Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập với một xã hội không ngừng biến đổi như hiện nay đòi hỏi con người ngoài việc nắm vững tri thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, có phẩm chất tốt thì cần phải có kỹ năng sống tốt, kỹ năng hòa nhập. Mục tiêu giáo dục không chỉ giúp con người học để biết, học để làm, học để làm người mà còn học để cùng chung sống. Do vậy, các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm đến vấn đề GDKNS cho thế hệ trẻ, trong đó có học sinh tiểu học. Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Mặt khác, muốn thành công và sống có chất lượng trong xã hội hiện đại, con người phải có kỹ năng sống. Kỹ năng sống vừa mang tính xã hội vừa mang tính cá nhân. GDKNS trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ trong giáo dục nhân cách toàn diện.
Nội dung GDKNS đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào giáo dục cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau. Chương trình hành động Dakar về Giáo dục cho mọi người (Senegal- 2000) đã đặt ra trách nhiệm cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học tiếp cận với chương trình GDKNS phù hợp và kỹ năng sống cần được coi như một nội dung của chất lượng giáo dục.
Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển cuả người học, giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống, đó là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống.
Mục tiêu giáo dục phổ thông đã và đang chuyển hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh. Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã và đang đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Nội dung GDKNS đã được tích hợp trong một số môn học và hoạt động giáo dục có tiềm năng trong trường phổ thông; việc GDKNS cho học sinh phổ thông còn được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng chống HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng tránh tai nạn thương tích. Tuy nhiên, việc tích hợp GDKNS vào nội dung môn học, thông qua hoạt động giáo dục nào, bằng phương pháp nào, thời lượng, cơ cấu chương trình và cách tổ chức thực hiện ra sao vẫn là những câu hỏi đặt ra đòi hỏi phải giải đáp.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp cao học quản lý.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDKNS tại trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học tại trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
4. Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học tại trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục trong bối cảnh hiện nay?
5. Giả thuyết khoa học
Việc tổ chức hoạt động GDKNS cho HS trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng đã đạt được những kết quả nhất định song vẫn còn bộc lộ một số hạn chế. Nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý thì kết quả GDKNS cho học sinh sẽ hiệu quả hơn.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học
6.2. Khảo sát và phân tích thực trạng quản lý hoạt động GDKNS cho HS trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
6.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDKNS cho HS Trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội phù hợp với xu thế đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7.1. Giới hạn thời gian khảo sát
Thời gian khảo sát trong năm học 2015 -2016
7.2. Giới hạn về khách thể khảo sát
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1. Ý nghĩa lý luận:
Tổng kết lý luận về công tác quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học tại trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số phương pháp quản lý hiệu quả hơn cho hoạt động này.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường Tiểu học Đồng Tâm cũng như các trường Tiểu học khác trong Quận Hai Bà Trưng đạt hiệu quả hơn.
9. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
9.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Thông qua việc đọc các tài liệu về quản lý KNS của hiệu trưởng trường TH, phân tích và tổng hợp các lý thuyết nhằm hiểu biết sâu sắc về bản chất của vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết: Sử dụng phương pháp này để sắp xếp các thông tin thành những đơn vị có cùng dấu hiệu bản chất, từ đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
9.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý của Ban giám hiệu, việc triển khai KNS của GV và sự tham gia của HS, các hoạt động của HS ở trong và ngoài nhà trường.
Phương pháp điều tra: Bằng phiếu hỏi với các loại câu hỏi đóng, mở dành cho các đối tượng khác nhau (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, GVCN, GV bộ môn, TPT, CMHS)
Phương pháp phỏng vấn: Trò chuyện, tọa đàm trao đổi với phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, GV và HS.
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về các vấn đề mà đề tài đề cập.
Phương pháp khảo nghiệm.
9.3. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được sẽ xử lý bằng thống kê toán học và các phần mềm chuyên dùng.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận – khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Từ xa xưa, Kỹ năng sống và vấn đề GDKNS cho con người đã quan tâm như:“học ăn, học nói, học gói, học mở”, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên nhiên,… Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có P.Ia.Galperin, V.A.Cruchetxki, A.V.Petrovski, …
P.Ia.Galperin trong các công trình nghiên cứu của mình chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lí thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, các nhà nghiên cứu kỹ năng ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau như kỹ năng lao động gắn với những tên tuổi các nhà tâm lí – giáo dục như V.V.Tseburseva; kỹ năng học tập gắn với G.X.Cochiuc, N.A.Menchinxcaia; kỹ năng hoạt động sư phạm gắn với những tên tuổi X.I.Kixegops…
KNS có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước …
GDKNS ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách tiếp cận nội dung quan tâm đến cách giáo dục HIV/AIDS được tích hợp trong chương trình giáo dục chính quy. Năm 2001, GDKNS ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khỏe sinh sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trường …Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
GDKNS ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của con người, kỹ năng làm việc vì vậy GDKNS được triển khai theo hướng là giáo dục các kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ năng nghề nghiệp.
GDKNS ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sống trong đời sống gia đình.
Ấn Độ: GDKNS cho học sinh được xem xét dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần nhằm phát triển năng lực con người. Các KNS được khai thác giáo dục là các kỹ năng: Giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân cách…
Năm 1996, thuật ngữ “kỹ năng sống” bắt đầu được biết đến ở Việt Nam qua chương trình của UNICEF “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do các chuyên gia Australia tập huấn.
Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu với một nội hàm đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23 đến 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó, người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về KNS.
Từ năm học 2002 – 2003, ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông (Tiểu học và Trung học cơ sở) trong cả nước. Trong chương trình tiểu học đổi mới đã hướng đến GDKNS thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: Giáo dục đạo đức, Tự nhiên và xã hội (ở lớp 1 – 3), và môn Khoa học (ở lớp 4, 5). KNS được giáo dục thông qua một số chủ đề “Con người và sức khỏe”. Đề tài cấp bộ Ts. Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu về thực trạng KNS cho học sinh và đề xuất một số giải pháp GDKNS cho học sinh.
Nhìn chung GDKNS cho con người nói chung, cho học sinh nói riêng đã được các nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm khai thác, nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau. GDKNS và việc quản lý hoạt động GDKNS cho người học trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo dục các nước. Việc quản lý GDKNS cho học sinh đặc biệt là học sinh tiểu học (lứa tuổi đang hình thành và phát triển nhân cách) là vấn đề cấp thiết hiện nay của tất cả các quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Ở Việt Nam, đã có khá nhiều Luận án, Luận văn nghiên cứu về GDKNS và quản lý hoạt động GDKNS cho HS với nhiều lứa tuổi khác nhau, ở những địa bàn khác nhau. Việc nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh trường Tiểu học Đồng Tâm đang đặt ra nhiều vấn đề cụ thể cần tìm hiểu. Vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài: Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1.Quản lý
Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:
- Định nghĩa quản lý một cách kinh điển nhất là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [18, tr.9]. Bất cứ một xã hội nào cũng được xem như là một hệ quản lý: một nhà máy, một xí nghiệp, một trường học hay một quốc gia…Mỗi hệ quản lý bao gồm hai bộ phận gắn bó khăng khít với nhau:
- Trong quản lý chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Khi mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ thể quản lý.
- Từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu ta có thể hiểu: Quản lý là tác động có định hướng có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu đã định và làm cho nó vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất. [19, tr.9] .
- Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống các chức năng quản lý bao gồm 8 vấn đề sau: xác định nhu cầu – thẩm định và phân tích dữ liệu – xác định mục tiêu kế hoạch hoá (bao gồm cả phân công trách nhiệm, phân phối các nguồn lực, lập chương trình hành động ) – triển khai công việc – điều chỉnh – đánh giá – sử dụng liên hệ và tái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo.
- Theo quan điểm quản lý hiện đại, từ các hệ thống chức năng quản lý nêu trên, có thể khái quát một số chức năng cơ bản sau:
- Kế hoạch hóa là một chức năng quản lý. Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp,cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. [19,tr.12]
- “Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực”. [19, tr.13]
- “ Chỉ đạo ( lãnh đạo) bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt dược mục tiêu của tổ chức” [19, tr.13] “Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa uốn nắn nếu cần thiết. ” [19, tr.13]
Như vậy, tuy có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau (khác về số lượng chức năng và tên gọi các chức năng). Suy về thực chất các hoạt động có những bước đi giống nhau để đạt tới các mục tiêu. Ngày nay còn có thể có các tác giả trình bày chức năng quản lý nói chung (hoặc chức năng QLGD nói riêng ) theo những quan điểm phân loại khác nhau, nhưng nền tảng của vấn đề vẫn là 4 chức năng cơ bản theo quan điểm quản lý hiện đại: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
“Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất” [31].
Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trường nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể quản lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội đang yêu cầu. Như vậy, quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc:
“Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra.” [31, tr.16 ].
Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, vì vậy cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội để phục vụ công tác giáo dục. Ngoài ra, quản lý giáo dục còn được xem như quản lý một hệ thống giáo dục gồm tập hợp các cơ sở giáo dục như trường học, các trung tâm kỹ thuật – hướng nghiệp dạy nghề mà đối tượng quản lý là đội ngũ giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất kỹ thuật, các phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập.
Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.
1.2.1.3 Quản lý trường học
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường [34, tr205 ].
Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD – ĐT, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô. Có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở GD – ĐT ở tỉnh, thành phố và các Phòng Giáo dục ở các quận, huyện. Cấp quản lý quan trọng trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý trong các nhà trường.
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có, tiến lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục.
Công tác quản lý trong nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các hoạt động ngoài xã hội. Quản lý nhà trường như là quản lý một hệ thống bao gồm các thành tố:
- Thành tố tinh thần: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, các kế hoạch, biện pháp giáo dục.
- Thành tố con người: cán bộ giáo viên, nhân viên và học sinh
- Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, tài chính, các trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập.
- Trọng tâm quản lý nhà trường phổ thông là quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội.
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của hiệu trưởng có trong tất cả các thành tố nói trên của quản lý nhà trường vì: Thực chất quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh TH là hướng tới quản lý các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục giúp học sinh hình thành các khả năng tâm lý xã hội, để học sinh nâng cao hiểu biết, củng cố mở rộng kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu như: Năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tổ chức, quản lý, hợp tác và cạnh tranh,…
1.2.2. Kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
1.2.2.1. Kỹ năng sống
“Kỹ năng” là khả năng thao tác, thực hiện một hoạt động nào đó.
Kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Kỹ năng sống (life skills) là cụm từ được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong mọi lĩnh vực hoạt động.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng sống nhưng thống nhất trên những nội dung cơ bản sau;
Theo WHO (1993) Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này. Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày. Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Theo UNICEF, giáo dục dựa trên Kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào).
Theo tổ chức Giáo dục và Khoa học văn hóa liên hợp quốc (UNESCO) kỹ năng sống gắn với bốn trụ cột của giáo dục đó là:
- Học để biết gồm các kỹ năng tư duy như: Tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…
- Học để làm gồm các kỹ năng thực hiện công việc và làm nhiệm vụ như: Kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm….
- Học để cùng chung sống gồm các kỹ năng xã hội như giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông.
- Học làm người gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin….
Như vậy có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kỹ năng sống nhưng khái niệm kỹ năng sống có tính chung nhất là: Kỹ năng sống chính là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói một cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống [30].
1.2.2.2. Giáo dục kỹ năng sống
Từ những phân tích về kỹ năng sống và mục đích của giáo dục kỹ năng sống có thể rút ra: Giáo dục kỹ năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp.
Giáo dục kỹ năng sống có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội.
Đồng thời giáo dục kỹ năng sống cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện (Theo các lĩnh vực văn hóa xã hội, theo các loại hình hoạt động của con người, theo cả 4 trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI) thông qua quá trình dạy học và giáo dục (theo nghĩa hẹp) vừa hướng tới mục tiêu hình thành những khả năng tâm lí xã hội để người học có thể vượt qua những thách thức của cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ, hành động, phát triển toàn diện các chỉ số thông mình, và các lĩnh vực trí tuệ xúc cảm và trí tuệ xã hội.
1.2.3. Quản lý hoạt động GDKNS Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Quản lý GDKNS là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao GDKNS trong nhà trường.
Quản lý GDKNS chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác GDKNS. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GDKNS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho học sinh.
Từ đó có thể nói: “Quản lý hoạt động GDKNS trong nhà trường được hiểu như là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động GDKNS của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện KNS cho học sinh đã đề ra”.
1.3. Trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Vị trí, vai trò của trường Tiểu học
Điều lệ trường TH đã quy định tại điều 2 chương 1 về vị trí của trường TH trong hệ thống giáo dục quốc dân như sau: “Trường TH là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và có con dấu riêng”. [9]
Đây là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 11-12 tuổi (một bộ phận nhỏ có thể đến 14 tuổi) thực hiện trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5. Đối với mỗi con người trong quá trình trưởng thành, trường TH là nơi con người chính thức được tổ chức học tập rèn luyện “chính quy” nghiêm túc nhất.
Trường TH lần đầu tiên tác động đến trẻ em bằng phương pháp nhà trường (bao gồm cả nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục). Nơi đầu tiên tổ chức một cách tự giác hoạt động học tập với tư cách là một hoạt động chủ đạo cho trẻ em; nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ em và nơi tạo cho trẻ em có nhiều hạnh phúc.
1.3.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường Tiểu học Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Điều 58: Luật Giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009 quy định nhà trường có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Công bố công khai mục tiêu, chương trình giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục và hệ thống văn bằng, chứng chỉ của nhà trường.
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền;
- Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên; tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên;
- Tuyển sinh và quản lý người học;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật;
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá;
- Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục;
- Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội;
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục;
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật; Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Điều 3: Điều lệ trường TH nêu rõ trường TH có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng. Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền. Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách.
- Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương.
- Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.
- Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
- Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật.
- Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục.
- Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Luật Giáo dục và của Điều lệ trường TH nói trên, có thể phân định các nhiệm vụ và quyền hạn của trường TH thành 2 nhóm chủ yếu sau:
Nhóm 1: Tổ chức các hoạt động giáo dục và đặc biệt là hoạt động dạy học theo đúng nội dung, chương trình GDTH đã được Bộ GD & ĐT quy định.
Nhóm 2: Thực hiện các hoạt động mang tính điều kiện và phương tiện cho hoạt động giáo dục và dạy học nói trên. Cụ thể:
- Thực hiện đúng các quy định của luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý, các điều lệ và quy chế của ngành trong việc thực hiện các hoạt động giáo dục và dạy học.
- Thiết lập bộ máy tổ chức của nhà trường và điều hành đội ngũ CBQL, GV, nhân viên và HS thực hiện có hiệu quả các hoạt động giáo dục và dạy học theo tinh thần đổi mới nội dung, chương trình và sách giáo khoa mới.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả kinh phí, cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục để phục vụ cho hoạt động giáo dục và dạy học;
- Xây dựng môi trường giáo dục thuận lợi và giảm thiểu tối đa các tác động bất thuận của môi trường tự nhiên và xã hội có ảnh hưởng tới hoạt động giáo dục và dạy học.
Qua phân tích trên, năng lực của CBQL trường TH phải được thể hiện qua việc quản lý có hiệu quả các nhiệm vụ và thực hiện đúng các quyền hạn nêu trên.
1.4. Một số vấn đề lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học
1.4.1. Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi của HS Tiểu học Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Học sinh trường tiểu học có độ tuổi từ 06 – 14 tuổi (từ lớp 1 – 5). Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi thiếu niên. Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tính cảm, đạo đức… của thời kỳ này. lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động… của các em.
Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn – điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên. Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:
Những yếu điểm của hoàn cảnh kìm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội.
Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.
Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên nhi đồng có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này. Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung, quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh thiếu niên.
Những nhà giáo dục, cần hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên nhi đồng để có cách giáo dục và đối xử đúng đắn với các em nhằm xây dựng cho các em một nhân cách toàn diện.
1.4.2. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
1.4.2.1. Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống
Mục tiêu cơ bản của GDKNS là làm thay đổi hành vi của học sinh, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần xây dựng xã hội phát triển bền vững
Rèn luyện KNS cho học sinh là giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; có thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội; giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội. Đối với học sinh tiểu học, việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này.
1.4.2.2. Nội dung của GDKNS
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng GDKNS ở Việt Nam những năm qua, nội dung KNS cơ bản cần thiết cho học sinh trong nhà trường phổ thông được thể hiện như sau:
Kỹ năng tự nhận thức:
Tự nhận thức là tự mình nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân.
Là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu, … của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng. Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Tự nhận thức là KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác. Ngoài ra, có thể hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội. Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân, có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác.
Kỹ năng xác định giá trị:
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…
Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế,…
Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. Kỹ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. Kỹ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người. Kỹ năng này còn giúp con người biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tin khác.
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc:
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc cảu mình trong một tình huống nào đó và hiểu được sự ảnh hưởng của cảm xúc đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp. Kỹ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: xử lý cảm xúc, kiếm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lý cảm xúc.
Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn.
Kỹ năng quản lý cảm xúc cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần củng cố các kỹ năng này.
Kỹ năng ứng phó căng thẳng:
Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường gặp nhưng tình huống gây căng thẳng cho bản thân. Tuy nhiên, có những tình huống có thể gay căng thẳng cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho người khác và ngược lại.
Kỹ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng.
Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ:
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp nhưng vấn đề, tình huống phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác. Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ bao gồm các yếu tố sau:
- Ý thức được nhu cầu giúp đỡ;
- Biết xác định được nhưng đia chỉ đáng tin cậy;
- Tự tin và biết tìm đến các địa chỉ đó;
- Biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp.
Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận được những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp, giúp chúng ta có cái nhìn mới và hướng đi mới.
Kỹ năng thể hiện sự tự tin:
Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành nhiệm vụ.
Kỹ năng thể hiện sự tự tin giúp cả nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống.
Kỹ năng giao tiếp:
Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù họp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đõ và sự tư vấn cần thiết.
Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại gây tổn thương cho người khác. Kỹ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn gữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niếm vui cuộc sống. Kỹ năng này cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng.
Kỹ năng lắng nghe tích cực:
Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kỹ năng giao tiếp. Người có kỹ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lý trong quá trình giao tiếp.
Kỹ năng thể hiện sự cảm thông:
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thế hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ.
Kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp và ứng xử với người khác, cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đa văn hóa, đa sắc tộc. Kỹ năng thể hiện sự cảm thông cũng giúp khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện, gần gũi với những người cần sự giúp đỡ. Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Kỹ năng thương lượng:
Thương lượng là khả năng trình bày suy nghĩ, phân tích và giải thích, đồng thời có thảo luận đề đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ cách làm hoặc một vấn đề gì đó.
Kỹ năng thương lượng có liên quan đến sự tự tin, tính kiên định, sự cảm thông, tư duy sáng tạo, kỹ năng hợp tác và khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân.
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn:
Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó.
Có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn. Mỗi người sẽ có cách giải quyết mâu thuẫn riêng tùy thuộc vào vốn hiểu biết, quan niệm, văn hóa và cách ứng xử cũng như khả năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn.
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình.
Kỹ năng hợp tác:
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều KNS khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thế hiện sự cảm thông, đảm nhận trách nhiệm, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng phó với căng thẳng . . .
Kỹ năng tư duy phê phán:
Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng. . . xảy ra.
Kỹ năng tư duy phê phán phụ thuộc vào hệ thống giá trị cá nhân. Một người có được kỹ năng tư duy phê phán tốt khi biết phối hợp nhịp nhàng với kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng xác định giá trị.
Kỹ năng tư duy sáng tạo:
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tố chức mới, là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ.
Kỹ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi; có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn các người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt.
Khi một người biết kết hợp tốt giữa kỹ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo thì năng lực tư duy của người ấy càng được tăng cường và sẽ giúp ích rất nhiều cho bản thân trong việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù hợp nhất.
Kỹ năng ra quyết định:
Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những tình huống, những vấn đề cần giải quyết buộc chúng ta phải lựa chọn, đưa ra quyết định hành động.
Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu đề giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời.
Kỹ năng ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp cho con người có được sự lựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống. Ngược lại, nếu không có kỹ năng ra quyết định, con người ta có thể có những quyết định sai lầm hoặc chậm trễ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ, đến công việc và tương lai cuộc sống của bản thân; đồng thời còn có thể làm ảnh hưởng đến gia đình, bạn bè và những người có liên quan.
Kỹ năng giải quyết vấn đề:
Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống. Giải quyết vấn đề có liên quan tới kỹ năng ra quyết định và cần nhiều kỹ năng sống khác như: Giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo. tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định . . .
Cũng như kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề rất quan trọng, giúp con người có thề úng phó tích cực và hiệu quả trước những vấn đề, tình huống của cuộc sống.
Kỹ năng kiên định:
Kỹ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí do dẫn đến sự mong muốn đó. Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác.
Kỹ năng kiên định sẽ giúp chúng ta tự bảo vệ được chính kiến, quan điểm, thái độ và những quyết định của bản thân, đứng vững trước những áp lực tiêu cực của những người xung quanh. Ngược lại, nếu không có kỹ năng kiên định, con người sẽ bị mất tự chủ, bị xúc phạm, mất lòng tin, luôn bị người khác điều khiển hoặc luôn cảm thấy tức giận và thất vọng. Kỹ năng kiên định giúp cá nhân giải quyết vấn đề và thương lượng có hiệu quả. Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm:
Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin chủ động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết đề hoàn thành nhiệm vụ.
Khi các thành viên trong nhóm có kỹ năng đảm nhận trách nhiệm sẽ tạo dược một không khí hợp tác tích cực và xây dựng trong nhóm, giúp giải quyết vấn đề, đạt được mục tiêu chung của cả nhóm, đồng thời tạo sự thỏa mãn và thăng tiến cho mỗi thành viên.
Kỹ năng đặt mục tiêu:
Mục tiêu là cái đích mà chúng ta muốn đạt tới trong một khoảng thời gian hoặc một công việc nào đó. Mục tiêu có thể về nhận thức, hành vi hoặc thái độ.
Kỹ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người viết đề ra mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó.
Mục tiêu có thể được đặt ra trong một khoảng thời gian ngắn, như một ngày, một tuần (mục tiêu ngắn hạn). Mục tiêu cũng có thể cho một thời gian dài như một năm hoặc nhiều năm (mục tiêu dài hạn).
Kỹ năng đặt mục tiêu giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện được mục tiêu của mình.
Kỹ năng quản lý thời gian:
Kỹ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định.
Kỹ năng này rất cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng thẳng do áp lực công việc.
Quản lý thời gian là một trong những kỹ năng quan trọng trong nhóm kỹ năng làm chủ bản thân. Quản lý thời gian tốt góp phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân và của nhóm.
Kỹ năng tìm kiếm xử lý thông tin:
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin là một kỹ năng sống quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời.
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông tập trung vào kỹ năng tâm lý – xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong nhưng tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả nhưng vấn đề, những tình huống của cuộc sống. Việc hình thành những kỹ năng này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với việc hình thành các kỹ năng học tập như: đọc, viết, tính toán, máy tính …
Nội dung GDKNS cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi, cấp học, môn học, hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể.
1.5. Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh TH Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Quản lý hoạt động giáo dục KNS là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục KNS đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất. Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường TH là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên tất cả các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục KNS nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.
Quản lý hoạt động giáo dục KNS là bộ phận của quản lý trường học, bao gồm hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết.
1.5.1. Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục KNS
Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường TH là quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường kể cả hoạt động dạy học nhằm giúp học sinh tiểu học (lứa tuổi đang hình thành và phát triển nhân cách) thay đổi nhận thức và hành vi của học sinh từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực, có hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng cuộc sống.
Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh TH là hướng tới quản lý các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục giúp học sinh hình thành các khả năng tâm lý xã hội, để học sinh nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, củng cố kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu (năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, hợp tác và cạnh tranh, năng lực hoạt động…) giải quyết các vấn đề cơ bản trong học tập vàsinh hoạt, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân( đặc biệt là học sinh lớp 4,5).
1.5.2. Nội dung quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh TH Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh TH là một công việc quan trọng nhưng còn mới mẻ. Để quản lý tốt hoạt động giáo dục KNS trong nhà trường cần chú ý những nội dung sau:
1.5.2.1. Xây dựng kế hoạch GDKNS cho HS Tiểu học
Việc xây dựng kế hoạch GDKNS cho học sinh là việc làm quan trọng, cần thiết trong công tác quản lý giáo dục. Đây là một quá trình xác định những mục tiêu và các biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó.
Việc xây dựng kế hoạch GDKNS cho học sinh giúp người quản lý tư duy một cách có hệ thống để tiên liệu các tình huống có thể xảy ra, phối hợp mọi nguồn lực trong và ngoài nhà trường để tổ chức việc GDKNS cho học sinh có hiệu quả hơn, tập trung vào các mục tiêu và chính sách của Đảng, Nhà nước và của Ngành GD trong việc GDKNS cho học sinh, nắm vững các nhiệm vụ cơ bản của nhà trường trong việc GDKNS cho học sinh để phối hợp với các cán bộ, giáo viên, nhân viên khác, sẵn sàng ứng phó và đối phó với những thay đổi của môi trường bên ngoài, phát triển hữu hiệu các tiêu chuẩn kiểm tra.
Khi lập kế hoạch quản lý GDKNS cho học sinh, người cán bộ quản lý cần lưu ý:
- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GDKNS với mục tiêu GD Đạo đức trong nhà trường.
- Nắm vững thực trạng KNS học sinh và công tác giáo dục Đạo đức của nhà trường hiện tại.
- Phối hợp chặt chẽ, hữu cơ với kế hoạch dạy học trên lớp và kế hoạch hoạt động GD khác.
- Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực và phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để đạt hiệu quả giáo dục cao.
- Thành lập Ban chỉ đạo, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các thành viên trong Ban chỉ đạo để theo dõi, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc GDKNS cho học sinh.
- Xây dựng kế hoạch chi tiết theo tuần, tháng, năm.
1.5.2.2. Tổ chức, chỉ đạo GDKNS cho HS Tiểu học Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Tổ chức:
Người CBQL cần triển khai việc bố trí nhân lực cho công tác GDKNS cho học sinh một cách hợp lý. Thành lập Ban chỉ đạo gồm: hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng, tổng phụ trách, bí thư chi đoàn giáo viên, GVCN, đại diện cha mẹ học sinh. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ tư vấn cho hiệu trưởng trong việc xây dựng kế hoạch, triển khai chương trình, kiểm tra, đánh giá các hoạt động GDKNS trong nhà trường.
Không những thế, người CBQL cần bố trí, thu xếp về tài lực, vật lực để công tác GDKNS cho học sinh có điều kiện triển khai hiệu quả.
Chỉ đạo:
Để công tác GDKNS thực sự được triển khai theo đúng quy trình sư phạm, đạt yêu cầu của kế hoạch đề ra, người CBQL cần hướng dẫn các tổ chức trong và ngoài nhà trường, CB – GV – NV trong nhà trường cách thức thực thi kế hoạch, đặc biệt chú trọng việc GDKNS tích hợp với các môn học khác, các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khoá…
Luôn để ý, giám sát các hoạt động GDKNS được thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nhà trường để điều chỉnh, động viên, kích thích và uốn nắn việc thực thi kế hoạch đề ra.
1.5.2.3. Kiểm tra, đánh giá giáo dục KNS cho HS Tiểu học Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Kiểm tra:
Kiểm tra từ trên xuống những hoạt động của các tổ chức quản lý của Ban chỉ đạo, kiểm tra qua các bài thi, kiểm tra qua quan sát, tự kiểm tra đánh giá của đội sao đỏ, đội tự quản của học sinh, kiểm tra qua các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể của từng hoạt động, kiểm tra qua các tình huống.
Đánh giá: Đánh giá thi đua, khen thưởng theo nhiều mức độ khác nhau, xếp loại đạo đức.
Rút kinh nghiệm, tìm ra phương pháp quản lý tốt, chưa tốt, bổ sung, điều chỉnh kế hoạch quản lý GDKNS cho học sinh ở những năm sau.
1.5.2.4. Quản lý việc phối kết hợp giữa các lực lượng tham gia giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học
Người CBQL cần nhận thức được tầm quan trọng của việc phối hợp giáo dục giữa gia đình – nhà trường – xã hội để có sự quản lý đúng đắn và linh hoạt bởi lẽ quá trình hình thành và phát triển nhân cách nói chung, phát triển các phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị nói riêng luôn bị chế ước bởi những điều kiện khách quan và chủ quan tác động. Muốn tạo nên sức mạnh tổng thể trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh mà đặc biệt là giáo dục KNS cho các em, nhà trường cần huy động các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục như CBGV, các tổ chức Đoàn, Đội cùng Hội cha mẹ học sinh của trường, các cấp ủy Đảng, chính quyền nơi học sinh cư trú, các cơ quan đoàn thể trên địa bàn tuyển sinh như Công an, Y tế, Quận Đoàn… Có như vậy nhân cách và lý tưởng sống của các em được giáo dục và rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi, đồng thời giúp các em củng cố bổ sung và nâng cao thêm hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hoàn thiện các tri thức đã được học trên lớp, mở rộng thế giới xung quanh, biết vận dụng những tri thức đã học để bước đầu giải quyết các vấn đề do đời sống thực tiễn đặt ra. Chính vì vậy, quản lý được sự phối hợp giữa các lực lượng ở gia đình – nhà trường – xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh góp phần tạo dựng môi trường giáo dục mang tính liên kết cao, đồng thời có tác dụng thúc đẩy sự quan tâm của cộng đồng, gia đình trong việc giáo dục trẻ nói chung, giáo dục đạo đức và đặc biệt là GDKNS.
1.5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh TH Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Để đảm bảo hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống, cần phải xem xét đến các yếu tố sau:
1.5.3.1. Yếu tố khách quan
Môi trường:
Môi trường là nơi sống và hoạt động của con người, môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cá nhân. Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất và sức khỏe của con người. Môi trường xã hội bao gồm các mối quan hệ đa dạng trong gia đình, nhà trường, ngoài xã hội, bạn bè, cộng đồng dân cư…có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tâm lý, ý thức, trí tuệ và tình cảm của từng cá nhân.
Gia đình là môi trường sống đầu tiên của đứa trẻ. Đó là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em, cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên. Nếp sống gia đình, mối quan hệ tình cảm của các thành viên, trình độ văn hóa, sự gương mẫu và phương pháp giáo dục của cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển tâm lí, ý thức, hành vi của trẻ em.
Tập thể và phương pháp tổ chức hoạt động của tập thể học sinh như Đội thiếu niên có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nhân cách của trẻ em. Tập thể với tư cách là cộng đồng đặc biệt được tổ chức ở trình độ cao, có tôn chỉ mục đích, nội dung hoạt động, có kỉ luật, tạo điều kiện tốt cho trẻ sống, hoạt động và giao lưu. Trong sinh hoạt tập thể, trẻ em lựa chọn những gì phù hợp với xu hướng năng lực của mình để tham gia và tiếp thu những gì mà trẻ coi là có giá trị. Giáo dục hiện đại rất coi trọng giáo dục tập thể, coi tập thể là môi trường để trẻ em giao lưu, tương tác, là phương tiện để giáo dục trẻ em.
Các nhóm bạn bè có ảnh hưởng hàng ngày, hàng giờ với trẻ em. Sinh hoạt, học tập, giao lưu trong nhóm bạn bè tốt, trẻ em giúp đỡ nhau cùng thi đua học tập, phấn đấu vươn lên trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt. Sống trong nhóm bạn bè xấu, lười biếng,…sẽ có ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển tâm lý, ý thức trẻ em. Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Từ các yếu tố cơ bản nêu trên cho thấy việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh là vô cùng quan trọng và cần thiết với trẻ em. Các em cần phải được sống trong một môi trường xã hội trật tự kỷ cương, mọi người dân sống theo hiến pháp và pháp luật; một gia đình hòa thuận, hạnh phúc, có truyền thống lao động, học tập; một trường học có chất lượng giáo dục và đào tạo tốt; một địa phương có phong trào và truyền thống giáo dục tốt, mọi người chăm lo đến phát triển giáo dục.
Cơ sở vật chất và các thiết bị trường học
Song song với việc tạo dựng “môi trường sư phạm thân thiện” nhà trường còn cần đến cơ sở vật chất đầy đủ, cảnh quan nhà trường “xanh- sạch – đẹp”, đáp ứng yêu cầu thực hiện các mục tiêu giáo dục rèn luyện phát triển nhân cách học sinh CSVC và các thiết bị trường học là điều kiện, là phương tiện thiết yếu để tổ chức quá trình GD. Nhà trường có đủ diện tích mặt bằng theo quy định, có quang cảnh môi trường sạch sẽ, phòng học xây dựng đúng quy cách, có trang thiết bị kỹ thuật đồng bộ để phục vụ cho dạy và học ở tất cả các môn học, thư viện đủ sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo, có sân chơi, bãi tập, vườn trường…đó là một trường học có đầy đủ CSVC. Cùng với các hoạt động động GD khác, giáo dục KNS phải có đủ điều kiện tổ chức và phương tiện tốt để tổ chức các hoạt động. Thiết bị tối thiểu để tổ chức các hoạt động là: âm ly, loa đài, đầu video, đàn, dụng cụ thể thao và kinh phí hoạt động. Nhà trường cần đảm bảo các điều kiện vật chất để tập thể giáo viên và học sinh hoàn thành các nhiệm vụ của mình với chất lượng cao.
Nội dung chương trình và tài liệu dạy học KNS
Tiếp nhận KNS thể hiện việc vận dụng vào thực tế cuộc sống những kiến thức, thái độ, kỹ năng và sử dụng các phương pháp dạy học tương tác. Với ý nghĩa đó, tiếp cận KNS có thể sử dụng để cải thiện bất cứ một chủ đề nào của chương trình nội dung dạy học như: lịch sử, toán, khoa học, tự nhiên và xã hội, đạo đức, kỹ thuật và những chủ đề khác. Nội dung giáo dục cần phù hợp với kinh nghiệm, nhu cầu của cả học sinh nam và nữ cũng như nhu cầu của xã hội. Các chương trình về KNS về bất cứ chủ đề nào được coi là hiệu quả thì phải đưa ra mô hình thực tế về kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề/ra quyết định (học để biết), các kỹ năng để tự kiểm soát bản thân, đương đầu với những cú sốc và tình cảm (học để tự khẳng định) và các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách (học để chung sống với mọi người) cũng như các kỹ năng thực hành (học để làm) để thực hiện những hành vi mong muốn.
Chương trình và tài liệu dạy/ học là những thành tố cốt lõi của giáo dục nó là một thành phần bổ trợ cho người GV giỏi và người học muốn tìm tòi. Do đó, điều quan trọng đối với người biên soạn chương trình phải tính đến cả người dạy và người học khi xây dựng tài liệu sử dụng cách tiếp cận KNS và gắn kết trực tiếp các ví dụ, hình ảnh minh họa với các kinh nghiệm và hứng thú của cả học sinh nam và nữ. Mặc dù các tài liệu thông thường như tranh ảnh, tạp chí, sách….ngày càng nhiều hơn nhưng vẫn cần những phương tiện dạy học (như đĩa CD-Room) và các phương tiện biểu đạt khác (các chương trình vô tuyến và truyền thanh học sinh).
1.5.3.2. Yếu tố chủ quan Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và những người liên quan
Nhận thức của các lực lượng tham gia quản lý và giáo dục KNS cho HS Tiểu học được đánh giá bởi các vấn đề sau: Nhận thức của CBQL, GV về sự cần thiết phải giáo dục KNS cho HS Tiểu học; Hiểu thế nào là kỹ năng sống? nghĩa, vai trò của giáo dục KNS cho HS Tiểu học trong giai đoạn hiện nay, nhất là trước sự phát triển và hội nhập của đất nước; Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa Ban giám hiệu, TPT, GVCN; Vai trò, trách nhiệm của gia đình, của các tổ chức xã hội và mối quan hệ giữa nhà trường – gia đình – các tổ chức xã hội trong việc giáo dục KNS cho HS Tiểu học.
Tuy nhiên trình độ nhận thức của các lực lượng tham gia quản lý và giáo dục KNS cho HS không đồng đều, do đó sự tham gia của các lực lượng trong các hoạt động GD sẽ khác nhau. Vì vậy đòi hỏi nhà quản lý tổ chức các hoạt động cần có sự tuyên truyền vận động, hướng dẫn, động viên khuyến khích kịp thời tới các lực lượng tham gia quản lý GD thì công tác giáo dục KNS cho HS mới được nâng tầm và đạt hiệu quả như mục tiêu GD đề ra.
Sự giáo dục của CMHS
Gia đình là một trong những yếu tố tác động trực tiếp, liên tục, thường xuyên tới việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Nền nếp của gia đình ảnh hưởng lớn đến tâm lý, đạo đức, kỹ năng sống của học sinh. Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học HS Tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi. Đây là giai đoạn tuổi thiếu niên nhi đồng. Ở lứa tuổi này các em bước đầu đã có sự hình thành về tư tưởng, tâm lí. Về mặt thể chất, sinh lí: Có thể nói đây là giai đoạn mà các em HS Tiểu học phát triển nhanh về thể chất như cân nặng, chiều cao . Với hiện tượng dậy thì ngày càng sớm như hiện nay ( học sinh dậy thì từ lớp 5, cá biệt có những học sinh từ lớp3) thì sẽ là lứa tuổi khó dạy, đặc biệt là với học sinh nam.
Vì vậy trong nhà trường, các thầy cô giáo cần giúp đỡ các em trong quá trình đánh giá. Bên cạnh đó việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức, phát triển những năng lực trí tuệ là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường Tiểu học. Ngoài những đặc điểm về nhận thức đã nêu, lứa tuổi HS Tiểu học còn tò mò, thích khám phá thế giới xung quanh và học được nhiều điều ngoài tri thức nhà trường cung cấp.
Nhà trường, gia đình nên quan tâm nhiều đến cách giáo dục kỹ năng sống cho các em. Các thầy cô giáo trong nhà trường cần biết khuyến khích những việc làm đúng, kích thích tính năng động, sáng tạo ở các em, tránh lí thuyết suông, áp đặt, giám sát quá chặt, phải tế nhị, khéo léo giúp các em định hướng đúng hành động của mình.
Môi trường giáo dục
Môi trường giáo dục cần phải lành mạnh, an toàn và có khả năng bảo vệ. Để quản lý giáo dục kỹ năng sống hiệu quả cần phải coi trọng môi trường giáo dục, không chỉ ở trong nhà trường mà còn ở gia đình và trong cộng đồng. Cần phải kết hợp chặt chẽ giáo dục kỹ năng sống với các điều kiện bổ sung như chính sách phát triển một môi trường tâm lý xã hội thuận lợi và gắn với cộng đồng.
Tiểu kết chương 1
Kỹ năng sống là nhân tố cần thiết trong hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân. Tiểu học là lứa tuổi đang diễn ra quá trình hình thành và phát triển nhân cách, vì vậy việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là quan trọng. Vấn đề đặt ra cần phải có các biện pháp quản lý phù hợp mới có thể thực hiện có kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong xã hội hiện nay. Bởi muốn trở thành con người theo đúng nghĩa của nó thì phải có các kỹ năng sống. Những kỹ năng sống sẽ giúp trẻ thích ứng với cuộc sống, vượt qua “chướng ngại vật” trong cuộc đời để có thể tồn tại và sống tốt. Tuy nhiên, công tác quản lý các hoạt động GDKNS cho học sinh theo lứa tuổi trong các nhà trường phổ thông vẫn còn là một bài toán đối với ngành giáo dục hiện nay.
Trong chương này, Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về GDKNS, tầm quan trọng và các kỹ năng sống cần giáo dục cho học sinh, cũng như công tác quản lí hoạt động GDKNS cho học sinh tiểu học. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để có cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh ở trường Tiểu học Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Nhưng, muốn đề ra được các giải pháp mang tính khả thi và có hiệu quả thì đòi hỏi người cán bộ quản lý ngoài việc nắm vững những vấn đề về mặt lí luận đã trình bày ở trên thì phải có sự đánh giá một cách khách quan, khoa học về thực trạng hoạt động GDKNS cho học sinh trong giai đoạn hiện nay của nhà trường. Luận văn: Kỹ năng sống của HS trường Tiểu học Đồng Tâm
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh ở tiểu học Đồng Tâm

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục ở tiểu học Đồng Tâm