Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu theo pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Căn cứ xét nhận đơn xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu.

1.1 Các nguyên tắc chấp nhận đơn xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

Trong lịch sử bảo hộ nhãn hiệu đã tồn tại hai nguyên tắc chấp nhận đơn xin đăng ký bảo hộ đó là nguyên tắc người nộp đơn xin bảo hộ đầu tiên đối với nhãn hiệu (first – to – file) và nguyên tắc người sử dụng đầu tiên đối với nhãn hiệu (first -to -use).

Nguyên tắc người sử dụng đầu tiên đối với nhãn hiệu có nghĩa là khi xem xét hai hay nhiều đơn xin đăng ký cùng một nhãn hiệu hoặc khi phát sinh các tranh chấp trong việc đăng ký nhãn hiệu, cơ quan đăng ký sẽ thẩm tra thời điểm sử dụng nhãn hiệu của mình là có trước thì bên đó sẽ được cấp đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu. Pháp luật các nước thường không áp dụng nguyên tắc này và thay vào đó các nước sử dụng nguyên tắc người nộp đơn đầu tiên (first-to-file).

Nội dung của nguyên tắc người nộp đơn đầu tiên là việc chấp nhận cho đăng ký và bảo hộ một nhãn hiệu sẽ dựa trên thời điểm nộp đơn hợp lệ xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Trong trường hợp có tranh chấp về việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, người nộp đơn hợp lệ trước sẽ là người được quyền đăng ký nhãn hiệu. Quyền ưu tiên được quy định tại điều 4 Công ước Paris, quy định tại Điều 4 Công ước Paris cũng là nghĩa vụ mà các thành viên của Hiệp định TRIPS phải thực hiện. Theo quy định này một công dân của một nước thành viên Công ước Paris (hoặc chủ thể đáp ứng Điều 3 Công ước Paris) được coi là có quyền ưu tiên trong thời hạn 06 tháng tính từ ngày nộp đơn đầu tiên đối với nhãn hiệu khi nộp đơn hợp lệ xin đăng ký nhãn hiệu tại một trong các nước thành viên của Công ước. Ngày nộp đơn này sẽ được coi là ngày nộp đơn hợp lệ tại các nước thành viên khác và việc nộp đơn sau đó không bị vô hiệu bởi bất kỳ hành động nào được thực hiện trong khoảng thời gian tính từ ngày nộp đơn hợp lệ tại nước thành viên đến ngày nộp đơn sau. Tuy nhiên, các trường hợp được hưởng quyền ưu tiên nộp đơn theo các cam kết quốc tế về SHCN và nhãn hiệu được coi là những trường hợp ngoại lệ. Trên cơ sở đó cơ quan đăng ký nhãn hiệu các nước sẽ xác định được người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu trước.

Khi đề cập đến vấn đề này pháp luật Mỹ có sự kết hợp giữa hai nguyên tắc: người nộp đơn đầu tiên (first-to-file) và người sử dụng đầu tiên (first-to-use). Theo quy định tại Điều 2.83 Tiêu đề 37 Đạo luật tố tụng và Thủ tục hành chính Liên bang Mỹ (The Code of Federal Regulations – C.F.R) thì bất cứ đơn xin đăng ký nào được nộp mà nhãn hiệu ở đó giống với một hay nhiều nhãn hiệu khác đang xin đăng ký mà có thể dẫn đến nhầm lẫn hay lừa dối công chúng, thì nhãn hiệu được nộp với ngày nộp đơn hợp lệ sớm nhất sẽ được chấp nhận cho đăng trên công báo SHCN để tiến hành thủ tục phản đối. Trong trường hợp các đơn xin đăng ký nhãn hiệu giống hoặc tương tự nhau có thể gây nhầm lẫn có cùng ngày nộp đơn hợp lệ thì pháp luật Mỹ xem xét đơn nào có ngày ký sớm nhất sẽ được chấp nhận để tiếp tục làm thủ tục đăng ký.

Đồng thời pháp luật Mỹ còn quy định trong trường hợp đơn có ngày nộp hợp lệ sớm nhất không được chấp nhận đăng ký và sau đó lại có nhiều đơn khác cùng xin đăng ký nhãn hiệu tương tự trong đó có đơn không được nộp lần trước do có ngày nộp đơn muộn hơn sẽ được tính ngày nộp đơn hợp lệ là ngày nộp đơn trong lần trước chứ không phải ngày nộp đơn trong lần sau.

Ngoài ra Mỹ còn áp dụng nguyên tắc first-to-you, tại Điều 2.d Luật Nhãn hiệu Mỹ 1946 quy định một nhãn hiệu mặc dù có tính phân biệt sẽ không được đăng ký nếu nó giống hoặc tương tự tới mức có thể gây nhầm lẫn hoặc đánh lừa với một nhãn hiệu hay tên thương mại đã được sử dụng trước ở Mỹ bởi một người khác mà chưa bị từ bỏ.

Pháp luật Anh quy định nguyên tắc này tại Điều 5,6 Luật nhãn hiệu Anh 1994 về các cơ sở để từ chối một đơn xin đăng ký nhãn hiệu. Theo đó, một đơn xin đăng ký nhãn hiệu sẽ bị từ chối nếu:Nhãn hiệu xin đăng ký giống với một nhãn hiệu đã đăng ký trước (earlier trademark) và hàng hóa hoặc dịch vụ mà nó xin đăng ký cùng loại với hàng hóa hoặc dịch vụ của nhãn hiệu đăng ký trước đã được bảo hộ. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

  • Hoặc nhãn hiệu đăng ký trước đã có danh tiếng ở Anh và việc sử dụng nhãn hiệu đó không phải là nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng, gây thiệt hại cho, dấu hiệu đặc biệt hoặc danh tiếng của nhãn hiệu đăng ký trước.
  • Nhãn hiệu đã đăng ký trước bao gồm nhãn hiệu đã được đăng ký ở Anh, nhãn hiệu quốc tế có chỉ định ở Anh, nhãn hiệu Cộng đồng chung Châu Âu, nhãn hiệu quốc tế có chỉ định vào Cộng đồng chung Châu Âu mà có ngày nộp đơn đăng ký nhãn hiệu sớm hơn đơn nhãn hiệu xin yêu cầu bảo hộ.

Thông thường Cục sở hữu trí tuệ Anh sẽ xem xét để áp dụng nguyên tắc first-to-file dựa trên điều kiện: (1) phải có ý kiến phản đối về việc nhãn hiệu đã có đơn đăng ký trước, ý kiến này thường được đưa ra trong thủ tục phản đối đơn sau khi có công bố đơn (Điều 38.2 Luật Nhãn hiệu 1994); (2) nhãn hiệu đang xin đăng ký bảo hộ có sự trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký trước đó.

Pháp luật Trung Quốc cũng công nhận nguyên tắc first-to-file để chấp nhận đơn đăng ký nhãn hiệu. Nhưng nguyên tắc first-to-file được bổ sung bởi nguyên tắc first-to-you. Theo quy định tại Điều 29 Luật Nhãn hiệu thì:

  • Khi có hai hay nhiều người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự cho cùng loại hàng hóa hoặc tương tự với nhau, thì đơn nhãn hiệu đăng ký đầu tiên sẽ được xét nghiệm sơ bộ, phê duyệt và được công bố.
  • Nếu các đơn nhãn hiệu được nộp cùng một ngày, thì nhãn hiệu nào có thời gian sử dụng trước sẽ được xét nghiệm sơ bộ, phê duyệt và được công bố, và các đơn nhãn hiệu khác sẽ bị từ chối và không được công bố.

Quy định này chỉ rõ việc xét nghiệm và phê duyệt đơn đăng ký nhãn hiệu dựa trên nguyên tắc first-to-file được bổ sung bởi nguyên tắc first-to-you.

  • Nếu hai đơn nhãn hiệu được nộp trong cùng một ngày, thì nhãn hiệu nào có thời gian sử dụng trước sẽ ưu tiên cho chủ đơn có nhãn hiệu được sử dụng trước. Chủ đơn sẽ phải đưa ra bằng chứng chứng minh ngày nhãn hiệu được sử dụng trước.
  • Nếu hai chủ đơn bắt đầu sử dụng một nhãn hiệu trong cùng một ngày hoặc không sử dụng nhãn hiệu đó, họ có thể giải quyết vấn đề sử dụng nhãn hiệu thông qua việc đàm phán.
  • Nếu đàm phán không thành, thì chủ đơn chiến thắng sẽ được chọn ra bằng cách bình chọn hoặc do Cục nhãn hiệu lựa chọn. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Giống như pháp luật Anh, pháp luật Nhật Bản quy định rất cụ thể về nguyên tắc first-to-file. Điều 8 Luật Nhãn hiệu Nhật Bản quy định khi có hai hay nhiều đơn đăng ký nhãn hiệu liên quan đến các nhãn hiệu tương tự hoặc giống nhau được áp dụng với các hàng hóa, dịch vụ cùng loại được nộp vào những ngày khác nhau thì chỉ người nộp đơn nào có ngày nộp đơn sớm nhất mới có quyền đăng ký nhãn hiệu. Trong trường hợp các đơn đó nộp cùng một ngày thì bắt buộc các chủ đơn phải đàm phán với nhau để chọn ra một người được quyền đăng ký. Cơ quan đăng ký sẽ có yêu cầu về vấn đề này và buộc các bên phải báo cáo về việc đàm phán giữa họ. Thông thường nội dung thỏa thuận của các bên liên quan đến việc một hoặc một số chủ thể chấp nhận rút lại đơn đăng ký và bên kia chấp nhận thanh toán cho bên rút đăng ký một khoản tiền để bù đắp chi phí tạo ra một nhãn hiệu mới. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận được nhưng báo cáo không đúng hạn thì cơ quan đăng ký sẽ tổ chức bốc thăm một cách công bằng để chọn ra một bên (trích trong phần giới thiệu pháp luật Nhãn hiệu, Cục SHCN Nhật Bản – Trung tâm SHCN Châu Á Thái Bình Dưong (ЈIII) 2001,trang 25,26).

Trong trường hợp các chủ thể kinh doanh nếu không thoả thuận được với nhau sẽ bốc thăm để quy định ai được quyền tiếp tục làm thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Cách giải quyết này có thể nói là công bằng (dù có yếu tố may rủi) và tránh được khả năng bị người thứ ba lợi dụng một cách bất chính.

1.2 Yêu cầu về việc sử dụng nhãn hiệu. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Bảo hộ nhãn hiệu không có mục đích tự thân, không phải là mục đích cuối cùng. Bảo hộ nhãn hiệu nhằm mục đích đưa nhãn hiệu vào sử dụng trong thực tiễn thương mại nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của việc bảo hộ. Sẽ là vô nghĩa khi nhãn hiệu được pháp luật bảo hộ nhưng rồi chúng lại không được sử dụng trong đời sống thương mại. Mặc dù đa số pháp luật các nước cũng như các điều ước quốc tế yêu cầu không được coi sử dụng nhãn hiệu như là một điều kiện để nộp đơn đăng ký (khoản 3 Điều 15 Hiệp định TRIPS; khoản 3 Điều 6 Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ) song sử dụng nhãn hiệu luôn là một nghĩa vụ pháp lý của chủ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu. Quy định bắt buộc này nhằm bảo vệ lợi ích của những người liên quan, tránh tình trạng “phong toả không lành mạnh” bằng cách đăng ký những nhãn hiệu mà trong khoa học pháp lý gọi là “nhãn hiệu bảo vệ” chưa có nhu cầu sử dụng, nhằm ngăn các chủ thể khác (những người thực sự có nhu cầu đối với nhãn hiệu đó) đăng ký một nhãn hiệu tương tự. Ngoài ra, quy định nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu cũng nhằm vào một số mục đích khác như làm nhẹ bớt gánh nặng thẩm định đơn và xem xét khiếu nại của người thứ ba…

Tuy nhiên, một ân hạn về thời gian là cần thiết cho các chủ thể kinh doanh trước khi thực hiện nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu. Thời gian ân hạn không sử dụng nhãn hiệu là khoảng thời gian tối đa do pháp luật quy định mà chủ nhãn hiệu được phép không sử dụng liên tục nhãn hiệu của mình mà không mất quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Điều này là hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Pháp luật các nước có quy định khác nhau về thời gian ân hạn, đối với Trung Quốc (Điều 44.4 Luật Nhãn hiệu và Điều 3 Quy định thực thi Luật Nhãn hiệu có hiệu lực 2002), Mỹ (Điều 45 Luật Nhãn hiệu Mỹ 1946 (15 U.S.C§1127)) và Nhật Bản (Điều 50.1 Luật nhãn hiệu Nhật Bản) thời hạn đó là 3 năm liên tục, còn Anh (Điều 46.1.a.b Luật nhãn hiệu 1994) là 5 năm liên tục.

Để tránh bị các đối thủ cạnh tranh khác đăng ký nhãn hiệu mà mình dự định sử dụng, các doanh nghiệp thường muốn đăng ký càng sớm càng tốt các nhãn hiệu mới ở những nước dự định sẽ kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gắn nhãn hiệu. Thậm chí ngay tại quốc gia nơi doanh nghiệp có quốc tịch hay trụ sở chính, doanh nghiệp cũng thường mất nhiều năm trước khi đưa sản phẩm mới ra thị trường. Cho nên, có thể thấy việc quy định nghĩa vụ sử dụng và thời gian ân hạn là biểu hiện của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực pháp luật bảo hộ nhãn hiệu.

1.2.1 Hậu quả của việc không sử dụng

Một nhãn hiệu không được sử dụng trong thời gian liên tục nhất định thì nó không thực hiện được mục đích kinh tế của mình cũng như chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ mang nó. Pháp luật các nước quy định các chế tài và các điều kiện khác nhau áp dụng cho việc không sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Theo pháp luật Anh, nếu trong thời hạn 5 năm sau khi đăng ký mà chủ nhãn hiệu không sử dụng nhãn hiệu trong lãnh thổ nước Anh cho các hàng hóa, dịch vụ mà nó đăng ký hoặc việc sử dụng nhãn hiệu bị ngưng trong thời hạn liên tục 5 năm mà không có lý do chính đáng thì nhãn hiệu đó sẽ bị thu hồi. Một điều cần lưu ý là thời hạn được tính liên tục, do đó nếu trong khoảng thời gian 5 năm đó chủ nhãn hiệu chỉ cần bắt đầu sử dụng lại nhãn hiệu thì thời gian không sử dụng trước đó không được tính. Pháp luật Anh cũng quy định nếu thời gian sử dụng trở lại tính cho đến ngày có đơn đề nghị thu hồi ít hơn hoặc bằng 3 tháng thì thời gian đó vẫn được coi là thời gian không sử dụng nhãn hiệu (Điều 46 Luật nhãn hiệu 1994).

Pháp luật Mỹ cũng quy định nếu nhãn hiệu không được sử dụng liên tục trong thời hạn là 3 năm thì nhãn hiệu đó sẽ bị coi là chủ nhãn hiệu từ bỏ và có thể sẽ bị áp dụng thủ tục hủy bỏ đăng ký nhãn hiệu bất kỳ lúc nào (Điều 45 Luật nhãn hiệu Mỹ 1946). Theo pháp luật Mỹ thì chủ nhãn hiệu phải có ý định không trở lại sử dụng nhãn hiệu đó nữa và việc sử dụng nhãn hiệu phải có nghĩa là sự sử dụng chân thành nhằm mục đích thương mại chứ không phải là sự sử dụng mang tính chất chiếu lệ để bảo lưu cho mình quyền đối với nhãn hiệu.

Tương tự như pháp luật Mỹ và Anh, pháp Luật Trung Quốc quy định nhãn hiệu không được sử dụng trong 3 năm liên tục thì sẽ bị hủy bỏ đăng ký nhãn hiệu (Điều 44.4 Luật Nhãn hiệu).

Theo pháp luật Nhật Bản, việc không sử dụng nhãn hiệu liên tục đối với hàng hóa, dịch vụ trong vòng từ 3 năm trở lên thì nhãn hiệu đố có thể bị đưa ra tòa án và bị tuyên bố hủy bỏ đăng ký. Người có quyền khởi kiện là người có lợi ích liên quan và các bên liên quan đến việc đăng ký, sử dụng nhãn hiệu sẽ được thông báo. Khác với pháp luật Anh và Mỹ, pháp luật Nhật Bản quy định trách nhiệm chứng minh việc sử dụng nhãn hiệu thuộc về chủ nhãn hiệu. Khi đơn được thụ lý chủ nhãn hiệu phải chứng minh được trong thời hạn bị kiện là không sử dụng nhãn hiệu, bản thân mình hoặc người được mình ủy quyền, hoặc người có quyền sử dụng đã thực tế sử dụng nhãn hiệu đó đối với hàng hóa, dịch vụ bị kiện, nếu không nhãn hiệu đó sẽ phải bị hủy bỏ.

1.2.2 Sử dụng nhãn hiệu một cách phù hợp.

Theo Luật nhãn hiệu Mỹ thì khái niệm “sử dụng nhãn hiệu” được đưa vào trong thuật ngữ “sử dụng trong thương mại” (use in commerce), việc sử dụng nhãn hiệu phải luôn gắn với mục đích thương mại ở một phạm vi khá rộng. Theo khái niệm này thì việc sử dụng nhãn hiệu trong thương mại có nghĩa là việc sử dụng chân thực một nhãn hiệu vì mục đích thông thường của thương mại hàng hóa chứ không phải chỉ nhằm mục đích duy trì quyền đối với nhãn mác. Pháp luật quy định hai trường hợp sử dụng nhãn hiệu là sử dụng trên hàng hóa và sử dụng trên dịch vụ. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Nhãn hiệu sử dụng trên hàng hóa thì hành vi sử dụng phải thỏa mãn hai điều kiện: thứ nhất, nhãn hiệu phải được gắn lên hàng hóa hay thùng hàng hay các nhãn mác, băng rôn hay thương hiệu đi liền hoặc gắn lên hàng hóa, thùng hàng, nếu bản chất của hàng hóa làm cho việc gắn nhãn hiệu lên nó là không thể, thì nhãn hiệu đó phải được thể hiện trên các giấy tờ đi kèm hàng hóa hay hóa đơn bán hàng; thứ hai, là hàng hóa có gắn nhãn hiệu theo cách thức trên phải được bán hay lưu thông thương mại.

Còn trường hợp nhãn hiệu gắn lên dịch vụ thì hành vi sử dụng nhãn hiệu đó phải được sử dụng hay trình bày trong quá trình cung cấp hay quảng bá dịch vụ đó và dịch vụ đó phải mang tính thương mại, hoặc dịch vụ phải được cung cấp ở nhiều bang của nước Mỹ hay vừa ở Mỹ vừa ở nước ngoài, đồng thời cung cấp dịch vụ phải gắn việc cung cấp dịch vụ với mục đích thương mại bằng cách thức nào đó (Điều 45 Luật nhãn hiệu Mỹ 1946, Phần Use in commerce).

Pháp luật Anh không đưa ra khái niệm sử dụng nhãn hiệu, nhưng theo tinh thần của Điều 46.1(a)(b).2 Luật nhãn hiệu 1994 thì việc sử dụng nhãn hiệu có nghĩa là chủ sở hữu sử dụng một cách chân thực nhãn hiệu đó trong thương mại. Việc sử dụng nhãn hiệu bởi một người khác theo sự ủy quyền của chủ văn bằng bảo hộ cũng được coi là sử dụng hợp pháp nhãn hiệu. Điều luật này cũng quy định hai hình thức sử dụng nhãn hiệu khác trong phạm vi nước Anh: thứ nhất, hành vi sử dụng nhãn hiệu có sự thay đổi trong một số yếu tố cấu thành của nhãn hiệu đó song không làm mất đi giá trị phân biệt vốn có của nó thì vẫn được coi là sử dụng nhãn hiệu đó; thứ hai, khi nhãn hiệu được gắn lên hàng hóa hoặc bao bì để xuất khẩu ra khỏi thị trường nước Anh (Điều 46.2 Luật nhãn hiệu 1994).

Giống như Anh, Pháp luật Nhật Bản cũng không quy định một khái niệm cụ thể về sử dụng nhãn hiệu mà gắn việc sử dụng nhãn hiệu với hoạt động kinh doanh của chủ nhãn hiệu. Ngoài ra pháp luật Nhật Bản cũng quy định hai trường hợp không được coi là sử dụng nhãn hiệu một cách hợp thức: thứ nhất, việc chuyển giao cho dù là toàn bộ hay một phần nhãn hiệu cho người khác không được coi là hành vi sử dụng nhãn hiệu; thứ hai, nếu có những bằng chứng cho thấy chủ nhãn hiệu sẽ không tiến hành các hoạt động kinh doanh đến một hay một số nhóm hàng hóa, dịch vụ đăng ký theo nhãn hiệu thì có thể khẳng định nhãn hiệu không được sử dụng đối với nhóm hàng hóa, dịch vụ đó.

Cũng giống như pháp luật Mỹ, pháp luật Trung Quốc đưa ra khái niệm cụ thể về sử dụng nhãn hiệu. Theo Điều 3 Quy định thực thi Luật Nhãn hiệu có hiệu lực 2002 thì khái niệm “sử dụng nhãn hiệu” được hiểu là việc gắn nhãn hiệu lên hàng hóa, bao bì, hoặc thùng hàng, hoặc sử dụng nhãn hiệu trên các tài liệu giao dịch, quảng cáo, triển lãm hoặc các hoạt động kinh doanh khác.

2. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Việc xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định trong lĩnh vực bảo hộ nhãn hiệu. Pháp luật và thực tiễn các nước không đưa ra một căn cứ xác lập quyền đối với nhãn hiệu mang tính đồng nhất. Quyền SHCN đối với nhãn hiệu có thể xuất hiện cùng với sự kiện đăng ký nhãn hiệu hoặc sự kiện sử dụng nhãn hiệu trong giao lưu thương mại. Nói một cách cụ thể hơn, độc quyền đối với nhãn hiệu xuất hiện cùng với ngày nộp đơn hợp lệ đầu tiên hoặc ngày sử dụng nhãn hiệu đầu tiên trong giao lưu thương mại.

Chủ nhãn hiệu muốn được hưởng sự bảo hộ đầy đủ nhất đều phải đăng ký nhãn hiệu với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Các quốc gia đều quy định những trình tự, thủ tục nhất định để đảm bảo được quyền lợi của chủ nhãn hiệu, của công chúng và của người thứ ba trong quá trình đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Về cơ bản, trình tự thủ tục đăng ký bản hộ nhãn hiệu của Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản giống nhau đều được chia làm 4 bước lớn, đó là: (1) Nộp đơn và hồ sơ xin đăng ký; (2) nhận đơn và xét nghiệm đơn; (3) công bố và phản đối đơn; (4) cấp văn bằng bảo hộ. Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của từng nước thì các yêu cầu và thủ tục trong từng giai đoạn có sự khác nhau và được thể hiện ở những điểm sau.

2.1 Nguồn luật điều chỉnh nhãn hiệu và cơ quan cho đăng ký nhãn hiệu:

2.1.1 Nguồn luật điều chỉnh nhãn hiệu.

Mỹ, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản đều có những văn bản pháp luật điều chỉnh chứa đựng các quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về thủ tục đăng ký nhãn hiệu.

Cũng như các nước phát triển khác Mỹ là một trong những quốc gia đầu tiên quan tâm tới vấn đề bảo hộ quốc tế quyền SHTT. Các văn bản luật nhãn hiệu liên bang chủ yếu bao gồm Luật nhãn hiệu 1946 (Đạo luật Lanham) đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, lần gần nhất là vào năm 2002; Luật cạnh tranh không lành mạnh; Luật liên bang về sự lu mờ của nhãn hiệu năm 1995; Luật bảo hộ người tiêu dùng chống Chiếm dụng tên miền. Ở Hoa Kỳ, một nguồn luật nhãn hiệu quan trọng khác phải kể đến các án lệ. Chúng có giá trị pháp lý ngang Điều ước quốc tế, các văn bản luật thành văn và được áp dụng khá phổ biến trong thực tiễn. Các quy định do cơ quan hành chính có thẩm quyền (chủ yếu là USPTO và TTAB) ban hành, những quyết định luật án lệ của các uỷ ban các toà hành chính ban hành liên quan đến. Những quy định này tuy có tính chất bắt buộc chung song giá trị pháp lý của chúng chỉ mang tính chất điều hành, dưới luật. Toà án là cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải thích về tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản này. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Cũng giống như Mỹ, Anh cũng có luật riêng về nhãn hiệu đó là luật Nhãn hiệu năm 1994, quy tắc về nhãn hiệu năm 2000 và được sửa đổi năm 2008.

Nhật Bản cũng có luật riêng về bảo hộ nhãn hiệu, Luật số 127 ngày 13/04/1959 được sửa đổi theo Luật số 220 ngày 22/12/1999 có hiệu lực từ ngày 06/01/2001 (sau đây gọi là Luật Nhãn hiệu). Cục sáng chế Nhật Bản có xuất bản tài liệu hướng dẫn khá chi tiết về khía cạnh bảo hộ nhãn hiệu, như Sổ tay về Luật nhãn hiệu năm 2000 hướng dẫn về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng hay hướng dẫn về tranh chấp nhãn hiệu và xử lý.

Cùng với Mỹ, Anh và Nhật Bản, Trung Quốc đã ban hành Luật riêng về nhãn hiệu đó là Luật Nhãn hiệu 1982 và được sửa đổi năm 1993, 2001; Quy định thực thi Luật Nhãn hiệu có hiệu lực 15/09/2002.

2.1.2 Cơ quan cho đăng ký nhãn hiệu

Cả Anh, Mỹ, Nhật, Trung Quốc đều do cơ quan trung ương duy nhất phụ trách việc cho đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu. Ở Mỹ đó là Cục sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (US Patent and Trademark Office) đây là cơ quan liên bang thuộc Phòng thương mại Hoa Kỳ. Còn Anh là Cục Sở hữu Trí Tuệ Anh (UK Intellectual Property Office). Ở Nhật Bản là Cục sáng chế Nhật Bản (Japan Patent Office), còn ở Trung Quốc là Cục sáng chế và nhãn hiệu Trung Quốc (China Patent & Trademark Office).

2.2 Vai trò của cơ quan đăng ký nhãn hiệu.

Anh, Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản đều hết sức coi trọng vai trò của cơ quan đăng ký nhãn hiệu. Quá trình đăng ký nhãn hiệu là một hoạt động rất đặc biệt, đó là hoạt động xét nghiệm đơn. Hoạt động này mặc dù được các cơ quan đăng ký tiến hành song nó lại mang đậm tính hoạt động chuyên môn cao. Do đó, pháp luật các nước cũng quy định có khác nhau về vai trò của cơ quan đăng ký nhãn hiệu.

Ở Mỹ và Anh hoạt động đăng ký nhãn hiệu được coi là hoạt động mang tính chất chuyên nghiệp mà cũng có thể được tiến hành bởi một tổ chức kiểm định độc lập, phi chính phủ. Khi các cơ quan đăng ký tiến hành các hoạt động này thì về bản chất đó không phải là hoạt động quản lý mà là hoạt động kiểm định. Do đó, vai trò của cơ quan đăng ký khi tiến hành hoạt động này không hoàn toàn cứng nhắc. Vì vậy, pháp luật của Mỹ và Anh thường có những quy định khuyến khích cơ quan đăng ký phải chủ động gặp gỡ người nộp đơn và những người phản đối để giải trình, đàm phán về các khía cạnh, đặc biệt liên quan đến tính phân biệt, tính mô tả hay tính tương tự của nhãn hiệu và trên cơ sở đó đưa ra ý kiến có nên cho đăng ký nhãn hiệu đó hay không. Ở đây vai trò của cơ quan đăng ký nhãn hiệu được xác định gắn với các đương sự trong mối quan hệ hai chiều, người nộp đơn cũng sẽ cảm thấy thoải mái hơn.

Trong khi đó Trung Quốc, Nhật Bản vị trí của cơ quan đăng ký nhãn hiệu được xác định là một cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp trung ương. Mối quan hệ giữa người nộp đơn với cơ quan này luôn mang tính chất mệnh lệnh, phục tùng. Pháp luật các nước này quy định cơ quan đăng ký nhận hồ sơ, giấy tờ của người nộp đơn, thực hiện việc xét nghiệm đơn và nếu có kết quả hoặc yêu cầu bổ sung thì thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn. Cơ quan đăng ký và người nộp đơn không gặp gỡ, đàm phán để trao đổi liên quan đến đơn nộp. Người nộp đơn nếu có khiếu nại thì thường được giải quyết bằng con đường khiếu nại hành chính.

2.3 Các loại hình đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Ở Anh, Nhật Bản và Trung Quốc đều chỉ có một loại hình đăng ký nhãn hiệu, tất cả các nhãn hiệu sau khi đăng ký đều có địa vị pháp lý như nhau, chủ nhãn hiệu sau khi đăng ký đều có các quyền và nghĩa vụ pháp lý giống nhau.

Pháp luật Mỹ lại quy định khác, là có hai loại hình đăng ký khác nhau: đăng ký vào sổ chính (the principal register) và đăng ký vào sổ phụ (the supplemental register). Loại hình đăng ký vào sổ chính là loại hình đăng ký thông thường giống như đăng ký nhãn hiệu ở Anh, Nhật Bản và Trung Quốc. Còn đăng ký vào sổ phụ là loại hình đăng ký riêng biệt được hình thành trên cơ sở các cam kết của Mỹ với các nước khu vực Nam Mỹ. Việc đăng ký nhãn hiệu theo loại hình này không đòi hỏi sự khắt khe như hình thức đăng ký thông thường, với tính hiệu lực của mức độ bảo hộ các nhãn hiệu không đầy đủ như các nhãn hiệu được đăng ký vào sổ chính.

2.4 Yêu cầu đối với hình thức của đơn.

Về cơ bản cơ quan có thẩm quyền đăng ký nhãn hiệu của Anh, Mỹ, Nhật và Trung Quốc có những yêu cầu giống nhau đối với hình thức của đơn. Đơn xin đăng ký nhãn hiệu phải lập theo mẫu chung thống nhất do cơ quan đăng ký nhãn hiệu quy định. Theo quy định của pháp luật Mỹ thì việc sử dụng mẫu tờ khai do cơ quan có thẩm quyền ban hành không mang tính bắt buộc, người nộp đơn có thể tự làm đơn theo mẫu tờ khai của mình nhưng ngoài các nội dung yêu cầu phải có thì hình thức đơn phải theo khổ giấy A4, đánh máy, in một mặt, cách hai dòng, căn lề trên và trái ít nhất 3.8em, đơn được nộp bằng ngôn ngữ tiếng Anh (Mục 802 TMEP).

Trong khi đó theo pháp luật Anh bắt buộc phải sử dụng mẫu tờ khai đăng ký nhãn hiệu (Form TM3) do cơ quan có thẩm quyền đăng ký phát hành. Do đó, các quy định khác có liên quan đến hình thức đơn cũng không được thể hiện chi tiết như pháp luật Mỹ.

Cũng giống như Anh, Nhật Bản bắt buộc phải sử dụng mẫu tờ khai đăng ký nhãn hiệu do cơ quan có thẩm quyền đăng ký phát hành. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Trong khi đó Trung Quốc sử dụng Mẫu tờ khai đăng ký trực tuyến trên trang web điện tử của cơ quan có thẩm quyền đăng ký.

2.5 Yêu cầu các tài liệu phải nộp kèm theo đơn.

Theo quy định của pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản có thể chia làm hai loại. Trong đó Anh và Mỹ đều không có quy định cụ thể về các loại giấy tờ nào người nộp đơn phải nộp cho cơ quan đăng ký, chỉ có yêu cầu về nội dung mà đơn và các giấy tờ kèm theo đơn phải thể hiện được. Đó là các nội dung về tên, địa chỉ đầy đủ và quốc tịch của người nộp đơn, mô tả nhãn hiệu, nếu người nộp đơn chỉ định người đại diện thì tên và địa chỉ của người này cũng phải được trình bày giống với tên và địa chỉ của người đứng nộp đơn, các danh mục sản phẩm/dịch vụ xin đăng ký, quyền ưu tiên nếu có, các giấy tờ chứng minh quyền của mình đối với nhãn hiệu nếu có. Ở Mỹ việc đăng ký nhãn hiệu ngoài các tài liệu kèm theo đơn thì phải có cam kết là có ý định chân thành sẽ sử dụng nhãn hiệu.

Trong khi đó pháp luật Nhật Bản và Trung Quốc lại quy định khá chi tiết về các loại giấy tờ cần phải nộp theo đơn cho cơ quan đăng ký nhãn hiệu. Việc quy định chặt chẽ của pháp luật Nhật Bản và Trung Quốc giúp cho người nộp đơn và cơ quan đăng ký ít phải gặp nhau để đàm phán làm rõ các vấn đề có thể chưa rõ ràng trong nội dung đơn và các giấy tờ tài liệu từ sau khi nộp đơn.

2.6 Trình tự thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu.

Thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu là quá trình cơ quan đăng ký xem xét thẩm tra về hình thức cũng như nội dung của đơn đăng ký nhãn hiệu, trên cơ sở đó sẽ quyết định cấp hay không cấp văn bằng bảo hộ. Tuy nhiên, pháp luật các nước cũng có những quy định khác nhau về thời hạn thẩm định đơn.

Theo pháp luật Mỹ, nếu đáp ứng được các yêu cầu tối thiểu về tài liệu, thông tin đơn, USPTO sẽ cấp số đơn và gửi thông báo tiếp nhận đơn. Đơn được chuyển cho xét nghiệm viên để tiến hành xét nghiệm. Công việc này có thể được thực hiện trong nhiều tháng. Xét nghiệm viên sẽ xem xét đơn đăng ký để xác định đơn có tuân thủ các quy định và có bao gồm các khoản phí theo yêu cầu hay không.

Nếu xét nghiệm viên cho rằng nhãn hiệu không thể được đăng ký thì sẽ đưa ra Thông báo trong đó giải thích những lý do từ chối chính và những thiếu sót trong đơn. Đơn xin đăng ký sẽ bị từ chối nếu:

  • Nhãn hiệu tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc xin đăng ký trước (Điều 2.d Luật nhãn hiệu, 15USC 1052).
  • Nhãn hiệu gây ra hiểu lầm hoặc lừa dối (Điều a Luật nhãn hiệu).
  • Nhãn hiệu xác định một cá nhân đang sống (bao gồm tên, chân dung hay chữ ký của một người nhất định mà không được sự đồng ý bằng văn bản của người đó).
  • Nhãn hiệu vi phạm đạo đức hoặc liên quan đến các vấn đề khiếm nhã, bê bối.
  • Nhãn hiệu thuần tuý mô tả địa danh hoặc thuần tuý là mô tả một cách sai lầm tên địa danh khi sử dụng với hàng hóa hoặc dịch vụ (Điều 2.2 Luật nhãn hiệu). Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.
  • Nhãn hiệu xin đăng ký trùng hoặc tương tự với quốc kỳ, huy hiệu hay huân huy chương của các nước.

Trong trường hợp chỉ có những thiếu sót nhỏ cần sửa đổi, bổ sung, xét nghiệm viên sẽ liên lạc với người nộp đơn để hiệu chỉnh. Người nộp đơn phải trả lời các thông báo của USPTO trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày gửi, nếu không đơn sẽ bị tuyên bố là hủy bỏ.

Nếu trả lời của người nộp đơn không khắc phục được những lý do dẫn đến việc đơn bị từ chối, xét nghiệm viên sẽ ra quyết định từ chối cuối cùng. Người nộp đơn có thể khiếu nại quyết định từ chối đó lên Hội đồng giải quyết khiếu nại nhãn hiệu hàng hóa.

Nếu xét nghiệm viên không phản đối việc đăng ký, hoặc nếu người nộp đơn đã khắc phục được những lý do từ chối đơn, xét nghiệm viên sẽ phê chuẩn việc công bố nhãn hiệu trên công báo chính thức, được xuất bản hàng tuần của USPTO. USPTO sẽ gửi thông báo việc công bố đơn tới người nộp đơn nêu rõ ngày công bố.

Bất kỳ người nào cho rằng việc đăng ký nhãn hiệu của người nộp đơn có thể gây thiệt hại cho mình thì trong vòng 30 ngày kể từ ngày công bố, có quyền nộp đơn phản đối đăng ký hoặc đơn xin gia hạn thời hạn nộp đơn phản đối lên Hội đồng giải quyết khiếu nại nhãn hiệu của USPTO (Điều 13.a Luật nhãn hiệu Mỹ).

Nếu không có đơn phản đối hoặc các đơn phản đối không được chấp thuận, đơn sẽ được chuyển sang giai đoạn đăng ký, theo đó:

USPTO sẽ tiến hành cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu trong 12 tuần sau khi nhãn hiệu được công bố đối với các nhãn hiệu đăng ký dựa trên cơ sở đã được sử dụng trong thương mại hoặc dựa trên cơ sở điều ước quốc tế.

Nếu nhãn hiệu được đăng ký dựa trên cơ sở ý định sử dụng, cũng trong khoảng thời gian trên, USPTO sẽ công bố “Thông báo chấp thuận”. Sau đó, người nộp đơn có 6 tháng kể từ ngày “Thông báo chấp thuận” để:

  • Sử dụng nhãn hiệu trong thương mại và đệ trình Tuyên bố sử dụng hoặc
  • Đề nghị gia hạn 6 tháng để nộp Tuyên bố sử dụng.

Theo pháp luật Anh thì việc xét nghiệm nhằm kiểm tra đơn có đầy đủ các thông tin và tài liệu cần thiết hay không, nhãn hiệu có rơi vào một trong các dấu hiệu loại trừ hay không và việc phân nhóm sản phẩm mang nhãn hiệu đã chính xác chưa.

Nếu như một trong các yêu cầu nêu trên không được đáp ứng, cơ quan đăng ký ra thông báo thiếu sót yêu cầu người nộp đơn khắc phục những thiếu sót đó trong khoảng thời gian ấn định. Trong trường hợp các thiếu sót đó không được khắc phục, đơn sẽ bị coi là không được nộp. Nếu người nộp đơn khắc phục được hết các thiếu sót thì đơn đăng ký nhãn hiệu đó được chấp nhận (Điều 37 Luật nhãn hiệu Anh). Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Đơn nhãn hiệu sẽ được công bố tại Bản tin nhãn hiệu và kể từ ngày được công bố trong khoảng thời hạn ấn định bất kỳ bên thứ ba nào cũng có thể nộp phản đối đơn (Điều 38 Luật nhãn hiệu Anh) .

Nếu hết thời hạn phản đối mà không có phản đối nào được đưa ra, nhãn hiệu sẽ được đăng ký. Đối với các nhãn hiệu được đăng ký, ngày đăng ký cũng chính là ngày nộp đơn nhãn hiệu và cơ quan đăng ký sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho chủ đơn (Điều 40 Luật nhãn hiệu).

Khác với pháp luật Mỹ và Anh, theo pháp luật Nhật Bản thì các đơn đăng ký nhãn hiệu đều phải trải qua hai gian đoạn là xét nghiệm hình thức và xét nghiệm nội dung. Hiện tại Luật nhãn hiệu Nhật Bản không quy định thời hạn xét nghiệm hình thức và thời hạn xét nghiệm nội dung. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu không có gì vướng mắc trong quá trình xét nghiệm khả năng đăng ký của nhãn hiệu thì thời gian hoàn thành đăng ký một nhãn hiệu tại Nhật Bản thông thường từ 14-24 tháng kể từ ngày nộp đơn cho đến lúc được cấp đăng ký nhãn hiệu.

Giai đoạn xét nghiệm hình thức nhằm kiểm tra xem đơn đăng ký nhãn hiệu có đáp ứng yêu cầu của hợp lệ (tài liệu có nộp đủ không, có thiếu sót thông tin gì..) hay không. Trong trường hợp phát hiện các thiếu sót về hình thức, JPO sẽ ấn định một khoảng thời gian nhất định để người nộp đơn sửa chữa những thiếu sót đó.

Nếu đơn không có gì phải sửa đổi, bổ sung, đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ được công bố chi tiết trên công báo nhãn hiệu và chuyển sang giai đoạn xét nghiệm nội dung.

Mục đích của giai đoạn xét nghiệm nội dung là nhằm đánh giá khả năng đăng ký của nhãn hiệu theo các tiêu chuẩn bảo hộ.

Nếu nhãn hiệu đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ, xét nghiệm viên sẽ ra quyết định cấp đăng ký (Điều 16 Luật nhãn hiệu Nhật Bản).

Nếu nhãn hiệu xin đăng ký không đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ, trước khi ra quyết định từ chối chính thức, xét nghiệm viên sẽ thông báo cho người nộp đơn biết lý do từ chối bằng cách ra thông báo lý do từ chối (Thông báo từ chối tạm thời) và ấn định một khoảng thời gian 30 ngày để người nộp đơn có thể khiếu nại thông báo này (Điều 44 Luật nhãn hiệu).

Trong trường hợp người nộp đơn có yêu cầu sử đổi danh mục hàng hóa/dịch vụ hoặc sửa đổi nhãn hiệu mà sự sửa đổi này làm thay đổi cơ bản danh mục hàng hóa/dịch vụ hoặc nhãn hiệu trong đơn, xét nghiệm viên sẽ ra quyết định bằng văn bản không chấp nhận yêu cầu sửa đổi của người nộp đơn, trong đó ghi rõ lý do (Điều 16-2 Luật nhãn hiệu Nhật Bản).

Trong trường hợp không đồng ý với sự từ chối của xét nghiệm viên, người nộp đơn có thể thực hiện việc khiếu nại trong vòng 30 ngày kể từ ngày ra quyết định (Điều 45 Luật nhãn hiệu). Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Trong vòng 30 ngày kể từ ngày ra quyết định cấp đăng ký hoặc ngày quyết định của Tòa án về việc đăng ký có hiệu lực, người nộp đơn phải hoàn tất việc nộp phí đăng ký. Cục sáng chế Nhật Bản có thể gia hạn việc nộp phí nhưng không quá 30 ngày.

Đơn đăng ký nhãn hiệu sau khi hoàn tất việc đăng ký sẽ được công bố trên Công báo nhãn hiệu.

Quyền nhãn hiệu có hiệu lực tính từ thời điểm được cấp đăng ký, cụ thể từ thời điểm hoàn tất việc trả phí đăng ký.

Khác với pháp luật các nước, pháp luật Trung Quốc quy định, các đơn đã nộp sẽ được xét nghiệm về mặt hình thức và nội dung. Xét nghiệm về hình thức đơn thường kéo dài khoảng 3 tháng và nhằm xem xét đơn có đáp ứng các yêu cầu về mặt hình thức hay không bao gồm cả việc hiệu chỉnh tài liệu và phân loại hàng hóa, dịch vụ.

Xét nghiệm nội dung thường kéo dài 12 tháng và nhằm đánh giá khả năng bảo hộ của nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ và khả năng xung đột với quyền được xác lập trước.

Sửa đổi nội dung đơn chỉ có thể được tiến hành khi cơ quan đăng ký nhãn hiệu yêu cầu. Việc sửa đổi trong giai đoạn xét nghiệm nội dung có thể dẫn tới việc loại bỏ một phần nhãn hiệu hoặc sản phẩm/dịch vụ yêu cầu bảo hộ. Việc không đồng ý sửa đổi theo yêu cầu của Cơ quan đăng ký nhãn hiệu có thể dẫn tới hậu quả là đơn sẽ bị từ chối bảo hộ.

Cơ quan đăng ký nhãn hiệu có thể từ chối đơn đăng ký nhãn hiệu nếu, kết quả xét nghiệm cho thấy nhãn hiệu không có khả năng phân biệt hoặc giống hoặc tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký trước cho hàng hóa, dịch vụ giống hoặc tương tự.

Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo từ chối bảo hộ nhãn hiệu, người nộp đơn có thể nộp đơn khiếu nại lên Ban đánh giá và xét xử các vấn đề nhãn hiệu (Trademark Review and Adjudication Board), quyết định của Ban này là quyết định cuối cùng.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo từ chối, nếu không đồng ý với quyết định của Ban đánh giá và xét xử các vấn đề nhãn hiệu, người nộp đơn có quyền khởi kiện lên tòa án (Điều 32 Luật nhãn hiệu Trung Quốc).

Đơn nhãn hiệu được chấp nhận về mặt hình thức sẽ được công bố trong thời hạn 3 tháng trên Công báo nhãn hiệu được ấn hành hàng tuần nhằm phục vụ cho mục đích tiếp cận đơn. Trong vòng 03 tháng kể từ ngày đăng công báo, người thứ ba có quyền phản đối đơn đăng ký. Pháp luật Việt nam có quy định khác là sau khi đăng trên công báo và trong quá trình xét nghiệm nội dung, bất cứ bên thứ ba nào cũng có quyền nộp Phản đối đơn nhãn hiệu.

Nhãn hiệu sẽ được đăng ký nếu trong vòng 3 tháng kể từ ngày được công bố, đơn không bị phản đối hoặc nếu có phản đối và phản đối đó được quyết định là không thỏa đáng và giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ được cấp(Điều 30 Luật nhãn hiệu Trung Quốc).

Thông thường, thời gian hoàn thành một đăng ký nhãn hiệu cho một nhóm sản phẩm/dịch vụ tại Trung Quốc tình từ ngày nộp đơn đến khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu khoảng 18 tháng, nếu không có vướng mắc phát sinh trong quá trình xét nghiệm đơn.

2.7 Hiệu lực và gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản đều quy định sau khi đăng ký nhãn hiệu thông thường được bảo hộ trong một thời hạn nhất định là 10 năm. Sau đó có thể được gia hạn nhiều lần, mỗi lần 10 năm bằng việc nộp đơn xin gia hạn và lệ phí theo quy định.

Chủ nhãn hiệu thường được yêu cầu nộp đơn trong vòng 6 tháng trước khi kết thúc thời hạn bảo hộ trước (riêng đối với Mỹ là 1 năm). Việc gia hạn có thể thực hiện trong vòng 6 tháng sau khi kết thúc thời hạn nói trên và người nộp đơn phải nộp thêm khoản phí cho việc gia hạn muộn (Điều 9 Luật nhãn hiệu Mỹ 1946; Điều 42,43 Luật nhãn hiệu Anh; Điều 37,38 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc; Điều 19,20 Luật Nhãn hiệu Nhật Bản).

Đối với nhãn hiệu nổi tiếng thì pháp luật của Anh, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc đều có sự bảo hộ vô thời hạn kể từ khi nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng.

Có thể thấy rằng, quy định về hiệu lực của văn bằng bảo hộ của các nước trên là hoàn toàn phù hợp với các điều ước quốc tế và tương thích với pháp luật của các quốc gia khác. Điểm chung trong các quy định đó là thời gian bảo hộ nhãn hiệu không bị giới hạn. Điều này là do việc bảo hộ nhãn hiệu không làm cản trở sự phát triển khoa học công nghệ và không ảnh hưởng đến quyền khai thác kinh doanh thương mại của các chủ thể kinh doanh khác. Việc giới hạn về thời gian lần đầu và gia hạn chỉ là yêu cầu về mặt quản lý.

Việc quy định gia hạn hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu như trên có ý nghĩa quan trọng đối với việc chống cạnh tranh không lành mạnh. Nó khuyến khích chủ văn bằng bảo hộ sử dụng nhãn hiệu liên tục, hiệu quả và ngăn cản việc đăng ký nhãn hiệu mà không sử dụng gây trở ngại cho các chủ thể khác sử dụng các nhãn hiệu mới có khả năng phân biệt.

2.8 Vấn đề khiếu nại.

Khiếu nại liên quan đến đăng ký nhãn hiệu rất đa dạng, có thể liên quan đến quá trình nhận đơn, quá trình xét nghiệm, phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu. Pháp luật các nước có quy định khác nhau về thủ tục khiếu nại, khiếu kiện các quyết định của cơ quan đăng ký hay cán bộ được phân công xét nghiệm đơn. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Mỹ có các quy định chi tiết về thủ tục khiếu nại đối với các quyết định liên quan đến nhãn hiệu của cơ quan đăng ký nhãn hiệu (USPTO). Theo quy định pháp luật Mỹ thì trong bất kỳ trường hợp nào mọi hành động của cơ quan đăng ký đều có thể bị khiếu nại lên và được xử lý bởi các tòa án quận và tòa án vùng của Mỹ (Điều 39 Luật Nhãn hiệu Mỹ 1946-U.S.C 1121). Với quy định này người khiếu nại có thể khiếu nại không chỉ về các quyết định mà con về bất kỳ hoạt động hay yêu cầu nào của cơ quan đăng ký mà mình cảm thấy không đồng ý với tòa án có thẩm quyền của Mỹ ngay trong lần khiếu nại đầu tiên. Tuy nhiên để tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết khiếu nại, trình tự thủ tục và các kênh khiếu nại lại được quy định khá phức tạp. Các đương sự muốn khiếu nại nên theo một trong hai thủ tục sau:

Thứ nhất, nếu việc khiếu nại liên quan đến các vấn đề về hình thức, như các yêu cầu nào đó mà người phụ trách xét nghiệm đưa ra thấy vô lý, hay người xét nghiệm thực hiện một hành vi nào đó mà người nộp đơn thấy không phù hợp với yêu cầu của pháp luật thì người khiếu nại nên gửi khiếu nại (petition) lên thủ trưởng cơ quan đăng ký (Phần 1704TMEP-Trademark Manual of Examining Procedure (TMEP). Thời hiệu khiếu nại tùy thuộc vào từng loại nội dung khiếu nại, được phân thành các trường hợp (Phần 1705.04 TMEP):

  • Đối với việc từ chối kéo dài thời hạn gửi thông báo phản đối đơn thời hiệu là 15 ngày.
  • Tuyên bố tạm thời của Hội đồng giải quyết khiếu nại nhãn hiệu của USPTO (TTAB – Trademark Trial and Appeal Board) là 30 ngày.
  • Đối với việc từ chối yêu cầu kéo dài thời hạn nộp báo cáo tình trạng sử dụng nhãn hiệu thời hiệu là 02 tháng.
  • Đối với các việc khác thời hiệu có thể là 02 tháng hoặc 06 tháng.

Thứ hai, việc khiếu nại liên quan đến các vấn đề về nội dung như các quyết định liên quan đến việc hủy nhãn hiệu, kết quả xét nghiệm đơn hay thông báo phản đối đơn đăng ký, thì người khiếu nại gửi khiếu nại lên Hội đồng giải quyết khiếu nại nhãn hiệu. Thời hiệu gửi các khiếu nại này là 06 tháng kể từ khi có hành vi bị khiếu nại (Phần 1501 TMEP và Điều 20 Luật Nhãn hiệu Mỹ 1946 (U.S.C 1070)).

Trong thời hạn 02 tháng sau khi các cơ quan này giải quyết các đơn khiếu nại, nếu người khiếu nại không đồng ý với việc giải quyết thì có thể kiện lên Tòa Phúc thẩm thuộc Toà án liên bang Mỹ (The United States Court of Appeals for the Federal Circuit) (Điều 21 Luật Nhãn hiệu Mỹ 1946 (U.S.C 1071) và Phần 1705.09 TMEP). Quyết định của tòa này có giá trị chung thẩm và ràng buộc với cơ quan đăng ký. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Ví dụ điển hình về một vụ kiện nhãn hiệu từ khi khởi kiện đến khi kết thúc (được nêu trong Báo cáo số 281 F.3d 1261). Các bên liên quan trong vụ kiện này là hãng Hewlett – Packard và Packard Technologies.Vụ việc bắt đầu vào tháng 10/1995 khi hãng Pacckard Technologies nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu Pacckard Technologies cho dịch vụ xử lý dữ liệu (vi tính). Theo xét nghiệm của Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu thì lúc đầu, đơn xin đăng ký bị từ chối, nhưng sau khi thẩm định lại, đơn đã được chấp nhận. Nhãn hiệu Pacckard Technologies được công bố trong công báo chính thức. Tháng 6/1997, hãng Hewlett – Packard gửi đơn phản đối lên Hội đồng giải quyết khiếu nại nhãn hiệu của USPTO. Nguyên đơn viện dẫn việc từ trước đã sử dụng nhãn hiệu Hewlett – Packard cho nhiều sản phẩm và dịch vụ vi tính khác nhau, đồng thời cáo buộc rằng nhãn hiệu Hewlett – Packard của bên xin đăng ký giống nhãn hiệu Hewlett – Packard của mình tới mức có thể gây nhầm lẫn.

Hội đồng giải quyết khiếu nại nhãn hiệu đã thụ lý và tiến hành giải quyết vụ việc. Các bên đưa ra các tài liệu về phiếu thăm dò ý kiến các nhân chứng, các yêu cầu trình bày các tư liệu, ác yêu cầu thừa nhận các sự việc, lời khai có tuyên thệ của nhân chứng. Sau đó các bên lấy lời khai và nộp hồ sơ tóm tắt vụ kiện cho Hội đồng và yêu cầu một phiên điều trần bằng miệng.

Tháng 9/1999, Hội đồng đưa ra quyết định kết luận rằng nhãn hiệu Packard Technologies là nhãn hiệu tương tự có khả năng gây ra nhầm lẫn với nhãn hiệu Hewlett – Packard. Hơn nữa, cả hai nhãn hiệu đều được sử dụng cho các dịch vụ vi tính.

Bên xin đăng ký kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm thuộc Toà án liên bang Mỹ và yêu cầu được tranh tụng trước toà.

Quyết định của Tòa Phúc thẩm:

  • Toà xem xét lại các quyết định của Hội đồng để đảm bảo các quyết định đó được củng cố bởi các chứng cứ quan trọng.
  • Toà kết luận rằng việc nhầm lẫn là có khả năng xảy ra: bởi vì từ “Technologies” trong nhãn hiệu của bên xin đăng ký hàm nghĩa gợi ý hoặc mô tả nên nó ít quan trọng hơn. Các dịch vụ mà hai bên dùng cho nhãn hiệu là giống nhau. Vì vậy, nhãn hiệu “Packard Technologies” không được chấp nhận.

So với pháp luật Mỹ thì Pháp luật Anh cũng quy định rất cụ thể về vấn đề khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Tất cả các bên bị ảnh hưởng bởi một quyết định nào đó của cơ quan đăng ký hay từng bộ phận của cơ quan đăng ký đều có quyền khiếu nại. Các khiếu nại cũng chỉ tập trung vào những quyết định mang tính chất chính thức của cơ quan đăng ký, các xét nghiệm viên, bộ phận xử lý khiếu nại. Thời hạn để nộp đơn khiếu nại đến phòng giải quyết khiếu nại (a person appointed) là 28 ngày kể từ ngày có quyết định khiếu nại của cơ quan đăng ký. Trong trường hợp bên thứ 3 tham gia khiếu nại trước cơ quan đăng ký (bên bị khiếu nại- the respondent), cơ quan đăng ký gửi bản sao đơn khiếu nại và thông báo về việc khiếu nại tới bên bị khiếu nại và trong thời hạn 21 ngày kể từ ngày cơ quan đăng ký gửi đi, bên bị khiếu nại sẽ phải nộp công văn trả lời thông báo khiếu nại đó (Mục 71.2.4 The Trade Marks Rule 2008; Điều 76 Luật Nhãn hiệu 1994). Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Trong thời hạn 28 ngày kể từ ngày cơ quan đăng ký gửi thông báo khiếu nại tới bên bị khiếu nại, thì cơ quan đăng ký hoặc bên bị khiếu nại sẽ đề nghị phòng giải quyết khiếu nại giải quyết việc khiếu nại đó lên tòa án (Mục 72.1 The Trade Marks Rule 2008). Nếu phòng giải quyết khiếu nại không đồng ý giải quyết việc khiếu nại đó ở tòa án, phòng giải quyết khiếu nại sẽ xem xét và ra quyết định giải quyết khiếu nại và quyết định đó sẽ là quyết định cuối cùng.

Theo pháp luật Trung Quốc vấn đề khiếu nại và giải quyết khiếu nại được quy định rất cụ thể. Cơ quan đăng ký nhãn hiệu có thể từ chối đơn đăng ký nhãn hiệu nếu, kết quả xét nghiệm cho thấy nhãn hiệu không có khả năng phân biệt hoặc giống hoặc tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký trước cho hàng hóa, dịch vụ giống hoặc tương tự.

Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo từ chối bảo hộ nhãn hiệu, người nộp đơn có thể nộp đơn khiếu nại lên Ban đánh giá và xét xử các vấn đề nhãn hiệu (Trademark Review and Adjudication Board), quyết định của Ban này là quyết định cuối cùng.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo từ chối, nếu không đồng ý với quyết định của Ban đánh giá và xét xử các vấn đề nhãn hiệu, người nộp đơn có quyền khởi kiện lên tòa án (Điều 32 Luật nhãn hiệu Trung Quốc).

Bên cạnh đó pháp luật Trung Quốc cũng quy định về vấn đề khiếu nại/hủy bỏ hiệu lực văn bằng, theo Điều 41,43 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc thì trong thời hạn 5 năm kể từ ngày đăng ký nhãn hiệu, bất kỳ bên thứ 3 nào cũng có quyền nộp đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu đã đăng ký. Đơn khiếu nại được nộp căn cứ trên quyền đã được đăng ký trước hoặc đơn đăng ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với đơn đăng ký nhãn hiệu nộp trước cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại. Đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực giấy đăng ký nhãn hiệu có thể nộp cho Ban Đánh giá và xét xử các vấn đề nhãn hiệu. Quyết định của ban này là quyết định cuối cùng. Đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực đối với đăng kỹ nhãn hiệu có thể được nộp trên cơ sở rằng nhãn hiệu đó được đăng ký một cách không trung thực hoặc thuộc một trong các dấu hiệu không có khả năng bảo hộ nhãn hiệu.

Nếu không đồng ý với Quyết định của Ban Đánh giá và xét xử các vấn đề nhãn hiệu có quyền khởi kiện lên tòa án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.

Giống như pháp luật Anh, Mỹ và Trung Quốc, pháp luật Nhật Bản cũng có các quy định chi tiết về thủ tục khiếu nại đối với các quyết định từ chối bảo hộ nhãn hiệu. Trước tiên, pháp luật Nhật Bản quy định thủ tục khiếu nại trực tiếp với Cục Sáng chế Nhật Bản (JPO) tại Điều 44,45 Luật nhãn hiệu:

  • Trong trường hợp không đồng ý với thông báo từ chối tạm thời, người nộp đơn có quyền tiến hành khiếu nại trực tiếp với Cục Sáng chế Nhật Bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo;
  • Trong trường hợp không đồng ý với quyết định từ chối chính thức của xét nghiệm viên hoặc không đồng ý với quyết định từ chối sửa đổi của xét nghiệm viên, người nộp đơn có quyền khiếu nại với JPO trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.
  • Trong trường hợp vì sự kiện bất khả kháng mà yêu cầu khiếu nại không được thực hiện trong thời hạn quy định nói trên, thời hạn khiếu nại có thể gia hạn thêm 14 ngày kể từ thời điểm sự kiện bất khả kháng nói trên không còn nữa (với người nộp đơn nước ngoài, thời hạn này là 2 tháng) song không quá 6 tháng so với thời hạn quy định.

Sau khi xem xét vụ việc, yêu cầu của người nộp đơn không được chấp thuận, JPO sẽ từ chối đơn đăng ký nhãn hiệu. Trong trường hợp này, người nộp đơn có quyền khiếu kiện lên Tòa án Tokyo yêu cầu xem xét lại quyết định từ chối của JPO. Tòa án Tokyo sẽ xem xét vụ việc và ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu của người nộp đơn.

Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Tòa án Tokyo, người nộp đơn có thể khiếu kiện lên Tòa án Tối cao, quyết định của Tòa án Tối cao là quyết định cuối cùng.

Trường hợp Tòa án Tối cao chấp nhận yêu cầu của người nộp đơn, JPO sẽ ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ cho đơn nhãn hiệu.

3. Hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Việc hủy bỏ hiệu lực của một nhãn hiệu đã đăng ký là vấn đề liên quan trực tiếp tới quyền và lợi ích của chủ nhãn hiệu và các bên liên quan. Do đó, pháp luật tất cả các nước đều quy định rất cụ thể, chặt chẽ về các trường hợp cũng như trình tự, thủ tục tiến hành hủy bỏ hiệu lực đối với nhãn hiệu đã đăng ký.

3.1 Hình thức hủy bỏ hiệu lực một nhãn hiệu đã đăng ký.

Theo pháp luật Anh, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc thì khi hủy bỏ hiệu lực đối với một nhãn hiệu đã đăng ký sẽ dẫn đến quyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đó không còn và nhãn hiệu đó sẽ không có trong sổ đăng ký. Tuy nhiên, pháp luật Anh lại quy định có hai hình thức hủy bỏ hiệu lực của một nhãn hiệu đã đăng ký:

Hình thức thứ nhất, pháp luật Anh gọi là thu hồi (chấm dứt) đăng ký nhãn hiệu (revocation). Nếu một nhãn hiệu bị hủy bỏ theo hình thức này thì hậu quả pháp lý đem lại đối với nhãn hiệu là nhãn hiệu đó sẽ bị coi là không tồn tại kể từ một thời điểm đó (Điều 46 Luật Nhãn hiệu Anh).

Hình thức thứ hai, được pháp luật Anh gọi là vô hiệu hóa nhãn hiệu (invalidity). Khác với hình thức thứ nhất, khi hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu sẽ bị coi chưa bao giờ tồn tại (Điều 47 Luật Nhãn hiệu Anh).

Khác với pháp luật Anh, pháp luật Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc lại không có sự phân biệt hai hình thức hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu. Các trường hợp có thể dẫn tới hủy bỏ hiệu lực một nhãn hiệu có thể được quy định chung trong cùng một điều khoản hoặc ở các điều khoản (Điều 14 Luật Nhãn hiệu Mỹ; Điều 50,51,52 Luật Nhãn hiệu Nhật Bản; Điều 41,44,45 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc). Pháp luật Mỹ không chỉ rõ sự khác biệt trong hậu quả pháp lý của từng trường hợp hủy bỏ, còn pháp luật Nhật Bản chỉ chú trọng đến các trường hợp nhãn hiệu bị cấp sai và theo đó bị hủy bỏ theo cách chưa bao giờ tồn tại.

3.2 Người có quyền nộp đơn đề nghị hủy bỏ một nhãn hiệu đã đăng ký

Pháp luật các nước quy định việc xem xét hủy bỏ hiệu lực một nhãn hiệu dựa trên yêu cầu hủy bỏ của bên thứ ba và trên cơ sở đó cơ quan có thẩm quyền xem xét hủy bỏ hiệu lực của một nhãn hiệu.

Pháp luật Nhật Bản, Trung Quốc và Anh có những quy định rộng rãi nhất về các đối tượng có quyền gửi đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu. Pháp luật Nhật Bản quy định: bất kỳ ai đều có quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ (Điều 50 Luật nhãn hiệu). Theo Điều 41 Luật nhãn hiệu Trung Quốc thì bất kỳ bên thứ ba nào cũng có quyền nộp đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực của nhãn hiệu đã được đăng ký. Pháp luật Anh quy định bất kỳ ai đều có quyền nộp đơn yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu đã đăng ký lên cơ quan đăng ký hoặc tòa án (Điều 46.4, 47.3 Luật nhãn hiệu Anh).

Trong khi đó Pháp luật Mỹ có sự giới hạn phạm vi những người có thể khiếu nại đòi hủy bỏ hiệu lực một nhãn hiệu. Pháp luật Mỹ chỉ cho phép những người “tin rằng anh ta đang hoặc sẽ bị thiệt hại bởi việc cho đăng ký nhãn hiệu” (Điều 14 Luật Nhãn hiệu Mỹ). Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

3.3 Thời hiệu khiếu nại yêu cầu hủy bỏ một nhãn hiệu đã đăng ký

Pháp luật các nước có quy định khác nhau về vấn đề này. Vấn đề này được đề cập ở hai khía cạnh là thời hạn người có quyền được phép khiếu nại và các hoàn cảnh mà người có quyền được thực hiện khiếu nại.

  • Thời hạn người có quyền được phép khiếu nại

Pháp luật Nhật Bản quy định thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ là 2 tháng kể từ ngày công bố nhãn hiệu lên công báo SHCN (Điều 43-2 Luật Nhãn hiệu Nhật Bản).

Khác với pháp luật Nhật Bản, pháp luật Mỹ quy định rộng hơn về thời hạn khiếu nại này. Người có quyền khiếu nại có thời hạn 5 năm kể từ ngày công bố nhãn hiệu để khiếu nại hủy bỏ đăng ký nhãn hiệu đó. Có một số trường hợp đáng lẽ nhãn hiệu không được cấp do trái pháp luật hoặc nhãn hiệu không nên được tiếp tục tồn tại do ảnh hưởng tới lợi ích công chúng thì thời hạn khiếu nại là không hạn chế.

Khác với pháp luật các nước pháp luật Trung Quốc quy định 5 năm kể từ ngày đăng ký, bất kỳ bên thứ ba nào cũng có quyền nộp đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực của nhãn hiệu đã đăng ký (Điều 41 Luật nhãn hiệu Trung Quốc).

  • Các hoàn cảnh mà người có quyền được thực hiện khiếu nại

Pháp luật Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc đều có quy định là người khiếu nại phải nộp đơn cùng với những bằng chứng lên cơ quan có thẩm quyền. Trong khi đó pháp luật Anh lại quy định khác, người có quyền khiếu nại không chỉ gửi đơn khiếu nại lên cơ quan đăng ký mà còn có thể đưa đơn khiếu nại lên tòa án Điều 46.4, 47.3 Luật nhãn hiệu Anh.

3.4 Các trường hợp một nhãn hiệu đã đăng ký có thể bị hủy bỏ hiệu lực Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Khi đề cập đến vấn đề này pháp luật Trung Quốc, Nhật Bản và Anh quy định khá chi tiết, trong khi đó Pháp luật Mỹ lại không liệt kê các trường hợp cụ thể. Theo pháp luật Mỹ thì bất cứ ai cảm thấy mình có thể bị thiệt hại do việc đăng ký một nhãn hiệu đều có quyền khiếu nại, sau đó cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét (Điều 7.e Luật nhãn hiệu Mỹ (U.S.C 1057)).

Tuy nhiên, pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản về cơ bản giống nhau ở một số trường hợp có thể coi là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy bỏ hiệu lực, cụ thể là những trường hợp sau :

  • a. Hủy bỏ vì không gia hạn

Nhãn hiệu chỉ được đăng ký bảo hộ trong một thời hạn nhất định, nếu chủ nhãn hiệu không gia hạn nhãn hiệu của mình và không nộp phí gia hạn thì nhãn hiệu đó sẽ loại khỏi sổ đăng ký. Cơ quan đăng ký của các nước thường cho phép ân hạn trong một khoảng thời gian với điều kiện phải nộp thêm một khoản phí trên khoản phí gia hạn.

Một số nước cho phép gia hạn đối với một số nhóm mặt hàng và những nhóm mặt hàng nào không được chủ nhãn hiệu gia hạn thì nhãn hiệu đối với nhóm đó coi như bị hủy bỏ.

  • b. Hủy bỏ theo yêu cầu của chủ nhãn hiệu

Chủ nhãn hiệu có thể tuyên bố từ bỏ nhãn hiệu đã đăng ký của mình đối với toàn bộ hay một số mặt hàng đã đăng ký nhãn hiệu vào bất cứ lúc nào. Theo yêu cầu của chủ nhãn hiệu thì cơ quan có thẩm quyền sẽ loại bỏ nhãn hiệu toàn bộ hay một phần ra khỏi sổ đăng ký. Pháp luật Mỹ, Anh và Trung Quốc đều có điều khoản riêng quy định vấn đề này (Điều 7.e Luật nhãn hiệu Mỹ (U.S.C 1057); Điều 46 Luật nhãn hiệu Anh và Điều 41 Luật nhãn hiệu Trung Quốc), theo đó hiệu lực của nhãn hiệu được công nhận là bị hủy bỏ kể từ ngày bị tuyên bố từ bỏ. Trong khi đó pháp luật Nhật Bản không quy định rõ ràng trường hợp này nhưng công nhận nó trên thực tế.

  • c. Hủy bỏ do không sử dụng

Nếu chủ nhãn hiệu không sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật, thì bên thứ ba có thể yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu. Thời hạn này được quy định khác nhau theo pháp luật các nước. Pháp luật Trung Quốc, Anh quy định thời hạn đó là 5 năm, trong khi đó pháp luật Mỹ và Nhật Bản thời hạn đó là 3 năm liên tục. Nếu chủ nhãn hiệu không thể chứng minh được việc sử dụng của mình là chính đáng thì cơ quan đăng ký hoặc tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ nhãn hiệu. Còn trường hợp chủ nhãn hiệu chứng mình được việc không sử dụng của mình là chính đáng đối với một vài loại nhãn hiệu thì toàn án sẽ ra lệnh hủy bỏ từng phần đối với nhãn hiệu. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

  • d. Hủy bỏ do nhãn hiệu bị vô hiệu (việc cho phép đăng ký là không chính đáng)

Nếu nhãn hiệu là dấu hiệu thuộc loại không nên cho phép đăng ký hoặc được đăng ký bởi những hành vi trái pháp luật thì có thể bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của bên có quyền khiếu nại. Thường việc hủy bỏ nhãn hiệu thuộc loại này chỉ được thực hiện khi các căn cứ để tuyên bố vô hiệu đã tồn tại trước khi thời điểm nhãn hiệu được đăng ký.

Pháp luật Mỹ không đề cập đến một trường hợp cụ thể nào thuộc loại này mà chỉ quy định chung là nếu việc đăng ký nhãn hiệu đã được thực hiện một cách không hợp pháp hoặc trái pháp luật điều chỉnh thì khi phát hiện ra bất cứ lúc nào nó cũng có thể sẽ bị hủy bỏ theo đơn của người khiếu nại.

Pháp luật Anh cũng liệt kê các trường hợp của loại này là: nhãn hiệu đăng ký không có khả năng phân biệt; hay trái với đạo đức, chính sách công cộng; hay lừa dối công chúng hoặc vi phạm nguyên tắc first-to-file (Điều 3.1b, 3.3, Điều 5.1 Luật Nhãn hiệu Anh).

Pháp luật Nhật Bản liệt kê một cách cụ thể hơn như: khi nhãn hiệu đăng ký không mang tính phân biệt; hay khi nhãn hiệu rơi vào một trong những trường hợp không thể được đăng ký theo pháp luật Nhật Bản (như vi phạm đạo đức, lợi ích công cộng…); hay vi phạm nguyên tắc first -to-file; việc đăng ký nhãn hiệu đó trái với các quy định về quyền lợi của người nước ngoài ở Nhật hay trái với Điều ước quốc tế mà Nhật tham gia (Điều 4 Luật nhãn hiệu).

Giống như các nước pháp luật Trung Quốc quy định khi nhãn hiệu rơi vào một trong những trường hợp tại Điều 10 Luật nhãn hiệu thì không thể được đăng ký như các dấu hiệu trái với đạo đức hoặc tập quán xã hội chủ nghĩa hoặc có ảnh hưởng không lành mạnh khác, nhãn hiệu có tính chất phân biệt kỳ thị dân tộc….

Nhìn chung pháp luật các nước đều công nhận trường hợp phổ biến thuộc loại này là khi nhãn hiệu xin đăng ký không mang tính phân biệt. Tuy nhiên, nếu qua quá trình sử dụng sau khi đăng ký nhãn hiệu đó đã có tính phân biệt thì việc đăng ký vẫn được chấp nhận mà không bị hủy bỏ (Điều 14 Luật nhãn hiệu Mỹ), trong khi đó pháp luật Việt Nam vẫn chưa thừa nhận trường hợp này.

  • e. Hủy bỏ nhãn hiệu do đã mất tính phân biệt

Pháp luật Trung Quốc gần như không đề cập tới trường hợp này, ngay cả pháp luật Nhật Bản cũng chỉ đề cập đến một cách không rõ ràng. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Trong khi đó pháp luật Mỹ và Anh lại quy định rất cụ thể về vấn đề này. Theo pháp luật Mỹ quy định nếu một nhãn hiệu đã đăng ký mà trở thành tên chung gọi hàng hóa, dịch vụ gắn lên nó hay là một phần của tên chung đó hoặc nếu nhãn hiệu đó đang được sử dụng bởi hay với sự cho phép của người đăng ký dẫn đến sự hiểu nhầm nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ mang nó thì nó có thể bị khởi kiện hủy bỏ vào bất kỳ lúc nào (Điều 14.3 Luật nhãn hiệu Mỹ).

Pháp luật Anh thì quy định nếu hậu quả của việc sử dụng hoặc ít sử dụng của chủ sở hữu nhãn hiệu đã đang làm cho nhãn hiệu đã trở thành tên chung trong thương mại cho hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó thì nhãn hiệu sẽ bị hủy bỏ (Điều 46.1c Luật nhãn hiệu Anh).

  • f. Các trường hợp hủy bỏ khác

Ngoài những trường hợp hủy bỏ mang tính chất giống nhau, pháp luật các nước Mỹ, Nhật Bản, Anh và Trung Quốc đều đề cập đến những trường hợp khá đặc thù.

Pháp luật Mỹ thì chú trọng đến những lĩnh vực mới trong bảo hộ nhãn hiệu, đó là nhãn hiệu chứng nhận. Các trường hợp liên quan đến việc hủy bỏ hiệu lực một nhãn hiệu chứng nhận được quy định cụ thể tại Điều 14.5 Luật nhãn hiệu Mỹ, theo đó một nhãn hiệu chứng nhận có thể bị khiếu nại hủy bỏ vào bất cứ lúc nào nếu người đăng ký: (1) không khống chế hay không có khả năng thực hiện việc kiểm soát một cách hợp lý việc sử dụng nhãn hiệu đó, hoặc (2) tham gia vào quá trình sản xuất hay quảng bá bất kỳ sản phẩm hay dịch vụ nào gắn nhãn hiệu chứng nhận, hoặc (3) cho phép việc sử dụng nhãn hiệu chứng nhận không với mục đích chứng nhận, hoặc (4) từ chối một cách phân biệt việc chứng nhận hay tiếp tục chứng nhận cho các hàng hóa, dịch vụ của bất kỳ người nào có thể đáp ứng được chất lượng hay điều kiện mà nhãn hiệu đó xác nhận.

Pháp luật Trung quốc quy định trường hợp khi thay đổi tên và địa chỉ của chủ sở hữu nhãn hiệu đã đăng ký hoặc các vấn đề khác liên quan đến đăng ký nhãn hiệu mà không theo đúng thủ tục pháp lý hoặc việc chuyển nhượng nhãn hiệu đã đăng ký không theo đúng thủ tục pháp lý (Khoản 2,3 Điều 44 Luật nhãn hiệu Trung Quốc).

3.5 Thẩm quyền hủy bỏ và quyền khiếu nại quyết định hủy bỏ

Nguyên tắc chung thường cơ quan nào đã cấp đăng ký nhãn hiệu thì cơ quan đó có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu. Tuy nhiên, cơ quan nào có thẩm quyền thụ lý đơn khiếu nại hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu đã đăng ký thì pháp luật các nước có quy định khác nhau.

Theo pháp luật Trung Quốc thì đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực giấy đăng ký nhãn hiệu hàng hóa có thể nộp cho Ban đánh giá và xét xử các vấn đề nhãn hiệu (thuộc Ủy Ban Nhà nước). Quyết định của Ban này là quyết định cuối cùng (Điều 41,44 Luật nhãn hiệu Trung Quốc). Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Theo pháp luật Nhật Bản cơ quan có thẩm quyền thụ lý đơn khiếu nại hủy bỏ nhãn hiệu cũng là cơ quan đã cấp đăng ký nhãn hiệu (Cục Sáng chế Nhật Bản). Đơn khiếu nại đó phải được gửi tới Cục trưởng Cục Sáng chế Nhật Bản, sau đó Cục trưởng sẽ chỉ định một hội đồng gồm 3 đến 5 thẩm định viên để tiến hành cân nhắc và xử lý đơn. Hội đồng này sẽ làm việc và ra quyết định độc lập theo chế độ tập thể và chỉ xem xét những vấn đề đưa ra trong nội dung đơn khiếu nại (Điều 43-3, Điều 43-4 Luật nhãn hiệu Nhật Bản).

Riêng Mỹ và Anh cơ quan đăng ký cũng là cơ quan đầu tiên nhận đơn khiếu nại. Song nhãn hiệu cũng có thể bị tuyên bố hủy bỏ bởi một phán quyết của tòa án trong trường hợp khiếu nại hủy bỏ được đưa ra trong nội dung phản tố trong một vụ kiện tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu đó. Trong quá trình thụ lý đơn khiếu nại đòi hủy bỏ hiệu lực một nhãn hiệu, cơ quan đăng ký cũng sẽ đóng vai trò vừa là cơ quan xét xử vừa là cơ quan trung gian hòa giải. Cơ quan này sẽ mời bên khiếu nại và bên bị khiếu nại đến để trao đổi đưa ra ý kiến của mình và trách nhiệm của bên khiếu nại phải đưa ra được các bằng chứng chứng minh nhãn hiệu phản đối bị vô hiệu. Khi thấy cần thiết cơ quan cấp đăng ký sẽ đứng ra hòa giải để hai bên thống nhất với nhau về việc sử dụng nhãn hiệu mà không cần thiết phải hủy bỏ nhãn hiệu đó.

4. Nội dung cơ bản về quyền SHCN đối với nhãn hiệu.

Quyền sở hữu nhãn hiệu là một loại tài sản trí tuệ thuộc tài sản phi vật chất. Do đó, quyền năng chiếm hữu không mang ý nghĩa thực tiễn, không có ý nghĩa quyết định xác định quyền sở hữu. Tài sản nhãn hiệu được coi thuộc về người có quyền sở hữu nhờ sự tôn trọng các chuẩn mực xử sự trong cộng đồng người có tổ chức, các chuẩn mực mà pháp luật áp đặt cho người thứ ba. Trong trường hợp quyền sở hữu đối với nhãn hiệu bị xâm hại thì chủ sở hữu không thể kiện đòi lại tài sản mà chỉ có thể khởi kiện, khiếu nại trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ các lợi ích của mình.

Theo quy định của WIPO chủ sở hữu nhãn hiệu có hai quyền cơ bản là quyền sử dụng và quyền không cho người khác được sử dụng nhãn hiệu đó. Do đó, pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản mặc dù có quy định về những quyền cụ thể khác nhau như về cơ bản vẫn thuộc hai quyền này.

4.1 Quyền sử dụng nhãn hiệu. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Quyền sử dụng nhãn hiệu theo nghĩa rộng là quyền của chủ nhãn hiệu đã đăng ký được dùng nhãn hiệu của mình theo một cách thức mà mình muốn để có lợi cho mình. Pháp luật các nước Mỹ, Anh, Nhật Bản và Trung Quốc quy định khá giống nhau về quyền này và được phân thành hai nhóm.

Nhóm thứ nhất: nhóm các quyền liên quan trực tiếp đến nhãn hiệu đối với việc thực hiện các hành vi như gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, nhãn mác hàng hóa và dịch vụ của mình. Đồng thời nhóm này cũng bao gồm các quyền của chủ nhãn hiệu được sử dụng nhãn hiệu của mình trong quảng cáo, các giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh… Đây là những quyền liên quan trực tiếp đến nhãn hiệu, phổ biến nhất và được thực hiện thường xuyên bởi chủ nhãn hiệu. Thông qua quyền này chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền khai thác các tính năng, công dụng của nhãn hiệu để thu được những lợi ích vật chất cao nhất.

Nhóm thứ hai: nhóm quyền liên quan đến các hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền đưa sản phẩm có gắn nhãn mác đó ra thị trường. Hành vi đưa sản phẩm có gắn nhãn mác ra thị trường bao gồm cả quyền sản xuất và đưa hàng hóa có mang nhãn hiệu ra thị trường nội địa hoặc quyền nhập khẩu hàng hóa có mang nhãn hiệu vào thị trường hoặc xuất khẩu hàng hóa có gắn nhãn hiệu ra thị trường nước ngoài. Đây là nhóm quyền có thực tiễn thực hiện đa dạng và phức tạp nhất trong nhóm này, do không chỉ có chủ sở hữu nhãn hiệu thực hiện quyền này mà còn có rất nhiều người khác được chủ nhãn hiệu cho phép (licensee) cũng cùng thực hiện quyền này.

Các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc giới hạn quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu được chi phối đến đâu trong quá trình lưu thông sản phẩm được xác định rất rõ. Khi người chủ nhãn hiệu đưa hàng hóa dưới nhãn hiệu đã đăng ký ra thị trường thì họ sẽ không có quyền ngăn cản hay can thiệp vào quá trình lưu thông hàng hóa trong thương mại.

4.2 Quyền cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình

Quyền cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu được pháp luật thừa nhận nhằm bảo hộ quyền sở hữu của chủ nhãn hiệu đồng thời bảo vệ người tiêu dùng và xã hội nói chung, giúp người tiêu dùng không bị nhầm lẫn khi lựa chọn sản phẩm mà mình mong đợi. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Theo đó chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền phản đối bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng nhãn hiệu của mình đã được bảo hộ. Cấm tổ chức, cá nhân khác gắn các nhãn hiệu tương tự tới mức gây nhầm lẫn lên các sản phẩm, dịch vụ cùng loại với sản phẩm, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc ngăn cản việc cá nhân, tổ chức sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho các hàng hóa, dịch vụ mà các hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký của chủ sở hữu nhãn hiệu.

Pháp luật Anh quy định trực tiếp về vấn đề này, theo đó chủ nhãn hiệu có quyền ngăn cấm bất kỳ ai sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký trong lãnh thổ nước Anh mà không được sự đồng ý của chủ nhãn hiệu (Điều 60.4 Luật nhãn hiệu Anh).

Trong khi đó Pháp luật Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản lại không quy định một cách cụ thể thành văn nội dung của quyền này mà chỉ quy định nội dung các quyền độc quyền sử dụng của chủ nhãn hiệu đối với hàng hóa đã đăng ký sau đó quy định tất cả các hành vi vi phạm sự độc quyền này sẽ bị coi là vi phạm và bị xử lý ở mức độ khác nhau. Pháp luật Nhật Bản thậm chí còn quy định bất kỳ người nào vi phạm các quyền nhãn hiệu sẽ phải chịu chế tài hình sự (Chương 7 Luật nhãn hiệu Trung Quốc, Điều 36 Luật nhãn hiệu Nhật Bản).

5. Thực thi quyền đối với nhãn hiệu Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Khái niệm thực thi quyền có thể được hiểu trong một phạm vi rất rộng. Đó là việc áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn, trong đó bao gồm hoạt động xác lập quyền, hoạt động giải quyết tranh chấp, ngăn ngừa các hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu và cả hoạt động nhằm điều chỉnh những quan hệ liên quan đến việc làm thoả mãn lợi ích của người thứ ba cũng như toàn xã hội đối với việc sử dụng nhãn hiệu.

Tuy nhiên, ở đây thực thi quyền sở hữu nhãn hiệu được tiếp cận ở một góc độ hẹp hơn. Việc thực thi quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa là thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ các quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu và ngăn chặn, xử lý người khác sử dụng, khai thác trái phép nhãn hiệu được bảo hộ.

5.1 Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Cùng với sự tăng lên nhanh chóng của các nhãn hiệu được đăng ký và sử dụng trên thị trường, số lượng các vụ việc vi phạm quyền đối với nhãn hiệu cũng ngày càng gia tăng. Để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành vi vi phạm, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu, bảo vệ người tiêu dùng và trật tự xã hội nói chung, pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản có những quy định nhằm bảo vệ quyền SHTT nói chung, nhãn hiệu nói riêng bằng việc quy định các hành vi xâm phạm cũng như các biện pháp, cách thức xử lý các hành vi vi phạm đó.

Theo quy định của pháp luật Mỹ, bất kỳ chủ thể nào không được phép của người được cấp đăng ký nhãn hiệu thực hiện một trong các hành vi sau sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu:

Sử dụng trong thương mại bất kỳ việc sao chép, giả mạo, sao chép hay nhái nhãn hiệu được đăng ký trong việc bán, chào bán, phân phối hay quảng cáo bất cứ hàng hóa, dịch vụ nào mà có khả năng gây nhầm lẫn, gây hiểu lầm hoặc lừa đảo;

Hoặc sao chép, giả mạo, sao chép hoặc nhái nhãn hiệu được đăng ký và sử dụng việc sao chép, giả mạo, bắt chước hoặc mô phỏng này cho nhãn sản phẩm, dấu hiệu, ấn phẩm, bao bì, giấy gói, đồ đựng hoặc cho quảng cáo với mục đích thương mại, bán, chào bán, phân phối hay quảng cáo bất cứ hàng hóa, dịch vụ nào mà có khả năng gây nhầm lẫn, gây hiểu lầm hoặc lừa đảo (Điều 32.1Luật nhãn hiệu Mỹ).

Làm lu mờ nhãn hiệu nổi tiếng: theo quy định của luật liên bang về sự lu mờ của nhãn hiệu năm 1995 (Federal Trademark Dilution Act), hành vi làm lu mờ nhãn hiệu nổi tiếng được hiểu là sự làm giảm công năng của một nhãn hiệu nổi tiếng để xác định và phân biệt hàng hóa, bất kể là có hay không có sự cạnh tranh giữa các bên hay khả năng gây nhầm lẫn.

Vi phạm trên mạng Internet: năm 1999, quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Luật bảo hộ người tiêu dùng chống chiếm dụng tên miền. Luật này cho phép các chủ sở hữu các nhãn hiệu có tính phân biệt hoặc nhãn hiệu nổi tiếng kiện ra toà án liên bang khi một tên miền tương tự tới mức gây nhầm lẫn được đăng ký với ý đồ không trung thực để hưởng lợi bất hợp pháp. Các chế tài bao gồm cả bồi thường thiệt hại bằng tiền. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Các hành vi vi phạm khác: ngoài các loại vi phạm kể trên, các hành vi sau đây cũng bị coi là hành vi vi phạm như che dấu sự lừa dối về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa/dịch vụ; quảng cáo giả mạo gây nhầm lẫn, miêu tả sai lệch trên Internet…

Pháp luật Nhật Bản cũng quy định cụ thể về các hành vi vi phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Theo Điều 37 Luật nhãn hiệu Nhật Bản thì những hành vi sau đây được coi là hành vi vi phạm nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu:

  • Sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký hoặc nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại với sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu đã đăng ký;
  • Lưu thông, chào bán, tàng trữ, nhập khẩu, phân phối, chuyển nhượng hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký cho hàng hóa/ dịch vụ cùng loại;
  • Gắn nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu đã được đăng ký lên bao bì hàng hóa cùng loại;
  • Sản xuất hoặc nhập khẩu hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký cho hàng hóa/dịch vụ cùng loại;
  • Sản xuất, chuyển nhượng, phân phối, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu được sử dụng độc quyền, tương tự với với nhãn hiệu đã đăng ký cho hàng hóa/dịch vụ cùng loại.

Ví dụ, trường hợp xâm phạm nhãn hiệu “Louis Vuitton” nổi tiếng ở Nhật Bản: từ năm 1983 đến 1985 Mitsukuni INOUE (X) bán “túi” cho bên thứ ba có gắn chữ “LV” ở phía trên sản phẩm giống với nhãn hiệu “LV” (theo số đăng ký 1332979) và nhãn hiệu “LV hình ngôi sao, bông hoa” (theo số đăng ký 1446773) cho túi của Louis Vuitton SA (Y). X đã khởi kiện Y tại Tòa án và bên Y cũng đã đưa ra những lập luận và chứng cứ cho rằng X xâm phạm nhãn hiệu được bảo hộ và gây thiệt hại cho Y. Trong phiên xét xử tại Tòa án quận Osaka, do hiểu sai về pháp luật nên X cho rằng việc sử dụng nhãn hiệu coi như là kiểu dáng chứ đó không phải là nhãn hiệu. Tuy nhiên, tòa án cho rằng nhãn hiệu và kiểu dáng không tồn tại riêng biệt mà chúng có mối liên hệ với nhau, việc sử dụng nhãn hiệu “LV”, “LV hình ngôi sao, bông hoa” của X đã xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của Y, Tòa án đã bác bỏ lập luận của X. Do đó, Tòa án đã bác đơn khởi kiện của X.

Giống với pháp luật Mỹ và Nhật Bản, pháp luật Anh cũng quy định khá chi tiết về các hành vi vi phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Theo Điều 10 Luật nhãn hiệu Anh thì các hành vi sau sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu nếu không được sự cho phép của chủ nhãn hiệu:

  • Sử dụng trong thương mại nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại với sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu đã đăng ký;
  • Gắn nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu đã được đăng ký lên bao bì hàng hóa cùng loại;
  • Chào bán hoặc trưng bày các sản phẩm trên thị trường, chào bán hoặc cung cấp các dịch vụ mang nhãn hiệu đã được đăng ký;
  • Nhập khẩu hoặc xuất khẩu các sản phẩm mang nhãn hiệu đã được đăng ký;
  • Sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký lên các giấy tờ giao dịch hoặc quảng cáo.

Ví dụ, Công ty TNHH chế biến Thực phẩm ở Việt Nam đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “GOLIUS” của mình tại Anh theo hình thức đăng ký trực tiếp. Tuy nhiên, nhãn hiệu này đã bị một Công ty khác ở Anh phản đối cấp văn bằng với lý do “Nhãn hiệu này tương tự với nhãn hiệu của Công ty Anh”. Sau khi tìm hiểu thì được biết, Công ty ở Anh đã đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu “GOLIUS và lô gô hình con cá” cho các sản phẩm “thực phẩm đông lạnh” từ trước đó. Để vượt qua từ chối này, công ty TNHH chế biến thực phẩm phải tiến hành một trong các cách sau: Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

  • Liên hệ với công ty Anh để xin Thư chấp thuận cho phép sử dụng và đăng ký nhãn hiệu đó tại Anh.
  • Loại bỏ phần chữ “GOLIUS” trong nhãn hiệu của mình.

Cân nhắc các biện pháp, công ty thực phẩm đã thông qua một Văn phòng luật sư liên hệ và đàm phàn với chủ sở hữu nhãn hiệu ở Anh để xin Thư chấp nhận. Công ty này đã phải trả cho công ty Anh một khoản tiền tương đối lớn để có được Thư chấp thuận nêu trên. Với Thư chấp thuận, Cục SHTT Anh đã chấp nhận bảo hộ cho nhãn hiệu của Công ty TNHH chế biến thực phẩm của Việt Nam.

Theo pháp luật Trung Quốc quy định bất kỳ hành vi nào trong số các hành vi sau sẽ bị coi là hành vi vi phạm nhãn hiệu đã được đăng ký (Điều 52 Luật nhãn hiệu Trung Quốc và Điều 50 Quy định thực thi Luật nhãn hiệu Trung Quốc 2002):

  • Sử dụng nhãn hiệu trùng lặp hoặc tương tự với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hóa cùng loại hoặc tương tự mà không được sự đồng ý của chủ đăng kỹ nhãn hiệu đó;
  • Cố ý bán hàng mang nhãn hiệu nhái theo nhãn hiệu đã đăng ký;
  • Kinh doanh hàng hóa mà đã biết hoặc buộc phải biết là hàng vi phạm quyền của chủ đăng ký nhãn hiệu;
  • Sử dụng bất kỳ từ ngữ hoặc hình ảnh giống hoặc tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký cho hàng hóa cùng loại hoặc tương tự làm tên gọi hoặc để trang trí hàng hóa gây nhầm lẫn cho công chúng;
  • Cố ý cung cấp phương tiện cho người vi phạm quyền đối với nhãn hiệu để tàng trữ, vận chuyển, bưu phẩm và che đậy quá trình vi phạm quyền của chủ đăng ký.

Ví dụ, trường hợp vi phạm nhãn hiệu “G2000” với mức tiền bồi thường cao nhất trong số các vụ vi phạm nhãn hiệu ở Trung Quốc những năm gần đây. Ông Zhao Hua (Bên A) là chủ nhãn hiệu “2000”, được đăng ký vào năm 1997 cho các sản phẩm thuộc Nhóm 25 gồm miếng lót trong giầy, găng tay, khăn quàng cổ, cà vạt, thắt lưng, khăn quàng vai và mạng che mặt. G2000 (Bên B), một Công ty Hồng Kông chuyên kinh doanh quần áo và các phụ kiện cho nam giới và phụ nữ. Bên B đã đăng ký nhãn hiệu “G2000” cho các sản phẩm quần áo, giầy dép, mũ nón năm 1992, đến năm 1997 đăng ký tiếp “G2000” cho sản phẩm túi sách, túi mua sắm và dây đeo. Năm 2002 Bên B đăng ký nhãn hiệu “G2” cho sản phẩm quần áo, ca vát, miếng lót trong giầy, khăn quàng cổ, và thắt lưng. Tháng 05/2000 Bên B đã gửi đơn yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu “2000” lên Ban đánh giá và xét xử các vấn đề nhãn hiệu nhưng không được chấp nhận. Sau đó Bên B đã khiếu nại lên Tòa an Nhân dân Bắc Kinh. Dựa vào những chứng cứ do Bên A cung cấp và thu thập được, Tòa án đã yêu cầu G2000 phải bồi thường cho ông Zhao Hua là Rmb 20 triệu (2.94 triệu USD) (http://www.lexfieldlaw.com/templates).

5.2. Cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Theo pháp luật Mỹ các cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tại bao gồm:

  • Uỷ ban giải quyết khiếu nại về nhãn hiệu (TTAB) thuộc USPTO
  • Toà án (toà án hạt liên bang, toà án khu vực liên bang, toà phúc thẩm của toà án khu vực liên bang, toà án tối cao).
  • Các cơ quan hành pháp: cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ, Cục Điều tra liên bang (FBI), Cơ quan tình báo, Cục thuế nội địa, Văn phòng luật sư Hoa Kỳ;v.v…

Giống như Mỹ, pháp Luật Nhật Bản cũng quy định về vấn đề này, bao gồm Trung tâm hòa giải sở hữu công nghiệp Nhật Bản, Trọng tài Thương mại Nhật Bản, Tóa án….

Theo Pháp luật Trung Quốc, thì ngoài các thủ tục pháp lý cơ bản giống với các quốc gia khác, Luật SHTT Trung Quốc trao quyền cho các cơ quan hành chính (Cục nhãn hiệu trung Quốc, Ban đánh giá và xét xử các vấn đề nhãn hiệu, tòa án, hải quan..)giải quyết các vấn đề tranh chấp về SHTT quy định. Ở Trung Quốc, tòa án phúc thẩm sẽ là cấp quyết định cuối cùng.

Giống như pháp luật các nước, pháp luật Anh quy định các cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu bao gồm: tòa án, cơ quan đăng ký, cơ quan hải quan…

5.3 Các biện pháp cần thiết chống lại hành vi vi phạm

Theo pháp luật của Mỹ Khi phát hiện các hành vi xâm phạm nói trên, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền:

Yêu cầu bên vi phạm hoặc khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền để buộc bên vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, huỷ bỏ hàng hóa vi phạm và bồi thường thiệt hại hoặc áp dụng các biện pháp khác để ngăn chặn xâm phạm;

Khởi kiện dân sự tại toà án có thẩm quyền;

Nếu hàng hóa vi phạm được nhập khẩu vào Mỹ, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể yêu cầu Cơ quan Hải quan Mỹ cấm thông quan hoặc bắt giữ hàng hóa vi phạm đó. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Ngoài các biện pháp tự bảo vệ, kiện dân sự và biện pháp kiểm soát biên giới như trên, biện pháp bảo vệ có tính nghiêm khắc nhất được áp dụng cho các hành vi xâm phạm là biện pháp hình sự.

Pháp luật Mỹ còn quy định rất cụ thể về bảo vệ quyền sở hữu nhãn hiệu nhằm chống nạn làm giả nhãn hiệu. Mặc dù nạn làm giả nhãn hiệu đã tồn tại qua nhiều thế kỷ song phải tới năm 1946, quốc hội Hoa Kỳ mới thừa nhận sự nghiêm trọng của nạn làm hàng giả và ban hành các luật để bảo hộ nhãn hiệu. Đạo luật Lanham, 15, U.S.C. Đ1041 và các luật tiếp theo. Các luật này tạo điều kiện để các chủ sở hữu thực thi và bảo vệ nhãn hiệu của mình thông qua tố tụng dân sự. Luật này đã được sửa đổi vào năm 1984 để hình sự hoá hành vi làm giả nhãn hiệu và quy định những hình phạt nghiêm khắc hơn đối với những kẻ làm giả: luật chống làm giả nhãn hiệu năm 1984, 18 U.S.C. Đ2 320.

Hiện nay, hai phần ba số bang của Mỹ đã ban hành các luật để hình sự hoá hành vi làm giả nhãn hiệu. Nhiều luật trong số đó quy định các hình phạt nghiêm trọng, các mức phạt tù và phạt tiền đối với những kẻ phạm những tội này.

Bên cạnh đó, các chủ sở hữu nhãn hiệu được tuỳ chọn nhiều loại chế tài dân sự khác nhau để bảo vệ nhãn hiệu của mình. Theo pháp luật hiện hành, các doanh nghiệp có quyền tịch thu sản phẩm hàng giả, cấm vĩnh viễn việc sản xuất và bán các mặt hàng đó, loại bỏ những mặt hàng đó không cho bán trên Internet và yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng tiền hoặc khởi kiện lên tòa án. Ở Mỹ, biện pháp khởi kiện dân sự luôn được các bên ưa chuộng và lựa chọn nhiều hơn so với những biện pháp trừng phạt nhân danh nhà nước.

Các cơ quan hành pháp cấp liên bang có thẩm quyền xử lý các vụ làm giả nhãn hiệu: Cơ quan hải quan và bảo vệ biên giới (CBP) và cơ quan nhập cư và hành pháp hải quan (ICE); Cục điều tra liên bang (FBI); Cơ quan bưu điện Mỹ – nơi dịch vụ bưu chính được sử dụng để gửi hàng giả; Cơ quan tình báo; Cục quản lý rượu, thuốc là và súng; Cục thuế nội địa; Văn phòng luật sư Mỹ. Ngoài ra còn có các cơ quan hành pháp cấp bang cũng đóng vai trò tích cực trong việc phát hiện, xử lý các vụ làm giả nhãn hiệu như cảnh sát địa phương, cảnh sát cấp bang, các cơ quan hành pháp địa phương công tố viên cấp bang, cấp địa phương, các cơ quan thuế cấp bang, sở lao động, sở phòng cháy, chữa cháy…

Như vậy, có thể thấy rằng thủ tục kiện dân sự ở đây được tiến hành khá chặt chẽ với các biện pháp chế tài nghiêm khắc, bảo vệ một cách thích đáng quyền lợi của bên bị vi phạm. Chính vì vậy, ở Hoa Kỳ, biện pháp khởi kiện dân sự luôn được các bên ưa chuộng và lựa chọn nhiều hơn so với những biện pháp trừng phạt nhân danh Nhà nước.

Theo pháp luật Nhật Bản, nếu phát hiện thấy có vi phạm đối với quyền nhãn hiệu của mình, chủ nhãn hiệu có thể tiến hành lựa chọn các biện pháp sau nhằm chống lại hành vi vi phạm: Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

  • Gửi thư khuyến cáo;
  • Hòa giải tại Trung tâm hòa giải SHCN Nhật Bản;
  • Yêu cầu Hội trọng tài Thương mại Nhật Bản phân xử;
  • Khởi kiện trước Tòa án có thẩm quyền.

Trong trường hợp sản phẩm vi phạm đang được nhập khẩu, chủ nhãn hiệu bị vi phạm có quyền nộp đơn yêu cầu hải quan dừng việc nhập khẩu đối với hàng hóa vi phạm theo Luật thuế quan trong khi chờ giải quyết.

Trong trường hợp khởi kiện trước tòa, tiến hành hóa giải hay nhờ trọng tài phân xử, nhất thiết phải có luật sư làm đại diện bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu nhãn hiệu.

Một vụ kiện dân sự có thể kéo dài 3 đến 5 năm cho phiên tòa đầu tiên (tòa địa phương) và từ 1 đến 3 năm cho các lần xử tiếp theo. Tuy nhiên, thời gian xét xử từng vụ việc không giống nhau.

Ngoài các thủ tục pháp lý giống với các quốc gia khác, pháp luật Trung Quốc trao quyền cho các cơ quan hành chính giải quyết các vấn đề tranh chấp về SHTT. Do vậy, khi phát sinh các hành vi vi phạm quyền SHTT, các bên liên quan có thể có hai lựa chọn sau: tiến hành các thủ tục trước Tòa án hoặc yêu cầu các cơ quan hành chính liên quan giải quyết vụ việc. Quyết định của các cơ quan hành chính có thể bị khiếu nại nếu các bên liên quan không thỏa mãn với quyết định đó. Các quy định này tương đối giống Việt Nam.

Ở Trung Quốc, Tòa án phúc thẩm sẽ là cấp ra quyết định cuối cùng. Do đó, có thể khiếu nại phán quyết hoặc quyết định của tòa cấp sơ thẩm lên 1 cấp. Nếu một bên hoặc cả hai bên đương sự có liên quan đến nước ngoài thì thời hạn để nộp đơn khiếu nại là 30 ngày tính từ ngày mà phán quyết hoặc quyết định bằng văn bản của tòa án được gửi tới đương sự.

Chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ yêu cầu đền bù thiệt hại. Tiền đến bù thiệt hại do hành vi vi phạm độc quyền sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký sẽ được tính bằng lợi nhuận mà bên vi phạm quyền thu được từ hành vi bất chính trong suốt quá trình vi phạm đó hoặc sự thiệt hại mà người bị vi phạm chịu do việc vi phạm trong suốt quá trình vi phạm đó, bao gồm cả các chi phí hợp lý mà bên bị vi phạm quyền chi trả nhằm chấm dứt hành vi vi phạm quyền.

Trong trường hợp không thể xác định được lợi nhuận mà bên vi phạm thu được bởi hoặc thiệt hại mà bên bị vi phạm chịu do hành vi vi phạm gây nên, tòa án ra quyết định đền bù một số tiền không vượt quá 500.000 Nhân dân tệ phù hợp với hoàn cảnh thực tế của hành vi vi phạm (Điều 56 Luật nhãn hiệu Trung Quốc).

Giống pháp luật Mỹ, Pháp luật Anh cũng quy định khi phát hiện các hành vi xâm phạm nói trên, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền:

Yêu cầu bên vi phạm hoặc khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền để buộc bên vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, huỷ bỏ hàng hóa vi phạm và bồi thường thiệt hại hoặc áp dụng các biện pháp khác để ngăn chặn xâm phạm;

Khởi kiện dân sự tại toà án có thẩm quyền (Điều 16, Điều 19 Luật nhãn hiệu Anh);

Nếu hàng hóa vi phạm được nhập khẩu vào Anh, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể yêu cầu Cơ quan Hải quan cấm thông quan hoặc bắt giữ hàng hóa vi phạm đó (Điều 89,90 Luật nhãn hiệu Anh).

6. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Qua việc tìm hiểu các quy định pháp luật bảo hộ nhãn hiệu của Anh, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc, chúng ta thấy được hệ thống pháp luật bảo hộ nhãn hiệu của các nước này khá chi tiết, đầy đủ, phù hợp với những chuẩn mực quốc tế và đã phần nào phát huy được hiệu quả trong việc nâng cao vai trò sáng tạo của các chủ thể, tạo động lực cho sự phát triển, bảo hộ sản xuất trong nước, thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Dựa vào những phân tích ở trên, tác giả xin đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu kinh nghiệm Anh, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc trong hoạt động bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, cho thấy Việt Nam cần phải có một cơ chế linh hoạt trong việc lựa chọn hình thức bảo hộ cho nhãn hiệu.

Thứ hai, cần phải có cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả, do ở Việt Nam cơ chế bảo đảm thực thi chưa được hoàn thiện và chưa phát huy đúng mức, biểu hiện vụ việc được giải quyết ở tòa án rất ít ỏi, mà chủ yếu được giải quyết ở các cơ quan hành chính, cùng với các quy định đã có nhưng mới chỉ dừng ở nguyên tắc chứ chưa đủ chi tiết, nên việc áp dụng các chế tài bị lẫn lộn và thiếu hiệu quả. Trình tự dân sự đáng lẽ phải được coi là biện pháp chủ yếu nhưng các quan hệ dân sự thông thường đã bị hành chính hóa một cách quá mức.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức bảo đảm thực thi. Việt Nam tuy có nhiều cơ quan (mỗi cơ quan lại có nhiều cấp: tỉnh, huyện) có chức năng và thẩm quyền xử lý hành chính về sở hữu trí tuệ, nhưng năng lực chuyên môn của chính hệ thống này lại chưa đáp ứng với đòi hỏi thực tế. Hiện nay, tại các tòa án và các cơ quan bảo đảm thực thi sở hữu Trí tuệ khác có rất ít cán bộ được đào tạo về lĩnh vực này.

Thứ tư, tăng cường sự hiểu biết của toàn xã hội đối với vấn đề bảo hộ nhãn hiệu. Ở Việt Nam vẫn chưa hình thành tập quán tôn trọng quyền SHCN đối với nhãn hiệu như ở Anh và Mỹ, các chủ sở hữu nhãn hiệu chưa chủ động thực hiện việc bảo vệ quyền và tài sản của mình mà còn mang nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Đây còn là lĩnh vực mới mẻ với đa số cán bộ, công chức nhà nước và gần như hầu hết các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thông tin sở hữu trí tuệ đang là một trong các khâu yếu nhất của hoạt động sở hữu trí tuệ, với năng lực tài nguyên thông tin có tại Việt Nam về sở hữu trí tuệ thuộc loại trung bình, song chưa được phát huy đầy đủ.

Thứ năm, cần phải có những bổ sung, hoàn thiện đối với khung pháp lý hiện hành về bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam. Do ảnh hưởng từ mặt trái của quá trình hội nhập kinh tế, thực tế không phải mọi loại hàng nhái, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ đều được sản xuất ở Việt Nam, mà một khối lượng hàng hóa loại đó được sản xuất ở nước ngoài rồi đưa vào Việt Nam theo nhiều đường, bằng nhiều cách để tiêu thụ. Luận văn: Pháp luật Bảo hộ Quyền sở hữu đối với Nhãn hiệu.

Để làm được điều đó, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ xin đóng góp một số suy nghĩ bước đầu về phương hướng hoàn thiện và các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464