Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Năng lực quản lý hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan điểm coi trọng “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, là tương lai của dân tộc cũng như việc biến quan điểm này từng bước thành hiện thực sinh động có ý nghĩa thiết thực với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta, đồng thời thể hiện một cách tích cực xu thế của thời đại. Bởi chúng ta đang sống trong một thời đại gọi là thời đại thông tin, đúng hơn là thời đại của trí tuệ, là thời đại khu vực hoá, toàn cầu hoá. Đứng trước tình hình đó đòi hỏi nước ta, nhân dân ta phải vươn lên phấn đấu với ý chí tự lực tự cường, tiến bộ không ngừng, có sức cạnh tranh với các nước. Giáo dục chính là một chìa khóa, đầu tư cho giáo dục, đào tạo là đầu tư phát triển kinh tế, đầu tư cho tương lai.
Hiện nay, sự phát triển giáo dục không ngừng kéo theo nhiều thay đổi phức tạp cho môi trường và đối tượng quản lý, đòi hỏi người quản lý không chỉ bằng kinh nghiệm cảm tính, bằng thói quen chủ quan mà cần được thực hiện trên cơ sở khoa học và thực tiễn đã được nghiên cứu và thực nghiệm một cách khả thi. Trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ giáo dục nước nhà mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) đã nêu một trong những nhiệm vụ, giải pháp rất cần thiết là đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, trong đó, yếu tố đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng cao được chú trọng quan tâm phát triển hàng đầu. Và như thế, chất lượng cán bộ quản lý giáo dục được coi làm bệ đỡ để thực hiện thành công các mục tiêu về chất lượng giáo dục, đổi mới giáo dục.
Trong mỗi đơn vị trường học, đội ngũ quản lý mà đứng đầu là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng giữ vai trò hết sức quan trọng. Họ gánh trên vai trọng trách là “đầu tàu” tổ chức mọi hoạt động giáo dục của nhà trường, trọng tâm là hoạt động dạy và học. Tầm quan trọng của đội ngũ quản lý trong mỗi đơn vị trường học không chỉ đòi hỏi ở họ những quyết định đúng đắn trong quản lý, am hiểu chuyên môn, có tầm nhìn xa, trông rộng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục của đơn vị mà còn phải tạo dựng được môi trường giáo dục đầy tính nhân văn, dân chủ. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Trên thực tế, ở những đơn vị trường học xuất hiện những cán bộ quản lý có năng lực, tâm huyết sẽ tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới công tác thi đua, nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên cũng như quá trình học tập, rèn luyện của học sinh. Nhất là trong giai đoạn ngành giáo dục đang có những bước đi đột phá nhằm mang lại cho mình một diện mạo mới.
Tuy nhiên, đứng trên góc độ các nhà lãnh đạo, quản lý nhà nước về giáo dục có thể thấy được năng lực và kỹ năng của nhà quản lý còn nhiều bất cập, nhất là năng lực quản lý chuyên môn còn nặng về tính hành chính, ít chiều sâu chuyên môn, chỉ đạo theo kiểu phong trào, nặng tính hình thức. Một bộ phận cán bộ quản lý còn thiếu công tâm trong đánh giá, xếp loại giáo viên, dẫn đến tình trạng bè phái, mất đoàn kết, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục trong nhà trường. Việc rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục thực hiện chưa kịp thời và chưa hiệu quả. Công tác dự báo và quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ quản lý giáo dục các cấp chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến tình trạng thừa tổng thể, thiếu cục bộ, hụt hẫng giữa các thế hệ.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chất lượng giáo dục của thành phố Đà Nẵng từng bước được nâng lên, trong đó, quận Cẩm Lệ là một đơn vị địa phương thuộc thành phố được đánh giá có nền giáo dục phổ thông khá tốt, ổn định, đóng góp thành tích chung vào sự nghiệp giáo dục thành phố và là địa bàn được lãnh đạo thành phố quan tâm phê duyệt đầu tư theo đề án quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp trường học đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Song, một hạn chế còn tồn tại mà vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của chính quyền địa phương, nguyện vọng của nhân dân đó là công tác cán bộ quản lý cơ sở giáo dục. Có thể nói, năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập trực thuộc quận còn khá nhiều hạn chế, đáng chú ý là về kiến thức về pháp luật, tổ chức bộ máy, quản lý nhân sự và tài chính của đội ngũ quản lý các cơ sở giáo dục đôi khi còn lúng túng trong thực thi trách nhiệm và thẩm quyền, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động dạy và học cũng như xây dựng một môi trường giáo dục hiện đại, thân thiện hài hòa, tích cực.
Vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Năng lực quản lý hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua đã có một số công trình khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu của luâṇ văn, tiêu biểu là:
- Luận văn thạc sỹ quản lý công: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhu cầu công việc”, của Trần Trung Kiên, Học viện Hành chính quốc gia, 2009;
- Luận văn thạc sỹ quản lý công: “Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước trong hệ thống giáo dục phổ thông tại tỉnh Phú Thọ”, của Nguyễn Việt Hùng, Học viện Hành chính quốc gia, 2010;
- Luận văn thạc sỹ quản lý công: “Thi tuyển cạnh tranh vào vị trí quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng”, của Phan Hữu Phụng, Học viện Hành chính quốc gia, 2015;
- Luận văn thạc sỹ quản lý công: “Nâng cao năng lực quản lý cho hiệu trưởng các trường trung học phổ thông công lập thành phố Đà Nẵng”, của Phạm Thị Thanh Tâm, Học viện Hành chính quốc gia, 2014.
- Luận văn thạc sĩ quản lý công: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi”, của Trần Quốc Bảo, Học viện Hành chính quốc gia, 2015;
- Luận văn thạc sỹ quản lý công: “Năng lực viên chức quản lý của Đại học Huế”, của Nguyễn Đình Phương, Học viện Hành chính quốc gia, 2016; Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Trong số các luận văn nêu trên, công trình khoa học của tác giả Phạm Thị Thanh Tâm, Trần Quốc Bảo đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn chung về năng lực quản lý của hiệu trưởng trường trung học phổ thông hoặc rộng hơn là phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học cấp huyện chứ chưa có công trình nghiên cứu về năng lực quản lý hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Hơn nữa, để phù hợp với tình hình mới, nhất là các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, phân cấp quản lý trực tiếp các đơn vị trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập cấp huyện đã thay đổi. Do đó, việc áp dụng vấn đề nghiên cứu của các công trình nêu trên về thực tiễn và lý luận còn khá hạn chế và chưa phù hợp.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước nhằm nâng cao năng lực quản lý cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực và năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học;
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng;
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (gọi chung là đội ngũ cán bộ quản lý trường học) và năng lực quản lý của họ.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: năng lực được đề cập trong đề tài nghiên cứu là năng lực quản lý gắn liền với Chuẩn của đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng. Luận văn tập trung vào các năng lực chung sau đây để đánh giá về năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Tổ chức thực thi pháp luật, điều lệ, chủ trương, chính sách quản lý; Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường; Quản lý và sử dụng nguồn nhân lực; Quản lý tài chính, tài sản nhà trường; Quản lý sự thay đổi, giải quyết vấn đề và ra quyết định; Kiểm tra đánh giá; Xây dựng văn hóa công sở. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2015 – 2016 đến nay.
- Giới hạn về không gian: Các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách công vụ công chức, xây dựng và phát triển đội ngũ công chức, viên chức nói chung và công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý nói riêng. 5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp các văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: các công trình nghiên cứu khoa học được công bố; các đường lối, chính sách của Đảng, quy định pháp luật của Nhà nước về nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục.
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp:
Trong nghiên cứu này, việc so sánh được thực hiện trên cơ sở đối chiếu về đối tượng: so sánh giữa việc quản lý cơ quan nhà nước nói chung với quản lý các đơn vị sự nghiệp trường học công lập; giữa lý luận và thực tiễn; giữa năng lực quản lý của cá nhân lãnh đạo nhà trường trong mối quan hệ với quản lý nói chung. Đồng thời, so sánh giữa năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trường học thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trước và hiện nay.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp này được thực hiện bằng việc xây dựng bảng hỏi dành cho đối tượng nghiên cứu có liên quan: lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và giáo viên các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn sau:
- Về lý luận: Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về năng lực, năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở.
- Về thực tiễn: Phân tích, làm rõ thực trạng và nguyên nhân hạn chế về năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực quản lý cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở thuộc thẩm quyền quản lý của quận Cẩm Lệ nói riêng và các quận, huyện trực thuộc thành phố Đà Nẵng nói chung.
7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực, năng lực quản lý hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập trực thuộc cấp huyện.
- Chương 2: Thực trạng năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực quản lý cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC, NĂNG LỰC QUẢN LÝ HIỆU TRƯỞNG, PHÓ HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC CẤP HUYỆN
1.1. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Năng lực và năng lực quản lý
1.1.1.1. Khái niệm năng lực và các yếu tố cấu thành năng lực
- Khái niệm năng lực
Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì năng lực được hiểu là: khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó với chất lượng cao [34, tr.376].
Năng lực còn được hiểu là khả năng làm việc tốt [34, tr.376]; năng lực là sức làm việc [30, tr.232].
Theo nghĩa rộng, năng lực cán bộ là khả năng làm việc hay khả năng lao động, là toàn bộ các thuộc tính thể lực và tinh thần của con người cần thiết để lao động có ích cho xã hội, được hình thành do sự phát triển về thể chất và văn hóa của cá nhân, do trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, do nắm được các kỹ năng và tài quan hệ trong lao động [15, tr.70].
Theo nghĩa hẹp, năng lực cán bộ là khả năng hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, nó bao hàm kiến thức, kỹ năng và nhân cách. Đó là tổng hợp các yếu tố chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm làm việc, năng khiếu cá nhân, yếu tố tiềm năng hoặc thiên bẩm nâng cao khả năng làm việc. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Năng lực luôn được xác định trong một điều kiện, hoàn cảnh nhất định, với nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, khi đánh giá về năng lực phải gắn với điều kiện, môi trường làm việc. Những cá nhân có kiến thức, kỹ năng và thái độ như nhau nhưng làm việc ở những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau sẽ thể hiện, bộc lộ và phát huy năng lực khác nhau. Nếu chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng khi đánh giá năng lực mà không chú ý đến môi trường, điều kiện làm việc là một sự phiến diện. Do vậy, dưới góc độ đánh giá so sánh, chỉ những người làm việc trong một môi trường hoặc các môi trường làm việc tương đối giống nhau thì mới có thể so sánh năng lực giữa họ một cách chính xác.
Từ phân tích ở trên, tác giả cho rằng: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết – kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm và sự sẵn sàng hành động – thái độ cá nhân.
- Các yếu tố cấu thành năng lực
Năng lực của cán bộ được hình thành và phát triển trong quá trình thực thi công việc; được cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó kiến thức, kỹ năng, thái độ là ba yếu tố quan trọng nhất.
Về kiến thức, là những hiểu biết khoa học cơ bản trên các lĩnh vực trong tự nhiên và xã hội. Những hiểu biết này có được là do quá trình giáo dục, đào tạo, học tập ở trường lớp hoặc do tự học tập với các hình thức khác nhau. Nhờ những kiến thức cơ bản này mà cá nhân có sự nhìn nhận vấn đề khách quan, khoa học, có khả năng quan sát, nhận xét tư duy, xét đoán và quyết định hành động phù hợp, kịp thời và đúng thời điểm.
Lý luận chính trị là một nội dung nhận thức quan trọng của mỗi cán bộ. Có lý luận tốt chưa đủ, yêu cầu đặt ra là cán bộ quản lý phải vừa có trình độ lý luận vững vàng, vừa bám sát thực tiễn, kết hợp giữa lý luận với thực tiễn. Trong điều kiện, hoàn cảnh mới hiện nay, cán bộ quản lý phải tìm hiểu, phân tích sâu sắc để nhận thức một cách bản chất, khoa học các quá trình kinh tế – xã hội đang diễn ra, phải thu thập đầy đủ các dữ liệu để giải các bài toán do thực tiễn đề ra.
Về kỹ năng, là khả năng vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đó được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng.
Như vậy, trên nền tảng kiến thức đã có và kinh nghiệm tích lũy, cán bộ quản lý cần có kỹ năng khác nhau. Đối với cán bộ quản lý cần có các kỹ năng chỉ đạo, điều hành; kỹ năng hoạch định chiến lược, chính sách,…
Kỹ năng thực thi công vụ hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và thực thi nhiệm vụ. Chỉ có bản thân cán bộ quản lý thông qua thực hành thì mới có thể định hình và nâng cao kỹ năng của cá nhân mình. Các kỹ năng quản lý trường học đòi hỏi vận dụng rất linh hoạt. Vì vậy, trước hết cán bộ quản lý phải được huấn luyện, hướng dẫn thực hiện các kỹ năng cơ bản và từng bước hoàn thiện, nâng cao.
Về thái độ thực thi công vụ, là sự đánh giá đúng, sai và sự nỗ lực tự thân, sự cố gắng, mức độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với công việc mà mình đang thực hiện.
Thái độ ảnh hưởng rất lớn đến năng lực quản lý của cán bộ quản lý. Nhiều cán bộ quản lý có trình độ, kiến thức tốt, kỹ năng vững vàng nhưng không hoàn thành được nhiệm vụ do có thái độ không đúng. Đó có thể là sự chủ quan, cẩu thả, bất cẩn, thiếu ý thức trách nhiệm hoặc thậm chí cố ý làm trái vì các mục đích, động cơ khác.
Tuy nhiên, thái độ là một phẩm chất thuộc về yếu tố chủ quan của cá nhân. Chúng ta chỉ có thể nhận biết được thái độ thông qua biểu hiện của nó ra ngoài bằng hành vi. Do vậy, chỉ có thể đánh giá được thái độ của cán bộ quản lý là tích cực hay tiêu cực thông qua việc làm cụ thể. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ có vai trò rất lớn, quyết định quá trình hình thành và phát triển năng lực cho mỗi cán bộ làm công tác quản lý.
1.1.1.2. Khái niệm về quản lý và năng lực quản lý
- Khái niệm chung về quản lý
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ quản lý đươc định nghĩa là “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.
Các nhà khoa học quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường đang biến động”.
Khái niệm quản lý cũng được định nghĩa theo cách khác nhau: “Quản lý là một hoạt động có kế hoạch, có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức, đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã xác định. Nói cách khác, quản lý là quá trình thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã đề ra” [29, tr.32].
- Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung của quản lý” .
Chức năng kế hoạch hoá: Đây là chức năng đầu tiên, có vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động.
Chức năng tổ chức: Nội dung của chức năng tổ chức là việc thiết lập cấu trúc của bộ máy quản lý (tổ chức công việc, sắp xếp con người).
Chức năng chỉ đạo – điều hành: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý bằng các quyết định nhằm điều hành bộ máy vận hành theo đúng kế hoạch đạt tới mục tiêu quản lý, trong đó bao gồm cả việc khuyến khích, động viên.
Chức năng kiểm tra – đánh giá: Đây là chức năng cuối cùng và rất quan trọng của quá trình quản lý.
- Quản lý trường học Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Trường học là tổ chức cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục và đào tạo, là tế bào cơ bản của hệ thống giáo dục của từng địa phương và của quốc gia, là hệ thống bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chính vì vậy, mọi hoạt động quản lý của các cấp quản lý giáo dục đều phải hướng về trường học.
Quá trình quản lý trong nhà trường được xem như là một thể thống nhất toàn vẹn, có các thành tố quan hệ mật thiết với nhau rất chặt chẽ. Trường học là nhân tố sinh thành hệ thống giáo dục. Không có nhà trường thì không thể có giáo dục theo đúng nghĩa của nó.
Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục và đào tạo đối với ngành giáo dục, thế hệ trẻ và từng học sinh.
Quản lý trường học là quá trình tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên – học sinh và các cán bộ khác, đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường. Nói cách khác, đó là quá trình tác động lên toàn bộ các thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo (bao gồm: hành chính, tài chính, tài sản công, con người: cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh; chuyên môn: mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp,…) nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu của quá trình giáo dục toàn diện, đạt tới các mục tiêu đã đề ra.
- Năng lực quản lý
Năng lực quản lý cũng có phần chịu sự chi phối của yếu tố bẩm sinh (tố chất), nhưng chủ yếu được tạo ra trong quá trình hoạt động thực tế và sự trau dồi về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác và phẩm chất nhân cách của chủ thể quản lý. Do chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hoặc một nhóm, vì vậy, khái niệm năng lực quản lý của một cá nhân hay năng lực quản lý của một nhóm, nhưng không thể có một nhóm chủ thể quản lý có năng lực khi từng thành viên không có năng lực. Một số yêu cầu về năng lực của người quản lý:
Năng lực chuyên môn kỹ thuật (hiểu biết về nội dung chuyên môn và phương pháp tác nghiệp có liên quan, có khả năng hướng dẫn, kiểm tra người khác thực hiện, có khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học và ứng dụng các công nghệ hiện đại trong công tác…).
Năng lực quan hệ con người (tập hợp, định hướng dẫn dắt người khác thông qua giao tiếp, ứng xử, thiết lập và phát triển các mối quan hệ người – người, giải quyết xung đột, động viên khích lệ, tạo động lực cho nhân viên,…).
Năng lực tư duy chiến lược (dự báo, xác định tầm nhìn, hoạch định chiến lược, sáng tạo và đổi mới,…).
1.1.2. Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Hiệu trưởng theo Điều 54 Luật Giáo dục Việt Nam:
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận”.
Công văn số 630/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 16/02/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn đánh giá, xếp loại phó hiệu trưởng các trường mầm non, phổ thông và phó giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên: “Cấp phó trong các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học, thường xuyên là viên chức lãnh đạo nhà trường. Nhiệm vụ chủ yếu của cấp phó là giúp cấp trưởng trong công tác quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở giáo dục. Đội ngũ cấp phó cũng là nguồn cán bộ quan trọng để lựa chọn bồi dưỡng, bổ nhiệm cấp trưởng hoặc các vị trí quản lý giáo dục cao hơn. Do đó, việc tự đánh giá và đánh giá (được gọi chung là đánh giá) đối với cấp phó phải được thực hiện trên cơ sở các công việc được cấp trưởng giao phụ trách”.
Căn cứ Điều lệ trường học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành (Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07/4/2008 về việc ban hành Điều lệ trường Mầm non, Thông tư số 44/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 sửa đổi Điều lệ trường mầm non; Thông tư số 09/2010/TT-BGDĐT ngày 14/5/2015 sửa đổi, bổ sung một số Điều lệ trường mầm non; Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 ban hành Điều lệ trường tiểu học; Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học) thì hiệu trưởng là người trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động nhà trường, chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan quản lý giáo dục trực tiếp về việc thực hiện các quy định, quy chế về giáo dục và đào tạo, bảo đảm chất lượng hoạt động giáo dục và đào tạo và những hoạt động khác của trường trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
Phó hiệu trưởng được phân công phụ trách một số công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của đơn vị; chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về nhiệm vụ được phân công và trước pháp luật về việc thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn được phân công phụ trách; được ủy nhiệm điều hành hoạt động của đơn vị khi hiệu trưởng vắng mặt.
Tại Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 27/2015/NĐ-CP gày 10/3/2015 của Chính phủ “Quy định về xét tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú”: Giáo viên, giảng viên (gọi chung là nhà giáo) trực tiếp làm nhiệm vụ nuôi dạy, giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên, nhà trường và các cơ sở giáo dục khác (gọi chung là cơ sở giáo dục); Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các cơ sở giáo dục; viên chức làm nhiệm vụ quản lý tại các phòng, ban, viện, trung tâm (không có chức năng đào tạo), văn phòng thuộc các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cán bộ, công chức Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Bộ GD&ĐT; …(gọi chung là cán bộ quản lý giáo dục);
Do đó, các khái niệm về hiệu trưởng, phó hiệu trưởng được đề cập trong nội dung luận văn có thể gọi chung đó là cán bộ quản lý trường học. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
1.1.3. Năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, yêu cầu đổi mới giáo dục đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản trong phát triển đội ngũ cán bộ quản lý. Điều này đòi hỏi người cán bộ quản lý giáo dục nói chung, cán bộ quản lý trường học nói riêng có những năng lực mới, đáp ứng nhiệm vụ quản lý nhà trường.
Người lãnh đạo trường học, ngoài các năng lực, phẩm chất của một nhà giáo, còn cần phải có tố chất của nhà lãnh đạo và nhà quản lý.
Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trường học là khả năng thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo thẩm quyền; là khả năng thực hiện và hoàn thành công việc được giao, khả năng xử lý tình huống nảy sinh trong môi trường giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trường học là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo cho hoạt động giáo dục đạt kết quả tốt.
Năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng gắn liền với những phẩm chất của cán bộ quản lý. “Năng lực quản lý được hợp thành bởi các năng lực cụ thể như: tầm nhìn chiến lược, năng lực thiết kế, óc thực tiễn, năng lực tổ chức, khả năng điều hành, khả năng đồng cảm”.
Năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng thể hiện tập trung ở việc thực hiện tốt các chức năng quản lý từ việc lập kế hoạch, tổ chức đến chỉ đạo thực hiện và kiểm tra – đánh giá.
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản lý cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của nhà trường
Với tư cách là một tổ chức xã hội, trường học được hình thành để thực hiện mục đích nhất định. Như đã biết, tổ chức là một trong những loại hình cộng đồng cơ bản, cùng với những loại hình cộng đồng khác tạo ra cơ cấu xã hội. Dấu hiệu quyết định (tuy không phải là duy nhất) của tổ chức là mục tiêu. Do đó, có thể xem tổ chức – trường học – là một cộng đồng có mục tiêu. Trường học – tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục – nơi tập hợp những người thực hiện nhiệm vụ chung: dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Với tư cách là một tổ chức, trường học luôn thể hiện tính chuyên môn hóa cao. Điều đó được xác định bởi nhiệm vụ của nó và hoạt động của trường học chỉ có hiệu quả khi nó tập trung vào nhiệm vụ như đã nêu.
Chức năng của trường học với tư cách là một tổ chức làm cho tri thức giáo dục mang lại hiệu quả. Bản thân tri thức giáo dục không tạo nên sản phẩm (con người). Chúng chỉ tạo ra hiệu quả khi gắn vào hệ thống, tức là tri thức được hợp nhất. Thực hiện việc hợp nhất đó là nhiệm vụ của trường học và điều đó là lý do tồn tại của trường học. Và để hiểu rõ vấn đề quản lý trường học, trước hết cần đề cập đến những đặc điểm của trường học với tư cách là một chức [18, tr.20-21] .
Điều 58 Luật Giáo dục năm 2005 quy định Nhà trường có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền;
- Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên; tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên;
- Tuyển sinh và quản lý người học;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật;
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;
- Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục;
- Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội;
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục;
Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Mục tiêu và nguyên tắc quản lý nhà trường
Việc căn cứ vào mức độ thực hiện mục tiêu quản lý nhà trường để xem xét hiệu quả công tác quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Mục tiêu quản lý của nhà trường là những chỉ tiêu cho mọi hoạt động của nhà trường được dự kiến trước khi triển khai những hoạt động đó. Đây là một hệ thống đa cấp, vì tính chất đa dạng, phức tạp của hoạt động đào tạo thế hệ trẻ. Mục tiêu quản lý được cụ thể hóa trong kế hoạch năm học hằng năm của nhà trường. Mục tiêu quản lý theo cách hiểu đó chính là mô hình tư duy của trạng thái sẽ đạt tới của nhà trường cuối năm học, tức là trạng thái có thể có, mong muốn và tất yếu của nhà trường nếu mọi người thực hiện được bản kế hoạch năm học.
Tóm lại, khi nói đến mục tiêu quản lý là nói tới mong muốn, dự kiến, đó cũng là nhiệm vụ – chức năng, cái phải thực hiện trong khi triển khai hoạt động và đồng thời đó cũng chính là cái đạt được (kết quả) khi kết thúc hoạt động.
Đối với nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà trường được hiểu là những nguyên tắc trong tổ chức lao động nói chung như tính khoa học, tính kế hoạch, tính hệ thống, tính kích thích vật chất, tinh thần.
Trường học là một đơn vị sự nghiệp công lập, một công sở; do đó, có thể vận dụng các nguyên tắc trong tổ chức và điều hành công sở để xác định nguyên tắc quản lý trường học, bao gồm:
- Nhóm các nguyên tắc chung: vận dụng trong mọi hoạt động quản lý, điều hành trong mọi tổ chức công cũng như tổ chức tư như: tuân thủ pháp luật, khoa học và hướng tới hiệu lực, hiệu quả.
- Nhóm các nguyên tắc cụ thể: bao gồm công khai, liên tục phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn, đảm bảo dân chủ trong điều hành hay tăng cường sự tham gia của quá trình điều hành và theo kế hoạch, trên cơ sở vận dụng tri thức tâm lý trong quản lý, thích ứng và đổi mới [18, tr.43-46].
1.2.3. Vai trò của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập trong bối cảnh hiện nay Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trong các cơ sở giáo dục nói chung hay các đơn vị trường học nói riêng thì đều là những người cán bộ lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động của nhà trường. Đội ngũ cán bộ quản lý trường học có vai trò tham mưu thực hiện các nhiệm vụ: định hướng cho sự phát triển của nhà trường; tổ chức thực hiện các hoạt động dạy và học, đảm bảo chất lượng giáo dục; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự giám sát, thanh tra, kiểm tra theo quy định; xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Cán bộ quản lý trường học là những người chịu trách nhiệm trước sự ổn định và phát triển của đơn vị, trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của nhà trường. Như vậy, năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý và sự phát triển của nhà trường.
Không chỉ ở góc độ lý luận mà thực tiễn đã chứng minh vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trường học trong việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông. Các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới có được sự thành công chính là dựa trên các yếu tố nhân lực, tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trong các cơ sở giáo dục. Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là điều kiện quan trọng, tiền đề cho việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, ngành giáo dục và đào tạo nước ta đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Bộ Chính trị. Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, yêu cầu nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục càng hết sức cấp thiết.
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý các trường học công lập trực thuộc cấp huyện còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ, khả năng tham mưu, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và việc triển khai các phương pháp quản lý theo xu thế phát triển của thời đại vẫn còn một số hạn chế nhất định.
Theo đánh giá của các chuyên gia giáo dục, năng lực quản lý, trình độ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ này trong thực thi nhiệm vụ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Đội ngũ nhà giáo và cả cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục; thiếu sự chủ động, gặp nhiều khó khăn trong việc phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra từ cơ sở do kiến thức và kỹ năng quản lý còn hạn chế. Trình độ và năng lực điều hành trong quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân, ít ứng dụng khả năng dự báo để xây dựng chiến lược, chương trình cụ thể. Đáng chú ý, kiến thức về pháp luật, tổ chức bộ máy, quản lý nhân sự và quản lý tài chính của đội ngũ cán bộ quản lý trường học đôi khi còn lúng túng trong thực thi trách nhiệm và thẩm quyền.
1.3. Những yêu cầu đặt ra đối với năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập
1.3.1. Yêu cầu về vị trí, vai trò của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng
Theo các quy định, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận. Phó hiệu trưởng thực hiện và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về nhiệm vụ được hiệu trưởng phân công, cùng với hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được giao.
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về việc đảm bảo chất lượng giáo dục ở trường mình. Tuy có các phó hiệu trưởng giúp việc và liên đới chịu trách nhiệm, nhưng hiệu trưởng phải giữ vai trò thủ trưởng, thường xuyên nắm thông tin và có những quyết định kịp thời không để những hiện tượng thiếu trách nhiệm, phản sư phạm xảy ra hoặc tiếp diễn làm tổn hại đến chất lượng giáo dục thế hệ trẻ. Tóm lại, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng là đội ngũ cán bộ quản lý trường học, có vị trí của những người đứng đầu trong bộ máy tổ chức và điều hành của nhà trường, có vai trò kép vừa là những người lãnh đạo vừa là những người quản lý. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Vai trò lãnh đạo của đội ngũ cán bộ quản lý trường học với ý nghĩa định hướng cho nhà trường luôn luôn thay đổi để phát triển bền vững, đó là vai trò: hoạch định sự phát triển của nhà trường; thu hút và phát triển nguồn lực nhà trường (thu hút và phát triển nhân lực, huy động tài chính và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động của nhà trường); thúc đẩy sự phát triển nhà trường (đánh giá, động viên, phát huy thành tích để nhà trường phát triển); duy trì sự phát triển bền vững cho nhà trường).
Vai trò quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trường học với ý nghĩa làm cho nhà trường luôn luôn vận hành ổn định để đạt tới mục tiêu, đó là các vai trò: đại diện cho chính quyền về xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách, điều lệ, quy chế và các quy định về hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục; sắp xếp bộ máy tổ chức, phát triển và điều hành đội ngũ nhân lực, hỗ trợ sư phạm cho giáo viên, quản lý cấp dưới; chủ trì huy động và quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất của nhà trường; tác nhân phối hợp các lực lượng để phát huy thế mạnh và hạn chế các bất thuận của môi trường giáo dục tới các hoạt động của nhà trường; là chủ thể thiết lập và vận hành hệ thống thông tin quản lý giáo dục. của nhà trường.
Các vai trò này hòa quyện với nhau trong việc thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý (xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra).
1.3.2. Yêu cầu về đạt chuẩn hiệu trưởng, phó hiệu trưởng
Hiện nay, việc đánh giá Chuẩn hiệu trưởng của Việt Nam được thực hiện theo Thông tư số 29/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành chuẩn hiệu trưởng trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học; Thông tư số 14/2011/TT-BGDĐT ngày 08/4/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy định chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học; Thông tư số 17/2011/TT-BGDĐT ngày 14/4/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành quy định chuẩn hiệu trưởng trường mầm non.
Theo chuẩn cũ này, có rất nhiều điểm không còn phù hợp. Do đó, với mục tiêu của chuẩn hiệu trưởng, kể cả Phó Hiệu trưởng là tìm được người có đủ năng lực và phẩm chất, góp phần đưa giáo dục cơ sở nâng cao chất lượng thì cần thiết phải dựa trên một bộ chuẩn toàn diện, sâu sắc, chặt chẽ vừa để đổi mới giáo dục, vừa để tìm ra những người đứng đầu có đủ phẩm chất và năng lực, xứng đáng đứng trong hàng ngũ cán bộ quản lý giáo dục.
Trước xu thế phát triển và hội nhập với những yêu cầu ngày càng cao, các hoạt động của nhà trường thay đổi nhanh chóng. Đó là các trường học phải thay đổi từ dạy học truyền thụ nội dung sang phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, lấy học sinh làm trung tâm cho mọi hoạt động. Trường học tự chủ cao hơn và phải chịu trách nhiệm giải trình lớn hơn. Do đó, chuẩn hiệu trưởng mới sẽ tiếp cận “quản lý nguồn nhân lực dựa trên năng lực”. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học phải luôn gắn với việc xác định năng lực của hiệu trưởng, xây dựng khung năng lực và sử dụng khung năng lực đó như một căn cứ quan trọng bậc nhất của công tác quản lý đội ngũ cán bộ quản lý trường phổ thông. Tiếp cận này tập trung vào việc xác định các năng lực cần thiết để đạt được hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của hiệu trưởng. Khung năng lực chỉ ra những năng lực và khả năng tương thích mà mỗi hiệu trưởng cần phải đáp ứng. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Trên cơ sở những đổi mới của Bộ GD&ĐT về dự thảo chuẩn hiệu trưởng trường phổ thông, mầm non, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ lãnh đạo nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới thì các yêu cầu về năng lực của đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng bao gồm:
- Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, gồm 3 tiêu chí: phẩm chất chính trị; đạo đức; lối sống.
- Tiêu chuẩn 2: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ, tin học, gồm 3 tiêu chí: trình độ chuyên môn; nghiệp vụ sư phạm; sử dụng ngoại ngữ và tin học.
- Tiêu chuẩn 3: Năng lực quản trị nhà trường, gồm 8 tiêu chí: lập kế hoạch phát triển nhà trường; Quản lý hoạt động dạy học, giáo dục học sinh; Quản trị tổ chức, hành chính; Quản trị nhân sự; Quản trị tài chính; Quản trị cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục; Quản lý chất lượng giáo dục; Quản lý sự thay đổi, giải quyết vấn đề và ra quyết định.
- Tiêu chuẩn 4: Năng lực xây dựng môi trường giáo dục dân chủ, gồm 2 tiêu chí: Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong trường học;
Xây dựng nếp sống văn hóa trong nhà trường
- Tiêu chuẩn 5: Năng lực phát triển quan hệ xã hội, gồm 3 tiêu chí: Phát triển mối quan hệ với cấp quản lý ngành; Phát triển mối quan hệ với cha mẹ học sinh; Phát triển mối quan hệ với chính quyền địa phương; Phát triển mối quan hệ với các cá nhân, tổ chức xã hội; Thông tin, truyền thông.
Có thể sơ đồ hóa các tiêu chuẩn và tiêu chí của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường học một cách chung nhất như hình:
Theo hình, chuẩn hiệu trưởng, phó hiệu trưởng là hệ thống các yêu cầu cơ bản để:
- Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng tự đánh giá, tự phấn đấu, học tập nâng cao phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục;
- Các cơ quan quản lý giáo dục đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá nhằm xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách phát triển đội ngũ cán bộ quản lý;
- Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý phát triển chương trình và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu học tập của cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục.
1.3.3. Yêu cầu chung về năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Theo phân tích ở trên, có nhiều quan niệm về năng lực của con người, bao gồm các điều kiện cần thiết để tạo ra cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng và hiệu quả như mong muốn. Với cùng một hoạt động được thực hiện trong cùng một môi trường nhưng chất lượng và hiệu quả hoạt động của mỗi con người (chủ thể hoạt động) khác nhau là do năng lực của chủ thể hoạt động. Như vậy, năng lực biểu hiện sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia; đồng thời cũng biểu hiện những khác biệt có liên quan đến chất lượng và hiệu quả thực hiện một hoạt động nào đó trong cùng một môi trường cụ thể.
Việc xác định năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học hiện nay được đặt ra trong bối cảnh đổi mới giáo dục được dựa trên các căn cứ: một là, căn cứ vai trò, vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng nhà trường; hai là, căn cứ các tiêu chí đánh giá năng lực trong Chuẩn hiệu trưởng trường học; ba là, căn cứ vào những tác động của bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội và yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục; bốn là, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế – xã hội thực tiễn của địa phương.
Phối hợp các yếu tố trên, nhất là trên cơ sở các tiêu chí đánh giá chuẩn hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, luận văn tập trung phân tích nhóm các yêu cầu chung về năng lực quản lý của người hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở để đánh giá năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập:
1.3.3.1. Năng lực tổ chức thực thi pháp luật, điều lệ, chủ trương, chính sách quản lý
Các quyết định hành chính sau khi được hoàn thành cần phải tổ chức thực hiện trong đời sống mà đó là nhiệm vụ quan trọng trong các cơ quan nhà nước, chủ trương cơ quan có trách nhiệm triển khai. Để hoàn thành nhiệm vụ này, có nhiều công việc cụ thể phải triển khai và chất lượng của công việc đó lệ thuộc rất nhiều vào kỹ năng của công chức, viên chức quản lý. Chính vì vậy, công chức, viên chức quản lý phải biết cách nắm vững cách thức triển khai công việc trong thực tế là một yêu cầu quan trọng.
Trong số các nội dung cần nghiên cứu để nắm vững khi tổ chức triển khai các quyết định hành chính cần đặc biệt quan tâm đến quy trình của nhiệm vụ này, cụ thể: Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
- Nghiên cứu để nắm vững tính chất, nội dung, yêu cầu của quyết định. Để nắm được tính chất của bản chỉ thị, người triển khai cần có được câu trả lời chính xác cho những câu hỏi sau: xác định nguồn lực cho việc triển khai quyết định; nhiệm vụ đặt ra là phải xác định nguồn lực cho mỗi quyết định mà cơ quan mình phải thực hiện. Cần biết được quyết định được triển khai, thực hiện sẽ cần có những cán bộ như thế nào? Đảm bảo cơ sở vật chất ra sao? Huy động người từ bộ phận nào và nguồn kinh phí cần thiết có thể lấy từ nguồn nào là đúng đắn. Những dự kiến về nguồn lực cho triển khai quyết định cần khách quan, sát thực và phù hợp với tình hình thực tế của cơ quan.
- Xây dựng kế hoạch triển khai: cần xây dựng kế hoạch với các bước đi cụ thể và mục tiêu rõ ràng; cấu trúc của bản kế hoạch thông thường gồm các nội dung chính: mục tiêu, yêu cầu thực hiện quyết định; các bước cụ thể, thời gian tiến hành kiểm tra; phân công trách nhiệm; các điều kiện cần thiết; kết quả đầu ra.
- Tổ chức triển khai quyết định trong thực tế: theo dõi quá trình triển khai kế hoạch đúng theo mục tiêu đề ra, các mệnh lệnh triển khai phải được truyền đạt kịp thời và giải thích rõ ràng cho đối tượng tham gia thực hiện.
- Kiểm tra kết quả và báo cáo cấp trên: đây là bước kết thúc chu trình kiểm tra một quyết định trong thực tế. Yêu cầu các bước này là phải khách quan, trung thực và cụ thể, không báo cáo chung chung, chạy theo thành tích.
Để thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các bước trong việc thực hiện quyết định, đòi hỏi cán bộ quản lý phải có nghiệp vụ, kỹ năng đáp ứng yêu cầu đặt ra.
1.3.3.2. Năng lực lập kế hoạch phát triển trường học
Lập kế hoạch là một quá trình nhằm xác định mục tiêu tương lai, các phương thức thích hợp để đạt mục tiêu đó. Lập kế hoạch là cần thiết. Thứ nhất, do sự bất định của tương lai cho nên việc lập kế hoạch trở nên tất yếu, tương lai càng xa thì việc ra quyết định càng kém chắc chắn. Thứ hai, ngay cả khi tương lai có độ chắc chắn cao thì việc lập kế hoạch vẫn là cần thiết vì nhà hành chính cần phải tìm cách tốt nhất để đạt mục tiêu. Thứ ba, nhà hành chính cần phải đưa ra các kế hoạch cho các bộ phận, các cá nhân trong cơ quan, tổ chức biết để tiến hành công việc.
Các loại kế hoạch trong các đơn vị sự nghiệp nói chung, đơn vị trường học nói riêng thường xây dựng đó là:
- Phân loại theo phạm vi: kế hoạch được chia thành kế hoạch chiến lược và kế hoạch thực thi hay kế hoạch hoạt động.
- Phân loại theo thời gian: theo khuôn khổ thời gian, kế hoạch được phân thành kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Kế hoạch ngắn hạn là kế hoạch có thời gian thực hiện từ 01 năm trở xuống. Kế hoạch dài hạn là kế hoạch có thời gian thực hiện nó từ 05 năm trở lên. Còn kế hoạch có thời gian thực hiện từ trên 01 năm đến dưới 05 năm được gọi là kế hoạch trung hạn.
- Phân loại theo tính cụ thể: khi độ không chắc chắn cao, sẽ đòi hỏi người thực hiện duy trì tính linh hoạt để ứng phó với những thay đổi không lường trước, do đó loại kế hoạch này được gọi là kế hoạch định hướng. Các kế hoạch định hướng xác định những hướng dẫn. Chúng đưa ra trọng tâm nhưng không gò bó người tổ chức thực hiện vào những mục tiêu cụ thể hoặc các đường lối hành động cụ thể. Tính linh hoạt vốn có trong các kế hoạch định hướng là hiển nhiên. Lợi thế này cần được đo lường so với mất mát về tính rõ ràng do các kế hoạch cụ thể mang lại.
- Phân loại theo đối tượng: Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Kế hoạch nhân sự: là kế hoạch xác định nhu cầu nhân sự tương lai cho một cơ quan, tổ chức về số lượng, chất lượng và thời điểm cung cấp và xác định những biện pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu nhân sự đó nhằm đảm bảo cho cơ quan, tổ chức hoàn thành những chức năng, nhiệm vụ của mình.
Kế hoạch tài chính (ngân sách): kế hoạch xác định khả năng thu và nhu cầu chi ngân sách, bao gồm tổng thu, tổng chi và các khoản mục thu, chi trong kỳ ngân sách. Đồng thời, xác định các biện pháp để tận thu và sử dụng các khoản chi ngân sách một cách có hiệu quả.
- Kế hoạch tác nghiệp: là kế hoạch xác định các hoạt động cần phải tiến hành, các nguồn lực và lịch trình thực hiện nhằm hoàn thành tốt một công việc cụ thể.
- Kế hoạch dự án: là kế hoạch để lập và thực hiện một dự án phát triển, bao gồm việc xác định các công việc và hoạt động cần phải tiến hành, cách thức thực hiện, quản lý công việc và nguồn lực cần thiết cho các hoạt động đó nhằm hoàn thành mục tiêu dự án [12, tr.76-79].
Trong công tác quản lý trường học, để thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên, cán bộ quản lý thường có các loại kế hoạch như: kế hoạch chiến lược, kế hoạch tác nghiệp, kế hoạch dự án, kế hoạch hoạt động, kế hoạch công tác năm, kế hoạch công tác tháng, kế hoạch công tác tuần,…
1.3.3.3. Năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế hoạt động
Quy chế là một loại văn bản quản lý nhà nước được chủ thể quản lý xây dựng để quy định cụ thể về trách nhiệm, quyền hạn, quan hệ và cách thức phối hợp giữa cá nhân và đơn vị trong thực thi công vụ và quy định về một số chế độ công tác cụ thể. Nội dung của quy chế là những quy định, những chuẩn mực mà chủ thể quản lý, trong phạm vi thẩm quyền của mình, đặt ra buộc các đối tượng trong phạm vi quản lý tham gia vào quá trình hoạt động phải tuân thủ chặt chẽ.
Trong các đơn vị trường học, thường ban hành những quy chế như: quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế sử dụng trang thiết bị, quy chế khen thưởng, kỷ luật, quy chế hoạt động công đoàn, quy chế hoạt động của hội đồng sư phạm nhà trường,…
1.3.3.4. Năng lực quản lý và sử dụng nguồn nhân lực
Nhân sự trong các đơn vị sự nghiệp trường học thực chất là nguồn nhân lực trong một tổ chức. Đó là tổng số công chức, viên chức có trong danh sách, hoạt động theo nhiệm vụ của tổ chức được tổ chức trả lương.
Quản lý nguồn nhân lực trong một tổ chức là một loạt những quyết định tổng hợp hình thành nên mối quan hệ về việc làm. Chất lượng của những quyết định đó góp phần trực tiếp vào khả năng của tổ chức và của các công nhân viên đạt được những mục tiêu của tổ chức. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Trong chiến lược phát triển đơn vị sự nghiệp, xây dựng kế hoạch nhân lực giữ vai trò trung tâm trong quản lý chiến lược nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập. Xây dựng kế hoạch nhân lực là cơ sở cho các hoạt động định biên nhân lực, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, duy trì và phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và nhân viên trong đơn vị. Đây chính là lực lượng quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Từ đó tạo cơ hội để mọi nhân viên làm việc tốt hơn và gắn bó với đơn vị.
Bên cạnh việc xây dựng kế hoạch nhân lực của đơn vị trường học, cán bộ quản lý còn tham gia với các cơ quan có thẩm quyền trong các công tác: tuyển dụng nhân lực (quan trọng là tham mưu xác định vị trí tuyển dụng phù hợp với cơ cấu định biên được giao); sử dụng hiệu quả nhân lực trong đơn vị (khả năng phân công, hợp tác lao động; kiểm soát hoạt động và kỷ luật lao động; chế độ làm việc và nghỉ ngơi; khuyến khích động viên hoạt động của nhân viên; tổ chức tốt môi trường làm việc); nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân viên và tạo động lực phát triển cho đội ngũ nhân viên.
1.3.3.5. Năng lực quản lý tài chính, tài sản công
Để đánh giá được năng lực đội ngũ cán bộ quản lý trường học thì trước hết cần xác định rõ các nguồn tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Nguồn thu tài chính của đơn vị sự nghiệp nói chung, các đơn vị trường học công lập nói riêng chủ yếu bao gồm:
- Nguồn thu từ ngân sách nhà nước: các khoản thu này dựa trên quy định của Nhà nước.
- Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp công: đó là những khoản thu phí thuộc ngân sách nhà nước, những khoản thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ công được để lại đơn vị, trong đó khoản thu từ phí và lệ phí chiếm tỷ lệ lớn.
- Nguồn thu khác của đơn vị sự nghiệp công: bao gồm nhưng khoản thu từ các dự án viện trợ, quà biếu tặng và những khoản thu theo quy định của pháp luật.
Quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tài chính trong đơn vị để đạt được những mục tiêu đã định [12, tr.124].
Năng lực quản lý tài chính, tài sản công của người quản lý là tùy theo tính chất hoạt động, loại hình tự chủ của đơn vị, có trách nhiệm trong giới hạn quyền hạn của mình sử dụng tài sản đúng quy định của nhà nước về tiêu chuẩn mua sắm bàn ghế, máy móc, trang thiết bị, sử dụng điện thoại; tổ chức lấy ý kiến xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá việc sử dụng tài sản, kiểm kê tài sản; theo dõi, đôn đốc việc thực hành tiết kiệm, gương mẫu trong sử dụng tài sản của đơn vị được giao quản lý, sử dụng. Tùy theo tính chất công việc được giao, chủ trì xây dựng kế hoạch mua sắm trang bị tài sản mới với mục đích chính là hoàn thành công việc được giao.
1.3.3.6. Năng lực quản lý sự thay đổi, giải quyết vấn đề và ra quyết định
- Năng lực quản lý sự thay đổi Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Năng lực quản lý sự thay đổi có thể được xem là năng lực sáng tạo, quyết đoán trong hoạt động quản lý, điều hành cơ quan, đơn vị. Trước những yêu cầu của cải cách hành chính ngày càng trở nên cấp bách, quá trình hội nhập quốc tế đang hướng tới toàn cầu và sự hợp tác nhiều mặt đã đi vào chiều sâu, nhất là tác động từ khu vực kinh tế đòi hỏi có sự đổi mới về cơ chế quản lý đối với các cơ quan sự nghiệp công lập. Trong giai đoạn xã hội hóa đối với đơn vị sự nghiệp thì cạnh tranh trong đời sống của thế giới hiện đại bắt buộc các tổ chức phải vận động không ngừng trong dòng chảy liên tục của những thay đổi. Hầu hết mọi tổ chức đều bị thúc bách bởi cải cách hoặc thay đổi nhằm thích nghi với hoàn cảnh mới. Trường học là các đơn vị sự nghiệp cũng là đối tượng chịu sự tác động của sự thay đổi trước những tác động của các nguyên nhân chủ quan và khách quan, thay đổi về quản lý tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản nhằm duy trì và phát triển bền vững.
Công việc của cán bộ quản lý là tổ chức thực hiện quản lý sự thay đổi, từ việc xây dựng kế hoạch quản lý sự thay đổi, xác định mục tiêu cho quản lý sự thay đổi, xác định danh mục những việc cần làm và phân công trách nhiệm cho nhân viên đảm nhận nhằm đảm bảo cho tổ chức hoạt động bình thường. Ngoài ra, vấn đề cán bộ quản lý cần quan tâm là việc tuyên truyền, giải thích về sự thay đổi đến với toàn thể đội ngũ nhân viên. Thông tin và đảm bảo thông tin thông suốt là một trong những công việc quan trọng của công tác quản lý quá trình thay đổi.
- Giải quyết vấn đề và ra quyết định
Giải quyết vấn đề và việc ra quyết định quản lý là một trong các hoạt động thường xuyên không thể thiếu của bất kỳ nhà quản lý nào bất kể sự phân biệt về cấp bậc quản lý, phạm vi hoạt động. Đó là quy trình nhận thức khác nhau như quyết định bằng văn bản hay quyết định bằng lời nói. Tuy nhiên, các quyết định quan trọng thường được thực hiện dưới hình thức văn bản.
Ra quyết định là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là một trong những chức năng chủ yếu của nhà quản lý, thông qua các quyết định của mình, nhà quản lý thể hiện ý chí, định hướng của mình tác động tới sự vận đọng và phát triển của đối tượng quản lý, quyết định tới sự tồn tại và sự phát triển của tổ chức mà họ quản lý. Ban hành quyết định chuẩn xác và hợp lý trở thành một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá năng lực của một nhà quản lý giỏi. Một quyết định quản lý nói chung được coi là một quyết định tốt khi nó đảm bảo được hai nhóm yêu cầu cơ bản là yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý.
1.3.3.7. Năng lực xây dựng văn hóa công sở Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
VHCS là tổng hòa những giá trị hữu hình và vô hình bao gồm: Trình độ nhận thức, phương pháp tổ chức, quản lý, môi trường cảnh quan, những phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp, phong cách giao tiếp ứng xử của CBCC,VC và sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố đó để xây dựng một môi trường công sở văn minh, lịch sự, hoạt động đúng pháp luật, hiệu quả cao. Xây dựng Văn hóa công sở là xây dựng lề lối, nề nếp làm việc khoa học, có trật tự kỷ cương, tuân theo những nội quy, quy định chung nhưng không mất đi tính dân chủ. Nó đòi hỏi nhà lãnh đạo, quản lý cũng như các thành viên của cơ quan phải quan tâm đến hoạt động chung của cơ quan mình. Muốn như thế CBCC,VC phải tôn trọng kỷ luật cơ quan, phải chú ý đến danh dự của cơ quan trong cư xử với mọi người, đoàn kết và hợp tác trên những nguyên tắc chung.
VHCS có vai trò quan trọng trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính sự nghiệp cũng như trong thực thi nhiệm vụ của CBCC,VC. Xây dựng Văn hóa công sở tiến bộ, văn minh, hiện đại sẽ góp phần tạo nên nề nếp làm việc khoa học, có kỷ cương, dân chủ tạo được sự đoàn kết và chống bệnh quan liêu, cửa quyền. Môi trường Văn hóa công sở tốt đẹp sẽ tạo được niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan công quyền, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, công tác cải cách hành chính. Làm cho CBCC,VC hoàn thiện mình, phát huy hết năng lực, khuyến khích họ hăng say với công việc, mỗi người công chức đều thấy rõ trách nhiệm của mình và luôn tự nguyện làm tròn nhiệm vụ, hoàn thành tốt phần việc được giao, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh.
1.3.3.8. Năng lực tổ chức kiểm tra, đánh giá
- Hoạt động kiểm tra
Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản lý và là một công việc thường xuyên, quan trọng của bất kỳ một nhà quản lý nào. Đây là chức năng có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng tới kết quả thực hiện các chức năng khác.
Trong đời sống hằng ngày, thuật ngữ kiểm tra được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa hẹp, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác minh một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không phù hợp với mục đích định trước. Theo nghĩa này, chủ thể kiểm tra (thường là thủ trưởng cơ quan) có thể áp dụng các hình thức kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính hay buộc phải áp dụng một số biện pháp ngăn chặn hành chính. Theo nghĩa rộng, kiểm tra chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng và của công dân nhằm kiểm tra hoạt động của bộ máy nhà nước. Ở nghĩa này, tính quyền lực nhà nước trong kiểm tra bị hạn chế vì các chủ thể thực hiện kiểm tra không có quyền áp dụng trực tiếp các biện pháp cưỡng chế nhà nước như trường hợp trên.
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét nhằm chỉ hoạt động của các chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra. Hoạt động kiểm tra do nhiều chủ thể tiến hành (có thể là nhà nước hoặc các tổ chức hoặc có thể là hoạt động do thủ trưởng cơ quan tiến hành trong nội bộ đơn vị).
Nguyên tắc đặc thù của hoạt động kiểm tra là: đảm bảo chính xác, khách quan; công khai, minh bạch và đúng pháp luật.
Về hình thức kiểm tra, căn cứ vào phạm vi, quy mô của cuộc kiểm tra có kiểm tra toàn diện và kiểm tra chuyên đề, vụ việc; căn cứ vào kế hoạch kiểm tra có kiểm tra theo chương trình, kế hoạch và kiểm tra đột xuất.
Để tiến hành kiểm tra, không thể không sử dụng các công cụ kiểm tra như: văn bản pháp luật, kế hoạch kiểm tra, hồ sơ tài liệu về vụ việc, biên bản, mẫu văn bản trong quá trình thực hiện kiểm tra.
- Hoạt động đánh giá
Mục đích đánh giá kết quả thực hiện công việc của đơn vị để biết được chất lượng, hiệu quả của từng hoạt động, thông qua đó đánh giá năng lực, trình độ và ý thực trách nhiệm của cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, đánh giá kết quả hoạt động thực hiện công việc để tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng, kỷ luật.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Năng lực là khả năng làm việc tốt hay là phẩm chất, tâm sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Trên thực tế, năng lực của chủ thể phụ thuộc nhiều yếu tố, từ trình độ, nhận thức, kỹ năng, phương pháp làm việc, giao tiếp, sức khỏe…
Để giải quyết công việc đảm bảo tính hiệu quả, đòi hỏi cán bộ quản lý trường học phải có bản lĩnh vững vàng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức thực tế nhất định về lĩnh vực giáo dục, am hiểu về công tác quản lý giáo dục.
1.4.1. Các yếu tố chủ quan
1.4.1.1. Về trình độ
- Trình độ học vấn
Là nền tảng cho quá trình nhận thức, tiếp thu chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, nhất là giáo dục và đào tạo. Hạn chế về trình độ học vấn sẽ hạn chế khả năng nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện các văn bản của ngành; cản trở việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đội ngũ này. Vì vậy, trình độ học vấn là một trong những tiêu chí không thể thiếu khi đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý trường học. Đây là yếu tố có sự ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản lý, điều hành công việc.
- Trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước
Trình độ lý luận chính trị sẽ giúp cán bộ quản lý trường học xây dựng được lập trường, tư tưởng, quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc liên quan đến hoạt động của ngành, của đơn vị. Với tình hình, bối cảnh giáo dục và đào tạo giai đoạn hiện nay, sự tác động của yếu tố kinh tế thị trường, của yếu tố bên ngoài cả tiêu cực, tích cực thì vai trò của lập trường, tư tưởng chính trị, lối sống của đội ngũ cán bộ quản lý ngành giáo dục càng phải được coi trọng. Trong thực tế, đã có một bộ phận nhà giáo, cán bộ quản lý có biểu hiện sa ngã trước cám dỗ của kinh tế thị trường, của yếu tố bên ngoài, đánh mất vị trí, hình ảnh và năng lực của nhà quản lý. Đứng trước tình hình đó, vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị là rất cần thiết, tạo nền tảng cho nhận thức, hành động đúng đắn cho những người đảm nhiệm vị trí là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường học.
Hoạt động quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Để thực hiện tốt hoạt động này thì không chỉ dựa vào kinh nghiệm mà phải có đủ hệ thống lý luận và thực tiễn quản lý. Vấn đề đặt ra là đội ngũ cán bộ quản lý phải qua trường lớp đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về những kiến thức cơ bản quản lý nhà nước để vận dụng kỹ năng, phương pháp quản lý vào hoạt động quản lý của đơn vị. Trên thực tế, có những người có nhiệt huyết, sức khỏe, hiểu biết nhưng thiếu kinh nghiệm quản lý thì năng lực hoạt động của họ bị hạn chế và gặp không ít khó khăn trong công việc. Vì vậy, kiến thức quản lý nhà nước không phải là nội dung bồi dưỡng bắt buộc nhưng lại là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng.
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Đây là trình độ được đào tạo ở các lĩnh vực khác nhau theo các cấp độ từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học. Đây là những kiến thức nền tảng rất cơ bản và cần thiết cho mỗi người trong quá trình hoạt động nghề nghiệp và hoạt động quản lý.
- Kiến thức thực tế
Kiến thức thực tế có vai trò quan trọng đối với mỗi người, càng quan trọng đối với những người quản lý trong ngành giáo dục. Nếu chỉ có kiến thức về lý luận mà không có kiến thức thực tế thì quá trình giải quyết công việc dẫn đến rập khuôn, máy móc. Thực tế đời sống xã hội và quá trình quản lý là muôn hình muôn vẻ, vì vậy cần có kiến thức về thực tế công tác quản lý nói chung và lĩnh vực giáo dục đào tạo nói riêng để linh hoạt trong quá trình giải quyết công việc cụ thể.
- Tác phong, phương pháp làm việc
Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trường học còn được đánh giá thông qua tác phong làm việc. Yêu cầu về tác phong làm việc của cán bộ quản lý là phải biết kết hợp chặt chẽ tính nguyên tắc với sự linh hoạt trong xử lý công việc; biết tiếp thu, lắng nghe, cởi mở với cấp dưới và những ý kiến của những người xung quanh; ra quyết định phải dựa trên tình hình thực tiễn, kịp thời, hiệu quả.
Phương pháp làm việc là việc tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Trình độ và phương pháp hoạt động là hai mặt thể hiện năng lực của cán bộ quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Sự hiểu biết giúp họ giải quyết công việc theo đúng thẩm quyền, đúng quy định; phương pháp làm việc giúp họ giải quyết công việc thấu tình đạt lý, khơi dậy sự đồng thuận, ủng hộ của mọi người cùng tham gia để hoàn thành tốt công việc được giao. Ngược lại nếu không có phương pháp hoạt động hợp lý sẽ làm cho công việc trở nên phức tạp, nhiều lúc gây ra những mâu thuẫn không đáng có.
- Sức khỏe, thể chất, tâm lý
Sức khỏe con người được đánh giá qua nhiều tiêu chí, song tiêu chí căn bản đó là thể lực và trí lực. Thể lực được đánh giá thông qua thể trạng sức khỏe của mỗi người, trí lực được đánh giá thông qua sự minh mẫn, linh hoạt, khả năng làm việc tốt. Nếu chỉ có trình độ chuyên môn mà không có sức khỏe thì không thể biến năng lực chuyên môn thành hoạt động thực tiễn. Vì vậy, sự phát triển bình thường về thể chất và tâm lý trong một cơ thể khỏe mạnh cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục.
1.4.2. Các yếu tố khách quan Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
- Chính sách tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng
Việc được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sẽ có điều kiện để tích lũy kiến thức phục vụ cho công tác quản lý. Do đó, các chủ trương, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý là một yếu tố cần thiết. Ngoài ra, cơ quan quản lý cần có các cơ chế, chính sách hỗ trợ để cán bộ quản lý tham gia học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng thì chế độ tiền lương theo quy định là một trong những công cụ quan trọng để góp phần nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động nói chung.
- Tác động của môi trường quản lý
Công cuộc đổi mới đất nước đang diễn ra, vấn đề về cải cách hành chính đang được chú trọng, cùng với đó thì sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang có những thay đổi đáng kể; các trường học đã chuyển sang trạng thái mở cửa rộng rãi, gần gũi với xã hội, gắn bó chặt chẽ với công nghệ và ứng dụng thông tin; sự tác động của nền kinh tế thị trường là những vấn đề trực tiếp tác động đến năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng. Bên cạnh đó, sự xâm nhập của một số xu hướng văn hóa ở các nước tiên tiến đã khiến cho một số bộ phận học sinh có tư tưởng chạy theo cái mới mà quên mất tạo dựng và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Điều này đã tác động không nhỏ đến các trường hiện nay.
Vấn đề quan trọng hiện nay là giúp học sinh rèn luyện kỹ năng sống và trau dồi kiến thức. Trong khi hiện nay biện pháp quản lý chưa phù hợp với thực tiễn tình hình. Chính những đòi hỏi này đặt ra vấn đề cấp bách cần tăng cường xây dựng cán bộ quản lý ở trường học nói chung. Chỉ có thể nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng mới tạo nên chất lượng giáo dục, tránh được nguy cơ tụt hậu về kiến thức và năng lực, cập nhật thông tin.
1.5. Kinh nghiệm phát triển năng lực quản lý cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trong nước và thế giới
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là nội dung quan trọng đã được Chính phủ quy định chi tiết tại các văn bản quy phạm pháp luật, đang được nghiên cứu, sửa đổi phù hợp, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Theo đó, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương được nêu rõ, cụ thể nhằm phân công, phân cấp và xác định thẩm quyền về lĩnh vực giáo dục của các bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan liên quan, đồng thời phát huy cao nhất tính chủ động, sáng tạo của cơ quan quản lý giáo dục trong việc thực hiện chức trách và nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, do đặc thù về lĩnh vực, đối với việc phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đòi hỏi phải có những chủ trương, giải pháp phải mang tính hệ thống, đồng bộ của cả một quốc gia nên trên thực tế chưa có nhiều chia sẻ cụ thể về nội dung kinh nghiệm của từng địa phương ở nước ta liên quan đến nâng cao, phát triển năng lực cho cán bộ quản lý giáo dục. Vì vậy, tác giả khó có thể trình bày được những kinh nghiệm nâng cao năng lực quản lý cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các cơ sở giáo dục của địa phương nào mà chỉ nêu ra được một vài mô hình trong khu vực là các quốc gia lân cận để từ đó rút ra những kinh nghiệm, đề xuất, kiến nghị xây dựng giải pháp cụ thể nâng cao năng lực quản lý cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng địa phương mình.
1.5.1. Kinh nghiệm phát triển năng lực cán bộ quản lý giáo dục một số nước trong khu vực ASEAN Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Trước xu thế thời đại cũng như bối cảnh đổi mới giáo dục đào tạo, chuyên gia nghiên cứu về giáo dục nước ta cho rằng, Việt Nam cần nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các nước trong khu vực và quốc tế để có thể hội nhập và vươn ra thế giới. Việt Nam có thể tham khảo và học tập kinh nghiệm các quốc gia trong khu vực ASEAN.
- Singapore phát triển cán bộ quản lý một cách hệ thống
Ở Singapore, từ việc xác định vai trò quan trọng của hiệu trưởng trong việc thực hiện mục tiêu “mang đến một sự giáo dục tốt nhất cho học sinh”, Singapore đã xây dựng chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng trên cơ sở tích hợp từ các chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng tiên tiến trên thế giới.
Singapore thực hiện bồi dưỡng phát triển cán bộ quản lý trường học một cách hệ thống từ tổ trưởng chuyên môn đến phó hiệu trưởng và đến hiệu trưởng. Các hiệu trưởng phải được bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm. Khi nhậm chức, họ lại được bồi dưỡng thường xuyên hàng năm với các chuyên đề cập nhật hoặc học tập thông qua các chuyến thực tế trong và ngoài nước. Việc bồi dưỡng hiệu trưởng của Singapore được đặt trọng tâm vào các vấn đề đề giúp hiệu trưởng thực hiện tốt vai trò lãnh đạo chuyển đổi trường học như: hoạch định chiến lược, lãnh đạo quản lý sự thay đổi, huy động nguồn lực phát triển nhà trường, xây dựng văn hóa trường học và giáo dục toàn diện học sinh.
Trong số các chương trình đào tạo ở bậc đại học và sau đại học của Singapore, có chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo giáo dục dành cho các hiệu trưởng tương lai. Chương trình này luôn được điều chỉnh cho phù hợp với việc chuẩn bị đội ngũ lãnh đạo cho nền giáo dục năng động.
- Thái Lan bồi dưỡng hiệu trưởng theo hướng tự chủ
Thái Lan chú trọng bồi dưỡng hiệu trưởng trường học để giúp họ có khả năng quản lý nhà trường một cách tự chủ. Họ thực hiện các nghiên cứu để xác định các năng lực mà hiệu trưởng cần có để tiến hành cải cách giáo dục. Đồng thời họ cũng chỉ rõ các chỉ báo để xem xét hoạt động quản lý nhà trường. Theo đó, Thái Lan cũng đặt ra yêu cầu đối với các cơ sở có nhiệm vụ bồi dưỡng hiệu trưởng phải xây dựng các chương trình bồi dưỡng cụ thể và tổ chức hoạt động giảng dạy, học tập để giúp hiệu trường có được các năng lực đó. Các khóa bồi dưỡng hiệu trưởng được thực hiện trên cơ sở khảo sát thực tiễn và nhu cầu của hiệu trưởng. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
- Malaysia, cán bộ quản lý của tất cả các cấp học đều được bồi dưỡng
Ở Malaysia, Chính phủ quyết tâm đưa giáo dục của đất nước mình trở thành một nền giáo dục xuất sắc trên thế giới. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng cơ sở vật chất dạy và học, Malaysia rất chú trọng nguồn lực giáo viên và huấn luyện cán bộ quản lý trường học. Kế hoạch quốc gia đã xác định mục tiêu trong việc thúc đẩy hiệu trưởng trở thành những nhà lãnh đạo có tầm nhìn hướng tới hệ thống giáo dục đẳng cấp thế giới bằng cách phát triển tối đa tiềm năng của cá nhân để đạt được sự xuất sắc. Tất cả các hiệu trưởng, cán bộ quản lý của tất cả các cấp học của Malaysia đều được bồi dưỡng và đào tạo ngắn hạn tại Viện Quản lý và lãnh đạo giáo dục quốc gia Malaysia. Toàn bộ kinh phí khóa học bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên và cán bộ quản lý đều được Chính phủ tài trợ.
Trong quá trình học, các học viên được cập nhật những tri thức mới về chuyên môn và quản lý, đồng thời họ được đi thực tế tham quan và khảo sát các cơ sở giáo dục. Kết thúc khóa học, tất cả các học viên phải báo cáo trước Viện về những tri thức thu được và bài học kinh nghiệm…Trong đó lĩnh vực tổ chức và quản lý nhà trường có nhiều chuyên đề nhất. Các chuyên đề được đánh giá là quan trọng như: Văn hóa nhà trường; Tầm nhìn; Quản lý sự thay đổi; Quản lý nguồn lực; Chiến lược và các chính sách phát triển nhà trường…; Một số chuyên đề được cho là ít quan trọng hơn gồm: Thu hút giáo viên về trường; Kỷ luật và sa thải giáo viên nhân viên; Những vấn đề về cơ sở vật chất nhà trường.
1.5.2. Kinh nghiệm phát triển năng lực cán bộ quản lý giáo dục trong nước
Ở các tỉnh, thành nước ta, những kinh nghiệm rút ra để xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trường học đáp ứng yêu cầu về năng lực đó là:
- Tăng cường sự phối hợp giữa trường, học viện bồi dưỡng giáo dục với các cơ sở đào tạo để làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các cấp học và nhu cầu phát triển năng lực theo chuẩn nghề nghiệp.
- Tiến hành rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp để làm cơ sở cho việc sắp xếp, bố trí lại đáp ứng yêu cầu đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo chuẩn về trình độ.
- Thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ, đảm bảo mở rộng nguồn giới thiệu và luôn đảm bảo những cán bộ được đưa vào quy hoạch đều được trải qua quá trình tập sự, được đào tạo, bồi dưỡng;
- Tiến hành đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho lực lượng kế cận trước khi bổ nhiệm.
- Xây dựng tiêu chuẩn quy hoạch và tiêu chuẩn bổ nhiệm rõ ràng, minh bạch. Trong đó có các tiêu chí về tầm nhìn, tư duy và kỹ năng lãnh đạo. Các tiêu chuẩn dần được xây dựng khoa học, linh hoạt, cụ thể và phù hợp với thực tiễn, hạn chế tối đa các tiêu chuẩn cảm tính. Đồng thời tránh máy móc trong lựa chọn giới thiệu cán bộ quy hoạch.
- Thực hiện bổ nhiệm cán bộ thông qua cơ chế thi tuyển công khai, áp dụng đối với các chức danh lãnh đạo quản lý ngành giáo dục đào tạo. Thực hiện gắn việc xếp loại, đánh giá với điều động, luân chuyển cán bộ quản lý, giáo viên. Tiếp tục củng cố và tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng, nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc đánh giá cán bộ quản lý, giáo viên hằng năm. Thời gian qua, không chỉ ở Sở GD&ĐT, các quận, huyện thuộc một số tỉnh, thành trên cả nước như: Khánh Hòa, Quảng Nam, Quảng Ninh, Hà Tĩnh và thành phố Đà Nẵng… đã tổ chức thi tuyển các chức danh hiệu trưởng, hiệu phó ở một số đơn vị trường học trên địa bàn.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, yêu cầu đổi mới giáo dục đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản trong phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Cán bộ quản lý giáo dục nói chung, cán bộ quản lý trường học nói riêng cần có những năng lực mới, đáp ứng nhiệm vụ quản lý nhà trường. Ngoài các năng lực, phẩm chất của một nhà giáo, còn cần phải có tố chất của nhà lãnh đạo và nhà quản lý để có thể trực tiếp quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường, vừa chịu trách nhiệm với cấp trên, với ngành giáo dục, với địa phương về xã hội hóa giáo dục.
Trong Chương 1, luận văn đã xác định rõ các khái niệm liên quan và khái niệm công cụ của đề tài Năng lực quản lý hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học công lập; đồng thời, luận văn xác định nhóm các yêu cầu chung về năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường học; những yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến năng lực quản lý được tác giả xác định là những nội dung quan trọng nhằm phát triển năng lực quản lý cho đội ngũ này.
Hiện nay, nước ta đặc biệt quan tâm đến vai trò lãnh đạo của cán bộ quản lý trường học và tập trung vào lãnh đạo sự thay đổi trong nhà trường. Cùng với sự tác động của các chính sách, quy định của nhà nước thì kinh nghiệm thực tiễn, quá trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ sẽ phát huy được năng lực quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Luận văn: Năng lực quản lý ở các trường học công lập.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng năng lực quản lý ở các trường học công lập

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp năng lực quản lý ở các trường học công lập