Luận văn: Khái quát bồi dưỡng giáo viên các trường THCS Q3

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Khái quát bồi dưỡng giáo viên các trường THCS Q3 hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở quận 3, thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát tình hình chung, tình hình kinh tế – văn hóa – xã hội, tình hình giáo dục Quận 3, TP. Hồ Chí Minh

Tình hình chung

Địa danh Quận 3, TP.HCM chính thức có tên trên bản đồ Sài Gòn – Chợ Lớn từ ngày 27/12/1952 theo sắc lệnh số 104-NV của chính quyền Sài Gòn cũ và đã qua nhiều lần điều chỉnh phân chia địa giới. Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, đến ngày 17/9/1988 Hội Đồng Bộ Trưởng (Chính phủ) có Quyết định số 145-HĐBT phân vạch lại địa giới hành chánh Quận 3 từ đó nay. Luận văn: Khái quát bồi dưỡng giáo viên các trường THCS Q3

Quận 3 có diện tích tương đương 4.92 km2 tức là 492 ha (Theo bản đồ do Sở Tài Nguyên- Môi Trường đo vẽ tháng 10, 11/2004 và theo số liệu thống kê cập nhật của Phòng Thống kê Quận 3 năm 2010, bảng phụ lục 1). Quận 3 có 14 phường, 63 khu phố, 874 tổ dân phố. Quận 3 được xem là một quận nội thành nằm trong khu vực trung tâm của Thành phố, có địa giới hành chánh rất quan trọng, là nơi có nhiều cơ quan Đảng, Nhà nước, cơ quan hành chánh, cơ quan thông tấn, báo chí, cơ quan ngoại giao và nhà riêng của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước. Quận 3 còn có vị trí quan trọng về thương mại, dịch vụ… là một địa bàn có đường giao thông đường bộ trọng yếu của Thành phố (đường bộ, đường sắt). Toàn quận có khoảng 45.250 hộ, 222.446 người (bảng phụ lục 2), mật độ dân số 38.573 người/km2, là quận có mật độ dân số cao đứng hàng thứ 5 của Thành phố. Có 20 dân tộc sinh sống trên địa bàn, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 95,71%.

Tình hình kinh tế -văn hóa – xã hội

  • Về kinh tế: Quận 3 là một quận có các hoạt động kinh tế thuộc loại khá của Thành phố và phát triển đúng định hướng theo cơ cấu: Dịch vụ – Thương mại – Tiểu thủ công nghiệp, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm doanh thu thương mại – dịch vụ (loại trừ yếu tố trượt giá) tăng 36,9%; doanh nghiệp thành lập mới hàng năm tăng mạnh, chủ yếu trên các lĩnh vực: Tài chính – tín dụng – ngân hàng, bưu chính viễn thông, CNTT truyền thông, kinh doanh bất động sản, dịch vụ tư vấn, du lịch, y tế, giáo dục… Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Quận 3 năm 2010 đạt trên 1.500 tỷ đồng, giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn 1.150 tỷ đồng (Chỉ tính các doanh nghiệp ngoài quốc doanh), doanh thu thương mại – dịch vụ đạt hơn 80.000 tỷ đồng (chỉ tính các doanh nghiệp ngoài quốc doanh).
  • Về văn hóa: Quận 3 có 03 cơ sở văn hóa lớn: Trung tâm văn hóa ca nhạc 126, Nhà hát Nam Quang đường Cách Mạng Tháng Tám; rạp Đại Đồng đường Cao Thắng. Số hộ đạt gia đình văn hóa hàng năm khoảng từ 85 đến 90%, số khu phố văn hóa đạt khoảng 70% (45/63 khu phố), số phường đạt phường văn hóa là 50% (7/14 phường). Trên địa bàn quận có 05 di tích cách mạng, 02 bảo tàng, 03 đình, 03 đền, 09 miếu – chùa – nhà thờ…
  • Về xã hội: Từ cuối năm 2007 Quận 3 đã hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo trước thời hạn 3 năm (theo chuẩn qui định trước đây là 6 triệu đồng/người/năm), tỷ lệ thất nghiệp còn khoảng 4,8%, thu nhập bình quân trên đầu người trên 41 triệu đồng/người/năm, chi tiêu bình quân là 33,5 triệu đồng/người/năm. Công tác chăm sóc sức khỏe người dân, Quận 3 có 06 bệnh viện cấp thành phố, 01 bệnh viện tư nhân và bệnh viện Quận 3, Viện Pasteur, 14 trạm y tế phường, 387 phòng khám tư nhân, Y tế cộng đồng. Việc chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân luôn được quan tâm đầu tư nâng cấp CSVC và trang thiết bị y tế; nâng cao y đức, trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ y, bác sỹ, từng bước đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hoạt động y tế ngoài công lập được tạo điều kiện phát triển đã góp phần đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của cộng đồng dân cư. Trong phong trào thể dục – thể thao, Quận 3 có 03 nhà thi đấu, 02 sân bóng chuyền, 05 sân cầu lông, 04 hồ bơi, 17 sân tennis, 99 tụ điểm và 44 câu lạc bộ thể dục thể thao trên địa bàn 14 phường. Phong trào TDTT của quận nhiều năm liên tục được xếp hạng cao (từ 1 đến 4) của Thành phố, đạt nhiều huy chương tại các giải đấu trong nước và quốc tế. Quận 3 là một trong những đơn vị dẫn đầu phong trào TDTT của Thành phố trong giai đoạn 2006 – 2010. (Các nội dung 2.1 được trích và tổng hợp từ nguồn tài liệu của Phòng Thống kê Quận 3 và từ văn bản báo cáo thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội 5 năm (2005-2010) tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ X nhiệm kỳ 2010-2015).

Tình hình Giáo dục

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ X nhiệm kỳ 2010 – 2015 (tổ chức ngày 06, 07 và 08/8/2010) đánh giá về công tác GD&ĐT nhiệm kỳ IX (2005-2010): Thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí Thư Trung ương về

“Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục”, Quận đã lãnh đạo ngành Giáo dục Quận 3 tích cực đổi mới phương pháp dạy và học, đội ngũ CBQL, GV được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, đạt chuẩn nghề nghiệp, đủ về số lượng, đồng bộ về chất lượng, một số CB, đảng viên, GV đã được nâng cao trình độ trên chuẩn. Công tác GD&ĐT đạt được mục tiêu đổi mới toàn diện, tiếp tục giữ vững vị trí là một trong những quận có chất lượng cao của Thành phố. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục, việc chăm lo đời sống nhà giáo ngày càng được cải thiện; quận quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp CSVC, trang thiết bị trường lớp, đạt vượt chỉ tiêu đề ra; hoàn thành quy hoạch chi tiết mạng lưới trường lớp đến năm 2020 làm cơ sở phát triển sự nghiệp giáo dục.

Về tình hình chung trường lớp Quận 3, TP.HCM (bảng phụ lục 3 và 4), quy mô ngành giáo dục Quận 3 khá lớn, Phòng GD&ĐT Quận quản lý 74 đơn vị từ giáo dục mầm non đến giáo dục THCS và dạy nghề. Toàn quận có 03 trường chuẩn quốc gia, có 01 trường đã được tặng Huân chương Độc lập hạng III, 04 trường được tặng Huân chương Lao động hạng III, 13 trường được tặng bằng khen của Thủ tướng và Bộ GD&ĐT. Trong hơn 5 năm qua đã xây mới được 08 trường, trong đó vừa xây xong 01 trường Mầm non chuẩn quốc gia (6/2011) và 01 trường tiểu học chuẩn quốc gia (6/2011) sẽ đưa vào hoạt động năm học 2011-2012; sửa chữa nâng cấp kiên cố hóa 24 trường; nâng cấp cải tạo 06 trường; chuẩn bị xây mới và cải tạo thêm 06 trường. Nhìn chung về phát triển mạng lưới trường lớp Quận 3 khá ổn định, tổng số lớp học và học sinh mỗi năm có sự tăng giảm nhưng không nhiều do điều kiện dân số tự nhiên ổn định, vì vậy không ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch phát triển chung của ngành [55], [56], [ 58]. Luận văn: Khái quát bồi dưỡng giáo viên các trường THCS Q3

Về công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục

Biểu đồ 2.1. Thống kê xóa mù chữ và phổ cập giáo dục Quận 3

Quận 3 đã được UBND TP.HCM công nhận đạt chuẩn phổ cập THPT vào năm 2005 (bảng phụ lục 5 và biểu đồ 2.1) và đã được công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ. Tỷ lệ xóa mù chữ, PCGD TH, PCGD THCS và THPT hàng năm đều tăng, như xóa mù chữ tăng từ 98.89% (2005) lên 99.99% (2010), PCGD THPT tăng từ 82.12% (2005) lên 86.86% (2010). Điều này cho thấy sự nghiệp giáo dục Quận 3 khá ổn định, trình độ dân trí người dân ngày càng được quan tâm.

  • Về kinh phí đầu tư cho giáo dục, qua thống kê (bảng phụ lục 6, 7, 8, 9, 10) tác giả nhận thấy kinh phí dành cho giáo dục Quận 3 hàng năm được đầu tư khá lớn từ nguồn ngân sách của Quận. Ngoài ra tùy điều kiện từng trường, ngành còn vận động PHHS, các mạnh thường quân, các công ty, các nhà hảo tâm đóng góp chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, điều này cho thấy công tác XHH giáo dục tại Quận 3 được xã hội và nhân dân quan tâm đồng tình ủng hộ. Để ngăn chặn bỏ học và thực hiện PCGD TH, THCS và THPT, từ năm học 2005-2006 ngành GD&ĐT Quận 3 thực hiện miễn giảm học phí đối với học sinh diện xóa đói giảm nghèo với kết quả đến năm 2010 (bảng phụ lục 11).
  • Về chất lượng dạy – học và các hoạt động giáo dục, qua thống kê (bảng phụ lục 12, 13, 14, 15) cho thấy trong những năm qua ngành GD&ĐT Quận 3 đã không ngừng xây dựng, hình thành và phát triển để góp phần đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân. Kết quả giáo dục các cấp học hàng năm đều được tăng lên, hiệu suất đào tạo ngày càng cao hơn, ổn định hơn. Quận 3 là một quận có truyền thống về chất lượng giáo dục, các cấp học phát triển khá mạnh, thu hút được nhiều học sinh các quận khác trong thành phố đến học. Năm 2000, Quận đã được Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT TP.HCM chọn là nơi thực hiện thí điểm nhiều chuyên đề về giáo dục các cấp học và là một trong 14 tỉnh – thành thực hiện thí điểm chương trình thay sách giáo khoa THCS cho cả nước. Toàn ngành hiện nay có 23 chi bộ độc lập, còn lại là chi bộ ghép với tổng số 318 Đảng viên, 100% trường đều có Đảng viên, ngành GD&ĐT Quận 3 luôn cải tiến công tác quản lý. Đội ngũ CBQL và GV có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ trên chuẩn ngày càng cao. Ngành GD&ĐT Quận 3 trong những năm qua có nhiều CBQL – GV đạt nhiều thành tích cao trong các hội thi GV giỏi toàn quốc, thành phố và quận, đến nay có 01 CBQL được tặng Huân chương lao động hạng III, 06 CBQL – GV được phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú, và nhiều GV khác được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT, CSTĐ cấp thành phố…

Qua thống kê trong biểu đồ 2.2 cho ta thấy sau 5 năm GV toàn ngành Quận 3 có trình độ từ đạt chuẩn trở lên tăng đáng kể, từ 96.2% (2005) lên 99.2% (2011), GV có trình độ trên chuẩn cũng tăng từ 44% (2005) lên 77.3% (2011), ngoài ra GV có trình độ thạc sỹ từ 01 (2005) lên 13 GV (2011). Điều này cho thấy GV Quận 3 đã có nhiều cố gắng nâng chất lượng theo chủ trương của Nhà nước, theo chỉ đạo của ngành để tham gia nâng cao chất lượng giáo dục.

Tình hình giáo dục của trường THCS tại Quận 3, TP.HCM

Ngành GD&ĐT Quận 3, TP.HCM hiện nay có 14 trường THCS, trong đó có 11 trường công lập và 3 trường ngoài công lập. Về quy mô số lớp trường công lập thì trường có số lớp nhiều nhất là 51 lớp, trường có số lớp ít nhất cùng 18 lớp, còn đối với trường ngoài công lập thì trường có số lớp nhiều nhất là 61 lớp, trường ít nhất là 07 lớp; toàn quận có 08 trường THCS thực hiện dạy 02 buổi/ngày, các trường còn lại do CSVC chưa đầy đủ nên chỉ thực hiện 2 buổi/ngày trên một số lớp; toàn quận có 06 trường có tổ chức dạy Tiếng Anh tăng cường, 01 trường có dạy Tiếng Pháp tăng cường, 01 trường có dạy Tiếng Nhật tăng cường, 02 trường có dạy Tin học tăng cường, ngoài ra các trường còn thực hiện các chủ đề tự chọn một số bộ môn, mạng lưới các trường THCS tại Quận 3 phân bố tương đối đồng đều tại các phường nên khá thuận tiện cho con em sinh sống tại Quận 3 đi học.

Kết quả giáo dục học sinh trung học cơ sở

Qua thống kê xếp loại HS THCS Quận 3 (trong bảng phụ lục 14, 15 và biểu đồ 2.3) nhìn chung tỷ lệ HS có hạnh kiểm tốt hàng năm tăng dần (từ 64,2% năm 2006 lên 77,12% năm 2011), trong đó năm học 2010-2011 có tỷ lệ hạnh kiểm loại tốt xếp cao nhất (75.34%), tỷ lệ HS có hạnh kiểm yếu giảm dần từ 0.26% năm 2006 xuống còn 0.13% năm 2011. Về học lực, tỷ lệ HS có học lực giỏi hàng năm đều tăng, cụ thể từ 19.13% năm 2006 lên 36.82% năm 2011 (kết quả cuối năm học 2010-2011), tỷ lệ HS học lực yếu có xu hướng giảm dần từ 8.89% năm 2006 xuống còn 4.56% năm 2011, điều này cho thấy tình hình giáo dục HS THCS Quận 3 ngày càng có chất lượng đi lên ổn định, số HS ngoan, giỏi ngày càng tăng. Tuy nhiên về tỷ lệ HS yếu kém vài năm gần đây có giảm nhưng chưa đồng đều, cần lưu ý (yếu: 4.59%=715 HS, kém: 0.42%=66HS).

Biểu đồ 2.3. Hạnh kiểm và học lực của học sinh năm học 2010-2011

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.2. Thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở tại Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Khái quát bồi dưỡng giáo viên các trường THCS Q3

Trên cơ sở vận dụng và kết hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp thống kê, các phương pháp bổ trợ và những số liệu thực tế về trường, lớp, CBQL – GV – CNV và HS, qua quá trình công tác và những kinh nghiệm trong công tác của bản thân, mặc dù điều kiện nghiên cứu của tác giả còn nhiều hạn chế nhưng tác giả đã cố gắng thực hiện khảo sát trên 28 CBQL và 254 GV của 05/11 trường THCS, trong đó có 02 trường trước đây là trường bán công đã được chuyển đổi thành trường công lập, vì vậy tác giả có được số liệu khảo sát tương đối phong phú về đối tượng GV.

Từ kết quả khảo sát, tác giả xin được tóm lượt như sau:

Về cán bộ quản lý: Khảo sát 28/30 (93.33%) CBQL, gồm 11 hiệu trưởng và 17 phó hiệu trưởng. Hầu hết CBQL trường THCS tại Quận 3 có tuổi đời khá cao, từ 36 tuổi trở lên là 26/28 CBQL (92.8%), chỉ có 01/28 CBQL tuổi dưới 30 (3.6%); tuổi nghề của CBQL từ 20 năm trở lên là 21/28 CBQL (75%); có 28/28 CBQL (100%) có trình độ đại học; có 25/28 CBQL (89.3%) có bằng trung cấp lý luận trở lên, trong đó có 05/28 CBQL (17.9%) có bằng cử nhân chính trị; 25/28 CBQL có trình độ ngoại ngữ từ chứng chỉ A trở lên, trong đó có 05 CBQL (17.9%) có trình độ đại học; 100% CBQL đã có chứng chỉ từ A trở lên, trong đó có 15/28 (53.6%) đã được bồi dưỡng chương trình ứng dụng CNTT (Intel); 100% CBQL đã được bồi dưỡng về nghiệp vụ QLGD, trong đó có 07 QLGD (25%) có bằng cử nhân; 100% CBQL là Đảng viên, trong đó có 19/28 CBQL (67.9%) tham gia cấp ủy Đảng; Về thành tích cá nhân của CBQL, có 24/28 CBQL (85.7%) đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở trở lên, trong đó có 09/28 CBQL (32.1%) đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp thành phố, có 17/28 CBQL (60.7%) được tặng danh hiệu từ bằng khen của UBND TP.HCM trở lên. Luận văn: Khái quát bồi dưỡng giáo viên các trường THCS Q3

Về giáo viên: Khảo sát 254/256 (99.22%) GV tất cả các bộ môn của 05 trường. Tuổi đời từ 36 tuổi trở lên chiếm đa số là 161/254 GV (63.4%), dưới 30 tuổi là 56/254 GV (22%). Tuổi nghề GV có thâm niên nghề nghiệp từ 20 năm trở lên là 102/254 GV (42%); có 244/254 GV (96.1%) có trình độ chuẩn nghề nghiệp quy định từ cao đẳng trở lên, trong đó có 04/254 GV (1.6%) có trình độ thạc sỹ, có 174/254 GV (68.5%) có trình độ đại học, có 23/254 GV (9%) có trình độ lý luận chính trị trung cấp, có 05/254 GV (2%) có trình độ lý luận cao cấp. Về trình độ ngoại ngữ, có 161/254 GV (64.4%) có trình độ từ A trở lên, trong đó có bằng đại học là 36/254 GV (14.2%), có 01 thạc sỹ (0.4%). Về trình độ tin học, có 239/254 GV (94.1%) có trình độ từ A trở lên, trong đó 122/254 GV (48%) đã được bồi dưỡng chương trình Intel khởi đầu. Về trình độ QLGD, có 22/254 GV (8.6%) được bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD. Số GV hiện đang tham gia đi học đại học có 30/254 GV (14.2%), học thạc sỹ là 06/254 GV (2.4%). Trong số 254 GV có 55 GV (21.7%) làm công tác nhóm trưởng chuyên môn, 25 GV (9.8%) làm công tác tổ trưởng chuyên môn và 02 GV (0.8%) làm công tác mạng lưới chuyên môn của quận, có 13 GV tham gia Ban chấp hành công đoàn trường, có 10 GV tham gia Ban Thanh tra nhân dân trường, có 06 GV là Bí thư Đoàn TNCS HCM, Tổng phụ trách Đội TNTP HCM. Có 20 GV là Đảng viên, trong đó có 07 Đảng viên tham gia cấp ủy cơ sở Đảng. Về thành tích GV, có 92/254 GV (36.2%) đạt GV giỏi từ cấp cơ sở trở lên, trong đó có 54/254 GV (21.3%) đạt danh hiệu từ chiến sỹ thi đua cấp quận trở lên, có 14 GV (5.5%) đạt chiến sỹ thi đua cấp toàn quốc, có 46 GV được tặng huy chương “Vì sự nghiệp giáo dục”.

2.2.1. Thực trạng bồi dưỡng giáo viên theo chương trình bồi dưỡng của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Chương trình bồi dưỡng GV THCS theo chương trình của Bộ GD&ĐT bao gồm: Bồi dưỡng chu kỳ, bồi dưỡng thay sách giáo khoa, bồi dưỡng nâng cao về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sư phạm… Thực hiện chương trình bồi dưỡng GV của Bộ GD&ĐT là thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, là thực hiện chiến lược phát triển GD&ĐT của cả nước trong từng giai đoạn cụ thể, vì vậy việc bồi dưỡng GV phải được thực hiện sao cho đảm bảo được mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, thời gian, cách thức tổ chức bồi dưỡng và điều kiện thực hiện chương trình.

Bảng 2.4. Đánh giá chung về bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Bộ GD&ĐT

Qua kết quả khảo sát thực tế trong bảng 2.4, việc bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Bộ GD&ĐT thực hiện tại các trường THCS Quận 3 đã được phần lớn CBQL (82.1%) cho rằng việc bồi dưỡng GV được thực hiện khá tốt, điều này cũng được 180/254 GV (70.9%) nhất trí. Tuy nhiên vẫn còn một số CBQL (17.9%) và GV (15%) cho là việc bồi dưỡng GV theo chương trình của Bộ GD&ĐT chưa tốt, có 3.9% GV nhận xét không thực hiện và đặc biệt có 26 GV (10.2%) không có ý kiến gì. Điều này cho thấy quan điểm nhận xét của CBQL và GV có phần nào khác biệt, vấn đề này tác giả phân tích trong phần nhận xét, đánh giá ở các nội dung sau.

2.2.2. Thực trạng bồi dưỡng giáo viên theo chương trình bồi dưỡng của Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM Luận văn: Khái quát bồi dưỡng giáo viên các trường THCS Q3

Nhằm nâng cao về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sư phạm cho GV, từ chương trình bồi dưỡng GV của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT TP.HCM xây dựng chương trình bồi dưỡng áp dụng cho GV toàn thành phố thực hiện, tuy nhiên do tính chất vùng miền có nhiều đặc thù, nên chương trình bồi dưỡng GV cũng có những nét riêng biệt phù hợp với địa phương như TP.HCM.

Bảng 2.5. Đánh giá chung bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Sở GD&ĐT TP.HCM

Qua kết quả khảo sát trong bảng 2.5, việc bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Sở GD&ĐT TP.HCM, ta nhận thấy có 26/28 CBQL (92.8%) đánh giá rằng việc bồi dưỡng GV được thực hiện khá tốt, tương ứng với điều này có 180/254 GV (70.9%) nhận xét, tuy nhiên tỷ lệ đồng tình của GV có phần ít hơn, chênh lệch tỷ lệ (21.9%), điều này cho thấy sự nhận xét giữa CBQL và GV cũng chưa tương đồng. Ngoài ra, có 3.9% GV cho rằng không thực hiện chương trình bồi dưỡng này, và có 10.2% GV không cho ý kiến nhận xét.

2.2.3. Thực trạng bồi dưỡng giáo viên theo chương trình bồi dưỡng của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 3, TP.HCM

Vì Quận 3 là đơn vị có vị trí trung tâm của TP.HCM, giáo dục Quận 3 nói chung và giáo dục cấp THCS nói riêng, Quận 3 thường xuyên được Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT TP.HCM chọn làm một trong những đơn vị thực hiện thí điểm nhiều chương trình giáo dục mới của cả nước và thành phố (thay sách giáo khoa mới, dạy Tiếng Anh tăng cường, Tiếng Pháp tăng cường, Tiếng Nhật tăng cường, dạy tin học tăng cường…), vì vậy chương trình bồi dưỡng GV tại Quận 3 khi triển khai cho GV thực hiện từ chỉ đạo của Bộ và Sở cũng có những nét đặc thù riêng biệt Quận 3, việc bồi dưỡng này phải vừa đảm bảo tính nhất quán từ

Trung ương đến địa phương nhưng cũng phải vận dụng cho phù hợp với tình hình thực tế kinh tế – văn hóa – xã hội Quận 3.

Bảng 2.6. Đánh giá chung bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Phòng GD&DT Quận 3

Qua kết quả từ bảng khảo sát từ bảng 2.6, việc thực hiện bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Phòng GD&ĐT Quận 3. Có 28/28 CBQL (100%) đánh giá rằng việc bồi dưỡng GV THCS hàng năm đã được thực hiện khá tốt. Điều này được 189/254 GV (74.4%) đồng tình, tuy nhiên mức độ xác nhận từ khá đến tốt giữa CBQL và GV dao động từ 74.4% đến 100%. Có 18.5% ý kiến GV cho rằng chương trình bồi dưỡng GV của Phòng GD&ĐT Quận 3 thực hiện chưa tốt, hoặc không thực hiện (3.5%), hoặc không ý kiến (7.1%). Điều này cho thấy cũng có sự chênh lệch khá lớn trong nhận xét đánh giá giữa CBQL và GV.

2.2.4. Thực trạng bồi dưỡng giáo viên theo chương trình của trường, tổ bộ môn các trường THCS Quận 3, TP.HCM Luận văn: Khái quát bồi dưỡng giáo viên các trường THCS Q3

Công tác bồi dưỡng GV có đạt hiệu quả cao hay không là nhờ sự quản lý chặt chẽ của hiệu trưởng, chương trình bồi dưỡng GV của các cấp từ Bộ, Sở, Phòng GD&ĐT phải được hiệu trưởng quan tâm quán triệt một cách triệt để đến hội đồng sư phạm nhà trường, đến từng tổ chuyên môn để triển khai thực hiện, việc bồi dưỡng GV cũng tùy thuộc điều kiện của mỗi trường nên hiệu trưởng có thể vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong công tác quản lý điều hành, đây cũng chính là nghệ thuật trong quản lý của hiệu trưởng và điều này sẽ đưa đến việc chất lượng giáo dục của mỗi trường có thể cao hay thấp khác nhau và tạo ra vị thế riêng giữa trường này với trường khác.

Bảng 2.7. Đánh giá bồi dưỡng GV theo chương trình của Trường, Tổ bộ môn

Qua kết quả khảo sát từ bảng 2.7, việc bồi dưỡng GV theo chương trình của trường và tổ bộ môn các trường THCS tại Quận 3, TP.HCM. Có 28/28 CBQL (100%) và 212/254 GV (83.5%) đánh giá việc bồi dưỡng GV theo chương trình của trường và tổ bộ môn được thực hiện khá tốt, tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ GV (5.1%) cho rằng thực hiện chưa tốt và có 09 GV (3.5%) đánh giá không thực hiện. Điều này cho thấy cũng có sự chênh lệnh trong đánh giá giữa CBQL và GV.

2.2.5. Thực trạng tự bồi dưỡng của giáo viên

Bảng 2.8. Đánh giá tự bồi dưỡng của giáo viên

Công tác tự bồi dưỡng GV là nội dung rất quan trọng của việc tự quyết định nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV, đây là cốt lõi của vấn đề nâng chất lượng, chất lượng HS phần lớn phụ thuộc bởi chất lượng GV. Qua bảng khảo sát 2.8 nêu trên, ta nhận thấy về phía CBQL đánh giá tự bồi dưỡng GV ở mức độ tốt là 07/28 CBQL (25%), mức độ khá 17/28 (60.7%), có 01/28 CBQL (3.6%) đánh giá chưa tốt, có 03 CBQL (10.7%) không tham gia ý kiến. Về phía GV đánh giá công tác tự bồi dưỡng ở mức độ tốt là 39%, khá là 39.8%, chưa tốt là 6.7%, không thực hiện là 5.1% và không có ý kiến 9.4%.

Tóm lại, qua nhận xét đánh giá khảo sát từ nội dung trong bảng 2.4, 2.5, 2.6, 2.7, 2.8 nêu trên ta nhận thấy thực trạng bồi dưỡng GV tại Quận 3 từ chương trình bồi dưỡng của Bộ đến việc tự bồi dưỡng của GV nói chung được CBQL và GV đa số đánh giá khá tốt, cấp quản lý càng gần thì việc đánh giá tốt tỷ lệ càng cao, chứng tỏ công tác bồi dưỡng GV tại Quận 3 thời gian qua được quan tâm thực hiện khá tốt nhất là cấp quản lý Phòng GD&ĐT và trường, đảm bảo được chương trình bồi dưỡng GV từ Bộ GD&ĐT đến địa phương, việc triển khai chương trình thực hiện xuyên suốt, đối với CBQL có sự quan tâm tốt hơn nên tỷ lệ đánh giá cao hơn GV. Tuy nhiên vẫn đáng lưu ý vì cũng có một số GV cho rằng thực hiện chưa tốt, hoặc không thực hiện. Điều này hiệu trưởng cần phải xem xét lại công tác bồi dưỡng GV được triển chặt chẽ chưa, hiệu trưởng cần tìm hiểu thêm nguyên nhân nào GV cho rằng không thực hiện, đặc biệt trong 5 nội dung khảo sát đều có tỷ lệ trên dưới 10% GV không tham gia ý kiến, hiệu trưởng cần rà soát lại trong quá trình quản lý công tác bồi dưỡng GV có vấn đề gì dẫn đến GV nhận xét chưa quan tâm thực hiện: Do quản lý? Do chương trình nội dung hình thức bồi dưỡng? Do nhận thức của GV? Hay lý do nào khác? Giải quyết được những vấn đề này hiệu trưởng sẽ tìm được những biện pháp phù hợp nhằm điều chỉnh công tác quản lý của mình. Luận văn: Khái quát bồi dưỡng giáo viên các trường THCS Q3

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng giáo viên ở quận 3

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464