Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên toán dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Các kết quả của nghiên cứu này sẽ được trình bày theo ba lĩnh vực chính. Cơ sở của việc phân loại các kết quả nghiên cứu được chúng tôi trình bày trong phần đầu tiên mô tả những thuận lợi và thách thức của mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học toán ở Việt Nam, Lào. Sau đó, chúng tôi sẽ mô tả khía cạnh thứ nhất chính là học tập tự định hướng, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng sử dụng công nghệ và tính gắn kết của giáo viên Toán. Tiếp theo, chúng tôi sẽ mô tả về góp ý kiến của giáo viên Toán. Cuối cùng, chúng tôi đưa ra những để xuất các xu hướng nghiên cứu lớp học đảo ngược trong tương lai.

4.1. Định hướng phân tích kết quả thực nghiệm 1

Trong phần này, chúng tôi sẽ phân tích kết quả thực nghiệm về sự đồng thuận của các chuyên gia đối với các chỉ báo liên quan đến thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán.

4.2. Phân tích thực nghiệm 1

  • Thuận lợi và thách thức khi triển khai mô hình lớp học đảo ngược vào đào tạo giáo viên Toán ở Việt Nam

Bảng 4.1 trình bày các báo cáo chỉ báo được đánh giá là có tầm quan trọng và đạt được mức độ đồng thuận cao về những thuận lợi của lớp học đảo ngược liên quan đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ của giáo viên Toán. Các mục này đạt giá trị trung vị từ 4 trở lên với giá trị sai lệch phần tư nhỏ hơn hoặc bằng 0.5.

  • Bảng 4.1 Các chỉ báo về những thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán ở những trường Đại học Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy 11 chỉ báo liên quan đến thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán. Các chỉ báo này được đề xuất theo 3 hạng mục: (1) kiến thức của giáo viên Toán, (2) kỹ năng của giáo viên Toán và (3) thái độ của giáo viên Toán. Dựa trên các chỉ báo liệt kê trong Bảng 4.1, các phát hiện chỉ ra rằng sự đồng thuận được nhấn mạnh vào các kỹ năng và thái độ của giáo viên Toán khi tham gia vào lớp học đảo ngược. Trong khi đó, các chuyên gia chỉ thống nhất 2 chỉ báo liên quan đến kiến thức của giáo viên Toán. Có 4 chỉ báo về kiến thức giáo viên Toán đạt được sự đồng thuận trung vị. Các chỉ báo này là: (1) giáo viên Toán có kết quả học tập tốt hơn, (2) giáo viên Toán hiểu sâu hơn về bài học, (3) giáo viên Toán có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn và (4) giáo viên Toán có cơ hội tốt hơn để thảo luận và đưa ra phản hồi cho người hướng dẫn.

Bảng 4.2 trình bày các mục đạt được tầm quan trọng cao hoặc trung vị với mức độ đồng thuận cao về những thách thức của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán. Các mục này đạt giá trị trung vị từ 4 trở lên với giá trị sai lệch phần tư nhỏ hơn hoặc bằng 0.5.

  • Bảng 4.2 Các chỉ báo về những thách thức của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán ở những trường Đại học Việt Nam Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Chúng tôi nhận thấy sự đồng thuận cao của hội đồng chuyên gia về 3 chỉ báo liên quan đến những thách thức của lớp học đảo ngược. Thách thức đầu tiên liên quan đến ý thức tự học và động cơ học tập của giáo viên Toán. Thách thức thứ 2 liên quan đến cơ sở vật chất, công nghệ để thực hiện lớp học đảo ngược, đặc biệt là trong bối cảnh của các nước đang phát triển như Việt Nam. Cuối cùng, thách thức thứ 3 liên quan đến khó khăn mà giáo viên Toán phải đối mặt trong việc thực hiện giao tiếp toán học với giảng viên trong các hoạt động ngoài lớp.

Bảng 4.3 trình bày các mục đạt được mức độ quan trọng cao với mức độ đồng thuận cao về thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giảng viên. Các mục này đạt giá trị trung vị từ 4 trở lên với giá trị sai lệch phần tư nhỏ hơn hoặc bằng 0.5.

  • Bảng 4.3 Các chỉ báo về thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giảng viên Toán ở những trường Đại học Việt Nam

Có tất cả 5 chỉ báo liên quan đến sự tiến bộ của lớp học đảo ngược cho giảng viên Năm chỉ báo này đề cập đến sự đồng thuận cao về kỹ năng sư phạm và quản lý lớp học của giảng viên. Không có chỉ báo nào trong cuộc khảo sát vòng 1 đạt được sự đồng thuận trung bình.

Bảng 4.4 trình bày các chỉ báo được đánh giá là có tầm quan trọng cao và đạt được sự đồng thuận cao về những thách thức của lớp học đảo ngược đối với giảng viên. Các mục này đạt giá trị trung vị từ 4 trở lên với giá trị sai lệch phần tư nhỏ hơn hoặc bằng 0.5.

  • Bảng 4.4 Các chỉ báo về những thách thức của lớp học đảo ngược đối với giảng viên ở những trường Đại học Việt Nam

Ba thách thức được liệt kê trong Bảng 4.4 đã đạt được sự đồng thuận cao của hội đồng chuyên gia. Ba chỉ báo này đề cập đến sự đầu tư về thời gian, trí lực và kiến thức chuyên môn về Công nghệ thông tin của giảng viên khi sử dụng mô hình lớp học đảo ngược. Đây là những thách thức chung mà người hướng dẫn phải đối mặt khi thực hiện lớp học đảo ngược. Ngoài ra, có 2 chỉ báo đạt được sự đồng thuận cao với mức độ quan trọng trung vị. Hai chỉ báo này là: (1) lớp học đảo ngược không phù hợp để dạy toán ở trường đại học và (2) các giáo viên dạy toán cảm thấy không thoải mái vì phải thay đổi phương pháp dạy học truyền thống. Hai chỉ báo này phản ánh một số khó khăn cụ thể liên quan đến bộ môn toán khi triển khai mô hình lớp học đảo ngược trong các trường đại học. Ở đây có sự nhất trí cao của hội đồng chuyên gia về những khó khăn khi triển khai mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy môn toán ở các trường đại học. Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

  • Thuận lợi và thách thức khi triển khai mô hình lớp học đảo ngược vào đào tạo giáo viên Toán ở Lào

Bảng 4.5 trình bày các chỉ báo được đánh giá là có tầm quan trọng và đạt được mức độ đồng thuận cao về những thuận lợi của lớp học đảo ngược liên quan đến sự phát triển kiến thức của giáo viên Toán. Các mục này đạt giá trị trung vị từ 4 trở lên với giá trị sai lệch phần tư nhỏ hơn hoặc bằng 0.5.

  • Bảng 4.5 Các chỉ báo về những thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán tại những trường Đại học Lào

Tổng cộng, chúng tôi đã tìm thấy 12 chỉ báo liên quan đến thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán. Các chỉ báo này được đề xuất theo 3 hạng mục: (1) kiến thức của giáo viên Toán, (2) kỹ năng của giáo viên Toán và (3) thái độ của giáo viên Toán. Dựa trên các chỉ báo liệt kê trong Bảng 5.5, các phát hiện chỉ ra rằng sự đồng thuận được nhấn mạnh vào các kỹ năng và thái độ của giáo viên Toán khi tham gia vào lớp học đảo ngược. Trong khi đó, các chuyên gia chỉ thống nhất 4 chỉ báo liên quan đến kiến thức của giáo viên Toán.

Bảng 4.6 trình bày các mục đạt được tầm quan trọng cao hoặc trung vị với mức độ đồng thuận cao về những thách thức của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán. Các mục này đạt giá trị trung vị từ 4 trở lên với giá trị sai lệch phần tư nhỏ hơn hoặc bằng 0.5.

  • Bảng 4.6 Các chỉ báo về những thách thức của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán ở những trường Đại học Lào

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đồng thuận cao của hội đồng chuyên gia về 2 chỉ báo liên quan đến những thách thức của lớp học đảo ngược. Thách thức đầu tiên liên quan đến sự khó khăn với việc sử dụng công nghệ bao gồm cơ sở vật chất, công nghệ để thực hiện lớp học đảo ngược, đặc biệt là trong bối cảnh của các nước đang phát triển như Lào. Thách thức thứ 2 liên quan đến ý thức chủ động học trước vì thiếu kinh nghiệm học và khó tiếp cận nguồn tài liệu.

Bảng 4.7 trình bày các mục đạt được mức độ quan trọng cao với mức độ đồng thuận cao về thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giảng viên. Các mục này đạt giá trị trung vị từ 4 trở lên với giá trị sai lệch phần tư nhỏ hơn hoặc bằng 0.5.

  • Bảng 4.7 Các chỉ báo về những thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giảng viên tại những trường Đại học Lào

Có tất cả 3 chỉ báo liên quan đến sự tiến bộ của lớp học đảo ngược cho giảng viên ba chỉ báo này đề cập đến sự đồng thuận cao về tự do trong việc hỗ trợ giáo viên Toán học tập. quản lý dữ liệu lớp học và cơ hội phát triển kỹ năng sư phạm của giảng viên. Không có chỉ báo nào trong cuộc khảo sát vòng 1 đạt được sự đồng thuận trung bình.

Bảng 4.8 trình bày các báo cáo chỉ báo được đánh giá là có tầm quan trọng cao và đạt được sự đồng thuận cao về những thách thức của lớp học đảo ngược đối với giảng viên. Các mục này đạt giá trị trung vị từ 4 trở lên với giá trị sai lệch phần tư nhỏ hơn hoặc bằng 0.5. Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

  • Bảng 4.8 Các chỉ báo về những thách thức của lớp học đảo ngược đối với giảng viên tại những trường Đại học Lào

Ba thách thức được liệt kê trong Bảng 5.8 đã đạt được sự đồng thuận cao của hội đồng chuyên gia. Ba chỉ báo này đề cập đến sự đầu tư về thời gian, công sức và kiến thức chuyên môn của giảng viên khi sử dụng mô hình lớp học đảo ngược. Đây là những thách thức chung mà giảng viên phải đối mặt khi thực hiện lớp học đảo ngược.

  • Hình 4.1 Cuộc phỏng vấn trực tuyến các chuyên gia Toán ở Lào

Ngoài ra, có 2 chỉ báo đạt được sự đồng thuận cao với mức độ quan trọng trung vị. Hai chỉ báo này là: (1) lớp học đảo ngược không phù hợp để dạy toán ở trường đại học và (2) các giảng viên dạy môn toán cảm thấy không thoải mái vì phải thay đổi phương pháp dạy học truyền thống. Hai chỉ báo này phản ánh một số khó khăn cụ thể liên quan đến bộ môn toán khi triển khai mô hình lớp học đảo ngược trong các trường đại học. Ở đây có sự nhất trí cao của hội đồng chuyên gia về những khó khăn khi triển khai mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy môn toán ở các trường đại học.

Đối với các chỉ báo đạt được sự đồng thuận cao với tầm quan trọng cao trong vòng 2, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 3 chuyên gia (giảng viên dạy môn toán học). để khẳng định lại sự đồng thuận này. Các chuyên gia được phỏng vấn đều đồng ý với các chỉ báo này. Đối với một số chỉ báo đạt được mức độ đồng thuận trung bình hoặc không, chúng tôi cũng đã phỏng vấn các chuyên gia này để tìm kiếm giải thích thêm.

4.3. Phân tích kết quả thực nghiệm 2 Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

  • Kiểm định Paired Samples t- test

Thực nghiệm này được thực hiện từ ngày 18 tháng 10 năm 2024 đến ngày 09 tháng 12 năm 2024, với 16 giáo viên Toán làm đối tượng tham gia.

Phần này trình bày những phát hiện của nghiên cứu thực nghiệm 2, làm rõ tác động của lớp học đảo ngược đối với khả năng học tập tự định hướng, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng sử dụng công nghệ và gắn kết học tập của giáo viên Toán. Chúng tôi tập trung phân tích dữ liệu định lượng và những hiểu biết định tính được thu thập từ những người tham gia.

Khả năng học tập tự định hướng: Bảng 4.9 cho thấy điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) của khả năng học tập tự định hướng của giáo viên Toán trước và sau khi tham gia khoa học được giảng dạy bằng phương pháp lớp học đảo ngược. Dữ liệu cho thấy sự cải thiện đáng kể ở tất cả bảy chỉ báo sau khi hoàn thành khóa học. Các chỉ báo H4, H5, H6 và H7 thể hiện những cải tiến đáng kể, được hỗ trợ bởi sự khác biệt về điểm trung bình thử nghiệm (t = -17.000; = 0.00<0.01, đối với H7). Hơn nữa, các chỉ báo này thể hiện mối tương quan tích cực, củng cố tính hiệu quả của mô hình lớp học đảo ngược.

  • Bảng 4.9 Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của học tập tự định hướng.

Cụ thể, sự can thiệp của lớp học đảo ngược đã tác động tích cực đến khả năng tự phản ánh và tự điều chỉnh nhịp học để cải thiện việc học của giáo viên Toán. Hơn nữa, giáo viên Toán có động cơ và động lực học tập rõ ràng, dễ dàng giao tiếp và nhận phản hồi từ giảng viên và bạn học. Những kết quả này cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng phương pháp lớp học đảo ngược đã góp phần nâng cao hiệu quả học tập tự định hướng, kỹ năng giao tiếp, động lực hợp tác nhóm và khả năng tư duy phản biện của giáo viên Toán.

Phân tích các đoạn trích phỏng vấn, chúng tôi cũng nhận thấy được những phản hồi tích cực từ giáo viên Toán. Chẳng hạn:

Giáo viên toán 1: “Tôi cảm thấy thuận tiện hơn khi học theo hình thức lớp học đảo ngược, vì tôi có thể tự học mọi lúc mọi nơi. Khi lên lớp, tôi sẵn sàng nêu ý kiến, trao đổi, tương tác với giảng viên và bạn học.”

Giáo viên toán 2: “Mô hình lớp học đảo ngược giúp tôi dễ dàng tiếp cận các hoạt động nhóm. Ngoài ra, tôi có thể dễ dàng trao đổi, chia sẻ nội dung bài học, thảo luận các hoạt động ngoài lớp học.”

Hai ý kiến trên cho thấy rằng giáo viên toán cảm thấy thuận tiện hơn khi được học theo hình thức lớp học đảo ngược. Họ có thể chủ động về thời gian và không gian học tập, cũng như dễ dàng trao đổi và nhận phản hồi từ giảng viên và bạn học. Họ dễ dàng chia sẻ nội dung bài học và thảo luận về các hoạt động học ngoài ngữ cảnh lớp học. Rõ ràng, mô hình lớp học đảo ngược đã mang đến những trải nghiệm tích cực liên quan đến khả năng học tập tự định hướng của giáo viên Toán.

Kỹ năng làm việc nhóm: Bảng 10, cho thấy điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) của kỹ năng làm việc nhóm của giáo sinh môn Toán trước và sau khi tham gia khóa học được giảng dạy bằng phương pháp lớp học đảo ngược. Dữ liệu cho thấy sự cải thiện đáng kể ở tất cả sáu chỉ báo sau khi hoàn thành khóa học. Các chỉ báo N1, N2, N4, N5 và N6 thể hiện những cải tiến đáng kể, được hỗ trợ bởi sự khác biệt về điểm trung bình thử nghiệm (t = 17.000; Sig. = 0.000<0.001, đối với N2 và N5). Hơn nữa, các chỉ báo này thể hiện mối tương quan tích cực đến sự tham gia học tập, đặc biệt là liên quan đến thể hiện sự quan tâm, hứng thú và nhiệt tình trong thực hiện các nhiệm vụ học tập. Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

  • Bảng 4.10 Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của kỹ năng làm việc nhóm.

Do đó, mô hình lớp học đảo ngược đã được chứng minh là có tác động tích cực đến người tham gia, cho phép họ điều hướng hiệu quả tập trung và chú ý vào các nhiệm vụ học tập, chú ý đến việc hiểu bản chất các khái niệm toán hơn là kiến thức bề mặt, nỗ lực tham gia tích cực vào các hoạt động học. Sử dụng các phương pháp học tập hiệu quả và biết tự điều chỉnh việc học, đóng góp tích cực, xây dựng và làm phong phú thêm các hoạt động học. Tuy nhiên, để nắm bắt được nhu cầu của vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học để biết giáo viên Toán cần gì và đang thiếu những gì trong việc học. Cần có nhiều hơn các cuộc khảo sát, điều tra thực tế về nhu cầu của giáo viên Toán, từ đó có những thay đổi phù hợp để nâng cao hiệu quả học tập ngày càng cao hơn.

  • Hình 4.2 Hoạt động nhóm

Kỹ năng sử dụng công nghệ: Bảng 4.11.cho thấy “kỹ năng sử dụng công nghệ”, được giáo viên toán đánh giá ở mức độ cao nhất “giáo viên toán có khả năng lưu trữ và chia sẻ học liệu số qua các nền tảng trực tuyến” có điểm trung bình khác biệt giữa trước và sau là (-0.813; sig.<.05). Kết quả này cho thấy giáo viên toán có khả năng lưu trữ và chia sẻ học liệu số qua các nền tảng trực tuyến, có khả năng sử dụng một nền tảng học tập trực tuyến, có khả năng khai thác tiềm năng của Internet cho việc học, có khả năng sử dụng các phần mềm chuyên dụng cho việc dạy học toán, có khả năng tích hợp công nghệ số vào bài trình bày, … xem chi tiết trong Bảng 4.11

  • Bảng 4.11 Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của kỹ năng sử dụng công nghệ

Tính gắn kết học tập: Bảng 4.12 cho thấy một sự tiến triển về điểm trung bình của các chỉ báo liên quan đến tính gắn kết học tập của giáo viên toán sau khi tham gia một khoá học theo mô hình lớp học đảo ngược. Sự chênh lệch đáng chú ý về điểm trung bình của các chỉ báo T1, T3 và T6 cho thấy sự cải thiện đáng kể sau thử nghiệm (t = 7.000; Sig. = 0.000<0.001, đối với T3), và (t = -5.975; Sig. = 0.000<0.001, đối với T1). Những phát hiện này cho thấy cách tiếp cận lớp học đảo ngược có ảnh hưởng tích cực đến tính gắn kết học tập, cụ thể là những thành tố liên quan đến sự quan tâm, hứng thú và nhiệt tình trong thực hiện các nhiệm vụ học tập. Xem chi tiết trong Bảng 4.12 Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

  • Bảng 4.12 Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của tính gắn kết học tập

Sự gia tăng đáng kể điểm trung bình của ba chỉ báo T1, T3 và T6 phản ánh rằng việc tham gia vào mô hình lớp học đảo ngược đã nâng cao sự hứng thú, nhiệt tình và tập trung trong học tập của giáo viên Toán. Những dữ liệu định tính từ phỏng vấn với họ cũng khẳng định những ảnh hưởng tích cực này:

  • Hình 4.3 Hoạt động tương tác giải quyết vấn đề với bạn học trong lớp học trực tiếp.

Giáo viên toán 2: “Qua khóa học này, kinh nghiệm của tôi là tôi có thể trao đổi nội dung bài học với các bạn cùng lớp và đưa ra nhận xét, phản hồi trên nền tảng Google Classroom của lớp học. Tôi có thể học bằng điện thoại thông minh, truy cập nội dung bài học một cách linh hoạt, mọi lúc mọi nơi.”

Giáo viên toán 3: “Học theo hình thức lớp học đảo ngược giúp tôi linh hoạt và tích cực hơn trong các hoạt động học. Những thảo luận trên lớp giúp tôi hiểu các khái niệm toán học tốt hơn. Nhìn chung, phương pháp lớp học đảo ngược giúp tôi tích cực và có động lực hơn trong các hoạt động học.”

Những kết quả định lượng và định tính ở trên cho thấy những tác động tích cực bước đầu của mô hình lớp học đảo ngược đến tính gắn kết học tập của giáo viên Toán sau một khoá học. Những thành tố liên quan đến tính tích cực, sự hứng thú và linh hoạt trong học tập được thể hiện rõ nhất ở giáo viên Toán sau khi tham gia vào khoá học.

Giáo viên toán 1: “Mô hình lớp học đảo ngược giúp tôi dễ dàng tiếp cận các hoạt động nhóm. Ngoài ra, tôi có thể dễ dàng trao đổi, chia sẻ nội dung bài học, thảo luận các hoạt động ngoài lớp học”. Ý kiến này nhấn mạnh tính hiệu quả của mô hình trong việc tạo điều kiện cho sự tham gia hợp tác và trao đổi nội dụng.

Tương tự như vậy, những người tham gia đã nhận ra ảnh hưởng của mô hình đối với sự tham gia. Khả năng tận dụng các nền tảng kỹ thuật số để trao đổi nội dung và tương tác tích cực nổi lên như một lợi ích nổi bật.

Giáo viên toán 2: “Qua khóa học này, kinh nghiệm của tôi là tôi có thể trao đổi nội dung bài học với các bạn cùng lớp và đưa ra nhận xét, phản hồi trên nền tảng Google Classroom của lớp học. Tôi có thể học bằng điện thoại thông minh, truy cập nội dung bài học một cách linh hoạt, mọi lúc mọi nơi”. Quan điểm này minh họa phương pháp mô hình lớp học đảo ngược trao quyền cho người tham gia sử dụng công nghệ một cách hiệu quả để giao tiếp, chia sẻ nội dung và cơ hội học tập linh hoạt.

Nhìn chung, bằng chứng định tính và định lượng kết hợp nhấn mạnh hiệu quả của sự can thiệp của lớp học đảo ngược trong phát huy học tập tự định hướng và năng lực tham gia học tập, cuối cùng trang bị cho giáo viên Toán những công cụ cần thiết để vượt trội trong bối cảnh giáo dục hiện đại.

4.4. Đánh giá câu hỏi thông qua ý kiến phản hồi của giáo viên Toán khi sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học: Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

  • Phản hồi của một số giáo viên Toán về Quá trình học tập trong môi trường lớp học đảo ngược
  • Việc tiếp cận học liệu và tính chủ động của giáo viên Toán

Trước khi học thông qua mô hình lớp học đảo ngược, giáo viên Toán được tiếp cận học liệu bằng sách giáo khoa nhưng khi thực hiện dạy học dựa trên sử dụng mô hình lớp học đảo ngược giáo viên Toán được tiếp cận học liệu ở nhiều nguồn khác nhau. Ví dụ: vận dụng điện thoại thông minh sẽ mang lại một cách học mới. Giảng viên và giáo viên Toán có thể chia sẻ ý tưởng, kiến thức và ý kiến thông qua công nghệ thông tin. Tạo cho giáo viên Toán có tính chủ động bởi vì giáo viên Toán dễ dàng truy cập tài liệu học tập trong các hoạt động có cộng tác nhóm để giải quyết các vấn đề khác nhau. Đặc biệt, giáo viên Toán có thể tiếp cận ba loại công việc: bài tập về nhà, xem lại các ghi chú trước bài học tiếp theo và thực hành giải quyết các vấn đề khác theo nhu cầu của họ. Xem xét với tư cách là một phương tiện dạy học, học liệu điện tử không phải chỉ như là những công cụ, phương tiện truyền đạt thông tin đến giáo viên Toán mà học liệu điện tử còn có vai trò thúc đẩy và điều phối hoạt động dạy học nhằm mục tiêu giúp giáo viên Toán khám phá và chiếm lĩnh tri thức. Dưới đây là hai ví dụ từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này:

Giáo viên toán 1: “Lớp học truyền thống thông thường, tôi gặp nhiều khó khăn, không kịp ghi hoặc thu thập nội dung học tập…nếu khi nào tôi ghi bài học sẽ không được nghe giảng viên giảng bài…”

Giáo viên toán 4: “Tôi dễ tiếp cận học liệu hơn vì tôi tiếp cận bài học trên nền tảng trực tuyến. Nếu tôi không hiểu sẽ xem video nhiều lần tùy thích, kiểm soát và ghi chú …”

Việc tiếp cận học liệu và tính chủ động của giáo viên Toán ngày nay, chỉ cần sở hữu máy tính xách tay hoặc điện thoại thông minh có kết nối mạng là giáo viên toán có thể tiếp cận được nguồn tài liệu và học liệu có thể truy cập tài liệu dễ dàng nhất. Chính vì vậy, việc phát triển học liệu điện tử cũng góp phần lớn vào đổi mới giáo dục.

  • Độc lập trong quá trình học của giáo viên Toán Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Giáo viên Toán có thể tự lập kế hoạch học tập và sắp xếp, phân bổ nhiều thời gian, xác định mục tiêu học tập của bản thân rõ ràng, có nghĩa là giáo viên Toán dành phần lớn thời gian tự quyết vấn đề của chủ đề đã được giao từ giảng viên. Hơn nữa, giáo viên Toán hiểu cách làm việc theo nhu cầu của bản thân để đạt được tiến bộ trong học tập và thành tích học tập. Dưới đây là ý kiến từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này:

Giáo viên toán 1: “…tôi học thông qua mô hình lớp học đảo ngược, tôi cảm thấy có người hướng dẫn mọi lúc mọi nơi theo yêu cầu học tập và không cần thiết theo dõi bạn học”.

Điều quan trọng nhất khi làm việc độc lập chính là làm theo sự hướng dẫn của giảng viên. Khi đã nắm rõ những yêu cầu của giảng viên, giáo viên Toán sẽ biết những phần nào nên được thực hiện trước, sắp xếp thời gian và phân chia các nhiệm vụ được giao một cách hợp lý. Đây là cách đơn giản nhất để giáo viên Toán có thể vượt qua những khó khăn trong lúc làm việc độc lập. Giáo viên Toán cũng có thể tìm sự giúp đỡ từ giảng viên và bạn học nếu thấy vấn đề quá khó.

Phản hồi của giáo viên Toán về Quá trình học tập trong môi trường lớp học đảo ngược khả năng giao tiếp của bản thân với giảng viên, khả năng theo dõi và tự đánh giá quá trình học tập.

Khi so với phương pháp học truyền thống, giáo viên Toán thấy rằng có thể giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều với giảng viên mọi lúc mọi nơi theo nhu cầu của bản thân thông qua công nghệ thông tin. Nó khác biệt với hoạt động trong lớp học truyền thống, có thời gian học tập hạn chế. Ví dụ: sự chuyển đổi một phần giảng dạy ra khỏi lớp học thông qua việc sử dụng các video hướng dẫn và học liệu theo mô hình lớp học đảo ngược, nơi nội dung được giảng dạy trong giờ học trực tuyến vào Google Classroom để theo dõi, cập nhật các thông tin slide bài giảng, sách giao khoa, bài tập ở nhà và gửi bài tập trao đổi, thảo luận trong lớp học tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên Toán chuẩn bị đọc, thu thập, luyện tập bài học, làm bài tập ở nhà theo sự hướng dẫn của giảng viên. Ngoài ra, giáo viên Toán có thể đánh giá kết quả hiểu biết của bản thân thông qua một số trò chơi hỗ trợ giáo dục (Kahoot, pedlet, quizlet…). Dưới đây là hai ý kiến từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này: Giáo viên toán 12: “Tôi có tham gia seminar thông qua lớp học trực tuyến”

Giáo viên toán 16: “Đối với tôi không bao giờ bỏ qua mọi câu hỏi của giảng viên đã giao”.

  • Hình 4.4 Hoạt động trao đổi với giảng viên trong trực tiếp

Nhìn chung, kỹ năng giao tiếp của giáo viên Toán với giảng viên phản ánh nhiều điều. Kỹ năng giao tiếp đòi hỏi quá trình rèn luyện, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và kỹ năng mềm. Do vậy, mỗi giáo viên Toán nên chủ động nhiều hơn.

  • Khả năng tự phản ánh và tự điều chỉnh nhịp học của bản thân

Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học sẽ giúp giáo viên Toán được trải nghiệm phong phú những hình thức học tập khác nhau, tăng hứng thú, phát huy tính tích cực, chủ động và phát triển được năng lực tự học; giúp giáo viên Toán phát huy năng lực tự học, đánh giá và điều chỉnh việc học, giáo viên toán tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học. Dưới đậy là hai ý kiến từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này:

Giáo viên toán 4: “…trước đây, tôi không bao giờ biết mục tiêu học tập và không biết học như thế nào? …Nhưng hiện nay, tôi biết điều gì đang xảy ra, giải quyết vấn đề như thế nào? tôi đã thực hiện các ghi chú sửa đổi, tôi đã biết ghi chú chi tiết…”.

Giáo viên toán 5: “…tôi mới biết mình chưa hiểu, nếu tôi không làm bài tập ở nhà, tôi sẽ gặp khó khăn trong việc hiểu bài tiếp theo…” Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Trong bối cảnh giáo viên Toán dần dần thích ứng với phương pháp học trực tuyến, giáo viên Toán đã hòa nhập, đón nhận và sẵn sàng với những thay đổi, điều chỉnh cả những khó khăn, thách thức.

  • Phản hồi của giáo viên Toán về quá trình học tập trong môi trường lớp học đảo ngược
  • Khả năng giao tiếp, cộng tác, lắng nghe và tiếp nhận phản hồi trong nhóm Trong thời gian học tập, giáo viên Toán có thể vận dụng công nghệ thông tin

vào bài trình bày, giao tiếp với giảng viên và bạn học. Tuy nhiên, điều quan trọng trong quá trình thảo luận là các thành viên phải tích cực, trách nhiệm trong chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Do đó, giáo viên toán phải tập trung làm việc nhóm theo hướng dẫn của giảng viên và tiếp tục học tập ngoài giờ tùy theo quyết định của thành viên nhóm. Sự cộng tác của giáo viên Toán trở thành một môi trường học tập quan trọng, nơi giảng viên là người hỗ trợ và tích cực lắng nghe ý kiến của giáo viên Toán để hoàn thành nhiệm vụ học tập, lưu trữ, chia sẻ học liệu số. Trong kỹ năng lắng nghe để cả nhóm hoạt động một cách hiệu quả, giáo viên Toán cần phải tập trung vào những đóng góp của từng thành viên khác và sẵn lòng tiếp thu ý kiến, nhận ra các thông điệp từ những đóng góp đó và hành động mà không đợi nhắc nhở. Kỹ năng tiếp nhận phản hồi từ thành viên nhóm cho thấy những phản hồi tích cực để cải thiện mình thì đó sẽ là con đường ngắn nhất đi đến đích hoàn thiện các kỹ năng của bản thân. Dưới đậy là ý kiến từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này:

Giáo viên toán 2: “… tôi dễ dàng tiếp cận quá trình hoạt động học tập nhóm, vì áp dụng công nghệ thông tin giúp tôi có thể trao đổi, chia sẻ nội dung bài học và cùng nhau thảo luận khi học ngoài giờ”.

Thông qua thảo luận nhóm, giáo viên Toán biết cách tự thể hiện mình, bộc lộ suy nghĩ của bản thân, nuôi dưỡng tự tin. Qua trao đổi, thảo luận, giảng viên kịp thời phát hiện được lỗi, thiếu sót trong quá trình tư duy, lập luận của giáo viên Toán để kịp thời điều chỉnh, rèn luyện cho giáo viên Toán cách tư duy khoa học đồng thời cũng hướng dẫn học cách diễn đạt, trình bày vấn đề. Do đó, giáo viên Toán thay vì chỉ học từ thầy mà còn học từ bạn, từ tài liệu sách vở.

  • Hình 4.5 Hoạt động học tập ngoài giờ (Google Classroom)
  • Phản hồi của giáo viên Toán về quá trình học tập trong môi trường lớp học đảo ngược

Khi giáo viên Toán học tập thông qua mô hình lớp học đảo ngược, giáo viên Toán phải chuẩn bị đọc bài, tìm hiểu nội dung học tập trước khi lên lớp hoặc giáo viên Toán đã đọc các bài đăng của người khác để lấy ý tưởng cho nhiều vấn đề được thảo luận. Sau đó, tìm hiểu các bài đăng này để mở rộng quan điểm của bản thân về các vấn đề muốn giải quyết. Vì thế, giáo viên Toán sẽ có một khoảng thời gian để tìm hiểu vấn đề, phân tích và giải quyết vấn đề, sau đó đánh giá để rút ra những thông tin cơ bản của bài học. Điều này là cơ sở để giáo viên Toán hình thành tư duy phản biện của bản thân. Dưới đây là hai ý kiến từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này: Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Giáo viên toán 1: “…trong việc học của tôi, khi tôi muốn giải quyết chủ đề nào đó, tôi sẽ đọc chủ đề đó nhiều lần để biết tôi sẽ làm cái gì? Sau đó tôi sẽ tìm cách giải quyết vấn đề như thế nào?…”

Giáo viên toán 2: “…Trong khi tôi đọc bài, tôi vừa đọc vừa đánh giá ý nghĩa trong mỗi đoạn để kết luận bài học đó…”

Mô hình lớp học đảo ngược, giáo viên Toán tận dụng tối đa thực hành kiến thức, thảo luận nhóm hoặc triển khai dự án, giải quyết các vấn đề mở. Khi được rèn luyện các kĩ năng trên, giáo viên Toán sẽ dần hình thành và phát triển tư duy phản biện của bản thân về các khái niệm. Ngoài ra, giáo viên Toán sẽ tổng hợp, đánh giá bằng nhiều hình thức khác nhau, diễn đạt theo cách hiểu, chứ không phải là chép lại nội dung trong tài liệu.

  • Phản hồi của giáo viên Toán về Quá trình học tập theo mô hình lớp học đảo ngược

Trong lớp học đảo ngược không thể thiếu sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Do đó, giáo viên Toàn cần phải trang bị đầy đủ để tiếp cận, chẳng hạn như đăng ký tham gia Google Classroom xem tài liệu học tập, chia sẻ nội dung bài học và đây cũng là nơi giáo viên toán giao tiếp với giảng viên hoặc bạn học. Giáo viên toán có thể áp dụng các nền tảng học tập trực tuyến như là các trò chơi học tập (Kahoot, pedlet, quizlet…). Hơn nữa, giáo viên Toán có thể áp dụng gói phân tích dữ liệu (SPSS) và áp dụng gói (Mindmaple). Tất cả công nghệ và các nền tảng trực tuyến luôn có ưu điểm là sẵn sàng cho giáo viên Toán bắt đầu làm mới và ôn tập kiến thức. Tùy vào điều kiện, giáo viên Toán có thể sử dụng các dụng cụ khác nhau để tiếp cận học tập. Ví dụ: điện thoại thông minh và máy tính xách tay,… Dưới đây là hai ý kiến từ các cuộc phỏng trong danh mục này:

Giáo viên toán 6: “…theo cách đó, tôi sẽ có được trải nghiệm học tập hoàn chỉnh hơn”;

Giáo viên toán 7: “Tôi có thể trao đổi kinh nghiệm với bạn học, đưa ra các bình luận trên phòng học Google Classroom và xem chúng trên điện thoại thông minh, truy cập chúng tự do và linh hoạt về thời gian, địa điểm”

Khả năng sử dụng công nghệ và các nền tảng trực tuyến của giáo viên Toán được đề cập là có lợi cho việc trình bày các video. Sự tiện lợi công nghệ là giáo viên Toán có thể tạm dừng video trong giờ giải lao, xem chúng trên điện thoại thông minh và khả năng truy cập chúng độc lập về thời gian, địa điểm. Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Hình 4.6 Hoạt động học tập ngoài giờ (Google Classroom)

  • Phản hồi chung của giáo viên Toán về quá trình học trực tuyến
  • Nỗ lực tham gia tích cực vào hoạt động học tập

Trước đây, giáo viên Toán đã áp dụng công nghệ thông tin không thường xuyên và chỉ hiểu biết cách áp dụng phần cơ sở để giải trí và giao tiếp với người khác. Hiện nay, giảng viên áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học để thúc đẩy quá trình tham gia vào các hoạt động học tập của giáo viên Toán. Ngoài ra, giáo viên Toán được giao các nhiệm vụ học tập vì giảng viên giao bài tập ở nhà qua Google Classroom. Do đó, giáo viên Toán dễ dàng tham gia học tập, dễ dàng theo dõi nội dung học tập, có thể mang các vấn đề tự học chưa rõ đến lớp học trực tiếp để trao đổi lẫn nhau và giải quyết. Đó là thể hiện sự quan tâm, hứng thú và nhiệt tình trong thực hiện các nhiệm vụ học tập, chú ý đến việc hiểu bản chất các khái niệm hơn. Dưới đây là ý kiến từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này:

Giáo viên toán 2: “Tôi rất vui được tham gia học tập cả buổi học trực tiếp và buổi học trực tuyến vì tôi thích sự kết nối nội dung cũng như kết nối nhận thức”

Áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động học tập tạo khả năng nỗ lực tham gia tích cực của giáo viên Toán.

Hình 4.7 Giáo viên toán đang lên thuyết trình bài học

  • Sự quan tâm và hứng thú đến các nhiệm vụ học tập được giao

Trong mô hình lớp học đảo ngược, giờ học ở lớp sẽ được giảng viên tận dụng tối đa để tổ chức cho giáo viên Toán thực hành kiến thức, thảo luận nhóm hoặc triển khai dự án, giải quyết các vấn đề. Do vậy, trong các hoạt động học tập, giáo viên Toán rèn luyện các kĩ năng phát biểu ý kiến trước nhóm học tập, kĩ năng tham gia, trao đổi ý kiến trong học tập dưới hình thức thảo luận, thực hành nhóm, giao tiếp với từng cá nhân khác nhau hay với tư cách là đại diện nhóm. Ngược lại, lớp học truyền thống giảng viên dành chủ yếu thời gian để giới thiệu nội dung bài giảng. Dưới đây là ý kiến từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này:

Giáo viên toán 1: “Tôi thường xuyên tải bài học và làm bài tập theo góc độ của minh trên Google Classroom…, tôi cảm giác hài lòng trong hoạt động lớp học đảo ngược này)” Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Sự quan tâm và hứng thú đến các nhiệm vụ học tập được giao giúp giáo viên Toán hình thành tư duy sáng tạo, vận dụng năng lực của bản thân để thực hiện nhiệm vụ học tập, dẫn dắt giáo viên Toán tự giải quyết vấn đề và chủ động hoàn thành nhiệm vụ học tập.

Hình 4.8 Giáo viên Toán giải bài Toán

  • Phản hồi chung của giáo viên Toán về quá trình học tập
  • Khả năng sử dụng các phương pháp học tập hiệu quả

Trong môi trường học tập, phương pháp học đảo ngược là phương pháp hiện đại và tiến bộ nhất. Do đó, nó tạo ra các khả năng đa dạng trong giờ học và ngoài lớp học nhưng mỗi lớp học sinh viên phải biết mình sẽ làm gì, làm như thế nào và bạn học cũng thế. Vì vậy, sự cộng tác về sắp xếp công việc hợp lý là trọng tâm trong lớp học. Giáo viên Toán chủ động tránh những sự phiền nhiễu, ghi chú đầy đủ, đặt câu hỏi, lập chiến lược học tập, ôn tập những ghi chú, giao tiếp với giảng viên, học tập tự duy phản biện. Đó là khả năng mới phát sinh với rất nhiều điều để học và trở thành kỹ năng mềm quan trọng trong việc sử dụng các phương pháp học tập.

  • Khả năng biết tự điều chỉnh việc học

Học cách tự điều chỉnh việc học là một kỹ năng mà giáo viên Toán phải đối mặt với những trải nghiệm để tự kiểm tra và trau dồi khả năng của mình. Ví dụ trước đại dịch Covid-19, giáo viên Toán thường học theo phương pháp lớp học truyền thống. Khi qua đại dịch đó, việc học tập được thay đổi mới, giáo viên Toán học tập thông qua công nghệ thông tin và áp dụng một nền tảng học tập trực tuyến và các phần mềm chuyên dụng cho việc dạy học toán. Điều đó tác động làm cho giáo viên Toán gặp khó khăn vì thiếu kinh nghiệm học tập. Tuy nhiên, giáo viên Toán cố gắng tự điều chỉnh hành vi học tập tích cực dưới sự hướng dẫn của giảng viên, giáo viên Toán khai thác tiềm năng của công nghệ cho việc học, tích hợp công nghệ số vào bài trình bày và tìm tòi, luyện tập để đạt được thành công trong học tập. Dưới đây là ý kiến từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này:

Giáo viên toán 2: “ban đầu, tôi cảm giác chán học theo cách học đổi mới (học trực tuyến), sau khi tôi nhận được sự hướng dẫn của giảng viên đã giao bài tâp, tôi rất thích học”

Cung cấp một môi trường an toàn và luôn có hỗ trợ để giáo viên Toán học hỏi và thực hành các kỹ năng tự điều chỉnh là chìa khóa để giúp giáo viên Toán thành công trong học tập. Đồng thời, giảng viên đóng một vai trò quan trọng là giúp giáo viên Toán tự nhận thức và cung cấp phản hồi để giải quyết những khó khăn và thúc đẩy sự hứng thú trong học tập.

  • Khả năng đóng góp tích cực vào các hoạt động học Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Trong môi trường lớp học đảo ngược, giáo viên Toán phải hợp tác với bạn học để đạt được những kết quả học tập. Ví dụ, giáo viên Toán làm việc nhóm “thu thập dữ liệu từ Bảng hỏi và phân tích dữ liệu”. Việc nhóm được phân phối trách nghiệm cho thành viên nhóm. Sau đó, giáo viên Toán được trao đổi ý kiến học tập dưới hình thức thảo luận để nhóm đạt được kết quả, giáo viên Toán phải có thái độ đóng góp tích cực với thành viên của nhóm và hỗ trợ các thành viên nhóm khác. Vì vậy, khả năng của giáo viên Toán được nhìn nhận qua việc trở thành một thành viên, có đóng góp tích cực trong nhóm, có thể mang đến một tác động to lớn giúp bạn học đạt được mục tiêu. Dưới đây là ý kiến từ các cuộc phỏng vấn trong danh mục này.

Giáo viên toán 1: “tôi tập trung làm bài tập theo phân phối của trưởng nhóm và tôi thay mặt thành viên nhóm lên trình bày trước lớp” Khả năng hoạt động giúp giáo viên Toán trở thành một thành viên có đóng góp tích cực của nhóm. Giáo viên Toán đã đóng góp chủ động, ứng xử tích cực và chia sẻ trách nhiệm vào hoạt động học để đạt được kết quả tốt nhất.

Kết luận chương 4

Chương này đã trình bày được kết quả của 2 thực nghiệm. Thực nghiệm 1 là nghiên cứu về khảo sát những thuận lợi và thách thức đối với giáo viên Toán và giảng viên trong sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học ở 5 trường đại học Việt Nam và ở 4 trường đại học Lào và 8 trường cao đẳng sư phạm Lào. Kết quả cho thấy sự đồng thuận đáng kể những thuận lợi, cụ thể các yếu tố về kiến thức, kỹ năng và thái độ. Hơn nữa, cho thấy sự đồng thuận đáng kể của yếu tố những thách thức đối với giáo viên Toán và giảng viên. Thực nghiệm 2 là đánh giá vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học toán ở trường đại học Savannakhet (Lào). Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt giữa trước và sau vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học, đặc biệt phương pháp học đảo ngược, có thể phát triển học tập của giáo viên Toán về học tập tự định hướng, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng sử dụng công nghệ và sự gắn kết học tập của giáo viên Toán.

Chương 5. Bàn luận và kết luận Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Chúng tôi tập trung thảo luận kết quả của nghiên cứu này vào việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Toán. Từ đó chúng tôi sẽ đưa ra một số kiến nghị và hướng mở rộng của đề tài.

5.1. Lý giải, bàn luận và kết luận cho các câu hỏi nghiên cứu

Trong chương 1, từ việc điểm bình các nghiên cứu về sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán, chúng tôi đặt ra những vấn đề cho nghiên cứu này. Trong chương 2 chúng tôi trình bày sâu hơn nền tảng lý thuyết trong việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học và chương 3 về phương pháp nghiên cứu. Từ đó đưa ra 3 câu hỏi nghiên cứu.

Sau đây, chúng tôi đưa ra một số yếu tố từ kết quả phân tích dữ liệu, cho phép trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra.

Câu hỏi thứ nhất: Những thuận lợi và thách thức khi sửp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào đào tạo giáo viên Toán tại Việt Nam và Lào là gì?

Dựa trên kết quả phân tích và đánh giá những thuận lợi và thách thức của mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học toán thông qua thực nghiệm 1, chúng tôi kết luận được rằng các chuyên gia tham gia trong thực nghiệm này có sự đồng thuận cao trong việc xác định những thuận lợi và thách thức của giáo viên Toán và giảng viên toán trong việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán ở Việt Nam, Lào.

Liên quan đến những thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán ở các trường Đại học Việt Nam, về mặt “Kiến thức”, nghiên cứu cho thấy giáo viên Toán tiếp thu kiến thức tốt hơn và sâu hơn vì có điều kiện hỗ trợ để tìm kiếm tài liệu học tập và các nguồn tài liệu đa dạng hơn. Về mặt “Kỹ năng”, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng lớp học đảo ngược đã thúc đẩy kỹ năng làm việc nhóm và hợp tác, kỹ năng giao tiếp và thảo luận, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tự học của giáo viên Toán, do họ có thời gian linh hoạt để học theo nhịp độ của bản thân. Về mặt “Thái độ”, kết quả nghiên cứu phản ảnh rằng có thể thúc đẩy sự tự tin của của giáo viên Toán trong các hoạt động học tập, sự gắn kết học tập của họ vào các hoạt động học tập, sự sẵn sàng tham gia và sáng tạo trong các hoạt động học tập của họ. Đối với giảng viên, kết quả nghiên cứu cho thấy sự đồng thuận của các chuyên gia về những thuận lợi sau đây của lớp học đảo ngược: kỹ năng công nghệ của giảng viên được thúc đẩy, kỹ năng sự phạm được nâng cao, dữ liệu lớp học được quản lý theo một cách tốt hơn. Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Về những thách thức của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán, nghiên cứu đã chỉ ra những thách thức, chẳng hạn như người học không có ý thức tự học và động lực học tập; không có đủ phương tiện công nghệ để học; khó khăn trong việc giao tiếp với giảng viên trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Đối với giảng viên, những thách thức của lớp học đảo ngược liên quan đến các vấn đề: giảng viên cần nhiều thời gian hơn để chuẩn bị bài học so với các phương pháp giảng dạy truyền thống; giảng viên cần rất nhiều trí lực để chuẩn bị bài học so với các phương pháp giảng dạy truyền thống; đòi hỏi sử dụng thành thạo các công cụ công nghệ so với các phương pháp giảng dạy truyền thống.

Những thuận lợi của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán ở các trường Đại học Lào khá giống với các trường Đại học ở Việt Nam. Như vậy, về mặt “Kiến thức” cho thấy rằng người học có kết quả học tập tốt hơn vì có thời gian học linh hoạt tìm hiểu nội dung bài học trước, có điều kiện thảo luận, phản hồi 1-1 với giảng viên nhiều và tốt hơn, có thể học theo góc độ của người học, có tài liệu học tập phong phú, đa dạng củng cố cho người học hiểu nội dung bài học tốt hơn; về mặt “Kỹ năng” có thể thúc đẩy kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng thuyết trình và thảo luận, kỹ năng đặt vấn đề và kỹ năng tự học của người học tốt hơn. Về mặt “Thái độ” có thể thúc đẩy tính tự tin trong học tập của người học, có tính sẵn sàng tham gia vào các hoạt động học, tính chủ động, thúc đẩy động cơ học tập tích cực. Đồng thời, ngoài những thuận lợi ở trên còn có những thách thức đối với người học như vẫn còn gặp khó khăn với kỹ năng sử dụng công nghệ và ít ý thức chủ động học tập.

Mặc dù vậy, những thuận lợi của lớp học đảo ngược là cơ bản đối với giảng viên ở những trường đại học Lào, tức là giảng viên cảm thấy tự do hơn trong việc hỗ trợ người học, quản lý dữ liệu lớp học tốt hơn, có cơ hội phát triển kỹ năng sư phạm cho bản thân tốt hơn nhưng không bỏ qua những thách thức như giảng viên sẽ mất nhiều thời gian để chuẩn bị bài giảng, học liệu so với dạy học truyền thống, mất nhiều công sức để chuẩn bị bài giảng, học liệu so với dạy học truyền thống, đòi hỏi giảng viên phải sử dụng được nhiều công cụ công nghệ hơn.

Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho phép chúng tôi xác định được những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán ban đầu ở Việt Nam, Lào. Kết quả này chia sẻ những thuận lợi và thách thức chung của lớp học đảo ngược theo đề xuất của Akçayır và Akçayır (2020) đồng thời nêu bật những thuận lợi và thách thức riêng của lớp học đảo ngược đối với môn toán và bối cảnh Việt Nam và Lào. Về mặt phương pháp, phương pháp Delphi của chúng tôi phù hợp trong việc đạt được mục tiêu nghiên cứu, đặc biệt là đo lường các chỉ số và sự đồng thuận. Tuy nhiên, số lượng chuyên gia Delphi được bổ nhiệm cho nghiên cứu này còn hạn chế. Số vòng Delphi được sử dụng cho nghiên cứu này chỉ là ba vòng. Nhóm chuyên gia chưa phân tích định tính hơn nữa các chỉ số đạt được mức độ đồng thuận trung bình.

Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng sử dụng công nghệ của giáo viên Toán thay đổi như thế nào qua một thực nghiệm dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược?

Kết quả thực nghiệm đã chỉ ra ảnh hưởng của mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học ở Trường Đại học Savannakhet (Lào), không chỉ tạo “kỹ năng làm việc nhóm”, chẳng hạn như người học biết lắng nghe và tiếp nhận phản hồi của các thành viên trong nhóm, mà còn giúp người học tư duy phản biện và xem xét vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, giao tiếp hiệu quả với bạn bè trong nhóm, tăng cường kỹ năng tổ chức và quản lý thời gian làm việc nhóm để thúc đẩy giải quyết những vấn đề gặp khó khăn trong việc học với các thành viên nhóm. Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Ngoài ra, lớp học đảo ngược giúp đỡ người học nâng cao “kỹ năng sử dụng công nghệ”, do người học có được trải nghiệm trong lưu trữ và chia sẻ học liệu số qua các nền tảng trực tuyến. Giáo viên Toán có khả năng sử dụng một nền tảng học tập trực tuyến để tiếp cận học liệu E- learning, có khả năng khai thác tiềm năng của Internet cho việc học, có khả năng sử dụng các phần mềm chuyên dụng cho việc dạy học toán và có khả năng tích hợp công nghệ số vào bài trình bày khi so với lớp học truyền thống. Tuy nhiên, người học và giảng viên không thể tránh khỏi những khó khăn trong khả năng khai thác tiềm năng của Internet cho việc học, khả năng sử dụng các phần mềm chuyên dụng cho việc dạy học toán và chi phí Internet.

Trước đây, trong giáo dục đại học, cách tiếp cận dạy học phổ biến thường được đặc trưng bởi mô hình lấy giảng viên làm trung tâm, trong đó trọng tâm của các hoạt động trong lớp do giảng viên chi phối, và giáo viên Toán trở thành những người tiếp nhận kiến thức thụ động. Để giải quyết thách thức giáo dục này, khái niệm lớp học đảo ngược đã nổi lên như một phương pháp sư phạm năng động và lấy người học làm trung tâm, có khả năng nâng cao năng lực nhận thức, kỹ năng và trình độ của người học (Murillo-Zamorano et al., 2021). Nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ tiềm năng biến đổi của mô hình lớp học đảo ngược trong bối cảnh đào tạo giáo viên Toán ở Lào, đặc biệt nhấn mạnh vào việc làm sáng tỏ tác động của nó đối với kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng công nghệ.

Những phát hiện thực nghiệm của chúng tôi cho thấy sự cải thiện rõ rệt về điểm số liên quan đến kỹ năng làm việc nhóm và công nghệ của giáo viên Toán tham gia vào một khóa học lớp học đảo ngược được thiết kế. Nghiên cứu này chứng minh ảnh hưởng mạnh mẽ và tích cực của mô hình lớp học đảo ngược đối với sự phát triển kỹ năng làm việc nhóm và công nghệ của giáo viên Toán. Nghiên cứu của chúng tôi đóng góp thêm vào tri thức bằng cách cung cấp bằng chứng liên quan đến kỹ năng làm việc nhóm và công nghệ của giáo viên toán thông qua mô hình giảng dạy lớp học đảo ngược. Nghiên cứu này mang lại ý nghĩa trong bối cảnh đào tạo giáo viên ở các nước đang phát triển, điển hình là Lào, nơi đáng có sự đổi mới về phương pháp giảng dạy cộng hưởng với nhu cầu giáo dục ngày càng tăng. Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Liên quan đến kỹ năng làm việc nhóm, kết quả nghiên cứu của chúng tôi củng cố những khẳng định trước đó của O’Flaherty và Phillips (2017) và Strayer (2014) về sự gia tăng rõ rệt trong kỹ năng hợp tác do môi trường lớp học đảo ngược. Trong bối cảnh các nghiên cứu hiện có cung cấp thông tin hạn chế về mối quan hệ giữa lớp học đảo ngược và năng lực công nghệ, nghiên cứu của chúng tôi đóng góp vào tri thức bằng cách cho thấy ảnh hưởng tích cực của mô hình lớp học đảo ngược trên lĩnh vực này.

Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Khả năng học tập tự định hướng và mức độ gắn kết học tập của giáo viên Toán thay đổi như thế nào qua một thực nghiệm dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược?

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mô hình lớp học đảo ngược thúc đẩy khả năng học tập tự định hướng của người học, do người học có thể đặt mục tiêu học tập rõ ràng, dễ tiếp cận tài liệu học tập, dễ dàng giao tiếp và nhận phản hồi từ giảng viên và bạn học, và có thể tự phản ánh và tự điều chỉnh nhịp học để cải thiện việc học. Người học có thể tự theo dõi và đánh giá quá trình học tập, có động cơ và động lực học tập hơn.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi hướng đến xem xét ảnh hưởng của mô hình lớp học đảo ngược đến khả năng học tập tự định hướng và tính gắn kết học tập của giáo viên Toán ở Lào. Chúng tôi đã thiết kế và thực nghiệm một khoá học chuyên môn cho giáo viên Toán ở Trường Đại học Savannakhet theo mô hình lớp học đảo ngược. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng học tập tự định hướng và tính gắn kết học tập của giáo viên Toán có những tiến triển tích cực và được nâng cao hơn sau khi tham gia một khoá học theo hình thức lớp học đảo ngược.

Caffarella (1993) quan niệm học tập tự định hướng như là một thái độ đối với việc học, ở đó người học cảm thấy tự chủ nhiều hơn trong quá trình học. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các chỉ báo liên quan đến tính chủ động và độc lập, sự phù hợp với nhịp học của cá nhân, và khả năng theo dõi và đánh giá quá trình học tập cá nhân của giáo viên Toán tham gia khảo sát đều có sự tiến triển tích cực. Điều này phản ánh một sự tiến triển tích cực của khả năng học tập tự định hướng của họ, nhìn từ quan niệm của Caffarella (1993). Đối với tính gắn kết học tập, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các chỉ báo liên quan đến cả bốn thành tố của tính gắn kết học tập đều có sự tiến triển tích cực sau một khoá học theo mô hình lớp học đảo ngược. Kết quả này là tương tự với kết quả của Subramaniam & Muniandy (2021) và góp phần khẳng định thêm tác động tích cực của lớp học đảo ngược đến tính gắn kết nhận thức của người học. Nghiên cứu của chúng tôi có thể được xem như là một trong các nghiên cứu tiên phong về triển khai mô hình lớp học đảo ngược ở Lào. Nghiên cứu góp phần thúc đẩy việc áp dụng mô hình này trong dạy học và đào tạo giáo viên Toán ở Lào.

5.2 Kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Nghiên cứu trong phạm vi của luận án đã có những kết quả chính sau đây:

  • Đặc trưng và phân loại được những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán.
  • Đặc trưng và phân loại được những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược đối với giảng viên.
  • Cho thấy khả năng học tập tự định hướng và tính gắn kết học tập của giáo viên Toán tiến triển một cách tích cực và được nâng cao sau một khoá học theo hình thức lớp học đảo ngược.
  • Cho thấy kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng công nghệ của giáo viên Toán tiến triển một cách tích cực và được nâng cao sau một khoá học theo hình thức lớp học đảo ngược.

5.3 Khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu

Thứ nhất, luận án nhằm xác định những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược trong việc đào tạo cho giảng viên ở Việt Nam – Lào. Phương pháp Delphi đã được lựa chọn để có được sự đồng thuận của một hội đồng chuyên gia trong chỉ dấu của những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược đối với giảng viên và giáo viên Toán ở Việt Nam, Lào. Những kết quả này có thể giúp cho các giảng viên biết được những thuận lợi và thách thức khi lựa chọn mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán ở Việt Nam, Lào.

Thứ hai, nghiên cứu cho thấy lớp học đảo ngược có thể thúc đẩy và nâng cao kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ của các giáo viên Toán. Kết quả này có thể giúp định hướng cho các nghiên cứu về sau liên quan đến sử dụng lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên nói chung, nhằm thúc đẩy kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng công nghệ cho người học.

Thứ ba, nghiên cứu đã chỉ ra rằng lớp học đảo ngược có tác động tích cực đến khả năng học tập tự định hướng và sự gắn kết học tập của giáo viên Toán. Cụ thể, sự can thiệp của lớp học đảo ngược đã tác động tích cực đến khả năng tự phản ánh và tự điều chỉnh nhịp học để cải thiện việc học của giáo viên Toán. Hơn nữa, giáo viên Toán có động cơ và động lực học tập rõ ràng, dễ dàng giao tiếp và nhận phản hồi từ giảng viên và bạn học. Những kết quả này cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng phương pháp lớp học đảo ngược đã góp phần nâng cao hiểu quả học tập tự định hướng, kỹ năng giao tiếp, động lực hợp tác nhóm và khả năng tư duy phản biện của giáo viên Toán. Ngoài ra, mô hình lớp học đảo ngược đã nâng cao sự hứng thú, nhiệt tình và tập trung trong học tập của giáo viên Toán. Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi có thể là một điểm tham chiếu hữu ích cho việc lựa chọn mô hình dạy học nhằm thúc đẩy sự gắn kết học tập và khả năng học tập tự định hướng của người học.

5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng phát triển của đề tài

Trong luận án này, chúng tôi có phạm vi nghiên cứu với hạn chế thời gian và khả năng. Hơn nữa, chúng tôi vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Thứ nhất, chúng tôi mới chỉ khảo sát trên một số lượng nhỏ giáo viên Toán và phạm vi khảo sát là một số trường đại học ở Việt Nam, Lào.

Thứ hai, nghiên cứu này chưa nghiên cứu về môi trường lớp học tập đảo ngược trong dạy học toán ở các trường đạo học và cao đẳng sư phạm Lào.

Thứ ba, nghiên cứu chỉ mới thực hiện trên chủ đề trong môn Xác suất – Thống kê, là một khía cạnh trong chương trình đào tạo Sư phạm toán (12+4) năm 2024, với giáo viên Toán năm thứ 3 ở trường đại học Savannakhet.

Tuy vậy, những kết quả đạt được cũng phần nào cho chúng tôi nhận xét được những ưu điểm và hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học toán đối với giảng viên và giáo viên Toán. Hơn nữa, vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong môn toán (Xác suất – Thống kê) hiện nay, từ đó có thể phát triển để khảo sát các chủ đề dạy học khác cũng như môn khác. Trong nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi sẽ khảo sát trên môi trường học tập đảo ngược trong dạy học toán và phạm vi rộng hơn, đặc biệt mở rộng phạm vi đối với môn khác.

Chúng tôi cũng sẽ có quá trình phân tích định tính dài hơi, theo dõi quá trình phát triển hành vi của giáo viên Toán từ lúc đang đào tạo đến lúc trở thành giáo viên thực thụ. Ngoài ra, như các kết quả nghiên cứu về vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo nghiệp vụ sư phạm đã chỉ ra, các yếu tố, xã hội, bối cảnh giáo dục cũng như niềm tin, năng lực, động lực nghề nghiệp cũng là một khía cạnh quan trọng tác động đến sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo nghiệp vụ cho người học. Đó cũng chính là hướng phát triển tiếp theo của đề tài. Hơn nữa, chúng tôi sẽ tập trung vào nghiên cứu việc triển khai mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học và tập trung vào một nhóm đối tượng điển hình để tạo tiền đề cho những nghiên cứu kĩ hơn, sâu hơn và trên một phạm vi nghiên cứu rộng hơn, từ đó kì vọng những kết quả có tính ứng dụng cao hơn.

KẾT LUẬN CHUNG Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

Nghiên cứu này có mục tiêu khám phá những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào đào tạo giáo viên Toán ở Lào, đồng thời xem xét ảnh hưởng của lớp học đảo ngược đến kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ, khả năng học tập tự định hướng, và sự gắn kết học tập của giáo viên Toán ở Lào. Phương pháp Delphi (phỏng vấn chuyên gia ba vòng) được sử dụng để tìm ra những đồng thuận của chuyên gia về những thách thức và thuận lợi của hình thức giảng dạy lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán. Phương pháp thực nghiệm (quasi-experiemntal) được sử dụng để xem xét ảnh hưởng của lớp học đảo ngược đến kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ, khả năng học tập tự định hướng, và sự gắn kết học tập của giáo viên Toán ở Lào. Nghiên cứu trong phạm vi của luận án đã có những kết quả chính sau đây:

  • Đặc trưng và phân loại được những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược đối với giáo viên Toán.
  • Đặc trưng và phân loại được những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược đối với giảng viên.
  • Cho thấy khả năng học tập tự định hướng và tính gắn kết học tập của giáo viên Toán tiến triển một cách tích cực và được nâng cao sau một khoá học theo hình thức lớp học đảo ngược.
  • Cho thấy kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng công nghệ của giáo viên Toán tiến triển một cách tích cực và được nâng cao sau một khoá học theo hình thức lớp học đảo ngược.

Từ đó, nghiên cứu trong phạm vi của luận án có những đóng góp mới sau:

Thứ nhất, chúng tôi đã phân tích tổng quan được các nghiên cứu về sử dụng lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên, đặc biệt là đào tạo giáo viên Toán.

Thứ hai, chúng tôi đã đặc trưng và phân loại được những thuận lợi và thách thức của lớp học đảo ngược trong đào tạo giáo viên Toán.

Thứ ba, nghiên cứu đã khẳng định ảnh hưởng tích cực của lớp học đảo ngược đến khả năng học tập tự định hướng và tính gắn kết học tập của giáo viên Toán.

Thứ tư, nghiên cứu khẳng định ảnh hưởng tích cực của lớp học đảo ngược đến kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng công nghệ của giáo viên Toán.

Cuối cùng, nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy những ưu điểm của việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào đào tạo giáo viên Toán ở Lào. Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong đào tạo

One thought on “Luận văn: Kết quả NC sử dụng mô hình lớp học đảo ngược

  1. Pingback: Luận văn: Nghiên cứu sử dụng mô hình lớp học đảo ngược

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464