoạn chuyển đổi sang mô hình lớp học đảo ngược. Nghiên cứu đã khảo sát mối quan ngại của 502 giáo viên tương lai về việc dạy theo phương pháp học đảo ngược tại một trường đại học sư phạm ở Đài Loan. Kết quả cho thấy mối quan tâm liên quan đến việc xem xét hậu quả đối với việc học tập và thực hành tái tập trung của học sinh có mối tương quan vừa phải với năng lực bản thân trong các chiến lược giảng dạy, quản lý lớp học và sự tham gia của học sinh. Tương tự, Unruh et al. (2018) đã thực hiện một cuộc khảo sát với sáu nhà giáo dục, kiểm tra việc sử dụng công nghệ, hiệu quả giảng dạy, sự thoải mái về công nghệ và thái độ của họ đối với công nghệ. Dữ liệu khảo sát và phỏng vấn được thu thập từ một mẫu giáo viên tại chức đại diện cho cả mô hình lớp học truyền thống và đảo ngược từ một khu học chánh rộng lớn ở ngoại ô phía đông nam Texas. Các phát hiện đã làm sáng tỏ rằng các nhà giáo dục áp dụng mô hình lớp học đảo ngược đã đạt được điểm số cao hơn đáng kể trên tất cả các chỉ số so với những người tuân thủ các phương pháp giảng dạy thông thường. Các tác giả cho rằng công nghệ trong lớp học đảo ngược phải có tính hỗ trợ, tăng tính kiên trì trong quá trình học tập. Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Trong một nghiên cứu gần đây, các phát hiện cho thấy hầu hết người tham gia đều xem lớp học đảo ngược là một phương pháp giảng dạy hiệu quả, đặc biệt vì nó tối ưu hóa thời gian trên lớp. Ngoài ra, nghiên cứu đã xác định năm thách thức liên quan đến lớp học đảo ngược: trách nhiệm đối với sự chuẩn bị của giáo viên trước khi vào lớp, sự chuẩn bị của các học sinh khác nhau, trả lời câu hỏi chậm, khối lượng công việc tăng lên đối với giáo viên là học sinh và nhu cầu cao đối với giáo viên đào tạo. Các tác giả cũng đề xuất rằng lớp học đảo ngược có thể đóng vai trò là một phương pháp sư phạm có giá trị trong thời kỳ đại dịch hoặc các tình huống nghiêm trọng khác, trong đó việc giảng dạy từ xa trở thành một giải pháp thay thế cho phương pháp giảng dạy trực tiếp truyền thống.

Young et al. (2019) đã sử dụng một thiết kế hầu thực nghiệm (quasi-experimental) để kiểm tra sự khác biệt về động lực và kết quả học tập khách quan giữa các phần học truyền thống và học phần đảo ngược của một khóa học giáo dục cơ bản. Rõ ràng, các học sinh được dạy trước trong phần truyền thống đã thể hiện điểm số vượt trội trong các khía cạnh nội tại và được xác định là có tính quy định của động lực. Ngược lại, học sinh trong các phần đảo ngược đạt được điểm số cao hơn đáng kể trên nhiều khía cạnh của kết quả học tập khách quan. Do đó, trong khi mô hình lớp học đảo ngược thường gắn liền với việc nâng cao động lực của học sinh, những phát hiện của Yough et al. (2019) phản đối quan điểm này, nhấn mạnh rằng chỉ thay đổi phương pháp giảng dạy là không đủ. Các tác giả cho rằng việc cải tiến có mục đích và có chủ ý trong thiết kế và thực hiện lớp học đảo ngược là điều bắt buộc để hỗ trợ động lực học sinh một cách hiệu quả.

Eugenia (2020) đã có quan điểm cụ thể hơn bằng cách điều tra tính hiệu quả của mô hình lớp học đảo ngược, phù hợp với các nguyên tắc học tập tự điều chỉnh, trong việc nâng cao kết quả học tập mang tính xây dựng cho 73 sinh viên đại học đăng ký vào chương trình đào tạo giáo viên. Tất cả những người tham gia đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học và không có kinh nghiệm làm việc toàn thời gian. Những phát hiện này đã chứng thực tính hiệu quả của các hoạt động lớp học đảo ngược, thể hiện phản ứng rất tích cực từ học sinh. Các chiến lược sư phạm, giảng dạy và đánh giá đa dạng đã được sử dụng, phù hợp với bảy nguyên tắc cơ bản trong việc thúc đẩy và nuôi dưỡng việc học tập tự điều chỉnh của học sinh.

Bất chấp những nghiên cứu sâu sắc này, vẫn còn có những hạn chế trong nghiên cứu về lớp học đảo ngược hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh đào tạo giáo viên toán tương lai. Trong khi một số nhà nghiên cứu đã xem xét những lợi thế và thách thức tiềm tàng của việc triển khai phương pháp lớp học đảo ngược để dạy toán ở các trường đại học, vẫn còn thiếu nghiên cứu đi sâu vào nhận thức và kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực này, đặc biệt là ở bối cảnh các nước đang phát triển. Làm rõ những thách thức của phương pháp lớp học đảo ngược sẽ giúp các nhà đào tạo giáo viên toán đưa ra những quyết định sáng suốt về việc triển khai lớp học đảo ngược trong thực tiễn giảng dạy của họ.

1.3.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam, Lào Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Hiện nay, nền giáo dục của Việt Nam đang trong giai đoạn cải cách, đổi mới về chương trình cũng như phương pháp dạy học để tối ưu việc phát triển năng lực của học sinh, sinh viên phù hợp với xu hướng của thời đại. Từ năm 2007 cho đến nay, phương pháp dạy học trực tuyến và phương pháp học đảo ngược được đưa ra bàn thảo trong nhiều hội nghị khoa học, tập huấn chuyên môn trong hình thức dạy học gọi là “Mô hình lớp học đảo ngược”. Hiện nay các giáo viên của trường Tiểu học và Trung học cơ sở, Trường Trung học Phổ thông và trường đại học đã cùng nhau thực hành áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào các nội dung học tập tại trường ngày càng phổ biến. Khảo sát những ưu điểm và nhược điểm của các chiến lược trong lĩnh vực giảng dạy phương pháp dạy học lớp học đảo ngược chứng minh rõ ràng rằng việc áp dụng học tập đảo ngược đã thay đổi văn hóa học tập của sinh viên từ lấy giảng viên làm trung tâm sang lấy sinh viên làm trung tâm, với nhiều hoạt động trong lớp thuộc về sinh viên hơn. Giới thiệu mô hình giảng dạy mới như phương pháp giảng dạy lớp học đảo ngược ở các lĩnh vực khác nhau được xem xét.

Chúng tôi xem xét các công cụ công nghệ của lớp học đảo ngược và cũng đánh giá tác động của các phương pháp đối với một lĩnh vực nghiên cứu. Các tác động đến việc học của sinh viên được xem xét ở các quan điểm khác nhau và cũng gợi ý rằng các nghiên cứu trong lớp học đảo ngược trong tương lai có thể sử dụng nhiều thiết kế nghiên cứu khác nhau như nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu trường hợp, dân tộc học, và nghiên cứu thiết kế và phát triển thực sự hoặc nghiên cứu dựa trên thiết kế. Nghiên cứu có hệ thống về nghiên cứu thiết kế và phát triển thực sự sẽ tạo ra nhiều mô hình, kỹ thuật và mô-đun về thực hành lớp học đảo ngược. Lớp học đảo ngược là một chiến lược khá mới trong lĩnh vực giảng dạy. Như với hầu hết các chiến lược, lớp học đảo ngược có nhiều cách khác nhau để thực hiện không chỉ cho sinh viên mà giảng viên, cung cấp nghiên cứu về việc triển khai lớp học đảo ngược, cũng đưa ra một số kết quả của việc áp dụng phương pháp lớp học đảo ngược và giải thích để làm rõ những ưu điểm và nhược điểm của các chiến lược (Thương Thị Kim Nguyễn, 2019).

Từ sự đánh giá của tác giả về vai trò của việc sử dụng mô hình học tập kết hợp cũng như sử dụng mô hình lớp học đảo ngược hiện nay thông qua các bài nghiên cứu cho thấy, hoạt động dạy học đã và đang giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Ảnh hưởng của mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Hầu hết nhà nghiên cứu đã được sử dụng mô hình lớp học đảo ngược xác nhận rằng phương pháp này có đóng một vai trò quan trọng trong việc đào tạo giảng viên, trong đó mô hình sư phạm thúc đẩy học tập tích cực và cách tiếp cận học tập hợp tác.

Hầu hết các nhà nghiên cứu có nhận định môi trường học tập đảo ngược giúp các sinh viên tập trung học tập, tạo ra những cơ hội học tập thú vị, góp phần xây dựng môi trường học tập hiệu quả nhất đối với sinh viên. Giờ đây, việc học tập tự định hướng của sinh viên không chỉ chủ động thu nạp, ghi nhớ thông tin mà còn phải biết cách phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin một cách hiệu quả. Trong giờ học trên lớp, các sinh viên sẽ cùng nhau thảo luận theo chủ đề, gây được sự hứng thú và phong trào học tập tích cực trong lớp. Sinh viên không phải học một mình mà có sự kết nối, tương tác, hỗ trợ trực tiếp từ giảng viên và bạn học, sinh viên có nhiều thời gian để học với giảng viên hơn (Lê Thị Phượng & Bùi Phương Anh , 2019). Sinh viên có thể tham gia bài giảng, và thu nhận kiến thức chuyên sâu. Có cơ hội để phát triển kỹ năng làm việc nhóm, thuyết trình trước đám đông, đặt câu hỏi phản biện,… . Bài học trở nên thú vị, thu hút sinh viên hơn, đồng thời mô hình này tạo ra môi trường học tập sát với sinh viên, phù hợp với mọi trình độ, giúp việc học hiệu quả và có ý nghĩa hơn. Sinh viên có thêm thời gian và dễ dàng áp dụng kiến thức vào trong thực tiễn dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Sinh viên dễ dàng tiếp cận bài giảng hơn, ngay cả khi nghỉ học và bỏ lỡ một số bài học, sinh viên vẫn có cơ hội xem lại các thông tin cần thiết và bắt kịp tiến độ học tập của các bạn cùng lớp. Đối với giảng viên tiết kiệm thời gian giảng dạy kiến thức nền tảng, các video đã quay sẵn có thể áp dụng nhiều lớp giúp giảm thời gian phải nói lại ở trên lớp như cách dạy truyền thống; khi cần cập nhất thông tin, giảng viên có thể chỉnh sửa video. Tối ưu thời gian làm việc cho giảng viên, giảng viên có thêm thời gian nghiên cứu kiến thức mới, hướng dẫn, điều hành lớp học và giúp sinh viên thực hành, học tập chuyên sâu hơn. Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Hơn nữa, thực hiện dạy học phân hóa lớp học đảo ngược hướng vào dạy học cá thể. Với các bài giảng E-learning, video do giảng viên cung cấp, sinh viên sẽ có cơ hội học theo nhịp độ suy nghĩ và năng lực của cá nhân. Sinh viên có thể dừng hình, tua lại hoặc dừng hẳn để học theo góc độ tiếp nhận kiến thức của mình. Đây là cách giải quyết cho vấn đề, ở lớp học truyền thống, đôi khi giảng viên khó xác định chính xác khái niệm nào sinh viên dễ nắm bắt và khái niệm nào thì khó khăn. Đôi khi, giảng kĩ một khái niệm cho nhóm sinh viên sẽ lấy đi thời gian của các nhóm sinh viên còn lại. Trong một lớp học như thế này, những sinh viên khá giỏi tiết kiệm được thời gian không phải nghe thầy giảng lại bài hoặc giảng chậm cho những bạn khác trong lớp, nhờ đó mà các sinh viên có tư duy tốt sẽ có thời gian để mở rộng kiến thức.

Từ 2021 cho đến nay, ở Lào các trường đại học, trường cao đẳng đã cùng nhau thực hành áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào các nội dung học tập tại trường ngày càng phổ biến. Vì vậy, Sở đào tạo giáo dục có phối hợp phương pháp dạy học đảo ngược và dạy học trực tuyến lồng ghép vào Chương trình tập huấn nghiệp vụ Sư phạm (12 module) để phát triển năng lực của giảng viên. Buổi tập huấn diễn ra nghiêm túc nhưng cũng hết sức sôi nổi. Tất cả thầy cô đều nỗ lực hết mình, thiết kế các hoạt động học tập, sử dụng các phương pháp phù hợp nhằm phát huy tối đa lợi ích mà mô hình lớp học mang lại. Đây là dịp để các thầy cô nâng cao năng lực dạy, phát triển tư duy phản biện trong mỗi sinh viên. Các thầy cô lại tiếp tục say sưa với những bài học ở từng khối lớp, từng phân môn. Mang lại sự “đảo ngược” tích cực trong từng tiết học, chúng tôi đang cùng nhau từng bước truyền lửa, truyền hứng khởi cho các sinh viên để chính các sinh viên là người chủ động lĩnh hội, vận dụng sáng tạo kiến thức tiến tới mục tiêu trở thành nhũng công toàn cầu với khả năng tự học suốt đời.

1.4. Sự phổ biến của lớp học đảo ngược trong giáo dục đại học sau đại dịch Covid-19

Cuối năm 2021 đầu năm 2022, khi dịch bệnh Covid-19 xuất hiện, nhanh chóng lan rộng với diễn biến ngày càng phức tạp trên phạm vi toàn cầu đã tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội trong đó hoạt động giáo dục có thể nói là bị ảnh hưởng hết sức nặng nề, nhiều trường học ở của các cấp phải chuyền đổi hình thức dạy học trực tiếp sang dạy học trực tuyến (kết hợp vừa trực tiếp vừa trực tuyến). Công nghệ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cải cách giáo dục từ cách học thông thường sang nền tảng công nghệ. Các sự phát triển đáng kể của công nghệ trong giáo dục đã thay thế cách học thông thường. Mô hình lớp học đảo ngược và học Online cho sinh viên là giải pháp nâng cao chất lượng dạy học trong bối cảnh ảnh hưởng của đại dịch COVID – 19.

Mô hình lớp học đảo ngược là một trong những hình thức dạy học tích hợp, đã và đang làm thay đổi hoàn toàn mô hình dạy học truyền thống trong khoảng một thập niên trở lại đây. Tuy nhiên, từ cuối năm 2021 đến nay, dưới ảnh hưởng to lớn của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, một mô hình đại diện dạy học là mô hình lớp học đảo ngược đã có một diện mạo mới và xu hướng chuyển đổi số giáo dục trong bối cảnh sau đại dịch Covid-19. Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Một số công cụ hỗ trợ dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược được áp dụng. Để tổ chức hiệu quả, giảng viên cần sự trợ giúp của một số công cụ hỗ trợ và có rất nhiều công cụ hỗ trợ với những tính năng khác nhau như công cụ trình chiếu (PowerPoint), công cụ học tập xã hội, những công cụ này sử dụng sức mạnh của phương tiện truyền thông xã hội giúp cho việc học tập và kết nối được dễ dàng hơn: E-mail, Group page, Google Classroom, Google Form, … . Công cụ học tập sau đây giúp giảng viên chuẩn bị bài giảng thú vị và hiệu quả: Kahoot, Mentimeter, Polleverywhere, Canva, Padlet,… .Chúng tôi tập trung vào việc triển khai mô hình lớp học đảo ngược để dạy học góp phần hình thành đa dạng kỹ năng cho sinh viên.

Trong nghiên cứu trong nước và quốc tế, một số nghiên cứu về lớp học đảo ngược toán học tư duy sáng tạo, tư duy phản biện và giải quyết vấn đề đã được tìm thấy, đặc biệt là trong bối cảnh giáo dục toán học. Các nghiên cứu xem xét tác động của việc học tập qua phương tiện truyền thông (Tabieh & Hamzeh, 2024) và một nghiên cứu khác thảo luận về những thách thức học tập trong các lớp học đảo ngược để cải thiện tư duy phản biện. Mối tương quan giữa các lớp học đảo ngược toán học tư duy sáng tạo, tư duy phản biện và giải quyết vấn đề với các thước đo khác về thành công trong học tập cũng đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn cần xem lại các thông tin nghiên cứu đã được tiến hành.

Ngày nay, hoạt động dạy và học theo mô hình lớp học đảo ngược có vị trí quan trọng trong quá trình cung cấp giáo dục. Xu hướng giáo dục và đào tạo ngày nay là đào tạo đi đôi với sử dụng, dạy nghề đi đối với hướng nghiệp ngày càng trở nên phổ biến đối với các trường đại học ở trên thế giới. Các xu hướng hàng đầu trong giáo dục toán học, Cách các nhà giáo dục dạy toán tiếp tục phát triển và các khu học chánh sẽ luôn có nhu cầu về những giảng viên dạy toán có khả năng thích ứng với các xu hướng giáo dục mới. Khi hệ thống giáo dục được tiếp tục đối phó với hậu quả từ đại dịch COVID-19, điều quan trọng là người dạy phải điều chỉnh chương trình giảng dạy của mình để đáp ứng nhu cầu riêng của sinh viên. Những giảng viên sử dụng phương pháp mới nhất trong giảng dạy toán có thể giúp người học phục hồi và thậm chí vượt trội sau một năm học từ xa. Sau đây là một số xu hướng thú vị trong giáo dục toán học.

Mô hình lớp học đảo ngược là một trong những xu hướng phổ biến nhất trong giáo dục hiện nay. Nó liên quan đến việc “thay thế bài giảng của giảng viên trong các buổi học trên lớp bằng các tài liệu học tập được thiết kế phù hợp để người học có thể học ở nhà theo cách tự chủ hơn”. Mô hình này dành thời gian trên lớp chủ yếu cho việc thực hành có cấu trúc, học tập hợp tác và hướng dẫn theo khung. Lớp học đảo ngược có thể hấp dẫn hơn nhiều đối với cả những người học quá mong đợi cũng như những người học đang gặp khó khăn với nội dung khóa học. Một nghiên cứu gần đây về việc giảng dạy đại số K-12 đã cho rằng mô hình lớp học đảo ngược mang lại những lợi ích sau: Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

  • Tăng động lực cho sinh viên
  • Cải thiện khả năng khái niệm hóa nội dung
  • Mức độ liên quan nâng cao của nội dung khóa học

Theo khảo sát mô hình lớp học đảo ngược đã được đăng trên một số tạp chí quốc tế có uy tín phát hành trong giai đoạn 2015-2021, được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu trắc lượng thư mục. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp lập bản đồ hệ thống gồm 4 giai đoạn: (1) tìm kiếm các bài viết bằng ứng dụng Xuất bản hoặc Perish trong cơ sở dữ liệu Scopus, (2) phân loại các bài viết để phân tích trắc lượng thư mục, (3) kiểm tra và hoàn thiện siêu dữ liệu của các bài viết đó và (4) tiến hành phân tích trắc lượng thư mục bằng ứng dụng VOSviewer. Phân tích thư mục đưa ra bảy phát hiện như sau: (1) xu hướng xuất bản các ấn phẩm lớp học đảo ngược tiếp tục gia tăng từ năm 2015-2021; (2) 10 tạp chí có đóng góp nhiều nhất đã xuất bản 88 bài báo vào năm 2021; (3) 10 bài báo được trích dẫn nhiều nhất có 1.155 lượt trích dẫn; (4) ba thứ tự từ khóa cao nhất của tác giả được sử dụng rộng rãi nhất trong các bài viết về lớp học đảo ngược là lớp học đảo ngược, học tập tích cực và học tập kết hợp; (5) sự hợp tác tác giả với các liên kết mạnh chỉ xảy ra ở 21 tác giả thông qua một tài liệu; (6) hợp tác thể chế với các liên kết chặt chẽ được hình thành thông qua 28 tổ chức hợp tác; và (7) số liệu thống kê cấp bang được chia thành ba cụm và trải rộng trên nhiều quốc gia khác nhau thông qua sự đóng góp của các tác giả phụ trách 456 tổ chức. Có thể kết luận mô hình lớp học đảo ngược là một mô hình giáo dục đang được các nhà nghiên cứu ưa chuộng hiện nay.

Xu hướng xuất bản các ấn phẩm liên quan đến phương pháp giảng dạy lớp học đảo ngược được tập hợp trong thời kỳ nhất định, đặc biệt là về lớp học đảo ngược toán học tư duy sáng tạo, tư duy phản biện và giải quyết vấn đề. Nghiên cứu đã có thể truy cập được kể từ năm 2020 từ ba cơ sở dữ liệu (Scopus, ERIC và Garuda). Nhìn chung, số lượng ấn phẩm có xu hướng tăng trong 5 năm đầu và giảm mạnh vào cuối thời kỳ. Trong hai năm đầu tiên, con số chững lại ở mức 1. Sau đó, tăng dần từ 3 lên 5 trong hai năm tiếp theo và đạt đỉnh 10 vào năm 2024. Điều này cho thấy xu hướng ngày càng tăng số lượng ấn phẩm về lớp học đảo ngược kết hợp Các lớp học đảo ngược toán học tư duy sáng tạo, tư duy phản biện và giải quyết vấn đề cho thấy sự gia tăng đáng chú ý trong số các nhà nghiên cứu tích cực khám phá các phương pháp lớp học đảo ngược bậc cao hơn bằng các kỹ năng này. Tuy nhiên, nghiên cứu về lớp học đảo ngược với những kỹ năng này đã giảm vào năm 2025, điều này có thể suy ra rằng các nhà nghiên cứu trên các tạp chí khoa học đã xuất bản các bài báo liên quan đến lớp học đảo ngược với những kỹ năng này vào tháng 4 năm 2025.

1.5. Ghi nhận và đặt vấn đề nghiên cứu Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

Tầm nhìn trong chương trình đào tạo giáo viên Toán ở Lào là hướng đến thúc đẩy mối quan hệ chính trị với cuộc cách mạng đạo đức, với kỹ thuật mạnh mẽ, cùng quan điểm đổi mới mạnh mẽ giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế và khoa học kỹ thuật còn chưa đáp ứng đầy đủ, việc dạy học ở Lào hiện nay chủ yếu vẫn tập trung vào phương pháp và hình thức dạy học truyền thống. Các mô hình dạy học hiện đại như lớp học đảo ngược chưa được áp dụng nhiều trong dạy học và đào tạo giáo viên Toán ở Lào.

Đại dịch Covi-19 vừa qua đã làm thay đổi sâu sắc nhận thức và hình thức dạy học ngày nay, hướng đến sự linh hoạt trong quá trình triển khai dạy học. Những mô hình dạy học linh hoạt như lớp học đảo ngược trở thành hình thức dạy học có nhiều ưu điểm, đáp ứng linh hoạt các ngữ cảnh dạy học khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào giảng dạy toán và đào tạo giáo viên toán là một vấn đề có nghĩa nghĩa, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy và đào tạo giáo viên, phù hớp với xu thế dạy học sau đại dịch Covid-19. Khi vận dụng lớp học đảo ngược vào dạy học toán ở đại học, những vấn đề cụ thể như thuận lợi và khó khăn của lớp học đảo ngược khi vận dụng vào dạy học toán, tác động của lớp học đảo ngược đến kỹ năng và thái độ học tập của giáo viên toán tương lai, là những vấn đề cần được làm sáng tỏ.

Kết luận chương 1

Trong chương 1, ở cấp độ nghiên cứu, chúng tôi đã tổng quan các nghiên cứu về sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học. Trong các nghiên cứu này, có nhiều nghiên cứu đặt biệt chú trọng đến những thuận lợi và thách thức của mô hình lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán và giảng viên. Tuy nhiên, có khá ít các nghiên cứu về sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học. Đặc biệt, ở Việt Nam – Lào, hiện tại có rất ít những nghiên cứu về những thuận lợi, thách thức và vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học các chủ đề này. Những phân tích trên cho phép chúng tôi đặt ra một số vấn đề cần quan tâm tìm hiểu trong khuôn khổ nghiên cứu này. Trong chương 2, chúng tôi sẽ giới thiệu và phân tích rõ hơn mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học như một khuôn khổ lý luận làm nền tảng cho việc thiết kế công cụ đo và phân tích dữ liệu. Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo

One thought on “Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo

  1. Pingback: Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464