Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những quy định của Pháp luật Việt Nam, phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ Nhãn hiệu dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Những quy định của pháp luật Việt Nam.

1.1 Căn cứ xét nhận đơn xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu.

  • a. Các nguyên tắc chấp nhận đơn xin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

Pháp luật Việt Nam cũng có các quy định về nguyên tắc first-to-file giống với pháp luật Anh và Nhật Bản. Trước đây, theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định 63/CP: nếu có từ hai chủ thể trở lên đều nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ với cùng một nhãn hiệu dùng cho cùng một loại sản phẩm, dịch vụ thì khi được cấp, văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho người nộp đơn sớm nhất trong số những người nộp đơn đó.

Điểm hạn chế ở đây là nguyên tắc người nộp đơn đầu tiên chỉ được áp dụng cho trường hợp hai hay nhiều chủ thể cùng nộp đơn xin đăng ký bảo hộ cùng một nhãn hiệu dùng cho cùng một loại sản phẩm. Trường hợp hai hay nhiều chủ thể nộp đơn xin đăng ký các nhãn hiệu tương tự với nhau tới mức có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thì nguyên tắc này không được áp dụng.

Khắc phục nhược điểm đó, Điều 90 Luật SHTT 2005 quy định: trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau hoặc tương tự với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.

Cách thức giải quyết của Luật SHTT 2005 là hợp lý vì theo lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về nhãn hiệu thì các nhãn hiệu trùng nhau hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn được giải quyết theo cách thức như nhau để bảo hộ chủ sở hữu hợp pháp cũng như bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Đây cũng là cách giải quyết đã được ghi nhận trong pháp luật của nhiều nước như Nhật Bản, v.v… Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Một vấn đề khác đặt ra ở đây là trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo sự thoả thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thoả thuận được thì tất cả các đơn đều bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ (khoản 2 Điều 9 Luật SHTT 2005).

Theo tôi cách giải quyết như vậy sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của các chủ thể nộp đơn. Hơn nữa, ở đây cũng có điều không rõ ràng là liệu người thứ ba, sau một thời gian nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu đó, hoặc nhãn hiệu tương tự (tới mức gây nhầm lẫn) thì cơ quan có thẩm quyền có chấp nhận đơn của người này không?

  • b. Yêu cầu về việc sử dụng nhãn hiệu.

Khác với pháp luật các nước, pháp luật Việt Nam quy định về thời gian ân hạn là 5 năm liên tục (Khoản 1,d Điều 95 Luật SHTT 2005). Quy định này giống với quy định của pháp luật Anh.

  • Hậu quả của việc không sử dụng

Trước đây, pháp luật Việt Nam quy định vấn đề nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu và thời gian ân hạn không sử dụng tại Bộ luật dân sự 1995 (điểm c khoản 1 Điều 793) và Nghị định 63/CP (điểm c khoản 2 Điều 28), theo đó, chủ sở hữu nhãn hiệu phải sử dụng hoặc chuyển giao quyền sử dụng trong thời hạn do pháp luật quy định kể từ ngày văn bằng bảo hộ có hiệu lực. Thời gian ân hạn không sử dụng là 5 năm liên tục. Hậu quả của việc không tuân thủ nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu là Giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu bị đình chỉ hiệu lực. Cục SHTT là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trên cơ sở xem xét đơn yêu cầu đình chỉ hiệu lực của bất kỳ bên thứ ba nào.

Theo quy định tại Điều 95 và 96 Luật SHTT 2005, chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu đó. Trong trường hợp nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng thì văn bản bảo hộ bị chấm dứt hiệu lực trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực.

  • Sử dụng nhãn hiệu một cách phù hợp Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Pháp luật Việt Nam giống với pháp luật Trung Quốc và Mỹ là cũng đưa ra khái niệm về việc sử dụng nhãn hiệu. Theo quy định tại khoản 5 Điều 124 Luật SHTT 2005, sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau:

  • Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh.
  • Lưu thông, chào bán, quảng cáo dể bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ.
  • Nhập khẩu hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ.

Khái niệm sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam rộng hơn khái niệm sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Mỹ và Trung Quốc. Nếu như pháp luật Mỹ yêu cầu hàng hóa, dịch vụ gắn nhãn hiệu phải được đưa vào kinh doanh trên thị trường thì theo pháp luật Việt Nam, chủ nhãn hiệu không nhất thiết phải đưa hàng hóa dịch vụ gắn nhãn vào kinh doanh như vậy thì mới được thừa nhận là sử dụng nhãn hiệu.

Quy định của pháp luật Việt Nam trong vấn đề này cũng giống với quy định của Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản ở chỗ Việt Nam cũng không công nhận hành vi chuyển giao nhãn hiệu là hành vi sử dụng nhãn hiệu và việc sử dụng nhãn hiệu do bên nhận chuyển giao nhãn hiệu (Licensee) thực hiện cũng được coi là sử dụng hợp thức nhãn hiệu để hoàn tất nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu.

Một điểm nữa cần lưu ý là pháp luật về nhãn hiệu của Việt Nam chưa quy định việc phải công nhận những điều kiện phát sinh ngoài ý muốn của chủ nhãn hiệu gây cản trở cho việc sử dụng nhãn hiệu, chẳng hạn như việc Chính phủ hạn chế nhập khẩu hoặc quy định các yêu cầu khác đối với các hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu là lý do chính đáng của việc không sử dụng. Đây cũng là một nội dung được quy định tại chương 2 khoản 9 Điều 6, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ mà Việt Nam có nghĩa vụ phải nội luật hoá.

1.2  Xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Trình tự thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam giống với Mỹ, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, được chia làm 4 bước lớn, đó là: (1) Nộp đơn và hồ sơ xin đăng ký; (2) nhận đơn và xét nghiệm đơn; (3) công bố và phản đối đơn; (4) cấp văn bằng bảo hộ. Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam thì các yêu cầu và thủ tục trong từng giai đoạn có sự khác nhau và được thể hiện ở những điểm sau.

  • Nguồn luật điều chỉnh.

Khác với Anh, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc, ở Việt Nam không có một đạo luật hay văn bản pháp luật nào chuyên về đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu. Các quy định điều chỉnh về nhãn hiệu được tìm thấy ở các văn bản pháp luật đồng thời điều chỉnh các lĩnh vực chung khác về SHCN, như Luật SHTT 2005 được sửa đổi năm 2009; Thông tư 18/2011/TT-BKHCN Ngày 22/7/2011 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN; Nghị định số 122/2010/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN; Nghị định số 119/2010/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT.

Nhìn chung về cơ bản các văn bản pháp luật Việt nam về nhãn hiệu còn thiếu chi tiết và thực tiễn so với pháp luật bảo hộ nhãn hiệu của Anh, Mỹ, Nhật và Trung Quốc. Một số quy định của Việt Nam không khái quát được các chuẩn mực quốc tế được quy định trong các điều ước quốc tế, điển hình là các quy định về thực thi quyền SHTT nói chung, trong đó có nhãn hiệu .

  • Cơ quan cho đăng ký nhãn hiệu

Giống với Anh, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, ở Việt Nam do cơ quan trung ương duy nhất phụ trách việc cho đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu. Đó là Cục Sở hữu Trí Tuệ Việt Nam (Vietnam Intellectual Property Office).

  • Vai trò của cơ quan đăng ký nhãn hiệu. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Cũng như các nước trên Việt Nam đều hết sức coi trọng vai trò của cơ quan đăng ký nhãn hiệu. Vị trí của cơ quan đăng ký nhãn hiệu được xác định là một cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp trung ương. Mối quan hệ giữa người nộp đơn với cơ quan này luôn mang tính chất mệnh lệnh, phục tùng. Pháp luật Việt Nam quy định cơ quan đăng ký nhận hồ sơ, giấy tờ của người nộp đơn, thực hiện việc xét nghiệm đơn và nếu có kết quả hoặc yêu cầu bổ sung thì thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn. Cơ quan đăng ký và người nộp đơn không gặp gỡ, đàm phán để trao đổi liên quan đến đơn nộp. Người nộp đơn nếu có khiếu nại thì thường được giải quyết bằng con đường khiếu nại hành chính.

  • Các loại hình đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu

Giống với Anh, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam chỉ có một loại hình đăng ký nhãn hiệu, tất cả các nhãn hiệu sau khi đăng ký đều có địa vị pháp lý như nhau,chủ nhãn hiệu sau khi đăng ký đều có các quyền và nghĩa vụ pháp lý giống nhau.

  • Yêu cầu đối với hình thức của đơn

Pháp luật Việt Nam cũng quy định tờ khai đăng ký nhãn hiệu phải theo mẫu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp quy định mọi tài liệu của đơn đều phải được trình bày theo chiều dọc trên một mặt giấy khổ A4 (210mm x 297mm), trong đó có chừa lề theo bốn phía, mỗi lề rộng 20mm….

  • Yêu cầu các tài liệu phải nộp kèm theo đơn.

Pháp luật Việt Nam quy định khá chi tiết về các loại giấy tờ cần phải nộp theo đơn cho Cục Sở hữu Trí tuệ, đó là tờ khai yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, quy chế sử dụng nhãn hiệu nếu nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ là nhãn hiệu tập thể, mẫu nhãn hiệu, chứng từ lệ phí.  Việc quy định chặt chẽ của pháp luật Việt

Nam giúp cho người nộp đơn và cơ quan đăng ký ít phải gặp nhau để đàm phán làm rõ các vấn đề có thể chưa rõ ràng trong nội dung đơn và các giấy tờ tài liệu từ sau khi nộp đơn.

  • Trình tự thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu

Khác với pháp luật các nước, pháp luật Việt Nam quy định khá cụ thể về thủ tục xét nghiệm đơn đăng ký nhãn hiệu. Giống như các nước việc xét nghiệm đơn được tiến hành trong hai giai đoạn: xét nghiệm hình thức và xét nghiệm nội dung. Sau hai giai đoạn này nếu đơn thỏa mãn các quy định về tài liệu thủ tục theo yêu cầu và nhãn hiệu đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ, Cục SHTT sẽ cấp văn bằng bảo hộ. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Trước đây, thuật ngữ được dùng trong các văn bản pháp luật là “xét nghiệm đơn” nhưng Luật SHTT 2005 đã thay bằng thuật ngữ mới, phù hợp hơn là “thẩm định đơn”.

Thẩm định hình thức đơn là việc Cục SHTT sẽ kiểm tra việc tuân thủ các quy định về hình thức đối với đơn, từ đó đưa ra kết luận đơn có được coi là hợp lệ hay không.

Trong trường hợp phát hiện những cơ sở để khẳng định người nộp đơn không có quyền nộp đơn hoặc đối tượng nêu trong đơn là đối tượng không được Nhà nước bảo hộ, Cục SHTT sẽ ra thông báo về kết quả xét nghiệm hình thức và sau đó là Quyết định từ chối đơn.

Nếu phát hiện đơn còn những thiếu sót, ảnh hưởng đến tính hợp lệ của đơn, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nộp đơn Cục SHTT sẽ thông báo thiếu sót cho người nộp đơn và người nộp đơn trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra thông báo phải phúc đáp lại và sửa những thiếu sót đó. Những thiếu sót đó được đề cập tại Khoản 2 Điều 109 Luật SHTT, bao gồm:

  • Đơn không đáp ứng các yêu cầu về hình thức
  • Đối tượng nêu trong đơn là đối tượng không được bảo hộ.
  • Người nộp đơn không có quyền đăng ký kể cả trường hợp quyền đăng ký cũng thuộc nhiều tổ chức, cá nhân nhưng một hoặc một số người trong số đó không đồng ý, thực hiện việc nộp đơn.
  • Đơn được nộp trái với cách thức nộp đơn
  • Người nộp đơn không nộp phí và lệ phí.

Trong thời hạn 1 tháng tính từ ngày nộp đơn, Cục SHTT sẽ ra Thông báo kết quả thẩm định hình thức cho người nộp đơn (Khoản 1 Điều 119 Luật SHTT). Nếu đơn được coi là hợp lệ, trong Thông báo kết quả thẩm định hình thức sẽ nêu rõ ngày ưu tiên của đơn.

Tuy nhiên, trong quá trình thẩm định hình thức đơn, người nộp đơn chủ động hoặc theo yêu cầu của Cục SHTT tiến hành việc sửa chữa, bổ sung tài liệu thì thời hạn xét nghiệm hình thức có thể được kéo dài thêm bằng khoảng thời gian cho mục đích sửa chữa, bổ xung tài liệu. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ được Cục SHTT công bố trên Công báo SHCN trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận là hợp lệ.

Thẩm định nội dung đơn đăng ký nhãn hiệu: trong trường hợp được chấp nhận hợp lệ đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ được chuyển sang giai đoạn thẩm định nội dung. Mục đích của thẩm định nội dung đơn là kiểm tra để đánh giá khả năng được bảo hộ của dấu hiệu nêu trong đơn và xác định phạm vi bảo hộ tương ứng.

Trong quá trình thẩm định nội dung đơn, Cục SHTT có thể yêu cầu người nộp đơn giải thích nội dung các tài liệu đơn hoặc sửa chữa các thiếu sót đơn. Nếu người nộp đơn không đáp ứng yêu cầu, đợn bị coi như rút bỏ và không được tiếp tục xem xét.

Việc đánh giá khả năng được bảo hộ của nhãn hiệu dựa trên việc xác định nhãn hiệu nêu trong đơn có đáp ứng các điều kiện để được bảo hộ hay không. Cơ sở pháp lý để kết luận là nội dung quy định của các Điều 72, 73, 74 Luật SHTT.

Việc xác định phạm vi bảo hộ bao gồm: xác định nhãn hiệu được gắn cho các hàng hóa, dịch vụ gì trong số những hàng hóa dịch vụ nêu trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ; những yếu tố nào của nhãn hiệu cần loại bỏ (chẳng hạn, vì có khả năng gây nhầm lẫn); những yếu tố nào của nhãn hiệu sẽ không được bảo hộ khi đứng riêng (chẳng hạn chữ cái, chữ số, các từ mang tính mô tả…).

Trong thời hạn không quá 9 tháng (Khoản 2.b Điều 119 Luật sửa đổi bổ sung Luật SHTT 2009) (Luật SHTT 2005 là 6 tháng) kể từ ngày công bố, kết quả thẩm định nội dung đơn đăng ký sẽ được Cục SHTT thông báo cho người nộp đơn, trong đó nêu rõ nhãn hiệu có đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ hay không. Nếu không trong Thông báo kết quả thẩm định nội dung phải nêu rõ dự định từ chối chấp văn bằng bảo hộ và nêu lý do từ chối đồng thời ấn định thời hạn 2 tháng tính từ ngày thông báo để người nộp đơn có ý kiến.

Nếu đối tượng đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ nhưng đơn còn có các thiếu sót thì trong Thông báo kết quả thẩm định nội dung phải nêu rõ các thiếu sót đó và ấn định thời hạn 2 tháng tính từ ngày thông báo để người nộp đơn có ý kiến hoặc sửa chữa thiếu sót, đồng thời sẽ thông báo từ chối việc cấp văn bằng bảo hộ trong trường hợp người nộp đơn không sửa chữa thiếu sót đạt yêu cầu hoặc không có ý kiến phản đối xác đáng. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Cũng cần lưu ý, trước khi Cục SHTT ra Thông báo xét nghiệm nội dung, người nộp đơn có thể chủ động sửa đổi, bổ sung các tài liệu đơn, kể cả tách đơn (tách một hoặc một số thành phần của nhãn hiệu hoặc một phần danh mục sản phẩm/dịch vụ trong đơn nhãn hiệu sang một hoặc nhiều đơn mới). Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung đơn không được mở rộng phạm vi bảo hộ và không được làm thay đổi bản chất của đối tượng nêu trong đơn. Nếu việc sửa đổi làm mở rộng phạm vi bảo hộ hoặc làm thay đổi bản chất đối tượng thì người nộp đơn phải nộp đơn mới và thủ tục được tiến hành lại từ đầu. Trong thời gian này, người nộp đơn cũng có thể yêu cầu ghi nhận thay đổi về tên, địa chỉ người nộp đơn và thay đổi người nộp đơn (chuyển nhượng đơn). Yêu cầu ghi nhận thay đổi được lập thành văn bản và người yêu cầu sẽ phải nộp lệ phí theo quy định.

Đối với những đơn đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ, trong thời hạn không quá 9 tháng kể từ ngày công bố, Cục SHTT sẽ ra Thông báo dự định cấp văn bằng và nộp lệ phí văn bằng. Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày ra thông báo đó người nộp đơn nộp đầy đủ các khoản lệ phí ghi trên Thông báo và Cục SHTT sẽ tiến hành các thủ tục cấp văn bằng bảo hộ. Văn bằng bảo hộ được ghi vào Sổ đăng ký quốc gia về SHCN (đăng bạ quốc gia).

  • Hiệu lực và gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ.

Việt Nam quy định vấn đề này giống với Pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nhật Bản là sau khi đăng ký nhãn hiệu thông thường được bảo hộ trong một thời hạn nhất định là 10 năm. Sau đó có thể được gia hạn nhiều lần, mỗi lần 10 năm bằng việc nộp đơn xin gia hạn và lệ phí theo quy định. Đối với nhãn hiệu nổi tiếng thì có sự bảo hộ vô thời hạn kể từ khi nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng.

  • Vấn đề khiếu nại

So với pháp luật các nước, pháp luật Việt Nam cũng quy định rất cụ thể về vấn đề khiếu nại và giải quyết khiếu nại.Vấn đề này được đề cập đến tại Điều 14, Nghị định số 122/2010/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp và về cơ bản cũng không có nhiều thay đổi so với quy định tại Nghị định 63/CP trước đây.

Việc khiếu nại được chia làm hai giai đoạn: khiếu nại lần thứ nhất và khiếu nại lần hai. Khiếu nại lần đầu là khiếu nại với cơ quan “trực tiếp ra quyết định hoặc thông báo liên quan” (tức là Cục SHTT). Thời hạn khiếu nại lần đầu là 90 ngày kể từ ngày người có quyền khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định hoặc thông báo về việc xử lý đơn đăng ký nhãn hiệu. Nếu hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại không được giải quyết hoặc nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Cục SHTT thì người khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến quyết định có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc khởi kiện tại Toà án. Thời hạn khiếu nại lần hai là 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại đó không được giải quyết hoặc tính từ ngày người có quyền khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra thông báo thụ lý hoặc từ chối thụ lý đơn.

1.3 Hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

  • Hình thức hủy bỏ hiệu lực một nhãn hiệu đã đăng ký

Theo pháp luật Việt Nam thì khi hủy bỏ hiệu lực đối với một nhãn hiệu đã đăng ký sẽ dẫn đến quyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đó không còn và nhãn hiệu đó sẽ không có trong sổ đăng ký và có hai hình thức hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu đã đăng ký:

Hình thức thứ nhất, pháp luật Việt Nam gọi là đình chỉ (chấm dứt) hiệu lực văn bằng bảo hộ. Nếu một nhãn hiệu bị hủy bỏ theo hình thức này thì hậu quả pháp lý đem lại đối với nhãn hiệu là nhãn hiệu đó sẽ bị coi là không tồn tại kể từ một thời điểm nào đó (Điều 95 Luật SHTT 2005).

Hình thức thứ hai, được pháp luật Việt Nam lại gọi là hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ. Khác với hình thức thứ nhất, khi hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu sẽ bị coi chưa bao giờ tồn tại (Điều 96 Luật SHTT 2005).

  • Người có quyền nộp đơn đề nghị hủy bỏ một nhãn hiệu đã đăng ký

Giống với Nhật Bản, Trung Quốc và Anh, Pháp luật Việt Nam có những quy định rộng rãi nhất về các đối tượng có quyền gửi đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu. Khoản 3 Điều 96 Luật SHTT 2005 quy định: tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền SHCN hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này với điều kiện phải nộp phí và lệ phí.

  • Thời hiệu khiếu nại yêu cầu hủy bỏ một nhãn hiệu đã đăng ký

Pháp luật Việt Nam quy định thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ là suốt thời hạn bảo hộ, đối với nhãn hiệu thì thời hiệu này là năm năm kể từ ngày cấp văn bằng bảo hộ, trừ trường hợp văn bằng bảo hộ được cấp do sự không trung thực của người nộp đơn (Khoản 3 Điều 96 Luật SHTT 2005).

  • Các trường hợp một nhãn hiệu đã đăng ký có thể bị hủy bỏ hiệu lực

Pháp luật Mỹ, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam về cơ bản giống nhau ở một số trường hợp có thể coi là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy bỏ hiệu lực, cụ thể là những trường hợp sau:

  • Hủy bỏ vì không gia hạn Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Nhãn hiệu chỉ được đăng ký bảo hộ trong một thời hạn nhất định, nếu chủ nhãn hiệu không gia hạn nhãn hiệu của mình và không nộp phí gia hạn thì nhãn hiệu đó sẽ loại khỏi sổ đăng ký. Cơ quan đăng ký của các nước thường cho phép ân hạn trong một khoảng thời gian với điều kiện phải nộp thêm một khoản phí trên khoản phí gia hạn.

  • Hủy bỏ theo yêu cầu của chủ nhãn hiệu

Pháp luật Việt Nam quy định vấn đề này tại Điều 95.1.b Luật SHTT 2005, theo đó hiệu lực của nhãn hiệu được công nhận là bị hủy bỏ kể từ ngày bị tuyên bố từ bỏ.

  • Hủy bỏ do không sử dụng

Pháp luật Việt Nam quy định thời hạn đó là 5 năm.

  • Hủy bỏ do nhãn hiệu bị vô hiệu (việc cho phép đăng ký là không chính đáng)

Pháp luật Việt Nam quy định hai trường hợp thuộc loại này gồm có: (1)

Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với nhãn hiệu; (2) Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ (Khoản 1 Điều 96 Luật SHTT 2005).

  • Các trường hợp hủy bỏ khác

Pháp luật Việt Nam ghi nhận trường hợp chủ văn bằng bảo hộ không còn tồn tại hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp (Điều 95.1c Luật SHTT 2005).

  • Thẩm quyền hủy bỏ và quyền khiếu nại quyết định hủy bỏ

Theo pháp luật Việt Nam đơn khiếu nại hủy bỏ hiệu lực của văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ được xử lý theo thủ tục khiếu nại thông thường tại Cục SHTT. Người muốn khiếu nại phải làm đơn khiếu nại, nội dung khiếu nại, lập luận, dẫn chứng chứng minh cho khiếu nại… Sau khi đơn được thụ lý và giải quyết theo thủ tục khiếu nại do pháp luật quy định, nếu người nộp đơn khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Cục SHTT thì có thể làm đơn khiếu nại lần hai lên Bộ Khoa học và Công nghệ hay tòa án có thẩm quyền để xử lý theo thủ tục tố tụng hành chính (Khoản 2,3 Điều 14 Nghị định số 122/2010/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN). Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

1.4. Nội dung cơ bản về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

  • Quyền sử dụng nhãn hiệu

Theo pháp luật Việt Nam quyền này được phân thành hai nhóm:

Nhóm thứ nhất: nhóm các quyền liên quan trực tiếp đến nhãn hiệu đối với việc thực hiện các hành vi như gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, nhãn mác hàng hóa và dịch vụ của mình. Đồng thời nhóm này cũng bao gồm các quyền của chủ nhãn hiệu được sử dụng nhãn hiệu của mình trong quảng cáo, các giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh… Đây là những quyền liên quan trực tiếp đến nhãn hiệu, phổ biến nhất và được thực hiện thường xuyên bởi chủ nhãn hiệu. Thông qua quyền này chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền khai thác các tính năng, công dụng của nhãn hiệu để thu được những lợi ích vật chất cao nhất.

Nhóm thứ hai: nhóm quyền liên quan đến các hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền đưa sản phẩm có gắn nhãn mác đó ra thị trường. Hành vi đưa sản phẩm có gắn nhãn mác ra thị trường bao gồm cả quyền sản xuất và đưa hàng hóa có mang nhãn hiệu ra thị trường nội địa hoặc quyền nhập khẩu hàng hóa có mang nhãn hiệu vào thị trường hoặc xuất khẩu hàng hóa có gắn nhãn hiệu ra thị trường nước ngoài. Đây là nhóm quyền có thực tiễn thực hiện đa dạng và phức tạp nhất trong nhóm này, do không chỉ có chủ sở hữu nhãn hiệu thực hiện quyền này mà còn có rất nhiều người khác được chủ nhãn hiệu cho phép (licensee) cũng cùng thực hiện quyền này.

Pháp luật Việt Nam quy định về quyền này tại Điều 124.5b Luật SHTT 2005, theo đó chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ.

Thuật ngữ “lưu thông” mà pháp luật Việt Nam quy định là chưa chính xác, bởi vì các nhà sản xuất có nhãn hiệu nổi tiếng lợi dụng để không cho phép sự luân chuyển hàng hóa mang nhãn hiệu từ khu vực này sang khu vực khác. Tuy rằng trên thực tế đây là một khía cạnh không hoàn toàn thuộc về pháp luật bảo hộ SHCN mà còn thuộc phạm vi của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh.

  • Quyền cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình

Theo tinh thần của Điều 125 Luật SHTT Việt Nam, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu. Tuy nhiên, chủ sở hữu nhãn hiệu không có quyền cấm người khác thực hiện các hành vi lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài.

Đồng thời, tại Điều 129 Luật SHTT quy định các hành vi được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Có thể nhận xét rằng, những quy định này là bước phát triển mới của Luật SHTT 2005 so với các quy định của Bộ luật dân sự 1995 và Nghị định 63/CP trước đây.

1.5 Thực thi quyền đối với nhãn hiệu Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

  • Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Giống như pháp luật các nước, pháp luật Việt Nam cũng định khá cụ thể về các hành vi vi phạm quyền đối với nhãn hiệu. Theo quy định Điều 129.1 Luật SHTT 2005, các loại hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó.

Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ.

Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng do hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa những người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Ngoài ra, tại Điều 130.1c,d Luật SHTT 2005 còn quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu:

Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý chính đáng. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ của người khác nhằm mục đích chiếm giữ tên, miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu tương ứng.

Đồng thời, tại Điều 213 Luật SHTT 2005, các nhà làm luật cũng đưa ra khái niệm về hàng hóa giả mạo nhãn hiệu. Đó là hàng hóa có gắn nhãn hiệu được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.

  • Cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu

Pháp luật Việt Nam đã xác lập được một hệ thống các cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật nhãn hiệu bao gồm:

Cơ quan có thẩm quyền cấp đăng ký văn bằng bảo hộ nhãn hiệu và giải quyết khiếu nại là Cục SHTT,một cơ quan hành chính Nhà nước. Việc cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu và giải quyết khiếu nại phải tuân thủ một trình tự thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.

Hệ thống toà án nhân dân: có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc bảo hộ nhãn hiệu. Bảo hộ nhãn hiệu thông qua toà án được các nước trên thế giới đề cao vì nó mang lại hiệu quả và tính công bằng được đảm bảo hơn so với các cách thức bảo hộ khác. Nhiều nước còn thành lập các toà án chuyên biệt về SHTT trong đó có việc giải quyết khiếu nại về nhãn hiệu, các thẩm phán được đào tạo chuyên sâu về SHTT.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các toà dân sự kinh tế, hành chính và hình sự đều có thẩm quyền giải quyết các vụ án liên quan đến quyền SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng.

Các cơ quan khác có thẩm quyền: ngoài Cục SHTT và hệ thống toà án nhân dân, pháp luật còn quy định một số cơ quan khác có thẩm quyền trong việc thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu. Cụ thể là:

Ủy ban nhân dân các cấp, thanh tra chuyên ngành sở hữu công nghiệp, cơ quan hải quan, cơ quan quản lý thị trường có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Ngoài ra, các cơ quan này còn tham gia tiến hành hoạt động điều tra, khởi tố hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu khi hành vi có dấu hiệu tội phạm.

Cơ quan hải quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT trong đó có nhãn hiệu (Điều 200 Luật SHTT 2005).

Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng li xăng (hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu) theo thoả thuận trọng tài. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Cục quản lý cạnh tranh (cơ quan thuộc bộ thương mại) có chức năng thực thi pháp luật cạnh tranh, trong đó có bộ phận pháp luật cạnh tranh liên quan đến SHTT thuộc pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật kiểm soát độc quyền.

  • Các biện pháp cần thiết chống lại hành vi vi phạm

Theo quy định tại Luật SHTT 2005 Việt Nam, khi xảy ra vi phạm quyền đối với nhãn hiệu, các biện pháp sau có thể được áp dụng:

  • Các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua trung gian, hòa giải;
  • Xử lý hành chính;
  • Kiện dân sự;
  • Truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 212 Luật SHTT) đối với các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, tái phạm nhiều lần gây thiệt hại đến lợi ích của cá nhân hoặc cộng đồng. Các cơ quan tố tụng có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bao gồm: cơ quan điều tra; viện kiểm sát nhân dân; tòa án.

Các hành vi bị truy tố trách nhiệm hình sự gồm: sản xuất và buôn bán hàng giả (Điều 156 Bộ luật hình sự); sản xuất và buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 157, 158 Bộ luật hình sự); chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp các đối tượng SHCN đang được bảo hộ nhằm mục đích kinh doanh (Điều 171 Bộ luật hình sự).

Áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 216 Luật SHTT): chủ sở hữu nhãn hiệu, cá nhân, pháp nhân thực hiện yêu cầu tiến hành các biện pháp biên giới thông qua ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu nộp đơn yêu cầu áp dụng các biện pháp biên giới cho cơ quan hải quan có thẩm quyền bao gồm Cục giám sát-Quản lý về hải quan thuộc Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Hải quan cửa khẩu nơi trực tiếp làm thủ tục hải quan cho lô hành bị nghi ngờ là hàng vi phạm.

Thời hạn cơ quan hải quan tiến hành biện pháp biện pháp kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT là một năm kể từ ngày chấp nhận đơn. Thời hạn này có thể được gia hạn thêm một năm nhưng không được quá thời hạn bảo hộ đối tượng SHTT và chủ thể quyền phải nộp lệ phí gia hạn theo quy định của Bộ Tài chính. Khi tiến hành biện pháp này mà phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT, cơ quan hải quan thông báo ngay (bằng văn bản, bằng Fax) cho chủ thể quyền để nộp đơn (trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo) yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng bị phát hiện.

2. Phương hướng hoàn thiện Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Việc hoàn thiện, bổ sung pháp luật và tăng cường hiệu lực, hiệu quả của cơ chế thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu cần phải được thực hiện trên cơ sở những định hướng nhất định. Những định hướng này là những tư tưởng xuyên suốt cả quá trình sửa đổi, bổ sung và thể hiện từ cách thức tiến hành sửa đổi đến nội dung sửa đổi cũng như trong việc đánh giá kết quả. Theo quan điểm của tác giả, việc hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu lực, hiệu quả cơ chế thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu cần xác định những phương hướng mang tính nguyên tắc. Phương hướng đó phải bao gồm ba nội dung sau:

Thứ nhất, việc đổi mới pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu phải đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001. Nguyên tắc này có nội dung khái quát bao trùm mọi mặt tổ chức, hoạt động của tổ chức bộ mày Nhà nước và mối quan hệ Nhà nước – công dân. Khi hoàn thiện khung pháp lý về nhãn hiệu, nguyên tắc này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này phải được xây dựng một cách đầy đủ, chuẩn xác, có khoa học và minh bạch. Công tác tuyên truyền pháp luật phải được đề cao để giúp cho mọi đối tượng có liên quan phải hiểu và nắm bắt được ít nhất là các nội dung và tinh thần cơ bản của pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu. Mọi mối quan hệ giữa nhà nước và công dân trong quá trình đăng ký mà cụ thể là mối quan hệ giữa Cục SHTT, các cán bộ của Cục SHTT với người nộp đơn, người đại diện SHCN và những đối tượng khác tham gia vào quá trình đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu phải được điều chỉnh bởi hệ thống đầy đủ các văn bản pháp quy.

Hiện nay, Bộ luật dân sự 2005 và Luật SHTT 2005, được sửa đổi 2009 về cơ bản đã thực sự khắc phục được những khiếm khuyết của hệ thống bảo hộ trước đây và đều đã có hiệu lực. Các nghị định hướng dẫn thi hành cũng đã được ban hành. Tuy nhiên, vấn đề thực thi (đưa các quy định pháp luật vào cuộc sống) có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đối với cơ chế thực thi pháp luật cần xây dựng được một cơ chế minh bạch và tôn trọng xã hội công dân, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân phải được tôn trọng trên cơ sở bình đẳng. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Thứ hai, việc sửa đổi, bổ sung pháp luật và tăng cường cơ chế thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu phải được tiến hành một cách đồng bộ với nhau để bên cạnh hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu, còn giúp kiện toàn cơ chế thực thi pháp luật để đưa pháp luật vào cuộc sống phục vụ cho các mục tiêu đặt ra đối với điều chỉnh pháp luật bảo hộ nhãn hiệu. Việc hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu sẽ là nhân tố quan trọng tăng cường hiệu lực và hiệu quả của cơ chế thực thi pháp luật bảo vệ nhãn hiệu. Mặt khác, việc thực thi pháp luật có hiệu quả hay không sẽ là động lực cho việc hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu cũng cần được tiến hành đồng bộ với việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về bảo hộ các đối tượng SHTT khác.

Thứ ba, việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu phải được nghiên cứu trên cơ sở phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam. Việc học tập các lý thuyết và kinh nghiệm từ các nước đi trước là rất cần thiết nhưng mọi sự sao chép đều khó có thể dẫn đến thành công, nếu không muốn nói là nguy cơ thất bại rất lớn. Bởi vì, Việt Nam vốn có những đặc điểm đặc thù cần phải tính đến để khi pháp luật ban hành sẽ có khả năng đi vào cuộc sống, phát huy được những mặt tích cực, hạn chế được những mặt tiêu cực, góp phần tạo môi trường lành mạnh cho các nhà đầu tư, cho sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các doanh nghiệp và bảo vệ được một cách thích đáng quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Do đó, nếu quá nóng vội để hoàn thiện ngay lập tức khung pháp lý về nhãn hiệu theo chuẩn mực chung của quốc tế và các chuẩn mực do các nước phát triển đặt ra thì có thể sẽ gây phản tác dụng cho quá trình hoàn thiện hoặc chưa thể phát huy tác dụng ngay và trở nên lãng phí.

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu lực, hiệu quả của cơ chế thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu phải đặt trong bối cảnh Việt Nam đang chủ động hội nhập quốc tế và khu vực. Hội nhập buộc chúng ta phải đối mặt với những thách thức to lớn nhưng cũng mang lại cho chúng ta những cơ hội không nhỏ. Điều này thể hiện rất rõ trong lĩnh vực bảo hộ quốc tế về SHTT – nơi các quốc gia phát triển luôn tạo sức ép lên các nước đang phát triển. Không thể đi ngược lại xu hướng chung của thời đại, chúng ta có nghĩa vụ thực hiện các cam kết quốc tế khi đã ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế. Vì vậy, các quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam phải phù hợp với những điều ước quốc tế về lĩnh vực này mà Việt Nam là thành viên.

Thứ năm, việc hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu phải đặt trong bối cảnh phù hợp với các ĐƯQT về bảo hộ SHCN nói chung và nhãn hiệu nói riêng và Việt Nam đã và sẽ tham gia. Xu hướng tất yếu của thế giới là hội nhập kinh tế, trong đó SHTT đặc biệt là nhãn hiệu là lĩnh vực có mức độ hội nhập cao nhất. Điều này thể hiện ngày càng nhiều các điều ước song phương và đa phương trong lĩnh vực này. Từ những ĐƯQT được hình thành từ hàng trăm năm như Công ước Paris, thỏa ước Madrid cho đến hiệp định TRIPS và các hiệp định thương mại song phương. Điều này thể hiện sự ràng buộc chặt chẽ hơn giữa các quốc gia. Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý về nhãn hiệu của riêng mình trong đó phải chú ý tới sự phù hợp với các cam kết quốc tế đa phương và song phương mà Việt Nam tham gia đồng thời phải phản ánh được điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam. Để thực hiện tốt vấn đền này, cần phải có sự dung hòa, cân đối giữa lợi ích quốc gia với nghĩa vụ thực hiện các cam kết quốc và chuẩn mực về bảo hộ nhãn hiệu quốc tế.

Thứ sáu, việc hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu và tăng cường hiệu lực, hiệu quả của cơ chế thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu cần phải huy động được sự tham gia tích cực của các chuyên gia pháp lý, các nhà hoạt động thực tiễn, trong lĩnh vực SHTT nội dung, nhãn hiệu nói riêng, các chủ thể kinh doanh, các cơ quan Nhà nước và đông đảo người tiêu dùng. Điều này là cần thiết để đảm bảo cho việc hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu và tăng cường hiệu lực, hiệu quả của cơ chế thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu đạt được những mục tiêu đề ra.

3. Kiến nghị để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Qua phân tích các quy định pháp luật bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam và pháp luật Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, trên cơ sở phương hướng để hoàn thiện đề cập trên đây, tác giả đề xuất một số kiến nghị cụ thể sau:

Thứ nhất, cần phải ban hành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật riêng để điều chỉnh việc bảo hộ nhãn hiệu. Nhãn hiệu là một đối tượng SHCN có đặc điểm riêng và thực tiễn bảo hộ rất phức tạp. Ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Anh nhãn hiệu luôn được được điều chỉnh bởi một khung pháp lý riêng, bao gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật điều chỉnh.

Ở Việt Nam các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất về đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu cũng như các đối tượng SHCN khác được quy định trong Luật SHTT. Trong khi đó ở các nước trên thế giới nói chung cũng như Mỹ, Anh, Nhật Bản và Trung Quốc như phân tích ở trên thường có các luật riêng điều chỉnh từng đối tượng SHCN. Một số nước có thể gộp các đối tượng SHCN vào luật chung nhưng đối với nhãn hiệu thì luôn có một luật riêng để điều chỉnh. Dưới luật có các văn bản hướng dẫn cụ thể do cơ quan chịu trách nhiệm đăng ký ban hành. Điều này làm cho việc đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu được điều chỉnh một cách thống nhất bởi một khung pháp lý riêng, minh bạch và phù hợp với thực tiễn. Do đó, để khắc phục những bất cập chúng ta nên ban hành luật riêng để điều chỉnh nhãn hiệu.

Thứ hai, cần bổ sung các loại dấu hiệu và các điều kiện để một dấu hiệu được bảo hộ. Mặc dù, Luật SHTT 2005 đã đưa ra được cách tiếp cận mở khi quy định về khái niệm nhãn hiệu tại Điều 4, theo đó một dấu hiệu sẽ được coi là nhãn hiệu khi nó được sử dụng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các chủ thể kinh doanh khác nhau. Tuy nhiên, khái niệm này đã bị giới hạn nhiều do quy định về điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 72 thì để được bảo hộ, nhãn hiệu chỉ có thể là các “dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”. Điều này là không phù hợp với các điều ước quốc tế trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và pháp luật các nước. Do đó, cần bổ sung thêm những loại dấu hiệu có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu bao gồm tên người, chữ số, tổ hợp màu sắc. Mặt khác, đối với các loại nhãn hiệu mới như nhãn hiệu mùi, nhãn hiệu âm thanh,… mặc dù hiện tại chúng ta chưa thừa nhận trong pháp luật song cũng cần tham khảo kinh nghiệm của các nước, nhất là Mỹ để hướng tới việc mở rộng phạm vi bảo hộ của pháp luật Việt Nam trong tương lai.

Về các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu, tại Điều 73 Luật SHTT đã đưa ra các trường hợp không được bảo hộ do “trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn” với các đối tượng khác do pháp luật quy định. Tuy nhiên, không có quy định hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí hay cách thức để xác định tính tương tự tới mức gây nhầm lẫn của một dấu hiệu xin đăng ký với đối tượng đối chứng. Điều này sẽ là một khó khăn cho các chủ thể khi áp dụng pháp luật.

Về các nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt được quy định tại Điều 74 Luật SHTT nên được bổ sung thêm một số trường hợp sau: Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Các dấu hiệu bao gồm hình dạng ba chiều của hàng hóa hay bao bì của hàng hóa mà những hình dạng này là những hình dạng bắt buộc không thể khác được để hàng hóa hay bao bì thực hiện đúng chức năng của chúng. Cơ sở của việc quy định trường hợp loại trừ này là hình dạng ba chiều đó là thuộc tính tự nhiên, bắt buộc của hàng hóa hay bao bì của hàng hóa. Vì vậy, sẽ là không công bằng khi một chủ thể kinh doanh nào được độc quyền sử dụng chúng thông qua việc xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Đây là nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong kinh doanh thể hiện trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường. Có lẽ Việt Nam cần tiếp thu kinh nghiệm quản lý vĩ mô nền kinh tế của các nước mà quy định trên là một biểu hiện cụ thể.

Các dấu hiệu trùng với tên gọi của giống cây trồng mới đã được đăng ký hoặc đã được bảo hộ: tại khoản 3 Điều 163 Luật SHTT quy định tên của giống cây trồng không được coi là phù hợp nếu “trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày công bố đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng”. Trong khi đó không có quy định là nhãn hiệu không được trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên giống cây trồng đã được đăng ký bảo hộ.

  • Thứ ba, về cách giải quyết trong trường hợp không xác định được người nộp đơn đầu tiên

Theo cách giải quyết của Luật SHTT (Khoản 2 Điều 9 Luật SHTT 2005) ảnh hưởng đáng kể tới lợi ích của các chủ thể nộp đơn. Theo quy định của pháp luật Mỹ, trong trường hợp này, người sử dụng nhãn hiệu trước sẽ được ưu tiên đăng ký, còn pháp luật Nhật Bản cho phép các chủ thể kinh doanh nếu không thoả thuận được với nhau thì sẽ bốc thăm để chọn ra người được quyền tiếp tục làm thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể, đảm bảo sự công bằng và tránh được khả năng bị người thứ ba lợi dụng một cách bất chính, các nhà làm luật Việt Nam cần cân nhắc lại vấn đề này.

  • Thứ tư, về yêu cầu sử dụng nhãn hiệu

Như đã đề cập tại chương 2, chúng ta nên bổ sung quy định công nhận những điều kiện phát sinh ngoài ý muốn của chủ nhãn hiệu gây cản trở cho việc sử dụng nhãn hiệu, chẳng hạn như việc Chính phủ hạn chế nhập khẩu hoặc quy định các yêu cầu khác đối với các hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu, là lý do chính đáng của việc không sử dụng. Vấn đề này được quy định tại khoản 1 Điều 19 Hiệp định TRIPS, đồng thời cũng được đề cập tại Chương 2 khoản 9 Điều 6 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ mà Việt Nam có nghĩa vụ phải nội luật hoá. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Đồng thời, cần bổ sung quy định về khả năng thay đổi hình thức nhãn hiệu trong quá trình sử dụng: liên quan đến vấn đề sử dụng nhãn hiệu, Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay còn bỏ qua một khía cạnh, đó là vấn đề về khả năng thay đổi hình thức nhãn hiệu trong quá trình sử dụng và đánh giá về những thay đổi đó. Trong thực tế, vì những lý do khác nhau, như quảng cáo, kinh doanh, lý do kỹ thuật… có thể xuất hiện những trường hợp không tương ứng giữa nhãn hiệu được đăng ký và nhãn hiệu được sử dụng. Trong đó chủ sở hữu nhãn hiệu cố gắng viện dẫn, lý giải rằng việc sử dụng nhãn hiệu bị thay đổi là minh chứng cho việc thực hiện nghĩa vụ sử dụng của mình. Vấn đề này cũng có thể xuất hiện trong trường hợp có tranh chấp về nhãn hiệu giữa các chủ thể khác nhau. Khả năng thay đổi nhãn hiệu đã được đề cập tại chương II, Điều 5 Công ước Paris như sau: việc chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu theo mẫu khác biệt về chi tiết, nhưng không làm thay đổi tính phân biệt của nhãn hiệu theo mẫu đã được đăng ký tại nước thành viên sẽ không dẫn tới việc đình chỉ nhãn hiệu và không thể hạn chế sự bảo hộ đã dành cho nhãn hiệu. Qua đó có thể thấy rằng, yêu cầu chung đối với luật về bảo hộ nhãn hiệu tại các quốc gia thành viên là: cho phép những thay đổi mang tính chi tiết (không mang tính khác biệt) trong việc sử dụng nhãn hiệu, nếu những thay đổi đó không làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu được bảo hộ.

  • Ngoài ra, nên bổ sung một số quy định liên quan đến việc sử dụng nhãn hiệu trên Internet.

Khoản 5 Điều 125 Luật SHTT đã công nhận cả trường hợp sử dụng thực tế và sử dụng danh nghĩa nhãn hiệu. Tuy nhiên ở đây nhà làm luật không đề cập tới một vấn đề là sử dụng nhãn hiệu trên Internet. Trong khi đó, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và những kỹ năng giao dịch thương mại mới, chủ thể kinh doanh có thể duy trì hình thức sử dụng nhãn hiệu trên Internet – một hình thức sử dụng với những đặc trưng nhất định xuất phát từ đặc thù của mạng thông tin liên lạc này (chẳng hạn, tính chất toàn cầu của hình thức sử dụng không có giới hạn về lãnh thổ khó xác định người sử dụng trái phép nhãn hiệu…). Từ đó sẽ xuất hiện một loạt những vấn đề nảy sinh. Để giải quyết, Luật SHTT cần có một số chỉnh sửa nhất định đó là:

  • Mở rộng các hình thức sử dụng hợp pháp nhãn hiệu.
  • Có những quy định cụ thể để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc sử dụng trên Internet tại Việt Nam, những đối tượng SHTT và tên miền trong tương quan với những quy định về giao dịch điện tử.

Thứ năm, về các trường hợp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ quy định tại Điều 95 Luật SHTT

Như đã phân tích ở chương 2, trong vấn đề này chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của các nhà lập pháp Mỹ và bổ sung quy định về trường hợp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu bị chấm dứt hiệu lực khi nhãn hiệu bị mất đi tính phân biệt qua quá trình sử dụng.

  • Thứ 6, về các hình thức chuyển giao nhãn hiệu Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Ở Mỹ, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, hoạt động chuyển giao quyền sử dụng một số đối tượng của quyền SHTT, ngoài hình thức chuyển giao thông qua li xăng, còn được điều chỉnh bởi một loại hợp đồng mang tên “franchsing” (chuyển nhượng quyền thương mại). Đây được coi là một công cụ pháp lý đặc biệt bảo đảm được sự kết hợp giữa đường lối kinh doanh của các công ty lớn với khả năng năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp hoạt động ở phạm vi nhỏ hơn. Điểm độc đáo tạo nên giá trị của loại hợp đồng franchising chính là ở mục đích kinh tế của nó. Việc ký kết các hợp đồng li xăng chủ yếu là để đạt được mục đích chuyển giao quyền sử dụng một đối tượng sở hữu công nghiệp và thu lợi nhuận trực tiếp cho người nắm giữ đối tượng từ phí sử dụng li xăng. Hợp đồng franchising hướng tới mục đích sâu xa hơn, tạo điều kiện cho một chủng loại hàng hóa, dịch vụ nhất định có được sự tồn tại bền vững và phát triển trên thị trường. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề tạo dựng vị thế cho hàng hóa và dịch vụ trên thị trường là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh. Cùng với những giải pháp khác, việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có trong tay những công cụ pháp lý hữu hiệu để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ cũng là một yêu cầu hết sức cần thiết. Mặc dù cho đến nay ở Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về vấn đề đó song trên thực tế, các quan hệ chuyển nhượng quyền kinh doanh, cho thuê tên thương mại, dưới một góc độ nhất định đã tồn tại trong thực tiễn giao lưu thương mại của chúng ta. Xuất hiện vào những năm 90 của thế kỷ trước tại Việt Nam, đầu tiên là sự thành lập hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh Buger, sau đó là hàng loạt cửa hàng thức ăn nhanh mang tên Texas, Chiken, Carvel, Baskin & Robin, Lotteria Humbuger, Kentucky Fried Chiken…, trong các lĩnh vực khác như phim ảnh, dịch vụ cung cấp và bảo trì thiết bị văn phòng,… đặc biệt là một số nhãn hiệu của chúng ta như thời trang Maxx, Cà phê Trung Nguyên cũng đã tham gia vào việc chuyển nhượng theo kiểu hợp đồng Franchise ở cả trong nước và ra nước ngoài. Như vậy, mặc dù đây là loại hình kinh doanh vẫn còn mới mẻ song cũng đã ấn chứa nhiều tiềm năng với các doanh nghiệp. Cho nên, các nhà lập pháp nên xem xét, nghiên cứu để bổ sung các quy định nhằm mở rộng các hình thức chuyển giao nhãn hiệu.

Thứ bảy, cần phải bổ sung ngay các quy định hướng dẫn về nhãn hiệu nổi tiếng. Như đã phân tích ở trên, ở khía cạnh bảo hộ quốc tế, nhãn hiệu nổi tiếng đã được quy định khá sớm trong Điều 6bis của Công ước Paris. Đồng thời nó cũng được khẳng định lại trong Điều 16 của TRIPS. Điều đó thể hiện sự quan tâm của quốc tế đối với loại nhãn hiệu này. Các nhãn hiệu nổi tiếng cũng đã và đang có những tác động rất lớn đối với sự phát triển kinh tế cùng với luồng đầu tư nước ngoài ngày càng cao vào Việt Nam. Trong khi đó khung pháp lý điều chỉnh nhãn hiệu này lại chưa theo kịp. Điều 4 và Điều 75 Luật SHTT 2005 mới quy định định nghĩa về nhãn hiệu nổi tiếng và các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng. Có thể thấy các quy định này là quá chung chung và chưa phù hợp với đặc thù của loại nhãn hiệu này. Như phân tích ở chương 1, pháp luật các nước luôn dành cho nhãn hiệu nổi tiếng cơ chế bảo hộ cao hơn các nhãn hiệu thông thường. Do vậy, cần bổ sung ngay các quy định khác về đăng ký nhãn hiệu nổi tiếng, như các điều kiện cụ thể để được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng, cơ quan nào có thẩm quyền ra quyết định, nguyên tắc bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng có khác gì so với nhãn hiệu thông thường…Và nên có một danh mục các nhãn hiệu nổi tiếng đã được công nhận ở Việt Nam để tạo thuận lợi cho cơ chế bảo hộ rộng rãi đối với loại nhãn hiệu này.

Thứ tám, tiếp tục hoàn thiện các quy phạm pháp luật về nhãn hiệu, nhất là các quy phạm thực thi. Đặc biệt, trình tự dân sự phải được áp dụng triệt để và phổ biến nhằm điều chỉnh các quan hệ liên quan đến loại tài sản vô hình này, mà việc đầu tiên là chấn chỉnh lại toàn bộ các quy phạm về chế tài bảo đảm thực thi theo hướng lấy trật tự dân sự làm biện pháp chủ yếu, còn chế tài hành chính chỉ được áp dụng như một biện pháp bổ sung cho chế tài dân sự khi mà sự xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vượt quá mức dân sự. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Thứ chín, sắp xếp lại và tăng cường năng lực của các cơ quan thực thi, từ tòa án đến các cơ quan bảo đảm thực thi nội địa: Thanh tra (nhà nước và chuyên ngành), ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế phải được tạo điều kiện áp dụng các biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả, khắc phục sự chồng chéo, phân công rõ ràng chức năng quyền hạn của từng cơ quan theo hướng một cơ quan đầu mối, đó là thanh tra chuyên ngành, còn tòa án giải quyết các vụ kiện dân sự, ủy ban nhân dân, thanh tra, quản lý thị trường quyết định xử phạt (tùy theo hình thức và mức phạt), cảnh sát kinh tế chỉ có chức năng điều tra, hải quan kiểm soát ở biên giới về sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng.

Thứ mười, nên bổ sung những quy định chi tiết về các chế tài đủ mạnh để chống lại các hành vi xâm phạm quyền SHTT.

Trong quá trình thực thi quyền sở hữu trí tụê, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là đối với việc ngăn chặn sự xâm nhập của hàng hóa vi phạm vào các kênh thương mại và bảo vệ chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm. Nhằm vào những mục đích này, Hiệp định TRIPS, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đều có các quy định cho phép các cơ quan tư pháp được áp dụng các biện pháp tạm thời tiền tố tụng. Theo quy định tại Điều 207 Luật SHTT, các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây được áp dụng đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hóa đó: Thu giữ; kê biên; niêm phong, cấm thay đổi hiện trạng, cấm di chuyển; cấm chuyển dịch quyền sở hữu; các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xuất phát từ tính đặc thù hành vi xâm phạm quyền SHTT, tác giả xin đưa ra đây một số biện pháp khẩn cấp tạm thời mà toà án Mỹ cũng như một số nước khác thường áp dụng nhưng chưa được quy định trong pháp luật của chúng ta như những ví dụ tham khảo:

Lệnh Anton Piller: lệnh này phát sinh từ quy định cho rằng toà án có thẩm quyền vốn có trong việc ngăn chặn bị đơn làm phương hại đến quá trình thi hành công lý bằng cách huỷ hoại đối tượng, tài liệu hoặc những chứng cứ có liên quan trong vụ kiện. Bản chất của lệnh này là việc theo yêu cầu của người có quyền, toà án có thể ra lệnh cho phép người đó tiến hành kiểm tra đối tượng khi có cơ sở đủ mạnh cho rằng quyền SHTT của người đó đang bị xâm hại. Lệnh này được đưa ra với sự vắng mặt của bị đơn tạo điều kiện để tiến hành kiểm tra bị đơn vào thời điểm bất ngờ và do đó có lợi cho nguyên đơn trong việc ngăn ngừa bị đơn tiêu huỷ chứng cứ và tài liệu liên quan. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Lệnh “Norwich Pharmacal” (Norwwich Pharmacal action): việc ban hành lệnh này cho phép nguyên đơn có khả năng yêu cầu bất cứ người thứ ba nào (không phải là người có hành vi xâm phạm quyền SHTT và thậm chí không biết đến những vi phạm đó) cung cấp những thông tin cần thiết cho việc xem xét vụ kiện về xâm phạm quyền SHTT. Người thứ ba ở đây có thể là bất cứ cá nhân, tổ chức, thậm chí là cơ quan chức năng Nhà nước như cơ quan hải quan, phòng thuế… có thông tin cần thiết cho việc xem xét, đánh giá vi phạm tại toà án.

Thứ mười một, nên bổ sung thẩm quyền của toà án trong việc xem xét đánh giá chứng cứ trong trường hợp các bên tham gia tố tụng không thiện chí trong việc cung cấp chứng cứ.

Xuất phát từ đặc thù của đối tượng quyền SHTT bị xâm phạm nên trong nhiều trường hợp, phán quyết của toà án phụ thuộc phần lớn (nếu không muốn nói là hoàn toàn) vào những dữ liệu, thông tin do các bên đưa ra, toà án khó lòng tự mình thu thập được thêm chứng cứ liên quan đến vụ kiện. Thêm vào đó, thời gian cung cấp, thu thập chứng cứ cũng rất quan trọng đối với các xâm hạm quyền SHTT do tính chất lan truyền nhanh chóng của hành vi xâm phạm và những hậu quả kèm theo. Vì thế, việc một bên tham gia tố tụng từ chối không cung cấp những thông tin cần thiết trong điều kiện hợp lý mà không có lý do chính đáng sẽ gây cản trở lớn cho việc giải quyết tranh chấp. Theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Hiệp định TRIPS, cơ quan xét xử được quyền ra quyết định tạm thời và quyết định cuối cùng dựa trên cơ sở những thông tin được đệ trình, kể cả đơn tố cáo hoặc đơn kiện của bên chịu bất lợi vì bị từ chối không được tiếp cận thông tin. Các nhà lập pháp Việt Nam nên xem xét và bổ sung thêm các chế tài như vậy để đảm bảo việc cung cấp chứng cứ, đồng thời nâng cao vai trò của toà án trong việc giải quyết các tranh chấp về SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng.

Thứ mười hai, đa dạng hoá các cơ chế giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu thông qua các cơ chế trung gian như thương lượng, hoà giải. Khi xảy ra tranh chấp, các bên có thể tự thương lượng với nhau hoặc tiến hành hoá giải qua một trung gian nào đó. Trong khi Việt Nam chưa xem xét việc áp dụng các cơ chế này trong việc giải quyết các tranh chấp về SHTT thì ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Mỹ, các phương thức này đã được sử dụng từ khá lâu, giải quyết tranh chấp qua thương lượng, hoà giả tiềm ẩn một số lợi thế nhất định như đảm bảo được tính bảo mật (một điều đặc biệt quan trọng đối với giới kinh doanh, giảm thiếu được nhiều chi phí về thời gian và tài chính…). Tuy nhiên, cần có sự điều chỉnh hợp lý đối với cách giải quyết này bởi khi thương lượng, hoà giải, các bên có thể chỉ coi trọng quyền lợi của mình mà gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội và quyền lợi của người tiêu dùng làm cho việc bảo hộ nhãn hiệu mất đi toàn bộ ý nghĩa với tư cách là một công cụ để cân bằng lợi ích của chủ sở hữu và lợi ích của toàn xã hội. Do đó, vấn đề đa dạng hoá cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền SHTT nên được đặt ra và điều chỉnh một cách hợp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của các đương sự, giảm bớt “gánh nặng” cho các cơ quan Nhà nước. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Thứ mười ba, cần tăng cường vai trò của Toà án nhân dân trong việc thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu nói riêng và pháp luật bảo hộ SHTT nói chung. Đối với hệ thống Toà án nhân dân, trong tương lai cần thành lập các Toà án chuyên trách về SHTT và đào tạo các thẩm phán có trình độ chuyên sâu về SHTT. Đây là cách làm được nhiều nước trên thế giới áp dụng trong đó có cả những nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin, Trung Quốc và đã thu được những kết quả tích cực mà chúng ta cần học tập. Các Toà chuyên trách về SHTT nên được thành lập tại một số khu vực mà không theo đơn vị hành chính, nghĩa là không nhất thiết phải thành lập Toà chuyên trách về SHTT tại tất cả các tỉnh, thành phố mà chỉ nên tập trung ở những địa bàn lớn hơn. Chúng ta nên đặt ba Toà chuyên trách về SHTT tại ba địa bàn là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Ba toà này sẽ xét xử sơ thẩm các vụ việc liên quan đến SHTT theo địa bàn mình có thẩm quyền. Việc xét xử phúc thẩm sẽ do Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao đảm nhiệm với việc tăng cường các thẩm phán chuyên trách về SHTT. Thành lập toà chuyên trách về SHTT cho phép chúng ta chuyên môn hoá công tác bảo hộ SHTT, trong đó có nhãn hiệu và công tác đào tạo thẩm phán, chuyên trách về SHTT. Mặt khác, cần huy động các chuyên gia về SHTT từ các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu, các doanh nghiệp kinh doanh liên quan đến SHTT tham gia xét xử với tư cách hội thẩm nhân dân.

Thứ mười bốn, chúng ta cần xây dựng một cơ chế đối thoại giữa Cục SHTT với các chủ thể kinh doanh bao gồm những chủ thể đăng ký nhãn hiệu và các chủ thể khiếu nại. Đặc biệt, trong thủ tục đăng ký nhãn hiệu, có lẽ chúng ta cũng nên tham khảo kinh nghiệm của Mỹ, Anh, Trung Quốc và một số quốc gia khác trên thế giới trong việc đa dạng hoá các hình thức nộp đơn, tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể có thể tra cứu nhãn hiệu một cách nhanh chóng và hiệu quả qua Internet…Trong thủ tục giải quyết khiếu nại, TTAB – USPTO cũng là một trong những địa chỉ mà chúng ta nên tham khảo để xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại một cách khách quan và công bằng.

Thứ mười lăm, xác định rõ mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu nói riêng và bảo hộ SHTT nói chung. Mối quan hệ này là vô cùng cần thiết vì việc bảo hộ quyền SHTT nói chung, bảo hộ nhãn hiệu nói riêng cần được thực hiện bởi một hệ thống các biện pháp có tính liên ngành. Mối quan hệ của các cơ quan có thẩm quyền bảo hộ nhãn hiệu cần được thiết kế đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan tránh tình trạng lợi ích cục bộ hay đùn đẩy trách nhiệm.

Thứ mười sáu, chúng ta cần tăng cường sử dụng biện pháp giải quyết tranh chấp tại hệ thống Toà án nhân dân. Đây là biện pháp có nhiều ưu điểm vì nó có khả năng mang lại sự phục hồi thiệt hại cho chủ sở hữu đối tượng SHTT trong đó có nhãn hiệu một cách tối đa, mặt khác có tính răn đe cao vì chế tài áp dụng cho chủ thể vi phạm là nghiêm khắc hơn nhiều so với biện pháp xử phạt hành chính. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Đối với biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, chúng ta cần nâng mức phạt vi phạm đủ để răn đe đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT nói chung và đối với nhãn hiệu nói riêng, tránh tình trạng các chủ thể kinh doanh sẵn sàng nộp phạt để sau đó tiếp tục xâm phạm quyền SHTT của người khác. Các biện pháp bảo đảm cũng cần được áp dụng kịp thời, phù hợp để đảm bảo ngăn chặn sự xâm nhập của hàng hóa vi phạm vào các kênh thương mại và bảo vệ chứng cứ liên quan.

Thứ mười bảy, đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật bảo hộ nhãn hiệu cần được tăng cường đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu đáp ứng được yêu cầu của công việc mà họ đảm nhiệm.

Đối với các chủ thể kinh doanh và người tiêu dùng cũng như toàn xã hội cần có công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật bảo hộ quyền SHTT nói chung và pháp luật bảo hộ nhãn hiệu nói riêng. Việc nâng cao ý thức, nhận thức pháp luật của các chủ thể này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của họ, ngăn chặn các hành vi xâm phạm nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh trên thương trường.

Thứ mười tám, tăng cường các hoạt động dịch vụ thông tin về nhãn hiệu, đồng thời củng cố và nâng cao vai trò của các hội về Sở hữu Trí tuệ trong việc nâng cao nhận thức của xã hội về Sở hữu Trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng. Cần mở rộng đội ngũ những người tham gia hoạt động này, bằng cách nhanh chóng tổ chức các hình thức bồi dưỡng kiến thức về nhãn hiệu cho đội ngũ luật sư và những người khác. Tiếp tục cải cách hệ thống thông tin nhãn hiệu với mục tiêu nâng cao năng lực tài nguyên thông tin và năng lực vận hành của cả hệ thống. Mở rộng diện những người dùng tin, tạo sự gần gũi, hấp dẫn đối với toàn xã hội. Các hội Sở hữu Trí tuệ cần phối kết hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước và các cơ quan thông tin đại chúng để tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật và thông tin, hướng dẫn nhận thức bằng những vụ việc cụ thể trong hoạt động thực thi quyền nhãn hiệu. Đồng thời, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, động viên các đối tượng trong xã hội, nhất là thu hút các doanh nghiệp – chủ thể quyền nhãn hiệu tham gia tích cực hơn vào bảo vệ nhãn hiệu.

Thứ mười chín, xây dựng mối quan hệ có tính chất cân bằng cùng có lợi giữa chủ sở hữu và người tiêu dùng. Tích cực tìm kiếm các giải pháp thay thế cho các loại sản phẩm/hàng hóa có nhu cầu sử dụng lớn hoặc liên quan đến nhiều người, Cần khuyến khích mở các cuộc thương lượng giữa những người có nhu cầu khai thác với các chủ sở hữu nhằm giảm giá hàng hóa, tăng lượng hàng cung cấp cho xã hội. Đối với những sản phẩm/hàng hoá có nhu cầu sử dụng lớn hoặc có liên quan đến lợi ích công cộng (như thuốc chữa bệnh) ngoài các biện pháp trên cần lưu ý đến công cụ giấy phép, cũng như Nhà nước cần tập trung đầu tư và nhập khẩu nguồn sản phẩm giá rẻ để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng thay thế các sản phẩm giá quá cao do bị khống chế bởi chủ sở hữu.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

Trong các mối quan hệ quốc tế song phương và đa phương và trong những năm gần đây vấn đề SHCN nói chung và nhãn hiệu nói riêng trở thành một trong các mối quan tâm hàng đầu và trong không ít trường hợp trở thành các thách thức đối với nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Với những nội dung nghiên cứu trên đây, tác giả hy vọng đã góp phần làm rõ thêm những nội dung của pháp luật về nhãn hiệu của Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam.

Nhìn chung các quy định pháp luật bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam về cơ bản có nhiều điểm gần gũi với pháp luật các nước như về khái niệm nhãn hiệu, nguyên tắc bảo hộ, nguyên tắc ưu tiên, quy trình xét nghiệm đơn, thời hạn bảo hộ, nguyên tắc gia hạn.  Những điểm tương đồng này phản ánh nỗ lực không ngừng của chúng ta trong việc làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng tương thích với pháp luật của các nước tiến bộ trên thế giới. Đây là một trong những thành tựu đáng ghi nhận của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, hệ thống pháp luật bảo hộ nhãn hiệu nói riêng. Tuy nhiên, khi phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy một số quy định còn bất cập, chưa tương thích với pháp luật các nước cũng như các điều ước quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, khi đã là thành viên chính thức của WTO, chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ nhãn hiệu và cơ chế thực thi góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, đem lại lợi ích cho đất nước.

Với những nghiên cứu trong luận văn này, tác giả hy vọng đã đóng góp thêm những hiểu biết cơ bản về hệ thống pháp luật các nước phát triển trên thế giới và Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu. Đồng thời tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu sẽ góp phần phục vụ cho đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập với quốc tế. Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ Nhãn hiệu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464